Chủ Nhật, 10 tháng 10, 2021

Địa phương cách ly thế nào với hành khách đi máy bay?

Hà Nội, Hải Phòng, Thừa Thiên Huế, Lâm Đồng cách ly tập trung hành khách đi từ sân bay Tân Sơn Nhất, các địa phương khác yêu cầu khách theo dõi tại nhà. Theo quy định của TP Hà Nội, hành khách đến từ TP HCM lưu trú tại thủ đô sẽ phải cách ly tập trung 7 ngày tại khu cách ly của thành phố hoặc tại một trong 20 khách sạn đã công bố. Khách tự chi trả chi phí cách ly và xét nghiệm. Hết 7 ngày cách ly tập trung, khách tiếp tục theo dõi sức khỏe tại nơi ở 7 ngày. Hành khách từ Đà Nẵng về Nội Bài và lưu trú tại Hà Nội sẽ cách ly tại nơi lưu trú trong 7 ngày, xét nghiệm 2 lần vào ngày đầu tiên và ngày thứ sáu trước khi kết thúc cách ly và tiếp tục theo dõi sức khỏe tại nơi lưu trú/nhà 7 ngày tiếp theo. Thành phố đã lên danh sách 20 khách sạn để bố trí cách ly. Hiện nay sân bay Nội Bài mới đón chuyến bay từ TP HCM và Đà Nẵng. Giống như thủ đô, TP Hải Phòng áp dụng quy định hành khách từ TP HCM đến Cát Bi và lưu trú tại Hải Phòng phải cách ly tập trung 7 ngày, lấy mẫu xét nghiệm vào ngày thứ ba và thứ bảy; tiếp tục tự cách ly tại nhà/nơi lưu trú trong 7 ngày, lấy mẫu xét nghiệm vào ngày cuối cùng cách ly. Thành phố đã lên danh sách khách sạn trên địa bàn quận Hải An, Ngô Quyền, Lê Chân, Hồng Bàng... với nhiều mức giá phòng để hành khách lựa chọn. Hiện nay sân bay Cát Bi chỉ đón chuyến bay từ TP HCM. Thừa Thiên Huế cũng yêu cầu hành khách từ TP HCM cách ly tập trung 7 ngày kể từ ngày về địa phương. Sau khi hoàn thành cách ly tập trung, khách tiếp tục được giám sát y tế tại nhà/nơi lưu trú thêm 7 ngày. Ngoài ra, trước khi đến Huế, hành khách cần khai báo qua đường link https://tuongtac.thuathienhue.gov.vn/khaibao và phải được phê duyệt trước khi mua vé. Hiện tỉnh chỉ tiếp nhận chuyến bay từ TP HCM. Tương tự, Lâm Đồng yêu cầu hành khách cách ly tập trung 7 ngày tại khu cách ly đóng trên địa bàn hoặc khu cách ly tại doanh nghiệp và theo dõi sức khỏe trong 7 ngày tiếp theo, xét nghiệm vào ngày thứ nhất, thứ bảy tính từ ngày được vào tỉnh Lâm Đồng. Hiện nay tỉnh mới tiếp nhận chuyến bay từ Thanh Hóa. Không quy định cách ly tập trung, song TP Đà Nẵng yêu cầu hành khách cách ly tại nhà/nơi lưu trú 14 ngày với người về từ vùng dịch. Trong thời gian này, khách được xét nghiệm PCR lần một ngay khi cách ly, lần hai vào ngày thứ tư, lần ba vào ngày thứ bảy, lần bốn vào ngày thứ 14 tính từ khi rời khỏi địa phương. Hiện Đà Nẵng đón chuyến bay từ TP HCM và Hà Nội, Cần Thơ, Đăk Lăk. Phần lớn tỉnh thành khác yêu cầu hành khách cách ly, theo dõi sức khỏe tại nhà/nơi cư trú 7 ngày và xét nghiệm Covid-19 một đến hai lần như Điện Biên, Thanh Hóa, Quảng Nam, Bình Định, Khánh Hòa, Kiên Giang, Nghệ An. Ngoài quy định riêng của địa phương về cách ly y tế, hàng khách đi máy bay còn chấp hành quy định của Bộ Giao thông Vận tải. Cụ thể khách phải tiêm đủ liều vaccine phòng Covdi-19 (thẻ xanh trên Sổ Sức khoẻ điện tử/PC-COVID hoặc giấy chứng nhận tiêm đủ liều vaccine của cơ quan có thẩm quyền cấp, liều cuối cùng đã được tiêm ít nhất 14 ngày) hoặc đã khỏi Covid-19 trong 6 tháng tính đến thời điểm về địa phương (có giấy ra viện/giấy xác nhận khỏi bệnh; có kết quả xét nghiệm âm tính với nCoV trong 72 giờ trước khi lên máy bay. Hành khách khai báo y tế; hoàn thành bản cam kết phòng dịch khi làm thủ tục hàng không; không tham gia chuyến bay khi ho, sốt, khó thở, đau mỏi cơ, đau rát họng... Trên máy bay, khách đeo khẩu trang, sát khuẩn tay, hạn chế tiếp xúc. Quá trình về nơi cư trú, lưu trú, khách phải thực hiện 5K, không tiếp xúc đông người; chủ động thông báo với chính quyền địa phương nơi cư trú, lưu trú; tự theo dõi sức khỏe hoặc cách ly tại nơi cư trú, lưu trú theo quy định cụ thể của từng địa phương về các biện pháp phòng chống dịch.

CẬU BÉ SỐNG SÓT TỪ NHÀ TÙ DIỆT CHỦNG KHMER ĐỎ: "NGƯỜI SINH RA TÔI LẦN THỨ HAI LÀ BỘ ĐỘI VIỆT NAM"

 Norng Chan Phal là 1 trong 4 đứa trẻ được quân tình nguyện Việt Nam cứu khỏi nhà tù diệt chủng khi cùng binh lính Campuchia vào giải phóng thủ đô Phnom Penh. Gặp Norng Chan Phal vào tháng 9 năm 2019 tại Bảo tàng Tội ác diệt chủng Toul Sleng – trước đây là trại giam khét tiếng S-21, nơi đã diễn ra những cuộc tra tấn và hành quyết cướp đi sinh mạng của khoảng 20.000 người dân vô tội Campuchia dưới chế độ Khmer Đỏ.

