Thứ Hai, 21 tháng 6, 2021

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA

 “Phải chống tham ô lãng phí. Phải làm sao cho trong quân đội ta không có tham ô lãng phí. Phải nâng cao ý thức và kỷ luật lao động. Phải nâng cao ý thức tiết kiệm”.

Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong buổi nói chuyện với các đơn vị quân đội tại Quân khu 4, ngày 15 tháng 6 năm 1957. Sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội; miền Nam tiếp tục cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược. Đất nước vừa có hòa bình, vừa có chiến tranh, để động viên khích lệ tinh thần học tập, lao động, chiến đấu của cả dân tộc, trong đó có lực lượng vũ trang; khi đến thăm các đơn vị quân đội tại Quân khu 4, Bác đã căn dặn: Có 3 điều khen ngợi, 4 điều phê bình, 5 điều dặn dò. Trong 05 điều dặn dò thì điều thứ tư là: “Phải chống tham ô lãng phí. Phải làm sao cho trong quân đội ta không có tham ô lãng phí. Phải nâng cao ý thức và kỷ luật lao động. Phải nâng cao ý thức tiết kiệm”.

Lời nói trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa vô cùng sâu sắc, không chỉ thể hiện sự quan tâm của Đảng, Bác Hồ đối với lực lượng vũ trang, mà còn thể hiện quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong việc đấu tranh chống tham ô lãng phí, một “loại giặc” rất nguy hiểm tồn tại ngay trong chính bản thân mỗi con người, làm ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, cản trở sự phát triển bền vững của đất nước, cần phải kiên quyết đấu tranh.

Thấm nhuần sâu sắc lời dạy của Bác, mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam ra sức học tập, rèn luyện, trau dồi phẩm chất đạo đức cách mạng, năng lực chuyên môn nghiệm vụ; chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội, đẩy mạnh tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm; kiên quyết đấu tranh phòng chống, không để xảy ra tham nhũng, lãng phí, góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh; cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

NHỮNG KẺ LẬP RA FANPAGE “THANH NIÊN CÔNG GIÁO” CÓ THỂ “ĂN LUÔN CẢ TƯƠNG LAI TRẺ EM”

       


   Hiện nay, Việt Nam đã bước vào đợt bùng phát Covid-19 lần thứ 4 với mức độ phức tạp hơn, quy mô lớn hơn nhiều so với các đợt dịch trước. Chính phủ đã xác định cùng với áp dụng biện pháp 5K, vaccine cho người dân trở thành yêu cầu cấp bách trong công tác phòng dịch. Ngày 26/5/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 779/QĐ-TTg về việc thành lập Quỹ Vaccine phòng Covid-19. Đây là một sáng kiến cần thiết, thể hiện quyết tâm cao của Chính phủ trong việc sớm ngăn chặn dịch bênh Covid-19 để mang lại cuộc sống ổn định cho nhân dân.

MƯU ĐỒ LỢI DỤNG VẤN ĐỀ TÔN GIÁO CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM




         Chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta được xây dựng một mặt dựa trên quan điểm cơ bản của học thuyết Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo; mặt khác căn cứ vào đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Tư tưởng nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta là tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân.

Những quan điểm sai trái do các phần tử phản động, thoái hóa, cơ hội chính trị, bất mãn gây ra

Một số đối tượng lá mặt, lá trái cơ hội chính trị, số phần tử bất mãn, cực đoan quá khích đang sống, làm việc thụ hưởng những thành quả cách mạng do Đảng và nhân dân mang lại, nhưng lại bí mật cộng tác với những phần tử bất mãn, phản động nước ngoài để mưu cầu lợi ích cá nhân. Số đối tượng này tiếp nhận, tán phát tài liệu có nội dung xấu, móc nối viết bài nói xấu chế độ, chống phá Nhà nước Việt Nam. Những bài viết được tung lên Internet có nội dung tuyên truyền những quan điểm phản động, cực đoan. Chính số đối tượng ở trong nước, những phần tử bất hảo nói trên đã tham gia cộng tác viết bài, cung cấp thông tin, gửi thư kiến nghị đưa lên mạng gây ảnh hưởng xấu xung quanh việc ta bắt giữ các đối tượng có hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia như Nguyễn Vũ Bình, Phạm Hồng Sơn, Phạm Quế Dương, Cù Huy Hà Vũ... Ngoài ra, phải kể đến một số văn nghệ sĩ, nhà báo, các nhà hoạt động chính trị, xã hội người ngoại quốc, ở nước ngoài đã đến Việt Nam do không có những thông tin chính xác, đầy đủ, bị người Việt phản động lưu vong tuyên truyền, lôi kéo cung cấp thông tin bịa đặt, phá hoại Việt Nam. Trong khi đó, các nguồn sách báo, phim ảnh có nội dung đồi trụy, ca ngợi một chiều, phiến diện về cuộc sống của những nước phát triển TBCN không quản lý được, tác động vào tư tưởng, tâm lý của nhân dân. Những biểu hiện cơ hội hữu khuynh ở nước ta hiện nay đã và đang xuất hiện trong bối cảnh đất nước vừa có thời cơ, vận hội lớn, vừa đứng trước nguy cơ, thách thức nghiêm trọng. Tư tưởng cơ hội hữu khuynh đó không chỉ được xây dựng trên một cơ sở lý luận xét lại nào đó, mà chỉ là sự cóp nhặt hỗn tạp giữa trào lưu triết học, xã hội học tư sản hiện đại, song lại chưa thoát được căn bệnh giáo điều đối với chủ nghĩa Mác-Lênin và mắc bệnh thực dụng. Điều này thể hiện thái độ và lối sống cơ hội nhằm trục lợi cả chính trị và vật chất. Cố tình nhắm mắt trước lịch sử của dân tộc về quá trình phát triển đi lên CNXH là tất yếu, lợi dụng sự sụp đổ của Đông Âu và Liên Xô để phủ nhận những thành quả cách mạng mà nhân dân các nước đó lựa chọn, và từ đó lên lớp dạy cho nhân dân ta. Họ cho rằng bi kịch Xô viết như lời cáo chung cho Chủ nghĩa Cộng sản, là hệ quả tất yếu cho các nước XHCN còn lại sẽ sụp đổ như hội chứng đôminô. Một số đối tượng còn kích động nhân dân để gây rối như các vụ bạo loạn ở Tây Nguyên là một ví dụ. Đồng thời, những đối tượng này còn cho rằng CNXH không có cơ sở kinh tế vì chế độ XHCN ở nước ta đã chấp nhận nền kinh tế thị trường. Một số quan điểm khác phủ nhận con đường phát triển đất nước theo hướng XHCN lại viện dẫn cơ sở lý luận phương pháp luận Mác xít về quá trình vận động của lịch sử như một dòng chảy lịch sử tự nhiên. Những người cơ hội trước kia đã từng giáo điều trong việc nhận thức về sự thối nát, giãy chết của CNTB, thì bây giờ họ lại ấu trĩ cho rằng thế giới TBCN ngày nay toàn những nước tư bản có nền công nghệ phát triển cao, toàn những con rồng, con hổ; rằng con đường tư bản đưa dân tộc đến tương lai tươi sáng. Họ ngụy biện rằng không nhất thiết phải theo chủ nghĩa Mác-Lênin, xây dựng CNXH, không nhất thiết phải chịu sự lãnh đạo của Đảng CS thì đất nước mới phát triển. Từ đó vội vàng đi đến kết luận rằng CNXH chỉ là một lý thuyết của một học thuyết chưa được chứng thực, nếu có thì chỉ mới có sự chứng thực của sự thất bại và đổ vỡ. Chúng xuyên tạc, trong nội bộ Đảng vẫn duy trì cái gọi là chế độ tập trung dân chủ, mà hầu hết các Đảng CS trên thế giới đã từ bỏ, vì thế thực chất, sự tập trung quyền lực bao giờ cũng đưa tới chỗ triệt tiêu dân chủ. Nhiều lắm dân chủ chỉ trở thành đồ rởm, chỉ có tác dụng trang trí cho sự tập trung quyền lực, đòi xóa bỏ điều 4 trong Hiến pháp. "Đảng là cản trở của nền dân chủ" nên kiến nghị đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng "Đảng chỉ nên lãnh đạo tư tưởng, đạo đức, lối sống và định hướng chung chung", "không lãnh đạo kinh tế, văn hóa, không lãnh đạo lực lượng vũ trang"... đó là công việc của nhà nước. Đây là thủ đoạn dọn đường cho sự hình thành tư tưởng đa nguyên chính trị, phi chính trị hóa quân đội để vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng. Chúng tung ra luận điệu trong Đảng có phe cải cách và phe bảo thủ, có “nhóm lợi ích” từ lãnh đạo cấp cao và nhóm này chi phối toàn bộ các nhóm lợi ích ở cấp dưới. Chúng cũng bịa đặt rằng "điều này cho thấy phe bảo thủ đã thành công trong việc đặt nặng sự ổn định chính trị trong nước trước cải cách. Thành phần thủ cựu trong Đảng cộng sản lo ngại Nhà nước sẽ mất đặc quyền đặc lợi". Chúng tìm mọi cách bịa đặt, nói xấu cán bộ Đảng và Nhà nước, xuất hiện nhiều cuốn nhật ký, hồi ký tài liệu tung ra những chuyện giật gân trong sinh hoạt của các nhà lãnh đạo, đề cao người này, hạ thấp người kia, kích động, chia rẽ lãnh đạo cao cấp của Đảng, gây nghi ngờ hòng mong chia rẽ nhân dân với Đảng. Các đối tượng phủ định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, công kích đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước ta, đặc biệt là định hướng XHCN, tiếp tục phát triển kinh tế quốc doanh như "kinh tế thị trường và CNXH không thể hòa nhập được". "Kinh tế thị trường là kinh tế TBCN, do thời cuộc và do cuộc sống bắt buộc, chính quyền Việt Nam phải chọn sống chung với con hổ yêu tinh hiện đại này, thể nào sớm hay muộn cũng bị nó ăn thịt", thực hiện đường lối mở cửa, phát triển kinh tế thị trường là chế độ Cộng sản Việt Nam đã uống liều thuốc đắng, kinh tế nhà nước là ung nhọt, là sân sau của những “nhóm lợi ích” cấp cao, là những tổ mối đục khoét của cải đất nước. Xuyên tạc lịch sử, đòi lật án, chúng xuyên tạc "Thành quả cách mạng Tháng Tám là thành quả cay đắng. Chính quyền về tay nhân dân nhanh chóng rơi vào tay Đảng Cộng sản", rằng "dù không có Đảng Cộng sản, nhiều thuộc địa đã giành được độc lập mà ít tốn xương máu. Sự hao tổn xương máu của dân tộc là do Đảng Cộng sản gây ra". Chúng vu cáo "cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta là cuộc nội chiến, quân đội ta là những người lính đánh thuê của các thế lực hiếu chiến". Bôi nhọ lịch sử chính là một thủ đoạn phá hoại về tư tưởng, làm mất lòng tin. Tất cả các mũi tấn công trên đều nhằm vào phát triển mầm mống các nhân tố chống CNXH, thúc đẩy sự hình thành xã hội dưới tác động của hàng hóa, nguồn vốn phương Tây, hình thành tâm lý sùng bái đồng đô la, lôi kéo thêm lực lượng cán bộ, đảng viên có quan điểm sai trái, hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân để lấn át kinh tế nhà nước. Tiếp tục phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh khi chúng cho rằng Hồ Chí Minh chỉ là người tiếp thu mù quáng chủ nghĩa Mác-Lênin chứ không hề có tư tưởng cao siêu. Du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin với thuyết đấu tranh giai cấp gây ra cảnh "nồi da nấu thịt" suốt mấy chục năm là một sai lầm mà lịch sử không bao giờ tha thứ. Từ đó, họ phát động chiến dịch bôi nhọ Chủ tịch Hồ Chí Minh, bôi nhọ danh nhân mà họ gọi là chiến dịch "hạ bệ thần tượng". Gần đây chúng tung lên luận điệu "No Ho" phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh, xuyên tạc công lao, sự nghiệp vĩ đại của Bác. Thâm độc hơn, chúng tung ra luận điệu tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với học thuyết Mác-Lênin. Chúng ngụy biện rằng, bây giờ học thuyết Mác-Lênin đã lỗi thời, chỉ dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh và đề cao chủ nghĩa Hồ Chí Minh. "Chủ nghĩa Hồ Chí Minh" cũng ám chỉ chủ nghĩa dân tộc. Đây là một luận điệu hết sức nguy hiểm, vì như vậy sẽ làm suy yếu tư tưởng Hồ Chí Minh và thực chất là để phủ định chủ nghĩa Mác-Lênin, tiến tới phủ định chính ngay tư tưởng Hồ Chí Minh, trái với Cương lĩnh của Đảng. Họ còn nói chế độ một Đảng là không dân chủ, thậm chí đòi các đảng cộng sản đang cầm quyền phải từ bỏ vai trò lãnh đạo của mình. Một số người cho rằng thích ứng với nền kinh tế đa sở hữu thì nền chính trị không thể nhất nguyên được, không thể duy trì sự lãnh đạo của một đảng duy nhất. Do vậy theo họ, dân chủ phải đi liền với đa nguyên về chính trị. Không ít những lời gièm pha, chỉ trích rằng dân chủ của ta là nửa vời, chưa mở ra đã khép lại… Có người nói cách làm của chúng ta là non gan, yếu bóng vía, không dám mở bung dân chủ hết cỡ, không dám thực hiện dân chủ công khai, không giới hạn. Để chứng minh điều này, những người có tư tưởng cơ hội và thù địch viện dẫn và xuyên tạc nhiều sự thật lịch sử. Lấy hiện tượng làm bản chất, cường điệu một số hiện tượng đơn lẻ, có thực và có nguyên nhân cụ thể, biến nó thành phổ biến, tất yếu và không tránh khỏi của cả hệ thống. Từ tệ tham nhũng mà Đảng đang đấu tranh thì họ suy ra thành đảng tham nhũng. Đối với các chủ trương của Đảng, Nhà nước ta, dưới con mắt của các phần tử cơ hội, thù địch đều cho là có vấn đề, sai lầm, đầy mâu thuẫn, lúng túng và bế tắc. - Tấn công vào định hướng XHCN trong quá trình phát triển kinh tế thị trường. Họ cho rằng Đảng ta đưa ra định hướng XHCN là thừa, vô nghĩa, do đó chỉ cần đặt vấn đề xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh là đủ, cần gì phải định hướng XHCN, vì theo họ dòng sông tự nó phải chảy ra biển, cần gì phải uốn nắn. Rằng: Việt Nam tiến lên CNXH bỏ qua TBCN là một điều kỳ quặc, trái quy luật, vì thế hãy tạm gác lại mục tiêu CNXH và lùi về với cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân là đúng đắn nhất.

