Thứ Hai, 11 tháng 10, 2021

Đường về quê ấm tình nghĩa đồng bào

    Những ngày qua, dòng người từ các tỉnh phía Nam vẫn tiếp tục di chuyển bằng xe máy qua nhiều địa phương, trong đó có Phú Yên để về quê nhà. Trên hành trình hồi hương, nhiều người dân cảm thấy ấm lòng khi được chính quyền, các tổ chức đoàn thể và người dân Phú Yên đón tiếp nồng hậu, ấm áp tình người tại trạm dừng nghỉ được bố trí tại Ga Hòa Đa, xã An Mỹ, huyện Tuy An. 

Chú thích ảnh
Anh Võ Văn Tôn (28 tuổi) công nhân nhà máy gỗ tại Đồng Nai dừng chân nghỉ ngơi, uống nước tại Ga Hòa Đa, xã An Mỹ, huyện Tuy An, Phú Yên sau hành trình vượt hơn 500km từ TP Hồ Chí Minh về quê. Ảnh: Phạm Cường/TTXVN
Chú thích ảnh
Anh Trần Ngọc Hiệp, sinh năm 1975, giúp ông Trần Minh Châu 68 tuổi quê ở Quảng Nam tra thuốc nhỏ mắt sau khi vượt chặng đường dài hơn 500km với đôi mắt đã đỏ hoe, đau nhức vì bụi. 
Chú thích ảnh
Người dân xã An Mỹ, huyện Tuy An góp thêm thêm trái cây để lực lượng chức năng giúp đỡ cho người dân dừng chân tại Ga Hòa Đa. 
Chú thích ảnh
Người dân xã An Mỹ, huyện Tuy An tặng mũ bão hiểm mới an toàn cho người dân tiếp tục hành trình về quê. 
Chú thích ảnh
Thiếu tá Trần Quốc Vương, Ban Chỉ huy Quân sự huyện Tuy An trực đêm hướng dẫn người dân về quê ghé chân điểm dừng nghỉ. 
Chú thích ảnh
Phút nghỉ ngơi trò chuyện cùng người thân tại Ga Hòa Đa của anh Hoàng Ngọc Tuấn (28 tuổi) quê ở Thanh Hòa. Anh Tuấn làm nghề cơ khí tại tỉnh Đồng Nai trên đường về quê nhà tại Thanh Hóa. 
Chú thích ảnh
Ông Trần Minh Châu 68 tuổi quê ở Quảng Nam làm nghề bán bánh Bông Lan tại TP Hồ Chí Minh được các mạnh thường quân hỗ trợ 200.000 đồng, một phần ăn tối, nước uống và chỗ ở nghỉ lại qua đêm tại Ga Hòa Đa, huyện Tuy An, Phú Yên. 
Chú thích ảnh
Thiếu tá Trần Quốc Vương, Ban Chỉ huy Quân sự huyện Tuy An hỗ trợ bữa ăn cho người dân về quê nghỉ ngơi tại Ga Hòa Đa. 
Chú thích ảnh
Một gia đình quê ở Quảng Nam trên đường về quê nghỉ nghơi, ăn sáng vui vẻ tại điểm dừng nghỉ Ga Hòa Đa, xã An Mỹ, huyện Tuy An, Phú Yên. 
Chú thích ảnh
Các phần sữa, bánh ngọt, áo mưa được chuẩn bị sẵn để hỗ trợ người về quê. 
Chú thích ảnh
Lực lượng y tế thăm hỏi sức khỏe người dân về quê. 
Chú thích ảnh
Người dân từ các tỉnh phía Nam về quê nhận hỗ trợ phần ăn, nước uống, sữa từ trạm dừng nghỉ Ga Hòa Đa, xã An Mỹ, huyện Tuy An. 
Chú thích ảnh
Các cơ quan, đoàn thể của Phú Yên dành nhiều phần quà để tiếp tục hỗ trợ cho người về quê. 
Chú thích ảnh
Sau khi nghỉ qua đêm và được hỗ trợ nhu yếu phẩm, người dân tiếp tục hành trình về quê vào sáng sớm. 

 

TƯỚNG HOÀNG ĐAN-VỊ TƯỚNG TRẬN TÀI BA MƯU LƯỢC CỦA QUÂN ĐỘI TA!

 LỊCH SỬ LÀ GÌ MÀ LÀM LÍNH TÔI KHỔ THẾ?


Năm 1979, tôi vừa lên 10 tuổi, sống cùng cả gia đình ở khu tập thể 38 Trần Phú - nơi ở của nhiều Tướng lĩnh của Bộ Quốc phòng và nhiều chỉ huy các quân binh chủng thời điểm đó.

5g sáng ngày 17 tháng 2…Điện thoại bàn trong khu tập thể nhà tôi đồng loạt đổ chuông rền rĩ. Tiếng chuông đánh thức tất cả chúng tôi, từ người lớn đến trẻ nhỏ.

Chưa đầy 15 phút sau, bác Đặng Kinh (Trung tướng - Phó Tổng Tham mưu trưởng BQP), bác Lê Thanh Hải (Cục trưởng Cục Cơ yếu) và tất cả chỉ huy của các quân binh chủng đã quân phục chỉnh tề, vội vã bước ra khỏi nhà khi trời tờ mờ sáng.

Mẹ tôi nhìn theo bóng dáng bác Đặng Kinh, điềm nhiên nói:

- Vậy là lại chiến tranh rồi!

Thật ra, cho đến năm 1979, trong khu tập thể nhà binh chúng tôi chưa hề có khái niệm hòa bình. Bố mẹ chúng tôi vẫn thường xuyên được điều động vào Biên giới Tây Nam - nơi mà chúng ta cũng đang có một cuộc chiến khác với quân Khmer Đỏ.

Ở Hà Nội, gia đình những cán bộ, tướng lĩnh cấp cao như gia đình tôi luôn hiểu rằng, chiến tranh sớm muộn gì cũng sẽ nổ ra ở Biên giới phía Bắc. Chúng ta có thể bất ngờ về thời điểm, chứ không hề bất ngờ về cuộc chiến đó. Nhưng cả đời mình, chưa bao giờ tiếng chuông điện thoại lại có thể gây tác động mạnh đến mọi giác quan của tôi và ám ảnh tôi như sáng hôm ấy.

Dù tin tức về chiến tranh chưa được phát đi chính thức trên các báo đài, dù những ông bố trong khu tập thể của chúng tôi rời khỏi nhà buổi sáng hôm đó trong nghiêm trang và vội vã mà không hề nói một lời, nhưng với những người phụ nữ và những đứa trẻ như tôi, thì chiến tranh đã bắt đầu bằng tiếng chuông điện thoại đó.

Vào buổi sáng ngày 22.2.1979, ba tôi rẽ qua nhà, thông báo ngắn gọn với mẹ con tôi rằng ông sẽ lên chiến trường Lạng Sơn.

Chiều hôm trước, Đại tướng Văn Tiến Dũng và Tổng tham mưu trưởng Lê Trọng Tấn đã gọi ba tôi về từ Học viện Quân sự cao cấp, nơi ông đang làm Phó Giám đốc, trao cho ba tôi quyết định bổ nhiệm ông làm Tư lệnh Quân đoàn 5 (sau đổi tên thành Quân đoàn 14), Tư lệnh Mặt trận Lạng Sơn.

Ba tôi với Đại tướng Lê Trọng Tấn có một mối thâm tình đặc biệt. Nơi nào chiến trường khốc liệt nhất, Đại tướng Lê Trọng Tấn sẽ nghĩ đến ba tôi. Còn với ba tôi, Tướng Lê Trọng Tấn là người anh, là "đại ca" - người mà dù bảo ông nhảy vào biển lửa ông cũng nhảy vào.

Ngay khi nhận được mệnh lệnh, ông chỉ về qua nhà 30 phút, bình thản từ biệt mẹ con tôi như thể đó chỉ là một ngày đi làm bình thường. Một chiếc xe của Bộ Quốc phòng đã chờ sẵn ngoài cửa, đưa ba tôi lên Lạng Sơn - nơi cuộc chiến ở biên giới Việt - Trung khốc liệt nhất.

Ở Lạng Sơn, quân Trung Quốc dùng chiến thuật biển người khi tràn sang biên giới Việt Nam. 50.000 quân của chúng ta (trong đó chủ yếu là bộ đội địa phương, quân du kích và các đơn vị làm kinh tế vừa chuyển sang chiến đấu) đã phải chiến đấu chống lại 180.000 quân địch, nên chỉ sau vài ngày, 3 sư đoàn của ta ở Lạng Sơn đều tơi tả.

Vì địch quá đông, nên khi ba tôi lên đến Lạng Sơn thì TX Lạng Sơn vẫn đang cầm cự, nhưng việc mất TX Lạng Sơn có thể chỉ còn là ngày một ngày hai.

Lạng Sơn cách Hà Nội chỉ 150km. Ai cũng hiểu, nếu Trung Quốc vượt qua được đèo Sài Hồ, chiếm tỉnh Lạng Sơn thì có nghĩa rằng sẽ khó còn gì ngăn cản chúng tiến về Hà Nội. Và lẽ dĩ nhiên Thủ đô Hà Nội sẽ rơi vào tình trạng chiến tranh.

Ba tôi được cử lên làm Tư lệnh Mặt trận đúng lúc ngặt nghèo đó, với nhiệm vụ bằng mọi giá giữ Lạng Sơn, ngăn chặn nguy cơ chiến tranh lan về Hà Nội.

