Thứ Ba, 5 tháng 10, 2021

 

BỆNH "SUY BÌ" TRONG NỘI BỘ CẦN LOẠI BỎ

THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 

Theo chủ tich Hồ Chí Minh, một trong số những “kẻ thù hung ác” của đạo đức cách mạng, của xã hội chủ nghĩa là bệnh suy bì. Người Sớm nhận ra những biểu hiện, tính nguy hại của bệnh “suy bì”, tị nạnh; từ đó Bác đã có những phân tích thấu đáo về nguyên nhân, chỉ ra biện pháp khắc phục. Những lời căn dặn vẫn còn tính thời sự cho đến hôm nay.

Ngay từ rất sớm, trong quá trình xây dựng Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo rõ tác hại của tính suy bì. Nói chuyện với hội nghị cán bộ toàn tỉnh Nghệ An (ngày 14/6/1957), Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đầu óc tư tưởng người đảng viên là đưa hết tinh thần, lực lượng phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng. Thế nhưng, một nửa phục vụ nhân dân, một nửa lại suy tị, như thế là chưa toàn tâm, toàn lực, là chưa xứng đáng tư cách của người đảng viên”. Như vậy, theo Người, tư cách của người đảng viên không cho phép tồn tại bệnh “suy bì”. Không những vậy, Người còn nhận diện rõ những biểu hiện “lâm sàng” của bệnh “suy bì” trong từng lĩnh vực, từng đối tượng khác nhau, cụ thể:

Đối với cán bộ, đảng viên nói chung, Người giải thích rằng: “Khuyết điểm thứ hai là suy bì đãi ngộ và địa vị. Suy bì tức là so sánh, mà so sánh có nên không? Nên. Nhưng biết so sánh như thế nào cho tốt, so sánh như thế nào là không tốt. Đảng, Trung ương rất cảm thông với các đồng chí, nhất là các đồng chí ở xã gặp khó khăn nhiều, về sinh hoạt tinh thần cũng như vật chất. Nói về so sánh thì nên so sánh nhưng chúng ta cần phải so sánh với những đồng chí, những cán bộ có đạo đức cách mạng hơn mình, lập trường tư tưởng vững hơn mình, tác phong dân chủ và tinh thần trách nhiệm hơn mình. So sánh với những đồng chí như thế để mà học, để mà tiến bộ. Thế là nên so sánh. Còn so sánh về vật chất thì ngược lại nên so sánh với những đồng chí cố nông, bần nông, với những đồng bào thiểu số”. “... Nên so sánh nhưng chúng ta cần phải so sánh với những đồng chí, những cán bộ có đạo đức cách mạng hơn mình, lập trường tư tưởng vững hơn mình, tác phong dân chủ và tinh thần trách nhiệm hơn mình... Còn so sánh về vật chất thì ngược lại nên so sánh với những đồng chí cố nông, bần nông, với những đồng bào thiểu số”.

Đối với cán bộ, chiến sĩ quân đội, Người chỉ rõ: “Có một số cán bộ, chiến sĩ có óc công thần, cho ta đây có thành tích, lâu năm, cho ta là trời, sa xuống cái hố cá nhân chủ nghĩa, suy bì đãi ngộ, quên rằng mọi cán bộ, mọi chiến sĩ quân đội nhân dân phải hết lòng phục vụ, không nên một nửa thì phục vụ, một nửa thì suy bì ghen tị”

Đối với cán bộ, giáo viên, Người phê bình: “Công tác bình dân học vụ tuy không có gì tiếng tăm lừng lẫy, không kêu nhưng rất vẻ vang. Chớ đứng núi này trông núi nọ. Chớ có tư tưởng bỏ bình dân học vụ đi học kỹ thuật, đi dạy trường phổ thông, đi làm nghề khác là không đúng”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, bệnh “suy bì” của cán bộ, đảng viên có căn nguyên chủ quan là từ chủ nghĩa cá nhân, trong Bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ III của Đoàn thanh niên Lao động Việt Nam, ngày 24/3/1961, Người giải thích rõ: “Chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích riêng của mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể. “Miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy”. Nó là mẹ đẻ ra tất cả mọi tính hư nết xấu như: lười biếng, suy bì, kiêu căng, kèn cựa, nhút nhát, lãng phí, tham ô, v.v. Nó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng, của chủ nghĩa xã hội”. “Tư tưởng xã hội chủ nghĩa là thế nào? Là mỗi người hãy nghĩ đến lợi ích chung, lợi ích toàn dân trước. Phải chống chủ nghĩa cá nhân. Thế nào là chủ nghĩa cá nhân? Là so bì đãi ngộ: lương thấp, cao, quần áo đẹp, xấu, là uể oải, muốn nghỉ ngơi, hưởng thụ, an nhàn”.

Bên cạnh việc khen ngợi những đảng viên và cán bộ một lòng vì Đảng, vì nước, vì dân, Hồ Chí Minh luôn nghiêm khắc phê bình những cán bộ có thói hư, tật xấu mà họ mắc phải và nhắc nhở họ phải quyết tâm sửa chữa. Người nhấn mạnh: “Một số ít đảng viên và cán bộ còn tư tưởng tiêu cực, suy tị, ỷ lại, ngại khó, ngại khổ, không gương mẫu. Đó là chủ nghĩa cá nhân, những đồng chí ấy phải quyết tâm sửa chữa”.

Về nguyên nhân khách quan, với cách nhìn biện chứng, Người cho rằng điều kiện kinh tế - xã hội nước ta còn khó khăn, việc khắc phục những khuyết điểm của Đảng, Chính phủ, của từng cán bộ, đảng viên không thể trong một sớm, một chiều, Người viết: “Từ một năm nay, nội hoạn (nguy cơ ở bên trong), ngoại xâm không lúc nào không có, nên còn nhiều việc đáng làm mà Chính phủ trung ương không làm được. Có nhiều cái biết là hay, nhưng còn việc gấp phải làm gấp cái đã. Xin đồng bào hãy phê bình, giúp đỡ giám sát công việc Chính phủ. Còn những việc làm, mà chưa làm được thì xin đồng bào nguyên lượng. Vì nếu có nấu cơm cũng 15 phút mới chín, huống chi là sửa chữa cả một nước đã 80 năm nô lệ, người tốt có, người xấu có, một đám ruộng có lúa lại có cỏ, muốn nhổ cỏ thì cũng vài ba giờ mới xong”.

Người cho rằng, mặc dù Đảng và Chính phủ đã quyết tâm thực hiện công bằng xã hội, giải quyết hài hòa các lợi ích song không thể giải quyết đồng thời và có sự công bằng tuyệt đối được. Vì vậy, vẫn có hiện tượng suy bì, tị nạnh: “Cố nhiên là Đảng, Chính phủ trong lúc cân nhắc phải công bằng hợp lý, nhưng đảng viên ta, cán bộ trong Đảng và ngoài Đảng rất đông, có hàng mấy vạn người không phải luôn luôn xếp đặt hợp lý được. Cố nhiên phải tìm cách làm cho công bằng hợp lý, nhưng cũng khó hoàn toàn. Vì vậy kèn cựa địa vị là không nên, không tốt”.