 

Mỹ công bố kế hoạch chia sẻ vaccine Covid-19 cho Việt Nam

Mỹ công bố kế hoạch chia sẻ 55 triệu liều trong 80 triệu liều vaccine Covid-19 dư thừa cho thế giới, trong đó có Việt Nam.

Nhà Trắng hôm 21/6 cho biết trong 55 triệu liều vaccine Covid-19 tiếp theo được chia sẻ cho thế giới, 41 triệu liều sẽ được chuyển tới các nước thông qua cơ chế phân phối COVAX của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).

Washington cũng xác định các nước sẽ nhận được vaccine Covid-19 của nước này thông qua COVAX, trong đó 14 triệu liều được chuyển đến các quốc gia ở Mỹ Latinh và Caribe, 16 triệu liều cho châu Á và khoảng 10 triệu liều đến châu Phi.

Tại châu Á, những quốc gia và vùng lãnh thổ được Mỹ chia sẻ vaccine Covid-19 gồm Việt Nam, Ấn Độ, Nepal, Bangladesh, Pakistan, Sri Lanka, Afghanistan, Maldives, Bhutan, Philippines, Indonesia, Thái Lan, Malaysia, Lào, Papua New Guinea, Đài Loan, Campuchia và các đảo Thái Bình Dương.

Đối với 14 triệu liều vaccine Covid-19 còn lại, Mỹ sẽ trực tiếp gửi tới những quốc gia và khu vực có nhu cầu, trong đó cũng có Việt Nam, Philippines và các nước như Ai Cập, Jordan, Iraq.

Một nhân viên y tế cầm các liều vaccine Covid-19 của Moderna và Pfizer tại trung tâm tiêm chủng ở El Paso, Texas, Mỹ, hôm 6/5. Ảnh: Reuters.

Một nhân viên y tế cầm các liều vaccine Covid-19 của Moderna và Pfizer tại trung tâm tiêm chủng ở El Paso, Texas, Mỹ, hôm 6/5. Ảnh: Reuters.

"Chia sẻ hàng triệu liều vaccine của Mỹ tới các quốc gia khác là cam kết lớn từ chính phủ Mỹ", Nhà Trắng tuyên bố, thêm rằng "Mỹ sẽ không sử dụng vaccine của mình để đổi lấy sự ủng hộ từ các nước khác".

Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken trước đó thông báo Washington sẽ hoàn tất việc chia sẻ 80 triệu liều vaccine Covid-19 dư thừa cho thế giới vào cuối tháng sau. Blinken khẳng định Mỹ muốn đảm bảo mọi liều vaccine Covid-19 nước này chia sẻ cho thế giới đều phải "an toàn và hiệu quả".

Tính tới ngày 18/6, khoảng 65,1% người dân ở Mỹ đã tiêm ít nhất một liều vaccine Covid-19. Tốc độ tiêm chủng của nước này phải tăng gấp đôi trong hai tuần tới để hoàn thành mục tiêu Tổng thống Biden kỳ vọng là tiêm chủng cho 70% dân số trước ngày quốc khánh 4/7.

Chính quyền Mỹ cũng đang nỗ lực đưa ra nhiều sáng kiến để khuyến khích người dân nhanh chóng tiêm vaccine, như mở xổ số vaccine với giải thưởng tới một triệu USD hay đưa đón tận nơi người đi tiêm chủng. Nước này hiện ghi nhận hơn 34,4 triệu ca nhiễm và hơn 617.000 ca tử vong do nCoV.

Cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản là cuộc đấu tranh lâu dài, không khoan nhượng, rất cam go, quyết liệt, mang tính sống còn.

 Dã tâm và bản chất của chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch không thay đổi, song ở mỗi giai đoạn, thì thủ đoạn, phương tiện, công cụ… chống phá được chúng biến đổi hết sức tinh vi.

Tư tưởng lý luận của chủ nghĩa xã hội ngay từ khi ra đời đã phải đương đầu với sự phê phán, bôi nhọ, xuyên tạc, bài bác, phủ nhận dưới nhiều hình thức khác nhau, với mọi màu sắc của các lực lượng, các trào lưu tư tưởng phi xã hội chủ nghĩa. Là bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng trong toàn bộ hoạt động của Đảng, lĩnh vực trọng yếu để xây dựng, bồi đắp nền tảng chính trị của chế độ, thể hiện vai trò đi trước, mở đường trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nên lĩnh vực tư tưởng, lý luận luôn là mũi nhọn tấn công, chống phá chủ đạo của các thế lực thù địch. Do đó, việc giữ vững trận địa tư tưởng, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, ngăn chặn các nhân tố phi xã hội chủ nghĩa trong lòng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, thuyết phục bằng lý luận sắc bén và thực tiễn sinh động từ thành quả của công cuộc đổi mới, có vai trò quyết định sự thắng lợi trong đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”.

Đặc biệt, trong kỷ nguyên số hiện nay, không gian mạng ngày càng trở thành mặt trận chính trong cuộc đấu tranh ý thức hệ. Các thế lực thù địch lợi dụng triệt để những đặc tính vốn là ưu thế nổi trội của các phương tiện truyền thông xã hội, trên môi trường mạng, như đặc điểm về cơ chế đa giao tiếp và liên kết vô hướng; môi trường tự do thông tin (tính mở) và thông tin khó kiểm soát, tính nặc danh và tính đa dạng của người dùng; s đồng đẳng giữa nguồn phát (source) và người nhận (receiver); khả năng số hóa thông tin, tính đa phương tiện và đa tiện ích…, biến thành công cụ đắc lực chống phá ta, tấn công trực tiếp vào những vấn đề mang tính nguyên tắc then chốt, luận điểm cơ bản nhất thuộc hệ tư tưởng, lý luận của Đảng ta.

Những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch gieo rắc, phát tán trên các nền tảng truyền thông ít nhiều đã gây phân rã tư tưởng, bất đồng thuận trong nội bộ Đảng, trong xã hội, xuất hiện những tư tưởng, quan điểm đánh giá trái chiều, phê phán, công kích đường lối, quan điểm của Đảng; làm trầm trọng thêm tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, khiến không ít tổ chức đảng, đảng viên mất sức chiến đấu; gây mất ổn định về chính trị - xã hội, châm ngòi cho các cuộc biểu tình, đình công, thậm chí bạo động hết sức phức tạp; làm “nhiễu” hệ thống thông tin, giảm uy tín, vai trò định hướng của các cơ quan báo chí chính thống…

Công tác tuyên truyền phản bác lại những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch của các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị, cực hữu chính trị, các thế lực thù địch, phản động trong nước và ngoài nước ngày càng được chúng ta coi trọng, với cách thức tuyên truyền ngày càng hiệu quả, lực lượng tham gia ngày càng đông đảo, qua đó góp phần ngăn chặn, đẩy lùi kịp thời những hoạt động chống phá trên mặt trận tư tưởng. Do tầm quan trọng của công tác đấu tranh tư tưởng, nên Đảng ta đặc biệt quan tâm và ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận có nội dung liên quan tới vấn đề trên; thành lập một số ban chỉ đạo trực tiếp đấu tranh. Các lực lượng chức năng của ta ngăn chặn kịp thời nhiều đối tượng, nhiều luồng thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch, trong đó có cả việc vô hiệu hóa âm mưu thực hiện chiến tranh thông tin, lợi dụng không gian mạng để tập hợp lực lượng, tập dượt vũ trang ảo rồi chuyển hóa thành hoạt động chống phá, bạo loạn, lật đổ thực. Các cơ quan báo chí của nước ta tiếp tục giữ vai trò chủ đạo, nòng cốt trong đấu tranh chống các thông tin xấu độc, bằng hệ thống các bài viết, sản phẩm báo chí có chất lượng…

Mặc dù đạt được nhiều kết quả quan trọng, song nhìn nhận khách quan, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng thẳng thắn đánh giá: “Công tác đấu tranh phản bác, ngăn chặn các thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch có lúc, có nơi còn bị động, thiếu sắc bén, tính chiến đấu chưa cao”(1)Công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc ngăn chặn, đẩy lùi thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch có thời điểm còn chậm, bị động, chưa giữ được nhịp độ thường xuyên, trong điều kiện các thế lực thù địch lại liên tục có những thay đổi về lực lượng, phương thức và phương tiện chống phá. Không ít cấp ủy, chính quyền cơ sở còn lúng túng, thậm chí buông lỏng, bỏ trống trận địa đấu tranh tư tưởng, để xảy ra nhiều “điểm nóng” bùng phát tại các địa phương nhưng chậm được giải quyết, trong khi năng lực ứng phó với khủng hoảng thông tin còn hạn chế hoặc chưa được trang bị kiến thức, kỹ năng đầy đủ. Các cơ quan quản lý thông tin trên không gian mạng còn thiếu các giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn kịp thời những thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch; những biểu hiện của sự xuống cấp, phản giá trị và hỗn loạn về môi trường văn hóa trên các phương tiện truyền thông xã hội càng khiến những thông tin xấu độc có điều kiện nảy nở, phát tán...

