Thứ Ba, 1 tháng 6, 2021

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy giá trị của tôn giáo

 


Theo Hồ Chí Minh, giáo lý các tôn giáo dù khác nhau nhưng đều có điểm chung là đề cao tính nhân đạo, hướng thiện của con người. Người viết: “Chúa Giêsu dạy: Đạo đức là bác ái. Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi. Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa”[1]. Tư tưởng bác ái của Chúa Giêsu, tư tưởng từ bi, hỷ xả, vô ngã vị tha của Đức Phật và tư tưởng nhân nghĩa của Khổng Tử có sự tương đồng với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH. Người tran trọng và đề cao nhân cách, sự đóng góp của các vị sáng lập tôn giáo đối với tiến bộ của nhân loại và đề nghị mọi người học tập noi gương.

Với các tín đồ tôn giáo, nhiều lần Hồ Chí Minh khẳng định: Tín đồ các tôn giáo ở Việt nam căn bản là yêu nước.

Đối với các chức sắc, nhà tu hành tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tôn trọng và đánh giá cao vị trí, vai trò của họ trong tổ chức tôn giáo; khuyến khích, động viên họ tham gia vào sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới. Người cũng luôn trân trọng những đóng góp dù nhỏ của các vị chức sắc, nhà tu hành và khích lệ họ tiếp tục cống hiến cho đất nước, cho dân tộc.

- Chống lợi dụng tôn giáo và bài trừ mê tín dị đoan

Chống lợi dụng tôn giáo

Ở Việt Nam, tôn giáo là lĩnh vực luôn bị chủ nghĩa thực dân, đế quốc cấu kết với bọn phản động lợi dụng nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chống phá cách mạng. Để vừa bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân, vừa đấu tranh có hiệu quả chống việc lợi dụng tôn giáo vì mục đích xấu, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ ranh giới rạch ròi giữa một bên là đồng bào tôn giáo chân chính yêu nước với bên kia là những kẻ “giáo gian” vì cam tâm làm tay sai cho gặc, hại nước, phản chúa. Trên cơ sở phan biệt rõ giữa tín đồ chân chính và những kẻ “giáo gian” như vậy, Người chủ trương: “bảo vệ tự do tín ngưỡng, nhưng kiên quyết trừng trị những kẻ đội lốt tôn giáo đã phản Chúa, phản nước”[2].

Tuy nhiên theo Hồ Chí Minh, trong việc đấu tranh chống lợi dụng tôn giáo không được cứng nhắc, vì rất dễ mắc sai lầm, trúng ý đồ chia rẽ của địch. Người nhấn mạnh: do các thế lực phản động luôn tìm cách lợi dụng tôn giáo chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nên một bộ phận người Việt Nam đã sa ngã, bám theo chân giặc giày xéo quê hương, còn tuyệt đại quần chúng nhân dân đều có lòng yêu nước. Hơn nữa theo Người, ngay cả trong số những người lầm đường lạc lối, không ít người cũng do hoàn cảnh xô đẩy hoặc bị lừa mị, nếu được đánh thức lòng yêu nước sẽ trở về với Tổ quốc, với đồng bào.Với một số đồng bào như vậy, Hồ Chí Minh chủ trương: vận động, đánh thức lòng yêu nước, lương tâm con người Việt Nam để họ tỉnh ngộ và quyay về với con đường chính nghĩa. Đối với những người đã biệt hối cải, quoay về với Tổ quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định luôn mở rộng vòng tay chào đón và họ “sẽ được hoan nghênh rộng rãi như những người con đi lạc mới về”[3]. Đồng thời Người yêu cầu cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên các đoàn thể: “Không được bảo thủ báo oán. Đối với những kẻ đi lầm đường lạc lối, đồng bào ta cần phait dùng chính sách klhoan hồng. Lấy lời khôn, lẽ phải mà bày cho họ”[4]. Tinh thần khoan dung tôn giáo của Người đã lan tỏa trong đồng bào các tôn giáo, giúp họ nhận thức rõ chính - tả, nâng cao cảnh giác trước kẻ thù; đồng thời lay động và khích lệ lòng yêu nước của các chức sắc, nhà tu hành tôn giáo, giúp nhiều người trong số họ vượt qua mặc cảm, dấn thân phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân

Bên cạnh việc kiên quyết đấu tranh chống lợi dụng tôn giáo vào mục đích chính trị phản động. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn quan tâm đến việc bài trừ mê tín dị đoan, Theo Người: Điều quan trọng đầu tiên là phải phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nếp sống văn hóa mới, trong đó vừa bảo tồn, phát huy những giá trị thuần phong, mỹ tục, vừa tích cực phổ biến các tri thức khoa học.

Theo Người mê tín dị đoan tồn tại rất dai dẳng, nên để khắc phục cần kiên trì, nhẫn nại và đặc biệt là phải hết sức khéo léo, tế nhị vì nó liên quan đến đời sống tâm linh của quần chúng nhân dân.

Để bài trừ mê tín dị đoan, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, điều quan trọng đầu tiên là phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nếp sống văn hóa mới, trong đó vừa bảo tồn, phát huy những giá trị thuần phong mỹ tục, vừa tích cực phổ biến các tri thức khoa học. Mặt khác, theo Người, mê tín dị đoan tồn tại rất dai dẳng, nên để khắc phục cần kiên trì, nhân nại và dặc biệt là phải hết sức khéo léo, tế nhị vì nó liên quan đến đời sống tâm linh của quần chúng nhân dân.

Tóm lại: Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tôn giáo có nội dung rất phong phú và chứa đựng những giá trị khoa học, giá trị nhân văn sâu sắc. Tư tưởng của Người được cụ thể hóa trong chính sách “tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết” và được hiện thực hóa trong thực tiễn cách mạng có tác dụng to lớn trong việc tập hợp, đoàn kết đồng bào các tôn giáo xung quoanh Đảng, góp phần xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân.



[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H2011, t7,tr95

 

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H2011, t8,tr313

[3]  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H 2011, t5,tr 249

 

[4]   Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H 2011, t5,tr 249

 

 

Bịt các "lỗ hổng” để ngăn ngừa tham nhũng

Có thể nói công cuộc PCTN của chúng ta tuy còn rất gian nan nhưng đã thu được những thành quả rất quan trọng. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác PCTN vẫn còn những tồn tại, hạn chế, vẫn còn tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”, nể nang, né tránh, ngại va chạm; việc phát hiện, xử lý tham nhũng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu; tự kiểm tra, tự phát hiện và xử lý tham nhũng trong nội bộ cơ quan, đơn vị vẫn là khâu yếu… Đồng thời, việc chưa có cơ chế đủ mạnh để kiểm soát chặt chẽ quyền lực; công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi quyền lực của người có chức vụ, quyền hạn chưa được quan tâm thực hiện nghiêm đã tạo “kẽ hở” cho việc lạm quyền để trục lợi của một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức thiếu rèn luyện đạo đức, tham lợi, vụ lợi bất chính... “Khoét sâu” vào những hạn chế nói trên, một số người đưa thông tin trên mạng xã hội hoặc báo chí nước ngoài rằng “việc PCTN ở Việt Nam thất bại”, “chỉ đưa ra ánh sáng những vụ việc không thể che đậy được”, “chống tham nhũng ở Việt Nam như nước đổ đầu vịt”… Có lẽ những người đưa ra các thông tin này không hiểu hoặc cố tình không hiểu công tác PCTN ở Việt Nam. Thế nhưng, nhiều “lỗ hổng phát sinh tham nhũng” nói trên cũng sẽ được “bịt” dần bằng các cơ chế chính sách của Nhà nước, bằng công tác kiểm tra, kỷ luật của Đảng. Luật PCTN 2018 có hiệu lực từ ngày hôm nay là một trong những "vũ khí" quan trọng trên trận tuyến PCTN. So với Luật PCTN 2005, Luật PCTN 2018 có nhiều điểm mới. Các đối tượng phải kê khai tài sản, thu nhập không còn được gói gọn ở “một số cán bộ, công chức” như quy định tại luật cũ, mà được mở rộng đến sĩ quan Công an nhân dân; sĩ quan Quân đội nhân dân, quân nhân chuyên nghiệp; người giữ chức vụ từ phó trưởng phòng và tương đương trở lên công tác tại các đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp Nhà nước, người được cử làm đại diện phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp; người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu hội đồng nhân dân (HĐND)… Ngoài phải kê khai các loại tài sản, thu nhập như quy định trước đây, luật mới còn yêu cầu các đối tượng nêu trên còn phải kê khai thêm công trình xây dựng và tài sản khác gắn liền với đất, nhà ở, công trình xây dựng. Đồng thời, các đối tượng còn phải kê khai cả tổng thu nhập giữa hai lần kê khai. Trường hợp có biến động tài sản như trên mà không giải trình hợp lý về nguồn gốc tài sản, cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập có trách nhiệm xác minh. Người có nghĩa vụ kê khai phải giải trình về tính trung thực, đầy đủ, rõ ràng của bản kê khai, nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm. Đồng thời, có quyền khiếu nại quyết định, hành vi của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc xác minh tài sản, thu nhập khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật. Điều 39 của Luật PCTN 2018 nêu rõ, bản kê khai của người có nghĩa vụ kê khai phải được công khai tại cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người đó thường xuyên làm việc. Bản kê khai của người dự kiến được bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý được công khai tại cuộc họp lấy phiếu tín nhiệm. Bản kê khai của người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND phải được công khai theo quy định của pháp luật bầu cử… Cán bộ, công chức kê khai không trung thực về tài sản, thu nhập có thể bị xử lý kỷ luật bằng một trong các hình thức: Cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc hoặc bãi nhiệm. Luật PCTN 2018 còn quy định cơ quan nào để xảy ra tham nhũng, người đứng đầu phải chịu trách nhiệm. Trong đó, người đứng đầu phải chịu trách nhiệm trực tiếp nếu người do mình trực tiếp quản lý, giao nhiệm vụ tham nhũng. Cấp phó phải chịu trách nhiệm trực tiếp nếu xảy ra tham nhũng trong lĩnh vực công tác và trong đơn vị do mình được giao trực tiếp phụ trách; người đứng đầu phải chịu trách nhiệm liên đới… Cũng phải nói thêm rằng, tham nhũng không chỉ có ở Việt Nam mà đã trở thành quốc nạn ở nhiều nước trên thế giới. Tham nhũng không chỉ có từ bây giờ mà đã có từ rất lâu ở Việt Nam. PCTN là quyết tâm lớn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và toàn xã hội. Luật PCTN mới với những quy định mới sẽ tạo ra bước đột phá mới cho công cuộc PCTN ở nước ta. Với những ai còn mơ hồ về kết quả PCTN ở Việt Nam, hãy nhìn lại các vụ việc đã bị phát hiện, đang phát hiện và chờ đợi kết quả của việc thực hiện Luật PCTN 2018 sau khi có hiệu lực thi hành.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo

 


Đoàn kết tôn giáo là một dung nổi bật và xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo.

