Chủ Nhật, 15 tháng 8, 2021

Không có sự kỳ thị, phân biệt đối xử với hoạt động tôn giáo

 

Lợi dụng việc cơ quan chức năng ra quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội “Lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người” liên quan đến chuỗi lây nhiễm ở điểm nhóm truyền giáo Phục Hưng, các đối tượng thù địch đã tung tin chính quyền phân biệt đối xử, kỳ thị, gây khó khăn cho hoạt động tôn giáo. Đây là sự vu cáo trắng trợn, đi ngược lại diễn biến thực tế của vụ việc...

Liên quan đến chuỗi lây nhiễm ở điểm nhóm truyền giáo Phục Hưng, mới đây, Công an quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội “Lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người” để tiến hành điều tra vụ án theo quy định của pháp luật. Việc khởi tố hành vi vi phạm là cần thiết và hoàn toàn đúng pháp luật, vì một số cá nhân liên quan không thực hiện phòng ngừa dịch bệnh theo đúng quy định của Chính phủ, Bộ Y tế và chính quyền địa phương, như không đảm bảo giãn cách, không thực hiện Thông điệp "5K" một cách đầy đủ, không hợp tác khai báo để truy vết, không tự giác trong việc đi xét nghiệm…

Tuy nhiên, sau khi cơ quan Công an khởi tố vụ án, một số thế lực, đối tượng xấu đã lợi dụng vụ việc để tung tin chính quyền phân biệt đối xử, kỳ thị, gây khó khăn cho hoạt động tôn giáo. Các đối tượng này đã cố tình “bóp méo” bản chất vụ việc nhằm mục đích “lái” dư luận theo chiều hướng tiêu cực; phá vỡ khối đại đoàn kết giữa tín đồ các tôn giáo tại Việt Nam hiện nay.

Trước hết cần nhận thức rõ, đây là khởi tố về hành vi gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội theo quy định tại Điều 240 Bộ luật Hình sự để điều tra xem mức độ vi phạm đến đâu; từ đó xử lý theo quy định của pháp luật. Hoàn toàn không có việc chính quyền khởi tố tổ chức tôn giáo, điểm nhóm tôn giáo, hoặc hoạt động có liên quan đến sinh hoạt tôn giáo, chức sắc, tín đồ tôn giáo..., như luận điệu xuyên tạc của các đối tượng phản động, thù địch. Vì thế, cũng không có việc chính quyền kỳ thị, phân biệt đối xử, gây khó đối với hoạt động tôn giáo. Vụ việc đang được điều tra, xử lý với mục tiêu trước hết và cao nhất là đảm bảo sức khỏe cho người dân, cho cộng đồng, trong đó có những tín đồ tôn giáo.

Mặt khác, điểm nhóm truyền giáo Phục Hưng liên quan đến vụ việc nêu trên là điểm nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung đăng ký hoạt động ở cấp phường theo quy định của pháp luật, chưa được công nhận là một tổ chức tôn giáo; người phụ trách chính ở đây được gọi là người đứng đầu điểm nhóm, không phải là mục sư và là điểm nhóm sinh hoạt theo kiểu tư gia, lấy nhà riêng làm nơi sinh hoạt, không phải là nhà thờ hoặc cơ sở thờ tự tôn giáo. Từ lúc được cấp phép đến nay, điểm nhóm hoạt động tuân thủ luật pháp, tích cực tham gia các phong trào của địa phương. Có thể do sự chủ quan, chưa ý thức được mức độ nghiêm trọng của dịch bệnh, thiếu nghiêm túc trong thực hiện các biện pháp chống dịch của người đứng đầu điểm nhóm và tín đồ nên đã để xảy ra hậu quả rất nghiêm trọng. Thông tin từ Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh, nhóm truyền giáo Phục Hưng có 55 hội viên, trong đó 40 người đã xác định mắc COVID-19 (chiếm tỷ lệ 70%); đến nay đã lây lan ra thêm khoảng 160 người khác tại 20/22 quận huyện và 6 tỉnh miền Nam (gồm Long An, Bình Dương, Đồng Tháp, Tây Ninh, Trà Vinh, Bạc Liêu).

Thực tế hoạt động của các tôn giáo ở Việt Nam thời gian vừa qua cho thấy rõ ràng chính sách nhất quán và đúng đắn của Đảng, Nhà nước Việt Nam là: Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của các công dân; các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Tuy nhiên, cũng như các quốc gia khác, Việt Nam không chấp nhận việc lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, lợi dụng các hoạt động sinh hoạt tôn giáo để phá hoại hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước hay kích động bạo lực, chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, tôn giáo, gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến tính mạng, sức khỏe của người khác... Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật; mọi cán bộ, đảng viên, chức sắc tôn giáo hay công dân khi vi phạm đều bị xử lý tùy thuộc vào tính chất, mức độ của hành vi vi phạm.

Do đó, liên quan đến chuỗi lây nhiễm ở điểm nhóm truyền giáo Phục Hưng, việc Công an quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội “Lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người” để tiến hành điều tra là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật. Điều này không chỉ thể hiện sự nghiêm minh, bình đẳng trước pháp luật của tất cả mọi người, mà còn là điều kiện để bảo đảm hoạt động sinh hoạt tôn giáo thực sư an toàn, góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống dịch COVID-19 tại các địa phương trong cả nước./.

NHẬN DIỆN CÁC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRÊN MẠNG XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

 

Hiện nay, các thế lực phản động, thù địch đang lợi dụng sự phát triển mạnh mẽ và ưu thế của mạng xã hội để tiến hành các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam. Việc nhận diện rõ và tổ chức đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch trên mạng xã hội có ý nghĩa rất quan trọng để phát huy có hiệu quả mặt tích cực, hạn chế tác động tiêu cực của mạng xã hội đối với đời sống tinh thần của nhân dân trong giai đoạn hiện nay.

Trong bối cảnh hội nhập và kỷ nguyên số như hiện nay, mạng xã hội có tầm quan trọng và tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội. Mạng xã hội là công cụ để các cá nhân, nhóm xã hội trực tiếp tham gia chia sẻ, tương tác với nhau. Bên cạnh những tác động tích cực thì mạng xã hội cũng là công cụ được các thế lực phản động, thù địch lợi dụng để tuyên truyền, chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta. Trước tình hình đó, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, nhận diện các luận điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội là nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa to lớn cả về lý luận và thực tiễn.

Muốn đấu tranh hiệu quả với các thế lực thù địch, phản động trên mạng xã hội, trước hết chúng ta cần nhận rõ nội dung các luận điểm sai tráimà các thế lực thù địch, phản động thường xuyên xuyên tạc, tuyên truyền trên mạng xã hội.

Một là, những luận điểm sai trái, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Trong những năm gần đây, các thế lực thù địch không ngừng sử dụng mạng xã hội để xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm gây mất ổn định để chống phá Đảng và Nhà nước ta, chống phá sự nghiệp xây dựng đất nước, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng.

Với chủ nghĩa Mác – Lênin, chúng thường xuyên đưa lên mạng xã hội những thông tin sai lệch, xuyên tạc, bịa đặt, cố tình phủ nhận những giá trị khoa học và cách mạng mà dựa vào đó Đảng Cộng sản Việt Nam đã làm nên những thắng lợi và khẳng định vai trò không thể thay thế trong sự nghiệp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Để thực hiện được âm mưu này, chúng thường xuyên đưa thông tin sai lệch, xuyên tạc về học thuyết giá trị thặng dư; hình thái kinh tế – xã hội; sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân; về giai cấp, đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội; về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản… Đây là những vấn đề lý luận cốt lõi,có liên quan trực tiếp đến việc xây dựng Cương lĩnh, hoạch định đường lối, quan điểm, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước ta.