Hồ Chí Minh đã chỉ ra những phương thức khắc phục bệnh tai hại này, trước hết, cán bộ, đảng viên phải kiên quyết đấu tranh phòng, chống chủ nghĩa cá nhân. Vì thế, Người yêu cầu: “Chống chủ nghĩa ba phải; trái phải, phải dứt khoát, phải rõ ràng, không được nể nang. Can đảm bảo vệ chính nghĩa, dũng cảm tự phê bình và phê bình. Xác định toàn tâm toàn ý, 100% phục vụ nhân dân. Có thế mới khắc phục được khuyết điểm, phát huy được ưu điểm. Còn so sánh địa vị, còn suy bì hưởng thụ thì chỉ có 50% phục vụ nhân dân còn 50% là phục vụ cá nhân mình”. Đây là giải pháp có ý nghĩa quan trọng hàng đầu

Thứ hai, cán bộ phải trau dồi đạo đức cộng sản, xây dựng tinh thần toàn tâm, toàn ý phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Người yêu cầu: “Phải yêu kính nhân dân. Phải thật sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân. Tuyệt đối không được lên mặt “quan cách mạng” ra lệnh ra oai… Phải khiêm tốn, gần gũi quần chúng, không được kiêu ngạo; phải thực sự cầu thị, không được chủ quan. Phải luôn luôn chăm lo đến đời sống của quần chúng. Phải “chí công vô tư”, và có tinh thần “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Đó là đạo đức của người cộng sản”. Đồng thời, phải ra sức học tập và dựa vào nhân dân để sửa chữa sai lầm, khuyết điểm: “Kinh nghiệm trong nước và các nước tỏ cho chúng ta biết: có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy làm cũng được. Không có, thì việc gì làm cũng không xong. Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”.

Những lời căn dặn của Bác Hồ về phòng, chống bệnh “suy bì” của cán bộ, đảng viên vẫn còn nguyên giá trị và tính thời sự trong công tác xây dựng Đảng hiện nay, từ việc suy bì, tị nạnh dẫn đến biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Chẳng hạn như “Thao túng trong công tác cán bộ; chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy tội... Sử dụng quyền lực được giao để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi” mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng đã chỉ ra.

Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, trước âm mưu “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và sự tác động tiêu cực của mặt trái nền kinh tế thị trương thì những chỉ dẫn trên của Bác Hồ lại càng có ý nghĩa hơn bao giờ hết. Trong các nghị quyết, chỉ thị, quy định căn bản của Đảng ta quyết liệt đặt ra các yêu cầu về xây dựng Đảng, xây dựng đạo đức cách mạng như trong Quy định về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương” theo tinh thần Hội nghị lần thứ 8, khóa XII; Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; Quy định số 214-QĐ/TW, ngày 2/1/2020 của Bộ Chính trị về khung tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý… Khắc phục bệnh suy bì cũng là thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị, quy định trên; khắc phục một biểu hiện quan trọng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý, quan tâm phê phán nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên “vừa hồng, vừa chuyên” để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong tình hình mới.

 

 

KHÔNG NÊN VỘI VÀNG KHẲNG ĐỊNH RẰNG

MỸ LÀ ĐẤT NƯỚC CỦA SỰ CÔNG BẰNG XÃ HỘI

 

Hiện nay, có một số ý kiến cho rằng có sự công bằng xã hội trên đất nước Mỹ. Thực chất có phải như vậy? Ai suy nghĩ như vậy thì họ đã nhầm to. Chẳng có sự công bằng nào cả, kể cả lời nói. Khoảng cách giữa người giàu và người nghèo ở Mỹ gia tăng với tốc độ lớn. Cuộc khủng hoảng chắc chắn đã ảnh hưởng đến những người dân bình thường của Hợp chủng quốc Hoa kỳ, trong khi các triệu phú thì đang được chính phủ tích cực hỗ trợ. 

Sự phân hóa giai cấp xã hội tăng lên. Khoảng cách giữa người giàu và người nghèo ở Mỹ đang thực sự tăng. Theo ý kiến của các chuyên gia Ủy ban ngân sách Quốc hội Mỹ thì sự phân hóa giai cấp xã hội đang thúc đẩy sự tăng thu nhập không đồng đều trong suốt 30 năm qua. Thu nhập của tầng lớp trung lưu ở Mỹ trong những năm gần đây tăng lên 40%, đối với người giàu tăng đến 65% trong khi với người nghèo chỉ tăng được 18%. Điều này dẫn đến thực tế là sự bất bình đẳng trong xã hội tăng lên, những người nghèo tham gia vào các cuộc biểu tình với khẩu hiệu “Đánh chiếm phố Wall”. Một số nhà phân tích gọi tình trạng này ở Mỹ là cuộc “Đại suy thoái thứ hai”.

Người nghèo nước Mỹ biểu tình. Sự phân hóa xã hội ở Mỹ đã đạt đến ngưỡng tối đa. 20% số người Mỹ có thu nhập cao nhất trên 100 nghìn USD/năm nắm trong tay 49,4% tổng thu nhập của dân chúng, trong khi 20% những người không khá giả chỉ chiếm có 3,4% thu nhập. Như vậy, hệ số nhóm được tính bằng tỷ lệ của hai trị số là 14,5 / 0,9 - cao gấp đôi so với năm 1989 là năm được coi ở mức thấp nhất. Hiện nay hệ số này là 7,6%. Vẫn còn một chỉ số bất bình đẳng nữa là hệ số Gini- cũng thuộc mức kỷ lục. Trong số tất cả các nước phát triển phương Tây thì nước Mỹ đã được ghi nhận là có mức độ bất bình đẳng cao nhất. Số lượng các hộ gia đình nhận phiếu thực phẩm chỉ tính trong năm 2009 đã tăng thêm 2 triệu hộ, đạt mức kỷ lục là 11,7 triệu hộ. Hiện nay tại Mỹ cứ 10 hộ gia đình thì có 1 hộ được nhận mức hỗ trợ này. Cũng nên lưu ý một thực tế là: Có 5% dân số giàu nhất ở Mỹ lại đang tăng mức thu nhập của mình, trong khi số nhóm có thu nhập trung bình (khoảng 50 nghìn USD/năm) đã giảm đáng kể.

Chính quyền Mỹ trợ giúp… những người giàu. Sự bất bình đẳng xã hội bắt đầu phát triển nhanh chóng sau khủng hoảng. Tại thời điểm đó, chính quyền Mỹ có thể hỗ trợ người nghèo, song họ quyết định làm khác đi một chút. Ví dụ, trong thời gian khủng hoảng tài chính, chính phủ Mỹ đã chi cho những gia đình có mức thu nhập trên 1 triệu USD/năm mức trợ cấp thất nghiệp với số tổng số tiền lên tới 80 triệu USD. Các triệu phú nhận trợ cấp xã hội do bản chất của luật pháp Mỹ và hệ thống kiểm soát tình hình tài chính làm việc kém. Thực tế là mỗi hộ trong số gần 3.200 hộ gia đình Mỹ có tổng thu nhập hơn 1 triệu USD trong năm 2010 được nhận 12.600 USD trợ cấp thất nghiệp. Con số này nhiều hơn tổng thu nhập hàng năm của hơn 25 triệu gia đình ở Mỹ.