Theo tư tưởng của Người, đồng bào tôn giáo là bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam; đoàn kết tôn giáo nằm trong chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc và không ngoài mục đích là để giành độc lập cho dân tộc, xây dựng đất nước giàu mạnh, mọi người dân dù có hay không có tôn giáo, dù theo các tôn giáo khác nhau, đều có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc và có điều kiện phát triển toàn diện. Nội dung cơ bản của đoàn kết tôn giáo theo tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm: Đoàn kết giữa đồng bào có tín ngưỡng tôn giáo với đồng bào không có tín ngưỡng tôn giáo; đoàn kết giữa đồng bào có các tín ngưỡng khác nhau; đoàn kết giữa đồng bào trong mỗi một tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Đoàn kết giữa đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo với đồng bào không tín ngưỡng tôn giáo là nội dung trọng tâm hàng đầu được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm. Người nhận thức rõ do sự chi phối của ý thức tôn giáo, nên đồng bào các tôn giáo có những nét khác biệt nhất định về thế giới quan, nhân sinh quan, niềm tin và giá trị, chuẩn mực văn hóa…, so với đồng bào không theo tín ngưỡng tôn giáo. Do sự khác biệt đó, nếu không có sự nhìn nhận đúng đắn và lòng khoan dung, rất dễ dẫn tới sự mặc cảm, kỳ thị lẫn nhau. Bởi vậy muốn thực hiện đoàn kết tôn giáo trong khối đại đoàn kết dân tộc, trước hết phải thực hiện đoàn kết giữa đồng bào có đạo và đồng bào không theo đạo. Điều đó theo Người hoàn toàn có thể thực hiện được, vì đồng bào dù lương hay giáo đều có lòng yêu nước và mong muốn có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Người nhấn mạnh: “Phải đoàn kết chặt chẽ giữa đồng bào lương và đồng bào các tôn giáo giáo, cùng nhau xây dựng đời sống hòa thuận ấm no, xây dựng Tổ quốc”[1]

 Đoàn kết tôn giáo hòa hợp dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh có thể được khái quát trong phương châm: Rộng rãi - Toàn diện - Nhất quán - Chặt chẽ - Lâu dài.

Đối tượng đoàn kết tôn giáo theo tư tưởng Hồ Chí Minh là rất rộng lớn, đoàn kết không chỉ giữa đồng bào lương và đồng bào giáo, giữa đồng bào các tôn giáo với cán bộ đảng viên mà còn giữa đồng bào các tôn giáo với nhau và giữa đồng bào trong từng tôn giáo nhằm tạo thành sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đoàn kết tôn giáo phải mang tính toàn diện, đoàn kết trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội, từ kinh tế, chính trị, đến văn hóa, xã hội,v.v…Đoàn kết tôn giáo phải mang tính nhất quán, từ chủ trương chính sách, pháp luật đến tổ chức thực hiện, từ tư tưởng, tình cảm đến hành vi ứng xử đều phải thể hiện tinh thần đoàn kết; trong mọi hoàn cảnh, điều kiện đều phải có tinh thần đoàn kết. Không những vậy, đoàn kết tôn giáo phải chặt chẽ, thật lòng. Đồng thời, theo Người, đoàn kết tôn giáo không phải là một thủ đoạn chính trị mà là một chính sách lâu dài; là một bộ phận quan trọng trong chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc, với phương châm: “Đoàn kết, đoàn kết đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”

Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân của tinh thần đoàn kết tôn giáo, đoàn kết dân tộc. Người không chỉ đề ra chính sách đoàn kết tôn giáo, đoàn kết dân tộc một cách đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và nguyện vọng của nhân dân mà còn là tấm gương mẫu mực trong đoàn kết với đồng bào các tôn giáo. Phương pháp đoàn kết trong tư tưởng của Người vừa mang tính khoa học, sát hợp với thực tiễn, vừa mang tính nhân văn sâu sắc:

Một là, “Cầu đồng tôn dị”, tìm kiếm, phát huy những điểm tương đồng, đồng thời tôn trọng sự khác biệt để đi tới sự thống nhất.

Hai là, Lấy lợi ích của quốc gia, dân tộc và quyền lợi căn bản của nhân dân làm mẫu số chung để đoàn kết tôn giáo.

Ba là, tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân

Bốn là, tôn trọng đề cao nhân cách các vị sáng lập tôn giáo và vai trò của các chức sắc, nhà tu hành tôn giáo.

Năm là, quan tâm đến đời sống của đồng bào các tôn giáo.



[1]  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H2011, t13,tr454

 

 

Phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa” cần kiên quyết

Phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa” vốn là công việc rất khó khăn, phức tạp, vì nó liên quan tới vấn đề tư tưởng, biểu hiện âm thầm, gặm nhấm dần lòng tin, xói mòn dần phẩm chất đạo đức của cá nhân, tổ chức. Trong thực tế thì hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cũng liên quan cả gián tiếp và trực tiếp tới công tác xây dựng tổ chức, xây dựng con người, công tác cán bộ v.v.. Hơn nữa, khi thực hiện nhiệm vụ này rất dễ đụng chạm đến danh dự, lợi ích, quan hệ của mỗi con người. Tuy khó nhưng không thể không làm, vì vấn đề này có liên quan đến sinh mệnh chính trị, uy tín của Đảng và sự tồn vong chế độ. Bởi thế, ngoài quan điểm tích cực và chủ động thì việc kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" là rất quan trọng. Nếu không kiên quyết trong phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" thì việc thực hiện sẽ trở nên “nửa vời” và không đạt được mục tiêu, yêu cầu đề ra. Để thể hiện tính kiên quyết trong phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" thì trong quá trình thực hiện phải nắm vững nguyên tắc kỷ luật tự giác, nghiêm minh của Đảng, chống phải đi đôi với xây và phải lấy xây làm chính. Cần phải tiến hành đồng bộ, toàn diện đối với mọi tổ chức, cá nhân, gắn kết chặt chẽ giữa đấu tranh, phê bình với các biện pháp hành chính, pháp luật và kinh tế. Việc tạo ra phong trào và hành động cụ thể, thiết thực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân khi đấu tranh ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" là rất cần thiết. Có một số vấn đề cần tập trung, đó là: Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo, quản lý cao cấp, vấn đề này đã được Đảng ta chú trọng thực hiện trong thời gian qua và đã thu được những kết quả nhất định; kiên quyết sử dụng nhiều biện pháp để đấu tranh phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; kiên quyết thực hiện phê bình, tự phê bình. Khi có dấu hiệu vi phạm thì dù cán bộ ở cương vị nào cũng cần phải được kiểm điểm, phê bình, xử lý kịp thời, mạnh mẽ, không "dĩ hòa vi quý", không nể nang, rơi vào chủ nghĩa cá nhân, không có vùng cấm, không loại trừ cán bộ chủ chốt, cán bộ cấp cao tự coi mình là "bề trên", đứng ngoài tổ chức. Những biểu hiện, những đối tượng như thế càng phải kiên quyết trong đấu tranh, khắc phục, loại trừ, bởi đó thực sự là "mầm họa" của "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", là nguyên nhân sâu xa nhưng trực tiếp dẫn tới làm ảnh hưởng đến uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng.

Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh

 


Theo Hồ Chí Minh, tự do tín ngưỡng, tôn giáo có quan hệ hữu cơ với vận mệnh dân tộc vì “nước có độc lập thì tôn giáo mới được tự do”. Sự nghiệp giải phóng dân tộc nhằm mục tiêu tối cao là đem lại tự do, hạnh phúc cho đồng bào, trong đó có tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Nếu không đạt mục đích ấy thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì. Tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền lợi của người dân trong một nước tự do, độc lập, đồng thời là nhân tố để thực hiện đoàn kết dân tộc. Từ đó, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh phải nhất quán và triệt để thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tự do tín ngưỡng, tôn giáo còn xuất phát từ lòng khoan dung, tôn trọng đức tin của mỗi người. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “ Tín đồ Phật giáo tin ở Phật; tín đồ Gia tô tin ở Đức chúa Trời; cũng như chúng ta tin ở đạo Khổng. Đó là những vị chí tôn nên chúng ta tin tưởng” [1]. Người chỉ ra rằng “Tôn giáo là duy tâm, cộng sản là duy vật”[2], chủ nghĩa duy linh và chủ nghĩa duy vật khác nhau, rõ ràng là thế, nhưng không vì vậy mà bài xích, nghi kỵ nhau; ngược lại, phải tôn trọng đức tin của mỗi người.

Một xuất điểm khác nữa để Hồ Chí Minh đề cao việc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là: Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một giá trị phổ quát và tiến bộ của nhân loại. Là người bôn ba khắp năm châu bốn bể tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu tinh hoa của văn hóa nhân loại, chọn lọc và tiếp nhận, phát huy những giá trị phổ quát nhất, tiến bộ nhất trong xã hội hiện đại để phục vụ cho sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, tự do và hạnh phúc của nhân dân.

Theo Hồ Chí Minh, tự do tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu của nhân dân, là quyền con người không ai được xâm phạm. Đồng thời là một trong những mục tiêu của cách mạng Việt Nam.

Với tư tưởng như vậy, trên thực tế Người luôn nhất quán trong tư tưởng và hành động. Năm 1945, chỉ một ngày, sau khi nước nhà độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Người đã khẳng định việc thực hiện chính sách tôn trọng tự do tôn giáo, đoàn kết lương giáo là một trong sáu vấn đề cấp bách nhất cần giải quyết, Người nói: “Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào giáo và đồng bào lương, để dễ thống trị. Tôi đề nghị chính phủ ta tuyên bố: TÍN NGƯỠNG TỰ DO và lương giáo đoàn kết”[3]. Nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, trên thực tế Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp chỉ đạo soạn thảo và ký ban hành sắc lệnh số 234/SL ngày 14/6/1965 về vấn đề tôn giáo. Sắc lệnh gồm 5 chương, 16 điều, quy định chi tiết, cụ thể về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Nội dung của Sắc lệnh phù hợp với tinh thần của Công pháp quốc tế hiện hành và được đồng bào có đạo nhiệt tình ủng hộ, đón nhận…



[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H2014, t4,tr169

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H2011, t8,tr200

 

 

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H2011, t4,tr8

 

