Thứ Hai, 21 tháng 6, 2021
Các xu hướng của thị trường bất động sản nửa cuối 2021
Năm bài học kinh nghiệm trong công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng
Trên cơ sở một số hạn chế, khuyết điểm cần khắc phục,rút ra từ thực tiễn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong nhiệm kỳ Đại hội XII.
1. Trước hết, phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện nghiêm các nguyên tắc của Đảng; kịp thời tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận để đổi mới sáng tạo, chống bảo thủ, trì trệ và những biểu hiện cơ hội chính trị.
2. Bên cạnh đó, phải đặc biệt coi trọng sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Người đứng đầu các cấp phải thực sự gương mẫu, nói đi đôi với làm. Thường xuyên tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, phát huy vai trò của Nhân dân và dựa vào dân để xây dựng Đảng.
3. Khẳng định, công tác cán bộ là "then chốt” của công tác xây dựng Đảng, “then chốt” của nhiệm vụ “then chốt", là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Vì vậy, phải đặc biệt coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu thật sự có đức, có tài, có uy tín trong Đảng và Nhân dân.
4. Đồng thời, xây dựng Đảng phải gắn kết chặt chẽ với lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, phát triển văn hóa, con người Việt Nam, bảo đảm quốc phòng, an ninh và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa xây dựng và chỉnh đốn Đảng; đồng thời, xác định đúng trọng tâm, trọng điểm và khâu đột phá.
5. Đặc biệt, trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện phải có quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, có trọng tâm, trọng điểm và có bước đi phù hợp..Những việc chưa có quy định nhưng thực tiễn đã chứng minh là đúng, thực hiện có hiệu quả, có sự đồng tình, thống nhất cao thì đưa vào quy định để thực hiện; những vấn đề còn có ý kiến khác nhau thì tiếp tục nghiên cứu, tiến hành thí điểm, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, mở rộng dần, không cầu toàn, không nóng vội. Trước những vấn đề khó, phức tạp, nhạy cảm thì càng phải giữ vững nguyên tắc, thực hiện nhất quán, phát huy dân chủ, huy động trí tuệ tập thể; cầu thị, khiêm tốn, lắng nghe và đặt sự nghiệp chung của Đảng, lợi ích của quốc gia, dân tộc và nhân dân lên trên hết, trước hết.
Luận bàn về việc vận dụng phương pháp lịch sử
Internet không tạo ra "nhà báo tự do"!
Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính ủy, chính trị viên trong Quân đội
Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: “Xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh. Đến năm 2030 xây dựng một số quân chủng, binh chủng, lực lượng hiện đại”. Để đạt được mục tiêu này, một trong những biện pháp quan trọng là xây dựng đội ngũ chính ủy, chính trị viên các cấp trong Quân đội làm nòng cốt với phẩm chất chính trị, đạo đức, phương pháp, tác phong công tác theo Tư tưởng Hồ Chí Minh.
Ngay từ những ngày đầu của cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã đặc biệt quan tâm đến xây dựng đội ngũ cán bộ chính trị trong những tổ chức mầm mống của lực lượng vũ trang cách mạng. Người nhấn mạnh: “Về mặt chính trị, cấp nào cũng có một người chính trị phái viên do đoàn thể cách mạng chọn trong bộ đội ấy hoặc phái người ngoài đến làm” (1). Từ đó đến nay, ở các đơn vị lực lượng vũ trang cách mạng (lúc đầu từ cấp trung đội, sau là từ cấp đại đội trở lên) bên cạnh người chỉ huy quân sự bao giờ cũng có người cán bộ chính trị - người tiêu biểu cho đường lối chính trị, quân sự của Đảng, được tổ chức đảng lựa chọn và giao nhiệm vụ chỉ đạo, trực tiếp tiến hành công tác đảng, công tác chính trị, chịu trách nhiệm chủ yếu trước Đảng về bản chất cách mạng của đơn vị vũ trang mà mình được phân công đảm nhiệm. Là đại biểu của Đảng bên cạnh người chỉ huy, hơn ai hết, họ là người giữ nghiêm kỷ luật Đảng, nắm vững và thực hiện tốt các nguyên tắc của Đảng, thật sự tiêu biểu cho sự đoàn kết thống nhất trong tổ chức đảng và trong toàn đơn vị.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, chính ủy, chính trị viên phải có ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm minh. Người chỉ rõ: “Kỷ luật phải được thi hành từ trên đến dưới. Trách nhiệm của người chỉ huy quân sự và người chính trị viên phải định rõ ràng”(2). Theo đó, chính ủy, chính trị viên không chỉ chấp hành nghiêm túc và triệt để mọi đường lối, chủ trương, nguyên tắc của Đảng, điều lệnh, điều lệ, kỷ luật của quân đội, mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên, mà phải thường xuyên chăm lo củng cố, giữ gìn và tăng cường đoàn kết, kỷ luật trong nội bộ đơn vị, đoàn kết quân dân. Mỗi chính uỷ, chính trị viên phải là hạt nhân, là trung tâm xây dựng khối đoàn kết thống nhất trong cơ quan, đơn vị.