Với tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng đưa lên mạng xã hội những thông tin sai lệch, xuyên tạc thông qua việc đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác – Lênin, hoặc phủ định, hạ thấp giá trị tư tưởng của Người đối với cách mạng Việt Nam. Để thực hiện những hoạt động này, các thế lực thù địch, chống đối đã tìm cách luận chứng Hồ Chí Minh là người dân tộc chủ nghĩa, đã sai lầm khi đưa chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam. Chúng cố tình lờ đi những giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người đã soi đường cho dân tộc ta và ảnh hưởng đến nhiều dân tộc khác trên thế giới trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc… Do đó, để đấu tranh phản bác có hiệu quả với những luận điệu xuyên tạc, sai trái này, chúng ta phải tổ chức, tập hợp được một lực lượng có trình độ chuyên môn cao, nghiên cứu sâu, có tính hệ thống về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Hai là, những luận điểm sai trái, xuyên tạc về cương lĩnh, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước và những thành tựu lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Âm mưu của các đối tượng chống đối là đưa lên mạng xã hội ngày càng nhiều thông tin xuyên tạc, sai lệch hòng làm giảm uy tín của Đảng, làm mất niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước. Âm mưu sâu xa của chúng là làm cho người tiếp nhận thông tin từ chỗ giảm sút niềm tin dẫn đến tâm trạng hoài nghi, thất vọng, rồi đi đến xa rời Đảng, không ủng hộ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và Nhân dân ta đã dày công vun đắp.

Ba là, những quan điểm sai trái, xuyên tạc về lịch sử dân tộc, lịch sử cách mạng; về uy tín, danh dự của cá nhân các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước nhằm chia rẽ khối đoàn kết trong Đảng, trong nhân dân.

Bốn là, những quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội về vấn đề dân chủ, dân tộc, tôn giáo, nhân quyền; về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại… của đất nước.

Các thế lực thù địch, phản động đưa lên mạng xã hội những thông tin vu cáo, xuyên tạc, bóp méo tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, ra sức tuyên truyền, cổ súy cho dân chủ tư sản phương Tây, chúng đòi Việt Nam phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Chúng cho rằng “Việt Nam phải đa đảng đối lập để có dân chủ thực sự”; chúng đòi Việt Nam phải xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp quy định về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam…

Các thế lực thù địch, chống đối lợi dụng mạng xã hội để thông tin xuyên tạc, sai lệch, bịa đặt về vấn đề dân tộc, tôn giáo ở nước ta để phá hoại khối đoàn kết dân tộc, gây rối loạn xã hội. Bên cạnh đó, chúng còn lợi dụng các phương tiện truyền thông, mạng xã hội để liên lạc, truyền bá, kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi; chia rẽ dân tộc đa số với dân tộc thiểu số và giữa các dân tộc thiểu số với nhau, giữa đồng bào theo các tôn giáo khác nhau… hòng làm suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Hơn nữa, chúng còn kích động các dân tộc thiểu số, tín đồ, chức sắc tôn giáo chống lại chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước; đối lập các dân tộc, các tôn giáo với sự lãnh đạo của Đảng, tìm cách vô hiệu hóa sự quản lý của Nhà nước đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội, gây mất ổn định chính trị – xã hội, nhất là ở vùng tập trung đông đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo…

Ngoài ra, lợi dụng sự nhanh nhạy của mạng xã hội, các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội, chống đối đã đưa thông tin sai lệch, suy luận võ đoán về các vụ việc xuất hiện trong đời sống xã hội để dẫn dắt dư luận xã hội theo hướng tiêu cực. Đặc biệt, chúng lợi dụng những vụ việc, vấn đề liên quan đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại… để xuyên tạc, bóp méo với mục đích chống phá sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước./.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về hoạt động lập pháp

Tư tưởng Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống yêu nước, kiên cường bất khuất; từ tinh thần tương thân tương ái, lòng nhân nghĩa, ý thức đoàn kết cộng đồng và ý chí vươn lên vượt qua mọi khó khăn thử thách của con người Việt Nam; là sự kết hợp các giá trị truyền thống của văn hóa phương Đông với các thành tựu hiện đại của văn minh phương Tây. Nếu như chủ nghĩa yêu nước là nguồn gốc ra đời thì Chủ nghĩa Mác - Lênin là nguồn gốc lý luận chủ yếu nhất cho sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật - một trong những nội dung cốt yếu trong kho tàng phong phú của hệ thống tư tưởng của Người - được hun đúc ngay từ tuổi thiếu niên đến trước ngày Người ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Từ khi hình thành đến năm 1969, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, trong đó có tư tưởng về hoạt động lập pháp, liên tục được Người bổ sung và phát triển làm cơ sở lý luận, kim chỉ nam cho hoạt động xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật ở nước ta.

Những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về hoạt động lập pháp được thể hiện qua quan điểm chính sau:

Thứ nhất, tư tưởng Hồ Chí Minh về sự bất khả xâm phạm của chủ quyền quốc gia, tính thiêng liêng của độc lập dân tộc

Hồ Chí Minh khẳng định bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia là tất yếu, là tuyệt đối và có ý nghĩa chiến lược, xuyên suốt quá trình cách mạng, chi phối đến các hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp, đến mọi lĩnh vực hoạt động từ kinh tế - xã hội đến chính trị, từ văn hóa đến khoa học, từ ngoại giao đến quân sự, quốc phòng, an ninh… của quốc gia, dân tộc. Theo Hồ Chí Minh, bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia là nhiệm vụ bắt buộc, là hành động tất phải thế, chứ không thể khác, có chăng chỉ con đường, biện pháp, cách thức để bảo vệ được sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia ở mỗi một thời điểm khác nhau mà thôi. Tính nhất quán đó xuất phát từ chính sự thiêng liêng của chủ quyền, lãnh thổ quốc gia với một dân tộc, bởi đó không chỉ là bảo vệ những giá trị hiện hữu như vùng đất, vùng trời, vùng biển - những thứ cha ông ta đã dày công xây dựng, gìn giữ và truyền lại - mà còn là bảo vệ những giá trị văn hóa, tinh thần phong phú, đa dạng, tốt đẹp có từ ngàn năm trên lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.

Độc lập dân tộc là tư tưởng chủ đạo, chi phối toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh, Người khẳng định: Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho tổ quốc tôi, đó là tất cả những gì tôi muốn, đó là tất cả những gì tôi hiểu. Theo Hồ Chí Minh, độc lập, tự do dân tộc phải thực sự, hoàn toàn, chứ không phải là thứ độc lập, tự do giả hiệu giống như "cái bánh vẽ" mà chủ nghĩa đế quốc nêu ra. Độc lập dân tộc phải được biểu hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, các quyền dân tộc, quyền con người phải được thực hiện trên thực tế. Độc lập dân tộc phải gắn liền với tự do của Nhân dân. Người chỉ rõ: "Nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập chẳng có nghĩa lý gì".

Tư tưởng của Người về chủ quyền quốc gia và độc lập dân tộc vẫn còn nguyên giá trị cho đến hôm nay. Đây là cơ sở ý thức hệ quan trọng cho mọi hoạt động của cơ quan nhà nước, cho ý chí, nguyện vọng của toàn thể nhân dân, là căn cứ, mục tiêu và động lực của hoạt động lập pháp ngày nay. Có thể dễ dàng nhận thấy, trong tâm thức mỗi người Việt Nam yêu nước vẫn còn vang vọng lời Bác dạy trong bản Tuyên ngôn độc lập: "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

Thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ quyền nhân dân, tất cả quyền lực đều thuộc về nhân dân, Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân

"Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam" - đó là tư tưởng nhất quán của Hồ Chí Minh. Quyền lực nhà nước là quyền lực của nhân dân, do nhân dân ủy thác cho các cơ quan trong bộ máy nhà nước. Vì vậy, Hồ Chí Minh cho rằng nhân dân có quyền kiểm soát đại biểu mà mình đã bầu ra. Người viết: "Nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân. Nguyên tắc ấy bảo đảm quyền kiểm soát của nhân dân đối với đại biểu của mình". Người căn dặn: "Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật".

Có thể khẳng định rằng, trong tư tưởng Hồ Chí Minh chữ “DÂN” được đặt vào vị trí tối thượng. Người luôn căn dặn: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Mọi việc lớn nhỏ đều nhằm làm điều lợi cho dân, tránh điều hại tới dân. Đem tài dân, sức dân để làm lợi cho dân, để mưu cầu hạnh phúc cho dân, bởi dân là chủ thể, dân là thước đo chân lý. Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý. Đối với Người, ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân - tức là phục tùng chân lý.

Thứ ba, tư tưởng Hồ Chí Minh về đề cao tính tối thượng của pháp luật - Trăm điều phải có thần linh pháp quyền.