Norng Chan Phal hồi tưởng lại ký ức kinh hoàng về những ngày bị giam cầm tại địa ngục trần gian cách đây 40 năm. Tai họa ập đến với gia đình Norng Chan Phal khi cha anh đột nhiên bị lính Pol Pot bắt vào giữa năm 1978, ít tháng sau đó chúng quay lại đưa cả gia đình Norng Chan Phal đi và cho biết sẽ được gặp cha ở nơi có cuộc sống tốt hơn. Khi chiếc xe tải chở kín người vừa đỗ trước cổng một trường học mà Khmer Đỏ biến thành nhà tù S-21, chúng xua người dân đa số là phụ nữ, trẻ em xuống xe thật nhanh, ai chậm trễ bị chúng đạp ngã lộn xuống đất.
Những tên lính hung tợn tay lăm lăm cầm gậy gỗ vung lên vụt vào đầu, vào mặt bất kỳ người nào không vì lý do gì. Máu me vương vãi khắp nơi, những tiếng kêu khóc bật lên rồi im bặt nhường chỗ cho tiếng quát tháo và tiếng gậy, tiếng roi vut vút. Norng Chan Phal và em trai bị mẹ dùng 2 tay bịt chặt miệng không cho kêu khóc vì lo sợ làm lính Pol Pot tức giận đem đi giết. Trong trại giam, do sợ hãi trước sự tàn ác của Khmer Đỏ nên ai nấy đều phải làm theo bất kỳ yêu cầu nào của chúng. Hàng ngày, chúng vào phòng giam gọi từng tốp người đi tra tấn, hành quyết.
Norng Chan Phal nhớ lại: “Bên trong căn phòng bị nhồi chặt người ở nhà tù, tôi không chứng kiến được cảnh bọn chúng giết người, nhưng tôi thấy bọn chúng bắt người đưa ra ngoài và sau đó nghe thấy những tiếng gào thét, tiếng rú của các nạn nhân vang lên rồi lịm tắt”.
Đối với Norng Chan Phal, đỉnh điểm nỗi sợ hãi là khi anh và người em trai bị lũ Pol Pot giằng ra khỏi tay mẹ để đưa sang phòng giam khác. Đó cũng là lần cuối cùng hai anh em Norng Chan Phal được nhìn thấy mẹ, họ không thể biết điều gì đã xảy đến với bà sau đó, ánh mắt của người mẹ trong giờ khắc ấy trở thành nỗi ám ảnh với họ suốt cả cuộc đời. Người em trai của Norng Chan Phal sau này không bao giờ dám quay trở lại nhà tù khi nó đã trở thành Bảo tàng Tội ác diệt chủng do bị ám ảnh bởi những ký ức hãi hùng.
May mắn đến với Norng Chan Phal khi giai đoạn đen tối trong nhà tù S-21 mới trải qua ít ngày thì bộ đội tình nguyện Việt Nam cùng lực lượng cách mạng Campuchia giải phóng Phnom Penh, lật đổ chế độ Khmer Đỏ vào ngày 7/1/1979.
Khi bộ đội Việt Nam tiến vào nhà tù, xung quanh là cảnh tượng chết chóc, u ám và tĩnh lặng như tờ, anh em Norng Chan Phal nép sát vào đống quần áo được gom lại ở một góc phòng không dám nhúc nhích, họ nhìn thấy những người lính tay cầm súng nên rất hoảng sợ.
Norng Chan Phal hồi tưởng lại: “Những người lính Việt Nam đưa chúng tôi ra khỏi đống quần áo tù nhân. Họ thấy người chúng tôi đầy vết muỗi cắn, côn trùng đốt, không được ăn mấy ngày nay rồi, thì họ đã lấy hơn một nửa túi gạo đem bên mình, nấu cơm cho chúng tôi. Đợi chúng tôi ăn xong, thì họ mới đi”.
Chỉ vào bức ảnh 4 đứa trẻ trần truồng được những người lính Việt Nam bế ra khỏi nhà tù S-21, Norng Chan Phal cho biết khi đó lũ trẻ ở trong tù không có quần áo để mặc, người dính đầy bẩn thỉu, máu me, bộ đội Việt Nam đã nhanh chóng nhấc họ lên, ôm vào lòng rồi đi qua những dãy xác người bốc mùi dọc nhà tù để thoát ra ngoài.
Nói đến đó, bất chợt ánh mắt Norng Chan Phal sáng lên, nhìn thẳng vào chúng tôi, anh quả quyết: "Người sinh ra tôi lần thứ hai là bộ đội Việt Nam. Nếu bộ đội Việt Nam tới chậm ít ngày nữa, chắc chắn 4 đứa trẻ chúng tôi không thoát khỏi số phận như hàng nghìn trẻ em xấu số khác trong nhà tù này".
Hình ảnh về người lính tình nguyện Việt Nam luôn là những kỷ niệm đẹp đối với Norng Chan Phal trong suốt quãng đời sau này. Sự ân cần, yêu thương, chăm sóc của các anh bộ đội Cụ Hồ đã giúp xoa dịu phần nào nỗi đau tột cùng mà Norng Chan Phal phải trải qua.
Nhớ lại những ngày tháng ấy, Norng Chan Phal nói: “Khi ở trại trẻ mồ côi, chúng tôi được bộ đội Việt Nam yêu thương chăm sóc, nuôi dưỡng như con vậy. Họ dạy tôi ăn nói lễ phép với người lớn, khi có thời gian rảnh là lại đến thăm tôi, đưa tôi đi chơi hoặc gửi cho tôi trái dừa... Đến những năm 80 thì quân đội Việt Nam bắt đầu rút về nước, và từ đó đến nay tôi hoàn toàn không biết tin gì về họ. Tôi hy vọng một ngày nào đó tôi được gặp lại họ”.
Nói đến đây, Norng Chan Phal đưa mắt nhìn về xa xăm. Anh cho biết ít ngày tới sẽ đưa con gái lớn của anh về Việt Nam, tham dự một sự kiện kỷ niệm ngày Campuchia được giải phóng tại TP.HCM.
Anh mong muốn sẽ được gặp lại những người lính tình nguyện Việt Nam năm nào, để được ôm thật chặt lấy họ nói lời cảm ơn. Anh cũng mong các con của mình sẽ ghi nhớ mãi mãi công ơn của bộ đội Việt Nam, những người đã đem lại hòa bình, ấm no cho đất nước Campuchia ngày nay.



Không ngừng học Bác


          Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến công tác giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên. Người chỉ rõ "Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém". Do vậy, phải đặc biệt chú trọng công tác giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, đảng viên, xây dựng được nhiều tấm gương người tốt, việc tốt.  

          Việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã được Đảng ta nêu ra và chỉ đạo từ rất sớm, bằng nhiều chỉ thị, nghị quyết, qua nhiều thời kỳ. Gần đây nhất là Chỉ thị số 05 của Bộ Chính trị (khóa XII) "về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" gắn với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về "Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, đã đạt được nhiều kết quả rất quan trọng, khá toàn diện, với nhiều cách làm mới, sáng tạo, thiết thực, tạo chuyển biến mạnh mẽ, tích cực, có sức lan tỏa sâu rộng trong toàn Đảng và toàn xã hội, được Đại hội XIII của Đảng đánh giá cao.

          Trong nhiệm kỳ XII của Đảng, việc đẩy mạnh tuyên truyền về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để từ đó lan tỏa những tấm gương, những nghĩa cử, những hành động đẹp trong xã hội đã được các cấp, ngành trong cả nước chú trọng thực hiện. Khắp mọi miền đất nước, từ thành thị tới nông thôn, từ đồng bằng tới miền núi, hải đảo xa xôi không khó thấy những tấm gương người tốt, việc tốt, những cách làm hay, đầy sáng tạo, tô thắm thêm những giá trị truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam.

          Chính phủ, các ban, ngành, địa phương đã tổ chức nhiều cuộc vận động, phong trào thi đua thiết thực. Thủ tướng Chính phủ phát động Phong trào thi đua “Cả nước chung tay vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau”. Quân ủy Trung ương phát động Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh bộ đội Cụ Hồ”, xây dựng các mô hình: “Tự soi, tự sửa”, “Làm việc theo chức trách, nêu gương trong hành động”; “Trên làm gương mẫu mực, dưới tích cực làm theo”; “Đảng viên dìu dắt quần chúng”. Đảng ủy Công an Trung ương có cuộc vận động “Xây dựng phong cách người Công an nhân dân bản lĩnh, nhân văn, vì nhân dân phục vụ”, Phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” ở các địa phương trong cả nước. Ban Dân vận Trung ương có phong trào thi đua “Dân vận khéo”. Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”.
          Nhiều địa phương đã có những các cách làm hay, sáng tạo và hiệu quả trong việc đưa Chỉ thị 05-CT/TW vào cuộc sống. Đó là mô hình “Mỗi đảng viên đóng góp, giúp đỡ một gia đình chính sách có hoàn cảnh khó khăn, mỗi cá nhân gắn liền với một địa chỉ nhân đạo” của Đồng Tháp; Mô hình “gần dân, sát dân và giúp dân” của Bình Dương; Mô hình “Nhân dân đăng ký 3 nội dung: Treo ảnh Bác nơi trang nghiêm trong nhà, gia đình không vi phạm pháp luật, gia đình không vi phạm an toàn giao thông”; “Sư cả và Ban quản trị chùa học tập và làm theo Bác” của Vĩnh Long… Tại Bình Dương, mô hình “Gần dân, sát dân”, “Gần dân, sát dân và giúp dân”, “Gần dân, sát cơ sở” của Đảng bộ Bến Cát, Bàu Bàng, Dĩ An, Dầu Tiếng, Bắc Tân Uyên đã tạo sự gắn kết mật thiết giữa tổ chức Đảng, đảng viên với quần chúng nhân dân.

          Đặc biệt, từ năm 2020, trước những ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, người dân trên mọi miền Tổ quốc đã chung sức, đồng lòng với Đảng, Nhà nước chống lại đại dịch. Ở những công việc, vị trí khác nhau, mỗi người đều có cách của riêng mình để chung tay cùng cộng đồng phòng, chống dịch bệnh, lan tỏa sâu đậm tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc trong tư tưởng của Người.

          Những kết quả tích cực trong thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW đã góp phần đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu các tổ chức, cơ quan, đơn vị; xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, có trách nhiệm và động cơ đúng đắn, tiên phong, gương mẫu, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, góp phần tạo ra những đột phá trong việc phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ đất nước. 



Tin COVID-19 chiều 10-10, cả nước 3.528 ca nhiễm mới, TP.HCM chỉ 1.067 ca

 

Tính từ 17h ngày 9-10 đến 17h ngày 10-10, Hệ thống quốc gia quản lý ca bệnh COVID-19 ghi nhận 3.528 ca COVID-19 mới, trong đó 15 ca nhập cảnh. Số ca mới giảm 999 ca so với ngày trước đó tại 41 tỉnh, thành phố (có 1.211 ca cộng đồng).

Đảng “đúng vai, thuộc bài”

 

“Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” là một nguyên tắc hoạt động của Đảng, được Đại hội X của Đảng thông qua và đưa vào Điều lệ Đảng. Nguyên tắc này xác định địa vị pháp lý của Đảng cầm quyền và phương thức hoạt động của Đảng trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở nước ta hiện nay; thể hiện sinh động cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ"; đề phòng và khắc phục tình trạng "bao biện làm thay" hoặc buông lỏng lãnh đạo...

Ngày này năm xưa: 11-10-1962, chuyến tàu gỗ đầu tiên khai thông Đường Hồ Chí Minh trên biển

 

Ngày 11-10-1962, Đường Hồ Chí Minh trên biển được khai thông bằng sự kiện chuyến tàu gỗ gắn máy đầu tiên chở hơn 30 tấn vũ khí từ Hải Phòng vào đến Cà Mau.

CẨN TRỌNG VỚI FANPAGE GIẢ MẠO CÁC CƠ QUAN CHỨC NĂNG

Thời gian gần đây, nhiều fanpage giả mạo các cơ quan chức năng đã xuất hiện trên mạng xã hội facebook với những thông tin thất thiệt, sai sự thật. Việc chia sẻ thông tin từ các fanpage giả mạo này không chỉ tác động tiêu cực đến dư luận xã hội mà còn ảnh hưởng đến nhận thức, hành vi của nhiều cá nhân.