Một buổi sáng ngay khi vừa đặt chân lên Lạng Sơn, ông ngồi trong chiếc xe bọc thép chỉ huy K63 đi thẳng lên khu vực tiền duyên để khảo sát các phương án phản công. Chiếc xe bị trúng đạn chống tăng nổ tung...

Chỉ một vài tiếng sau, tin xấu nhanh chóng được báo về, lan khắp Bộ Quốc phòng, lan sang cả khu tập thể 38 Trần Phú. Tất cả mọi người đều nghĩ rằng ba tôi đã chết. Nhưng vì chưa phải thông tin chính thức, nên không một ai dám thông báo với gia đình tôi.

Suốt cả ngày, bầu không khí của cả khu tập thể vô cùng căng thẳng. Không một ai cười nói với mẹ con tôi như mọi ngày. Hàng xóm thậm chí tránh nhìn mặt chúng tôi. Nhưng là con nhà lính, tôi mơ hồ hiểu rằng chắc hẳn đã có chuyện không hay xảy ra cho ba mình.

Buổi chiều khi mẹ tôi đi làm về, tôi hiểu bà đã biết tin. Bà im lặng một cách đáng sợ suốt bữa cơm tối. Nhưng cả buổi tối, chúng tôi chỉ cắm cúi ăn cơm, cố gắng tránh nói với nhau về chuyện đó chừng nào có thể.

Lúc 8 giờ tối, điện thoại nhà tôi réo lên từng hồi. Không một ai trong gia đình tôi chịu đứng lên nghe điện thoại, vì không ai đủ can đảm và cũng không ai muốn mình người phải nghe tin tức khủng khiếp đó đầu tiên.

Cuối cùng tôi - bé nhất nhà, đứng bật dậy, lãnh lấy trách nhiệm đó... Nhưng ở đầu dây bên kia không phải ai xa lạ, mà chính là giọng ba tôi giòn giã. Tôi hét lên "Ba, ba, ba..." và mọi thứ vỡ òa.

Ba tôi kể, sáng hôm đó, sau khi bị trúng đạn, tất cả mọi người trên xe đều hy sinh. Chỉ có mình ba tôi may mắn thoát chết. Ông thoát được ra ngoài, đi bộ về Sở Chỉ huy, tiếp tục chỉ huy chiến đấu. Đến 8g tối mới nhớ ra là cần gọi điện về nhà. Tôi vẫn nhớ ông cười rổn rảng trong điện thoại, nói với mẹ tôi điều ông vẫn hay nói: "Bọn Tàu sao giết nổi tôi".

Sau chuyến khảo sát chiến trường hút chết đó, ba tôi báo cáo về Bộ Tổng Tham mưu. Để bảo vệ Lạng Sơn, Bộ Tổng Tham mưu đã lệnh cho Quân đoàn 2 - Binh đoàn Hương Giang đang làm nhiệm vụ truy quét quân Khmer Đỏ tại Kampot, Kampong Som (Campuchia) lập tức rút quân về nước, chi viện cho Mặt trận Lạng Sơn.

Với sự giúp đỡ của Phi đội máy bay vận tải An-12 của Liên Xô, việc không vận toàn bộ Quân đoàn 2 từ Campuchia về nước đã diễn ra thần tốc. Đến ngày 4.3, Quân đoàn 2 đã có mặt ở Bắc Giang, tập kết sau lưng Quân đoàn 5, chuẩn bị sẵn sàng cho việc phản công. Pháo phản lực BM-21 cũng được điều lên Lạng Sơn. Xe tăng, các đơn vị chủ lực, pháo nhiều nòng và các đơn vị hỏa lực đều đã sẵn sàng chiến đấu.

Đêm 4.3, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 5 thông qua và bắt đầu triển khai phương án mở chiến dịch phản công. Sáng ngày 5.3, Chủ tịch Tôn Đức Thắng ký sắc lệnh 29-LCT lệnh tổng động viên trong cả nước. Nhưng cùng ngày hôm đó, Trung Quốc bất ngờ tuyên bố rút quân.

Nửa đêm hôm đó, sau khi tin tức từ chiến trường báo về, Bộ Tổng Tham mưu đến tận số 6 Hoàng Diệu (tư gia của gia đình TBT Lê Duẩn - PV) để xin ý kiến chỉ đạo về việc phản công. Tại đây, ông Lê Duẩn đã nói một câu hết sức bình thản nhưng vô cùng bất ngờ: "Nếu Trung Quốc đã rút quân thì không lý do gì phải mất mát thêm binh lính nữa". Câu chuyện ấy cũng giống như Lê Lợi và Nguyễn Trãi khi xưa đã tha cho 10 vạn quân Minh. Vì thế, ngày 7.3, Việt Nam lên tiếng "cho phép Trung Quốc rút quân trong hòa bình".

Ba tôi luôn nói, cuộc chiến năm 1979 không phải là một cuộc chiến quá ác liệt. Quân Trung Quốc đông nhưng không mạnh, nên tổn thất mà địch gây cho ta không nhiều. Ở chiến trường, kể cả lúc địch chiếm TX Lạng Sơn, ông chưa bao giờ lo sợ về việc địch sẽ chọc thủng được phòng tuyến này để tiến về Hà Nội. Sau này, nhiều nhà nghiên cứu lịch sử quốc tế cũng thừa nhận, việc Trung Quốc rút quân vào ngày 5.3 chính là vì e ngại việc Quân đoàn 2 trở về yểm trợ cho Lạng Sơn và việc Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng đã kêu gọi Tổng động viên Toàn quốc sẽ khiến họ không thể dễ dàng rút lui khỏi cuộc chiến trong danh dự.

Nhưng Chiến tranh biên giới Việt - Trung không phải chỉ gói gọn trong đợt tấn công tháng 2.1979. Đó là cả một cuộc giao tranh dài suốt nhiều năm trời sau này, cả trên chiến trường lẫn trên mặt trận chính trị - ngoại giao.

Tuy Trung Quốc tuyên bố rút quân, nhưng tất cả đều hiểu chiến tranh sẽ không kết thúc ở đó. Ba tôi vẫn ở lại chỉ huy mặt trận Lạng Sơn. Tết năm 1980, cả gia đình tôi lên biên giới, đón Tết cùng ba giữa chiến trường. Tôi vẫn nhớ, tiếng pháo giao thừa năm ấy là những tràng súng dài ngay sát vành đai biên giới.

Thực tế đúng như những gì chúng ta dự đoán, suốt nhiều năm sau này, Trung Quốc liên tục gây chiến khắp các tỉnh biên giới Việt - Trung.

Ngay sau khi Trung Quốc rút quân và bắt đầu những hoạt động gây hấn trường kỳ, TBT Lê Duẩn có ra một chỉ thị khiến một số người thắc mắc về ý nghĩa chiến lược: "Các đơn vị quân đội phải ra sát đường biên tổ chức trận địa, phải đánh địch ở trên trận đầu, tuyến đầu, biến tất cả các huyện vùng biên thành pháo đài".

Ba tôi phân tích, cách bố trí quân như thế gây băn khoăn cho một số người, vì họ cho rằng, chúng ta sẽ không có chiều sâu chiến dịch, không có thời gian để tổ chức phòng ngự khi địch tấn công. Cho nên kể cả trong giới Tướng lĩnh quân đội, việc có người thắc mắc với chỉ thị này của TBT Lê Duẩn là điều có thể hiểu được.

Nhưng ba tôi thì khác. Ông bảo, nếu dùng tư duy của một nhà quân sự, ông đương nhiên sẽ chọn cách lùi lại để tạo ra chiều sâu phòng ngự cho cả trận chiến.

Nhưng ông vẫn ủng hộ TBT Lê Duẩn trong quyết định này. Vì ông hiểu mong muốn của ông Lê Duẩn: Cố gắng bằng mọi cách để chiến tranh sẽ chỉ xảy ra ở các huyện biên giới chứ không vào sâu trong lãnh thổ Việt Nam. Sau một giai đoạn chiến tranh dài hơn 30 năm, tất cả mọi nơi trên đất nước này đều cần một khoảng thời gian hòa bình quý giá để xây dựng và phát triển đất nước. Nên những nhiệm vụ khó khăn nhất, gian khổ nhất, những người lính như ông sẽ đảm nhận. Bởi thân làm người lính, là phải chấp nhận hy sinh để đất nước được bình yên.

Hơn 40 năm trận mạc dạy cho ba tôi một bài học rằng ở mỗi vị trí khác nhau, người ta sẽ có góc nhìn khác nhau về chiến tranh.

Năm 1972, ba tôi là sư đoàn trưởng sư 304. Giai đoạn 1 và giai đoạn 2, Sư 304 lập công xuất sắc ở quảng Trị. Nhưng đến giai đoạn 3 thì rất khó khăn, ngày nào cũng phải căng mình dưới bom B52, tổn thất nặng nề.

Hồi đó, Sư 304 liên tục được yêu cầu tấn công ra đường 1, lần nào đánh ra là quân lính hi sinh lần đó. Nhưng lệnh tấn công vẫn tiếp tục đưa tới. Ba tôi nói với các cấp chỉ huy: "Quân lệnh như sơn! Nhưng tôi vẫn phải nói hai điều: Là Sư đoàn trưởng chỉ ở cấp chiến dịch, tôi muốn chống lệnh này. Nhưng tôi sẽ đánh, vì ở vị trí của tôi, có thể tôi không có cái nhìn bao quát, nên không thể quyết định được việc có nên đánh hay không".