Năm 1919, khi Hội nghị Hòa Bình Pa-ri họp tại Véc-xây, nhân danh nhóm người Việt Nam yêu nước, Hồ Chí Minh - lúc đó lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, đã gửi đến Hội nghị "Bản yêu sách của nhân dân An Nam" gồm 8 điểm với các nội dung đòi cải cách nền pháp lý ở Đông Dương, dành cho người bản xứ cũng được hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như mọi người châu Âu, và đặc biệt, đòi "thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật".

Ba năm sau, năm 1922, Yêu sách về quyền của người dân và chế độ pháp lý của Nhà nước với Hiến pháp ở vị trí tối thượng được Người khái quát, nâng lên thành tâm niệm linh thiêng, khắc khoải lòng người trong "Việt Nam yêu cầu ca":

          "Bảy xin Hiến pháp ban hành

          Trăm điều phải có thần linh pháp quyền".

Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy được mối quan hệ hữu cơ, máu thịt giữa quyền làm chủ xã hội, quyền dân chủ, tự do của nhân dân với Hiến pháp và các đạo luật, thấy được vai trò của Hiến pháp, của các đạo luật trong việc làm thay đổi tính chất của một chế độ chính trị. Với Hồ Chí Minh, thần linh pháp quyền không mơ hồ, xa xôi. Người đã nhận thức rằng, để xây dựng được Nhà nước pháp quyền, nơi mà mỗi người đều phải phục tùng và tôn trọng luật pháp, thì pháp luật phải có vị trí tối thượng như thần linh. Đây được coi như một bản Cương lĩnh lập hiến dẫn dắt con đường đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, thành lập Nhà nước dân chủ nhân dân, tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ tự do và quyền làm chủ của nhân dân; là sợi chỉ đỏ cho hoạt động lập pháp, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật của nước ta.

Thứ tư, tư tưởng Hồ Chí Minh về yêu cầu mục đích của pháp luật là phải nhân đạo, nhân văn, vì con người

Với lòng yêu nước thương dân vô hạn, Hồ Chí Minh luôn mong muốn xây dựng hệ thống pháp luật nhân đạo, nhân văn vì nhân dân lao động, vì con người sau khi đã giành được chính quyền. Với Người, pháp luật là do con người và vì con người, không theo kiểu pháp luật độc tôn. Pháp luật phải có tính hài hòa, giải quyết mối quan hệ giữa người với người, giữa người với công việc trên nền tảng có lý, có tình.

Hệ thống pháp luật mà Hồ Chí Minh mong muốn xây dựng là sản phẩm của chế độ có một "mục đích duy nhất là mưu tự do hạnh phúc cho mọi người… đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy". Ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3-9-1945, Người yêu cầu: "Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ” và chính Người đã chỉ đạo soạn thảo Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959 với những nội dung thể hiện đậm nét tính dân chủ, vì con người. Trong bài phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị Tư pháp toàn quốc năm 1950, Người chỉ rõ: "Pháp luật của ta hiện nay bảo vệ quyền lợi cho hàng triệu người lao động… Pháp luật của ta là pháp luật thật sự dân chủ, vì nó bảo vệ quyền tự do, dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động". Như vậy, trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, pháp luật sinh ra không vì một cái gì khác hơn là vì dân. Đây là nguyên tắc cơ bản cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật của nước ta từ khi giành độc lập cho đến tận hôm nay và mai sau.

Thứ năm, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn trọng pháp luật quốc tế

Tôn trọng pháp luật quốc tế là tầm nhìn rất xa và rộng của Hồ Chí Minh. Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta, Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn chủ trương đẩy mạnh mối quan hệ đoàn kết hữu nghị với nhân dân thế giới. Hồ Chí Minh nói: Đối với tất cả các nước trên thế giới, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thiết tha mong muốn duy trì tình hữu nghị và thành thật hợp tác trên cơ sở bình đẳng và tương trợ để xây dựng hòa bình thế giới lâu dài. Lời Người nói đã diễn đạt đầy đủ nguyện vọng, quan điểm và đường lối đối ngoại của Việt Nam lúc bấy giờ là duy trì tình hữu nghị, sự hợp tác chân thành với tất cả các nước trên thế giới dù có chế độ chính trị khác nhau, trên nguyên tắc bình đẳng và tương trợ lẫn nhau nhằm xây dựng hòa bình trên thế giới. Quan điểm của Người là nền tảng tư tưởng cho đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta và là cơ sở để các nước có chế độ chính trị khác nhau trên thế giới công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Đây chính là kim chỉ nam cho công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về đối ngoại và hội nhập của Việt Nam.

Thứ sáu, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo đảm dân chủ trong quá trình xây dựng pháp luật

 Trong xây dựng hệ thống pháp luật, Hồ Chí Minh rất chú trọng tính dân chủ. Theo Người, muốn có được hệ thống pháp luật như vậy, sự tham gia của nhân dân trong quá trình xây dựng pháp luật là điều kiện tiên quyết. Trong tác phẩm Thường thức chính trị, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Cách mạng tháng Tám thành công ta lập ra Chính phủ mới với “pháp luật mới của nhân dân để chống kẻ địch trong và ngoài, và để giữ gìn quyền lợi của nhân dân. Trong quá trình xây dựng Hiến pháp năm 1959, việc bảo đảm sự tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân vào xây dựng pháp luật được Người đặc biệt quan tâm. Để đảm bảo pháp luật thực sự của nhân dân, trong quá trình xây dựng Hiến pháp, Hồ Chí Minh yêu cầu: "Bản Hiến pháp chúng ta sẽ thảo ra… phải tiêu biểu được các nguyện vọng của nhân dân… Sau khi thảo xong, chúng ta cần phải trưng cầu ý kiến của nhân dân cả nước một cách thật rộng rãi. Có như thế bản Hiến pháp của chúng ta mới thật sự là một bản Hiến pháp của nhân dân, của chế độ dân chủ"

Hồ Chí Minh nhận định: "phải nhận thức cho tốt và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật"; "sự bình đẳng trong xã hội ở nơi pháp luật" và "dân chủ đúng đắn cũng ở nơi pháp luật". Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, xây dựng pháp luật phải hướng tới mục tiêu dân chủ, tiến bộ để từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật.

Từ những luận điểm nêu trên, có thể khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước, pháp luật nói chung, về hoạt động lập pháp nói riêng là tài sản tinh thần quý báu phải được gìn giữ, bảo vệ và phát huy trong sự nghiệp đổi mới và hội nhập, công nghiệp hóa và hiện đại hóa, phát triển nhanh và bền vững để xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền XHCN, góp phần củng cố, tạo nền tảng quan trọng cả về lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH của Việt Nam. Học tập, làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, trong đó có tư tưởng của Người về hoạt động lập pháp là trách nhiệm, nhiệm vụ trọng tâm và quyết tâm của toàn hệ thống chính trị, là mong mỏi, tâm huyết của toàn thể nhân dân.

Qua gần 76 năm xây dựng và phát triển của Nhà nước và sau 35 năm Đổi Mới, thế và lực của đất nước ta đã ở một tầm khác. Đời sống của đại đa số người dân - chủ nhân của đất nước có những thay đổi căn bản. Từ thôn quê tới đô thị đều mang một diện mạo mới mà chúng ta khó có thể hình dung vào những năm đầu của thời kỳ đổi mới.

Về hoạt động lập pháp, cho tới nay, đại đa số các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội đều có văn bản tầm luật điều chỉnh với hơn 230 bộ luật và luật đang có hiệu lực áp dụng. Chúng ta đã xây dựng được hệ thống pháp luật tương đối ổn định, đồng bộ, thống nhất, có sự gắn kết chặt chẽ với việc thực hiện các chỉ đạo, chủ trương của Đảng về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật; về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo nền tảng pháp lý bảo đảm quyền tự do kinh doanh, các quyền về an sinh xã hội của công dân, cải thiện môi trường kinh doanh, đầu tư và phát triển các lĩnh vực kinh tế - xã hội của đất nước, bảo đảm quyền, lợi ích của người dân và doanh nghiệp; ngày càng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội...  Những kết quả đó là thành quả của khát vọng, ý chí vượt khó vươn lên, sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về hoạt động lập pháp để xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật phục vụ sự nghiệp bảo vệ, phát triển đất nước và hội nhập quốc tế.