Mới đây, Trung tâm xử lý tin giả (VAFC), đơn vị trực thuộc Cục Phát Thanh-Truyền hình và Thông tin điện tử, Bộ Thông tin và Truyền thông vừa đưa ra cảnh báo về một số fanpage giả mạo trên facebook như: fanpage “Ban Tuyên giáo Trung ương” giả mạo Ban Tuyên giáo Trung ương; fanpage “Cảnh Sát Hình Sự” giả mạo kênh thông tin của Bộ Công an; fanpage “Tin tức thời sự VTV3” giả mạo tài khoản kênh VTV3 của Đài Truyền hình Việt Nam... Các fanpage này sử dụng hình ảnh đại diện, chia sẻ thông tin giống hệt với những cơ quan bị mạo danh. Điều này rất dễ gây nhầm lẫn với người dùng mạng xã hội khi tìm kiếm thông tin.

Theo cơ quan chức năng, các fanpage này thường xuyên đăng tải những thông tin chưa qua kiểm chứng liên quan đến các lĩnh vực của đời sống, trật tự xã hội, dịch bệnh COVID-19... Điều đáng nói, các fanpage giả mạo nói trên có đến hàng trăm nghìn lượt người thích và chia sẻ. Điển hình như fanpage “Cảnh Sát Hình Sự” có hơn 165 nghìn lượt yêu thích, 176 nghìn lượt chia sẻ. Do vậy, khi những thông tin thiếu kiểm chứng được đăng tải trên các fanpage này sẽ có ảnh hưởng lớn đến hàng trăm nghìn lượt người thường xuyên theo dõi.

Do đó, để hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực từ các fanpage giả mạo, các cơ quan chức năng cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và kịp thời xử lý những cá nhân, tổ chức liên quan đến các fanpage giả mạo theo đúng quy định của pháp luật. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức, các lực lượng và người dùng mạng xã hội đối với việc đấu tranh, loại bỏ các fanpage giả mạo.

Xét nghiệm PCR tự nguyện tại Hà Nội giá bao nhiêu, ở đâu?

 

Những ngày gần đây, sau khi TP Hà Nội nới lỏng giãn cách, nhiều người dân có nhu cầu xét nghiệm Covid-19 tự nguyện để thuận tiện trong việc đi lại và làm việc nhưng lại không biết có thể xét nghiệm ở đâu, giá bao nhiêu...

Phòng chống “Tự diễn biến, tự chuyển hoá”: “Thầy bói xem voi”

 

Chẳng là có "ông thầy bói” ngụ tại trời Tây mà “xem bói” tại “trời ta”, ông lim rim, rờ rẫm, rồi lẩm cẩm phán rằng ở Việt Nam là “quốc gia không có tự do trên mạng internet”.

Quân đội đẩy mạnh đấu tranh chống diễn biến hòa bình trên các trang mạng xã hội

 

Những năm gần đây, tình trạng bất ổn, bạo động, biến động chính trị và xung đột vũ trang trên thế giới, điển hình như ở các nước Trung Đông, Bắc Phi có sự tham gia rất lớn của các trang mạng xã hội. “Diễn biến hòa bình” qua mạng xã hội đã và đang là phương thức, thủ đoạn chủ yếu của các thế lực thù địch, phản động quốc tế trong giai đoạn bùng nổ thông tin ngày nay, nhất là đối với Việt Nam chúng ta.

Đoàn kết - sức mạnh vô địch của Đảng

 

Đoàn kết là truyền thống quý báu của dân tộc và của Đảng ta. Các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác-Lênin nhấn mạnh: Đoàn kết là yêu cầu chiến lược để đảng cộng sản thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình. Đoàn kết là sức đề kháng để Đảng phòng ngừa các nguy cơ bè phái, cục bộ, “lợi ích nhóm”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”...

Chữa “bệnh” xa dân

 

Gắn bó mật thiết với nhân dân là phẩm chất cốt lõi thể hiện bản chất, sức sống của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Ý dân là ý trời. Làm đúng ý nguyện của dân thì ắt thành. Làm trái ý nguyện của dân thì ắt bại”

Nhân dân là cội nguồn làm nên sức mạnh vô tận và vô địch của Đảng. Nắm được sức mạnh của lòng dân, có được sự ủng hộ của nhân dân là vũ khí tối ưu trên mọi trận tuyến chống các thế lực thù địch, phản động.

Trái lòng dân là mất tất cả

Có thể khẳng định, trải qua các thời kỳ phát triển của Đảng, việc xây dựng mối liên hệ, gắn bó với nhân dân luôn được Đảng coi trọng. Đảng thường xuyên khẳng định cần gắn bó mật thiết với nhân dân, coi đây là cội nguồn sức mạnh, nhân tố làm nên thắng lợi của Đảng, của sự nghiệp cách mạng. Đến Đại hội X (2006), trước yêu cầu của tình hình, nhiệm vụ trong thời kỳ mới, Đảng chính thức nâng vấn đề này lên thành nguyên tắc và ghi vào trong Điều lệ Đảng: "Đảng phải giữ mối liên hệ mật thiết với nhân dân". Đây thực sự là một bước ngoặt, đánh dấu nhận thức mới của Đảng đối với mối quan hệ Đảng với nhân dân trong tình hình mới.

Nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân có vai trò to lớn không chỉ đối với bản thân Đảng, mà còn có ý nghĩa, tác dụng to lớn đối với các tầng lớp nhân dân, đối với Nhà nước và các đoàn thể nhân dân do Đảng lãnh đạo. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội, “Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Gắn bó mật thiết với nhân dân trở thành quy luật tồn tại và phát triển của Đảng.

Nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân xuất phát từ yêu cầu của đảng cầm quyền: Đảng muốn giữ được vị trí cầm quyền phải giữ được sự ủng hộ của đông đảo nhân dân. Quần chúng nhân dân là đối tượng lãnh đạo của Đảng. Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ trung thành của nhân dân. Vì thế, mối liên hệ giữa Đảng với nhân dân tạo nên sức mạnh của Đảng, duy trì và củng cố vững chắc địa vị cầm quyền của Đảng. Từ thực tiễn sinh động, từ phong trào quần chúng, Đảng hoạch định, xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách. Những sáng kiến đóng góp của quần chúng giúp Đảng đề ra được đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn, hợp lòng dân. Khi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng được ban hành, chính nhân dân là người thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách đó. Mục tiêu, đường lối của Đảng chỉ có thể trở thành thực tiễn trong đời sống của nhân dân khi Đảng huy động được mọi nguồn lực trong nhân dân, được nhân dân đồng tình và tự giác thực hiện. Nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân góp phần trực tiếp khơi dậy nguồn nhân lực, tài lực, vật lực, trí lực dồi dào của nhân dân, nhân lên thành sức mạnh để hiện thực hóa lợi ích của nhân dân.

Bảo vệ "lõi vàng văn hóa Đảng": Bài 4 - Chữa “bệnh” xa dân
Quang cảnh phiên bế mạc Đại hội XIII của Đảng tại Trung tâm Hội nghị quốc gia. Ảnh: nhandan.com.vn 

Đại hội XIII của Đảng khẳng định: Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, quan điểm “dân là gốc”, là chủ thể của công cuộc đổi mới được nhận thức và thực hiện ngày càng sâu sắc, đầy đủ hơn; mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân được củng cố, tăng cường. Nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng và hệ thống chính trị được nâng cao; coi trọng việc lắng nghe, nắm tình hình và giải quyết những nguyện vọng, kiến nghị hợp pháp, chính đáng, những vấn đề bức xúc của nhân dân; góp phần tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân và phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng. Trong 5 năm qua, các cấp ủy đã phối hợp với Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) và các tổ chức chính trị-xã hội tổ chức hơn 90.000 hội nghị đối thoại giữa cấp ủy, chính quyền với nhân dân; MTTQ, tổ chức chính trị-xã hội các cấp và nhân dân đã có hơn 32.000 ý kiến góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.

Một trong những bài học kinh nghiệm được Đảng ta rút ra từ những thành công của quá trình đổi mới, nhất là sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII là: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm "dân là gốc"; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng". Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”. Đó chính là nguyên nhân quan trọng để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, thu được những thành tựu rất quan trọng, toàn diện trên mọi lĩnh vực kinh tế-xã hội. Nhiều lĩnh vực để lại dấu ấn nổi bật như tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho đất nước, chống tham nhũng, lãng phí...

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nhấn mạnh: “Ta làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Ngược lại, nếu làm cái gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả”.

“Bệnh” xa dân còn nặng

 Nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân ai cũng thấy đúng, thấy quan trọng, cần thiết, nhưng trong thực tế vận hành nguyên tắc thì còn tồn tại nhiều hạn chế, khuyết điểm. Nghị quyết Đại hội XIII xác định: “Công tác dân vận có nơi, có lúc còn hạn chế; một số cấp ủy, tổ chức đảng còn xem nhẹ công tác dân vận; việc nắm, đánh giá, dự báo tình hình, nhất là ở những địa bàn phức tạp chưa kịp thời, sâu sát. Công tác vận động, tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là những vấn đề liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng và trách nhiệm của nhân dân còn một số bất cập. Việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; tập hợp, phát triển đoàn viên, hội viên; xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc chưa đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Vai trò giám sát, phản biện xã hội của MTTQ, các tổ chức chính trị-xã hội và nhân dân ở một số nơi chưa thường xuyên, hiệu quả còn thấp, nhất là giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên”(2).