Mãi sau này ba tôi mới hiểu rằng, việc đàm phán ở Hiệp định Paris đẩy mình vào tình thế bắt buộc Việt Nam phải có vị thế trên chiến trường. Đó là lý do ta phải đánh, dù biết là khó tránh tổn thất.

Một trong những trận đánh của ba tôi trong giai đoạn Chiến tranh Biên giới mà nhiều người vẫn chỉ trích cho đến giờ chính là trận đánh ở Bình Độ 400 (hay còn gọi là cao điểm 400, mà Trung Quốc gọi là Pháp Tạp Sơn) ở huyện Cao Lộc, Lạng Sơn.

Cao điểm 400 chỉ là một cao điểm nhỏ, chỉ rộng vài trăm mét và chỉ đủ cho vài trung đội phòng ngự. Đây cũng không phải điểm có ý nghĩa chiến lược về mặt quân sự, nhưng cả ta và Trung Quốc đều giành giật với nhau từng tí. Dù điểm để 2 bên đánh nhau chỉ có một đại đội. Nhưng trong khi Việt Nam phải huy động đến cấp sư đoàn (thời điểm nhiều nhất lên tới 1 vạn quân), thì Trung Quốc sau khi bị tiêu diệt hết một sư đoàn chủ lực, đã có lúc phải huy động đến cả sư đoàn dự bị (mà cao điểm nhất lên tới gần 3 vạn quân).

Tôi vẫn nhớ một bài thơ viết về trận đánh đó:

Tư lệnh Hoàng Đan trận này cầm quân.

Ông bảo rằng: Sống chết thời, vận số!

Cả Trung đoàn ào ào như thác lũ.

Bình độ 400 bình địa trận người!

Những chàng trai sống chết trận này ơi!

Mưa đổ xuống ông Trời tuôn nước mắt.

Ơn nhớ mãi thân này đi giữ đất.

Người trở về ăn, sống, ở ra sao?

Có nhiều người sau này đã thắc mắc, cho rằng trận Bình Độ 400 là trận chúng ta không cần hao quân tổn sức như thế. Nhưng đó là trận đánh mà dù không có ý nghĩa về mặt vị trí chiến lược quân sự, nhưng lại có ý nghĩa lớn về mặt chiến thuật. Đó là một bài kiểm tra về ý chí, là sự thử thách về quyết tâm của mỗi bên.

Ba tôi sau này giải thích với tôi rằng: "Chúng ta phải đánh để cho Trung Quốc hiểu rằng, hễ chúng mà bước chân vào đất mình, thì sẽ phải trả giá đắt. Điều đó sẽ khiến địch không bao giờ dám mở một cuộc chiến xâm lược khác.

Bởi chỉ một điểm nhỏ đến như thế mà chúng ta đã đánh cho quân Trung Quốc thiệt hại đến mức này, thì quân Trung Quốc sẽ hiểu rằng nếu họ dám đánh mình và tiếp tục đánh sâu vào đất mình, thì cái giá họ phải trả sẽ là cái giá mà họ không cách nào chấp nhận được".

Một trong những trận đánh mà tôi thích nhất trong lịch sử chiến tranh của loài người là trận đánh của 300 chiến binh Hy Lạp ở con đèo Thermophylae chống lại 10.000 quân Ba Tư. 300 chiến binh Hy Lạp đã hi sinh, nhưng quân Ba Tư cũng đã trải qua nỗi kinh hoàng thực sự mà không dám tiếp tục cuộc tấn công Hy Lạp. Bài học mà họ nhận được là: Chỉ với 300 chiến binh, mà người Hy Lạp đã khiến đội quân 10.000 người của Ba Tư chao đảo, thì họ không dám nghĩ đến điều sẽ xảy ra nếu họ nếu đi sâu hơn vào đất Hy Lạp.

Lịch sử quân sự đã có những cuộc chiến tranh lớn, mà chỉ sau một trận đánh, thế trận đã thay đổi khi đội quân bên kia biết rằng mình không thể thắng được nữa và rút quân.

Những điều này, phải ở những vị trí nhất định trong cuộc chiến đó, phải nắm rõ về chiến lược quân sự, về chiến thuật mới có thể nhìn thấu đáo…

Nhưng điều đó không có nghĩa là ba tôi không thương lính của mình. Hồi chiến tranh biên giới Việt - Trung nổ ra, Đài Phát thanh thường phát đi phát lại một câu: "Vậy là một lần nữa, lịch sử lại chọn đất nước ta để thử thách".

Có một hôm, tôi chứng kiến ba tôi nghe đài rồi đấm mạnh tay xuống bàn: "Lịch sử là gì mà làm lính tôi khổ thế?".

Tôi hiểu ba mình!

Ba tôi là Tướng trận. Ông ở khắp các chiến trường trong suốt hơn 40 năm quân ngũ, hết chiến dịch này đến chiến dịch khác: từ Điện Biên Phủ đến Hồ Chí Minh, từ Quảng Trị đến Tây Nam rồi Biên giới phía Bắc. Rất nhiều người lính của Ba tôi cũng như thế. Họ hầu như không có lấy một ngày được nghỉ ngơi trong hòa bình, kể cả sau khi đất nước thống nhất mùa xuân 1975. Như những người lính Quân đoàn 2, vừa tuần trước còn ở Campuchia truy đuổi quân Khmer Đỏ, tuần sau đã có mặt ở Biên giới phía Bắc để sẵn sàng chống quân Trung Quốc.

Đất nước của ta đã phải chịu cảnh chiến tranh quá lâu. Nhưng với những người lính, chiến tranh còn lâu hơn thế và mòn mỏi hơn thế rất nhiều...

Ba tôi nóng nảy và cứng rắn. Ông yêu tôi nhưng cả đời mình, tôi chưa từng được ông ôm. Ngày ông nội tôi mất, ba tôi không khóc. Vậy mà có một lần, khi đứng ở Nghĩa trang Trường Sơn, trước mộ của một người lính của ông đã hi sinh ở Quảng Trị, tôi thấy ba mình đã khóc - lần đầu tiên và duy nhất trong đời.

Ba tôi hay nói, đời làm Tướng trận của ông, ông buồn nhất là khi các sĩ quan dưới quyền lên báo cáo: "Thưa Thủ trưởng, trận này mình tổn thất nhỏ". Ông luôn dặn dò: "Không có một tổn thất nào là nhỏ khi nói về những người lính đã ngã xuống. Mỗi một người lính hi sinh, họ là con, là chồng, là cha trong một gia đình. Đó là những mất mát không thể bù đắp…".

Năm 1984, Trung Quốc quay trở lại gây chiến ở chiến trường Vị Xuyên, với mục đích gây sức ép cho ta ở mặt trận Campuchia. Lúc này, ba tôi đã được rút về làm Cục Phó Cục Khoa học Quân sự. Chỉ huy mặt trận Vị Xuyên lúc ấy là một vị Tướng khác.

Ngày 12.7.1984, các đơn vị chủ lực của sư đoàn 312, 316 và 356 được lệnh dàn quân đánh với quy mô lớn. Tổn thất vô cùng kinh khủng. Chỉ trong một đêm, chúng ta mất 600 lính, bị thương vong 1.200 người. Sư đoàn 356 mất sức chiến đấu. Nên ngày 12.7 đến bây giờ vẫn được coi là ngày giỗ trận của lính Vị Xuyên.

Ngay sau đó, ba tôi được Đại tướng Lê Trọng Tấn ra lệnh quay lại Biên giới phía Bắc, làm Tư lệnh mặt trận Vị Xuyên.

Lên đến Vị Xuyên, chứng kiến thương vong khủng khiếp của những người lính, Ba tôi chỉ nói với những người chỉ huy trận đánh trước một câu duy nhất: "Các anh đánh thế này, thì mẹ Việt Nam anh hùng đẻ không kịp đâu".

Vì cùng một điểm cao như vậy ở Vị Xuyên, không thể nào chúng ta lại đi đọ pháo rồi dàn hàng ngang ra xung phong để đánh nhau với quân Trung Quốc được.

Việc đầu tiên ba tôi làm khi lên đến Vị Xuyên là thay đổi toàn bộ cách đánh trước đó. Không cho quân dàn hàng ngang đấu tay đôi với Trung Quốc nữa, ông yêu cầu bộ đội quay trở về chiến thuật thời Điện Biên Phủ.

Ông lệnh cho bộ đội đào hầm để tránh pháo kích của địch; đào hào sát đến tận công sự địch, sử dụng tất cả các hang hốc để bố trí lực lượng, rồi tổ chức những nhóm nhỏ cấp trung đội, tiểu đội để tấn công bất ngờ. Thực tế là những tổn thất về con người từ đó đến năm 1985 cộng lại cũng không nặng nề bằng vài tuần đầu của chiến dịch.

Sau này khi ba tôi đã qua đời, có một năm tôi tham dự ngày gặp mặt các CCB Sư đoàn 356, họ ôm tôi khóc, nói với tôi bằng giọng nói giản dị, bỗ bã đúng chất lính: "Ba mày mất rồi nên giờ tao chỉ biết nói với mày, là ngày đó nếu Tư lệnh Hoàng Đan không lên, thì chúng tao chắc chắn không bao giờ gặp mặt mày. Cứ đánh như cũ thì bọn tao cũng chết thôi".