Mai Năm Mới (ST)

Các thế lực thù địch với âm mưu, thủ đoạn mới trong chiến lược “diễn biến hòa bình”

 

Đối với Việt Nam, các thế lực thù địch luôn tìm mọi âm mưu thủ đoạn để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, trong đó chúng xác định phá hoại tư tưởng để gây rối loạn về tư tưởng ở tất cả các đối tượng, từ cán bộ cấp cao cho đến những người dân là mũi nhọn, là con đường gần nhất dẫn tới sự xói mòn về niềm tin... Đây là thủ đoạn tinh vi, mới mẻ mà chúng đang rắp tâm thực hiện. Biểu hiện cơ bản sau:

Thứ nhất, chúng tìm cách tác động vào tư duy của con người, về những luận điệu lập lờ, lẫn lộn giữa hai mặt tích cực và tiêu cực; giữa tư tưởng xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa đến cán bộ, đảng viên; chúng đánh vào tư tưởng bằng những việc đơn giản, mang tính thực tế với người dân như các chế độ, chính sách, việc làm cụ thể liên quan đến đời sống của nhân dân ta để “so sánh” với các nước phương Tây; vấn đề tự do, dân chủ làm cho người dân thấy “xã hội Việt Nam đang có vấn đề”, dẫn đến hoài nghi, mơ tưởng một “xã hội khác tốt đẹp hơn”... nhằm mục đích thúc đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Khi đó, nếu cán bộ, đảng viên không vững vàng về tư tưởng dễ rơi vào bẫy “trò chơi dân chủ” của các thế lực thù địch dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong từng cán bộ, đảng viên; nếu không kịp thời phát hiện, khắc phục sẽ nhanh chóng biến đổi về chất, dẫn đến thay đổi quan điểm, tư tưởng, đạo đức, lối sống chuyển hóa sang lập trường tư tưởng phương Tây.

Thứ hai, công kích phân hóa nội bộ. Trước đây, các thế lực thù địch thường cứng nhắc công kích trực diện vào nền tảng tư tưởng, trắng trợn xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, đòi bỏ Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam… nhưng không đem lại hiệu quả; từ đó, các thế lực thù địch đã chuyển hướng từ công kích trực diện, cứng nhắc sang tác động phân hóa từ nội bộ, đây là sự điều chỉnh thủ đoạn chống phá trong tình hình hiện nay. Vì vậy, một mặt chúng công nhận thể chế chính trị, tăng cường mối quan hệ với Đảng và Nhà nước ta, mặt khác chúng tiếp tục kích động làm mâu thuẫn, phân hóa nội bộ đảng, tác động làm tha hóa từng người cán bộ, đảng viên, từng bộ phận người dân, thúc đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến” “tự chuyển hóa”, nhằm thực hiện mưu đồ phá hoại từ bên trong của hệ thống chính trị ở nước ta.

Thứ ba, nhằm vào các cán bộ, đảng viên cao cấp, sinh viên, đội ngũ trí thức. Các thế lực thù địch đang ra sức nhằm vào cán bộ, đảng viên cao cấp, chủ chốt bằng cách thổi phồng khuyết điểm, yếu kém của một số cán bộ, đảng viên sai phạm; chúng đánh đồng những phần tử cơ hội, quan liêu, tham nhũng với những cán bộ, đảng viên tốt làm cho có sự lẫn lộn, không phân biệt được giữa người tốt và người xấu. Đối với sinh viên và đội ngũ trí thức, chúng sử dụng nhiều biện pháp, cách thức trong đó chúng đẩy mạnh việc móc nối, lôi kéo sinh viên và đội ngũ trí thức, sinh viên học tập, công tác ở nước ngoài bằng cách tăng học bổng, liên kết đào tạo nhằm mục đích nuôi dưỡng để tập trung tuyên truyền, đào tạo, bồi dưỡng một lớp người có tư tưởng phủ định với Chủ nghĩa Mác-Lênin. Chúng cho rằng, đây là lực lượng quan trọng sau này về Việt Nam sẽ làm thay đổi chế độ ở nước ta. Đối với nhà văn, nhà báo, chúng thực hiện thủ đoạn: thông qua các hình thức hợp tác, đào tạo, hội thảo khoa học, triển lãm, tham quan… từ đó làm thay đổi nhận thức, quan điểm, tiếp cận lôi kéo những nhà báo, nhà văn trẻ có tư tưởng tự do, phóng khoáng, dễ giao lưu. Lợi dụng luật quốc tế tự do báo chí, xúc tiến thành lập cái gọi là “Hội nhà báo tự do”, kích động văn nghệ sỹ đòi tự do sáng tác, tự do công bố các tác phẩm văn hóa nghệ thuật, phản đối sự kiểm duyệt của các cơ quan quản lý Nhà nước; mua giấy phép xuất bản, mua các công trình phát sóng, hợp tác sản xuất các chương trình, ban đầu chỉ là về kỹ thuật chuyên ngành… với mục đích thay đổi nhận thức, cơ sở hóa quan điểm theo tiêu chí tự do dân chủ kiểu phương Tây. Đối với các tầng lớp nhân dân, chúng ra sức lợi dụng khả năng nhận thức của người dân có hạn, điều kiện cập nhật, tiếp cận những thông tin hạn chế để tác động vào tư tưởng với chiêu thức “Mưa dầm thấm lâu” như: tăng cường xuyên tạc, thổi phồng, cường điệu hóa, bóp méo sự thật, đưa ra những lời bình luận chỉ trích chính sách của Đảng và Nhà nước, đổi lỗi cho chính quyền, tập trung vào cán bộ, đảng viên… từ đó, tạo ra “khoảng trống” trong tư tưởng người dân, dẫn tới hoài nghi về chế độ với Đảng, Nhà nước; kích động, gây rối, biểu tình nhất là vào các thời điểm như đất nước gặp khó khăn, thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh, tham nhũng, tranh chấp chủ quyền biên giới, biển đảo của Tổ quốc... tạo ra những bức xúc trong nhân dân, gây mất đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân - dân, gây bè phái, cục bộ.

Trước những thủ đoạn mới diễn biến phức tạp, khó lường của các thế lực thù địch chống phá nước ta trên lĩnh vực tư tưởng, tác động đến tư tưởng của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân ta. Nhưng, trên thực tế chúng chưa đủ khả năng làm chuyển hóa hệ tư tưởng của ta theo ý đồ của chúng. Vì vậy, mỗi chúng ta cần phải hết sức cảnh giác, bình tĩnh tìm hiểu bản chất các sự việc; tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; đồng thời, không xem nhẹ cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng,… chắc chắn rằng chúng ta sẽ giành thắng lợi.

Nhận biết những cấp độ “biến chủng” của tin giả

 

Hiện nay, các thế lực thù địch, phần tử phản động triệt để khai thác, lợi dụng như một chiêu bài để chống phá Đảng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân trong bối cảnh cuộc chiến chống đại dịch Covid-19 theo diễn biến ngày càng phức tạp và cam go, bằng cách chúng phát tán những tin giả, sai sự thật trên các trang mạng xã hội, Internet… từ đó, lan truyền với tốc độ chóng mặt theo những “biến chủng” mới, nguy hiểm cả về cấp độ và tính chất. Cuộc chiến chống đại dịch Covid-19 ở nước ta diễn ra trong môi trường thông tin, truyền thông hiện nay, là mảng đề tài trọng tâm, chiếm phần lớn diện tích, lưu lượng thông tin của các phương tiện truyền thông đại chúng và mạng xã hội (MXH). Bên cạnh những thông tin chủ lưu về tình hình dịch bệnh, diễn biến, hiệu quả chống dịch ở các cấp, các ngành, các địa phương... không gian mạng liên tục xuất hiện tin giả. Hệ thống hóa những loại tin giả xuất hiện trên không gian mạng thời gian qua, chúng ta thấy rõ quy luật và những diễn biến của nó, giống như những “biến chủng” của loại virus nguy hiểm. Cụ thể:

Cấp độ 1, đối với đời sống kinh tế-xã hội - tin giả nhằm mục đích gây hỗn loạn thị trường, gây bất ổn đời sống nhân dân. Ví dụ: Trước khi thực hiện Chỉ thị 15 của Thủ tướng Chính phủ ở Thành phố Hồ Chí Minh, ngay lập tức xuất hiện tin giả, lan truyền về việc thị trường sẽ khan hiếm hàng hóa, giá cả sẽ tăng đột biến, làm cho một bộ phận người dân đổ xô đi mua hàng dự trữ, gây sốt giá cục bộ; khi Thành phố Hồ Chí Minh triển khai thực hiện Chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính phủ, cách ly xã hội toàn thành phố, những tin giả tương tự tiếp tục xuất hiệnvới sự tinh vi hơn theo kiểu tin từ “nội bộ cơ quan nhà nước”, giả mà như thật… từ đó, một bộ phận công chúng lại sa bẫy... Tuy nhiên, những tin giả dạng này được các cơ quan chức năng ngay lập tức lên tiếng bác bỏ và được chặn đứng kịp thời nên hậu quả đối với đời sống xã hội là không đáng kể. Trên thực tế, thị trường hàng hóa và hệ thống chuỗi cung ứng đến tận tay người tiêu dùng chính là bằng chứng sinh động, thuyết phục nhất chặn đứng sự lây lan, ảnh hưởng của những tin giả nói trên.