Không ít cấp ủy, tổ chức đảng ở cơ sở chưa quan tâm, chú trọng phòng ngừa, phát hiện sớm, chưa kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, chưa giải quyết triệt để những bức xúc chính đáng của nhân dân, vẫn để xảy ra những “điểm nóng” về chính trị-xã hội. Cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực vẫn ở tình trạng “trên nóng, dưới lạnh” khiến người dân có cảm giác “quan ở xa, bản nha ở gần”. Các tổ chức chính trị-xã hội hoạt động còn nặng về hành chính, chưa thực sự thu hút, lôi cuốn quần chúng. Cán bộ làm công tác ở MTTQ các cấp còn bị xem nhẹ, chưa có cơ chế hoạt động hiệu quả, chưa có nhiều cán bộ giỏi đam mê làm công tác này. Tinh thần phục vụ nhân dân của không ít cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính chưa tốt; công tác cải cách hành chính còn chậm. Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở còn nặng về hình thức. Cấp ủy, tổ chức đảng ở một số nơi chưa thực sự dựa vào dân để xây dựng Đảng. Tổ chức đảng và đảng viên chưa bám sát đời sống một bộ phận nhân dân gặp khó khăn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo, công nhân lao động ở các khu công nghiệp...

Một bộ phận cán bộ, đảng viên vô cảm trước khó khăn, bức xúc của nhân dân. Trong xã hội đang hình thành một tầng lớp thượng lưu “đặc quyền, đặc lợi”, sống xa xỉ, hưởng lạc, xa cách nhân dân lao động, trong đó có cả đảng viên hoặc vợ con của những đảng viên là cán bộ cấp cao. Một số cấp ủy, tổ chức đảng ra nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết thiếu khoa học, thiếu dân chủ, không đáp ứng được nguyện vọng của quần chúng. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, trong phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII cho rằng: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" vẫn chưa được ngăn chặn, đẩy lùi một cách căn bản, thậm chí có mặt còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn, có thể gây ra những hậu quả khôn lường(3).

Những giải pháp gần dân

Đại hội XIII của Đảng với quan điểm “kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng” đã xác định: “Thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng” là một trong những nhiệm vụ, giải pháp đột phá trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Theo chúng tôi, triển khai nhiệm vụ, giải pháp này cần thực hiện một số nội dung trọng tâm sau đây:

Một là, cấp ủy các cấp tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự “trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân”.

Hai là, hoàn thiện thể chế “Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân”; trong đó cụ thể hóa các quy định về bí thư cấp ủy định kỳ tiếp xúc, đối thoại với quần chúng nhân dân; quy định về vai trò của quần chúng nhân dân trong giám sát, quản lý, đánh giá đội ngũ cán bộ; tiếp tục hoàn thiện và đẩy mạnh thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở.

Ba là, nâng cao hiệu quả công tác dân vận của các cơ quan đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương. Trong kiểm điểm, đánh giá chất lượng đảng viên hằng năm, nhất định phải có phần kiểm điểm, đánh giá chất lượng, hiệu quả công tác dân vận của đảng viên.

Bốn là, cấp ủy các cấp, nhất là Trung ương Đảng tăng cường công tác nắm bắt, nắm chắc lòng dân với các chỉ số đo lường trung thực, chính xác. Có nắm chắc lòng dân thì mới có giải pháp, biện pháp kịp thời củng cố, nâng cao sự gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân.

Đảng ta là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội nhưng Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Chính điều đó giúp Đảng ta luôn xứng đáng là đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, của nhân dân và của cả dân tộc. 

ĐÔI ĐIỀU GỬI ĐẾN ÔNG TỔNG BIÊN TẬP BÁO TIỀN PHONG LÊ XUÂN SƠN!

Là Tổng Biên tập và cũng là người đứng đầu Báo Tiền phong - Cơ quan ngôn luận của tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh thuộc quyền quản lý Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, thiết nghĩ hơn ai hết ông phải hiểu và nắm vững được vị trí, vai trò, trách nhiệm và sứ mệnh lịch sử của mình cũng như vị thế, uy tín và danh dự của tờ báo cách mạng mang hai chữ "Tiền phong" mà ông đang nắm giữ!

Có lẽ ông Lê Xuân Sơn đã quên chức năng, nhiệm vụ và sứ mệnh của "Tiền Phong" là phải thực hiện tốt những nhiệm vụ chính trị do Đảng, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh giao, tích cực tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bằng những việc làm cụ thể để tuyên truyền lấy cái đẹp dẹp cái xấu, lấy cái tích cực đẩy lùi cái tiêu cực. Người làm báo phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ nghiệp vụ chuyên môn, lấy sứ mệnh và tôn chỉ mục đích của tờ báo là mục tiêu hoạt động. Nội dung hoạt động sau mặt báo phải định hướng và cỗ vũ hành động với tư cách là cơ quan tổ chức phong trào thanh niên. Để làm được những điều trên thì phải luôn học tập nâng cao nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp, góp phần xây dựng môi trường báo chí trong sạch, lành mạnh.


Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn:

“Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”; “Bài báo là tờ hịch cách mạng”. Do đó người làm báo phải hiểu rõ mục tiêu và nhiệm vụ của mình trên mặt trận tư tưởng văn hoá. Hơn nữa Người cũng từng nhắc nhở “Một tờ báo không được đại đa số (dân chúng) ham muốn thì không xứng đáng là một tờ báo”, và “không riêng gì viết sách, viết báo, mà công tác gì muốn làm tốt đều phải coi trọng ý kiến của nhân dân”.

Trên tinh thần nhận diện sự thật phản bác quan điểm sai trái tôi xin đóng góp với ông một số vấn đề mà dư luận đang rất quan tâm trong thời gian gần đây để ông suy xét.


Một là về vấn nạn xét lại, xuyên tạc lịch sử ý nghĩa chiến thắng 30.4.1975.

Hiện nay các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội, bất mãn chính trị, những người nhân danh “yêu nước”, “người bất đồng chính kiến” vẫn hằn học, điên cuồng bày các chiêu trò, thủ đoạn chống phá quyết liệt, đặc biệt trên không gian mạng. Chúng tung ra rất nhiều chiêu trò, giọng điệu xảo trá để bóp méo, xuyên tạc giá trị, ý nghĩa lịch sử, ý nghĩa thời đại của chiến thắng 30-4-1975. Thậm chí, chúng còn hỗn hào xuyên tạc thành “cuộc chiến tranh xâm lược của miền Bắc với miền Nam”, là cuộc “nội chiến”, là “chiến tranh ủy nhiệm”... mục đích là nhằm gây chia rẽ, thù hằn dân tộc; làm giảm sút niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Nhằm làm phai mờ đi ý nghĩa của ngày 30/4/1975, đại thắng mùa xuân đã làm thất bại hoàn toàn và ách thống trị thực dân mới của đế quốc Mỹ ở miền Nam, giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước. Đây là cuộc đấu tranh cứu nước lâu dài nhất, khó khăn nhất và vĩ đại nhất trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta.

Vậy mà thật đáng buồn Khi trên trang bìa số báo đặc biệt Tiền Phong trong dịp lễ ngày 30.4.2020 không có một hình ảnh và bài đăng nào để tuyên truyền. Các hướng dẫn từ Trung ương đến địa phương đều có vậy sao Tiền phong lại do dự? Quan sát trang bìa chỉ dùng đúng 1 dòng nhỏ bố trí ở góc cạnh bên trên ghi ngắn gọn 1 câu nhưng nội dung cũng thiếu sót nghiêm trọng, khi nội dung đã lượt bỏ đi cụm từ "giải phóng miền Nam". Nếu đúng khẩu hiệu tuyên truyền phải là "Chào mừng kỷ niệm 45 năm ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước" thì báo Tiền Phong chỉ ghi đơn giản là "Chào mừng 45 năm ngày thống nhất đất nước". Vậy sự thiếu sót này là ẩn ý gì??? Có phải báo "Tiền phong" lại sợ bên kia buồn, vì sợ bên kia chạnh lòng khi chúng ta kỷ niệm ngày giải phóng như vấn nạn xuyên tạc lịch sử???


Hai là về nội dung Ban tổ chức Miss World Việt Nam 2021 chọn Đàm Vĩnh Hưng làm giám khảo?

Ngày 07/10/2021, báo Thanh Niên đăng tải bài viết cho biết Ban tổ chức Miss World Việt Nam 2021 do ông Lê Xuân Sơn Tổng Biên tập Báo Tiền Phong đứng đầu công bố Ban giám khảo có ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng tham gia. Đây là một sai lầm rất lớn của ông Lê Xuân Sơn đã mắc phải khi là người đứng đầu báo Tiền Phong chọn Đàm Vĩnh Hưng làm giám khảo vì không hề xứng đáng. Là sự cẩu thả hay vô tình???