Cái ôm giản dị đó khiến tôi cảm động đến tận sâu thẳm lòng mình.

Ba tôi có cách thương lính không giống một ai.

Ông bị đau khớp, chân đi tập tễnh, nhưng ở mặt trận Vị Xuyên, ông cứ thế chống gậy, nhúc nhắc đi dưới làn mưa bom bão đạn trước con mắt tròn xoe của lính tráng để vào tận hang Làng Lò, cách công sự địch vỏn vẹn 100m, chỉ để ngồi với lính, đích thân cuốn thuốc lá cho lính hút, rồi hỏi:

- Bây giờ các cậu muốn gì nhất?

Lính của ông trả lời:

- Báo cáo thủ trưởng, thủ trưởng cho chúng em xin tí văn công. 6 tháng trong hang không nhìn thấy mặt đàn bà rồi…

- Được! Các cậu sẽ có văn công, sẽ gặp đàn bà!

Lính tráng cứ tưởng ông hứa rồi để đó vậy thôi, Nhưng 3 ngày sau, trinh sát cõng ông Hoàng Chè, đoàn trưởng văn công và ca sĩ Ánh Tuyết, cùng một cậu đánh đàn vào tận hang Làng Lò biểu diễn cho lính nghe.

Lính của ba tôi sau này hay kể, giữa trận địa đạn pháo bay vèo vèo trên đầu, ba tôi thường lấy vỏ thùng đạn, kê ngay lên nóc hầm và ung dung ngồi hút thuốc. Ông bảo với lính:

- Sống chết thời, vận, số. Một khi số đã tới thì dù có trốn trong công sự, đạn pháo cũng tìm được.

Ông hay tếu táo với lính, rằng nếu ông chết, thì ít ra con trai ông - là tôi cũng được cộng một điểm khi đi thi đại học.

Giữa chiến trường, câu nói đùa mà thản nhiên như không của ba tôi làm binh lính cười rầm rầm, chen nhau ngồi cạnh suýt xoa:

- Cụ cho con ngồi cạnh cụ. Ngồi cạnh cụ là vạn thọ vô cương.

Nhờ những giờ phút như vậy, những người lính như ba tôi đã đi qua những cuộc chiến tranh, đi qua bom đạn mà bớt đi nhiều phần sợ hãi, dù trong số họ, có người đi gặp cái chết, có người may mắn hơn sẽ được trở về cạnh gia đình mình.

Ba tôi là một trong số những người may mắn ấy. Ông còn may mắn hơn ở chỗ, 43 năm đi khắp các chiến trường, chỗ nào pháo nã nhiều nhất thì ông ở đó, nhưng kì lạ là ông chưa từng một lần bị thương. Sau này ông hay nói: "Ông bà thì nhân từ, mẹ mày thì bao dung, nên cả đời ba đi chiến trường mà không một vết sẹo".

Năm 2003, ở tuổi 76, ba tôi qua đời sau một cơn đau tim khi đang chạy xe máy ngoài đường và ra đi thanh thản.

Những năm cuối đời trước khi ba tôi mất, tôi từng hỏi ông một câu:

- Ba đã mất bao nhiêu người lính suốt cuộc đời mình?

Ông nghĩ một lúc lâu rồi trả lời:

- Ba không tính chính xác được. Nhưng có lẽ dưới quyền ba, ba đã mất 30.000 quân.

Ba bảo, trong mọi cuộc chiến đó, chúng ta đều ở thế yếu, nên tổn thất là điều không tránh khỏi. Nhưng trong sâu thẳm, tôi hiểu ông luôn nghĩ về những người lính mà ông đã mất đi mỗi ngày trong suốt cuộc đời mình.

Vì đời ông đã có lần suýt phải ra Tòa án binh vì bất tuân lệnh cấp trên, bởi biết nếu đánh thì lính của mình sẽ chết. Đời ông, cũng có những lúc nhìn đồng đội mình, binh lính của mình phơi thi thể trên chiến hào, mà chỉ biết nghiến chặt răng tiến lên phía trước…

(Ghi theo lời kể của ông Hoàng Nam Tiến  con trai  của Thiếu tướng Hoàng Đan)./.

Yêu nước ST.


 

“Tiền đồ của mỗi người nằm trong tiền đồ của cách mạng, của dân tộc”

Câu nói trên trích trong bài nói chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Đại hội chiến sĩ thi đua ngành thương nghiệp lần thứ nhất được tổ chức từ ngày 31-5 đến ngày 5-6-1956, tại Hà Nội. Tham dự Đại hội có 354 đại biểu là chiến sĩ thi đua và đại diện cho các đơn vị tiên tiến thuộc ngành thương nghiệp cả nước.

Lời của Bác, khẳng định lợi ích của dân tộc phải được đặt lên trước lợi ích của cá nhân. Thực tiễn đã chứng minh, nước độc lập thì ai cũng được tự do; nếu mất nước thì ai cũng làm nô lệ. Cách mạng giải phóng dân tộc giành được thắng lợi, không chỉ dân tộc được giải phóng mà các giai cấp, tầng lớp trong xã hội cũng được giải phóng. Quan điểm đó đã góp phần khơi dậy, phát huy sức mạnh của mỗi cá nhân và cả cộng đồng đóng góp cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Quan điểm trên của Người, tiếp tục được Đảng ta vận dụng vào đường lối lãnh đạo cách mạng Việt Nam; toàn bộ hoạt động của Đảng đều xuất phát và phục vụ lợi ích, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Hiện nay, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên sa sút về phẩm chất đạo đức, phai nhạt lý tưởng cách mạng, quá coi trọng đến lợi ích cá nhân, đã và đang làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ, thì việc nắm vững những quan điểm của Người về đặt lợi ích chung của dân tộc, của Đảng, của nhân dân lên trên lợi ích của cá nhân có giá trị thực tiễn sâu sắc; là nội dung, phương hướng rèn luyện đạo đức của mỗi người theo tư tưởng, tấm gương đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh.

Quân đội ta là đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ, sẵn sàng chiến đấu hy sinh “vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân”, cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân luôn thấm nhuần lời dạy của Bác về việc phải biết đặt lợi ích của đất nước lên trên, lên trước lợi ích của cá nhân, kiên định với mục tiêu, con đường cách mạng mà Đảng và Bác đã lựa chọn; quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nêu cao ý chí, quyết tâm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; luôn chủ động tham gia đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến  bình” của các thế lực thù địch; nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng là lực lượng nòng cốt trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Đoàn kết - nhân tố tạo nên sức mạnh của Quân đội ta

 

Đoàn kết là nét đẹp, tinh hoa văn hóa và truyền thống rất quý báu của dân tộc. Quân đội ta từ nhân dân mà ra, do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức và lãnh đạo. Nhiệm vụ hàng đầu của quân đội là đánh thắng kẻ thù, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Vì vậy, quân đội phải giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng cũng như sự quản lý tập trung và thống nhất của Nhà nước. Bên cạnh đó, quân đội luôn giữ vững khối đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân và đoàn kết quốc tế. Đây là những nhân tố vô cùng quan trọng, làm tăng thêm sức mạnh để Quân đội ta đánh thắng kẻ thù, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Cách đây 77 năm, trước sự phát triển của phong trào đấu tranh cách mạng và nhiệm vụ giải phóng dân tộc, ngày 22-12-1944, thay mặt Thường vụ Trung ương Đảng, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã ký chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, tiền thân của Quân đội ta ngày nay. Trải qua hơn 3/4 thế kỷ vừa chiến đấu vừa xây dựng, dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, sự đoàn kết, giúp đỡ của nhân dân các địa phương cũng như bạn bè quốc tế, Quân đội ta đã trưởng thành ngày càng lớn mạnh, đánh thắng nhiều kẻ thù ở nhiều chiến trường và môi trường, trên đất liền, trên biển và trên không, lập nên những chiến công vang dội. 

Thắng lợi giành được trong 77 năm qua của Quân đội ta là rất to lớn, do nhiều yếu tố tạo nên, trong đó có xây dựng và củng cố ngày càng vững chắc khối đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân và đoàn kết quốc tế. Khối đại đoàn kết của Quân đội ta được xây dựng trên nền tảng của tình yêu thương đồng chí và đồng đội, giữa những người đồng cấp, giữa cán bộ và chiến sĩ, giữa cấp trên và cấp dưới. Sự đoàn kết đó có tình thương yêu, đùm bọc và giúp đỡ của cấp ủy, chính quyền và nhân dân các địa phương; có sự phối hợp, hiệp đồng trong học tập, công tác giữa các lực lượng; có tinh thần đoàn kết quốc tế cao cả, lòng yêu hòa bình và công lý… Đó là bài học vô cùng quý giá, là giá trị tinh thần rất to lớn mà các thế hệ đi trước đã dày công xây dựng nên. Trong quá trình xây dựng quân đội chúng ta còn gặp nhiều khó khăn, thử thách, kẻ thù lại không ngừng đẩy mạnh chống phá, vì vậy, chúng ta cần trân trọng giữ gìn, bảo vệ, phát triển tình đoàn kết đó để tiếp tục xây dựng quân đội trưởng thành, ngày càng vững mạnh, phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao cho.