Đánh giá đúng để quy hoạch và bổ nhiệm đúng cán bộ

Các cấp ủy, tổ chức đảng trong toàn quốc đang tích cực chuẩn bị tiến hành tổ chức đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội XIII của Đảng, theo đúng tinh thần Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 30-5-2019 của Bộ Chính trị, trong đó công tác cán bộ (CTCB) nói chung, công tác nhân sự cấp ủy nói riêng có vị trí, vai trò hết sức quan trọng, đòi hỏi phải được tiến hành đúng nguyên tắc, quy trình, công tâm, khách quan, phát huy dân chủ, trí tuệ của tập thể cấp ủy và cán bộ, đảng viên. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cán bộ là gốc của mọi công việc”,“công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, nên trong CTCB “phải hiểu và đánh giá đúng cán bộ”; “phải trọng nhân tài”. Để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, khâu đầu tiên là phải đánh giá đúng cán bộ, làm cơ sở bồi dưỡng, thử thách và bổ nhiệm cán bộ. Thực tiễn hiện nay, đội ngũ cán bộ có thể đánh giá, phân định theo 3 nhóm. Nhóm thứ nhất là những cán bộ đủ tiêu chí, tài-đức song toàn; được học tập, rèn luyện qua các cương vị công tác, dần hình thành những phẩm chất nhân cách tốt đẹp, như: Bản lĩnh chính trị, tư tưởng vững vàng; thấm đẫm tình yêu thương con người, quê hương, đất nước; luôn khao khát tri thức, học tập rèn luyện trưởng thành để cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Nhóm thứ hai là những cán bộ đã qua đào tạo, quá trình công tác qua một số cương vị đều hoàn thành và hoàn thành tốt nhiệm vụ, nhưng khi được bổ nhiệm vào cương vị có liên quan đến danh-lợi, trong tư tưởng dần xuất hiện cuộc đấu tranh nội tâm giữa lợi ích cá nhân và chức trách nhiệm vụ được giao; cùng với đó là sự tác động liên tục, đa chiều từ gia đình, người thân, dư luận xã hội, từ cơ chế thị trường, nhất là về vật chất. Do không làm chủ được bản thân, nên khi có điều kiện, những cán bộ này, cùng với tiếp tục phấn đấu vươn lên, cũng có tư tưởng tranh thủ “kiếm chác”; nếu không được giáo dục, rèn luyện, ngăn chặn kịp thời có thể dẫn đến thay đổi bản chất cách mạng, thoái hóa biến chất, trở thành cán bộ xấu, thậm chí vi phạm pháp luật, kỷ luật... Nhóm thứ ba là những cán bộ đã thoái hóa biến chất cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Đối với họ, danh và lợi luôn thống trị cả trong tư tưởng và hành động, nên không từ một âm mưu, thủ đoạn nào để bợ đỡ, xu nịnh cấp trên, chạy chức, chạy quyền, chạy bằng cấp, học vị. Dù năng lực kém, phẩm chất xấu, nhưng họ thường gây bè kéo cánh, chui sâu leo cao để mưu danh, mưu lợi cho riêng mình, gia đình, họ hàng và những người cùng phe cánh. Tuy nhiên, các đối tượng này cũng luôn biết "ngụy trang", che giấu hành vi của mình bằng những vỏ bọc rất tinh vi cả trong lời nói và việc làm. Nhận diện, đánh giá đúng cán bộ, rèn luyện cán bộ là việc làm công phu, hết sức cần thiết và cần được tiến hành quyết liệt, đồng bộ cả về chủ trương và giải pháp, có như vậy mới bảo đảm việc bổ nhiệm đúng, luân chuyển, sử dụng hiệu quả cán bộ. Đánh giá đúng cán bộ là nội dung lớn, có ý nghĩa quan trọng hàng đầu trong toàn bộ CTCB, quyết định trực tiếp đến chất lượng cán bộ. Do vậy, cần quán triệt làm rõ ý nghĩa, mục đích, yêu cầu việc đánh giá cán bộ, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng thấy rõ đây là vấn đề cơ bản, hệ trọng, là cơ sở để làm tốt các khâu khác trong CTCB, như: Lựa chọn, quy hoạch, luân chuyển, đào tạo, bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chính sách cán bộ. Nếu đánh giá sai sẽ dẫn đến dùng người sai, bỏ sót người có tâm huyết, có năng lực, để các phần tử cơ hội có điều kiện chui sâu, leo cao, phát triển và tất yếu sẽ dẫn đến mất đoàn kết nội bộ; làm cho cán bộ tốt bi quan, chán nản, thậm chí “thui chột nhân tài”. Để khắc phục tình trạng đánh giá cán bộ thiếu khách quan “yêu nên tốt, ghét nên xấu”, tư tưởng định kiến, hẹp hòi, cục bộ hoặc quá thiên lệch giữa các yếu tố: Cống hiến, học vị, bằng cấp… cần tiếp tục quán triệt, thấm nhuần lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nhận xét cán bộ không thể chỉ căn cứ vào những biểu hiện bên ngoài của họ, mà phải đi sâu tìm hiểu bản chất của họ; không thể chỉ dựa vào một việc làm của họ, mà phải tìm hiểu tất cả các công việc mà họ thực hiện; không thể chỉ xem xét cán bộ trong một thời điểm, mà phải thấy rõ lịch sử của họ”. Việc thẩm tra, xác minh lựa chọn cán bộ cần được tiến hành chặt chẽ, bảo đảm tính khách quan, trung thực. Cơ quan chức năng, trực tiếp là cán bộ được phân công thẩm tra, xác minh phải thực sự có tâm huyết, phát huy đầy đủ tinh thần trách nhiệm, thực hiện đúng quy trình để có kết luận chính xác về phẩm chất, năng lực của cán bộ; không để tình trạng nhận xét, đánh giá cảm tính, hoặc bị chi phối bởi các hiện tượng tiêu cực đối với cán bộ được lựa chọn. Nhận xét đánh giá cán bộ thường có tính nhạy cảm cao giữa đúng-sai, tốt-xấu...; do vậy cần quán triệt và thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng, kết hợp đúng đắn chế độ lãnh đạo tập thể với phát huy trách nhiệm cá nhân, dân chủ với tập trung. Phải luôn căn cứ vào chỉ thị, nghị quyết, quy định, hướng dẫn của cấp trên về CTCB, dân chủ thảo luận, quyết nghị tập thể theo đa số để kết luận các vấn đề về CTCB. Đối với những vấn đề nhạy cảm, như: Đánh giá cán bộ, quy hoạch, bổ nhiệm, điều động cán bộ, có thể biểu quyết bằng hình thức bỏ phiếu kín. Cùng với đó, cần thực hiện đúng quy định tham khảo ý kiến của các cấp, các ngành có liên quan bằng những phương pháp thăm dò ý kiến phù hợp, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp. Rèn luyện, nâng cao chất lượng toàn diện đội ngũ cán bộ, trước hết phải nâng cao chất lượng chính trị, bảo đảm cho đội ngũ cán bộ trong mọi điều kiện hoàn cảnh không bị lợi ích vật chất, danh lợi... làm tha hóa; phải thật sự kiên định vững vàng; tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân; có năng lực đề xuất các chủ trương, giải pháp đúng đắn, sáng tạo; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, trước hết trong lĩnh vực được phân công. Cần gắn kết chặt chẽ việc đánh giá cán bộ với việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, nhằm xây dựng cho từng cán bộ có động cơ cách mạng trong sáng, “có tâm, có tầm”, mẫu mực về phẩm chất, lối sống, thể hiện ở sự khát khao cống hiến, luôn tận tâm tận lực vì nhiệm vụ; nghiêm khắc với bản thân, có tấm lòng bao dung độ lượng, thương yêu con người sâu sắc. Cần tổ chức tốt các hoạt động học tập, nghiên cứu ở từng cơ quan, đơn vị về đường lối, nhiệm vụ cách mạng của Đảng, bảo đảm cho mỗi cán bộ có khả năng phân tích, sáng rõ các diễn biến chính trị trong nước, khu vực, quốc tế, nhận rõ mâu thuẫn và chiều hướng phát triển trong hiện tại và tương lai để tiếp nhận, chuyển hóa theo đúng quan điểm của Đảng; tham gia sáng tạo cách thức huy động các nguồn lực, sức mạnh ở từng cấp, ngành trong thực hiện các nhiệm vụ chính trị. Quá trình đó cần lồng ghép việc tuyên truyền, giáo dục, rèn luyện phong cách và phương pháp Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ về cách thức diễn đạt tinh tế, tư duy logic, chính kiến sắc sảo ở mọi lúc, mọi nơi; cảm hóa vận động mọi người cùng nỗ lực đoàn kết thực hiện nhiệm vụ... Nhận diện, đánh giá, lựa chọn đúng cán bộ có vai trò, vị trí hết sức quan trọng, quyết định sự tồn vong của Đảng và chế độ. Do vậy, phải tổ chức chặt chẽ, quyết liệt việc sàng lọc cán bộ; kiên quyết không để những phần tử cơ hội, vụ lợi, thoái hóa biến chất về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống chui vào các cơ quan lãnh đạo của Đảng. Có như vậy mới thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng, theo đó: “Kiên quyết sàng lọc, miễn nhiệm, thay thế, cho từ chức đối với cán bộ làm việc kém hiệu quả, không hoàn thành nhiệm vụ, yếu về năng lực, kém về phẩm chất đạo đức, tín nhiệm thấp... nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu”. Các cấp ủy, tổ chức đảng cần tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 30-5-2019 của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng và ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng. Theo đó, cần làm tốt hơn nữa CTCB và tích cực, chủ động chuẩn bị nhân sự cấp ủy, bảo đảm cho sự thành công của đại hội đảng bộ các cấp. Công tác nhân sự cần tiến hành từng bước, từng việc, chắc chắn, thận trọng, chặt chẽ, đúng quy trình, bảo đảm dân chủ, khách quan, công khai, minh bạch, nhưng phải thật sự đúng người, đúng việc. Cần tăng cường kiểm soát CTCB và chuẩn bị nhân sự cấp ủy; nghiêm cấm mọi biểu hiện vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, tìm cách nâng người này, hạ người kia, gây nghi ngờ, làm mất đoàn kết nội bộ. Kiên quyết không để lọt vào cấp ủy khóa mới những người có tham vọng quyền lực, chạy chức, chạy quyền, chạy phiếu bầu, chạy cơ cấu, bè phái, cục bộ, lợi ích nhóm, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", quan liêu, tham nhũng, bảo thủ, trì trệ, làm việc kém hiệu quả, nói không đi đôi với làm…

Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin trong cách tiếp cận tôn giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh

 


Thứ nhất, Chủ tịch Hồ Chí minh coi tôn giáo là một thành tố văn hóa

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về tôn giáo, không chỉ thấy tôn giáo là một hiện tượng xã hội mang tính đặc thù, mà còn xem tôn giáo là một thành tố, bộ phận của văn hóa. Từ trong nhà tù của chế độ Tưởng Giới Thạch, trong mục Đọc sách của tập Nhật ký trong tù, Người đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”[1]. Vì tôn giáo là một bộ phận của văn hóa nên nó mang chứa bản chất nhân văn, nhân đạo của văn hóa. Chính từ cách tiếp cận tôn giáo không chỉ với tư cách là một “phạm trù chính trị” mà còn với tư cách “phạm trù văn hóa”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát hiện ra nhiều giá trị quý báu ẩn chứa trong tôn giáo.

Thứ hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi tôn giáo là một thực thể xã hội

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã làm sáng tỏ bản chất tôn giáo với tính cách một hình thái ý thức xã hội, một tiểu hệ thống kiến trúc thượng tầng (cả ý thức tôn giáo và thiết chế tôn giáo). Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin khi nhìn nhận tôn giáo là một thực thể xã hội, bao gồm cả ý thức, thiết chế và cả với tính cách là một lực lượng đông đảo quần chúng nhân dân có tín ngưỡng. Và chính trong sự nhìn nhận đó, giá trị nhân văn và phát triển trong tư tưởng của Người về tôn giáo càng tỏa sáng. Người không chỉ thông cảm với sự cùng khổ của quần chúng nhân dân, cả người có tín ngưỡng và không có tín ngưỡng tôn giáo khi bị áp bức bóc lột, phải sống cảnh lầm than với thân phận của người dân mất nước, mà còn nhận thấy và trân trọng những phẩm chất tốt đẹp, tin tưởng và khích lệ tinh thần yêu nước của đồng bào có đạo vì mục tiêu chung là độc lập và CNXH.