Đặc biệt, hệ thống báo chí của ta có thời điểm chưa thể hiện được vai trò chủ đạo trong đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch; các tuyến bài, dòng thông tin mỏng, yếu, trùng lắp, thiếu tính hệ thống, tính trường kỳ. Trong khi đó, công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận có mặt còn lạc hậu, bất cập, nhiều vấn đề mới chưa kịp thời được luận giải một cách khoa học, khiến công tác đấu tranh thiếu cơ sở, nên có lúc, có nơi lúng túng, hiệu quả thấp; chưa gắn thật chặt nghiên cứu lý luận với đấu tranh lý luận.

Sự thật đằng sau chiêu bài lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí

 

Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, bất mãn trong và ngoài nước lấy danh nghĩa “dân chủ, nhân quyền” ra sức nguỵ biện để đổi trắng thay đen, nói không thành có, có thành không về thực tế tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam hiện nay. Đồng thời, họ triệt để lợi dụng sự đánh giá không khách quan, trung thực, thiếu thiện chí của một số hãng thông tấn, báo chí nước ngoài về tình hình tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam để vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền nhằm hạ thấp vị thế và uy tín của nước ta trên trường quốc tế.

Những quan điểm lớn của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ đổi mới

 Đại hội VI của Đảng (năm 1986) khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện, với nhiều quan điểm, chủ trương đổi mới đề cập trực tiếp đến vấn đề đại đoàn kết toàn dân tộc, như xác định quan điểm “lấy dân làm gốc”, xử lý các quan hệ lợi ích giữa các giai cấp trong thời kỳ quá độ, xác định các đối tượng cần đoàn kết, tập hợp trong thời kỳ mới. Đại hội khẳng định, phải coi trọng xử lý hài hòa lợi ích giữa các giai cấp và đổi mới chính sách xã hội trong giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội - cơ sở quan trọng bảo đảm đại đoàn kết toàn dân tộc.

Đại hội VII của Đảng (năm 1991) đã khẳng định các quan điểm đổi mới do Đại hội VI của Đảng đề ra, đồng thời phát triển thêm các vấn đề: Thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, mở rộng đoàn kết với một số đối tượng, với đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo, trên cơ sở chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, củng cố và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc (KĐĐKTDT). Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, do Đại hội VII thông qua, có hai bài học kinh nghiệm về vấn đề đoàn kết: 1- Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân...; 2- Không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế.

Đại hội VIII của Đảng (năm 1996) xác định, đất nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, nhưng một số mặt còn chưa vững chắc, đồng thời quyết định chuyển đất nước sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Theo đó, vấn đề đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc được xác định bằng các quan điểm, chủ trương: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa được thực hiện bằng sức mạnh của toàn dân, khai thác tiềm năng của mọi thành phần kinh tế. Phương châm thực hiện là hướng mạnh về cơ sở; thực hiện “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đối với các chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước.

Đại hội IX của Đảng (năm 2001) đã bổ sung và phát triển một số quan điểm mới về đại đoàn kết toàn dân tộc: Xác định đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, là nguồn sức mạnh và động lực to lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng KĐĐKTDT gắn với phát huy dân chủ trong đời sống xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa IX, “Về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” đã làm rõ thêm đối tượng đoàn kết, cơ chế, phương thức thực hiện, vai trò các chủ thể... trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Đại hội X và Đại hội XI của Đảng đã phát triển một số luận điểm mới, có ý nghĩa bổ sung cho chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc. Đại hội X của Đảng (năm 2006) nhấn mạnh đặc điểm đại đoàn kết toàn dân tộc khi khoảng cách chênh lệch về thu nhập, mức sống giữa các tầng lớp nhân dân, giữa các vùng có xu hướng doãng ra; Văn kiện cũng nhấn mạnh vị trí, vai trò của tầng lớp doanh nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào các tôn giáo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; bổ sung chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN). Đại hội XI của Đảng (năm 2011) khẳng định coi trọng đoàn kết trong Đảng làm hạt nhân, là cơ sở vững chắc cho đại đoàn kết toàn dân tộc; đại đoàn kết toàn dân tộc phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội.

Đại hội XII của Đảng (năm 2016) khẳng định: Tiếp tục thể chế hóa và cụ thể hóa các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc; hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả các cơ chế, chính sách phát huy vai trò của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề lớn của đất nước; bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Đại đoàn kết toàn dân tộc phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân.

Chủ đề Báo cáo chính trị trình Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại. Các văn kiện của Đại hội đều quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc” và xác định: “Động lực và nguồn lực phát triển quan trọng của đất nước là khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc... Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất”

Việt Nam luôn tôn trọng, bảo đảm quyền tự do báo chí của mọi công dân

 

Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí được Liên hợp quốc và pháp luật của nhiều quốc gia phát triển như Pháp, Anh, Mỹ quy định cụ thể. Trong bản“Tuyên ngôn về Nhân quyền và Dân quyền Pháp năm1789”, vấn đề tự do báo chí được trình bày như là một trong những quyền cơ bản: “Bất kỳ công dân nào cũng có thể nói, viết và công bố tự do; tuy nhiên, họ sẽ chịu trách nhiệm nếu lạm dụng quyền tự do này theo quy định của pháp luật” (Điều 11).

Những quan điểm sai trái hình thành do trình độ nhận thức chính trị kém

So với các nước trên thế giới, Việt Nam vẫn là một nước nghèo và kém phát triển, sự phát triển kinh tế còn chưa vững chắc, chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, năng suất, chất lượng hiệu quả kinh tế còn chưa cao. Trong lĩnh vực xã hội, còn nhiều vấn đề bức xúc đòi hỏi phải được tiếp tục quan tâm giải quyết. Điều đó đã tác động, gây ảnh hưởng xấu tới an ninh xã hội, làm ảnh hưởng tới cuộc sống bình yên của nhân dân. Mặc dầu đời sống tinh thần và vật chất của nhân dân đã được cải thiện rõ rệt, nhưng tâm trạng của một bộ phận nhân dân chưa thật vui, chưa thật phấn khởi, không ít những hiện tượng bất ổn khác làm cho chúng ta tiếp tục suy nghĩ như: sự phân hóa giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, các vùng miền, khoảng cách chênh lệch về sự phát triển giữa nông thôn và thành thị, giữa miền núi và đồng bằng ngày càng nới rộng. Lĩnh vực công tác tư tưởng, văn hóa vẫn bộc lộ không ít những hạn chế, yếu kém, đôi khi còn tỏ ra chưa theo kịp sự phát triển của thực tiễn, chưa làm sáng tỏ được những vấn đề do thực tiễn đất nước đặt ra để định hướng tư tưởng và thực tiễn, ngay cả trên nhiều vấn đề rất cơ bản. Lòng tin của một bộ phận nhân dân vào Đảng, vào chế độ có phần giảm sút vì bất bình trước những bất công xã hội. Tình hình đó đã làm khối đại đoàn kết dân tộc tuy đã được củng cố một bước song chưa bền chặt và đang đứng trước những thách thức mới, những nguy cơ tiềm ẩn; mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân tuy đã chăm lo củng cố song bắt đầu xuất hiện những hiện tượng không thể xem thường. Các thế lực thù địch đã kích động các dân tộc thiểu số đi theo tiếng gọi của thần thánh hoặc lịch sử, lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo vào các mục đích sai trái, bất hợp pháp, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống chính trị, kinh tế, xã hội. Đối với người dân tộc thiểu số, họ luôn bị tư tưởng hẹp hòi kích động, dẫn đến nhận thức sai lệch trong một số vấn đề như: họ phải có đức tin riêng, có cuộc sống riêng, người Kinh là những kẻ cướp đất, cướp miếng ăn của họ. Từ cách nhìn sai lệch dễ nảy sinh quan điểm sai trái, những yếu tố tâm lý nghi kỵ, dân tộc hẹp hòi. Do sự nhận thức yếu kém cộng với sự kích động thù địch trong và ngoài nước, một số đồng bào dân tộc ở các tỉnh Tây Nguyên đã gây mất trật tự trị an, đập phá cơ sở vật chất, chống lại và hành hung người thi hành công vụ; một số người còn trốn, đi theo Fulro ra nước ngoài làm tay sai cho chúng. Đồng bào ở các vùng chiến lược về an ninh, quốc phòng ở nước ta chủ yếu là đồng bào theo đạo, người dân tộc thiểu số, có trình độ dân trí thấp, đời sống kinh tế còn gặp nhiều khó khăn. Đây là những địa bàn trọng yếu nhưng hệ thống chính trị cơ sở ở một số nơi còn yếu kém nên đã trở thành một trong những điểm yếu để các thế lực thù địch tác động mạnh bằng chiến tranh tâm lý. Ở Tây Nguyên, các thế lực thù địch thông qua việc truyền đạo trái phép, các tổ chức phi chính phủ đã mị dân bằng những khẩu hiệu có liên quan sát thực đến đời sống của nhân dân như “đói cho ăn, đau cho thuốc, chết cho hòm”, “máy bay của Liên Hiệp quốc về Buôn Ma Thuột đón đồng bào sang Mỹ hưởng cuộc sống sung sướng”… Sự kiện đồng bào Mông ở Mường Nhé vừa qua cũng có sự tác động của các đối tượng phản động. Trong khi đó, một số nơi do bất bình trước những khó khăn, những cách làm sai trái của một số cán bộ nên phản ứng tập thể, gây mất ANTT ở nông thôn, an ninh đô thị, thậm chí kéo dài như tranh chấp, khiếu kiện, đình công, lãn công… Do tác động nhiều mặt, trong xã hội đã xuất hiện nhiều hiện tượng như tầm thường văn hóa, chạy theo lối sống sinh hoạt văn hóa lai căng, thác loạn, dung tục, xa rời văn hóa truyền thống. Một số tác phẩm văn hóa có tư tưởng phủ định lại lịch sử, nhận thức sai về văn học, nghệ thuật như tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp (Trò truyện với hoa thủy tiên), Dương Thu Hương, hay việc đóng phim có nội dung sai lịch sử của diễn viên Đơn Dương… Một số đầu sách có nội dung phức tạp, xuyên tạc lịch sử văn học Việt Nam vẫn được nhập khẩu, phát hành. Trên thị trường băng đĩa nhạc xuất hiện hàng loạt băng đĩa đồi trụy, phản động được lưu hành. Hàng loạt thông tin xâm nhập vào không kiểm chứng, dẫn đến nhận thức sai lệnh thông tin và hình thành nên quan điểm sai trái. Một số báo đưa tin, bài không trung thực, thiếu định hướng tư tưởng gây ảnh hưởng xấu trong dư luận. Trong khi đó, một số cơ quan thông tấn báo chí nước ngoài (AFP, Reuter, BBC, VOA) đưa các tin, bài vu cáo ta vi phạm nhân quyền, đàn áp tôn giáo. Không ít cán bộ, đảng viên và một bộ phận quần chúng nhân dân đã đọc, nghe những tác phẩm này, không phân biệt đúng sai, nhiều cán bộ đảng viên đã biểu hiện dao động, mất lòng tin và suy thoái về chính trị. Tư tưởng cơ hội gây nguy hại nghiêm trọng tới sự vững mạnh về chính trị và trong sạch về tổ chức của Đảng, kể cả bản thân vận mệnh của Đảng và đất nước. Các thế lực thù địch đều rất quan tâm lôi kéo tầng lớp trí thức, văn nghệ sĩ, thanh niên, học sinh, sinh viên vì đây là lực lượng hùng hậu, là đội ngũ quan trọng trong xã hội, nhất là trí thức, lớp trẻ. Chúng coi đó là hướng hoạt động có tính chiến lược nhằm chuyển hóa tư tưởng của thế hệ điều hành đất nước trong tương lai. Những thế hệ sau 1975 đã quên hoặc chưa từng nếm trải những khổ cực trong chiến tranh do đó dễ bị thao túng, lôi kéo. Do ảnh hưởng của các thế lực thù địch cùng với tác động của một số yếu tố khách quan, một số sinh viên viết thư nói xấu chế độ. Điển hình là một sinh viên Học viện Quan hệ quốc tế đã viết cảm tưởng lưu lại triển lãm do Đại sứ quán Mỹ tổ chức “cuộc kháng chiến kháng Mỹ cứu nước là cuộc chiến huynh đệ tương tàn, Việt Nam không có tự do ngôn luận, tự do báo chí, thanh niên không được quyết định hướng đi và lựa chọn người lãnh đạo của mình hoặc tiếp thu những giá trị tiến bộ của nhân loại, chỉ có quyền được nghe những lời rao giảng đạo đức, chính trị giả tạo, ngụy biện”. Có một số cán bộ, đảng viên, trí thức cũng ngộ nhận, phê phán nguyên tắc tập trung dân chủ, thậm trí có người còn đòi xóa bỏ nguyên tắc này. Họ cho rằng nguyên tắc tập trung dân chủ nay đã lỗi thời, nó chỉ thích họp với hoạt động của Đảng khi chưa dành được chính quyền, còn hoạt động bí mật hoặc lãnh đạo chiến tranh, rằng thực hiện tập trung dân chủ là nguyên nhân gây ra độc đoán, chuyên quyền trong Đảng và trong xã hội, sẽ không có dân chủ, không có nhân đạo. Họ cho rằng định hướng XHCN là giáo điều, sách vở, xuất phát từ định đề giai cấp chứ không xuất phát từ thực tiễn Việt Nam. Theo họ, phải từ bỏ định hướng XHCN thì mới phù hợp với thực tế đất nước, xu thế với thời đại. Họ cho rằng quan hệ sản xuất mà chúng ta đang xây dựng chỉ là phương tiện để phát triển sản xuất. Họ cho rằng chúng ta chủ trương xây dựng quan hệ sản xuất XHCN bằng mọi giá, nên lực lượng sản xuất yếu kém, trì trệ. Một số người cho rằng không nên phân chia nền kinh tế theo tiêu chí quan hệ sản xuất mà lâu nay vẫn làm, như kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể và tiểu chủ, kinh tế tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Theo họ, cách phân chia đó dẫn đến việc phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế trong và ngoài nước, không có lợi cho việc phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế khác. Thay vào đó, nên phân chia nền kinh tế theo tiêu chí nhỏ, vừa và lớn. Họ cho rằng, chỉ bằng cách xóa bỏ mọi dấu hiệu quan hệ xã hội của sản xuất thì mới có sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Một số đối tượng đã xoay chiều, quay quắt, phủ định truyền thống, nêu ra những luận điệu quái gở như “các nhà lãnh đạo Việt Nam cứ mãi ngây thơ tin vào sự đồng lòng xả thân cho một ý thức hệ vu vơ” (Nguyễn Thanh Giang), “cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước như mọi người ngộ nhận, đó là cuộc đụng độ giữa hai thế lực hiếu chiến”; “dưới chiêu dụ của những lời lẽ hào hoa, dân tộc Việt bị xé làm đôi, một cách vô thức đã tự nguyện biến thành hai đội quân đánh thuê cho hai hệ thống chính trị đối nghịch; một cách vô thức biến giang san cha ông ta thành chiếc cối xay thịt khổng lồ” (Dương Thu Hương). “Cây muốn lặng, gió chẳng đừng”, Đảng ta, nhân dân ta luôn mong muốn một không khí hòa bình để xây dựng một cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc nhưng các thế lực thù địch không để chúng ta yên. Chúng thường xuyên chống phá chúng ta bằng nhiều thủ đoạn để phá hoại chúng ta. Vì vậy, đấu tranh chống quan điểm sai trái như một nhiệm vụ tất yếu chúng ta cần làm và nhất định phải làm thật tốt.