Mai Năm Mới (ST)

 ĐĂNG TIN XUYÊN TẠC VỀ QUỸ VẮC XIN PHÒNG CHỐNG DỊCH COVID-19: ÔNG ĐINH HỮU THOẠI NÉ TRÁNH, BẤT HỢP TÁC VỚI CƠ QUAN CHỨC NĂNG

Thời gian qua, ông Đinh Hữu Thoại - Linh mục phụ tá giáo xứ Tiên Phước (huyện Tiên Phước) nhiều lần đăng nội dung sai sự thật lên mạng xã hội về công tác phòng chống dịch bệnh Covid-19. Mặc dù Sở Thông tin và truyền thông (TT&TT) nhiều lần mời làm việc, tuy nhiên ông Thoại không hợp tác.
KHÔNG HỢP TÁC
Sáng qua 7.10, Thanh tra Sở TT&TT có buổi hẹn làm việc với ông Đinh Hữu Thoại để làm rõ một số nội dung đăng tải, chia sẻ trên facebook sai sự thật về công tác phòng chống dịch bệnh Covid-19.
Đây là buổi hẹn làm việc lần thứ ba của Sở TT&TT với ông Thoại (các buổi hẹn trước đó vào ngày 24.9 và 14.9). Tuy nhiên, cả 3 lần ông Thoại đều không đến làm việc theo lịch hẹn.
Trước sự chứng kiến của chính quyền thị trấn Tiên Kỳ (huyện Tiên Phước) và đại diện người dân, Sở TT&TT đã lập biên bản sự việc, đồng thời lập Biên bản vi phạm hành chính số 04/BB-VPHC ngày 7.10.2021 về lĩnh vực công nghệ thông tin đối với ông Đinh Hữu Thoại.
Theo đó, ông Thoại đã có hành vi vi phạm hành chính. Cụ thể, ngày 18.6.2021, ông Đinh Hữu Thoại sử dụng tài khoản facebook có tên “Đinh Hữu Thoại” (ID:1849592060, có tích xanh), với nội dung: “Quỹ vắc xin là quỹ lừa đảo! Kẻ lừa đảo thì mang tiền đi gửi nhà băng lấy lãi. Kẻ bị lừa thì ngậm bồ hòn làm ngọt”.
Kèm theo đó là ảnh chụp bài viết trên trang thông tin về dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp Covid-19 của Bộ Y tế có nội dung: “Thủ tướng: Quỹ vắc xin Covid-19 là quỹ nhân ái, tinh thần đoàn kết và trái tim kết nối trái tim...”.
Ngoài ra, cũng tại tài khoản này, còn đăng các nội dung như: “Bộ Y tế thao túng và kiếm ăn bộn tiền trong đại dịch, chả thấy lợi gì cho dân”; “Chỉ có 2 thành phần đóng góp vào quỹ tào lao này là thiếu hiểu biết và hèn nhát”; “Không ngu gì để dân chích ngừa vắc xin hết, phải để kinh doanh kiếm lời 1 thời gian”.
Căn cứ theo Điểm a, khoản 1, Điều 101 Nghị định 15 ngày 3.2.2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử, Sở TT&TT yêu cầu ông Đinh Hữu Thoại chấm dứt ngay hành vi vi phạm.
GÓP Ý PHẢI PHÙ HỢP, CHUẨN MỰC
Theo ghi nhận, đại diện các chức sắc tôn giáo, tín đồ, bà con giáo dân trên địa bàn Quảng Nam đều đánh giá cao tinh thần Việt Nam, những nỗ lực của Đảng, Nhà nước trong công tác phòng chống dịch bệnh; đồng thời khẳng định những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, trong đó có Quỹ vắc xin thời gian qua là hết sức cần thiết để chung tay phòng chống đại dịch Covid-19.
Mục sư Võ Đình Đán – Ủy viên Tổng liên hội – Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam), quản nhiệm Chi hội Tin lành Trường Xuân – Tam Kỳ nói: “Theo tôi, quỹ vắc xin là cần thiết vì nguồn trợ giúp cho chúng ta từ nước ngoài không nhiều, còn Nhà nước mình phải đối đầu với nhiều vấn nạn như hậu quả thiên tai năm 2020 chưa khắc phục xong, lại tiếp đến dịch bệnh nặng nề”.
Giáo hữu Thái Hải Thanh – phụ tá Ban đại diện Hội thánh Truyền giáo Cao Đài tại Quảng Nam thì cho rằng: “Theo quan điểm của chúng tôi thì đây là vấn đề rất cần thiết, vì ngoài những chính sách, chủ trương chung phòng chống dịch thì cần phải có vắc xin mới giải quyết được vấn đề dịch bệnh”.
Hòa Thượng Thích Phước Minh – Ủy viên Hội đồng Trị sự Trung ương, Phó Trưởng ban Trị sự GHPGVN tỉnh Quảng Nam nói: “Ai cũng muốn bình yên, muốn sống, ai cũng muốn mình không bị lây nhiễm covid. Muốn thế phải có vắc xin để tiêm”.
Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ huyện Tiên Phước cho biết, thời gian qua các tôn giáo trên địa bàn huyện ủng hộ tích cực trong công tác phòng chống dịch bệnh Covid-19. Trong đó, đại diện các tôn giáo (Phật giáo, Tin lành, Cao Đài) ở huyện đã đóng góp 26 triệu đồng vào Quỹ vắc xin phòng chống dịch Covid-19.
Ngoài ra, các chức sắc, tôn giáo và nhiều bà con theo đạo còn ủng hộ khẩu trang, đi thăm và tặng quà các trung tâm cách ly, điểm chốt chặn, các hộ dân có hoàn cảnh khó khăn. Trong quá trình hoạt động của các cơ sở thờ tự cũng lồng ghép tuyên truyền phòng chống dịch đến Phật tử, giáo dân, tín đồ.
Trong điều kiện khó khăn do nguồn vắc xin về huyện hạn chế nhưng Ủy ban MTTQ Việt Nam huyện đã đề xuất tiêm vắc xin cho tất cả chức sắc, chức việc trên toàn huyện. Vừa qua có 24 vị chức sắc đã được tiêm vắc xin. Thời gian đến Mặt trận huyện sẽ tiếp tục đề xuất tiêm cho những người còn lại.
Liên quan đến những phát biểu có nội dung xuyên tạc, đi ngược với chủ trương phòng chống dịch bệnh Covid-19 của ông Đinh Hữu Thoại, bà Hà nói: “Qua dư luận, Mặt trận huyện có nắm bắt được những phát biểu của linh mục Thoại trên mạng xã hội. Cá nhân tôi cho rằng nếu ai đó nhận thấy việc làm của chính quyền chưa đúng thì nên góp ý, tuy nhiên phải trên tinh thần xây dựng, đúng nơi đúng chỗ. Đặc biệt với tư cách là linh mục, lãnh đạo giáo xứ, ông Đinh Hữu Thoại nên chọn cách góp ý phù hợp, chuẩn mực hơn, chẳng hạn như thông qua Mặt trận Tổ quốc”.

 BẮT GIAM CHỦ TÀI KHOẢN FACEBOOK XUYÊN TẠC, CHỐNG PHÁ CHÍNH QUYỀN.


Ngày 6/10, Cơ quan CSĐT Công an quận Ninh Kiều (TP Cần Thơ) đã khởi tố bị can, bắt giam Võ Hoàng Thơ (SN 1985, ngụ quận Ninh Kiều) điều tra về hành vi lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước; Quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Theo cơ quan điều tra, trước đó Phòng An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, phát hiện tài khoản Facebook “Minh Long”, do Thơ làm chủ đã đăng tải nhiều bài viết có nội dung sai sự thật, nói xấu Đảng, Nhà nước, đi ngược chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.
Phòng An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao đã chuyển vụ việc đến Công an quận Ninh Kiều điều tra làm rõ. Tại cơ quan điều tra, Thơ thừa nhận hành vi đăng tải 47 bài viết trên Facebook “Minh Long”.
Kết quả giám định của Sở Thông tin và Truyền thông TP Cần Thơ, 47 bài viết của đều thể hệ tính tiêu cực, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước; xúc phạm danh dự, uy tín lãnh đạo Đảng, nhà nước; phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, gây mâu thuẫn các mặt trong đời sống xã hội.
Từ kết quả giám định và lời khai của đối tượng Thơ, cơ quan CSĐT xác định Thơ đã có hành vi “Lợi dụng quyền tự do ngôn luận để đăng tải, chia sẻ trên mạng xã hội Facebook nhiều bài viết có nội dung xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức đảng, đến danh dự uy tín của các cá nhân là các cán bộ lãnh đạo đảng, nhà nước.

KHÔNG THỂ CÓ CHUYỆN BỘ LỊCH SỬ 15 TẬP PHẢI BỎ CỤM TỪ"NGỤY" THÌ MỚI CÔNG TÂM VÀ VÀ MIỆT THỊ ĐƯỢC!