Có 33 hộ gia đình có thu nhập trên 10 triệu USD cũng nhận được khoản trợ cấp này. Những người rất giàu có vẫn được nhận trợ cấp thất nghiệp một phần bởi các chương trình xã hội của liên bang không đủ kinh phí để xác minh tình hình tài chính của những người được nhận hỗ trợ. Trong thời gian khủng hoảng, khi mà hàng chục triệu người Mỹ không có việc làm thì việc nhận trợ cấp đã trở thành sự cần thiết sống còn. Các cơ quan an sinh xã hội không có khả năng kiểm soát có hiệu quả tình hình tài chính của tất cả mọi công dân, vì thế mà đã để xảy ra tình trạng này. Nhận trợ cấp thất nghiệp ở Mỹ thậm chí có thể có cả ông chủ ngân hàng phố Wall đã bãi nhiệm, mặc dù trước khi rời nhiệm sở ông ta đã được nhận vài triệu USD. Theo luật pháp của Mỹ thì trợ cấp thất nghiệp được chi trả tính theo số tiền đã thu được nhờ sự hỗ trợ thuế đối với tiền lương. Hầu hết các gia đình triệu phú đã nhận trợ cấp thất nghiệp, nhiều nhất là ở Caliphornia (810 hộ). Tại New York, thủ đô tài chính Mỹ thì cũng có đến 610 hộ gia đình có thu nhập trên 1 triệu USD/năm được nhận hỗ trợ như trên.

Mặc dù thực tế như vậy nhưng các chuyên gia vẫn nhấn mạnh rằng chương trình hỗ trợ thất nghiệp của Mỹ trong thời gian khủng hoảng là rất có hiệu quả. Ông Heidi Shirholts, chuyên gia kinh tế  của Viện chính sách kinh tế cho biết, có 68% số hộ gia đình Mỹ có thu nhập dưới 50 nghìn USD/ năm được nhận tiền trợ cấp, có 0,02% số triệu phú được nhận dưới dạng trợ cấp từ số tiền 150 tỷ USD dành cho chi trả phúc lợi trong năm 2010.

Các nhà kinh tế Mỹ đang tranh cãi kịch liệt: Ai là người có lỗi trong sự bất bình đẳng như vậy trong xã hội và làm thế nào để ngăn chặn sự gia tăng tình trạng này. Cứ mỗi đồng đô la ở Mỹ thì có 90% cent chảy vào túi của 1% số người giàu nhất ở Mỹ. Khoảng cách thu nhập của người nghèo và người giàu ở Mỹ đã biến nước Mỹ thành một nhà nước bị hạn chế về cơ hội. Con cái sinh ra trong các gia đình có thu nhập trung bình ở Mỹ chắc chắn sẽ có cuộc sống kém hơn thế hệ cha mẹ chúng. Hơn 20% trẻ em Mỹ sống trong nghèo đói. Trẻ em ở Canada, Đức, Pháp và Thụy điển có cơ hội cuộc sống tốt hơn nhiều so với bạn đồng lứa ở Mỹ. Một nước Mỹ mới đang được nhìn nhận là có tình trạng nghèo đói và bất bình đẳng ở mức phổ biến. Điều này chỉ ra rằng giấc mơ Mỹ đã hết thời: Sẽ không còn một đất nước có cơ hội bình đẳng, mọi thứ phụ thuộc vào tài sản và số tiền mà gia đình chi trả cho việc học tập của thế hệ sau.

Nhưng nói gì thì nói, sự thể vẫn là như vậy. Trong một đất nước mà  trước đây bất cứ ai có tài năng và mong muốn làm việc đều có thể đạt được đỉnh cao thì hiện giờ đang bị sự bất bình đẳng xã hội phá vỡ. Vì thế, đã đến lúc cần có cái nhìn khách quan và toàn diện hơn về nước Mỹ, về tính đúng đắn khi khẳng định Mỹ là một quốc gia công bằng, bình đẳng về xã hội./.

ĐỒNG CHÍ ĐỒNG SỸ NGUYÊN - VỊ TƯỚNG CỦA TRƯỜNG SƠN HUYỀN THOẠI

Theo cuốn sách “Lịch sử Bộ đội Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh”, đầu năm 1967, đồng chí Đồng Sỹ Nguyên được bổ nhiệm Tư lệnh Đoàn 559-Bộ đội Trường Sơn. Khi được bổ nhiệm Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn, tình hình cách mạng miền Nam có những chuyển biến quan trọng, đòi hỏi sự chi viện ngày càng lớn và cấp bách cho chiến trường. Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, đồng chí đã đề xuất giải tán các tuyến, thành lập các binh trạm nhằm tăng cường sự chỉ huy trực tiếp của bộ tư lệnh, đồng thời đẩy mạnh vận chuyển bằng cơ giới. Nhờ giải pháp đó, đến hết năm 1968, Đoàn 559 đã vận chuyển được 42.910 tấn hàng, gấp 14,7 lần giai đoạn I (1959-1965), bảo đảm hành quân cho 70.456 cán bộ, chiến sĩ vào chiến trường.Trong giai đoạn 1969-1972, để kịp thời đối phó với âm mưu, thủ đoạn đánh phá điên cuồng của Mỹ, Đoàn 559 đã xây dựng được 5 trục vượt cửa khẩu và 3 hệ thống trục dọc. Đặc biệt, từ cuối năm 1971 đến đầu năm 1972, Đoàn 559 tập trung mở đường “kín” bảo đảm cho xe chạy ban ngày. Đây là một quyết định táo bạo, quyết đoán và sáng tạo độc đáo của Bộ tư lệnh Trường Sơn mà đứng đầu là đồng chí Tư lệnh để chống chiến tranh ngăn chặn, vô hiệu hóa sự đánh phá của địch.