[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H2011, t3, tr458

Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo- Cơ sở nền tảng thực hiện vấn đề tôn giáo ở Việt Nam

 


Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, đồng thời còn là một thức thể xã hội, được tạo thành từ bốn yếu tố cơ bản là đức tin, giáo lý, hành vi và tổ chức. Về vai trò xã hội, tôn giáo cơ bản là một hình thái ý thức xã hội tiêu cực, lạc hậu, là thuốc phiện, rượu tinh thần và hạnh phúc hư ảo của nhân dân. Điều này đã được Ph.Ăngghen khẳng định: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc của con người - của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ, chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế”[1]. Bên cạnh mặt tiêu cực là cơ bản, tôn giáo đúng nghĩa còn có những giá trị, nhất là về đạo đức như hướng thiện, cầu lành, tránh dữ, khuyên con người tâm đức, làm điều thiện, sống trung thực, biết ăn năn, hối lỗi khi mắc sai lầm, làm điều ác…

Trên cơ sở nhận thức khoa học về tôn giáo, quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin là không “tuyên chiến với tôn giáo”. Quan điểm đó chỉ ra rằng, xử lý những vấn đề nảy sinh từ tôn giáo trong tiến trình cách mạng vô sản, nhất là trong cuộc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới - xã hội chủ nghĩa, cần phải hết sức thận trọng, tỷ mỉ và chuẩn xác, dựa trên nguyên tắc, phương pháp luận cơ bản:

Một là, khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo phải gắn liền với quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Nguyên tắc này được rút ra từ cơ sở triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử là muốn thay đổi ý thức xã hội phải đi từ thay đổi tồn tại xã hội. Đó là một quá trình lâu dài, khó khăn, phức tạp gắn liền với tiến trình cách mạng XHCN.

Muốn vậy, phải không ngừng phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất tinh thần nhân dân, bảo đảm cuộc sống dân chủ, công bằng, văn minh, thì lúc đó tôn giáo sẽ không còn ảnh hưởng tiêu cực, mà chỉ còn tính tích cực: giá trị văn hóa, đạo đức.

Hai là, tôn trọng, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân. Đây là quyền không chỉ thể hiện về mặt pháp lý mà cần phải được hiện thực hóa trong đời sống, là nguyên tắc nhất quán, xuyên suốt, lâu dài của các đảng mác xít.

Ba là, quan điểm lịch sử - cụ thể khi giải quyết vấn đề tôn giáo. Ở những thời kỳ lịch sử khác nhau, vai trò tác động của mỗi tôn giáo đối với đời sống xã hội cũng khác nhau. Vì vậy, cần phải có quan điểm lịch sử - cụ thể khi xem xét, đánh giá và ứng xử đối với các vấn đề xã hội liên quan đến tôn giáo. V.I. Lênin luôn nhắc nhở: “người mácxít phải biết chú ý đến toàn bộ tình hình cụ thể”[2]

Bốn là, phân biệt rõ hai mặt chính trị và tư tưởng trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo: Mặt chính trị của tôn giáo, thực chất là phản ánh mâu thuẫn đối kháng về lợi ích kinh tế giữa các giai cấp và những thế lực lợi dụng tôn giáo để thực hiện những mưu đồ, lợi ích chính trị khác nhau; còn mặt tư tưởng phản ánh mâu thuẫn không mang tính đối kháng giữa những người có tín ngưỡng tôn giáo khác nhau, những người có tín ngưỡng, tôn giáo và những người khống có tín ngưỡng tôn giáo.

Đối với nước ta hiện nay, nguyên tắc, phương pháp luận cơ bản trên, chính là cơ sở giải quyết vấn đề chính trị tôn giáo, đấu tranh chống dịch lợi dụng vấn đề tôn giáo làm tổn hại đến quốc phòng, an ninh quốc gia.



[1] C. Mác và Ph.Ăngghen: Sđd, 1994, t.20, tr437

[2] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 17, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1979, tr 518

Để Đảng luôn xứng đáng với vai trò tiền phong

Bình sinh, Hồ Chí Minh đặc biệt chăm lo công tác xây dựng Đảng, để Đảng Cộng sản Việt Nam “phải là một đảng to lớn, mạnh mẽ, chắc chắn, trong sạch, cách mạng triệt để”[1]. Nửa thế kỷ sau khi Người đi xa, những trăn trở, tâm huyết và chỉ dẫn của Người: “Việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng”[2] và “phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”[3] trong bản Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vẫn vẹn nguyên giá trị thời sự và ý nghĩa lớn lao. ĐẢNG PHẢI ĐƯỢC XÂY DỰNG THEO NGUYÊN TẮC MÁC XÍT Hồ Chí Minh từng nói, Đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức thống nhất của những người con ưu tú của giai cấp và dân tộc, luôn vì lợi ích cảu Tổ quốc và nhân dân mà phụng sự, song Đảng cũng là một thực thể trong xã hội, cũng là những con người với tất cả điểm ưu và nhược, nên không phải lúc nào và bao giờ cũng giữ đúng và giữ được vai trò tiền phong, gương mẫu. Hơn nữa, trong tiến trình vận động và phát triển, một dân tộc, một Đảng và mỗi con người ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn và quy tụ được quần chúng, song không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ngợi ca, nếu suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Vì thế, Người luôn chú trọng công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, không ngừng nâng cao bản lĩnh, trí tuệ và sức chiến đấu của Đảng, của đội ngũ cán bộ, đảng viên trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc xây dựng một chính Đảng Mácxit chân chính; đồng thời, coi đó là quy luật tất yếu, là sự vận động và phát triển của Đảng trong tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, để Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành và giữ vững vị trí là Đảng duy nhất lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh: 1) Đảng chỉ có thể là một tổ chức chắc chắn, vững mạnh, luôn là đội tiên phong của giai cấp và dân tộc; chỉ giành và giữ vững vai trò độc quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam khi “chủ nghĩa của Đảng là chủ nghĩa Mác-Lênin, mỗi đảng viên đều phải nghiên cứu… Tư tưởng của Đảng là tư tưởng của giai cấp công nhân, nó đấu tranh cho lợi ích của toàn dân. Vì vậy, trong Đảng không thể có những tư tưởng, lập trường và tác phong trái với tư tưởng, lập trường và tác phong của giai cấp công nhân…Đảng có kỷ luật rất nghiêm khắc, tất cả đảng viên đều phải tuân theo. Tư tưởng, chính trị và tổ chức của Đảng đều phải thống nhất. Trong Đảng không thể có những phần tử lạc hậu và đầu cơ”[4]; đồng thời, thường xuyên, liên tục tự đổi mới và chỉnh đốn. 2) Đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng chỉ có thể hoàn thành trọng trách vừa là người lãnh đạo vừa là người đầy tớ của nhân dân khi “kiên quyết phục tùng sự lãnh đạo tập trung của Đảng. Trong Đảng không thể có những phần tử hèn nhát lung lay”[5]; đồng thời, nỗ lực “toàn tâm toàn lực phụng sự lợi ích của nhân dân, phải làm gương mẫu trong mọi công tác”[6]. Đó là trách nhiệm kép, vừa vinh dự vừa khó khăn, mà muốn xứng đáng, Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng phải tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc xây dựng một Đảng Mácxít. Một là, trong bất cứ thời điểm nào, Đảng cũng phải “tổ chức theo nguyên tắc dân chủ tập trung. Nghĩa là: có Đảng chương thống nhất, kỷ luật thống nhất, cơ quan lãnh đạo thống nhất. Cá nhân phải phục tùng đoàn thể, số ít phải phục tùng số nhiều, cấp dưới phải phục tùng cấp trên, địa phương phải phục tùng Trung ương”[7]. Dân chủ và tập trung phải luôn đi đôi với nhau, có mối quan hệ khăng khít với nhau và đó là hai vế của một nguyên tắc. Đây là nguyên tắc rường cột, quan trọng nhất để xây dựng Đảng, nhằm phát huy quyền làm chủ của đảng viên, tạo nên sức mạnh tổng hợp của tổ chức, bảo đảm cho quá trình thực hiện dân chủ được đúng hướng; đảm bảo cho kỷ luật của Đảng được thực thi nghiêm túc; và khi đó, kỷ luật chính là phương tiện để bảo vệ dân chủ, bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi thành viên trong tổ chức. Vì thế, Người dặn trong Di chúc, “trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi”[8] để không chỉ phát huy quyền làm chủ của đảng viên trong tất cả các hoạt động của Đảng, để mọi đảng viên được bày tỏ ý kiến của mình mà còn góp phần phòng, chống các biểu hiện chuyên quyền, độc đoán, hách dịch, chụp mũ, trù dập và những biểu hiện dân chủ quá trớn, những hiện tượng vì “sợ” mất dân chủ mà theo đuôi quần chúng trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo thực tiễn. Hai là, Đảng luôn phải thực thi nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Theo Hồ Chí Minh, “ý nghĩa của tập thể lãnh đạo rất giản đơn, chân lý của nó rất rõ rệt. Tục ngữ có câu: “Khôn bầy hơn khôn độc” là ý nghĩ đó?”[9], vì một người dù khôn ngoan tài giỏi mấy, dù nhiều kinh nghiệm đến đâu, cũng không thể xem xét và giải quyết tốt tất cả mọi mặt của một vấn đề. Đồng thời, “nếu không có cá nhân phụ trách thì sẽ sinh cái tệ người này ủy cho người kia, người kia ủy cho người nọ, kết quả là không ai thi hành. Như thế thì việc gì cũng không xong”[10]. Hai vế của nguyên tắc này phải luôn đi đôi với nhau, nhằm khắc phục những biểu hiện độc đoán, chuyên quyền của người đứng đầu và cả những biểu hiện dựa dẫm, ỷ lại tập thể, không quyết đoán, không dám chịu trách nhiệm khi cần quyết định những vấn đề quan trọng của những cán bộ thiếu bản lĩnh, thiếu năng lực lãnh đạo,v.v.. Ba là, Đảng Cộng sản Việt Nam là một bộ phận trong hệ thống chính trị nhưng là lực lượng lãnh đạo, là linh hồn của khối đại đoàn kết toàn dân, cho nên “sự đoàn kết trong Đảng là quan trọng hơn bao giờ hết, nhất là sự đoàn kết chặt chẽ giữa các cán bộ lãnh đạo”[11]. Trên tinh thần tuyệt đối không thỏa hiệp với những xu hướng bè phái, coi sự chia rẽ là tội ác lớn nhất đối với Đảng, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Đoàn kết là là một truyền thống quý báu và “đoàn kết là một lực lượng vô địch của chúng ta để khắc phục khó khăn, giành lấy thắng lợi”[12]. Bởi “đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta”, được coi là nguyên tắc cơ bản trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là bảo đảm đầu tiên và thường xuyên cho sự vững mạnh và nâng cao sức chiến đấu của tổ chức Đảng; tạo nên sức mạnh thống nhất trong ý chí và hành động của Đảng, nên Hồ Chí Minh căn dặn: “Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”[13]. Theo đó, mọi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên củng cố khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng trên cơ sở đường lối, chủ trương và những nguyên tắc sinh hoạt Đảng; được thể hiện trong nhận thức và hành động, trong mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới, nhất quán giữa lời nói và việc làm; coi đó là cơ sở để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Bốn là, một Đảng cách mạng chân chính, muốn xứng đáng với vị thế tiền phong, thì phải “thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”[14]. Tự phê bình và phê bình là cuộc đấu tranh giữa giữa điều tốt và điều xấu, giữa cái đúng và cái sai trong bản thân mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức Đảng, để giúp nhau sửa chữa khuyết điểm và tiến bộ, để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn, “cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ”[15], nên khi tiến hành phải kiên quyết, ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt và phải được thực hiện trên tình đồng chí thương yêu lẫn nhau. Hồ Chí Minh coi tự phê bình và phê bình là thang thuốc hay nhất, cần phải được tiến hành thường xuyên, nghiêm túc trên tinh thần “các cơ quan, các cán bộ, các đảng viên, mỗi người, mỗi ngày phải thiết thực tự kiểm điểm và kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình. Hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa chữa và giúp đồng chí mình sửa chữa. Phải như thế Đảng mới chóng phát triển, công việc mới chóng thành công”[16], chứ không chờ khi có việc mới tiến hành, có khuyết điểm mới phạt... Thực hiện đúng và tốt nguyên tắc quan trọng này một cách dân chủ, công khai, bình đẳng trong sinh hoạt Đảng theo phương châm: cấp trên và cán bộ lãnh đạo phải tự phê bình nghiêm túc, phải chân thành tiếp thu ý kiến phê bình của đồng chí mình và cấp dưới; đồng thời, phải động viên cấp dưới và quần chúng phê bình tổ chức đảng và đảng viên chân thành, triệt để sẽ góp phần phát huy vai trò, khả năng sáng tạo, trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Năm là, Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Đảng ta đại biểu cho lợi ích chung của giai cấp công nhân, của toàn thể nhân dân lao động, chứ không mưu cầu lợi ích riêng của một nhóm người nào, của cá nhân nào”[17]. Luôn đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, trước hết, sự thống nhất lợi ích giữa Đảng với nhân dân chính là ở vị thế: Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành của dân. Cho nên, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân là một yêu cầu tất yếu, là nhu cầu tự thân của Đảng và một nguyên tắc để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, để nhân nguồn sức mạnh nội lực của Đảng. Trong đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên - những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành phải luôn xứng đáng là “công bộc” của nhân dân trên tinh thần: mỗi người trong mọi mặt công tác phải luôn đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, phải liên hệ chặt chẽ với nhân dân; việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ, sẵn sàng học hỏi nhân dân và “sẵn lòng cầu tiến bộ, sẵn chí phụng sự nhân dân”[18], để nhân dân tin tưởng, yêu mến và gắn bó. Sáu là, không chỉ khẳng định vai trò, ý nghĩa quyết định của đạo đức cách mạng, coi đạo đức là cái gốc của người cách mạng, là cơ sở nền tảng của một đảng cầm quyền, Hồ Chí Minh còn đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Trong tư tưởng của Người, đạo đức cách mạng là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng, ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng; thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng, đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lên trên, lên trước lợi ích cá nhân mình, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân,v.v.. Do đó, Người nhấn mạnh: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư để Đảng thật trong sạch, xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”[19], để mỗi người rèn mình, phòng và chống những thói hư tật xấu trong mình, xứng đáng với vai trò tiền phong.