Chính ủy, chính trị viên cũng cần ham học hỏi, cầu tiến bộ. Bác Hồ cho rằng: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”(3). Sự nỗ lực học tập vươn lên là một đòi hỏi tất yếu khách quan, phù hợp quy luật phát triển của xã hội. Với người cán bộ chính trị, chính uỷ, chính trị viên, người làm công tác lãnh đạo, công tác giáo dục, xây dựng “hướng dẫn, dìu dắt quần chúng trên con đường đấu tranh” càng phải tích cực học tập phấn đấu để không ngừng tiến bộ.
Là người lãnh đạo, quản lý, chỉ huy hằng ngày tiếp xúc với bộ đội, chính uỷ, chính trị viên phải trong sáng, gương mẫu về đạo đức lối sống. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát: “Tư cách của chính trị viên có ảnh hưởng rất quan trọng đến bộ đội. Người chính trị viên tốt, thì bộ đội ấy tốt. Người chính trị viên không làm tròn nhiệm vụ, thì bộ đội ấy không tốt”(4). Chính vì vậy, Người luôn yêu cầu người cán bộ chính trị, chính uỷ, chính trị viên phải biết đặt lợi ích của Đảng, của cách mạng, của Nhân dân, của tập thể lên trên lợi ích cá nhân; sống có hoài bão, có lý tưởng, có niềm tin yêu mãnh liệt đối với bộ đội và Nhân dân; có lối sống trong sáng, lành mạnh, thẳng thắn, trung thực, khiêm tốn, giản dị với mọi người; kiên quyết đấu tranh khắc phục mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, để luôn luôn xứng đáng với lời dạy: “Chính trị viên phải làm người kiểu mẫu trong mọi việc”
KHI ANH EM DÂN CHỦ THI HÀNH KẾ "VE SẦU THOÁT XÁC"
Mấy ngày nay, Việt Tân, RFA đồng loạt đăng bài liên
quan đến Trần Thị Xuân, một dân chủ kiêm "tù nhân lương
tâm" (theo cách gọi của anh em chống đối) đang diễn vai chính
trong màn kịch đầy nước mắt “bị bệnh nặng trong tù nhưng không
được chữa trị”.
Với giọng kẻ đẫm nước mắt, Việt Tân viết:
"Xuân bị bệnh tim mạch và huyết áp cao, và đã bị ngất ba
bốn lần trong khi phù nề do bệnh suy thận vẫn chưa suy giảm.
Thêm vào đó, cô còn đau khớp, bị dị ứng phấn hoa và bị kiến ba
khoang cắn, gây ra nhiều vết nám và sẹo nhỏ trên mặt...",
từ đó, yêu cầu nhà cầm quyền đưa Xuân ra ngoài điều trị,
"sợ Xuân không trụ được".
Chẳng hiểu sao, anh em dân chủ bên ngoài thì mạnh
miệng lắm, nhưng vào đến tù, hết anh bị ghẻ lở thì lại có cô
bị suy thận, ốm đau, đòi quyền lợi. Còn anh nào khỏe quá, không
bệnh tật gì, thì lại cố tuyệt thực cho đến chết để phản
đối. Mà kể cũng lạ, anh nào cũng tố nhà tù cộng sản dã man con
ngan, không chữa trị cho "tù nhân lương tâm", bỏ mặc họ
trong tù, nhưng chưa thấy anh nào chết cả, vẫn béo khỏe phây
phây, hơn cả khi chưa nhập trại. Chứng tỏ, bản thân sinh tồn của
các anh em dân chủ quả là thần thánh cmnr.
Nhắc thêm cho bà con nhớ, Trần Thị Xuân là thành viên
rất tích cực của Việt Tân ở khu vực miền Trung, liên hệ
chặt chẽ với vây cánh giám mục Nguyễn Đình Thục. Xuân là kẻ đã
cầm loa, kêu gọi giáo dân chiếm trụ sở UBND huyện Lộc Hà,
giật lá cờ Tổ quốc và thay bằng lá cờ của giáo hội trên
nóc trụ sở UBND huyện. Cực kỳ ngoan cố và ranh ma.