Đàm Vĩnh Hưng là người có thể nói thời gian gần đây có rất nhiều tai tiếng, phản cảm. Là người trình độ văn hóa mới cấp 2, phát ngôn trên mạng xã hội thì dung tục, thiếu văn hóa. Hắn đã từng dùng từ "thằng" để nói về Đảng viên và nguy hại hơn hắn từng phát biểu "tôi mong muốn làm sống lại văn hoá Việt Nam Cộng Hoà". Chưa kể hết ĐVH còn liên quan đến ồn ào trong vụ kiện tụng từ thiện gần đây. Vậy có xứng đáng để ngồi vào ghế BGK cuộc thi do Báo Tiền Phong tổ chức???


Trên đây là một số nội dung cần đóng góp trao đổi. Hãy lắng nghe và tiếp thu ý kiến từ Nhân dân để điều chỉnh. Thiết nghĩ là Tổng biên tập ông Sơn cần phải nghiêm túc xem lại trách nhiệm của mình để tránh phát sinh nhiều tai tiếng không đáng có gây hệ lụy về sau./.



Yêu nước ST.

KHÔNG THỂ CÓ CHUYỆN CUỘC THI HOA HẬU MÀ ĐỂ THÀNH PHẦN NÓI XẤU CHẾ ĐỘ, LÊN MẠNG CHỬI CÔNG CHÚNG MÀ LÀM GIÁM KHẢO ĐƯỢC?

 GỬI TỔNG BIÊN TẬP BÁO TIỀN PHONG LÊ XUÂN SƠN!

*********

Ngày 07/10/2021, báo Thanh Niên đăng tải bài viết, theo đó thì Ban tổ chức Miss World Việt Nam 2021 do ông Lê Xuân Sơn đứng đầu vừa công bố: Hoa hậu Mai Phương Thúy đảm nhận vai trò giám khảo bên cạnh ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng, Hà Kiều Anh, Trần Tiểu Vy, Lương Thùy Linh, ông Lê Xuân Sơn – Tổng biên tập báo Tiền Phong. Xin có đôi lời gửi Lê Xuân Sơn:

Thứ nhất, cuộc thi hoa hậu không chỉ để tìm ra những cô gái đẹp về hình thức mà nó còn là nơi để những người vừa đẹp người, vừa đẹp nết thể hiện mình. Các cụ dạy "cái nết đánh chết cái đẹp". Nghĩa là, ngoài vẻ đẹp về hình thức thì người ta trông chờ ở vẻ đẹp của tâm hồn, trí tuệ. Ở mỗi cuộc thi, phần câu hỏi luôn là yếu tố quyết định xem ai là hoa hậu. Chúng ta không miệt thị những người có trình độ học vấn thấp. Thế nhưng, Đàm Vĩnh Hưng chỉ học hết lớp 9, không thể đủ trình độ, lý luận và nhận thức để làm Ban Giám khảo cuộc thi này. 

 Thứ hai, Đàm Vĩnh Hưng là ca sĩ, tự nhận là người của công chúng, nhiều fan cuồng còn đặt hẳn danh xưng là "ông hoàng nhạc Việt". Một người sống nhờ vào công chúng nhưng thường xuyên đăng đàn chửi rủa, sỉ nhục bất kỳ ai trái ý kiến với anh ta. Không chỉ dừng lại ở đó, trong bài trả lời phỏng vấn của phóng viên "phố Bolsa TV", Đàm Vĩnh Hưng công khai "tôi yêu thích những bài hát trước năm 1975, tôi hát nhiều ca khúc hiện đang bị cấm; tôi mong muốn làm sống lại văn hoá Việt Nam Cộng Hoà". Chưa dừng lại ở đó, mới đây nhiều người phẫn nộ khi Đàm Vĩnh Hưng phát ngôn bừa bãi gọi Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam là "mấy thằng Đảng viên"...Ông Lê Xuân Sơn chọn Đàm Vĩnh Hưng vì lý do gì? Hay là "đồng bệnh tương lân, đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu"?

Này ông Lê Xuân Sơn, cái mà Đàm Vĩnh Hưng gọi là "mấy thằng Đảng viên" trong đó có cả ông đấy! Đàm Vĩnh Hưng không chừa ông ra đâu. Giờ vẫn chưa muộn vì quý I năm 2022 mới diễn ra cuộc thi. Ông Lê Xuân Sơn hối, tìm người khác thay thế vẫn còn kịp. Một người gây nhiều sự cố, đang vướng ồn ào về chuyện từ thiện, lệch chuẩn, làm mất uy của những người nghệ sĩ chân chính...lại được chọn làm Ban Giám khảo cuộc thì tôn vinh cái đẹp. Không hiểu ông Lê Xuân Sơn nghĩ gì? Buồn cho thế sự bời bời. Báo chí ngày nay, tờ thì tôn vinh, rửa mặt cho nhiều kẻ bán nước và chế độ ngụy Sài Gòn, tờ thì kết hợp với những kẻ ăn cơm Việt Nam nhưng lòng dạ phản trắc. Thiết nghĩ, Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ TTTT vào cuộc để chấn chỉnh. Không để đến khi vỡ trận như Liên Xô trước đây thì hối không kịp./.


Yêu nước ST.

Đồng chí Lê Đức Thọ, nhà ngoại giao tài ba của Đảng và Nhà nước ta

 Đồng chí Lê Đức Thọ, tên thật là Phan Đình Khải, sinh ngày 10/10/1911 tại xã Địch Lễ, huyện Mỹ Lộc, nay là xã Nam Vân, TP Định, tỉnh Nam Định, trong một gia đình nho giáo, ở một vùng đất có truyền thống yêu nước. Trong 64 năm hoạt động cách mạng, qua các thời kỳ với nhiều cương vị công tác và nhiều địa bàn hoạt động khác nhau, đồng chí luôn tỏ rõ là một nhà lãnh đạo giàu kinh nghiệm, tài năng về nhiều mặt, nổi bật trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, ngoại giao. Ðồng chí Lê Ðức Thọ thuộc lớp cán bộ tiền bối của Ðảng. Trải qua quá trình hoạt động cách mạng gian khổ, kiên cường, đồng chí luôn thể hiện rõ là một nhà hoạt động chính trị giàu kinh nghiệm, tài năng nhiều mặt. Ðồng chí Lê Ðức Thọ có nhiều cống hiến trong lĩnh vực tổ chức xây dựng Đảng, có ý nghĩa quan trọng, được thể hiện trên nhiều mặt, từ việc nghiên cứu tổng kết lý luận, đến đào tạo, huấn luyện, bố trí, sắp xếp cán bộ, xây dựng bộ máy, hệ thống tổ chức của Đảng và Nhà nước...

Trong cuộc đấu tranh trên mặt trận ngoại giao, với cương vị Cố vấn đặc biệt của Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam tại Hội nghị Paris, đồng chí Lê Đức Thọ đã thể hiện rõ tầm vóc của một nhà ngoại giao tài ba, nhà thương thuyết có tầm nhìn chiến lược, khôn khéo, kiên quyết về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược khiến đối phương phải nể phục, dư luận quốc tế đánh giá cao. Trong cuộc đấu trí quyết liệt với những nhà ngoại giao chuyên nghiệp, dày dạn kinh nghiệm hàng đầu của Mỹ, đồng chí đã cho thấy sự sắc sảo và kiên định trong đấu tranh đàm phán, nắm vững nguyên tắc “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, phát huy sức mạnh của mặt trận ngoại giao cùng với các mặt trận quân sự, chính trị, linh hoạt, khôn khéo trong những tình huống cụ thể, kết hợp “vừa đánh vừa đàm” đã mang đến thắng lợi của Hiệp định Paris năm 1973. Thắng lợi tại Hội nghị Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam có đóng góp quan trọng của đồng chí Lê Đức Thọ, để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý cho nền ngoại giao Việt Nam...

ĐOÀN KẾT LÀ SỨC MẠNH GIÚP VƯỢT QUA ĐẠI DỊCH

Lịch sử dựng nước và giữ nước của cha ông ta đã chứng minh, mỗi lúc dân tộc lâm nguy, sức mạnh đoàn kết và lòng dân là yếu tố quyết định làm nên mọi chiến thắng. Công tác phòng, chống dịch COVID-19 hiện nay cũng vậy.

Từ khi dịch COVID-19 bùng phát và lây lan, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã quan tâm đặc biệt, chỉ đạo, lãnh đạo sát sao; Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ đã vào cuộc mạnh mẽ, quyết liệt, có nhiều nghị quyết, chỉ thị, công điện... chỉ đạo công tác phòng, chống dịch cũng như hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho người dân, doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh.

Những cuộc họp không kể ngày đêm, những chuyến “vi hành” xuống cơ sở, những cuộc điện thoại giữa đêm khuya; hay hàng chục cuộc tiếp xúc, điện đàm, hàng chục bức thư của lãnh đạo Đảng, Nhà nước gửi các đối tác để mua, vay, yêu cầu cung cấp vaccine nhiều nhất, nhanh nhất để tiêm miễn phí cho nhân dân… đều vì sức khỏe, tính mạng của nhân dân là trước hết, trên hết.

Thấu hiểu và hưởng ứng lời kêu gọi của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Đỗ Văn Chiến, cả nước đã đoàn kết, “nhất tề” phòng, chống dịch COVID-19. Nhìn lại những tháng vừa qua, trong bất cứ hoạt động nào, khi nào và ở đâu, câu chuyện phòng, chống COVID-19 luôn là chủ đề chính, nóng bỏng.