Cấp độ 2, khi đại dịch Covid-19 bùng phát ở nhiều tỉnh, thành phố phía Nam, số ca nhiễm ở tâm dịch Thành phố Hồ Chí Minh tăng lên từ 3 đến 4 con số mỗi ngày, các đối tượng tung tin giả lập tức tăng cấp độ như một “biến chủng” mới. Chúng chuyển hướng nhắm vào nỗi lo lắng, sợ hãi, bất an của người dân bằng thủ đoạn “lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia”. Những hình ảnh về cái gọi là “xác người chết vì Covid-19 chất đầy trong phòng” hay “người dân tự thiêu để phản đối công tác phòng, chống dịch Covid-19 ở Thủ Đức”, “Chống dịch hay chống dân”... từ đó làm cho người xem gây cảm giác rùng rợn, gây hoang mang, lo sợ và thiếu niềm tin vào Đảng, Nhà nước ta. Những kiểu tin giả như trên, các cơ quan chức năng đã nhanh chóng tìm ra sự thật, kịp thời lên tiếng bác bỏ, ổn định tình hình.

Bên cạnh những tin giả do một số đối tượng thực hiện nhằm mục đích vụ lợi, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đa số những dạng tin giả phát triển theo những “biến chủng” như trên đều có yếu tố nước ngoài. Khi nguồn tin giả được tán phát từ máy chủ đặt ở nước ngoài, hoặc của người dùng MXH hải ngoại, cơ quan chức năng chỉ xác định tính thực - hư của thông tin, rất khó để điều tra xử lý đối tượng tung tin giả. Đối với dạng tin giả do một số đối tượng cực đoan, chống đối trong nước thực hiện, dưới sự điều khiển, cấu kết của các thế lực bên ngoài, cơ quan chức năng đã kịp thời điều tra, xử lý nghiêm minh. Ví dụ: đối tượng Phan Vũ Điệp Anh, sinh năm 1961, ngụ tại phường 19, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, vừa bị Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận Bình Thạnh ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam hai tháng để điều tra theo Điều 331 Bộ luật Hình sự; Phan Vũ Điệp Anh - đối tượng tung tin giả về vụ “người dân tự thiêu để phản đối chính sách của Đảng, Nhà nước trong phòng, chống Covid-19”. Kết quả điều tra bước đầu của cơ quan chức năng cho thấy, Phan Vũ Điệp Anh là đối tượng thường xuyên có hành vi viết bài, tán phát các thông tin có nội dung chống phá Đảng, Nhà nước lên mạng xã hội... Những hành vi, vi phạm pháp lật của các đối tượng như Phan Vũ Điệp Anh cần được xử lý nghiêm khắc để tăng hiệu quả răn đe, siết chặt kỷ cương, tinh thần thượng tôn pháp luật của công dân.

“Giặc nội xâm” - “cần tiêu diệt”

 Chiến dịch “đốt lò” được chỉ chiến dịch phòng, chống tham nhũng mà người đứng đầu Đảng, Nhà nước ta khởi xướng từ năm 2016 và trực tiếp chỉ đạo. Cái lò thiêu tham nhũng đã mang lại kết quả chưa từng thấy từ trước đến nay, từ đó làm nức lòng nhân dân, củng cố lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã nhóm lên chiếc lò được cháy bằng ngọn lửa của lương tâm và công lý, quyết thiêu hủy cơn đại dịch tham nhũng và lạm quyền. Có lẽ những từ như: “nhóm lửa”, “đốt lò”, “củi khô”, “củi tươi”… thì người dân Việt Nam đã nhận ra ngay là được dùng để nói về cuộc đấu tranh không khoan nhượng với tệ nạn tham nhũng do Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng phát động và chỉ đạo ráo riết suốt gần 5 năm qua. Ban đầu cũng có không ít người có những hoài nghi nhất định về cuộc đấu tranh này. Nhưng càng ngày, động cơ, mục đích và tín hiệu càng sáng rõ. Đó là cuộc đấu tranh bằng tất cả tâm huyết của toàn Đảng toàn dân để đấu tranh không khoan nhượng “một mất, một còn” để tiêu diệt cho bằng hết “giặc nội xâm” vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Như chúng ta đã biết, chưa bao giờ việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng được bàn và thực hiện quyết liệt như lúc này. Bởi ai cũng hiểu tham nhũng là mối đại họa làm hao mòn nguồn lực, làm suy sụp rường cột quốc gia, làm băng hoại đạo đức đảng viên - những người vốn được dân tin, dân yêu vì đạo đức trong sáng, quên mình vì dân, vì nước. Vào thời điểm bấy giờ, hơn ai hết Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nhìn ra mối nguy cơ của đại dịch tham nhũng, bằng tất cả dũng khí và sự tính toán chu đáo, đã phất lên ngọn cờ tiêu diệt bằng được nạn tham nhũng lộng quyền. Ai đó có thể thích hay không thích với cách nói của một vài tờ báo về “Người đốt lò vĩ đại - Nguyễn Phú Trọng”, có thể ai đó lúc đầu còn không ít lời bàn ra tán vào, còn tỏ ra hoài nghi về tính khả thi của nó, nhưng rõ ràng, cái lò thiêu tham nhũng do người đứng đầu Đảng nhóm lên, sau những năm ra tay quyết liệt, cùng với sự chung tay của toàn dân, đã có câu trả lời thỏa đáng, theo đánh giá của Trung ương cụ thể là:

Từ năm 2013 đến nay, các cơ quan tố tụng trong cả nước đã khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm hơn 11.700 vụ án tham nhũng, chức vụ, kinh tế, trong đó có 1.900 vụ án tham nhũng, với gần 4.400 bị cáo. Riêng Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng đã đưa vào theo dõi, chỉ đạo hơn 800 vụ án, vụ việc ở 3 cấp độ, trong đó trực tiếp theo dõi, chỉ đạo 133 vụ án, 94 vụ việc tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm, đã đưa ra xét xử sơ thẩm 86 vụ án, 814 bị cáo, trong đó có 18 cán bộ diện Trung ương quản lý bị xử lý hình sự (01 Ủy viên Bộ Chính trị, 07 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, 04 bộ trưởng, nguyên bộ trưởng, 07 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang...).

Kết quả phát hiện và xử lý tham nhũng trong thời gian qua càng chứng tỏ chúng ta đã thực hiện rất nghiêm tư tưởng chỉ đạo, quan điểm: “Nói đi đôi với làm, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai, không chịu sức ép của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào”. “Người đốt lò vĩ đại” đã nhóm lên chiếc lò được cháy bằng ngọn lửa của lương tâm và công lý, quyết thiêu hủy bằng được cơn đại dịch tham nhũng và lạm quyền. Tinh thần đấu tranh quyết liệt đó đã dần lấy lại niềm tin với dân về một đảng cầm quyền trong sạch, không tham nhũng, hết lòng vì nước vì dân. Dẫu biết rằng phải kỷ luật, phải truy tố những người từng là đồng chí là điều hết sức khó khăn, đau đớn, nhưng vì một cơ thể khỏe mạnh, không thể không cắt bỏ những gì đã là ung nhọt. Không chỉ nguyên lãnh đạo các tập đoàn, các ngân hàng lớn mà cả một số người là lãnh đạo, nguyên lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước, đại biểu QH, Anh hùng LLVT, AHLĐ, thậm chí là ở những lĩnh vực được coi là “nhạy cảm” như công an, quân đội, hễ dính đến tham nhũng thì đều đã và đang đối mặt với pháp luật. Rõ ràng, cuộc chiến chống tham nhũng của Đảng là không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Bất kể ai, một khi tay đã nhúng chàm thì phải bị xét xử nghiêm minh.