Về kỳ tích đường “kín” Trường Sơn, Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên, hào hứng kể: Từ đầu năm 1971, đế quốc Mỹ và tay sai sau khi thất bại ở nhiều nơi trên chiến trường miền Nam, chúng tìm cách đánh trực tiếp vào các đoàn xe vận tải của ta. Từ chỗ dùng máy bay phản lực oanh tạc bắn phá với thời gian không dài, xác suất thấp, chúng chuyển sang dùng máy bay AC-130 có tốc độ bay chậm, thời gian ở trên không lâu, với những trang thiết bị trinh sát mới có khả năng phát hiện mục tiêu nhanh về ban đêm, tạo thành các pháo đài hiện đại đi dộng trên bầu trời, đánh trực tiếp vào xe vận tài, khiến ta không sử dụng được đội hình xe vận tải lớn, tốc độ vận chuyển chậm và gây thiệt hại khá nghiêm trọng về người, xe của ta.
Trước thủ đoạn đánh phá ngăn chặn mới của địch và yêu cầu chi viện cho chiến trường lớn hơn, nhanh hơn, Bộ tư lệnh Bộ đội Trường Sơn đã thực hiện hàng loạt các biện pháp chống ngăn chặn bằng sức mạnh của một binh chủng hợp thành, như: Tập trung cao xạ, tên lửa đánh mạnh máy bay; mở thêm các đường nhánh để phân tán đội hình xe; tổ chức nghi binh thu hút địch vào một số tuyến… Các giải pháp đó đều có tác dụng tốt nhưng hiệu suất vận tải vẫn chưa cao và phải trả giá quá đắt.
Bộ tư lệnh Bộ đội Trường Sơn trong khi nghiên cứu các yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” của chiến trường đã phát hiện yếu tố địa lợi ở cao nguyên phía tây Trường Sơn, rừng đại ngàn dù bị chất độc hóa học do Mỹ thả nhưng vẫn xanh tốt, chạy suốt từ Trung Lào, Hạ Lào, nối với Tây Nguyên của Việt Nam và Đông Bắc Campuchia. Yếu tố địa lợi đó là cơ sở để Bộ tư lệnh Bộ đội Trường Sơn nghiên cứu xây dựng một tuyến đường “kín”. Lấy rừng đại ngàn làm màn ngụy trang kín đáo, khổng lồ.
Để giữ được bí mật cao nhất, lâu nhất, khi thiết kế tuyến đường “kín”, Bộ tư lệnh cho phép đường được lượn vòng và kéo dài để tránh tối đa việc chặt phá cây rừng. Nền đường chỉ rộng 4 mét, bảo đảm cho tán cây hai bên đường giao nhau. Ở những vị trí thuận lợi qua rừng già thì phải mở thêm một tuyến song song để sử dụng hai chiều. Từ một đến hai cây số phải có một đoạn đường tránh dài từ 150 mét đến 200 mét có tính chất như một nhà ga để điều chỉnh xe đi hai chiều. Ở một vài điểm cục bộ, đường đi qua không có cây, công binh phải làm màn ngụy trang nhân tạo bằng cách bứng cây to về trồng hai bên đường, có xe téc tưới nước, khi cây chết phải thay ngay. Cũng có chỗ làm giàn phong lan ngụy trang kín đường.
Mạng đường “kín” xuất hiện trong thời gian ngắn tạo ra bước ngoặt lớn trong sự phát triển của tuyến chi viện chiến lược. Đội hình xe từ chỗ chỉ chạy chủ yếu vào ban đêm đã chuyển sang chạy vào ban ngày, cung vận chuyển dài hơn, Đặc biệt, đường kín đã ngăn chặn được sự đánh phá bằng máy bay AC-130 hiện đại của địch, bảo đảm an toàn cho cả người và xe của ta.
Mạng đường “kín” Tây Trường Sơn là một công trình sáng tạo độc đáo, một công trình huyền thoại có ý nghĩa về chiến lược trong tuyến chi viện chiến lược mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Chiến công của Bộ đội Trường Sơn là vô cùng to lớn, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Trên cương vị Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn từ đầu năm 1967 đến 30-4-1975, đồng chí Đồng Sỹ Nguyên đã cùng tập thể Đảng ủy, Bộ tư lệnh Bộ đội Trường Sơn lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng, hoàn thành xuất sắc 5 nhiệm vụ chiến lược do Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng giao, có ý nghĩa chiến lược rút ngắn thời gian giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Nguồn: QĐND

 

THÔNG TIN TUYÊN TRUYỀN TRÊN MẠNG VỀ

LỜI ĐẠI TÁ ĐINH VĂN NƠI LÀ TIN BỊ CẮT GHÉP, BỊA ĐẶT VỚI Ý ĐỒ XẤU

 Những ngày qua, trên một số trang mạng phản động, chống phá Đảng, Nhà nước đăng tải đoạn ghi âm được cho là của Đại tá Đinh Văn Nơi, Giám đốc Công an tỉnh An Giang với nội dung cố ý gây hiểu nhầm, kích động làm giảm uy tín công tác phòng, chống dịch chống dịch Covid-19 của Việt nam.

Công an An Giang cho biết, thời gian qua, lực lượng Công an tỉnh đã thực hiện cùng lúc nhiệm vụ kép, vừa đảm bảo an ninh trật tự, vừa phối hợp cùng các lực lượng chức năng căng mình chống dịch Covid-19 và thực hiện các hoạt động an sinh xã hội giúp người dân gặp khó khăn do ảnh hưởng dịch bệnh.

Trong đó, Đại tá Đinh Văn Nơi, Giám đốc Công an tỉnh An Giang đã chủ động công bố số điện thoại cá nhân để làm đường dây nóng tiếp nhận các tin báo tố giác tội phạm, tin báo phục vụ công tác phòng, chống dịch Covid-19.

Do đó, hàng ngày Đại tá Nơi tiếp nhận rất nhiều cuộc gọi của người dân, của cán bộ, anh em đồng chí… thông tin, đóng góp cho hoạt động của lực lượng Công an An Giang.

"Có thể từ những cuộc điện thoại mang tính chất trao đổi cá nhân (không phải những chủ trương hay chỉ đạo) đã được các đối tượng xấu cố ý ghi âm, cắt ghép rồi tung lên mạng nhằm mục đích giảm uy tín Đại tá Đinh Văn Nơi và tiếp tay cho các thế lực thù địch, phản động chống phá công cuộc đảm bảo an ninh trật tự và phòng, chống dịch bệnh trên địa bàn tỉnh An Giang”.

Ngày 4/10, Công an tỉnh An Giang khẳng định, những câu nói của Đại tá Đinh Văn Nơi trong file ghi âm lan trên truyền mạng đã được cắt ghép, bịa đặt với ý đồ xấu.

Hiện, cơ quan điều tra Công an tỉnh An Giang đã vào cuộc để xác minh vụ việc, xử lý theo pháp luật. Yêu cầu người dân không chia sẻ, phát tán những thông tin sai trái này, ai cố tình vi phạm sẽ bị xử lý nghiêm theo pháp luật/.

 

 

 

PHIM TRUNG QUỐC VÀ SỰ XUYÊN TẠC LỊCH SỬ VỀ CUỘC CHIẾN TRANH BẢO VỆ BIÊN GIỚI PHÍA BẮC CỦA CHÚNG TA!

 

Ngày 29/9 vừa qua, trailer chính thức của "Quân đội Vương Bài" đã được công bố trên trang Baidu của Trung Quốc, người Trung Quốc làm phim quảng bá về Quân đội của họ, đó là chuyện riêng của họ. Thế nhưng, điều đáng nói ở đây là bộ phim có những chi tiết liên quan đến cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Việt Nam. Cụ thể, trong trailer "Quân đội Vương Bài" có các phân cảnh quân đội Trung Quốc giáp lá cà và đánh với đối phương là những người "ngụy trang trong lớp lá cây, cỏ”, "dùng súng tiểu liên AK", khung cảnh quân đội Trung Quốc bắn pháo binh và dung máy bay ném bom yểm trợ cũng xuất hiện trong trailer.