VOICE - TỔ CHỨC PHẢN ĐỘNG NÚP BÓNG NGO
VOICE với cái tên đầy đủ "Sáng kiến thể hiện lương tâm người
Việt hải ngoại" là tổ chức phản động núp dưới danh nghĩa NGO. Năm 2007, tổ
chức khủng bố "Việt Tân" đã chỉ đạo Trịnh Hội, Hoàng Tứ Duy thành lập
VOICE, lợi dụng danh nghĩa nhân đạo để lôi kéo người tham gia các hoạt động chống
phá Việt Nam.
Với sự lưu manh,
gian xảo, tham vọng chính trị của Trịnh Hội (kẻ từng bất chấp tuổi tác lấy Nguyễn
Cao Kỳ Duyên - người chị hơn hắn tầm chục tuổi, để thực hiện mưu đồ đeo bám gia
đình Nguyễn Cao Kỳ), thông qua mạng internet, VOICE đã và đang diễn các vở kịch
về đào tạo nhân lực trong các lĩnh vực xã hội hòng che mắt rất nhiều người. Đối
tượng chúng nhắm vào là tầng lớp trẻ, thanh niên, học sinh, sinh viên... thông
qua các chương trình học bổng, các khóa học, đào tạo miễn phí về ngoại ngữ, tin
học, về các kỹ năng, khóa học về xã hội dân sự... để tìm kiếm, lôi kéo người
tham gia, sau đó thu thập thông tin, sàng lọc, tìm cách tiếp cận, tác động, uy
hiếp số này. "Việt Tân" đã sử dụng VOICE như một cánh tay vô hình nối
dài để lừa phỉnh, lôi kéo người tham gia
các hoạt động của chúng để từng bước, từng bước đẩy họ vào con đường chống phá
đất nước.
Do đó, chúng ta cần
cảnh giác trước các thông tin về các chương trình học bổng, về các khóa học
liên quan đến tổ chức này để tránh bản thân bị cuốn vào những mưu đồ của Trịnh
Hội và "Việt Tân".
Không được nhầm lẫn, đánh đồng giữa “tự do ngôn luận” và “ngôn luận tự do”
Công cuộc phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam đã và
đang đạt được những thành tựu vượt bậc sau 35 năm đổi mới. Điều này có thể cảm
nhận được từ thực tế đời sống mỗi người dân, mỗi vùng, miền trên cả nước. Từ hệ
thống cơ sở hạ tầng giao thông được cải thiện cơ bản; hệ thống trường học các
cấp không ngừng được nâng cấp, mở rộng, bảo đảm quyền được học tập của người
dân; mức sống người dân cải thiện rõ rệt cả về vật chất và tinh thần... Ngay cả
về những thành tựu căn bản như vậy, cũng có những luồng ý kiến chỉ trích, thậm
chí bôi nhọ, đả kích và chống phá.
Về cơ sở bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí,
ở Việt Nam không ngừng được cải thiện, nâng cấp. Chỉ tính riêng về hệ thống báo
chí, truyền thông đại chúng đang phát triển, thậm chí phát triển vượt trên nhu
cầu của nền kinh tế-xã hội. Hiện Việt Nam có 780 cơ quan báo chí. Mỗi người
dân, về nguyên tắc đều có vài ba cơ quan báo chí đại diện ngôn luận cho mình.
Vì theo thiết kế hệ thống, mỗi cơ quan báo chí là đại diện ngôn luận của tổ
chức trong hệ thống chính trị, theo đó, mỗi công dân đều có thể thể hiện ý chí
và nguyện vọng của mình trước công luận. Mặt khác, Việt Nam hiện là quốc gia
top đầu về tỷ lệ công dân tham gia mạng xã hội (MXH), với hơn 70% công dân khắp
các vùng, miền và các nhóm xã hội khác nhau. Ở Việt Nam, theo luật định, không
ai và nhóm công dân nào bị cấm hay bị hạn chế tham gia MXH cũng như thể hiện
quyền tự do ngôn luận của mình.
Thế nhưng, thực hiện quyền tự do ngôn luận của công
dân, nhất là trên MXH đã và đang bộc lộ những bất cập sau đây.
Thứ nhất, không ít biểu hiện thiếu tôn trọng các
chuẩn mực văn hóa của cộng đồng. Điều này thể hiện trong sử dụng các ngôn từ,
giọng điệu, hình ảnh để biểu thị thái độ và hành vi trước các sự kiện và vấn đề
xã hội; như ủng hộ hay phản đối cái gì và ủng hộ, phản đối như thế nào, kể cả
những biểu hiện cực đoan trong việc ủng hộ và phản đối. Mỗi sự kiện và vấn đề
xã hội đều có tính hai mặt của nó; việc ủng hộ hay phản đối “đúng ngưỡng” đòi
hỏi mỗi người cần hiểu biết chuẩn mực ứng xử; và “cái chuẩn” quan trọng chính
là ở văn hóa, ở cái tâm của mỗi người.