Xây dựng chuẩn mực đạo đức về hành vi, ứng xử trên mạng xã hội

 Các tổ chức, cá nhân phải chia sẻ thông tin chính thống, đáng tin cậy; không thực hiện các hành vi: Đăng tải thông tin xúc phạm danh dự, nhân phẩm, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; sử dụng ngôn ngữ phản cảm, vi phạm thuần phong mỹ tục; tung tin giả, tin sai sự thật; quảng cáo, kinh doanh dịch vụ trái phép… Đó là một số nội dung đáng chú ý trong Bộ quy tắc ứng xử trên mạng xã hội mới được Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành.

Bộ quy tắc này áp dụng với 3 nhóm đối tượng, gồm: Cơ quan Nhà nước, cán bộ, công nhân viên chức, người lao động trong cơ quan Nhà nước sử dụng mạng xã hội; tổ chức, cá nhân khác sử dụng mạng xã hội; nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội tại Việt Nam. Các nhóm đối tượng này sẽ phải tuân theo 4 quy tắc ứng xử chung, gồm: Tôn trọng, lành mạnh, an toàn và trách nhiệm. 

Bộ quy tắc sẽ góp phần giảm thiểu, ngăn chặn các hành vi: Tung tin giả; tấn công mạng; livestream xúc phạm danh dự, nhân phẩm của tổ chức, cá nhân; nghệ sĩ quảng cáo sản phẩm không đúng sự thật; đăng video phản cảm với trẻ em trên youtube… từng xảy ra gần đây.

Bộ Chính trị vừa ban hành Quy định số 11-QÐi/TW về trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong việc tiếp dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những phản ánh, kiến nghị của dân.

 Theo đó, người đứng đầu cấp ủy phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo công tác tiếp dân, xử lý, giải quyết phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của dân; thực hiện nghiêm việc tiếp dân, đối thoại và xử lý, giải quyết những phản ánh, kiến nghị , khiếu nại, tố cáo của dân theo quy định của Ðảng và pháp luật của Nhà nước.

Việc tiếp dân, đối thoại và xử lý, giải quyết những phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của dân, phải tôn trọng, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của dân; dân chủ, công tâm, khách quan, kịp thời, đúng phạm vi thẩm quyền; trình tự thủ tục đơn giản, tạo thuận lợi cho người dân; bảo mật thông tin, bảo đảm an toàn cho người phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo theo quy định.

Về trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong việc tiếp dân, Quy định nêu rõ: Trực tiếp thực hiện việc tiếp dân, kịp thời đối thoại khi cần; kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc tiếp dân và xử lý, giải quyết phản ánh của dân; ban hành và tổ chức thực hiện nội quy, quy chế tiếp dân; phối hợp với các cơ quan, tổ chức bảo đảm trật tự, an toàn cho việc tiếp dân. Ðịnh kỳ quý I, sáu tháng, chín tháng, năm hoặc đột xuất trực tiếp làm việc với bí thư cấp ủy cấp dưới trực tiếp và thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị cùng cấp có liên quan về tình hình và kết quả công tác tiếp dân. Ðịnh kỳ hằng tháng, quý I, sáu tháng, chín tháng, năm hoặc đột xuất báo cáo tình hình kết quả tiếp dân và xử lý, giải quyết phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của dân lên cấp ủy và các cơ quan cấp trên.

Về thời gian tiếp dân, mỗi tháng người đứng đầu cấp ủy cấp tỉnh, cấp huyện tiếp dân ít nhất một ngày; người đứng đầu cấp xã tiếp dân ít nhất hai ngày và tiếp đột xuất trong các trường hợp vụ việc phức tạp, nổi cộm, kéo dài hoặc có thể gây hậu quả nghiêm trọng.

Quy định cũng nêu rõ trình tự tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của người đứng đầu cấp ủy; thời hạn xử lý, giải quyết cũng như xử lý trách nhiệm người đứng đầu trong những trường hợp thiếu trách nhiệm, vi phạm quy định của Ðảng, Nhà nước về việc tiếp dân.


Đảng ta, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân

Đảng Cộng sản Việt Nam do Bác Hồ sáng lập và rèn luyện đã trải qua hơn 90 năm lịch sử đấu tranh cách mạng vẻ vang. Đảng đã lãnh đạo nhân dân và dân tộc ta làm nên những bước ngoặt lớn, những kỳ tích, làm thay đổi số phận của cả một dân tộc, mở ra triển vọng tốt đẹp cho cuộc sống của nhân dân ta trong thời đại Hồ Chí Minh - thời đại của Độc lập dân tộc và CNXH. 35 năm về trước, Đại hội VI (12/1986) của Đảng đã diễn ra như một Đại hội mở đầu thời kỳ Đổi mới. Với dũng khí tự phê phán, với phương châm "nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật", Đảng đã khởi xướng đường lối đổi mới, lãnh đạo công cuộc đổi mới, đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng, vượt thoát tình huống hiểm nghèo khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, Đông Âu sụp đổ và hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới tan rã. Đổi mới là câu trả lời cho tồn tại và phát triển của Việt Nam. Đổi mới thể hiện lập trường kiên định của Đảng trong việc lựa chọn con đường phát triển của Việt Nam. Đổi mới đã đón kịp thời cơ và dũng cảm vượt qua thách thức của phát triển; thống nhất giữa ý Đảng với lòng dân và phép nước; đáp ứng đúng sự hối thúc của thực tiễn, mệnh lệnh của cuộc sống và nguyện vọng của nhân dân từ những nhu cầu bức xúc và lợi ích thường nhật, thiết thân hằng ngày. Sự cộng hưởng giữa trách nhiệm và quyết tâm chính trị của Đảng với ý nguyện thiết tha của lòng dân đã làm cho tư tưởng, đường lối đổi mới nhanh chóng đi vào cuộc sống, tạo nên hiệu ứng xã hội rộng lớn chưa từng có, lôi cuốn và thúc đẩy mọi cấp, mọi ngành, mọi người nhập cuộc với đổi mới, hành động vì đổi mới. Nhờ có đổi mới, đất nước đã ra khỏi khủng hoảng, đã vượt qua tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, kém phát triển, đã hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đã tạo nên Thế và Lực của Việt Nam như ngày nay. Giữ vững ổn định chính trị, kinh tế tăng trưởng, từng bước thực hiện được tiến bộ và công bằng xã hội, cải thiện và nâng cao dần mức sống của người dân, củng cố sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và đồng thuận để hướng tới phát triển bền vững và hiện đại hóa đất nước - Đó là thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đổi mới. Chặng đường gần 30 năm đổi mới mà toàn Đảng, toàn dân đã đi qua là thực tiễn sinh động và quý giá cho ta niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào tiềm năng sáng tạo của nhân dân và nguồn sức mạnh nội sinh của dân tộc Việt Nam. Định hình "10 chữ vàng" trong hệ mục tiêu của đổi mới: "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" là kết quả của đổi mới tư duy lý luận của Đảng, từ thực tiễn mà kiểm nghiệm lý luận, lại cũng từ tổng kết thực tiễn mà bổ sung, phát triển lý luận để nhận thức ngày một rõ hơn CNXH Việt Nam và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Đó là sự trưởng thành về năng lực lãnh đạo và bản lĩnh cầm quyền của Đảng. Thực tiễn đổi mới đã cung cấp cho Đảng và Nhân dân ta những tri thức lý luận và kinh nghiệm mới, đã tăng cường tiềm lực trí tuệ, tư tưởng của Đảng.