Theo mô tả của phim, đây là giai đoạn quân đội Việt Nam lớn mạnh, đã nhiều lần có ý đồ xâm chiếm biên giới Trung Quốc, buộc đất nước tỷ dân phải điều động đội quân át chủ bài của quốc gia đến vùng giao tranh để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ; trong phim, người Trung Quốc gọi chúng ta là giặc và nhiều cảnh trong phim người ta đã thần thánh hóa quân đội Trung Quốc kiểu “anh dũng, thiện chiến, đánh đâu thắng đó”…

Nhưng, đó chỉ là sự xuyên tạc trắng trợn sự thật đã được lịch sử thế giới chứng kiến và ghi nhận:

Thứ nhất, chính bè lũ bành trướng, hiếu chiến Bắc Kinh đã xâm lược Việt Nam, giết hại và tàn phá các tỉnh biên giới phía Bắc, trước khi thất bại phải chạy về nước. Việt Nam có chính nghĩa, chúng ta bước vào cuộc chiến đấu mới, cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại chống Trung Quốc xâm lược. Chúng ta chưa bao giờ có ý định xâm chiếm biên giới Trung Quốc và chẳng bao giờ muốn đưa đất nước vào vòng binh lửa; chúng ta chỉ tự vệ trước quân bành trướng. Giặc ở đây chỉ có thể là quân xâm lược, bành trướng Trung Quốc. Ai mới là giặc thì lịch sử thế giới đã ghi nhận. Trung Quốc mang quân đội sang nước ta đã tàn phá, giết hại đồng bào ta chứ không phải là ta mang quân sang hủy diệt đất nước họ. Ngày 17/2/1979, Trung Quốc mang đại quân gần 60 vạn (600.000 quân) sang Việt Nam để “dạy cho Việt Nam một bài học”. Trung Quốc mang quân bành trướng đánh ta vì nhiều lý do khác nhau; trong đó có một số lý do chính:

- Trung Quốc cay cú vì Việt Nam hợp tác toàn diện, là đồng minh của Liên Xô, mà Xô - Trung thì cơm không lành, canh không ngọt; chúng ta từ chối thẳng thừng việc ký hiệp ước chống Liên Xô.

- Trung Quốc cay cú vì quân đội ta đánh tan Pôn Pốt, lực lượng tàn ác, diệt chủng do Trung Quốc nuôi dưỡng; Trung Quốc đã dùng kế “vây ngụy để cứu Triệu”, đánh Việt Nam tạo điều kiện cho Pôn Pốt trỗi đầu dậy.

- Trung Quốc chưa bao giờ muốn chúng ta thống nhất; họ chỉ muốn Miền Bắc nước ta là nơi làm phên dậu cho họ như kiểu Triều Tiên, phụ thuộc vào họ chứ chẳng hề muốn một nước Việt Nam thống nhất hùng mạnh. Họ đánh ta để làm suy yếu sức ta và nhầm tưởng rằng quân đội chủ lực ta đang ở Campuchia thì chúng ta dễ dàng bị thôn tính.

- Thời kỳ này đất nước Trung Quốc đang cần đổi mới, họ bắt tay với Mỹ để phát triển kinh tế và họ chứng minh cho Mỹ thấy thiện chí của họ đối với Mỹ, họ đánh đất nước vừa khuất phục người Mỹ để thỏa lòng Mỹ. Lý do nữa chính là Đặng Tiểu Bình muốn thanh trừng những người theo cánh tả, từng trung thành với Chủ tịch Mao Trạch Đông, ông ta muốn đánh Việt Nam để yên tâm càn quét.

Thứ Hai, Hình ảnh quảng bá trên phim rằng quân Trung Quốc anh dũng, thiện chiến, lấy ít địch nhiều chỉ là sản phẩm của sự dối trá. Thực tế quân ta chủ yếu là bộ đội địa phương và dân quân du kích đã nướng chín hơn 62.000 quân tàu. Chúng bị chặn đánh không còn manh giáp. Chúng buộc phải rút về nước khi cụ Tôn Đức Thắng vừa ra lệnh tổng động viên và đại quân ta đang tiến về nước từ Campuchia. Nếu chậm trễ trong việc rút quân thì có lẽ chặt hết cây trên núi Thái Sơn cũng không đủ làm quan tài chôn quân bành trướng vì họ không phải là đối thủ của Bộ đội chủ lực chúng ta.

Thứ ba, Không quân Trung Quốc không dám xuất kích vì họ hiểu rõ J16, J17 không phải là đối thủ của Mic 21, Sam2, Sam3. Họ hiểu rằng nếu mang không quân xâm lược Việt Nam thì quy mô chiến tranh sẽ lớn lên; họ không muốn sa lầy rồi chết thảm như Pháp, Hoa Kỳ. Họ khiếp sợ lưới lửa phòng không ở miền Bắc, nơi đã từng biến niềm tự hào của không lực Hoa Kỳ thành đồ nhôm. Vậy nên nói Trung Quốc đã chiến thắng trong cuộc chiến tranh phi nghĩa do họ gây ra là vô căn cứ, xuyên tạc lịch sử. Thực tế thì không quân Trung Quốc chưa bao giờ dám xâm phạm bầu trời Việt Nam như trong phim.

Thứ tư, do lịch sử nước ta còn có quá ít bài về cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc nên nhiều người dân nhầm tưởng là Trung Quốc chỉ xâm lược nước ta trong năm 1979. Sự thật thì suốt thập niên 80, nhiều trận đánh diễn ra ác liệt; bộ đội ta hy sinh nhiều người để bảo vệ tổ quốc. Thời gian này, pháo binh cũng là lực lượng được Trung Quốc sử dụng nhiều nhất trong các trận chiến ở Vị Xuyên (Hà Giang). Đây là chiến địa được những người lính Việt Nam vệ quốc 30 năm trước gọi là “lò vôi thế kỷ” với hơn 2.000 hài cốt liệt sĩ nằm rải rác trên các cao điểm núi đá biên giới Việt - Trung. Bên cạnh đó, việc trang phục mà các diễn viên Trung Quốc mặc trùng khớp với giai đoạn xâm lược biên giới Việt Nam năm 1979. Tất nhiên, trước lòng quả cảm và anh dũng của người Việt Nam, Trung Quốc thất bại thảm hại và đến năm 1989 bắt buộc phải rút khỏi biên giới nước ta. Bộ đội Việt Nam không quản hy sinh để bảo vệ từng tấc đất của tổ quốc “sống bám đá, chết hóa đá, thành bất tử!”.

Chiến tranh đã lùi xa kể từ 1989, hai nước đã bình thường hóa quan hệ ngoại giao kể từ năm 1991. Ngày nay, Việt - Trung vẫn còn nhiều điểm bất đồng; tuy nhiên về cơ bản thì ta và họ vẫn đang là đối tác chiến lược toàn diện. Không kích động thù hận nhưng cũng không cho phép họ xuyên tạc lịch sử, đổi trắng thay đen. Khẳng định rõ, cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc 1979-1989 là cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc ta trước kẻ thù xâm lược là bè lũ hiếu chiến, phản động Bắc Kinh. Chúng ta tự hào và biết ơn những người ngã xuống vì độc lập, tự do của tổ quốc! Tự hào về Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Kiên quyết phê phán và tẩy chay phim xuyên tạc lịch sử Vương Bài của Trung Quốc là trách nhiệm bảo vệ sự thật lịch sử của mỗi người trong chúng ta.

 

 

ÂM MƯU “ĐỔ THÊM DẦU VÀO LỬA” CỦA TRÂN VĂN

 

Trên các diễn đàn mạng xã hội thời gian gần đây xuất hiện bài viết Đại dịch và cuộc trưng cầu dân ý ngoài dự kiến! của Trân Văn, với nội dung lợi dụng tình hình dịch bệnh Covid - 19 đang diễn biến phức tạp tại thành phố Hồ Chí Minh và nhiều địa phương trong cả nước để xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước, phủ nhận những kết quả phòng, chống dịch bệnh ở nước ta.