Thứ hai, lợi dụng những sai phạm trong thực thi
công vụ của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức, thậm chí cả những phát
ngôn xây dựng hoặc ý kiến của chuyên gia, nhà khoa học có uy tín mà ai đó chưa
đồng tình, cũng kích hoạt trên MXH thành luồng ý kiến like, comment phản đối
rần rần với những từ ngữ, giọng điệu khó chấp nhận. Đây là một trong những biểu
hiện làm giảm hàm lượng văn hóa trong ngôn luận và giao tiếp cộng đồng.
Thứ ba, lợi dụng quyền tự do ngôn luận trên MXH,
kết nối xã hội trong môi trường truyền thông số để chỉ trích, thậm chí công
kích chủ trương, quyết sách phát triển kinh tế-xã hội của Đảng, Nhà nước; và mỗi
khi bị cơ quan chức năng xử lý thì đối tượng bị xử phạt cho rằng “vi phạm tự do
ngôn luận” của công dân!
Tự do ngôn luận khác về bản chất với "ngôn luận
tự do”. Tự do ngôn luận cần bảo đảm tuân thủ chuẩn mực pháp lý, chuẩn mực văn
hóa, giao tiếp, là quyền cơ bản của công dân tham gia trao đổi, chia sẻ, tranh
luận và phản biện xã hội vì mục đích xây dựng, vì lợi ích công; chứ không phải
lợi dụng quyền này để thỏa mãn và mưu lợi cá nhân, để xâm hại lợi ích công và
chuẩn mực văn hóa cộng đồng. Còn ngôn luận tự do là tự do nói năng,
phát ngôn, bình luận, chia sẻ, tán phát thông tin một cách tùy tiện,
vô lối. Trên thực tế, không có quyền tự do nào là tuyệt đối mà chỉ có quyền tự
do tương đối. Nếu để tự do tuyệt đối nghĩa là tự do vô giới hạn, vô chính phủ
sẽ dẫn đến tình trạng mất kiểm soát, gây ra rối loạn xã hội. Quyền tự do ngôn
luận cũng vậy. Nếu ai cũng nói năng bừa bãi, phát ngôn tùy tiện, chia sẻ thông
tin bất chấp đúng-sai, thật-giả lẫn lộn, không chỉ làm cho xã hội rơi vào tình
trạng rối nhiễu thông tin mà còn có thể tạo ra những cuộc khủng hoảng thông tin
xã hội một cách trầm trọng, từ đó gây mất ổn định an ninh chính trị và trật tự
an toàn xã hội.
Thứ tư, có những biểu hiện tán phát tài
liệu trên MXH để xuyên tạc, công kích, chống phá các quan điểm, chính sách của
Đảng và Nhà nước, gây hoang mang, dao động trong một bộ phận công chúng. Đây là
biểu hiện phức tạp nhưng không khó để nhận diện. Chúng ta biết rằng, trên thế
giới, mỗi nước có những thể chế và cấu trúc quyền lực không giống nhau; đồng
thời mỗi nước có chủ thuyết phát triển của mình. Vấn đề này phụ thuộc vào nhiều
yếu tố mà “không ai giống ai" trên con đường tìm kiếm lối đi riêng trong
quá trình phát triển, hội nhập quốc tế. Ví dụ ở Hoa Kỳ, mỗi đời tổng thống lại
có chủ trương, quyết sách của mình, mà các chủ trương quyết sách này có thể mâu
thuẫn gay gắt giữa các đời tổng thống. Hay như ở Liên bang Nga. Mặc dù phương
Tây tập trung công kích, trừng phạt và cô lập Nga, thậm chí muốn xé nhỏ nước
Nga ra mấy mảnh để dễ bề thao túng thế giới, nhưng dưới thời Tổng thống
Vladimir Putin, nước Nga đang được vực dậy bởi chiến lược và những quyết sách
táo bạo; và nước Nga đang trở thành cường quốc giữa sự ngỡ ngàng của chính
phương Tây.