Không chỉ các cơ quan Đảng, quản lý Nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội rốt ráo cho công cuộc chống dịch mà các nhà khoa học, giới trí thức cũng dốc lòng, dốc sức, trí tuệ, tâm huyết cho phòng, chống dịch. Các doanh nghiệp, doanh nhân, các tổ chức thiện nguyện, bạn bè quốc tế, người Việt Nam ở nước ngoài và người dân cả nước đã ủng hộ, vào cuộc mạnh mẽ phòng, chống dịch. Đặc biệt, lực lượng tuyến đầu như y tế, Công an, Quân đội, báo chí… thực sự bước vào “thời chiến”.

Trong quá trình phòng, chống dịch, tinh thần đại đoàn kết, truyền thống "tương thân tương ái", "lá lành đùm lá rách" của dân tộc lại phát huy sức mạnh hơn bao giờ hết. Đơn cử, khi 23 tỉnh, thành phố phía Nam thực hiện giãn cách xã hội, ứng phó với sự bùng phát, lây lan của dịch COVID-19 đã có hơn 30.000 y bác sĩ, Công an, Quân đội… từ khắp mọi miền Tổ quốc lên đường chi viện cho miền Nam.

Dịch bệnh nghiệt ngã, song cũng từ đó nảy sinh bao câu chuyện, hình ảnh đẹp, có sức lay động và hiệu triệu: từ tấm áo đẫm mồ hôi của lãnh đạo Đảng, Nhà nước; bàn tay nhăn nhúm, tê tái của các y, bác sĩ; những lúc chợp mắt vội bên vệ đường của các chiến sĩ Công an, bộ đội; giọt nước mắt của cô dâu, chú rể trong đám cưới online; những chuyến xe 0 đồng, "ATM gạo" miễn phí; những chuyến xe thực phẩm mang nặng nghĩa đồng bào…

Đến nay, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã vận động và nhận được hơn 18.000 tỷ đồng của các tổ chức, cá nhân ủng hộ phòng, chống COVID-19. Trong đó, sau lời phát động của Thủ tướng Chính phủ, đến nay có hơn 553.300 tổ chức, cá nhân tham gia đóng góp vào Quỹ vaccine phòng COVID-19 với hơn 8.779 tỷ đồng. Ngay sau khi phát động, Chương trình “Sóng và máy tính cho em” cũng nhận ủng hộ hơn 1 triệu máy tính với trị giá hơn 2.500 tỷ đồng và cam kết đầu tư 3.000 tỷ đồng để phủ sóng, hưởng ứng chương trình…

Qua công tác phòng, chống dịch cho ta thấy nhiều bài học quý. Trước hết, đó là bài học về sự đoàn kết, thống nhất, phối hợp chặt chẽ giữa các địa phương, các tổ chức, cơ quan trong hệ thống chính trị, nhất là trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành công tác phòng, chống dịch; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và huy động nguồn lực trong, ngoài nước, nguồn lực của nhân dân và doanh nghiệp. Trong đó, vai trò của nhân dân là đặc biệt quan trọng, đúng như Thủ tướng Phạm Minh Chính đã nhiều lần nhắc: “Nhân dân vừa là trung tâm, vừa là chủ thể trong phòng, chống dịch COVID-19; chiến thắng COVID-19 là chiến thắng của nhân dân”.

DỊCH BỆNH CƠ BẢN ĐƯỢC KIỂM SOÁT

Theo báo cáo của Bộ Y tế, từ ngày 25/9–08/10, số ca mắc trong cộng đồng giảm 44,7% so với 2 tuần trước, giảm 47,3% so với 1 tuần trước đó. Trong tuần, Hà Nội ghi nhận 5 ca (giảm 10 ca so với tuần trước); TP. Hồ Chí Minh 15.070 ca (giảm 14.766); Bình Dương 400 ca (giảm 559); Đồng Nai 41 ca (giảm 19); Khánh Hòa 8 ca (giảm 57), Kiên Giang 13 ca (giảm 18). 

Đến nay tình hình dịch cơ bản được kiểm soát trên phạm vi toàn quốc. Các địa phương thực hiện giãn cách xã hội và tăng cường giãn cách xã hội đã kiểm soát được tình hình. Tại TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Long An, số ca nhiễm mới và tử vong đã giảm rõ rệt. Công tác an sinh xã hội được đảm bảo; an toàn trật tự xã hội được giữ vững; đời sống của nhân dân trong vùng dịch được ổn định, lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước được giữ vững. 

Tuy nhiên, tình hình dịch bệnh trong nước vẫn diễn biến khó lường; nguy cơ dịch bệnh gia tăng và bùng phát trở lại có thể xảy ra ở bất cứ đâu, bất kỳ khi nào, nhất là thời gian qua đã có số lượng lớn người dân di chuyển về quê từ các địa phương nới lỏng giãn cách xã hội, tiềm ẩn nguy cơ xảy ra đợt dịch tiếp theo.

Nhận diện động cơ, mục đích và các thủ đoạn xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh

Trong chiến lược "Diễn biến hòa bình", các thế lực thù địch dùng rất nhiều thủ đoạn, trong đó có thủ đoạn xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh. mà động cơ chính của xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí MInh với một số động cơ chính sau đây.  

Thứ nhất, tư tưởng chống cộng, sự thâm thù với chủ nghĩa cộng sản mà Hồ Chí Minh lại là người cộng sản vĩ đại của dân tộc Việt Nam và thế giới. Trong quá trình tìm đường cứu nước, với tuệ giác ngời sáng và sự chiêm nghiệm thực tiễn, Hồ Chí Minh đã tìm thấy ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và con đường mới để giải phóng dân tộc. “Như người đi đường đang khát mà có nước uống, đang đói mà có cơm ăn”, chủ nghĩa Mác - Lênin đã đưa nhà yêu nước Hồ Chí Minh trở thành người cộng sản đầu tiên của dân tộc Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh thuộc về hệ tư tưởng cộng sản. Trong một thế giới đa dạng, sự tồn tại của các ý thức hệ và luồng tư tưởng khác nhau là điều rất bình thường. Bản thân Hồ Chí Minh đã nói: “Tất cả mọi người đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa. Riêng tôi, tôi đã nghiên cứu chủ nghĩa Các Mác”. Tuy nhiên, do lợi ích của giai cấp bóc lột bị đe dọa, từ khi ra đời, chủ nghĩa Mác - Lênin đã có rất nhiều kẻ thù tư tưởng; người cộng sản nào càng có uy tín, càng có ảnh hưởng lớn thì càng là đối tượng để những kẻ thâm thù chủ nghĩa cộng sản tấn công. Xét về công lao và tầm ảnh hưởng, Hồ Chí Minh là người đã mang ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin đến với các dân tộc phương Đông, đã làm tan vỡ hệ thống thuộc địa - nguồn sống quan trọng của chủ nghĩa đế quốc, đã cổ vũ loài người trong cuộc đấu tranh vì chính nghĩa. Con người “đánh đắm chủ nghĩa thực dân” bằng tư tưởng giải phóng, tất yếu sẽ là đối tượng tấn công của những kẻ muốn duy trì sự nô dịch trên toàn thế giới.

Thứ hai, âm mưu thực hiện“diễn biến hòa bình”, lật đổ chế độ, phế bỏ quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, phong trào cộng sản rơi vào thoái trào; kẻ thù đắc ý tuyên bố về “sự cáo chung” của học thuyết Mác và tương lai vĩnh hằng của chủ nghĩa tư bản. Thành công của sự nghiệp Đổi mới ở Việt Nam và ở một số nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã phản bác lại luận điệu đó. Vì thế, cách mạng Việt Nam trở thành “tâm điểm” của sự chống cộng. Lực lượng thù địch cho rằng, nếu chúng thành công trong việc xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh và đánh đổ “thần tượng Hồ Chí Minh”, Việt Nam không chỉ mất đi cội nguồn tinh thần và định hướng phát triển mà còn mất đi chất keo “kết dính” toàn Đảng và sự gắn kết giữa Đảng và dân. Rõ ràng, ở đây không chỉ là sự thâm thù chủ nghĩa cộng sản mà còn là âm mưu tạo phản - một hành động vi hiến, cần lên án. 

Thứ ba, sự bất mãn của một số cá nhân từng có vị trí nhất định trong hệ thống chính trị và số cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất. Hồ Chí Minh từng căn dặn “vào Đảng không phải để làm quan phát tài” nhưng không phải cán bộ nào cũng thấm được tinh thần đó. Tham vọng quyền lực đã biến họ thành kẻ cơ hội chính trị và khi không đạt được mục đích thì sinh ra bất mãn. Có người trong số họ vì tính sai một “nước cờ chính trị” mà trở thành kẻ lưu vong, lấy việc nói xấu, vu khống làm nguồn sống. Tự cho mình là “người trong cuộc”, họ đã “thêm thắt”, tạo ra những thông tin thất thiệt để bôi nhọ Hồ Chí Minh cùng các nhà lãnh đạo khác nhằm che đậy sự phản bội, bất mãn cá nhân. Trong thời gian gần đây còn  xuất hiện “những việc làm và phát ngôn vô nguyên tắc, trái với Cương lĩnh, đường lối, Điều lệ Đảng ở một số cán bộ, đảng viên” bị thoái hóa, biến chất. Đây là điều rất đáng lo ngại, rất đáng trách bởi trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội thì sự đan xen giữa cái cũ và cái mới, cái tốt đẹp và cái tiêu cực là lẽ đương nhiên, sự sai lầm và vấp váp là điều khó tránh và trong tổ chức Đảng gồm nhiều cá nhân thì đương nhiên “không phải là người người đều tốt, việc việc đều hay”. Lẽ ra, mỗi đảng viên phải kiên trì làm cho phần tốt “nảy nở như hoa mùa Xuân và phần xấu bị mất dần đi”, tức là đấu tranh nhưng để khẳng định thì họ lại bới móc để phủ định công lao của Hồ Chí Minh, của Đảng và thành tựu Đổi mới.