1. Lửa thử vàng

Với góc nhìn lệch lạc, phiến diện, xuyên suốt bài viết Trân Văn đã tráo trở cho rằng, cuộc chiến chống đại dịch Covid - 19 lần này cho thấy hệ thống chính trị của Việt Nam kém cỏi, vô trách nhiệm và không biết sợ hậu họa! Đây rõ ràng là sự ngụy biện phi lý, ẩn chứa sự bất mãn chế độ cùng những mưu đồ cá nhân xấu xa, muốn “đổ thêm dầu vào lửa” trong lúc đất nước nguy nan.

Dân ta có câu: Lửa thử vàng, gian nan thử sức. Trong tình hình hiện nay, câu nói này rất đúng với đất nước ta. Đại dịch Covid - 19 bùng phát lần thứ tư, với sự xuất hiện của biến chủng Delta, có tốc độ lây lan nhanh và nguy hiểm hơn nhiều lần so với những biến thể trước đây. Tâm điểm dịch là thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phía Nam. Đại dịch lây lan nhanh, mạnh, diễn biến khó lường khiến công tác phòng, chống của chúng ta gặp muôn vàn khó khăn. Trong lúc “nước sôi lửa bỏng” đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ những phẩm chất “vàng mười” của dân tộc Việt Nam một lần nữa được khơi sáng. Cả hệ thống chính trị đã đồng thời vào cuộc, các tầng lớp nhân dân không phân biệt già, trẻ, gái trai, thành phần dân tộc, tôn giáo, giai cấp… đã đồng lòng tham gia “chống giặc” Covid - 19. Khí thế “tất cả vì miền Nam ruột thịt” “tất cả để chiến thắng” của những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước, một lần nữa được khơi dậy, phát huy. Các Sở chỉ huy tiền phương chống dịch đã nhanh chóng được thành lập, lực lượng y, bác sĩ, nhân viên y tế, trang thiết, dược phẩm cần thiết… được tăng cường, chi viện tối đa cho thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương phía Nam. Thông điệp “5k + Vaccxin” được lan tỏa mạnh mẽ, với sự hưởng ứng, tự giác thực hiện của người dân. Đặc biệt, tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái, “lá lành đùm lá rách” của người dân Việt Nam được phát huy cao độ, với nhiều việc làm thiết thực. Thực sự không một người dân Việt Nam nào “bị bỏ lại”, bị đơn độc trong đại dịch. Phương cách chống dịch của Việt Nam không thể tìm thấy ở bất cứ quốc gia nào, phản ánh rõ bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đã lựa chọn, được dư luận quốc tế đánh giá cao. Nhìn sang “thiên đường” dân chủ, tự do như sự ca ngợi của những kẻ cơ hội chính trị, phản động, lưu vong như Trân Văn, có thể thấy rõ sự khác biệt. Dù là nền kinh tế đứng đầu thế giới, nhưng giữa đại dịch Covid – 19, người dân nghèo cũng chẳng có cơ hội được cứu chữa, chấp nhận cái chết thay vì phải gánh chịu những khoản nợ khổng lồ, đeo bám cả đời khi điều trị tại bệnh viện. Nhiều cộng đồng người tại Mỹ thực sự đang bị “bỏ rơi”, lạc lõng chống chọi trước đại dịch. Tình hình nguy khốn đến mức một “người anh em” trong lực lượng “chống cộng” của Trân Văn, đang tị nạn ở Mỹ đã phải thốt lên: Nếu còn visa tôi sẽ về nước!

Thực tiễn đó cho phép khẳng định, dù còn nhiều khó khăn trước mắt, nhưng với ý chí và sức mạnh vốn có của con người Việt Nam, chúng ta sẽ vững tin vượt qua đại dịch, đồng thời “cuốn trôi” tất cả những luận điệu xuyên tạc của Trân Văn và những kẻ cơ hội chính trị, phản động.

2. Tăng cường đấu tranh chống “virut xuyên tạc”

Trong đợt bùng phát thứ tư, Covid - 19 đang lây lan với tốc độ nhanh gấp hàng trăm lần so với trước đây. Cùng với đó, các luận điệu xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước, đi ngược lại với lợi ích quốc gia, dân tộc cũng xuất hiện theo “cấp số nhân”. Người dùng mạng xã hội đang hàng ngày, hàng giờ tiếp cận với nhiều thông tin xấu, độc, xuyên tạc về chủ trương phòng, chống dịch bệnh, về chiến lược tiêm vacxin, về các quy định giãn cách xã hội, về các chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ các đối tượng yếu thế trong dịch bệnh của Đảng, Nhà nước và các địa phương… Thậm chí, có cả những thông tin kích động, lôi kéo người dân phản đối các quy định giãn cách xã hội, tụ tập đông người, gây thêm những khó khăn, trở ngại cho công tác phòng, chống dịch bệnh. Những thông tin này nguy hại hơn cả virut corona, bởi chúng tấn công vào nhận thức, niềm tin, gây hoang mang dư luận xã hội, khiến lòng dân không yên. Hơn lúc nào hết, cùng với công tác phòng, chống dịch Covid - 19, chúng ta cần đẩy mạnh các hoạt động đấu tranh, làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, lợi dụng đại dịch Covid - 19 để phá hoại đất nước.

Biện pháp hữu hiệu nhất là mỗi người cần tỉnh táo khi tiếp cận thông tin trên mạng xã hội, cân nhắc trước khi nhấn nút like, share hoặc comment, kịp thời phát hiện, tố giác những thông tin xấu, độc, sai sự thật đến cơ quan chức năng để xử lý. Trong phòng, chống loại virut nguy hiểm này, mỗi người dân phải thực sự là chiến sĩ xung kích, hành động với tất cả lương tâm, trách nhiệm với đất nước. Các cơ quan chức cần tăng cường các biện pháp tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân, đặc biệt là những thông tin liên quan đến phòng, chống dịch bệnh theo phương châm “kịp thời, chính xác, có chọn lọc, đúng mức, đúng thời điểm về diễn biến tình hình dịch bệnh”. Tăng cường kiểm soát thông tin xấu, độc trên mạng xã hội bằng các biện pháp kỹ thuật; kiên quyết xử lý nghiêm, với khung hình phạt đủ sức răn đe. Cần tăng cường hơn nữa những thông tin tích cực, thúc đẩy và lan tỏa tinh thần nhân văn, nhân ái, sẻ chia, đoàn kết của dân tộc; tránh gây tâm lý hoang mang, bi quan, lo lắng vì đại dịch, nhưng cũng không được chủ quan, lơ là, mất cảnh giác./.

 

                                                    

 Cán bộ chăm chỉ làm việc chưa đủ, cần phải biết làm việc cho có phương pháp. Phải cần mà phải cẩn nữa”.


Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết “Thiếu óc tổ chức - một khuyết điểm lớn trong các ủy ban nhân dân”, bút danh Chiến Thắng, đăng trên Báo Cứu quốc, số 58, ngày 04 tháng 10 năm 1945.