Việt Nam cũng vậy, thể chế cũng đang tiếp tục được
hoàn thiện đáp ứng nhu cầu phát triển trong bối cảnh mới. Vậy nên, ở Việt Nam,
thiết nghĩ, mỗi công dân yêu nước đều có mong ước nhiệt thành là làm sao để đất
nước cường thịnh, để dân tộc từng bước bước lên những nấc thang phát triển phồn
vinh. Nhưng để đạt được những kỳ tích mong đợi, mà những kỳ tích này sau một
thời gian mới có thể nhìn thấy rõ ràng, thì trước hết, mỗi công dân cần nhận
thức, thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ công dân, trong đó có quyền tự do
ngôn luận, tự do báo chí. Bởi các quyền này, bản thân nó có khả năng tạo ra
siêu kết nối xã hội và từ đây, có thể kết nối trí tuệ và cảm xúc cộng đồng và
đó là một trong những động lực tạo nên niềm tin, sức mạnh mềm cho sự phát triển
bền vững đất nước.
Cần hiểu đúng bản chất, nhận thức thấu đáo về tự do ngôn luận
Điều
kiện cần và đủ về quyền tự do ngôn luận
Tự do tư tưởng, tự do ngôn luận và tự do báo chí là những khái niệm chỉ các
trạng thái và cấp độ khác nhau về cùng một vấn đề. Trong đó, tự do báo chí là
vấn đề được nhiều người quan tâm và quan tâm từ các phương diện khác nhau. Vì
báo chí, truyền thông là những kênh truyền dẫn thông điệp ngôn luận thường
xuyên liên tục nhất, phong phú và đa dạng nhất, phổ cập rộng rãi nhất, tập
trung nhất liên quan đến vấn đề tự do ngôn luận. Mặt khác, trong cuộc đấu tranh
tư tưởng chính trị hiện nay, trong môi trường truyền thông số, báo chí, truyền
thông ngày càng thể hiện vai trò rất quan trọng, là mặt trận nóng bỏng và là hệ
thống phương tiện hữu dụng nhất trong việc thể hiện quyền lực và sức mạnh chính
trị-xã hội, kết nối và thể hiện sức mạnh mềm quốc gia.
Tự do và tự do ngôn luận là vấn đề vừa trừu tượng, vừa cụ thể, vừa thể hiện
nhận thức và hành động lý trí, vừa bao hàm trạng thái tình cảm, cảm xúc, cảm
nhận của con người trong các mối quan hệ có tính chất lịch sử. Do đó, muốn hiểu
khái niệm “tự do”, cần đặt nó trong sự đối lập với “tất yếu”. Muốn chinh phục
cái tất yếu, ngoài nhận thức được bản chất cái tất yếu ra, cần phải có năng lực
và điều kiện chinh phục nó. Nhờ sự phát triển của khoa học và công nghệ, chúng
ta có thể biết được cơn bão sẽ đi qua có khả năng uy hiếp như thế nào đối với
cuộc sống cư dân cả một vùng, nhưng chỉ nhận thức được điều đó mà thiếu năng
lực và điều kiện chinh phục nó, thì cũng chỉ ngồi yên để “chịu trận” khi cơn
bão đến mà thôi.
Trong đời sống xã hội, tất yếu chính là môi trường pháp lý, điều kiện kinh
tế và môi trường văn hóa, hệ thống giá trị đạo đức do cộng đồng tạo dựng. Theo
quan niệm của triết học, nhận thức của con người là vô hạn-nhận thức được thế
giới vật chất vô hạn, nhưng đó là nhận thức của con người triết học-con người
trừu tượng, của loài người nói chung; còn khả năng ấy tồn tại ở mỗi thế hệ,
trong mỗi con người cụ thể, trong mỗi cá nhân thì luôn có giới hạn.
Do vậy, không thể khẳng định rằng, ở một nước có nền kinh tế giàu mạnh và xã
hội phát triển ở trình độ cao là đã có tự do ngôn luận hoàn toàn và một nước có
nền kinh tế phát triển trung bình thì còn hạn chế về tự do ngôn luận. Mọi sự
ngộ nhận đều dẫn đến sai lầm và sẽ kìm hãm sự phát triển. Đồng thời, áp đặt
quan niệm tự do ngôn luận của nước này lên nước khác là tư duy chính trị lỗi
thời, cũng khó có thể chấp nhận được. Tính chất và mức độ tự do ngôn luận cần
được xem xét trong những điều kiện cụ thể của sự phát triển; nó biểu hiện nấc
thang tiến hóa của xã hội.