TIẾP TỤC LÀM THEO NHỮNG CHỈ DẪN CỦA HỒ CHÍ MINH

Không chỉ chú trọng công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, để Đảng và cán bộ, đảng viên của Đảng hoàn thành nhiệm vụ được Tổ quốc và nhân dân giao phó, Hồ Chí Minh còn là tấm gương đạo đức của người cộng sản mẫu mực, luôn thống nhất giữa nói và làm. Luôn tận trung với nước, tận hiếu với dân, “cuộc đời Hồ Chí Minh thực sự là một tấm gương đạo đức và nhân cách thanh cao của người chiến sĩ cách mạng, hết lòng tận trung với nước, tận hiếu với dân, mà “gia đình của Người là Nhân dân, là Đảng và Tổ quốc. Bởi lẽ đó, tất thảy điều gì Hồ Chí Minh dạy và làm, thì mọi người đều ngưỡng mộ và làm theo không chút đắn đo”[20]. Hồ Chí Minh và di sản tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người, ý nghĩ, tầm nhìn chiến lược và những quyết sách, hành động của Người không chỉ thuộc về hiện tại mà còn thuộc về tương lai. Quán triệt những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về xây dựng và chỉnh đốn Đảng trong Di chúc, nhất là thực hiện và coi xây dựng Đảng là một trong 6 nhiệm vụ trọng tâm của nhiệm kỳ (2016-2020) theo tinh thần Đại hội XII của Đảng: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”[21], trong gần 90 năm qua, nhất là trong hơn 30 năm đổi mới và hội nhập, công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng luôn được xác định là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân; là nhiệm vụ của tất cả các tổ chức của đảng và toàn thể cán bộ, đảng viên. Đó không chỉ là nhiệm vụ trọng yếu ở Trung ương, là công việc của đội ngũ cán bộ, đảng viên lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu mà đó là trách nhiệm của tất cả các cấp ủy Đảng, cả hệ thống chính trị và của toàn thể nhân dân. Trong mọi thời điểm, nhất là ở vào những thời khắc có tính bước ngoặt, công tác xây dựng Đảng được đẩy mạnh, được tổng kết qua các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc và được triển khai sâu rộng theo các Nghị quyết chuyên đề về công tác xây dựng Đảng: Nghị quyết trung ương 6 (lần 2) khóa VIII “Một số vấn đề cơ bản và cấp bách về công tác xây dựng Đảng hiện nay”; Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”,v.v.. Thông qua quá trình tự đổi mới và chỉnh đốn đó, Đảng được củng cố, bảo vệ và phát triển, đáp ứng yêu cầu và tình hình nhiệm vụ cách mạng đặt ra; đồng thời, lãnh đạo nhân dân thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ chính trị, giữ vững ổn định chính trị quốc gia; phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước; hoàn thiện các chính sách và cơ chế quản lý kinh tế, an sinh xã hội; kiện toàn các tổ chức trong hệ thống chính trị,v.v.. với những bước đi và phương pháp thích hợp. Trong tiến trình đó, Đảng đã khẳng định được vị thế là lực lượng lãnh đạo Nhà nước, xã hội và đó chính là kết quả sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; trong đó, có sự đóng góp quan trọng của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, “công tác xây dựng Đảng còn không ít hạn chế, khuyết điểm… Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của không ít tổ chức đảng còn thấp, thậm chí có nơi mất sức chiến đấu… Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát thực tế, cơ sở. Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng chưa đủ sức răn đe, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái…Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước”[22]… Bộ phận “mọt dân” đó đã làm mất uy tín, danh dự của Đảng, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng và tính tiền phong, gương mẫu của người đảng viên; làm mục ruỗng bộ máy Đảng, Nhà nước từ bên trong, làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào Đảng và các cơ quan công quyền. Nghiêm trọng là, “những hạn chế, khuyết điểm nêu trên làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”[23]… Vì thế, để tăng cường công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng; để những trăn trở, tâm nguyện của Hồ Chí Minh trong Di chúc được thực hiện sinh động trong thực tiễn, trong thời gian tới, cấp ủy các cấp cần tập trung thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm sau: Thứ nhất, tiếp tục nâng cao nhận thức của cấp ủy các cấp, các ban, ngành chức năng và của mỗi cán bộ, đảng viên về tầm quan trọng của công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, tập trung thực hiện mục tiêu: “Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức”[24]. Trong đó, tăng cường và quyết liệt gắn thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ” với Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, với các quy định: về những điều đảng viên không được làm, về nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là Quy định 08-QĐi/TW của Ban Chấp hành Trung ương về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương. Coi đó là giải pháp đột phá, là điều kiện tiên quyết để làm trong sạch Đảng, nâng cao sức chiến đấu của Đảng, phòng và chống nguy cơ "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ. Thứ hai, tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, đấu tranh bảo vệ, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đường lối đổi mới cho cán bộ, đảng viên, những cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, các ngành. Kiên định thực hiện các nguyên tắc xây dựng Đảng, nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng có hiệu lực, hiệu quả; đồng thời, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng, giữ vững bản lĩnh chính trị của Đảng, của tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên gắn với đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, xây dựng cơ chế phòng ngừa sự tha hóa quyền lực, ngăn chặn quan hệ “lợi ích nhóm”. Thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, Điều lệ Đảng gắn với phát huy vai trò tiền phong gương mẫu của cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu, gắn với khắc phục tình trạng dân chủ, tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám sát hình thức, nể nang, ngại va chạm,v.v.. để kịp thời phát hiện và ngăn chặn những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, củng cố và tăng cường đoàn kết nội bộ. Thứ ba, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, đổi mới và làm phong phú các chuyên trang, chuyên mục, các giải thưởng báo chí, các tác phẩm văn học nghệ thuật liên quan đến công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, đến thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” từ Trung ương xuống đến địa bàn cơ sở. Lựa chọn, xây dựng và nhân rộng các gương điển hình trong cán bộ, đảng viên, trong nhân dân về học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; nhân những hạt giống đỏ trong vườn hoa người tốt, việc tốt để tạo sức lan tỏa, lôi cuốn từ những tấm gương người thực việc thực giản dị trong cuộc sống đời thường mà ý nghĩa nhân văn lớn lao. Đồng thời, chủ động, kiên quyết và linh hoạt đấu tranh với những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, phản động, góp phần làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, thiết thực xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Thứ tư, mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao đạo đức cách mạng, phòng, chống và đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân; khắc phục biểu hiện suy thoái “không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác; né tránh trách nhiệm, thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao”[25]. Đặc biệt, phát huy sự gương mẫu, thống nhất giữa nói và làm của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu trên mọi lĩnh vực, nhất là trong đấu tranh phòng và chống tham ô, tham nhũng, lợi ích nhóm, tư duy nhiệm kỳ, không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao… Đồng thời, kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những con sâu mọt tham ô, tham nhũng, v.v.. gây thất thoát tiền bạc và tài sản của nhân dân. Thứ năm, phát huy hơn nữa vai trò của nhân dân trong giám sát cán bộ, đảng viên, trong xây dựng và chỉnh đốn Đảng, để “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát” không chỉ là nằm trong nghị quyết, là khẩu hiệu mà trở thành hiện thực sinh động trong thực tiễn. Theo đó, mỗi tổ chức cơ sở đảng và cán bộ, đảng viên tăng cường hướng về cơ sở, khắc phục tình trạng quan liêu, không sâu sát cơ sở, thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của quần chúng nhân dân. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp không những phải tăng cường kiểm tra, đôn đốc, nắm chắc tình hình địa phương, cơ quan, đơn vị, địa bàn cơ sở, lắng nghe ý kiến đóng góp của quần chúng để không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện nhiệm vụ mà còn cần phát huy tốt vai trò của các tổ chức quần chúng, tạo điều kiện để nhân dân và các tổ chức quần chúng thực hiện tốt hơn quyền dân chủ của mình trong cuộc sống, tích cực tham gia xây dựng các tổ chức cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh. Thực tế, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: Xây dựng và chỉnh đốn lại Đảng là yêu cầu khách quan, tất yếu, là công việc nội tại, thường xuyên của Đảng cầm quyền, để “làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân. Làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi”[26]./.