Vừa qua, nhân vào các bài viết nói về ông Phan Huy Lê của một số nhà sử học thuộc lớp học trò của ông khi ông qua đời, rất nhiều người ca ngợi ông đã mạnh dạn thực hiện cách nhìn mới, nghiên cứu sâu và đã có nhiều bổ khuyết về lịch sử nước nhà, đặc biệt ông đã đổi mới phương pháp nghiến cứu lịch sử theo hướng khách quan, toàn thể, không đứng về một phía, không phụ thuộc vào ý thức hệ để nhìn nhận lịch sử một cách đúng đắn nhất ...v..v..và v...v. Với tôi tuy không phải là nhà sử học nhưng cũng rất say mê học sử, chính sử học đã cho tôi tiếp tục phát huy truyền thống của dân tộc, hun đúc cho tôi lòng yêu nước yêu quê hương, tiếp nối truyền thống gia đình mà ông bà, ba mẹ tôi đã góp phần tham gia sự nghiệp CM do Đảng ta khởi xướng.

Công tâm đánh giá ông Phản Huy Lê đã có nhiều công trình giá trị đã được Đảng, Nhà nước và xã hội thừa nhận, ông được tặng thưởng một số giải thưởng, danh hiệu có giá trị lớn của nhà nước ta. Thế nhưng những năm cuối đời, nhất là vào những năm đầu của thế kỷ XXI ông đã có những cách nhìn lệch lạc, và nguy hại hơn ông đã truyền cái tư duy lệch lạc lại cho nhiều học trò của ông mà hậu quả ngày nay đã và đang phân hoá xã hội ta, chia rẽ trong Đảng, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chỉ có lợi cho bọn phản động và nhóm tay sai đế quốc sau gần 50 năm vẫn không nhận rõ tội lỗi của mình, tiếp tục quay lưng với dân tộc và chống phá đất nước. 

Trong bài viết này tôi chỉ bàn về cái gọi là phương pháp luận khách quan, đứng giữa, không phụ thuộc vào ý thức hệ chính trị. Cái bản chất gọi là khía học mà hiện nay một số nhà sử gia cố bỏ qua phương pháp luận Mác xít để đi theo phương pháp luận của thầy mình nhằm biện minh cho các hiện tượng xét lại lịch sử. Điều đầu tiên với tư cách là đảng viên của Đảng và là người có nhiều năm nghiên cứu liên tục về CN MLN, và đã đọc trước tác của MLN khi tôi vừa 14 tuổi, cho đến hiện nay tôi vẫn có lúc nghiên cứu lại, tôi có thể khẳng định không có bất cứ một phương pháp luận nào khoa học hơn phương pháp luận MLN gói gọn trong mấy chữ: khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể, vận động và phát triển . Để từ đó tôi khẳng định cái gọi là phương pháp luận nghiên cứu lịch sử của ông PHL cũng chỉ là phương pháp luận suy diễn chủ quan và phi khoa học , thậm chí phục vụ cho một mục đích cá nhân của ông mà thôi. 

Có lẽ cả đời ông PHL canh cánh một điều làm sao rửa nhục cho Phan Thanh Giản và những con người như Giản, nên tìm mọi cách để dùng tài trí của mình xác định chỗ đứng ngày càng cao trong chế độ ta mà ông biết nếu với vị trí xuất thân của mình ông sẽ khó có thể được trọng dụng nếu ông không có tài năng thật sự, và bằng chính sách trọng dùng tài năng của Đảng và NN ta, ông đã đạt đến đỉnh cao của lĩnh vực mà ông nghiên cứu đó là Viện trưởng Viện sử học, Chủ tịch Hội khoa học lịch sử VN, Giáo sư sử học và khi đã đứng trên đỉnh cao của ngành lịch sử , ông đã bắt đầu thực hiện ý tưởng của mình, và để làm được nó ông nắm bắt cơ hội đổi mới của Đảng, đưa những tư tưởng gọi là sáng tạo của mình để thực hiện ý đồ xét lại lịch sử, núp dưới cái gọi là bổ khuyết khoảng trống, nhận thức lại cho đúng các sự kiện lịch sử, gọi lại cho đúng các tên gọi trong lịch sử và từ đó ông nhồi nhét vào tư duy của lớp học trò mình cái phương pháp luận xảo biện và phi khoa học, mang nặng chủ nghĩa chiết trung ngụy biện, đặc biệt đã cố tình tách lịch sử ra khỏi chính trị, phi chính trị hoá sử học nhưng thực chất là phục vụ cho chính trị chống dân tộc , chính trị tay sai cho bọn xâm lược, thực dân đế quốc, chính trị của hệ tư tưởng TBCN; rất giống với việc bọn phản động ngày ngày ra rã việc đòi phi chính hoá quân đội mà họ thừa biết quân đội là lực lương phục vụ cho chính trị.

     Thử hỏi tại sao các nhà sử học và ông Lê thích và hướng lái truyền thông nước nhà khi gọi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta là cuộc chiến tranh Việt Nam, gọi ngụy quân là quân đội VNCH, gọi ngụy quyền là chính quyền VNCH, gọi những người lính hải quân ngụy chết tại Hoàng Sa năm 1974 là những chiến sĩ bảo vệ Tổ quốc, và nhiều thứ khác nữa. Vậy cách gọi đó là khách quan, là không phụ thuộc vào ý thức hệ như PHL thường xuyên đầu độc học trò mình có đúng không? Vậy chúng ta thử bàn luận:

 Chúng ta luôn lấy phương pháp luận CN MLN làm cơ sở, chúng ta luôn tôn trọng và phải tôn trọng khách quan, chúng ta luôn cầu thị khi có những phát kiến mới thực sự khoa học... vậy thử phân tích xem ông Lê và những học trò của mình khi bàn về viết sử không phụ thuộc vào ý thức hệ chính trị có đúng hay thực sự ngụy biện xảo trá, một bản chất đặc thù của CN xét lại lịch sử.

Vậy ông Lê và cộng sự với quan điểm “khách quan, toàn thể... không phụ thuộc vào ý thức hệ “vậy ông gọi cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta là cuộc chiến tranh gì (cũng xin nói với ông rằng đây không phải vì ý thức hệ CSCN mà Đảng ta gọi đó là cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, mà đây là tên gọi của những người yêu nước VN, của dân tộc VN và bạn bè thế giới khi nói về cuộc chiến tranh do Mỹ gây nên ở VN); nếu với tài trí siêu Việt của ông và cộng sự các ông gọi cuộc chiến đấu của người VN chống MỸ là gì? Ông một người được lớp học trò trung thành của ông ca ngợi đã chẳng tìm được cách gọi nào khác mà ông lại gọi theo cách của Mỹ đó là “cuộc chiến tranh Việt Nam”. Còn ngụy quyền Sài Gòn các ông cho rằng vì quan điểm ý thức hệ nên Đảng CS VN gọi là ngụy quyền, vậy không gọi ngụy quyền và để khách quan thì ông và cộng sự gọi là gì? Chắc chắn và thực tế ông Lê cùng đồng sự chẳng thể tìm ra cách gọi nào khác mà lại gọi là chính quyền Sài Gòn, hoặc chính quyền VNCH, tương tự như vậy ngụy quân thì các ông gọi là quân đội VNCH... như thế tất cả các tên gọi mà Đảng CS và dân tộc VN gọi Phan Huy Lê cho rằng do mang nặng ý thức hệ CS nên gọi sai, và các ông gọi lại cho  đúng vậy cái đúng của các ông lại mang nặng ý thức hệ Tư bản, đế quốc. Các ông lấy cách gọi của kẻ xâm lược để tráo danh, lật sử, các ông đứng về phía kẻ thù của dân tộc, lại mang nặng tư tưởng chống Đảng Cộng sản VN. Mác và các nhà kinh điển đã khẳng định không có chủ nghĩa trung dung, và các nhà kinh điển  đã lên án cái CN chiết trung ngụy biện thực chất là quan điểm của CNTB và ý thức hệ tư bản CN. Các ông đã lừa mỵ nhiều người bản lĩnh chính trị không vững vàng, và quần chúng nhẹ dạ cũng như những người trẻ đi tìm cái mới song chính các ông đã tự bộc lộ bản chất đối lập với CNXH, với phương pháp luận MLN và nền tảng tư tưởng của Đảng ta.

Gần đây Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Thịnh đã có bài Tư cách sử gia tôi rất đồng tình và đánh giá cao bài viết này. Và cũng kể thêm câu chuyện khi ông PHL còn sống , năm 2017 nhân sự kiện báo chia đưa tin về những điều mới trong Bộ sử 15 tập của Viện sử học VN tôi đã viết bài bác bỏ các quan điểm sai trái của ông Trần Đức Cường và đồng sự về việc cố tình bỏ cụm từ "ngụy..." trong Bộ sử 15 tập của ông ta và Viện sử học bài viết đã được cộng đồng mạng hoan nghênh. Trong bài này tôi có nói bộ sử do ông Phan Huy Lê làm chủ nhiệm đề  tài nhưng ngay sau đó tôi đã nhanh chóng sửa khi biết chính xác đề tài này do ông Trần Đức Cường làm CN, thế nhưng chắc có lẽ ông Lê muốn ra oai và để bảo vệ bộ sử đã cử hai học trò điện gặp tôi để làm rõ và giải oan cho thầy Lê, vì là người quen biết các học trò này lại cũng thường xuyên làm việc với nhau nên tôi đã đồng ý và sắp xếp buổi gặp mặt. Tại buổi làm việc này học trò ông Lê đã chuyền đạt tinh thần của thầy là yêu cầu tôi đính chính ông không làm CN đề tài và nếu không đính chính thì ông sẽ gởi đơn kiện tôi lên BQP và UBKTTƯ , cùng một số nội dung xoay quanh việc họ không dùng cụm từ ngụy, tôi đã trả lời tôi không viết về ông Lê mà chỉ nói về quan điểm sai trái khi các nhà sử gia đã bỏ cụm từ nguỵ... trong bộ sử, các vị ấy nói nhưng vì bài báo đó xã hội lầm tưởng là do thầy Lê chỉ đạo nên đã tấn công thầy Lê trong lúc thầy tuổi cái sức yếu và hơn nữa các vị ấy cho rằng tôi có tiếng nói quan trọng trong cộng đồng mạng xã hội... qua buổi làm việc học trò ông Lê đã khẳng định việc bỏ cụm từ ngụy, quan điểm của ông Cường là không phù hợp, chắc do muốn quảng cáo bộ sách để tiêu thụ nên nói quá, họ sẽ về có bài nói rõ không bỏ cụm từ ngụy... và mong tôi cũng có bài nói rõ cho cộng đồng mạng là bộ sử không phải do ông Lê chủ biên, mặc dù trong bài viết của tôi không còn nói về ông Lê , tôi đã đồng ý.