Đây là thời điểm đất nước mới giành được độc lập, chính quyền cách mạng mới được thiết lập, phải đối diện với một khối lượng lớn công việc cần được giải quyết, đòi hỏi đội ngũ cán bộ các cấp phải dốc hết tâm huyết, nhiệt tình, trách nhiệm, song cần phải có sự tổ chức khoa học, hiệu quả. Do vậy, Bác đã viết bài để căn dặn đội ngũ cán bộ các cấp chỉ làm việc chăm chỉ là chưa đủ, mà phải làm việc khoa học, mới mang lại hiệu quả cao trong tổ chức, sắp xếp công việc của chính quyền mới.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém” và “Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”. Thấu suốt quan điểm của Người, trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng ta luôn coi cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của dân tộc, chế độ; là khâu then chốt trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nên đã dày công tổ chức, đào tạo, rèn luyện, xây dựng được đội ngũ cán bộ tận tụy, kiên cường, chất lượng ngày càng cao, là nhân tố quan trọng đóng góp vào những thành quả vĩ đại của cách mạng Việt Nam.

Đội ngũ cán bộ quân đội được giao trọng trách lãnh đạo, chỉ huy, quản lý từ cấp cơ sở đến toàn quân; là lực lượng nòng cốt trong thực hiện đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng, nhân tố có vai trò quyết định trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của Quân đội ta. Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã có nhiều chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Quân đội làm nòng cốt để toàn quân hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Chất lượng toàn diện cả về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực, tác phong, phong cách lãnh đạo, chỉ huy của đội ngũ cán bộ ngày càng được nâng lên, có phương pháp, tác phong công tác khoa học, luôn nêu cao tính đảng, tính chiến đấu, nói và làm theo chỉ thị, nghị quyết. Luôn chủ động, sáng tạo, quyết đoán, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, có ý thức kỷ luật cao, tận tâm, tận lực với công việc, gương mẫu cả trong lời nói và việc làm, có khả năng xử lý những vấn đề phức tạp do thực tiễn đặt ra, có uy tín cao trước bộ đội, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

 CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC: LÀM TRONG SẠCH ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

 
Thời gian qua, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến", “tự chuyển hóa” trong nội bộ, mặc dù đã được lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện quyết liệt, có chuyển biến rõ nét, nhưng tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn diễn ra phức tạp, tinh vi, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước.
Trong giai đoạn “nước sôi lửa bỏng” do tình hình dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, vẫn có những cán bộ, đảng viên không gương mẫu, không phát huy vai trò xung kích đi đầu trong công tác phòng, chống dịch bệnh, thậm chí còn lợi dụng chức trách, nhiệm vụ được giao, vi phạm các quy định phòng, chống dịch, cố ý trục lợi trong sử dụng, mua sắm công, nâng khống giá trị thiết bị y tế, làm thất thoát ngân sách nhà nước, đồng thời đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng, gây bức xúc trong nhân dân.
Do đó, cùng với việc chỉ đạo xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng hoặc có dấu hiệu tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm, Ban Chỉ đạo sẽ trực tiếp chỉ đạo xử lý các vụ án, vụ việc tiêu cực khác ngoài tham nhũng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, uy tín, phẩm chất đạo đức, vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Trọng tâm là ngăn chặn suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nhấn mạnh không chỉ đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực kinh tế mà quan trọng hơn phải chống tiêu cực trong cả lĩnh vực tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, đây mới là cái gốc, cái cơ bản cần phải chống. Bởi hai cái này nó có liên quan đến nhau, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn đến tiêu cực, tham nhũng. Lợi ích kinh tế thường gắn liền với quyền lợi chính trị, chức quyền, với sự hư hỏng về đạo đức, lối sống...
Nhằm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, ngang tầm nhiệm vụ, Đảng ta luôn đề cao vai trò “nêu gương” của cán bộ, đảng viên. Trong mọi hoàn cảnh, cán bộ, đảng viên phải tự giác làm gương, không chỉ về tư tưởng chính trị mà còn về đạo đức, lối sống; không chỉ trong lời nói mà trong cả việc làm, thực hiện nghiêm chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Sự tự giác nêu gương của cán bộ, đảng viên luôn là chuẩn mực đạo đức để quần chúng soi rọi, noi theo. Nếu đảng viên không gương mẫu thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật, rèn luyện đạo đức, lối sống, thì sẽ làm giảm niềm tin của nhân dân vào chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. 

 ĐẢNG LÃNH ĐẠO LÀ SỰ LỰA CHỌN KHÁCH QUAN CỦA LỊCH SỬ


          Cần khẳng định lại rằng, những “lý lẽ” mà các đối tượng, thế lực chống phá luôn rêu rao, đòi hỏi đối với Đảng và chế độ ta là những điều hoàn toàn không có gì mới, nhất là vấn đề “đa nguyên đa đảng”.
          Như chúng ta đã biết, trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam khai sinh, ở nước ta đã từng có mô hình “đa nguyên đa đảng”. Ngay cả khi Đảng ta ra đời thì “đa đảng” vẫn tồn tại. Nhưng từ chính những đòi hỏi khách quan của lịch sử mà cách mạng đã lựa chọn từ “đa đảng” đến một đảng. Đó xu hướng chính trị gắn liền với hoàn cảnh lịch sử và điều kiện cụ thể Việt Nam. Để khắc phục tình trạng “độc quyền mất dân chủ”, trong suốt tiến trình cách mạng, mọi đường lối, phương thức lãnh đạo của Đảng đều được bàn thảo, xây dựng trên cơ sở ý chí, nguyện vọng của nhân dân.
          Vì thế, chúng ta khẳng định, ở Việt Nam không có sự cần thiết khách quan phải thực hiện cơ chế chính trị đa nguyên, đa đảng đối lập. Hơn lúc nào hết, trong tình hình hiện nay, nếu “thỏa hiệp” để thực hiện đa đảng đối lập cũng đồng nghĩa với việc đánh mất sự ổn định chính trị, rối loạn xã hội; tạo điều kiện cho sự trỗi dậy của các tư tưởng chính trị xa lạ - đi ngược lại lợi ích của quảng đại quần chúng và mục tiêu xây dựng xã hội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Điều mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng nhấn mạnh: “tại các nước tư bản phát triển, các cuộc bầu cử được gọi là “tự do”, “dân chủ” dù có thể thay đổi chính phủ nhưng không thể thay đổi được các thế lực thống trị; đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản”.
          Đại hội XIII của Đảng cũng đã xác định: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.
          Để đấu tranh có hiệu quả với những luận điệu thù địch nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng chính trị của Đảng một cách đúng đắn, khách quan và khoa học, trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên phải nắm vững và thường xuyên củng cố nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tăng cường tuyên truyền “phổ cập” tới mọi tầng lớp nhân dân về mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Qua đó tạo lập một mặt bằng chung trong toàn xã hội về ý thức tư tưởng chính trị; nâng cao khả năng “tự miễn dịch” trước những âm mưu xâm nhập, lây lan của những tư tưởng đi ngược lợi ích nhân dân, trái với lý tưởng và mục tiêu XHCN.
          Nghiêm túc quán triệt và thực hiện việc “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức công tác tư tưởng theo hướng chủ động, thiết thực, kịp thời và hiệu quả; nâng cao tính chiến đấu, tính thuyết phục, tính giáo dục trong tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. 