CÁN BỘ CHIẾN LƯỢC CẦN NẮM VỮNG VÀ THỰC HIỆN TỐT VẤN ĐỀ TÔN GIÁO GẮN VỚI QUỐC PHÒNG - AN NINH

 


Tôn giáo là một hiện tượng xã hội, được tồn tạị lâu dài trong tiến trình phát triển của xã hội loài người. Tôn giáo là vấn đề nhạy cảm, có ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại phát triển của xã hội. Trong tình hình hiện nay, giải quyết tốt vấn đề tôn giáo là ưu tiên hàng đầu của nhiều quốc gia, dân tộc và là xu hướng chung của thời đại. Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, đa tôn giáo. Đảng ta từ khi thành lập cho đến nay luôn xác định: Tín ngưỡng, tôn giáo là nhiệm vụ chiến lược, cơ bản, lâu dài, nhưng cũng là nhiệm vụ cấp bách trong tình hình hiện nay. Trong đó, Đảng ta cũng xác định: thực hiện tốt vấn đề tôn giáo gắn với thực hiện nhiệm vụ QP-AN là nội dung quan trọng, có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Đặc biệt trong tình hình hiện nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hoà bình” chống cách mạng Việt Nam với phương châm lấy chống phá về chính trị, tư tưởng làm hàng đầu, kinh tế làm mũi nhọn, ngoại giao làm hậu thuẫn, tôn giáo, dân tộc làm ngòi nổ, kết hợp với bạo loạn lật đổ, uy hiếp, răn đe, gây sức ép về quân sự.  Vì vậy, công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta chỉ có thể thành công trên cơ sở lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động, đồng thời phải xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể của đất nước và gắn với đặc điểm của thời đại hiện nay. Tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, trước hết đòi hỏi Đảng phải đổi mới tư duy, nhìn nhận và đánh giá đúng những vấn đề lý luận và thực tiễn, trong đó có vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo đang và sẽ có nhiều biểu hiện mới, đa dạng, phức tạp, cần giải quyết đúng đắn.

Vì vậy, việc nghiên cứu, nắm vững và thực hiện tốt đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về tôn giáo gắn với QP-AN có ý nghĩa vô cùng quan trọng và cấp bách đối với cán bộ cấp chiến lược hiện nay.

Phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa” cần kiên quyết

Phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa” vốn là công việc rất khó khăn, phức tạp, vì nó liên quan tới vấn đề tư tưởng, biểu hiện âm thầm, gặm nhấm dần lòng tin, xói mòn dần phẩm chất đạo đức của cá nhân, tổ chức. Trong thực tế thì hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cũng liên quan cả gián tiếp và trực tiếp tới công tác xây dựng tổ chức, xây dựng con người, công tác cán bộ v.v.. Hơn nữa, khi thực hiện nhiệm vụ này rất dễ đụng chạm đến danh dự, lợi ích, quan hệ của mỗi con người. Tuy khó nhưng không thể không làm, vì vấn đề này có liên quan đến sinh mệnh chính trị, uy tín của Đảng và sự tồn vong chế độ. Bởi thế, ngoài quan điểm tích cực và chủ động thì việc kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" là rất quan trọng. Nếu không kiên quyết trong phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" thì việc thực hiện sẽ trở nên “nửa vời” và không đạt được mục tiêu, yêu cầu đề ra. Để thể hiện tính kiên quyết trong phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" thì trong quá trình thực hiện phải nắm vững nguyên tắc kỷ luật tự giác, nghiêm minh của Đảng, chống phải đi đôi với xây và phải lấy xây làm chính. Cần phải tiến hành đồng bộ, toàn diện đối với mọi tổ chức, cá nhân, gắn kết chặt chẽ giữa đấu tranh, phê bình với các biện pháp hành chính, pháp luật và kinh tế. Việc tạo ra phong trào và hành động cụ thể, thiết thực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân khi đấu tranh ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" là rất cần thiết. Có một số vấn đề cần tập trung, đó là: Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo, quản lý cao cấp, vấn đề này đã được Đảng ta chú trọng thực hiện trong thời gian qua và đã thu được những kết quả nhất định; kiên quyết sử dụng nhiều biện pháp để đấu tranh phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; kiên quyết thực hiện phê bình, tự phê bình. Khi có dấu hiệu vi phạm thì dù cán bộ ở cương vị nào cũng cần phải được kiểm điểm, phê bình, xử lý kịp thời, mạnh mẽ, không "dĩ hòa vi quý", không nể nang, rơi vào chủ nghĩa cá nhân, không có vùng cấm, không loại trừ cán bộ chủ chốt, cán bộ cấp cao tự coi mình là "bề trên", đứng ngoài tổ chức. Những biểu hiện, những đối tượng như thế càng phải kiên quyết trong đấu tranh, khắc phục, loại trừ, bởi đó thực sự là "mầm họa" của "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", là nguyên nhân sâu xa nhưng trực tiếp dẫn tới làm ảnh hưởng đến uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng.

Người lính quân hàm xanh kiên cường bám trụ chống "giặc COVID-19"

Các chiến sỹ các chốt trực chiến 24/24 giờ, tổ chức tuần tra, kiểm soát bảo vệ biên giới, phòng chống tội phạm, ngăn chặn kịp thời đối tượng xuất-nhập cảnh trái phép, buôn lậu, vận chuyển hàng hóa. Với tinh thần “chống dịch như chống giặc,” Bộ đội Biên phòng tỉnh Kiên Giang tập trung toàn lực, cùng với các lực lượng hữu quan và địa phương, quyết tâm thắng "giặc COVID-19," dẹp trừ hiểm họa dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe nhân dân. Thời điểm này, khu vực miền Tây Nam Bộ vào giai đoạn cuối mùa khô và bắt đầu mùa mưa năm 2021. Thời tiết nắng, mưa không ổn định đã phần nào ảnh hưởng đến công tác phòng, chống dịch COVID-19, đấu tranh chống buôn lậu và vận chuyển hàng hóa trái phép qua biên giới. Thế nhưng, chấp hành nghiêm mệnh lệnh của chỉ huy, hòa cùng với “mệnh lệnh trái tim” của người lính quân hàm xanh, “Đồn là nhà - Biên giới là quê hương,” các cán bộ, chiến sỹ trên tuyến biên giới Tây Nam đang ngày đêm chắc tay súng giữ gìn từng tấc đất biên cương Tổ quốc, kịp thời ngăn chặn các đối tượng lén lút xâm nhập trái phép qua biên giới, tiềm ẩn nguy cơ mang mầm dịch bệnh gieo rắc, lây lan trong cộng đồng. Trên tuyến biên giới Tây Nam Hà Tiên-Giang Thành thuộc huyện vùng biên Giang Thành, tỉnh Kiên Giang, các Đồn Biên phòng Phú Mỹ, Giang Thành và Vĩnh Điều triển khai nhiều chốt chặn. Những chiến sỹ Biên phòng ở các chốt đã hy sinh tất cả tình cảm riêng tư cá nhân để thực hiện "nhiệm vụ kép,” vừa bảo vệ an ninh biên giới, vừa phòng, chống dịch COVID-19 và ngăn chặn buôn lậu. Không một trở ngại, khó khăn hay tình huống nguy hiểm nào làm sờn lòng các chiến sỹ ở đây. Trong điều kiện bất lợi về thời tiết thất thường, điều kiện sinh hoạt thiếu thốn mọi bề, vất vả, địa hình biên giới đi lại khó khăn, không điện, không nước sạch…, các chiến sỹ đồng tâm, hiệp lực “hóa giải” để trụ vững trên địa bàn vùng biên, quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Các chiến sỹ các chốt trực chiến 24/24 giờ, tổ chức tuần tra, kiểm soát bảo vệ biên giới, phòng chống tội phạm, ngăn chặn kịp thời đối tượng xuất-nhập cảnh trái phép, buôn lậu và vận chuyển hàng hóa qua biên giới. Thiếu úy Danh Thành Huy, Đội trưởng vận động quần chúng Đồn Biên phòng Phú Mỹ, Tổ trưởng Chốt biên phòng Phú Mỹ cho biết: “Chúng tôi luôn tuân thủ sự chỉ huy, chỉ đạo của cấp trên thực hiện nhiệm vụ kép là vừa quản lý, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia, vừa phòng, chống dịch COVID-19, ngăn chặn kịp thời các đối tượng xuất-nhập cảnh trái phép, phòng chống buôn lậu và gian lận thương mại. Chúng tôi quán triệt, xác định rõ tư tưởng, luôn luôn sẵn sàng thực hiện mọi nhiệm vụ, dù trời nắng hay trời mưa cũng luôn cơ động khi phát hiện các vụ việc xảy ra.” Bóng đêm của vùng biên thùy, địa hình biên giới đi lại khó khăn, điều kiện thời tiết khắc nghiệt, thiếu thốn, vất vả và những hiểm nguy rình rập có thể xảy ra bất cứ lúc nào, nhưng tất cả những trở ngại, bất lợi đó không ngăn cản được bước chân tuần tra, kiểm soát trên tuyến biên giới của những người lính Biên phòng Kiên Giang. Các chiến sỹ kịp thời ngăn chặn khá nhiều trường hợp người xâm nhập trái phép, đấu tranh bắt giữ đối tượng buôn lậu và vận chuyển hàng hóa qua biên giới. Trung úy Trần Văn Thiện, Đội trưởng Đội phòng chống ma túy và tội phạm Đồn Biên phòng Vĩnh Điều, Tổ trưởng Chốt biên phòng số 6 Vĩnh Điều chia sẻ: “Chúng tôi lên tuyến đầu biên giới thành lập các chốt từ giữa tháng 3/2020 đến giờ. Anh em trong chốt thay nhau trực 24/24h, kiểm soát chặt chẽ địa bàn. Ban ngày kết hợp vừa trực chiến, vừa sản xuất, tự nấu ăn, sinh hoạt… Ban đêm tổ chức tuần tra, mật phục, trực gác đến lúc trời sáng rõ. Ngoài ra, chúng tôi thực hiện công tác nắm địa bàn, xây dựng mạng lưới quần chúng nhân dân tố giác tội phạm, bà con kịp thời phát hiện và thông báo những dấu hiệu bất thường để chủ động xử lý. Hơn 1 năm bám trụ tại chốt, đơn vị ngăn chặn, bắt giữ rất nhiều vụ xuất, nhập cảnh trái phép, buôn lậu, vận chuyển hàng cấm qua biên giới và những vụ việc vi phạm khác.” Thực hiện nhiệm vụ bảo vệ biên giới và phòng, chống dịch COVID-19, những người lính quân hàm xanh trên biên giới Tây Nam luôn quán triệt tư tưởng, an tâm công tác, quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ cấp trên giao. Cắm chốt ở khu vực biên thùy này, anh em chiến sĩ luôn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu, không để bị động, bất ngờ, lên kế hoạch tổ chức các hoạt động tuần tra, kiểm soát cả ngày lẫn đêm, nhất là chủ động các phương án tác chiến ban đêm, chú trọng những khu vực trọng yếu, trọng điểm, đường mòn, lối mở… Hơn một năm qua, kể từ khi đại dịch COVID-19 xuất hiện, cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng tỉnh Kiên Giang đã gác lại tất cả việc riêng, nỗ lực hết sức mình thực hiện nhiệm vụ trên tuyến biên giới trong điều kiện, hoàn cảnh nhiều khó khăn, vất vả. Trước diễn biến ngày càng phức tạp và khó lường của dịch COVID-19, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Kiên Giang đã tăng dày, duy trì 100% quân số ở các chốt trên tuyến biên giới Tây Nam Hà Tiên-Giang Thành, thành lập nhiều tổ cơ động, phối hợp với các lực lượng chức năng tuần tra, chốt chặn, kiểm soát chặt chẽ tuyến biên giới bộ, ngăn chặn hoạt động xuất, nhập cảnh trái phép qua biên giới. Thượng tá Doãn Đình Tránh, Phó Chính ủy Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Kiên Giang chia sẻ: “Trong thời gian gần đây, chúng tôi càng tăng dày các chốt phòng, chống dịch COVID-19 trên tuyến biên giới và hiện có 144 chốt cố định, 24 tổ cơ động thực hiện nhiệm vụ. Bộ đội Biên phòng Kiên Giang nỗ lực, quyết tâm, quyết liệt thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới, ngăn chặn xuất, nhập cảnh trái phép, phòng, chống dịch COVID-19, chống buôn lậu trên các tuyến biên giới bộ và vùng biển đảo.” Thượng tá Doãn Đình Tránh cho biết thêm những khó khăn, trở ngại, bất lợi trong đời sống, sinh hoạt trên vùng biên, anh em chiến sỹ linh hoạt, sáng tạo từng bước khắc phục, vượt qua khó khăn. Từng người lính Biên phòng Kiên Giang đang làm nhiệm vụ trên tuyến đầu biên giới Tây Nam Hà Tiên-Giang Thành, luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm vì nước, vì dân, không chùn bước trước bất kỳ trở ngại, khó khăn hay tình huống nguy hiểm nào để bảo vệ vững chắc biên cương Tổ quốc, từng bước đẩy lùi đại dịch COVID-19 đang diễn biến phức tạp và khó lường./.