Sức mạnh của Đảng bắt nguồn từ sức mạnh của lòng dân

Thực tiễn và thành tựu của đổi mới cũng đem lại cho Đảng và Nhân dân ta điều xác tín quan trọng là, sức mạnh của Đảng và sự bền vững của chế độ bắt nguồn từ sức mạnh của lòng dân, của mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với dân, giữa dân với Đảng đồng thời là sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp hữu cơ giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Đúng quy luật, thuận lòng dân và hợp thời đại – đó là bí quyết của thành công, là đảm bảo chắc chắn của thắng lợi theo chỉ dẫn của Hồ Chí Minh mà Đảng ta đã không ngừng vận dụng và phát triển sáng tạo. Dân là gốc của Nước nên dân giàu thì nước mạnh. Đảng vì dân, vì nước nên dân tin Đảng, theo Đảng, ủng hộ và bảo vệ Đảng, bởi dân hiểu rõ, Đảng là Đảng của mình. Có được uy tín và ảnh hưởng sâu rộng trong lòng dân, trong sự gắn bó đoàn kết của toàn dân tộc và sự đồng thuận xã hội như vậy là niềm tự hào chính đáng của Đảng về truyền thống vẻ vang, về những giá trị cao quý của mình được nhân dân và dân tộc tôn vinh. Sâu xa hơn nữa, càng tự hào bao nhiêu Đảng càng phải tự ý thức rõ ràng và đầy đủ bấy nhiêu về cội nguồn sâu xa của sức mạnh, sức sống của Đảng chính là Dân, từ nhân dân và dân tộc mà sinh ra, Dân tộc và Nhân dân đã nuôi dưỡng, bảo vệ và thúc đẩy Đảng của mình, sao cho Đảng luôn luôn xứng đáng với niềm tin, sự ủy thác và kỳ vọng của dân. Mối quan hệ giữa Đảng với dân, giữa giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam, trong hoàn cảnh và điều kiện lịch sử của Việt Nam ngay từ những năm 20, 30 của thế kỷ XX, khi Đảng ra đời đã mang một ý vị và sắc thái đặc biệt, là tính đặc thù nổi bật của Đảng ta so với nhiều Đảng Cộng sản khác trên thế giới. Hồ Chí Minh đã khái quát quy luật ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam như sau: Đảng là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác-Lenin với phong trào công nhân và với phong trào yêu nước của dân tộc. Vậy là, từ trong bản chất làm nên sức mạnh của mình, giai cấp công nhân Việt Nam với Đảng là đội tiên phong ngay từ đầu đã gắn bó mật thiết với nhân dân, với dân tộc. Bởi thế, dù số lượng ít, nền công nghiệp thực sự của dân tộc chưa sản sinh, chỉ có công nghiệp do tư bản thực dân du nhập vào với mục đích khai thác thuộc địa… vậy mà giai cấp công nhân nước ta thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản vẫn đảm trách xuất sắc vai trò lãnh đạo và thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình. Chính truyền thống lịch sử của dân tộc, lòng yêu nước nồng nàn của nhân dân đã làm nên sức mạnh của Đảng, đã trở thành nguồn sống, tạo sinh lực, cốt cách và dũng khí cho Đảng. Một dân tộc anh hùng, bất khuất, có lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước với bản sắc văn hóa và văn hiến độc đáo làm nên diện mạo trí tuệ, tinh thần, đạo đức của dân tộc Việt Nam đã nuôi dưỡng, đào luyện nên giai cấp công nhân Việt Nam, đã kết tinh những phẩm giá tốt đẹp ưu tú nhất của giai cấp, của dân tộc vào trong Đảng Cộng sản Việt Nam. Và Nhân dân ta, một khối quần chúng nhân dân đã từng thấm thía tình cảnh nô lệ, nỗi nhục mất nước nên khao khát độc lập tự do, thà chết vinh còn hơn sống nhục, thà hy sinh tất cả quyết không chịu làm nô lệ… Một dân tộc, một khối quần chúng nhân dân như thế không chỉ dồi dào sức sống, sức sáng tạo, dũng cảm, mưu trí mà còn thủy chung tình nghĩa, vị tha nhân ái, bao dung độ lượng, trọng chân lý và đạo lý, đề cao phẩm giá, danh dự, khí tiết sống ở đời và làm người được thế giới ngợi ca là quý hơn thỏi vàng dòng. Có một cơ sở xã hội như thế, một cội nguồn sức mạnh như thế, Đảng Cộng sản Việt Nam chịu ơn sâu nghĩa nặng với dân tộc và nhân dân của mình. Ý thức và tự ý thức về điều hệ trọng đó, Đảng và mỗi tổ chức Đảng, mỗi cán bộ đảng viên sẽ luôn luôn thường trực được trách nhiệm, nghĩa vụ, bổn phận của mình với dân, với nước. Điều này đặc biệt cần thiết và quan trọng khi Đảng cầm quyền, nhất là trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền, lại cầm quyền trong môi trường kinh tế thị trường, trong xu thế phát triển kinh tế tri thức, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Thời cơ, vận hội phát triển lớn bao nhiêu thì thách thức và nguy cơ cũng nghiệt ngã bấy nhiêu. Những cám dỗ của danh và lợi, của chức quyền, địa vị, của tiêu dùng và hưởng lạc luôn bày ra trước mắt mỗi người. Nếu không đủ nghị lực và đức tin, không được đảm bảo bởi đạo đức tinh thần trong sáng, cao thượng, không được thúc đẩy bởi danh dự, lương tâm, lòng tự trọng và liêm sỉ thì như Hồ Chí Minh đã từng cảnh báo sẽ dẫn tới hư hỏng, xấu xa, tội lỗi. Đã từng có không ít những trường hợp như thế, từ cá nhân đến tổ chức, với những cái giá phải trả đau đớn. Suy đến cùng là do chủ nghĩa cá nhân, là "giặc nội xâm", "giặc ở trong lòng dân". Tình trạng suy thoái của một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên, những cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp, kể cả ở cấp cao về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống mà NQTW4, Khóa XI về "một số vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng hiện nay" nêu ra là một tình huống điển hình, nghiêm trọng. Nó đe dọa sự tồn vong của chế độ và sinh mệnh của Đảng. Phải làm cho Đảng trong sạch vững mạnh, thực sự là đạo đức, là văn minh, như Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh bằng một nỗ lực đầy trách nhiệm, bằng hành động quyết liệt trong chỉnh đốn Đảng, quyết tâm lấy lại niềm tin của đảng viên và nhân dân với Đảng – Đó là mệnh lệnh của cuộc sống với Đảng vào lúc này. Đó cũng là nguyện vọng thiết tha, là đòi hỏi bức xúc của nhân dân với Đảng.

Mọi hành động cũng chỉ vì dân, hướng đích tới dân

Không có dân thì Đảng không có lực lượng, cách mạng không có sức mạnh. Không có Đảng thì dân không có người lãnh đạo. Để xứng đáng là người lãnh đạo của dân, đảng và mỗi đảng viên phải vì dân mà tận tụy trong mỗi việc làm, vì dân mà nêu cao đức tính cần kiệm liêm chính, chí công vô tư đoàn kết và thanh khiết, phụng công thủ pháp, dĩ công vi thượng theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Quy luật của muôn đời là vậy, có dân thì có tất cả, mất dân thì mất hết. Dựa vào dân mà xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trọng dân, trọng pháp, gần dân, học dân, nghe dân, tin dân để thương dân và vì dân. Đó là đạo lý, đạo nghĩa với dân, đó cũng là trách nhiệm đạo đức, chính trị, pháp lý đối với dân của Đảng và mỗi đảng viên. Đảng vĩ đại bởi Đảng quang minh chính đại. Đảng vĩ đại bởi Đảng chân chính cách mạng, trong sự cảm nhận, đánh giá trực tiếp của dân, trong sự giúp đỡ, kiểm tra, phê bình của dân với tất cả niềm tin và tình thương yêu của dân với Đảng, vừa nghiêm khắc vừa bao dung, tin tưởng, hy vọng và tự hào về Đảng của mình. 84 năm trong lịch sử quang vinh của Đảng với gần 70 năm Đảng liên tục cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội để Việt Nam có một cơ đồ, sự nghiệp như hiện nay. Khi làm nên cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng mới có gần 5.000 đảng viên trong sức mạnh của dân tộc 20 triệu người dân. Giờ đây, dân tộc Việt Nam đã là 90 triệu người và đội ngũ của Đảng đã gần 4 triệu đảng viên. Dân tộc anh hùng, Đảng quang vinh và Bác Hồ vĩ đại luôn là niềm tự hào kiêu hãnh của nhân dân ta, của mỗi người chúng ta. Đất nước đã vào Xuân. Xã hội đang chuyển mình từ truyền thống tới hiện đại. Dân tộc đang đứng trước vận hội mới để phát triển, dồi dào sinh lực sáng tạo. Con người Việt Nam, thế hệ tiếp nối thế hệ với học vấn, học thức ngày một nâng cao, lại đang sống trong môi trường đổi mới, hội nhập, đang xây dựng xã hội dân chủ và nhà nước pháp quyền, tiến tới văn minh và hiện đại, bằng tài năng, nhiệt huyết và trách nhiệm trước nhân dân và dân tộc, nhất định sẽ làm rạng rỡ trí tuệ, nhân cách Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội đã được toàn dân tin tưởng và tôn vinh, đã được hiến định trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khẳng định địa vị pháp lý của Đảng cầm quyền. Phẩm chất xứng đáng của Đảng làm nên tính chính đáng và chính danh của Đảng trong thực thi trách nhiệm nặng nề, vẻ vang mà lịch sử giao phó và nhân dân ủy thác. Đảng mạnh bởi có một Nhà nước mạnh và đặc biệt là có sức mạnh từ sự ủng hộ, giúp đỡ, bảo vệ của Nhân dân, sức mạnh trong lòng dân, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong giai đoạn phát triển mới hiện nay, Ý Đảng, Lòng dân, Phép nước càng phải được gắn kết mật thiết, keo sơn hơn nữa. Sinh thời, Bác hằng quan tâm, lo lắng và làm hết sức mình để dân có ăn, có mặc, có chỗ ở, được học hành, được chăm sóc sức khỏe, được tự do đi lại. Đó là những việc mà Người coi là cấp bách, thiết thực, phải làm ngay. Bác căn dặn, nhắc nhở chúng ta, dân chỉ biết đến tự do, dân chủ khi dân được ăn no, mặc đủ. Nước nhà giành được độc lập tự do mà dân vẫn đói rét, vẫn cực khổ, lạc hậu thì độc lập tự do cũng chẳng để làm gì. Dân là chủ và dân làm chủ thì Đảng và mỗi đảng viên là đầy tớ, công bộc trung thành tận tụy của dân. Công chức nhà nước mà đa số là đảng viên, làm việc trong bộ máy công quyền phải suốt đời "dĩ công vi thượng", phải tu dưỡng một lẽ sống "phục vụ nhân dân là phục tùng chân lý cao nhất" vì dân là quý nhất, dân chủ là của quý báu nhất trên đời của dân. Tất cả vì hạnh phúc của nhân dân – có thể nói, đó là điều xác định cao quý, thiêng liêng mà Đảng đã nguyện phấn đấu hy sinh để thực hiện quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của dân - quyền con người, quyền công dân đã ghi trong Hiến pháp. Cũng với trách nhiệm cao cả đó, Thông điệp đầu năm mới 2014 của Thủ tướng Chính phủ đã đặc biệt nhấn mạnh tới vai trò của Dân, trọng trách của Nhà nước và Chính phủ trong việc phụng sự Tổ quốc và Nhân dân. "Đây là lúc chúng ta cần có thêm động lực để lấy lại đà tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững. Nguồn động lực đó phải đến từ đổi mới thể chế và phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của Nhân dân". "Nhà nước pháp quyền phải thượng tôn pháp luật. Pháp luật phải đảm bảo được công lý và lẽ phải. Nhà nước phải làm tốt chức năng kiến tạo phát triển”. Từ tinh thần ấy, Đảng Nhà nước, cán bộ đảng viên phải vì dân mà hành động, trước sau như một, mọi hoạt động, mọi hành động cũng chỉ vì dân, hướng đích tới dân./.