Sau đó tôn trọng lời hứa tôi đã viết bài và chụp ảnh ban chủ nhiệm đề tài nói rõ ông Lê không phải là chủ nhiệm đề tài, mong cộng đồng mạng đừng ghép sai lầm về việc bỏ từ ngụy lên đầu ông Lê. Thế nhưng trong khi tôi giữ lời hứa thì ông PHL lại làm ngược lại vẫn gởi đơn đến QUTW đề nghị xử lý tôi, và trong đơn ông ta đòi kiện tôi ra toà vì dám vu cáo ông . Chỉ đáng tiếc là QUTW đã không thụ lý đơn mà bỏ vào tủ hồ sơ nên tôi không có cơ sở được đối mặt với ông Lê tại toà và hai vị học trò cũng chẳng có bài nào nói về tại sao bỏ cụm từ ngụy...

Tôi nhắc lại việc này để nói về tư cách của ông Lê, và cũng để chúng ta thấy rõ hơn những sai lầm nguy hại của chủ nghĩa xét lại lịch sử và cái gọi là "phương pháp luận nghiên cứu lịch sử" của thầy PHL. (Bài viết của Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn-nguyên Cục trưởng CTH/TCCT/QĐNDVN).

Yêu nước ST.

Chủ Nhật, 10 tháng 10, 2021

Chiêu trò xuyên tạc, chống phá của cái gọi là "tổ chức Sáng kiến Pháp lý Việt Nam"

 

Gần đây cái gọi là “tổ chức Sáng kiến Pháp lý Việt Nam” xuyên tạc việc cơ quan chức năng Việt Nam và giam giữ đối tượng Phạm Đoan Trang “là hành vi vi phạm quyền tự do ngôn luận một cách trắng trợn”, “tấn công vào nền tự do báo chí và hoạt động báo chí độc lập”.

Đây là sự xuyên tạc, “đổi trắng thay đen”, họ đưa ra yêu sách đòi “phải trả tự do ngay lập tức” cho đối tượng  này.

Họ ngụy biện với nhiều lý do để gắn cho các đối tượng chống đối như Phạm Đoan Trang, Trần Huỳnh Duy Thức cái “mác” nào là “nhà báo độc lập”, “nhà bảo vệ nhân quyền”… mà lơ đi những hành vi vi phạm pháp luật của các đối tượng này đang bị điều tra hoặc đã bị truy tố, xét xử,  kết án theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam.

Phạm Đoan Trang từng làm việc tại một số cơ quan báo chí trong nước, được đánh giá có năng lực, có khả năng viết tốt, song lại  đi ngược lại với lợi ích của người dân và đất nước. Điều này thể hiện rõ trong nhiều bài viết, nhiều cuốn sách của Phạm Đoan Trang như: “Chính trị bình dân”, “Cẩm nang nuôi tù”... tất cả đều xuất bản “chui”, vi phạm pháp luật của Nhà nước Việt Nam.

Đầu tháng 10-2020, Phạm Đoan Trang bị khởi tố, tạm giam về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, quy định tại Điều 88 Bộ luật Hình sự 1999 và tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” quy định tại Điều 117 Bộ luật Hình sự 2015. Viện Kiểm sát nhân dân TP Hà Nội đã ra Quyết định phê chuẩn các Quyết định của Cơ quan An ninh điều tra Công an thành phố Hà Nội đối với bị can Phạm Thị Đoan Trang.

Hành vi vi phạm pháp luật của Phạm Đoan Trang quá rõ ràng. Thế nhưng, cái gọi là tổ chức Sáng kiến pháp lý Việt Nam, được đăng ký hoạt động tại Mỹ, cũng như nhiều tổ chức, hội nhóm phản động, thù địch đã cố tình bóp méo, xuyên tạc hòng nhằm tới mục đích chống phá nước ta.

Chúng ta khẳng định vấn đề tự do ngôn luận nói chung, tự do báo chí nói riêng, luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm. Điều 25, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Trong các luật được ban hành thời gian gần đây, như Luật Báo chí (năm 2016); Luật Tiếp cận thông tin (năm 2016); Luật An ninh mạng (năm 2018)…, vấn đề tự do ngôn luận luôn được tôn trọng và bảo đảm.

Đương nhiên, Việt Nam cũng như tất cả các nước trên thế giới, mỗi công dân đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật quốc gia mình về những gì đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, bất cứ ai vi phạm pháp luật đều phải bị xử lý theo quy định của Pháp luật. Vì thế, chúng ta kiến quyết đấu tranh vạch trần thủ đoạn của các đối tượng phản động đưa ra những luận điệu mượn cớ quyền tự do ngôn luận, bóp méo sự thật, để bênh vực cho những đối tượng vi phạm pháp luật Việt Nam như Phạm Đoan Trang thời gian vừa qua./.

                                                                                                   N.V.S

 

 

BẢN CHẤT BỘ MẶT VIỆT TÂN

 


Bản chất chống phá cách mạng Việt Nam của phản động Việt Tân không bao giờ thay đổi. Chúng thường lợi dụng các sự kiện xảy ra trong cuộc sống, để xuyên tạc, vu khống, kích động; nhắm vào những hạn chế, khuyết điểm của một số người, dùng tiền bạc, vật chất, bả vinh hoa… để xuyên tạc, vu khống, kích động, dụ dỗ, ép buộc, lôi kéo… nhằm mục đích chống phá sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của Đảng và nhân dân ta.

Nhưng trên thực tế, Việt Tân đều đã phải nhận thất bại thảm hại. Trong đó chúng nhiều khi phải chịu những cái tát mạnh mẽ thẳng vào mặt từ sự thật. Có rất nhiều ví dụ để minh chứng cho thực tế đó.

Việt Tân không thể và không bao giờ có thể làm thay đổi được sự bền chặt của ý Đảng, lòng dân, của lý tưởng, truyền thống, nghĩa vụ, trách nhiệm, tình cảm, truyền thống tốt đẹp của cách mạng Việt Nam. Chắc chắn còn cố tình chống phá, phản động Việt Tân sẽ còn phải chịu thất bại cay đắng hơn nữa, chịu những cái tát thẳng mạnh mẽ hơn nữa của pháp lý và đạo lý. Vì âm mưu, thủ đoạn, mục đích của chúng chỉ nhằm phá hoại sự nghiệp cách mạng của chúng ta, để đất nước Việt Nam yên bình, yêu quý của chúng ta bị rơi vào thảm cảnh, khổ đau. Ác độc và xấu xa như vậy thì làm sao Việt Tân cũng như các thế lực thù địch, phản động khác có thể làm hại sự nghiệp chính nghĩa, trong sáng, tươi đẹp của dân tộc Việt Nam trên con đường mà Đảng, Bác Hồ, toàn dân, toàn quân ta đã sáng suốt lựa chọn: con đường xã hội chủ nghĩa với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. St

 

Tổng bí thư yêu cầu làm việc vì dân, không hô khẩu hiệu

 

Nhắc lại câu nói “quan nhất thời, dân vạn đại”, Tổng Bí thư lưu ý tất cả phải vì dân, đừng hô khẩu hiệu, nói thế thì phải làm thế.

Sáng 9/10, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng các đại biểu Quốc hội thuộc đơn vị bầu cử số 1 thành phố Hà Nội tiếp xúc cử tri các quận Ba Đình, Đống Đa, Hai Bà Trưng trước kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa XV.

Hội nghị được tổ chức trực tiếp kết hợp trực tuyến từ điểm cầu chính tại trụ sở UBND quận Ba Đình tới 57 điểm cầu, với sự tham dự của gần 800 cử tri.

Đất nước bình yên mới có cơ hội phát triển

Dành nhiều thời gian lắng nghe chia sẻ của cử tri, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cho rằng đó đều là những ý kiến quý báu và sẽ được tập hợp gửi đến Quốc hội trong kỳ họp tới.

Tổng bí thư cho biết đại dịch Covid-19 ảnh hưởng rất lớn đối với thế giới, trong đó có nước ta, đến nay đất nước còn rất khó khăn. Dịch bệnh vẫn có nguy cơ cao; tăng trưởng kinh tế đạt thấp trong khi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực diễn biến phức tạp. Tổng bí thư nêu rõ trong thời gian tới, cả nước cần tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết, thống nhất, ý chí quyết tâm cao để vượt qua khó khăn. Đặc biệt, tuyệt đối không được chủ quan, lơ là, tự mãn trước dịch bệnh Covid-19. Song song với phòng chống dịch, Tổng bí thư yêu cầu tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Theo ông, đất nước bình yên mới có điều kiện phát triển. “Khó khăn còn nhiều, nhưng phải xác định đây là thử thách bản lĩnh để nỗ lực vượt qua” - Tổng bí thư nhấn mạnh.