ĐỪNG RẮC LÔNG NGỖNG TRÊN CON ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐẤT NƯỚC

Không một quốc gia nào có thể dung túng, không xử lý đối với các đối tượng khủng bố, phá hoại môi trường hòa bình, ổn định chung như vậy. Không thể gọi những thành phần như vậy là những nhà “hoạt động dân chủ” hay “bất đồng chính kiến”, lại càng không thể gọi những kẻ bị pháp luật xử lý là “tù nhân chính trị”, “tù nhân lương tâm” hay “tù nhân tôn giáo”. Bất kể họ là ai, thuộc thành phần nào trong xã hội, đều bình đẳng trước pháp luật và phải bị xử lý nghiêm minh khi phá hoại an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và nguy hiểm hơn là tiến hành và tiếp tay cho hoạt động khủng bố của các tổ chức khủng bố. Như Việt Tân đã bị Bộ Công an Việt Nam công bố là tổ chức khủng bố thì không chỉ pháp luật Việt Nam mà pháp luật Hoa Kỳ cũng như nhiều nước trên thế giới đều kiên quyết lên án và chung tay chống khủng bố. Sẽ không thể có chuyện "đánh bùn sang ao" để dung túng cho những việc làm sai trái cả về đạo lý, pháp lý của Việt Nam và luật pháp quốc tế như vậy. Sau những phiên tòa xét xử các đối tượng vi phạm pháp luật, nhiều người đã ăn năn, hối cải. Nhưng còn không ít người bị lôi kéo, kích động, được khoan hồng chưa bị truy tố có suy nghĩ về những hành vi vô hình trung tiếp tay cho sự phá hoại đất nước của mình? Sự cố môi trường biển miền Trung diễn ra đã lâu nhưng vẫn còn không ít người lợi dụng sự kiện này để xuyên tạc, kích động, thậm chí sử dụng cả những tin giả, tin xấu làm phương hại đến an ninh kinh tế và chính trị của đất nước. Mấy năm trước, nhiều người dân ở các đô thị lớn đi biểu tình dù chưa hiểu cặn kẽ sự cố, có khi chỉ vì nhìn thấy những bức ảnh cá chết hàng loạt là ảnh cá chết ở Mỹ từ năm 2011 được những kẻ xấu “chế biến” thành ảnh cá chết ở ven biển miền Trung. Việc này báo chí đã lên tiếng vạch trần thế mà sang tận cuối năm 2018, một nhóm du học sinh tại Mỹ bao gồm cả người đang công tác ở một viện khoa học lớn tại Việt Nam lại làm một báo cáo khoa học dự hội nghị quốc tế cũng sử dụng những bức hình cá chết fake news (tin giả) này. Sự việc mới đây đã được một chuyên gia kinh tế môi trường lên tiếng phê phán vì sự giả dối này ảnh hưởng nhiều mặt đến lợi ích quốc gia thế nhưng nhóm nghiên cứu nọ có người vẫn bao biện cho hành vi sai trái của họ và cho đây là việc làm không vấn đề gì. Trở lại với những kẻ kích động "cách mạng màu", "cách mạng mùa hè", những lời hô hào kêu gọi bạo động, để xây dựng một thể chế mới theo mô hình dân chủ phương Tây, theo lối đi của "Mùa xuân Ả Rập", chúng ta rút ra những gì tai nghe mắt thấy tại Việt Nam? Trong vụ án “Quốc nội quật khởi”, trừ đối tượng Nguyen Michael Phuong Minh ngoài 50 tuổi, các bị cáo còn lại đều là sinh viên, thanh niên tương lai đang rộng mở song đã bị lôi kéo vào những việc làm phá hoại đất nước, như: Huỳnh Đức Thanh Bình mới 23 tuổi, là sinh viên Trường Đại học Kinh tế Tài chính TP Hồ Chí Minh; Trần Long Phi (Đồng Nai) mới 21 tuổi. Vậy mà chỉ vì dại dột, bị lôi kéo, cả hai phải lĩnh mức án lần lượt là 10 năm tù và 8 năm tù. Họ đánh mất cả tương lai và tuổi trẻ trong khi những kẻ "ném đá giấu tay" thì có thể đang ở đâu đó hân hoan vì đã tạo ra được những “điểm nóng”. Trong khi những kẻ cầm đầu vẫn ở trong bóng tối thì hàng trăm người dân quá khích đã phải nhận những bản án nghiêm khắc. Cuộc sống bình yên của hàng trăm gia đình bỗng chốc bị đảo lộn, rơi vào hoàn cảnh khó khăn khi người thân vướng vào vòng lao lý. Bình Thuận-Ninh Thuận, những nơi gắn với các địa danh du lịch nổi tiếng bỗng chốc ghi “dấu ấn” không đẹp vì những cuộc xuống đường bạo loạn. Kinh tế, du lịch các tỉnh ven biển miền Trung từng bị những hậu quả nặng nề do tin giả, tin xấu gây hoang mang dư luận. Khó khăn vẫn chưa dừng lại khi bóng ma Việt Tân vẫn len lỏi đâu đó trong các vùng quê Nghệ An, Hà Tĩnh, gây ra nhiều vụ việc phức tạp thời gian qua. Nhìn lại các vụ biểu tình, đập phá và những phiên tòa, chúng ta có thể liên hệ tới sự kiện năm nay đã đánh dấu 10 năm khởi phát cái gọi là "Mùa xuân Ả Rập". Tờ Jerusalem Post nhận xét, các thế lực phương Tây đã sử dụng truyền thông để kích động làn sóng biểu tình, nổi dậy lật đổ chính quyền đương nhiệm nhằm tạo dựng chính quyền mới. Những cuộc nổi dậy mà ban đầu phương Tây ca ngợi là "vì tự do và dân chủ" cuối cùng có kết cục trái ngược hoàn toàn: Thêm hỗn loạn, đất nước tan rã và sự nổi dậy của các nhóm Hồi giáo cực đoan. Nhiều nhà lãnh đạo mà phương Tây gọi là những "nhà độc tài" đã bị lật đổ, để rồi nhiều nhóm quyền lực mới còn độc tài và cực đoan hơn nổi lên, sẵn sàng chém giết lẫn nhau để giành quyền lực. Khi viết những dòng này, chúng tôi chợt nhớ đến bộ phim Bao giờ cho đến tháng Mười, một bộ phim từng làm rung động hàng triệu trái tim cả Việt Nam và thế giới về nỗi đau chiến tranh. Duyên-người vợ bộ đội trong phiên chợ âm phủ gặp lại chồng đã hỏi: “Anh có điều gì muốn dặn dò em không?”. Người chồng-người lính đã hy sinh trả lời: “Anh chỉ muốn những người còn sống được hạnh phúc. Chỉ những người đang sống mới làm được điều đó. Anh đã làm hết phần việc của mình rồi”. Bộ phim cũng có những câu thơ rất hay: "Bao giờ cho đến tháng Mười/ Lúa chín trên cánh đồng dông bão/ Ta để lại sau lưng những ngày dài mong đợi/ Những mất mát, hy sinh, chịu đựng khổ đau/ Khi trời thu vẫn xanh mãi trên đầu...". Trời thu của hòa bình, độc lập vẫn đang xanh mãi ở trên đầu. Nhưng chỉ những người đang sống mới có thể làm nên hạnh phúc của mình hay không bằng những nhận thức và hành động đúng đắn. Hãy biết trân trọng cái giá của hòa bình, độc lập để không mắc mưu kẻ xấu, để không vô tình hay cố ý phá hoại những mùa lúa đang chín trên cánh đồng quê hương Việt Nam từng chịu rất nhiều dông bão chiến tranh./.

NGHIÊM TRỊ CĂN BỆNH "LOẠN NGÔN" TRÊN MẠNG XÃ HỘI

 Thời gian gần đây, một số người sử dụng mạng xã hội (MXH) phát ngôn bừa bãi hoặc đăng thông tin xuyên tạc, bịa đặt trên MXH đã phải đối mặt với các biện pháp xử lí nghiêm của cơ quan thực thi pháp luật.