Ở Việt Nam, mọi tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật

Thực tế ở Việt Nam, các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, không một tôn giáo nào hoạt động đúng pháp luật mà bị ngăn cấm. Mọi người dân Việt Nam hoàn toàn tự nguyện, tự do lựa chọn theo hoặc không theo một tín ngưỡng, tôn giáo nào, không bị ép buộc, cấm đoán. Trong buổi điều trần về việc các cộng đồng Thiên chúa giáo thiểu số bị đàn áp trên thế giới được tổ chức mới đây tại Quốc hội Hoa Kỳ, với vai trò chủ trì, ông dân biểu Christ Smith đã nêu vấn đề: Nhà nước Việt Nam có sự phân biệt đối xử giữa các tôn giáo, không công nhận quyền tự do thờ cúng của các giáo hội khác nhau... Sau đó, khi trả lời một số phóng viên, ông ta còn nói rằng: Việt Nam đang đi những bước lùi về tự do tôn giáo… Ông Christ Smith đã xuyên tạc một cách trắng trợn về tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Tại các diễn đàn quốc tế, Việt Nam đã nhiều lần công bố trước thế giới quan điểm, chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đảng và Nhà nước ta tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân, thực hiện bình đẳng, đoàn kết lương giáo và giữa các tôn giáo. Khắc phục mọi thái độ hẹp hòi, thành kiến, phân biệt đối xử với đồng bào có đạo, chống những hành động vi phạm tự do tín ngưỡng; đồng thời nghiêm cấm và ngăn chặn mọi hành vi lợi dụng tôn giáo phá hoại độc lập và đoàn kết dân tộc, chống phá chủ nghĩa xã hội, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân” (1). Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng Cộng sản Việt Nam một lần nữa khẳng định: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quan tâm và tạo mọi điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của các tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, đúng quy định của pháp luật…” (2). Trong Hiến pháp và các văn bản luật của Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân luôn được ghi nhận. Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc tôn trọng, bảo đảm các quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Điều 24 (Chương II) của Hiến pháp năm 2013 quy định: “1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. 2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. 3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Thực tế ở Việt Nam, các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, không một tôn giáo nào hoạt động đúng pháp luật mà bị ngăn cấm. Mọi người dân Việt Nam hoàn toàn tự nguyện, tự do lựa chọn theo hoặc không theo một tín ngưỡng, tôn giáo nào, không bị ép buộc, cấm đoán. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân luôn được Nhà nước Việt Nam tôn trọng và đảm bảo. Ở Việt Nam ngày càng có thêm nhiều tổ chức tôn giáo được công nhận và hoạt động. Số lượng các tín đồ tôn giáo tăng nhanh. Các cơ sở thờ tự liên tục được xây dựng, mở mang, tạo điều kiện cho sinh hoạt tôn giáo. Hoạt động in ấn, phát hành kinh sách được xuất bản tự do theo nhu cầu của các tôn giáo. Công tác giáo dục, đào tạo về tôn giáo được thúc đẩy. Các hoạt động đối ngoại về tôn giáo ngày càng được đẩy mạnh… Có thể nói, đời sống tôn giáo ở Việt Nam chưa bao giờ sôi động như hiện nay. Các tổ chức nhân quyền và tôn giáo quốc tế đã nhiều lần đến thăm, làm việc, khảo sát thực tế và thừa nhận việc đảm bảo quyền con người, trong đó có quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam đạt được nhiều tiến bộ. Đoàn Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ do Phó chủ tịch Ủy ban Michael Lewis Cromartie đã nhận xét: “Tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam đã được mở rộng và có nhiều tiến bộ, nhiều điểm đáng khích lệ…”. Thượng nghị sĩ Mỹ Jim Webb trong chuyến thăm và làm việc tại Việt Nam cũng đánh giá: “Cho dù vẫn còn những quan điểm cá nhân về một vài vụ việc cụ thể liên quan đến tự do tôn giáo tại Việt Nam, nhưng không thể phủ nhận những tiến bộ về tự do tôn giáo tại Việt Nam…”. Đặc biệt, việc Việt Nam trúng cử với số phiếu cao nhất vào Hội đồng Nhân quyền của Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2014-2016) một lần nữa thể hiện sự ghi nhận, đánh giá cao của cộng đồng quốc tế đối với chính sách, nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong đảm bảo các quyền con người, trong đó có quyền tự do tôn giáo. Trong phát biểu của mình, ông Christ Smith có dẫn lại câu chuyện xảy ra năm 2010 ở giáo sứ Cồn Dầu (TP Đà Nẵng) - sự việc mà ông ta gọi là “vụ đàn áp tôn giáo”, đồng thời ông nhắc đến trường hợp linh mục Nguyễn Văn Lý - người mà ông cho là “đang bị cầm tù vì thực thi quyền tự do tín ngưỡng”, hay mục sư Nguyễn Trung Tôn và giáo hội Tin lành Mennonite.... Cần nói ngay rằng, đó là những hành vi lợi dụng, đội lốt tôn giáo để chống phá Nhà nước, xúi giục nhân dân gây rối trật tự an ninh, chia rẽ đoàn kết dân tộc. Một số phần tử cơ hội chính trị đã lợi dụng lòng tin của nhân dân để làm băng hoại đạo đức xã hội, thực hiện các động cơ chính trị đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc, bị các thế lực thù địch bên ngoài xúi giục, kích động chống phá nhà nước… Những hành vi đó đã vi phạm pháp luật Việt Nam và đương nhiên phải bị xử lý theo pháp luật. Đó là việc làm hoàn toàn chính đáng, hợp pháp nhằm bảo vệ an ninh trật tự, kỷ cương phép nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, trong đó có giáo dân. Đi đôi với tôn trọng, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, pháp luật của Việt Nam cũng nghiêm cấm và ngăn chặn mọi hành vi lợi dụng tôn giáo phá hoại độc lập và đoàn kết dân tộc, chống phá CNXH, ngăn cản các tín đồ thực hiện nghĩa vụ công dân; đấu tranh và xử lý nghiêm đối với mọi hành động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích của quốc gia, dân tộc và nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: “Chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết dân tộc…” (3). Cũng như mọi quốc gia trên thế giới, Nhà nước Việt Nam không cho phép bất kỳ tôn giáo nào được phép đứng ngoài luật pháp, đứng ngoài dân tộc, đứng trên lợi ích quốc gia. Một yêu cầu khách quan đặt ra trong đời sống tôn giáo ở Việt Nam là dù nội sinh hay ngoại sinh, các tôn giáo muốn phát triển đều phải hòa đồng với dòng chảy văn hóa của dân tộc và phải chịu sự quản lý của Nhà nước. Khi xem xét, giải quyết các vấn đề có liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo, một trong những yêu cầu cơ bản mà Nhà nước Việt Nam đặt ra là trong sáng vô tư, không có sự phân biệt hay đối xử thiên vị giữa các tôn giáo. Mục tiêu trong thực hiện chính sách tôn giáo của Việt Nam là đoàn kết dân tộc, phát huy lòng yêu nước, trách nhiệm của đồng bào có đạo và đồng bào không có đạo đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Nhân dân Việt Nam quá hiểu những âm mưu và hành động của các thế lực thù địch nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, lật đổ chế độ chính trị tại Việt Nam. Để thực hiện mưu đồ đó, họ thường lợi dụng những vấn đề nhạy cảm, trong đó có vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo... để xuyên tạc, bôi nhọ. Bằng mọi cách, họ tiến hành các hoạt động xuyên tạc, bôi nhọ, bóp méo sự thật nhằm làm cho Việt Nam bị giảm sút uy tín, mất dần vị thế trong khu vực và trên thế giới, tạo cớ để tiến hành can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Nhưng có một thực tế hiển nhiên họ không thể phủ nhận được là: Ở Việt Nam quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo luôn được tôn trọng và đảm bảo, mọi tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Điều này không chỉ được thể hiện trong hệ thống đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước mà còn được thể hiện sinh động trong thực tiễn.