Về mặt nội dung, chúng thường sử dụng một số thủ đoạn sau đây.

Chúng ra sức phủ định sự tồn tại của tư tưởng Hồ Chí Minh; cho rằng Hồ Chí Minh chỉ là nhà hoạt động thực tiễn chứ không phải nhà tư tưởng. Mặc dù giá trị, tầm vóc của tư tưởng Hồ Chí Minh đã được kiểm định bằng thắng lợi của cách mạng Việt Nam và phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới, được khẳng định bởi các học giả trong và ngoài nước, những kẻ xuyên tạc vẫn rêu rao, rằng “tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là sự tô vẽ của Đảng Cộng sản Việt Nam”. Chúng đưa ra các luận chứng mang tính khiên cưỡng: Xét về nội dung thì Hồ Chí Minh chỉ giỏi tổng hợp lại chủ kiến của người chứ không có tư tưởng của mình; xét về hình thức thì Hồ Chí Minh chỉ có bức thư ngắn, bài viết, bài nói ngắn chứ không có các tác phẩm lớn như các nhà tư tưởng khác. Việc kẻ chống phá “quay lưng” với những bằng chứng xác thực về giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh không xuất phát từ lý do khoa học mà từ động cơ chính trị đen tối; đây không phải là sự cố chấp, bảo thủ mà là sự cố tình phủ nhận, “đổi trắng thay đen”.

Đối ngược lại với sự phủ nhận, thủ đoạn thâm độc hơn của chúng là “tôn vinh” tư tưởng Hồ Chí Minh bằng cách so sánh, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác-Lênin và cho rằng, chủ nghĩa Mác Lênin đã lỗi thời, hiện chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là có giá trị. Đây chính là thủ đoạn “nâng lên” để “hạ xuống” bởi chủ nghĩa Mác - Lênin đã làm nên bản chất khoa học, cách mạng, nhân văn của tư tưởng Hồ Chí Minh. Nếu tách tư tưởng Hồ Chí Minh khỏi cội nguồn lý luận quan trọng nhất thì đó cũng không còn là tư tưởng Hồ Chí Minh với những đặc tính tốt đẹp.

Chúng còn chủ tâm cắt xén những câu nói, câu viết của Hồ Chí Minh và tách câu nói đó ra khỏi văn cảnh để làm sai lệch tư tưởng của Người. Đây cũng là một thủ đoạn hết sức tinh vi bởi cũng như mọi học thuyết lý luận chân chính khác, tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của lịch sử và ra đời để giải quyết yêu cầu của lịch sử lúc đó. Việc nhận thức về tư tưởng của Người sẽ trở thành sai lầm nếu bị “đẩy” ra ngoài giới hạn sinh tồn của nó. Hơn nữa, Hồ Chí Minh không chỉ là một nhà chiến lược vĩ đại mà còn là một nhà sách lược đại tài với cách nói, cách ứng xử sao có lợi nhất cho cách mạng Việt Nam trong một tình huống cụ thể. Vì thế, việc “cắt xén” và “bóc tách” các câu nói của Hồ Chí Minh ra khỏi văn cảnh và hệ thống quan điểm nhất quán sẽ dẫn đến việc làm sai lệch tư tưởng của Người.

Để xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, các thế lực phản động còn đang tâm bịa đặt về thân thế, sự nghiệp, đời tư của Người. Phải nhấn mạnh rằng, sự đồn thổi theo kiểu “ăn không nói có” về đời tư của Hồ Chí Minh không phải bây giờ mới có. Bằng chứng là từ năm 1947, Hồ Chí Minh đã trả lời phỏng vấn một nhà báo như sau: “Tôi vẫn mạnh khỏe mặc dầu tin Pháp đã mấy lần đồn rằng tôi chết rồi. Ngài đã hỏi, tôi xin dẹp sự khiêm tốn lại một bên mà đáp một cách thực thà: Tôi không nhà cửa, không vợ, không con, nước Việt Nam là đại gia đình của tôi... Tôi chỉ có một điều ham muốn là làm cho Tổ quốc tôi được độc lập, thống nhất, dân chủ. Bao giờ đạt được mục đích đó tôi sẽ trở về làm một người công dân du sơn, ngoạn thủy, đọc sách, làm vườn”. Những kẻ xuyên tạc cố tình không hiểu rằng, để hoạt động bí mật nay đây, mai đó, Hồ Chí Minh nhiều khi buộc phải làm “mờ”, “làm nhiễu” thông tin về mình và luôn “hy sinh tình nhà vì phải lo việc nước”. Chỉ có những kẻ “vô minh”, “vô đạo” mới dùng thủ đoạn này để bôi nhọ người đã hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và nhân loại.

Mục đích sâu xa của việc xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh là để phủ nhận quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản nên một thủ đoạn nữa mà chúng hay dùng là đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với đường lối của Đảng, lấy tấm gương đạo đức, cuộc đời, sự nghiệp của Hồ Chí Minh để thóa mạ Đảng. Phải thừa nhận rằng, vì nhiều lý do, có thời điểm, đường lối của Đảng chưa hoàn toàn phù hợp với tinh thần Hồ Chí Minh và hiện nay, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên không tu dưỡng đạo đức theo lời dặn của Người. “Con sâu làm rầu nồi canh”, thế lực thù địch đã khuếch đại những khuyết điểm, làm ngơ trước những ưu điểm, đồng nhất những kẻ thoái hóa với bản chất của Đảng, đưa lỗi cá nhân thành lỗi hệ thống. Chúng lớn tiếng rêu rao, rằng Đảng Cộng sản Việt Nam ngày nay không còn tốt đẹp như lúc Hồ Chí Minh còn sống, Đảng bây giờ không còn là “Đảng ta” trong mối quan hệ với nhân dân...Vì thế, phải bỏ Điều 4 trong Hiến pháp, tức xóa bỏ quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngay cả khi Đảng đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng, loại trừ các vấn nạn trong công tác cán bộ thì chúng cũng quy kết là “đánh đấm nội bộ”, “đấu tranh giữa các phe phái vì quyền lực”. Trước kỳ Đại hội, chúng còn tung rất nhiều thông tin bịa đặt về các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Để thóa mạ, phủ nhận Đảng, chúng làm ra vẻ khách quan là lấy đạo đức, sự nghiệp của Hồ Chí Minh làm “hệ quy chiếu”. Đề cao Hồ Chí Minh để chống Đảng là thủ đoạn rất nguy hiểm vì nó có thể làm một bộ phận dân chúng vốn rất kính yêu Hồ Chí Minh trở nên bất mãn với chế độ hiện nay. 

Chúng còn ra sức phủ nhận sự cần thiết và hiệu quả của việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đây thực chất là sự phủ nhận giá trị thực tiễn và sức sống của di sản Hồ Chí Minh. Lý do chúng đưa ra là: Tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ có giá trị trong cách mạng giải phóng dân tộc, còn thế giới ngày nay là thế giới hội nhập; tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là không thể học tập vì Hồ Chí Minh là bậc “thánh nhân” trong khi chúng ta là người thường, Hồ Chí Minh là người đi theo chủ nghĩa khổ hạnh trong khi chúng ta đang có cuộc sống bình thường ở thế giới hiện đại. Chúng không hiểu rằng, ngay sau Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh đã có chiến lược hội nhập sâu rộng và không để vấn đề ý thức hệ bó hẹp quan hệ quốc tế của Việt Nam. Người cũng không bao giờ tỏ ra là bậc “thánh nhân”, là người toàn vẹn mà luôn yêu cầu cán bộ góp ý cho mình, rằng “nếu tôi có vết nhọ trên trán, các đồng chí trông thấy, lại lấy cớ “nể cụ” không nói, là tôi mang nhọ mãi”. Hồ Chí Minh được đánh giá là “con người ít ai có thể với tới, không ai có thể vượt qua” nên học tập Hồ Chí Minh không phải là bắt chước hành vi của Người để rồi thành một “Hồ Chí Minh thứ hai” mà là học tinh thần giải phóng, đạo đức vì dân, tư duy linh hoạt, phong cách văn hóa của Người để mỗi cá nhân trở nên tốt đẹp hơn so với chính mình và điều này thì hoàn toàn có thể. Do đó, đẩy mạnh việc học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh chính là giải pháp hữu hiệu để “tự bảo vệ”, “tự làm sạch” của mỗi cá nhân và tổ chức Đảng.