Biến chủng Delta: Đe dọa phá vỡ ''phòng tuyến'' chống dịch toàn cầu

Sau 8 tháng được phát hiện lần đầu tiên tại Ấn Độ, biến chủng Delta của vi rút SARS-CoV-2 đã lây lan tới hơn 140 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới và chiếm hầu hết số ca bệnh liên quan tới Covid-19. Tốc độ lây lan cũng như mức độ nguy hiểm của biến chủng này đang đe dọa phá vỡ "phòng tuyến" chống dịch toàn cầu.

Theo các chuyên gia của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), biến chủng Delta đang khiến cả thế giới lo ngại vì khả năng lây lan nhanh. Dù các loại vắc xin hiện có được cho là vẫn hiệu quả với biến chủng này nhưng tính hiệu quả đó không cao đối với những người mới chỉ tiêm 1 mũi vắc xin. Đáng chú ý hơn, biến chủng Delta lây lan nhanh nhất ở những người dưới 30 tuổi, nhóm dân số có tỷ lệ tiêm chủng phòng Covid-19 thấp nhất ở hầu hết quốc gia.

Ngoài tốc độ lây lan, biến chủng Delta còn có khả năng tiêu diệt tế bào mạnh mẽ hơn hẳn các biến chủng phát triển trước đó. Điều này cho phép nó đột phá thành công "hàng rào phòng vệ miễn dịch" ở người.

Tại châu Âu, biến chủng Delta chiếm tới 70% số các ca mắc mới. Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh châu Âu (ECDC) dự báo, số bệnh nhân Covid-19 sẽ tiếp tục tăng và có thể cao hơn gấp đôi trong 4 tuần tới, đặc biệt ở người trẻ tuổi. Điều này làm dấy lên lo ngại biến chủng mới có thể cản trở những nỗ lực mà Liên minh châu Âu (EU) đã đạt được thời gian gần đây trong việc giảm ca mắc và tử vong do Covid-19.

Đông Nam Á - khu vực chịu ít ảnh hưởng khi đại dịch mới bùng phát đầu năm 2020 - đang trở thành tâm dịch Covid-19 mới của thế giới cũng do sự lây lan mạnh mẽ của biến chủng Delta. Số ca bệnh tại các nước: Indonesia, Thái Lan, Malaysia, Philippines liên tục tăng ở mức kỷ lục, khiến hệ thống y tế đứng trước nguy cơ khủng hoảng do thiếu ô xy, thuốc men, trang thiết bị y tế và nguồn nhân lực trong các bệnh viện.

Tại Việt Nam, gần đây nhất, Chính phủ đã thống nhất ban hành Nghị quyết số 86/NQ-CP về các giải pháp cấp bách phòng, chống dịch bệnh Covid-19 với mục tiêu tiếp tục tập trung ngăn chặn, đẩy lùi, tiến tới kiểm soát tốt dịch, không để xảy ra khủng hoảng y tế, kinh tế - xã hội. Theo đó, các biện pháp giãn cách xã hội tiếp tục triển khai nghiêm ngặt, quyết liệt hơn; thực hiện đồng bộ xét nghiệm, chăm sóc, điều trị để giảm tối đa tử vong; khẩn trương tổ chức tiêm vắc xin, bảo đảm tiến độ nhanh nhất, an toàn, hiệu quả...

Theo Tổng Giám đốc WHO Tedros Adhanom Ghebreyesus, những thành quả chống dịch mà thế giới đã phải rất khó khăn mới giành được đang bị mất đi và hệ thống y tế ở nhiều quốc gia đang bị quá tải do số ca nhiễm tăng. Sự xuất hiện của biến chủng Delta đòi hỏi cần thêm nhiều nỗ lực hợp tác cùng tinh thần đoàn kết toàn cầu mới có thể đẩy lùi mối nguy hiểm này.


Đừng đi ngược lại với giáo lý và đạo lý

Là quốc gia đa tôn giáo, tuy nhiên, trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các tôn giáo tại Việt Nam luôn đoàn kết, sát cánh bên nhau, hoạt động bình đẳng, công khai theo quy định của pháp luật. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, các giáo dân luôn một lòng phụng sự Tổ quốc, phụng vì nhân dân. Sống tốt đời, đẹp đạo, kính chúa, yêu nước. Tuy nhiên, cá biệt vẫn có những kẻ lợi dụng tự do tôn giáo để gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nguy hiểm hơn, chúng cấu kết với các phần tử phản động, cơ hội ở trong và ngoài nước để chống Đảng, hòng phá vỡ thành quả cách mạng của nhân dân ta.

Nhìn nhận, phân tích khách quan, toàn diện, lịch sử, phát triển những việc mà hai vị linh mục này làm, chúng ta thấy, họ không những coi thường pháp luật,  giáo luật, bất chấp giáo lý, đạo lý tốt đẹp mà họ còn đi ngược lại với Thư Chung năm 1980 của Hội đồng Giám mục Việt Nam, rằng “Người công giáo phải gắn bó với vận mạng quê hương, noi theo truyền thống dân tộc, hoà mình vào cuộc sống hiện tại của đất nước, cùng chia sẻ một cộng đồng sinh mạng với dân tộc mình”.

Những năm qua, các tôn giáo ở Việt Nam luôn đoàn kết, gắn bó, cùng toàn dân tộc vượt qua khó khăn, thách thức, trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân, cùng nhau xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh hơn.

Trong bất cứ hoàn cảnh nào của đất nước, đặc biệt là ngày nay, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn khẳng định chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo,  đồng thời quan tâm, tạo điều kiện để các tôn giáo hoạt động đúng quy định của pháp luật, đúng đường hướng hành đạo của giáo hội, bảo đảm nhu cầu chính đáng về tín ngưỡng, tôn giáo và phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của mỗi tôn giáo; tích cực động viên mọi nguồn lực xã hội và hiện thực hóa đường hướng hành đạo đồng hành cùng dân tộc. Bên cạnh đó, không chỉ Đảng, Nhà nước mà toàn dân, toàn quân ta đặc biệt là các giáo dân yêu nước đều bất bình, lên án với những hành vi đi ngược lại với giáo luật, giáo lý, đạo lý của các linh mục trên. Những việc làm của họ rồi sẽ phải chịu sự trừng phạt nghiêm minh của pháp luật Việt Nam. Đây cũng là bài học cho chúng ta để từ đó chủ động và tích cực đấu tranh với những mưu đồ đen tối, những kẻ đội lốt tôn giáo. Cùng nhau xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, bảo vệ và phát triển thành quả cách mạng, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Cảnh giác với chiêu trò mạo danh để chia rẽ nội bộ Quân đội

Gần đây, các thế lực thù địch, phản động gia tăng sử dụng những thủ đoạn mạo danh cán bộ có uy tín, nhất là một số cán bộ lão thành, tướng lĩnh Quân đội có nhiều đóng góp cho cách mạng để chống phá, chia rẽ nội bộ Quân đội; sâu xa hơn chúng hòng tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, chia rẽ mối đoàn kết máu thịt giữa Quân đội với nhân dân, gây nghi kỵ lẫn nhau, mất đoàn kết nội bộ. Tuy vẫn là những chiêu trò không mới như viết đơn thư tố cáo theo kiểu “ném đá giấu tay” bịa đặt, vu khống và hạ thấp danh dự, uy tín của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội… nhưng chúng ta vẫn cần cảnh giác cao độ trước những chiêu trò này.

Để kịp thời đấu tranh, phản bác với các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lợi dụng việc phán tán bức thư để bôi nhọ, hạ thấp uy tín của các tướng lĩnh và chống phá Quân đội; các cơ quan, đơn vị đẩy mạnh các biện pháp giáo dục, thông tin tình hình, định hướng tư tưởng đối với cán bộ, chiến sĩ và các tầng lớp nhân dân trên địa bàn đóng quân nhận thức sâu sắc bản chất vụ việc. Khẳng định những đóng góp to lớn của các đồng chí cán bộ, tướng lĩnh Quân đội trong đấu tranh giành độc lập dân tộc và trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Cùng với đó, chúng ta phản bác quan điểm của các thế lực thù địch cho rằng để người ngoài can thiệp vào công việc nội bộ của Quân đội, nhất là công tác cán bộ - đây là quan điểm sai trái, xuyên tạc, hạ thấp uy tín, danh dự cán bộ cấp cao và truyền thống tốt đẹp của Quân đội ta.