Đừng phá lúa chín trên cánh đồng từng nhiều dông bão

Đất nước ta đã đi qua những chặng đường dài đầy khổ ải để hàn gắn vết thương chiến tranh và phát triển từng ngày, như lúa đã chín trên cánh đồng từng nhiều dông bão. Vậy mà đây đó, vẫn có những người bị kẻ xấu kích động biểu tình, gây rối, phá hoại, thậm chí cả những hoạt động mang dáng dấp bạo loạn để châm ngòi chiến tranh. Nhìn lại những vụ việc gần đây, chúng ta có thể rút ra nhiều điều đáng suy ngẫm…

CẢNH GIÁC VỚI THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC CHỦ TRƯƠNG PHÒNG, CHỐNG DỊCH COVID-19

 Dịch Covid-19 đang làm đảo lộn cuộc sống sinh hoạt và đe dọa đến sức khỏe, tính mạng của hàng tỉ người dân ở nhiều nước trên thế giới. Trong khi Việt Nam, trong những ngày gần đây, lây nhiễm cộng đồng đang lan rộng trên phạm vi nhiều tỉnh thành, diễn biến phức tạp với số ca bệnh tăng cao. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã và đang thể hiện sự nỗ lực vượt bậc để cùng cộng đồng thế giới kiên quyết ngăn chặn, kiểm soát, đẩy lùi và giảm đến mức thấp nhất những thiệt hại do dịch Covid-19 gây ra. Đáng buồn thay, vẫn có những kẻ lợi dụng tình hình đại dịch này để “đục nước béo cò” nhằm xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và kích động, gây hoang mang trong dư luận xã hội.

Phòng và chống biểu hiện hạ thấp, phủ nhận thành quả cách mạng, thổi phồng khuyết điểm của Đảng và Nhà nước

Ra sức xuyên tạc, hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng và Nhà nước ta là một trong những âm mưu thủ đoạn mà các thế lực thù địch đang tiến hành. Phòng, chống, ngăn ngừa những biểu hiện đó là hết sức cần thiết và cấp bách, nếu không sẽ ảnh hưởng tới uy tín và vai trò lãnh đạo của Đảng. Qua hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đó là cố gắng to lớn, rất đáng tự hào của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, được bạn bè quốc tế ngưỡng mộ. Tuy nhiên, hiện nay kinh tế nước ta còn tụt hậu, cuộc sống của đồng bào ta ở nhiều vùng, nhiều đối tượng còn rất khó khăn; vẫn còn tệ tham nhũng, lãng phí, thiếu trách nhiệm, quan liêu, cửa quyền với nhân dân, gây bất bình trong nhân dân... Đảng và Nhà nước ta không những không phủ nhận những yếu kém, khuyết điểm trong quá trình đó mà còn nhận thức rõ vấn đề và kiên quyết sửa chữa, đấu tranh khắc phục. Tuy nhiên, để bôi nhọ và hạ thấp thành quả cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, các thế lực thù địch đã cố tình đổi trắng, thay đen, xuyên tạc, bóp méo bản chất, tính chất và thành tựu to lớn của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, kháng chiến chống xâm lược của nhân dân ta, nhất là những thành tựu của sự nghiệp đổi mới đất nước. Các thế lực thù địch tập trung công kích, xuyên tạc cái gọi là thành tựu của đổi mới là do Đảng, Nhà nước Việt Nam “tự vẽ lên”, “tự mình khen mình”, chứ thực chất, theo chúng là không có thật. Chúng còn nói xằng rằng, những thành tựu đổi mới nếu có là chỉ “chui vào túi của bọn độc tài”, bọn tham nhũng, tham quan; còn đất nước vẫn trong cảnh nghèo nàn, tụt hậu, đời sống của nhân dân còn rất khó khăn, người dân nghèo thì không được thụ hưởng... Chúng còn “tìm kiếm” và cố tình đưa ra những thông tin hằn học, nhai lại những luận điệu cũ rích nhằm hạ bệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và phủ nhận công lao của Người; vu cáo, bôi nhọ một số đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, hạ uy tín nhiều đồng chí lãnh đạo cấp cao, gây mất niềm tin trong nhân dân, làm cho dân xa Đảng, mất đoàn kết nội bộ, kích động tâm lý xã hội. Không dừng ở đó, các thế lực thù địch còn triệt để lợi dụng, khoét sâu những hạn chế, khuyết điểm của chúng ta trong thực hiện chủ trương, chính sách và thực thi pháp luật, nhất là lợi dụng việc Đảng đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham ô, tham nhũng và sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên để xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; công kích Đảng, xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Đặc biệt, chúng cho “ra lò” những cuốn sách, tờ báo, tờ rơi, những “tâm thư”, “giác thư”, “thư ngỏ”, “tuyên cáo”, công khai nói rõ điều đó, công khai đòi đánh đổ, kêu gọi giải tán Đảng, xóa Điều 4 của Hiến pháp... Cùng với sự chống phá của các thế lực thù địch, trong xã hội đã xuất hiện thêm những luận điệu nhằm hạ thấp, phủ nhận thành quả cách mạng và sự nghiệp đổi mới đất nước của nhân dân ta; “nắn dòng” dư luận để thổi phồng khuyết điểm của Đảng và Nhà nước ta của những kẻ suy thoái, biến chất. Dùng chiêu “mớm lời”, “rắc thính”, kích động để không chỉ gây tâm lý hoang mang, hồ nghi trong một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái, dàn “đồng ca” của các thế lực thù địch đã và đang làm cho những biểu hiện đó được “khuyếch trương” mạnh mẽ hơn bằng các thủ đoạn đặt câu hỏi như: nếu không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, thì nước ta sẽ đi theo con đường nào? Và rồi, họ tự trả lời bằng cách “khuyên nhủ” chúng ta phải đi theo con đường của chủ nghĩa tư bản để được tự do,v.v.. Còn nữa, để phủ nhận những thành tựu về nhân quyền mà Việt Nam đạt được trong các năm qua, tổ chức khủng bố “Việt Tân”, “Ủy ban bảo vệ quyền làm người Việt Nam”, “Cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản tại Hà Lan”, “liên hội người Việt tị nạn tại Đức” với sự phụ họa của BBC, VOA, RFA, RFI… đã khai thác, dựa trên các loại thông tin giả, cố tình bóp méo sự thật, đổi trắng thay đen, tảng lờ những thành tựu của sự nghiệp đổi mới nói chung, về nhân quyền mà Việt Nam đạt được nói riêng; đã đánh tráo khái niệm, để bảo vệ một số người vi phạm pháp luật, bị tòa án xét xử… nhằm kích động dư luận, gây hoài nghi, dao động, làm giảm lòng tin của nhân dân với Đảng, với chế độ. Một bộ phận phai nhạt lý tưởng cách mạng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” đã “phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái”; “nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Chúng bôi nhọ, hạ thấp và phủ nhận thành quả của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, của công cuộc đổi mới. Chúng rêu rao và đổ lỗi cho sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, đòi thay đổi con đường mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn, từ đó, đòi thay đổi thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, từ bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng; tìm mọi cách cản trở công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước... TĂNG CƯỜNG, CHỦ ĐỘNG PHÒNG, CHỐNG, NGĂN CHẶN Phòng, chống và ngăn ngừa những biểu hiện hạ thấp, phủ nhận thành quả cách mạng, thổi phồng khuyết điểm của Đảng và Nhà nước ta thực sự là yêu cầu cấp thiết, có ý nghĩa quan trọng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, để xây dựng và chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng vững mạnh, chắc chắn, xứng đáng với vai trò tiền phong. Để chủ động phòng, chống vấn đề này hiệu quả, phải thực hiện tổng hợp và đồng bộ nhiều nội dung, giải pháp, cụ thể cần tập trung thực hiện tốt một số vấn đề sau: Thứ nhất, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống,v.v..; đồng thời, cảnh giác, nhận diện và đánh giá đúng thực chất và tác hại của những biểu hiện hạ thấp, phủ nhận thành quả cách mạng, thổi phồng khuyết điểm của Đảng và Nhà nước để kiên định lý tưởng cộng sản, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đã lựa chọn. Trên cơ sở thấm nhuần lời dạy của V.I.Lênin: “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự bảo vệ”, mỗi cấp ủy, cán bộ, đảng viên phải biết tự bảo vệ mình thông qua quá trình tự giác học tập và tu dưỡng để nâng cao trình độ lý luận, chính trị, năng lực trí tuệ, tình cảm và lập trường cách mạng, bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng,v.v.. trước những diễn biến phức tạp khó lường và tác động mạnh mẽ của tình hình, trước sự chống phá của các thế lực thù địch cũng như tác động của những biểu hiện xấu, độc để nâng cao sức đề kháng, khả năng tự miễn dịch trước các quan điểm sai trái, thù địch về tư tưởng, lý luận. Thứ hai, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng; tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” gắn với Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” để “nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ, tính chiến đấu của toàn Đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp; không dao động trong bất cứ tình huống nào. Giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng, vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên”(1). Trong quá trình đó, mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị phải kết hợp bảo vệ với xây dựng, xây dựng gắn với bảo vệ; lấy cái tích cực, cái tốt, đẩy lùi cái tiêu cực, cái xấu, nhằm mục đích xây dựng và phát triển tốt hơn từng tổ chức, từng con người. Bên cạnh đó, cần có cơ chế “tự bảo vệ” thích hợp, để phòng và chống sự tha hóa, suy thoái, giúp cho sự “tự kiểm soát” của mỗi tổ chức của Đảng, cơ quan Nhà nước và đội ngũ cán bộ, đảng viên đảm bảo được khả năng miễn dịch trước nguy cơ, hiểm họa “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” bằng những luận điệu “nắn dòng”. Trong đó, đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống và tiêu diệt chủ nghĩa cá nhân, với các căn bệnh tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu; các biểu hiện hạ thấp, phủ nhận thành quả cách mạng, thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ,v.v.. Kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”; trong đó, lấy “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách để trong “xây” có “chống”, trong “chống” có “xây”, nhằm cổ vũ mạnh mẽ các nhân tố tích cực, tạo môi trường, nếp sống, lối sống lành mạnh có văn hoá trong xã hội. Thứ ba, nâng cao năng lực hoạch định đường lối, chính sách phù hợp với quy luật khách quan và đặc điểm của Việt Nam, tạo bước đột phá để phát triển, để xây dựng đất nước ta “kinh tế phải vững, quốc phòng phải mạnh, thực lực phải cường, lòng dân phải yên, chính trị - xã hội ổn định, cả dân tộc là một khối đoàn kết thống nhất”. Trong quá trình đó, phải “xây dựng và thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, quan tâm thích đáng đến các tầng lớp, bộ phận yếu thế trong xã hội, đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, khắc phục xu hướng gia tăng phân hóa giàu - nghèo, bảo đảm sự ổn định và phát triển xã hội bền vững”(2), tăng cường sự đồng thuận xã hội. Thứ tư, tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế; đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, khẳng định những thành tựu to lớn của cách mạng Việt Nam, nhất là những thành tựu của nhân dân ta qua hơn 30 năm đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, để những thông tin hạ thấp, bôi nhọ “nắn dòng” ấy chỉ là những “bàn tay không che nổi mặt trời” - không thể phủ nhận được sự thật đang hiện hữu sinh động hằng ngày trên đất nước Việt Nam./.