Vậy thì, tự do ngôn luận là mục đích hay phương tiện? Tự do ngôn luận là
quyền thiêng liêng, cao cả của mỗi con người, mỗi dân tộc trong quá trình trao
đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm cũng như chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm,
nhưng có được tự do ngôn luận để làm gì? Tự do ngôn luận có phải là đích cuối
cùng cần đạt tới? Không phải, tự do ngôn luận chỉ là phương tiện, hay là phương
thức; còn việc sử dụng phương tiện hay phương thức ấy để làm gì, đạt tới cái gì
mới là đích đến của tự do. Sự nhầm lẫn giữa mục đích và phương tiện sẽ là sai
lầm nghiêm trọng và sẽ gánh chịu hậu quả ngoài mong đợi.
Thời kỳ bắt đầu sự nghiệp cải tổ của Liên Xô giữa những năm 80 của thế
kỷ trước, thông điệp đích của những người chủ trương cải tổ là “công khai và
dân chủ hóa đời sống xã hội”. Trong điều kiện xã hội Xô viết lúc bấy giờ, việc
nêu khẩu hiệu này đã như làn gió thổi bùng lên trạng thái tinh thần xã hội,
nhưng “công khai và dân chủ hóa” để làm gì lại còn là ẩn số? Vấn đề không phải
là công khai để mà công khai, dân chủ để mà dân chủ. Mỗi con người cần có tự
do, mỗi dân tộc cần có độc lập và đích đến của mỗi con người và mỗi dân tộc nói
chung phải là bảo đảm xã hội phát triển lành mạnh, văn minh và chất lượng cuộc
sống ngày một nâng cao.
Vấn đề
cơ bản nhất: Tự do cho ai và tự do để làm gì?
C.Mác từng khẳng định rằng, không nên bàn đến có hay không có tự do báo
chí; tự do báo chí bao giờ cũng có; vấn đề là tự do cho ai và tự do để làm gì.
Bởi trong xã hội còn phân biệt và khác biệt lợi ích giữa các giai cấp và các
nhóm xã hội, thì tự do cho giai cấp hay nhóm xã hội này, có thể là hạn chế tự
do đối với giai cấp khác, nhóm xã hội khác. Và lẽ đương nhiên, đối với các giai
cấp hay các nhóm xã hội khác nhau, sử dụng tự do ngôn luận như công cụ nhằm đạt
tới những mục đích không giống nhau, chủ yếu vì lợi ích của giai cấp mình, nhóm
xã hội do mình đại diện.
Từ thực tiễn đấu tranh, C.Mác tổng kết rằng, vũ khí phê phán quyết không
thể thay thế việc phê phán bằng vũ khí; lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh
đổ bởi lực lượng vật chất, nhưng mỗi khi tinh thần đã thấm vào quần chúng thì
chính nó sẽ trở thành sức mạnh vật chất. Báo chí, truyền thông khi đã thâm nhập
vào công chúng xã hội có thể làm thay đổi, thậm chí điều chỉnh nhận thức, thái
độ và hành vi của hàng triệu người-khối vật chất khổng lồ tạo nên sức mạnh xã
hội. Do đó, khi “ngai vàng thống trị” đã về tay giai cấp tư sản, tự do báo chí
lại không dành cho số đông nhân dân lao động, những người trước đó đã đi theo
ngọn cờ tự do của giai cấp tư sản, mà chỉ dành cho những người có tiền, có
quyền lực nhằm lũng đoạn dư luận vì các mục đích của giai cấp và tầng lớp cầm
quyền, trong đó chủ yếu là mục đích chính trị và siêu lợi nhuận. Như vậy, tự do
báo chí luôn được xem xét trong tính lịch sử của nó-cả trên phương diện lịch
đại cũng như đồng đại.
Trong biên bản trả lời phỏng vấn sâu qua email với tác giả bài viết vào
tháng 4-2009, Tom McEnroy, Tổng biên tập một tờ báo ở Mỹ đã thừa nhận rằng,
“báo chí Mỹ đặt lợi ích kinh tế lên hàng đầu. Điều đó có nghĩa là bạn không thể
xuất bản những điều có thể gây tổn hạn đến lợi ích của mình. Hoa Kỳ là một nước
tư bản, và bất kỳ thực thể nào: Nhà thờ, bệnh viện, đài truyền hình, trước hết
là một doanh nghiệp và phải tự nuôi sống mình. Nếu tôi cho đăng một quan điểm
chống Chính phủ, một vài người sẽ không đồng ý và có thể sẽ áp đặt những hình
phạt kinh tế đối với tờ báo của tôi để thể hiện sự không hài lòng của mình. Ví
dụ, họ có thể kêu gọi những người ủng hộ họ không mua báo của tôi”.
Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác cũng đã ban hành nhiều văn bản
liên quan đến quyền con người nói chung, quyền tự do ngôn luận nói riêng; nhưng
các văn bản này cũng lưu ý rằng, các quyền này có thể chịu hạn chế do pháp luật
nước sở tại đặt ra.