Tổng bí thư đề nghị cử tri và nhân dân tiếp tục theo dõi, giám sát, góp ý kiến kịp thời xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị. Dân giám sát hoạt động của cả hệ thống chính trị, nếu làm đúng thì dân ủng hộ, làm sai dân sẽ góp ý kiến, hư hỏng thì dân phản đối và phải xử lý người làm sai.

“Quan nhất thời, dân vạn đại, tất cả phải vì dân, đừng có hô khẩu hiệu. Nói thế thì phải làm thế, nếu chỉ làm vì mình, vì gia đình mình thì hỏng rồi”, người đứng đầu Đảng chia sẻ.

Ông tin với tinh thần đoàn kết, trên dưới một lòng, đất nước ta sẽ vượt qua mọi khó khăn, thử thách, không sợ kẻ thù nào.

Thông tin nhanh về kết quả Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII vừa qua, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cho biết sắp tới Ban Bí thư sẽ chỉ đạo tổ chức hội nghị toàn quốc quán triệt Nghị quyết Hội nghị với hai trọng tâm là phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị.

Trên cơ sở đó, toàn Đảng sẽ đẩy mạnh đấu tranh với quyết tâm quét sạch chủ nghĩa cá nhân; tiếp tục không chỉ chống tham nhũng mà chống cả tiêu cực; ngăn chặn, đẩy lùi, kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm minh sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ.St

"CÁC ĐỒNG CHÍ ĐẾN TP HCM BẰNG LƯƠNG TÂM, TRÁCH NHIỆM, LÒNG DŨNG CẢM VÀ SỰ HY SINH TO LỚN"


Sáng 8/10, TP.HCM đã tổ chức lễ tuyên dương đoàn công tác tăng cường và tham gia hỗ trợ phòng chống dịch bệnh COVID-19 trên địa bàn TP.

Tại buổi lễ, lãnh đạo Thành ủy, UBND TP.HCM đã trao tặng bằng khen cho 55 tập thể; 119 cá nhân nhận huy hiệu của TP.HCM.

Bí thư Thành uỷ cũng bày tỏ vô cùng xúc động khi trực tiếp gặp gỡ, tri ân và tuyên dương các tập thể và cá nhân tại buổi lễ.

“Các đồng chí đã đến với TP.HCM bằng lương tâm, trách nhiệm, lòng dũng cảm và sự hy sinh to lớn” - ông Nên nói và cho rằng sau bốn tháng ròng rã sát cánh bên nhau, kiên gan chiến đấu, các lực lượng đã từng bước giúp TP.HCM kéo giảm số ca nhiễm, số người bị bệnh nặng và đặc biệt là kéo giảm số người tử vong, từng bước giúp TP.HCM kiểm soát được dịch, chuẩn bị cho giai đoạn bình thường mới.

Ông trân trọng cảm ơn gần 30.000 người đã chi viện cho TP.HCM và đặc biệt là những người có mặt tại buổi lễ tuyên dương. “Đó là những chiến sĩ dũng cảm đã có mặt trên tuyến đầu chống dịch nóng bỏng của TP.HCM” - ông Nên nói.

Người đứng đầu Đảng bộ TP.HCM cho biết đến thời điểm này, các nhà khoa học trên thế giới cũng chưa đoán định được hết mức độ nguy hiểm của biến chủng Delta và những biến chủng mới đang xuất hiện tại nhiều nơi trên thế giới. Tổ chức Y tế thế giới cảnh báo rằng dịch vẫn chưa kết thúc, vì vậy trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng không được chủ quan. Phải luôn nâng cao tinh thần cảnh giác, thay đổi cách sống phù hợp với tình hình mới, sống trong môi trường có dịch.

Cuối cùng, người đứng đầu Đảng bộ TP.HCM cho rằng năm tháng sẽ đi qua, những cam go, khốc liệt do đại dịch cũng sẽ dịu dần nhưng hình ảnh cao đẹp của chiến sĩ tuyến đầu, nhất là lực lượng chi viện, trong khó khăn, khốc liệt sẽ còn mãi trong lòng người dân.St

  

ĐOÀN KẾT - SỨC MẠNH VÔ ĐỊCH CỦA ĐẢNG

 


Đoàn kết là truyền thống quý báu của dân tộc và của Đảng ta. Các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác-Lênin nhấn mạnh: Đoàn kết là yêu cầu chiến lược để đảng cộng sản thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình. Đoàn kết là sức đề kháng để Đảng phòng ngừa các nguy cơ bè phái, cục bộ, “lợi ích nhóm”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”...

Để nguyên tắc đoàn kết trong Đảng phát huy vai trò, tác dụng, trước hết cần tập trung thực hiện đồng bộ, có hiệu quả 10 nhiệm vụ, giải pháp xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Thực sự coi trọng giáo dục lý luận chính trị cho đảng viên. Sự giác ngộ về mục tiêu, lý tưởng của Đảng là cơ sở nền tảng cho việc thống nhất ý chí, thống nhất hành động. Không ngừng hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn. Kiên định và thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng cùng với không ngừng mở rộng dân chủ trong Đảng. St

 

NHẬN DIỆN CHÍNH XÁC

 

Lợi dụng xu thế toàn cầu hóa, sự bùng nổ truyền thông, những tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư những năm gần đây, các thế lực thù địch, phản động tăng cường chống phá cách mạng nước ta bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, với mục đích bôi nhọ, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, bóp méo sự thật lịch sử, vu cáo Việt Nam "đàn áp dân chủ, tôn giáo, vi phạm nhân quyền", kích động tư tưởng ly khai, hận thù dân tộc, mong muốn thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta... Gần đây các thế lực thù địch càng đẩy mạnh hơn các hoạt động chống phá, gây nhiễu loạn thông tin, đặc biệt là trên không gian mạng. Không chỉ ráo riết tác động với nghị viện, quốc hội một số nước thông qua các báo cáo, nghị quyết, dự luật xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền ở nước ta, các cá nhân, tổ chức phản động lưu vong, một số đối tượng cơ hội chính trị, bất mãn còn tăng cường xuất bản, tán phát các ấn phẩm trên nhiều website, mạng xã hội, kêu gọi người dân tham gia thay đổi thể chế, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng triệt để lợi dụng hàng ngàn website, blog, hàng trăm tạp chí, báo, nhà xuất bản và đài phát thanh có chương trình tiếng Việt để đẩy mạnh các chiến dịch thông tin xuyên tạc, phá hoại về tư tưởng; kích động, chia rẽ nội bộ, hình thành các tổ chức chính trị đối lập, hòng gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở nước ta. Tình hình đó đã và đang đặt ra nhiều khó khăn, thách thức cho công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Làm sao để giữ vững trận địa không gian mạng, khai thác, phục vụ tối ưu cho mục đích phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế mà vẫn bảo đảm ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc. Trước hết mỗi người dân chúng ta cũng cần phải nắm chắc đường lối quan điểm của Đảng và nhà nước ta, phân biệt và nhận diện đúng các thế lực thù địch để không ngừng cảnh gics với những chiêu trò mà chúng thường làm./.

XÂY DỰNG “THẾ TRẬN LÒNG DÂN” TRÊN BIỂN, TRONG TÌNH HÌNH MỚI.

 

Xây dựng “thế trận lòng dân” trên biển là quá trình xây dựng nhân tố chính trị tinh thần, ý chí, tâm lý và niềm tin của nhân dân trên vùng biển, đảo của Tổ quốc, mà cốt lõi là lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí chiến đấu của nhân dân. Xây dựng “thế trận lòng dân” trên biển phải song hành với việc giữ gìn giá trị, phát huy truyền thống lịch sử, bản sắc văn hoá biển; bảo đảm quyền tham gia, hưởng lợi và trách nhiệm của người dân đối với phát triển bền vững kinh tế biển trên cơ sở công bằng, bình đẳng, tuân thủ pháp luật. Xây dựng “thế trận lòng dân” trên biển vững mạnh là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân là nòng cốt. Tập trung xây dựng và phát huy sức mạnh tổng hợp của lực lượng hải quân, cảnh sát biển, biên phòng biển, kiểm ngư và dân quân tự vệ biển, có số lượng hợp lý, chất lượng tổng hợp cao; chú trọng xây dựng trình độ kỹ thuật, chiến thuật, trình độ hợp đồng tác chiến quân binh chủng đi liền với trang thiết bị kỹ thuật ngày càng hiện đại; kết hợp tốt phát triển kinh tế gắn với quốc phòng, an ninh trên biển của các lực lượng chuyên trách. Đồng thời, cần phát huy tốt vai trò tham mưu của lực lượng vũ trang làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo cho cấp ủy, chính quyền địa phương về công tác quốc phòng, quân sự địa phương; về xây dựng khu vực phòng thủ biển, đảo vững chắc; tuyên truyền, bồi dưỡng nâng cao kiến thức quốc phòng, an ninh cho ngư dân; bảo đảm hậu cần - kỹ thuật nghề cá; chú trọng công tác tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn và bảo vệ môi trường biển./.