Một xu hướng không thể chấp nhận khi nghiên cứu dân tộc

Trong xu thế mở cửa, hội nhập quốc tế, câu hỏi về văn hóa, về căn cước văn hóa dân tộc thường xuyên trở đi trở lại trong sự tự vấn của cộng đồng, và ở Việt Nam cũng vậy. Từ sự hỗ trợ của một số lý thuyết khoa học, câu trả lời có thể sẽ ngày càng sáng tỏ hơn, tuy nhiên, không phải là lý thuyết nào cũng đưa tới đáp án tích cực, chẳng hạn như lý thuyết "cộng đồng tưởng tượng"... Cùng với sự phát triển của tiến trình dân chủ hóa xã hội, trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn ở nước ta hiện nay, việc nhiều vấn đề đã hình thành hoặc đang tồn tại như một hình dung tương đối ổn định được tái thảo luận đã trở nên tương đối phổ biến. Tuy nhiên, đằng sau công việc tưởng như hết sức bình thường đó lại đang xuất hiện không ít dấu hiệu của những xu hướng rất bất bình thường. Có thể coi bài Trung Hoa có nhiều điều khác người Việt đăng trên ấn phẩm Tia sáng của Bộ Khoa học và Công nghệ cuối năm 2013 vừa qua, sau đó được một số báo điện tử khác đăng lại, là một thí dụ. Thoạt đọc, thì đây là một bài viết hết sức bình thường, khi đặt người Việt Nam bên cạnh người Trung Quốc để tiến hành một so sánh dường như là về căn cước văn hóa của người Việt và người Hoa. Bài viết được bắt đầu bằng một nhận định dễ có thể nhận được sự đồng cảm, song lại thật sự đáng ngờ: "Nếu bạn gặp một ai lần đầu ở xứ lạ, mà người đó bảo bạn rằng bạn là người Việt, không phải là người Hoa, thế mà thật sự đúng là như vậy, thì người đó quá là tài!". Chúng ta không thể phủ nhận một thực tế là với sự phát triển của kinh tế Đông Á vào cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, người Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản đã có mặt ở khắp mọi nơi trên thế giới, cả với tư cách khách du lịch lẫn nhà đầu tư, hay chuyên gia kỹ thuật, chính vì vậy việc nhầm lẫn giữa người Việt Nam với người ở các quốc gia này là điều hoàn toàn dễ hiểu. Điều không bình thường là người viết lại dựa vào một thực tế mang tính kinh tế - xã hội - văn hóa làm điểm tựa cho hệ thống luận điểm, có thể nói là rất đáng quan ngại, của bài viết. Nhằm xây dựng lô-gic triển khai bài báo, người viết mở đầu bằng một loạt sự tương đồng giữa người Việt Nam và người Trung Quốc, những tương đồng không thể phủ nhận khi văn hóa Việt Nam từng có lịch sử chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc giống như những dân tộc Đông Á khác, để triển khai cái ý về sự giống nhau giữa "người Việt và người Hoa, cả về thể chất lẫn tinh thần". Tuy vậy, luận điểm về sự tương đồng đó chỉ là phần nhỏ, phần lớn của bài báo lại là phần người viết chứng minh những điểm người Việt khác người Hoa. Đó là việc cho rằng, người Việt không có tinh thần "nhắm tới tự quyết tinh thần" (nói thẳng ra là chê trách người Việt chỉ biết du nhập, làm nô lệ cho những học thuyết ngoại nhập), "tinh thần thực dụng" (nghĩa là chê trách người Việt viển vông, giáo điều), "bao dung vì lợi" (người Việt ham nghĩ đến lợi nhỏ, không nghĩ đến các lợi ích lớn), "chép sử kỹ càng" (nghĩa là người Việt không có nền sử học có giá trị, chỉ biết sùng bái mù quáng các vĩ nhân)...(!) Chưa nói việc các luận điểm trên được chống đỡ bằng những lập luận hết sức đáng ngờ, như khen ngợi người Hoa "không mang tên vĩ nhân của họ ra đặt cho các địa danh lớn, họ hiểu rằng điều đó không được an bền, và không lấy được lòng người trong dài lâu" trong khi điều này đã thành thông lệ của nhiều quốc gia trên thế giới. Dùng một loạt dấu hiệu mang tính kinh nghiệm để chứng minh sự tương đồng văn hóa giữa người Việt và người Hoa, sau đó tác giả lựa lọc một số điểm "lớn" trong bản sắc văn hóa của người Hoa (nhiều điểm rất đáng ngờ như các "thành tựu" trong công cuộc viễn chinh xâm lược chẳng hạn), những yếu tố mang tính đặc thù của dân tộc Trung Hoa hình thành nhờ các đặc điểm riêng của dân tộc này rồi chứng minh rằng người Việt không thể có được những điểm "vĩ đại" đó. Lô-gic đó, không có gì khác, chỉ có thể dẫn đến kết luận rằng người Việt chỉ là một phiên bản "bằng máy xấu, giấy xấu" của người Hoa. Người viết dường như quên mất một điều rằng, mỗi dân tộc là một thực thể có tính đặc thù, duy nhất, mà các điểm tích cực hay tiêu cực là sản phẩm riêng được tạo nên bởi hoàn cảnh riêng. Mỗi dân tộc đều có các điểm tích cực và tiêu cực riêng nên nếu như ở dân tộc A có những yếu tố tích cực mà dân tộc B không có, thì cũng lại có một thực tế là dân tộc B có những yếu tố tích cực riêng mà khó có thể hiện diện trong bản sắc của dân tộc A. Chính vì vậy, việc nhận thức bản sắc dân tộc chỉ có nghĩa khi phân tích trong lô-gic nội tại của chính dân tộc đó. Những so sánh hơn kém chỉ có thể dẫn đến cái nhìn mang tính kỳ thị. Điều đáng ngạc nhiên là thứ lô-gic có tính kỳ thị và phản khoa học đó lại xuất hiện ở một tờ báo của một Bộ chuyên về khoa học. Nên không ngẫu nhiên, trong bốn comment dưới bài viết này sau khi đăng trên Tia sáng,thì có tới ba ý kiến cho rằng: "Tôi thật sự không hài lòng về rất nhiều điểm được tác giả đề cập trong bài báo này. Nếu những người thiếu bản lĩnh khi đọc nó tự nhiên họ hình thành suy nghĩ rằng dân tộc Việt Nam là thấp hèn còn Trung Quốc là đế vương. Tôi không cho rằng điều đó là đúng. Có nhiều nước lớn nhưng cũng có nhiều nước nhỏ, mỗi quốc gia đều có quyền tự hào về dân tộc mình, đất nước mình. Đây là điều quan trọng để giữ chủ quyền và độc lập dân tộc". Đằng sau câu chuyện so sánh này, dường như còn cho thấy một xu hướng khi thì "thấp thoáng", khi thì lại "rõ nét", trong đời sống học thuật của chúng ta hiện nay? Nhân danh tìm kiếm chân lý, một số nhà khoa học đang có xu hướng lật lại các vấn đề lịch sử với tinh thần phê phán. Điển hình nhất là việc một số nhà khoa học ở trong cũng như ngoài nước đang nhân danh lý thuyết về "cộng đồng tưởng tượng" của Benedict Anderson để "phân tích" lại một loạt các yếu tố văn hóa dân tộc, từ các huyền thoại về Quốc tổ đến những yếu tố huyền tích về các nhân vật lịch sử. Theo sự hình dung có phần cực đoan của lý thuyết này, các căn tính (identity) của một dân tộc không phải là một thực thể tồn tại một cách hoàn toàn khách quan, tự nhiên mà là những "tạo tác văn hóa có tính nhân tạo". Nói đơn giản, theo lý thuyết "cộng đồng tưởng tượng", căn tính dân tộc không phải là một yếu tố được hình thành một cách khách quan, lịch sử, không phải là kết quả của sự tồn tại của một cộng đồng người trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể, mà là các yếu tố được "bịa" ra, được tưởng tượng nên, dưới sự chi phối của quyền lực. Lô-gic đó cũng giống như việc coi tính cách của một con người không phải là sản phẩm tự nhiên, kết quả mối quan hệ giữa con người và hoàn cảnh cộng đồng nó là thành viên, mà là một cái gì đó mà người ta dựng lên, bịa ra, đến một lúc con người đó tin rằng đó là tính cách của mình. Và một trong những sản phẩm của sự bịa đặt đó chính là những huyền thoại, những huyền tích trong lịch sử được kiến tạo nên để làm công cụ cho việc liên kết dân tộc! Theo xu hướng ấy, gần đây một số huyền thoại, huyền tích về sự lập quốc của người Việt Nam, ý thức về nền độc lập, thậm chí cả tinh thần yêu nước, đã được một số tác giả ở trong và ngoài nước xem xét mổ xẻ, rồi chỉ ra rằng đó chỉ là những tạo tác được xây dựng dựa trên chất liệu lấy từ lịch sử, văn hóa Trung Quốc. Tạm chưa bàn đến tính chất cực đoan trong việc khi tuyệt đối hóa quan hệ giao lưu văn hóa với Trung Quốc, thì lô-gic của các thứ lập luận này đã ẩn chứa một tinh thần kỳ thị chủng tộc, một thứ chủ nghĩa thực dân văn hóa kiểu mới. Những người chủ trương thứ lý thuyết này dường như không quan tâm (hay cố tình không quan tâm) tới sự phân biệt giữa tính quốc gia và tính nhân loại. Có những giá trị mà khi đạt tới mức độ nào đó đã trở thành một di sản mang tính nhân loại, mà Kitô giáo là một thí dụ. Vì khó có thể coi việc nhiều quốc gia trên thế giới tiếp nhận Kitô giáo là đã bị cuốn vào vòng ảnh hưởng Do thái. Việc người Việt Nam tiếp nhận các tư tưởng, các yếu tố văn hóa, tôn giáo từ Trung Quốc với tư cách các giá trị mang tính toàn nhân loại không có nghĩa người Việt Nam không có ý thức về sự phân biệt giữa người phương nam và người phương bắc, không có ý thức về sự phân biệt giữa các triều đại phương bắc với các triều đại phương nam. Rõ ràng, từ góc nhìn khoa học, phía sau lập luận đó là một thứ tinh thần kỳ thị sắc tộc, một thứ chủ nghĩa thực dân kiểu mới về văn hóa với sự hình dung về "dân tộc thượng đẳng" và "dân tộc hạ đẳng". Những vận động trong đời sống học thuật của xã hội hiện nay đang ngày càng cho thấy các biến chuyển theo hướng dân chủ hóa đời sống học thuật của chúng ta. Vấn đề là khi các lý thuyết, quan niệm từ nước ngoài được tiếp thu một cách sống sượng, thiếu tinh thần khách quan khoa học, vận dụng để phê phán một cách thiếu thiện chí, thì đằng sau một số biểu hiện tưởng như bình thường, rất có thể ẩn giấu những khuynh hướng tai hại, mà biểu hiện cao nhất của nó là bôi nhọ, hạ thấp truyền thống văn hóa, phổ biến tâm lý và thái độ nhược tiểu văn hóa, rồi có thể từng bước tiến tới phủ nhận các giá trị đương đại.

Không thể suy diễn chủ quan về tự do báo chí ở Việt Nam

Sự việc của Báo SGTT càng chứng tỏ các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội có thể lợi dụng bất cứ vấn đề gì, hiện tượng gì trong đời sống xã hội của đất nước để xuyên tạc tình hình, kích động dư luận, đả phá chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Tuy nhiên, sự thật luôn là sự thật, không thể ai "đổi trắng thành đen". Có điều, bất cứ ai khi tiếp nhận những thông tin suy diễn kiểu này, cần rất tỉnh táo và cảnh giác. Mới đây, Báo Sài Gòn tiếp thị (SGTT) thuộc cơ quan chủ quản là Trung tâm Xúc tiến - Thương mại - Đầu tư TP Hồ Chí Minh, chính thức bị Bộ Thông tin và Truyền thông thu hồi giấy phép hoạt động do thua lỗ, nợ đọng quá nhiều trong thời gian kéo dài, không đủ điều kiện về tài chính. Điều này ai cũng biết. Ấy vậy mà, một số báo, đài nước ngoài (RFA, BBC, VOA…) và nhiều trang blog lại cố tình tung tin sai sự thật rằng Báo SGTT bị “bức tử” do có nhiều bài viết đụng chạm đến vấn đề “nhạy cảm”, đồng thời cho rằng, vấn đề tự do báo chí ở Việt Nam đang bị xâm phạm và đây là sự mở đầu cho chiến dịch thu hẹp hệ thống báo chí Việt Nam đến năm 2020 theo đề án của Bộ Thông tin và Truyền thông đề xuất. Phải nói ngay rằng, Báo SGTT bị thu hồi giấy phép hoạt động là do đề nghị của chính cơ quan chủ quản khi báo này thua lỗ, chứ hoàn toàn không vì bất cứ lý do “nhạy cảm” nào khác. Cho đến thời điểm trước khi bị thu hồi giấy phép, với khoản nợ đọng về tài chính lên tới 50 tỷ đồng, doanh thu hằng tháng của Báo SGTT vẫn không đủ để trả lãi suất ngân hàng. Trên thực tế, không chỉ ở Việt Nam mà ngay cả nước ngoài, tờ báo nào không đủ sức cạnh tranh, không đủ khả năng về tài chính thì hiển nhiên phải chấp nhận đình bản. Điều này chẳng có gì phải bàn cãi. Không có ai "bức tử" tờ báo này cả. Nói tờ báo bị "bức tử" là suy diễn chủ quan, vô căn cứ ! Ở Việt Nam, mỗi tờ báo có công chúng, mục tiêu riêng, hoạt động trong những lĩnh vực mà mình đăng ký. Báo SGTT cũng như tất cả các cơ quan báo chí khác đều phải hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích ghi trong giấy cấp phép. Đi ngược lại tôn chỉ, mục đích là trái pháp luật. Không thể vì sự cạnh tranh thông tin hay thứ “danh tiếng” mơ hồ nào đó mà đưa tin, bài trái với đường lối, quan điểm của Đảng, làm phương hại tới an ninh quốc gia và lợi ích dân tộc… Đó là điều mà mọi tờ báo đều phải hiểu và tuân thủ. Mặt khác, trước thông tin về Đề án quy hoạch hệ thống báo chí toàn quốc đến năm 2020, một số người đã vội vàng suy diễn chủ quan về tự do báo chí ở Việt Nam là hoàn toàn không có cơ sở. Thực tế phát triển báo chí thời gian qua cho thấy, bên cạnh những thành tựu quan trọng và đóng góp to lớn của báo chí đối với công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đáp ứng nhu cầu thông tin ngày càng cao của nhân dân, báo chí cũng bộc lộ một số bất cập. Không ít các trang điện tử và báo, tạp chí in giảm sút cả về chất lượng chính trị, chất lượng văn hoá, chất lượng khoa học và chất lượng nghiệp vụ của thông tin. Nhiều tờ báo có biểu hiện xa rời tôn chỉ, mục đích, có khuynh hướng thông tin giật gân, câu khách, nội dung thông tin các báo na ná nhau, dẫn đến nhàm chán và lãng phí tiền của. Hệ thống báo chí Việt Nam có bước phát triển mạnh về số lượng nhưng chất lượng chưa tương xứng, còn chồng chéo về tôn chỉ, mục đích, nội dung, đối tượng phục vụ… Bởi thế, việc điều chỉnh, quy hoạch, sắp xếp lại hệ thống báo chí là một đòi hỏi cấp thiết, phù hợp với tình hình thực tiễn đất nước, bảo đảm cho báo chí hoạt động tốt hơn, đúng tôn chỉ, mục đích, trong khuôn khổ pháp luật. Đây là việc làm cần thiết, nhằm hướng tới sự hợp lý về số lượng cơ quan báo chí và ấn phẩm báo chí, nâng cao chất lượng, phục vụ tốt hơn nhu cầu thông tin của độc giả và của toàn xã hội. Ít mà tinh, gọn mà hiệu quả, quy hoạch, sắp xếp gọn lại để báo chí có điều kiện đầu tư, phát triển theo chiều sâu, phát huy ưu điểm, khắc phục thiếu sót, khuyết điểm, thực hiện ngày càng tốt hơn chức năng, nhiệm vụ là việc làm hữu ích được xã hội đồng thuận, báo giới tán thành. Bởi vậy, nói tự do báo chí ở Việt Nam bị kìm hãm hoàn toàn là sự suy diễn, áp đặt chủ quan. Sự việc của Báo SGTT càng chứng tỏ các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội có thể lợi dụng bất cứ vấn đề gì, hiện tượng gì trong đời sống xã hội của đất nước để xuyên tạc tình hình, kích động dư luận, đả phá chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Tuy nhiên, sự thật luôn là sự thật, không thể ai "đổi trắng thành đen". Có điều, bất cứ ai khi tiếp nhận những thông tin suy diễn kiểu này, cần rất tỉnh táo và cảnh giác.