Do đó, trong quá trình thực hiện quyền tự do ngôn luận, nên lưu ý đến mấy
vấn đề sau đây.
Thứ nhất, thừa nhận quyền tự do ngôn luận, nhất là thể hiện quyền này
trên báo chí và các phương tiện truyền thông, cũng đồng thời cần hiểu rằng, các
quyền này đều được chế định bởi các yếu tố như môi trường pháp lý, môi trường
văn hóa và chính năng lực nhận thức và thực thi quyền của công dân.
Thứ hai, mục đích của việc thừa nhận và thực hiện quyền công dân nói
chung, quyền tự do ngôn luận nói riêng là vì lợi ích công-lợi ích của cộng đồng
vì sự phát triển bền vững đất nước trong quá trình hội nhập quốc tế, vì mục
tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, chứ không phải để
thỏa mãn “ngôn luận tự do” của cá nhân hay nhóm xã hội, không phải để “cá lớn
nuốt cá bé”; mặt khác, kết quả của việc nhận thức và thực hiện quyền này là quá
trình đánh dấu những nấc thang trong quá trình phát triển.
Thứ ba, đây là quá trình nỗ lực không ngừng từ nhiều phía, từ Nhà nước
đến công dân và cộng đồng xã hội nhằm nỗ lực thống nhất cùng tạo điều kiện để
mở mang hiểu biết, ngày càng tạo ra nhiều tương đồng trong nhận thức, giảm dần
sự khác biệt; trong đó, Nhà nước đóng vai trò quan trọng như chủ thể thiết lập
và duy trì trật tự xã hội. Đảng và Nhà nước Việt Nam đã sớm thiết lập quan điểm
nền tảng xây dựng “Nhà nước của dân, do dân, vì dân”; với phương châm “dân biết,
dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” cũng nhằm giúp
cộng đồng và công dân có thêm điều kiện nâng cao nhận thức, mở mang hiểu biết
và thay đổi hành vi trong thực hiện quyền tự do ngôn luận.
Quân chủng Phòng không-Không quân tổ chức diễn tập cho các đơn vị tại miền Trung
Ngày 21-6, tại TP Đà Nẵng, Quân chủng Phòng không-Không quân (PK-KQ) tổ chức diễn tập chỉ huy tham mưu một bên hai cấp trên bản đồ có một phần thực binh cho các đơn vị miền Trung, với đề mục “Lực lượng PK-KQ hiệp đồng với lực lượng vũ trang cùng chính quyền và nhân dân miền Trung thực hành đấu tranh bảo vệ biên giới vùng biển, vùng trời trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.
Nội dung của cuộc diễn tập chia làm 4 giai đoạn: Chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu, tổ chức chuẩn bị chiến đấu, thực hành chiến đấu và khôi phục sức chiến đấu, với 9 vấn đề huấn luyện. Lực lượng tham gia diễn tập là các đơn vị thuộc Sư đoàn 375 và Sư đoàn 372, có cả thực binh trên không và mặt đất.
![]() |
Cơ động máy bay ra vị trí sẵn sàng bay tìm kiếm cứu nạn. |
![]() |
Giao nhiệm vụ cho Đội tìm kiếm cứu nạn đường không. |
“Tỉnh táo trước chiêu trò lợi dụng “nhà báo hai mặt”
Đây là nhan đề bài viết đăng trên Tạp chí Tuyên giáo ngày
17-6. Cùng với khẳng định vai trò, đóng góp to lớn của báo chí cách mạng Việt
Nam với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, tác giả nêu lên thực trạng đáng
lo ngại về một bộ phận “nhà báo hai mặt”, như: Phạm Thị Đoan Trang, Trương Châu
Hữu Danh... xuống cấp đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội, thậm chí câu
kết với các thế lực thù địch, phản động, tiến hành các hoạt động chống phá; đăng
tải, phát tán thông tin xấu độc, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường báo chí và
sự phát triển lành mạnh của xã hội.
Đừng tự biến mình thành “nhà báo hai mặt”. Nhà báo cần nâng cao trách nhiệm công dân và trách nhiệm nghề nghiệp, trau dồi bản lĩnh, nâng cao trình độ, giữ gìn đạo đức, nhân cách, danh dự của người làm báo. Đặc biệt, các cơ quan chủ quản báo chí cần phát huy vai trò quản lý, xử lý nghiêm minh các trường hợp nhà báo vi phạm pháp luật.