 THỦ ĐOẠN “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG – VĂN HÓA

 
Tác động của “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa ở nước ta trong những năm qua thể hiện trên những phương diện chủ yếu như sau:
Thứ nhất, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng và Nhà nước ta, làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Thứ hai, kích động, lôi kéo những phần tử bất mãn trong nội bộ Đảng, nội bộ Nhà nước ta để làm nòng cốt chuyển hóa từ bên trong, kích động tâm lý hoài nghi dẫn đến phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
Thứ ba, lợi dụng vấn đề nhân quyền để phá hoại về tư tưởng đối với Việt Nam, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của chúng ta, đặt điều kiện hòng ép ta thỏa hiệp, nhượng bộ về chính trị, thay đổi đường lối của ta, đi theo quỹ đạo của chúng; núp dưới chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” để tuyên truyền kích động dư luận thế giới cô lập Việt Nam, gieo rắc sự nghi ngờ của công dân Việt Nam đối với Nhà nước; kích động và khơi dậy sự phản kháng của những kẻ bất mãn, những phần tử cơ hội, thoái hóa biến chất, những người trước đây cộng tác với chế độ cũ, hiện đang còn ở Việt Nam để chống phá Đảng, Nhà nước ta.
Thứ tư, vu khống, xuyên tạc chính sách của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo, dân tộc; chính sách đối với văn nghệ sĩ. Âm mưu của chúng là tạo ra những lực lượng chống đối ngầm trong nội bộ nhân dân ta. Nếu không được vạch trần, ngăn chặn, nó có khả năng làm rối loạn xã hội, tạo cơ hội cho “diễn biến hòa bình” phát triển.
Thứ năm, phá hoại truyền thống văn hóa dân tộc, văn hóa cách mạng, các chuẩn mực đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa. Chúng sử dụng các sản phẩm văn hóa đồi trụy, phản động để đầu độc quần chúng nói chung, đặc biệt là thế hệ thanh thiếu niên ở nước ta nói riêng, làm chuyển đổi giá trị thẩm mỹ, thị hiếu nghệ thuật, chuyển đổi các thang bậc giá trị xã hội theo chiều hướng xấu; âm mưu biến thế hệ trẻ thành công cụ và lực lượng xã hội chủ yếu trong thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của chúng.
Các khuynh hướng này hết sức nguy hiểm, có sức phá hoại mạnh, tác động trực tiếp đến tư tưởng, đạo đức, lối sống của nhân dân ta và về lâu dài sẽ ảnh hưởng rất lớn đến nền tảng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vì vậy, nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn tinh vi xảo quyệt của các thế lực thù địch; chủ động đấu tranh phòng chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa trong tình hình mới một cách thường xuyên, liên tục và không khoan nhượng nhằm góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Hàng trăm người vượt 2.000 km từ ổ dịch Bình Dương đi qua Thủ đô để về quê

 Đêm 5/10, CSGT Hà Nội đã dẫn đoàn, hỗ trợ hàng trăm người dân đi xe máy từ tâm dịch Bình Dương về quê ở các tỉnh phía Bắc tránh dịch, phải đi qua địa phận của TP Hà Nội.

Vượt gần 2.000km từ ổ dịch Bình Dương, hàng trăm người đi xe máy về quê tránh dịch ngang qua Thủ đô

Nhận được thông tin về đoàn xe hàng trăm người dân các tỉnh thành phía Bắc trở về từ Bình Dương và sẽ đi qua địa phận TP Hà Nội, CSGT Hà Nội phối hợp các lực lượng cùng tiếp đón, hỗ trợ lương thực, nước uống và dẫn đoàn xe này đi qua Hà Nội an toàn để trở về quê nhà. Đoàn xe máy này đã vượt gần 2.000 km nên đa số đều cảm thấy rất mệt mỏi sau nhiều giờ liền chạy xe trên đường.

Đoàn xe đến chốt kiểm soát trên quốc lộ 1A vào chiều 5/10, được lực lượng chức năng hướng dẫn khai báo và sàng lọc, xét nghiệm Covid-19. Sau đó đoàn được CSGT đội 7 CATP Hà Nội hướng dẫn đi theo hàng lối, di chuyển ngang qua địa phận Thủ đô, đi xuyên qua đường Nguyễn Xiển - Khuất Duy Tiến - Phạm Hùng - quốc Lộ 32 về cầu Trung Hà để lên các tỉnh phía Bắc.

Hàng trăm người vượt 2.000 km từ ổ dịch Bình Dương đi qua Thủ đô để về quê - 1

Nhấn để phóng to ảnh

21h tối ngày 5/10, đoàn người đi xe máy về quê từ Bình Dương được CSGT Hà Nội dẫn đoàn để đảm bảo an toàn đi qua địa phận TP Hà Nội.

"Được trở về nhà tôi cảm thấy rất vui. Chúng tôi không được xét nghiệm vì ở Bình Dương, xét nghiệm cho người nghi nhiễm đã bị quá tải. Chúng tôi đi đến tỉnh nào, ở đó yêu cầu xét nghiệm thì họ sẽ làm luôn xét nghiệm cho chúng tôi. Đường xa quá, chúng tôi không biết đường về nhưng may mắn đã có lực lượng Cảnh sát giao thông dẫn đường để chúng tôi về nhà an toàn hơn", anh Sùng Mí Dia, một công nhân ở Bình Dương cho biết.

Hàng trăm người vượt 2.000 km từ ổ dịch Bình Dương đi qua Thủ đô để về quê - 2

Nhấn để phóng to ảnh

Hàng trăm xe máy từ Bình Dương về các tỉnh phía Bắc phải đi qua địa phận Hà Nội.

Hàng trăm người vượt 2.000 km từ ổ dịch Bình Dương đi qua Thủ đô để về quê - 3

Nhấn để phóng to ảnh

Do phải di chuyển một quãng đường dài hàng nghìn km nên tất cả người dân đều cảm thấy rất mệt mỏi.

"Tại vì đường quá xa nên chúng tôi đã chủ động mua thêm các chai xăng tích trữ, trong trường hợp đi đường mà không có cây xăng thì có thể mang ra tự đổ để tiếp tục hành trình. Không có xăng thì không thể đi tiếp được", anh Vừ Mí Pó, người dân huyện Si Ma Cai, Lào Cai chia sẻ.

Hàng trăm người vượt 2.000 km từ ổ dịch Bình Dương đi qua Thủ đô để về quê - 4

Nhấn để phóng to ảnh

Đồ đạc lỉnh kỉnh trên xe máy được người dân mang về quê. Đa số họ là những người có hoàn cảnh khó khăn, không thể ở lại Bình Dương do chi phí ăn ở tốn kém và không có việc làm.

Sau 23 giờ đêm ngày 5/10, đoàn xe máy của những người dân đi làm xa quê tại Bình Dương đã ra khỏi Hà Nội an toàn để trở về các tỉnh miền núi phía Bắc. Đa số các trường hợp này là những hoàn cảnh khó khăn, không thể trụ lại ở Bình Dương nên đã đi xe máy về quê để tránh dịch.

Nguồn: Dân trí.