Đại học Kinh tế quốc dân mua vaccine cho giảng viên, sinh viên

Đại học Kinh tế quốc dân đang nhờ UBND TP Hà Nội mua giúp 40.000 liều vaccine Covid-19 để tiêm cho khoảng 20.000 cán bộ, giảng viên và sinh viên của trường. Tiến sĩ Vũ Trọng Nghĩa, Trưởng phòng Truyền thông, Đại học Kinh tế quốc dân, cho biết trong chương trình Chung tay hành động đẩy lùi dịch Covid-19 tối 19/6, đại diện nhà trường đã trao tượng trưng 8,2 tỷ đồng cho UBND TP Hà Nội, với nguyện vọng ủng hộ 200 triệu đồng vào quỹ. 8 tỷ đồng còn lại, trường muốn nhờ thành phố đàm phán, mua giúp 40.000 liều vaccine Covid-19 để tiêm cho cán bộ, giảng viên và sinh viên đang học. "Bằng việc đóng góp vào Quỹ vaccine và mua vaccine tiêm cho cán bộ, giảng viên và sinh viên, trường muốn thể hiện sự ủng hộ với công cuộc chống dịch chung của TP Hà Nội cũng như cả nước. Đây cũng là nguyện vọng của tập thể nhà trường và là việc làm thiết thực", tiến sĩ Nghĩa nói thêm. Theo tiến sĩ Nghĩa, mặc dù ngân sách eo hẹp khi vừa phải dành ra 23 tỷ đồng hỗ trợ sinh viên trong dịch bệnh (mỗi em một triệu đồng), lãnh đạo nhà trường vẫn quyết tâm mua và tiêm vaccine cho cán bộ, giảng viên, sinh viên để sớm đưa hoạt động dạy và học trở lại bình thường. Với mong muốn hỗ trợ một phần gánh nặng cho sinh viên và gia đình, ba năm qua, Đại học Kinh tế quốc dân không tăng học phí. Năm ngoái, nhà trường đã giảm 5% học phí cho sinh viên.

Putin cảnh báo Covid-19 ở Nga ngày càng tồi tệ

Putin cảnh báo Covid-19 ở một số khu vực của Nga ngày càng tồi tệ hơn, khi giới chức bắt đầu thúc đẩy ý tưởng tái tiêm chủng thường xuyên. "Thật không may, mối đe dọa Covid-19 vẫn chưa thuyên giảm", Tổng thống Nga Vladimir Putin phát biểu tại Hạ viện hôm 21/6. "Ở nhiều vùng, tình hình thậm chí còn trở nên tồi tệ hơn". Nga báo cáo 5.334.204 người nhiễm và 129.801 người chết, tăng lần lượt 17.378 và 440 trường hợp. Ca nhiễm tăng mạnh ở một số khu vực, đặc biệt là thủ đô Moskva, nơi ghi nhận hơn 9.000 ca nhiễm hôm 19/6. Một video xuất hiện trên mạng xã hội hôm 20/6 cho thấy bệnh nhân Covid-19 nằm sấp trên sàn hành lang bệnh viện ở St Petersburg, thành phố quê hương của Putin, nơi đang tổ chức một số trận đấu thuộc giải vô địch bóng đá Euro 2020. Giới chức địa phương đang kiểm tra tính xác thực của video. Giới chức cũng đang kêu gọi người dân đi tiêm phòng Covid-19 bằng cách treo thưởng ô tô và căn hộ mới, đồng thời cảnh báo những người không tiêm có thể bị mất thu nhập và sa thải. Họ cho biết sự gia tăng ca nhiễm mới do biến thể Delta, đồng thời thừa nhận chiến dịch quảng bá toàn quốc nhằm khuyến khích người dân tiêm chủng chưa được thực hiện đầy đủ. Vaccine đã được phổ biến rộng rãi nhiều tháng qua, nhưng nhiều người Nga vẫn không muốn tiêm phòng. Tính đến ngày 2/6, chỉ 18 triệu trong số khoảng 144 triệu dân đã được tiêm ít nhất một liều vaccine. Phát ngôn viên Điện Kremlin Dmitry Peskov nói với các phóng viên rằng phương hướng sắp tới là tái tiêm chủng. "Việc tái tiêm chủng là điều không thể tránh khỏi. Không chỉ tiêm chủng, mà còn tái tiêm chủng đối với những người muốn giữ an toàn cho bản thân và những người thân yêu của họ", Peskov nói. Thế giới đã ghi nhận 179.473.183 ca nhiễm nCoV và 3.886.302 ca tử vong, tăng lần lượt 223.465 và 4.011, trong khi 162.356.540 người đã bình phục, theo trang thống kê thời gian thực Worldometers. Mỹ, vùng dịch lớn nhất thế giới, báo cáo 34.415.703 ca nhiễm và 617.332 ca tử vong do nCoV, tăng 6.025 ca nhiễm và 114 ca tử vong so với một ngày trước đó. Đây là số ca tử vong hàng ngày thấp nhất ở Mỹ kể từ tháng 3/2020. Nhà Trắng thông báo kế hoạch chuyển 55 triệu liều vaccine Covid-19, với khoảng 75% được phân bổ cho Mỹ Latinh và Caribbean, châu Á và châu Phi thông qua chương trình Covax. 20 triệu liều khác được chuyển đến các quốc gia đồng minh cụ thể. Mỹ đặt mục tiêu chia sẻ lượng vaccine trên vào cuối tháng 6, tuy nhiên, hiện chưa đến 10 triệu liều được chuyển đi trên khắp thế giới, gồm 2,5 triệu liều được chuyển đến đảo Đài Loan cuối tuần qua và khoảng một triệu liều được chuyển đến Mexico, Canada và Hàn Quốc đầu tháng này. Nhà Trắng cho biết khoảng 41 triệu liều sẽ được chia sẻ thông qua Covax, với khoảng 14 triệu đến châu Mỹ Latinh và Caribbean, khoảng 16 triệu đến châu Á và khoảng 10 triệu đến châu Phi. 25% còn lại, tương đương khoảng 14 triệu liều, sẽ được chia sẻ với "các ưu tiên khu vực", bao gồm Colombia, Argentina, Iraq, Ukraine, Bờ Tây và Gaza. "Khi chúng tôi tiếp tục chiến đấu với đại dịch Covid-19 trong nước và nỗ lực chấm dứt đại dịch trên toàn thế giới, Tổng thống Biden đã cam kết Mỹ sẽ là kho chứa vaccine cho thế giới", Nhà Trắng cho biết trong một tuyên bố. Ấn Độ là vùng dịch lớn thứ hai thế giới với 29.973.457 ca nhiễm và 389.268 ca tử vong, tăng so với hôm trước lần lượt 39.096 và 846 ca. Ấn Độ hôm qua ghi nhận mức tiêm chủng kỷ lục 8,3 triệu liều vaccine Covid-19, trong chiến dịch liên bang tiêm phòng miễn phí cho toàn bộ người trưởng thành. Kỷ lục trước đó của Ấn Độ là 4,5 triệu liều là vào ngày 5/4, sau đó sụt giảm mạnh với lượng tiêm trung bình hàng ngày xuống dưới ba triệu. "Nếu nguồn cung vẫn ổn định, tất nhiên chúng tôi sẽ tiêm chủng cho phần lớn dân số vào cuối năm nay", DN Patil, quan chức y tế cấp cao ở bang Maharashtra với dân số hơn 125 triệu, nói. Nước này đang sử dụng phiên bản vaccine AstraZeneca được sản xuất trong nước và Covaxin của công ty Bharat Biotech, Ấn Độ. Chính phủ đang cố gắng đảm bảo nguồn cung từ các loại vaccine nước ngoài như Pfizer và đã từ bỏ quy định nghiêm ngặt để cho phép nhập khẩu nhanh hơn. Canada sẽ bắt đầu dỡ một số hạn chế biên giới đối với những công dân được tiêm chủng đầy đủ, bắt đầu từ 5/7. Theo đó, những người Canada và thường trú nhân trở lại đất nước sẽ miễn cách ly nếu đã tiêm đủ hai liều vaccine. Mục tiêu của Canada là cho phép những du khách đã được tiêm phòng đầy đủ nhập cảnh trong những tháng tới. Theo dữ liệu chính thức, tính đến 18/6, chỉ 14,7% người Canada đã tiêm cả hai mũi vaccine. Canada lần đầu cấm du lịch không thiết yếu vào tháng 3/2020 như một phần của nỗ lực chống Covid-19, với các biện pháp được mở rộng hàng tháng kể từ đó. Tại Đông Nam Á, Indonesia là vùng dịch lớn nhất khu vực với 2.004.445 ca nhiễm, tăng 14.536, mức tăng hàng ngày cao nhất từ khi đại dịch bùng phát, và 54.956 người chết, tăng 294. Số liệu mới nhất đưa tổng số ca nhiễm ở Indonesia vượt hai triệu. Indonesia sẽ thắt chặt các hạn chế xã hội đối với các "vùng đỏ" trong hai tuần, bắt đầu từ 22/6, nhằm ngăn chặn ca nhiễm mới gia tăng. Động thái này đồng nghĩa các văn phòng, nhà hàng, quán cà phê và trung tâm thương mại chỉ được phép hoạt động với 25% công suất. Hoạt động tôn giáo tạm thời bị đình chỉ và điểm tham quan du lịch phải đóng cửa. Các lĩnh vực quan trọng, như dịch vụ cơ bản, có thể hoạt động 100% công suất với quy trình y tế nghiêm ngặt hơn, trong khi công suất văn phòng ở các khu vực không thuộc vùng đỏ sẽ ở mức 50%. Các khu vực đã được chỉ định là vùng đỏ bao gồm các vùng Kudus ở Java, Bangkalan trên đảo Madura, thủ đô Jakarta và một phần của Riau ở Sumatra. Philippines vùng dịch lớn thứ hai Đông Nam Á, ghi nhận 1.364.239 ca nhiễm và 23.749 ca tử vong, tăng lần lượt 5.249 và 128 ca. Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte hôm 21/6 dọa sẽ bỏ tù những người không tiêm vaccine Covid-19, sau khi có báo cáo về tỷ lệ người tiêm chủng thấp tại một số địa điểm ở thủ đô Manila. Tuyên bố này trái ngược với quan chức y tế Philippines, những người nói rằng dù kêu gọi người dân tiêm vaccine Covid-19, đây vẫn là lựa chọn mang tính tự nguyện. Philippines đã đặt hàng 113 triệu liều vaccine từ 5 nhà sản xuất, gồm 26 triệu liều Sinovac, 10 triệu liều Sputnik V, 20 triệu liều Moderna, 17 triệu liều AstraZeneca và 40 triệu liều từ Pfizer/BioNTech mới đạt thỏa thuận. Myanmar hôm qua báo cáo 595 ca nhiễm mới và ba ca tử vong, nâng tổng số ca nhiễm và tử vong lên lần lượt 148.617 và 3.265. Đây là mức tăng lớn nhất từ sau cuộc đảo chính ngày 1/2 khiến nhiều nhân viên y tế bỏ việc và không tham gia chống dịch. Ca nhiễm tăng vọt trong tháng này, làm dấy lên lo ngại về một làn sóng lớn hơn nhiều. Nhiều ca nhiễm mới đã được báo cáo từ khu vực gần biên giới với Ấn Độ. Tỷ lệ xét nghiệm dương tính tăng gần 12%, cao hơn nhiều so với trước đảo chính và gần bằng mức cao nhất tháng 11/2020.