Bác bỏ luận điệu xuyên tạc về công tác phòng, chống dịch Covid-19 ở Việt Nam
Tuần qua, các trang báo và mạng xã hội đã đăng nhiều bài viết nổi bật, vạch trần những chiêu trò, thủ đoạn thâm độc xuyên tạc về tình hình phòng, chống dịch Covid-19 ở Việt Nam, tiêu biểu như: “Dịch Covid-19 và “biến thể virus mới” chống phá cách mạng Việt Nam ; “Thủ đoạn đánh lận mục đích, ý nghĩa Quỹ vaccine phòng Covid-19” (Báo Công an nhân dân); “Luận bàn xằng bậy về Quỹ vaccine”, “Lại chiêu trò “đánh lận sự thật” của các đối tượng cơ hội chính trị, phản động” (trang facebook Hương Sen Việt)…
![]() |
| Một mẫu tranh cổ động về phòng, chống dịch Covid-19. |
Các bài viết chỉ rõ, gần đây, các thế lực thù địch đã tung ra
nhiều luận điệu sai sự thật về tình hình dịch Covid-19 và nỗ lực phòng, chống
dịch của Chính phủ và nhân dân Việt Nam. Tuy nhiên, sự thật về kết quả phòng,
chống dịch ở nước ta thời gian qua đã khẳng định tinh thần quyết liệt, hiệu
quả, đoàn kết, chung sức đồng lòng của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trong công
tác phòng chống đại dịch.
Nhiều ý kiến của bạn đọc cũng lên tiếng phản bác các luận điệu
sai trái đó, tiêu biểu như: “Viết xuyên tạc như vậy mà cũng viết được. Nước chúng
ta đang chống dịch rất tốt. Luôn tin tưởng vào khả năng chống dịch của Việt Nam”; “Quỹ Vaccine phòng, chống dịch Covid là Quỹ
của sự nhân ái!”; “Chiêu trò và cách thức cũ mèm nhằm chống phá, xuyên tạc. Rất
cần sự vào cuộc của chính quyền điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật” ; “Chiêu
trò nào rồi cũng thất bại trước sự thật”...
Quân đội cần quyết liệt đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Ngày 17-6, tại Hà Nội, Quân ủy Trung ương (QUTƯ) nhiệm kỳ
2020-2025 tổ chức Hội nghị lần thứ nhất, công bố quyết định của Bộ Chính trị
chỉ định các đồng chí tham gia QUTƯ, Thường vụ QUTƯ nhiệm kỳ 2020-2025; thông
qua báo cáo kết quả lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng 6
tháng đầu năm; xác định chủ trương, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2021. Tổng Bí thư
Nguyễn Phú Trọng, Bí thư QUTƯ chủ trì hội nghị.
Phát biểu tại hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu Quân đội cần quyết liệt trong việc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; không khoan nhượng với các quan điểm sai trái, thù địch; kiên quyết, kiên trì chống tham nhũng, tiêu cực, làm trong sạch nội bộ, chống chủ nghĩa cá nhân, không bao che, nể nang; không giấu, không sợ khuyết điểm, thẳng thắn đấu tranh phê bình và tự phê bình, kịp thời chỉ ra những khuyết điểm của đồng chí, đồng đội mình khi đang còn manh nha, có như thế mới giúp nhau cùng tiến bộ.
Sài Gòn ‘kỳ cục’
Áo qua mặt Ukraine ở bảng C
Thủy thủ Thanh Hóa mắc Covid-19 vượt qua cửa tử
Sáng 22/6, thêm 47 ca Covid-19 tại 4 tỉnh thành
Tính từ 18h ngày 21/6 đến 6h ngày 22/6, nước ta có 47 ca mắc mới Covid-19 (BN13484-13530), đều là các ca lây nhiễm trong nước tại TPHCM (36), Bắc Giang (9), Nghệ An (1), Gia Lai (1). Trong số này có 44 ca được phát hiện trong khu cách ly hoặc khu đã được phong tỏa.
Như vậy, tính đến 6h ngày 22/6, Việt Nam có tổng cộng 11.827 ca lây nhiễm trong nước và 1.703 ca nhập cảnh. Số lượng ca mắc mới tính từ ngày 27/4 đến nay: 10.257 ca, trong đó có 2.679 bệnh nhân đã được công bố khỏi bệnh.
Có 18 tỉnh (Yên Bái, Quảng Ngãi, Quảng Ninh, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Tuyên Quang, Sơn La, Ninh Bình, Thanh Hóa, Thái Nguyên, Hải Phòng, Tây Ninh, Bạc Liêu, Điện Biên, Đắk Lắk, Đồng Tháp, Thái Bình, Vĩnh Phúc) đã qua 14 ngày không ghi nhận trường hợp mắc mới trong cộng đồng.