Có thể khảng định rằng, công tác cán bộ trong Quân đội những năm qua đều quán triệt, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; bảo đảm công tác cán bộ được thực hiện dân chủ, khách quan, công tâm, lựa chọn đúng người có đủ phẩm chất, năng lực theo tiêu chuẩn quy định. Công tác cán bộ được thể chế, cụ thể hóa bằng quy chế, quy định, quy trình, bảo đảm dân chủ, chặt chẽ hơn. Các khâu: quản lý, đánh giá, tuyển chọn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng và thực hiện chính sách cán bộ được cấp ủy và tổ chức đảng dân chủ bàn bạc và quyết định theo đa số; sự phân cấp trong công tác cán bộ được nhận thức và thực hiện tốt. Việc dân chủ, công khai lựa chọn, giới thiệu những người có đủ đức, đủ tài để điều động, bổ nhiệm ở tất cả các vị trí được thực hiện có hiệu quả. Nguyên tắc tập trung, dân chủ trong công tác cán bộ của Quân đội đã được phát huy cao hơn bởi có sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng. Đây là nguyên tắc bất di, bất dịch, tạo nên sức mạnh vô địch, đảm bảo cho Quân đội trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân.

Chiêu trò nguy hiểm

        Cách đây vài tháng, Công an tỉnh Đắc Lắc vừa xử lý vụ xô xát giữa một số người dân và lực lượng Cảnh sát giao thông, Cảnh sát cơ động. Vụ việc ban đầu rất đơn giản, trong quá trình tuần tra, lực lượng chức năng phát hiện một trường hợp vi phạm giao thông nhưng đối tượng này không chấp hành hiệu lệnh mà chạy vào nhà dân kích động nhiều thanh niên trên địa bàn ra gây xô xát, dẫn đến thanh niên kia bị thương. Tuy vậy, trên mạng xã hội, kẻ xấu đã kịp kích động lên thành sự việc công an đánh người bị thương, từ đó kêu gọi người dân tiếp tục phản kháng, thậm chí phải bắt người để đòi điều kiện. Họ cố tình lu loa biến sự việc nhỏ thành mâu thuẫn giữa lực lượng công an với nhân dân, biến những sự việc dân sự-hành chính thành hình sự, gắn với những vấn đề chính trị nhạy cảm.

        Ở các lĩnh vực khác, gần đây xảy ra liên tiếp các trường hợp nạn nhân bị người dân địa phương bao vây đánh hay đập nát ô tô rồi châm lửa đốt, chỉ vì nghi ngờ những nạn nhân này đến địa phương để bắt cóc trẻ em. Thậm chí những đối tượng trộm chó cũng bị người dân một vài địa phương bức xúc đánh đập, có trường hợp bị chết. Đó là những sự việc tưởng như không liên quan gì đến chính trị nhưng đã được nhiều trang mạng xã hội chia sẻ kèm theo những kích động người dân thực hiện trào lưu “tự xử”. Họ lu loa rằng, lực lượng chức năng, cơ quan công quyền giờ đây không quan tâm, không bảo vệ dân, người dân cần “tự xử” để đòi lấy sự công bằng. Họ cố tình hạ thấp uy tín, vai trò các cơ quan pháp luật và cổ xúy, thổi phồng vai trò của “xã hội dân sự” như liều thuốc vạn năng để giải quyết mọi bức xúc trong đời sống xã hội.

        Thậm chí, họ còn kêu gọi phải có nhiều hơn nữa những “mô hình” người dân tạm giữ cán bộ, công chức để đòi giải quyết các vấn đề bức xúc như việc cắt điện ở Thái Bình, khiếu kiện ở Hà Tĩnh, đòi đất rừng ở Bắc Giang… Những hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng, chống người thi hành công vụ này được tung hô bằng những mỹ từ đao to búa lớn như: “Vượt qua nỗi sợ hãi”, “giai cấp nông dân đã trưởng thành”, “cuộc tập dượt cho cách mạng màu”, “sức mạnh của xã hội dân sự”.

       Cùng với việc nêu cao tinh thần cảnh giác thì mỗi người cũng cần phải nâng cao hiểu biết pháp luật, xây dựng nếp sống thượng tôn pháp luật, tôn trọng các cơ quan công quyền, cơ quan bảo vệ pháp luật; đấu tranh với những hành vi sai trái, bảo vệ quyền lợi của mình nhưng phải đúng pháp luật. Không thể vì sự bức xúc mà thiếu bản lĩnh, chủ quan, để kẻ xấu lôi kéo, mua chuộc, tiếp tay cho những hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước.

        Về phía các cơ quan chức năng, cơ quan pháp luật, cần làm tốt hơn nữa việc tuyên truyền vận động nhân dân cảnh giác trước những âm mưu, thủ đoạn dụ dỗ, lôi kéo người dân vi phạm pháp luật. Nhưng trước hết, các cơ quan đó cần phải nêu cao trách nhiệm, làm tròn chức trách nhiệm vụ của mình, giải quyết có trách nhiệm và thỏa đáng những vướng mắc, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của người dân; không để tồn tại nhiều kẽ hở để kẻ xấu lợi dụng, kích động.

Đẩy lùi âm mưu nguy hiểm

    Trong nhiều vụ gần đây, nhiều người dân bị kích động quá khích bao vây trụ sở, công sở hay bắt giữ người trái phép là vi phạm pháp luật nghiêm trọng, có thể bị điều tra, truy tố, xét xử đã được Bộ luật Hình sự quy định rõ. Pháp luật cho phép người dân được quyền kiến nghị, khiếu nại, tố cáo; việc kiến nghị, khiếu nại, tố cáo phải được thực hiện bằng đơn, bằng văn bản và phải tập hợp các chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình. Đây là một cách tốt nhất để người dân bị xâm hại thực hiện quyền con người, quyền công dân đã được Hiến pháp công nhận, tôn trọng và bảo đảm. Người dân không nên nghe theo sự xúi giục của kẻ xấu, làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của các cơ quan chức năng, ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Nếu không cảnh giác, người dân còn có thể vô hình trung vi phạm pháp luật nghiêm trọng hơn khi tiếp tay cho các thế lực phản động. Người dân cũng cần phân biệt việc kiến nghị giải quyết các vướng mắc, bức xúc về quyền lợi không liên quan đến các phong trào kêu gọi “dân chủ, nhân quyền”, chống phá Đảng, Nhà nước mà các đối tượng xấu kêu gọi, kích động để không mắc mưu tham gia.

    Cùng với việc nêu cao tinh thần cảnh giác thì mỗi người cũng cần phải nâng cao hiểu biết pháp luật, xây dựng nếp sống thượng tôn pháp luật, tôn trọng các cơ quan công quyền, cơ quan bảo vệ pháp luật; đấu tranh với những hành vi sai trái, bảo vệ quyền lợi của mình nhưng phải đúng pháp luật. Không thể vì sự bức xúc mà thiếu bản lĩnh, chủ quan, để kẻ xấu lôi kéo, mua chuộc, tiếp tay cho những hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước.

    Về phía các cơ quan chức năng, cơ quan pháp luật, cần làm tốt hơn nữa việc tuyên truyền vận động nhân dân cảnh giác trước những âm mưu, thủ đoạn dụ dỗ, lôi kéo người dân vi phạm pháp luật. Nhưng trước hết, các cơ quan đó cần phải nêu cao trách nhiệm, làm tròn chức trách nhiệm vụ của mình, giải quyết có trách nhiệm và thỏa đáng những vướng mắc, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của người dân; không để tồn tại nhiều kẽ hở để kẻ xấu lợi dụng, kích động.