Về mặt hình thức thì chúng sử dụng nhiều hình thức để phát tán các tin, bài, videoclip xấu độc. Theo A 25, Bộ Công an, ở bên ngoài lãnh thổ Việt Nam có 52 đài phát thanh và truyền hình có chương trình Việt ngữ, 429 tờ báo, tạp chí, trên 40 nhà xuất bản bên ngoài tập trung tuyên truyền chống phá Việt Nam; hằng năm có hơn 3000 tài liệu chiến tranh tâm lý phá hoại tư tưởng. Việt Nam là nước có số người dùng internet và mạng xã hội thuộc “tốp đầu” thế giới với khoảng 64 triệu người dùng internet (67% dân số) và hơn 55 triệu người dùng mạng xã hội (chiếm 57% dân số), đứng thứ 7 trong 10 nước có số người sử dụng mạng xã hội nhiều nhất nên chúng ra sức sử dụng internet và các trang mạng xã hội để chống phá Đảng, Nhà nước.

Vì vậy, mỗi người dân Việt Nam yêu nước hãy luôn cảnh giác trước những luận điệu, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, không bị lôi kéo, kích động. Tích cực đấu tranh với những biểu hiện, hành vi sai trái nhằm phủ nhận, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh.

Nền tảng tư tưởng của Đảng là ánh sáng dẫn đường tạo nên sức mạnh đại đoàn kết đưa dân tộc Việt Nam tới độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc

Nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam được hình thành bắt nguồn từ người thanh niên yêu nước - Nguyễn Tất Thành - trong quá trình bôn ba khắp năm châu bốn biển để tìm đường cứu nước đã tiếp cận được chủ nghĩa Mác và chính chủ nghĩa Mác đã giác ngộ đưa người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành trở thành người đảng viên cộng sản. Tiếp đó, Nguyễn Tất Thành với tên gọi mới là Nguyễn Ái Quốc đã tiếp cận được chủ nghĩa Lênin và tìm thấy ở chủ nghĩa Lênin con đường giải phóng các dân tộc thuộc địa. Từ đó, chính Nguyễn Ái Quốc đã truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam để giác ngộ cách mạng cho nhân dân ta, nhất là cho thanh niên. Đặc biệt, trong quá trình chuẩn bị lực lượng cách mạng nhằm tiến tới thành lập Đảng Cộng sản ở xứ Đông Dương, Nguyễn Ái Quốc đã biên soạn tài liệu và truyền dạy cho lớp lớp cán bộ cách mạng về chủ nghĩa Mác - Lênin. Đến năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, ngay từ khi ra đời, trong Cương lĩnh của mình đã khẳng định nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin. Đi theo ánh sáng dẫn đường của nền tảng tư tưởng đó, chỉ sau 15 năm, cách mạng Việt Nam đã giành thắng lợi vẻ vang, biến nước ta từ một nước nô lệ dưới sự thống trị, giày xéo tàn khốc của bọn thực dân đế quốc và không có tên trên bản đồ thế giới, trở thành một quốc gia độc lập, tự do. Từ thắng lợi vẻ vang bước đầu này, Nguyễn Ái Quốc đã trở thành Chủ tịch Hồ Chí Minh - Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Đảng do Người sáng lập, rèn luyện đã lãnh đạo nhân dân ta đoàn kết thành một khối thống nhất, đưa cách mạng Việt Nam tiến bước dưới ánh sáng dẫn đường của chủ nghĩa Mác - Lênin với sự vận dụng sáng tạo của Đảng đã phát huy được sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, với ý chí và quyết tâm “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ” đã đánh thắng những kẻ thù xâm lược hùng mạnh vào bậc nhất thế giới, với những chiến công lẫy lừng như: Điện Biên Phủ, Điện Biên Phủ trên không, Đại thắng Mùa Xuân 1975, giành lại độc lập, tự do, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Từ thực tiễn lịch sử và những thắng lợi vĩ đại, Người đã xác định: “Chúng ta phải nâng cao sự tu dưỡng về chủ nghĩa Mác - Lênin để dùng lập trường, quan điểm, phương pháp chủ nghĩa Mác - Lênin mà tổng kết những kinh nghiệm của Đảng ta, phân tích một cách đúng đắn những đặc điểm của nước ta. Có như thế chúng ta mới có thể dần dần hiểu được quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, định ra được những đường lối, phương châm, bước đi cụ thể của cách mạng xã hội chủ nghĩa thích hợp với tình hình nước ta”. Quán triệt chỉ dẫn đó của Người, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin phù hợp với điều kiện cụ thể của nước ta, đề ra được đường lối cách mạng đúng đắn, đưa nước ta vượt qua những khó khăn, thách thức, giành từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

 Từ thực tiễn của tiến trình lịch sử và những thắng lợi vĩ đại đã giành được của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, theo ánh sáng dẫn đường của chủ nghĩa Mác - Lênin, Đại hội VII của Đảng năm 1991 đã bổ sung tư tưởng Hồ Chí Minh vào nền tảng tư tưởng của Đảng. Qua thực tiễn 25 năm đổi mới và 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, càng khẳng định sự đúng đắn và vai trò to lớn của nền tảng tư tưởng đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng đã khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động” và Hiến pháp của Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 đã luật hóa sự khẳng định đó. Thực tiễn lịch sử cách mạng nước ta trong suốt hơn 90 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định vai trò to lớn của nền tảng tư tưởng mà Đảng ta đã lựa chọn. Do đó, chúng ta phải kiên quyết, kiên trì đấu tranh chống lại những âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, phản bác của các thế lực thù địch và bảo vệ, phát huy nền tảng tư tưởng của Đảng một cách mạnh mẽ, hiệu quả hơn nữa.

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC QUYỀN CÔNG DÂN, QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM

Sử dụng chiêu bài “nhân quyền”, “dân chủ” là thủ đoạn quen thuộc rất hiểm độc trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực cường quyền quốc tế để toàn trị thế giới. Sau chiến tranh lạnh, lợi dụng ưu thế của kẻ thắng thế, thấm nhuần bài học của thời kỳ chiến tranh lạnh, các thế lực thù địch càng đẩy mạnh những hoạt động dùng chiêu bài tự do, dân chủ, nhân quyền, kết hợp với trừng phạt kinh tế và can thiệp quân sự, để làm thay đổi bản đồ địa chính trị thế giới có lợi cho họ. Quyền công dân, quyền con người đã được luật hóa rõ ràng, đầy đủ, được khẳng định đanh thép trong Hiến pháp Việt Nam các năm 1946, 1959, 1980, 1992, 2013. Điều 3, Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi rõ: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”.

Các quyền con người, quyền công dân được khẳng định trong Hiến pháp, pháp luật, được thể hiện sáng ngời trong cuộc sống. Trước hết, đó là, từ sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám từ năm 1945 đến nay và từ nay về sau, “nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do độc lập” (Tuyên ngôn Độc lập). Nước độc lập vừa là hạnh phúc, vừa là tiền đề và điều kiện tiên quyết để nhân dân được hưởng tự do, hạnh phúc. Theo đánh giá của Liên Hợp quốc, chỉ số hạnh phúc của Việt Nam tăng không ngừng và tăng nhanh nhất trong số các nước đang phát triển (năm 2020 tăng 4 bậc, xếp thứ 79 trên thế giới, đứng hàng đầu các nước châu Á), kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, y tế tiến bộ không ngừng. Năm 2020, trong khi hầu hết các nước trên thế giới, do đại dịch Covid-19, đều tăng trưởng âm, thì Việt Nam giữ vững tăng trưởng dương, đứng đầu thế giới về mức tăng trưởng. Dư luận quốc tế chỉ rõ rằng, thành công của Việt Nam trong chống dịch không phải vì Việt Nam giàu có, có trang thiết bị y tế tiên tiến, mà vì ở Việt Nam có sự đồng thuận cao giữa chính quyền với nhân dân (được xếp số một thế giới về sự hài lòng của người dân đối với chính sách chống dịch của Chính phủ).

Chúng ta có đầy đủ cơ sở để tin rằng: khoảng một phần tư thế kỷ nữa, Việt Nam sẽ đứng trong khu vực các nước phát triển. Những thành tựu kinh tế - xã hội trên đây chẳng phải đã mang ý nghĩa sâu sắc nhất về quyền con người đó sao? Các quyền tự do chính trị ở Việt Nam mà Hiến pháp đã quy định, được thực thi đầy đủ trong đời sống thực tế. Đó là quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền sống được pháp luật bảo hộ, quyền tự do tín ngưỡng, quyền tự do ngôn luận, lập hội, biểu tình, quyền bầu cử, ứng cử, quyền khiếu nại, tố cáo... Về sự thực hiện tự do chính trị, Việt Nam không thua kém bất cứ quốc gia dân chủ nào. Đương nhiên, luật pháp Việt Nam, nhân dân và Nhà nước Việt Nam không cho phép bất kỳ cá nhân và tổ chức nào lợi dụng “nhân quyền”, lợi dụng các quyền tự do dân chủ để vi phạm pháp luật, chống chính quyền nhân dân, Tổ quốc và chế độ XHCN. Chúng ta thực hiện quyền con người không phải vì sức ép bên ngoài mà chính vì quyền con người là mục tiêu cao cả, thuộc về bản chất của cách mạng Việt Nam. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã nêu rõ: “trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.