 

Không để sự bức xúc và thiếu hiểu biết bị lợi dụng

    Tòa soạn Báo Quân đội nhân dân từng nhận được đơn, thư của một số công dân phản ảnh, kiến nghị những vụ việc bức xúc, kéo dài mà không được giải quyết liên quan đến chế độ người có công, sở hữu đất đai, tố cáo cán bộ địa phương vi phạm… Song ở một vài vụ việc, người đứng đơn còn liên tiếp tung lên mạng xã hội những bài viết bức xúc, thậm chí có phần quy kết chính quyền một cách thiếu căn cứ. Thế nhưng sau đó, các trang mạng xã hội và trang web ở nước ngoài liên tiếp đăng tải, chia sẻ các đơn, thư, bài viết của người dân. Có người đứng đơn còn cho biết, họ được cả những đài báo nước ngoài và cả những người xưng là luật sư, nhà dân chủ gọi tới cho biết sẽ sẵn sàng giúp đỡ, tư vấn, đăng tải… Họ ca ngợi những người đứng đơn là dũng cảm, thậm chí còn gửi thư, ngoài bì thư phong cho một nữ công dân là “anh hùng” dù cô mới chỉ có một bài viết bày tỏ nỗi bức xúc của mình trên trang cá nhân. Họ còn “vẽ đường cho hươu chạy”, kích động người dân làm băng rôn, khẩu hiệu, tụ tập đông người kéo đến các cơ quan pháp luật gây sức ép thì mới thành công. Lợi dụng sự bức xúc của người dân về những vấn đề dân sinh thiết thân của họ, kẻ xấu đã kích động họ dần ngả sang các mưu đồ chính trị đen tối, hỗ trợ cho các hoạt động chống phá chính quyền.

    Dư luận xã hội từng biết đến “nhà dân chủ” Phạm Đoan Trang, một đối tượng chống đối chính quyền, vi phạm pháp luật nhưng luôn kích động, lôi kéo người khác tham gia vào con đường sai trái, vào “phong trào dân chủ”. Đối tượng này từng viết: “Các bạn biết không, một trong các lý do thúc đẩy một số blogger, trong đó có tôi, viết nhiều điều chỉ trích Đảng và Nhà nước cộng sản ở Việt Nam, là bởi vì chúng tôi mong muốn thấy độc giả bước ra khỏi nỗi sợ hãi. Chắc chắn là rất, rất nhiều, đại đa số dân Việt Nam, hiện vẫn nghĩ rằng “viết lách trên mạng, comment, like, share linh tinh trên mạng rồi có ngày đi tù”. Phạm Đoan Trang lớn tiếng kích động rằng: “Nhưng các bạn thấy đấy, đã có nhiều blogger lên tiếng phản biện, chỉ trích Nhà nước về các chính sách công, thậm chí chửi thẳng vào chế độ, mà có… đi tù đâu? Nói một cách ngắn gọn là: Cái thời chỉ viết không thôi cũng đủ đi tù đã qua rồi. Đi tù không dễ đâu!”.

    Đó là những luận điệu và chiêu trò hết sức nguy hiểm. Nó dễ khiến cho những người thiếu hiểu biết pháp luật và dễ ngộ nhận, thích làm “anh hùng bàn phím” sẽ đơn giản hóa, không phân biệt được tự do ngôn luận với hành vi lợi dụng quyền tự do, dân chủ xâm hại lợi ích của tổ chức và cá nhân theo Điều 258 Bộ luật Hình sự, thậm chí vi phạm các tội xâm phạm an ninh quốc gia theo các Điều 78, 79, 87, 88 Bộ luật Hình sự… mà người vi phạm đơn giản, không hay biết. Luận điệu “đi tù không dễ” là hoàn toàn ngụy biện vì trên thực tế ở Việt Nam, mỗi công dân đều có quyền tự do ngôn luận, tự do phản biện xã hội trên mạng xã hội hay báo chí, truyền thông. Nhưng cũng có rất nhiều trường hợp lợi dụng quyền tự do, dân chủ vi phạm pháp luật nghiêm trọng và đã bị xử lý hình sự. Đã có không ít đối tượng phải ngồi tù vì những hành vi này gắn với việc thực hiện âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân. 

Trung đoàn 923 Quân chủng PKKQ hỗ trợ Quận 10, TP Hồ Chí Minh các trang thiết bị y tế phòng, chống dịch COVID-19

Ngày 14-8, thông qua Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Quận 10, TP Hồ Chí Minh, Trung đoàn 923 (Sư đoàn 371) đã gửi tặng cấp ủy, chính quyền và nhân dân Quận 10 các trang thiết bị y tế hỗ trợ công tác phòng, chống dịch COVID-19 trị giá 50 triệu đồng.

Các trang, thiết bị y tế mà cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 923 gửi tặng gồm: 4 máy tạo oxy và 10.000 khẩu trang N95 (trị giá 50 triệu đồng). Các trang thiết bị này sẽ được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Quận 10 tiếp nhận và bàn giao cho các cấp ủy, chính quyền địa phương và nhân dân trên địa bàn Quận để phục vụ công tác phòng, chống dịch COVID-19.

Đây là những việc làm có ý nghĩa thiết thực, thể hiện tình cảm, trách nhiệm với cộng đồng của cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 923, góp phần đồng hành, chia sẻ với cấp ủy, chính quyền và nhân dân TP Hồ Chí Minh trong cuộc chiến chống dịch COVID-19.


Trung đoàn 64 hỗ trợ nhân dân trên địa bàn đóng quân phòng, chống dịch COVID-19

Vừa qua, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 64, Sư đoàn 361 đã có những hành động thiết thực thể hiện tình cảm, trách nhiệm, chung tay cùng cộng đồng san sẻ yêu thương, góp phần giúp nhân dân trên địa bàn Hà Nội và Hòa Bình vượt qua khó khăn trong đại dịch.

Trung đoàn đã trao tặng các gia đình gặp khó khăn và lực lượng làm nhiệm vụ tại các chốt phòng, chống dịch COVID-19 trên địa bàn TP Hà Nội và tỉnh Hòa Bình 200kg gạo, 500kg rau xanh, 60 thùng mì tôm, 20 thùng nước lọc, nước ngọt và các loại nhu yếu phẩm: nước mắm, mì chính, dầu ăn Cùng với đó, đơn vị đã phối hợp với địa phương trên địa bàn đóng quân tổ chức tiêm vaccine ngừa COVID-19 cho 100% cán bộ, chiến sĩ.


Thêm 20 người tại Hà Nội dương tính với nCoV

Theo thông tin từ Sở Y tế Hà Nội sáng 16/8, các trường hợp mới được phát hiện nhiễm SARS-CoV-2 gồm:

Tại khu vực có nguy cơ cao là Chương Dương, Hoàn Kiếm, qua xét nghiệm sàng lọc, thành phố phát hiện 2 trường hợp dương tính với SARS-CoV-2 gồm T.T.L.T. (nữ, 47 tuổi) và N.P.U. (nữ, 17 tuổi).

Bên cạnh đó, Hà Nội cũng vừa ghi nhận thêm hai vợ chồng trú tại Văn Miếu, Đống Đa, nhiễm virus là ông P.T. (77 tuổi) và bà N.T.Y. (69 tuổi). Ngày 15/8, ông T. bị ngã chấn thương vùng đầu và được bà Y. đưa đến Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn khám. Hai người đều có kết quả test nhanh và rRT-PCR dương tính với nCoV.

Ngoài những trường hợp trên, nhóm còn lại đều là F1, liên quan F0 được phát hiện qua sàng lọc trước đó. Họ có độ tuổi từ 1 đến 58, trú tại các khu vực: Yên Phụ (Tây Hồ); Đông Anh, Kim Chung, Uy Nỗ, Nam Hồng (Đông Anh); Liên Ninh (Thanh Trì) và Quang Trung (Hà Đông).

Từ khi đợt dịch thứ 4 bùng phát (ngày 27/4), Hà Nội đã ghi nhận tổng cộng 2.222 trường hợp nhiễm SARS-CoV-2. Trong đó, 1.204 người được phát hiện ngoài cộng đồng, 1.018 trường hợp còn lại đã cách ly.

Ngoài ra, 190 trường hợp liên quan các ổ dịch tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, Bệnh viện K trên địa bàn cũng được Bộ Y tế công bố trước đó.

Từ ngày 9/8, Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật Hà Nội đã phối hợp với các đơn vị liên quan lấy mẫu xét nghiệm đợt 1 cho 300.000 người. Trong đó, 186.000 mẫu là người sống trong khu vực nguy cơ và 114.000 mẫu là người thuộc nhóm đối tượng nguy cơ cao. Thông qua chiến dịch này, thành phố đã phát hiện tổng cộng 31 trường hợp dương tính với SARS-CoV-2.