Thứ Sáu, 22 tháng 10, 2021

HUYỀN THOẠI ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH TRÊN BIỂN


Ngày 23/10/1961, theo Chỉ thị của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh QĐND Việt Nam quyết định thành lập Đoàn 759 để vận chuyển vũ khí, trang bị cho chiến trường miền Nam bằng đường biển. Ngày 23/10 trở thành Ngày mở Đường Hồ Chí Minh trên biển.

Để đảm bảo bí mật cho tuyến đường vận tải đặc biệt, những chiếc tàu của Đoàn 759 phải cải hoán thành tàu đánh cá, không có số hiệu cố định, tên gọi Đoàn tàu không số cũng ra đời từ đó.

Đêm 11/10/1962, chiếc tàu gỗ đầu tiên mang theo 30 tấn vũ khí rời bến Đồ Sơn (Hải Phòng) lên đường vào Cà Mau. Chuyến đi thành công tốt đẹp, được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện biểu dương khen ngợi. Tháng 8/1963, Quân ủy Trung ương quyết định giao Đoàn 759 trực thuộc Quân chủng Hải quân. Ngày 29/1/1964, Đoàn 759 đổi phiên hiệu thành Đoàn 125. Từ năm 1962 – 1964, Đoàn 125 tổ chức được 79 chuyến vận chuyển hơn 4.000 tấn vũ khí trang bị và cán bộ trung, cao cấp của Đảng, Quân đội cập bến Bạc Liêu, Bến Tre, Trà Vinh, Bà Rịa, Phú Yên, Bình Định đáp ứng kịp thời sự mong đợi của chiến trường. Trên địa bàn Khu V, đến cuối năm 1964 ngoài bến Vũng Rô (Phú Yên) đã có thêm các bến Lộ Diêu (Bình Định), Đạm Thủy (Quảng Ngãi), Bình Đào (Quảng Nam) sẵn sàng tiếp nhận hàng từ các chuyến tàu không số.

Trong 14 năm (1961 – 1975), “Đoàn tàu không số” đã vận chuyển hàng nghìn tấn vũ khí, hàng hóa, thuốc chữa bệnh và hàng vạn lượt người từ hậu phương lớn vào tiền tuyến, trực tiếp góp phần cùng toàn dân đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn. Mỗi chuyến đi là một chiến công, kể cả những chuyến đi thành công và những chuyến đi chưa thật trọn vẹn. Những sự tích anh hùng, những huyền thoại của “Đoàn tàu không số”, xâu chuỗi thành con đường bất tử – Đường Hồ Chí Minh trên biển, mãi mãi lưu truyền trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Đường Hồ Chí Minh trên biển đã hoàn thành trọn vẹn và đặc biệt xuất sắc nhiệm vụ chi viện chiến lược cho chiến trường miền Nam.

Ghi nhận những thành tích đặc biệt xuất sắc của cán bộ, chiến sĩ Đoàn 125, ngày 30/4/1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhất cho đơn vị. Ngày 1/1/1967, Đoàn 125 đã được tuyên dương danh hiệu đơn vị Anh hùng LLVTND lần thứ nhất; ngày 3/6/1976, Đoàn được tuyên dương danh hiệu đơn vị Anh hùng LLVTND lần thứ hai.

Cùng với đường Hồ Chí Minh trên dãy Trường Sơn, đường Hồ Chí Minh trên biển là một nét độc đáo, đặc sắc, sáng tạo của đường lối chiến tranh nhân dân, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh; trở thành biểu tượng tự hào của cả dân tộc Việt Nam, thể hiện ý chí khát vọng độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc; là trí tuệ, ý chí quyết chiến, quyết thắng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Huyền thoại về đường Hồ Chí Minh trên biển vẫn mãi mãi ngời sáng trong trang sử oanh liệt của dân tộc ta như một thiên anh hùng ca bất tử, tô thắm truyền thống đánh giặc, giữ nước của dân tộc, Quân đội và Quân chủng Hải quân nhân dân Việt Nam anh hùng, tiếp thêm sức mạnh cho các thế hệ phấn đấu thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

 TIA CHỚP

CHỈNH SỬA SÁCH GIÁO KHOA SỬ HỌC VÀ BIÊN SOẠN BỘ QUỐC SỬ NHƯ THẾ NÀY SAO?

"Mạt kiếp Gia Long mang tội nước.

 Ngàn năm Nguyễn Huệ sử ghi công!

                   (Sưu tầm)


"Khi Nguyễn Ánh cầu cứu vua Xiêm, vua Xiêm lợi dụng cơ hội để âm mưu chiếm đất Gia Định và thôn tính Chân Lạp, đã cử Chiêu Tăng và Chiêu Sương đem 5 vạn quân theo hai đường thủy bộ cùng với tàn quân của Nguyễn Ánh tiến đánh Gia Định. Đêm 19 rạng ngày 20-1-1785, Nguyễn Huệ đã lãnh đạo quân và dân ta đánh tan quân Xiêm ở Rạch Gầm – Xoài Mút (nay thuộc tỉnh Tiền Giang). Còn ở Đàng ngoài, cuối năm 1788 quân Thanh đã chiếm đóng thành Thăng Long. Nguyễn Huệ lãnh đạo nhân dân ta chuẩn bị tấn công quân Mãn Thanh thì Nguyễn Ánh cho người mang thư và chở 50 vạn cân gạo ra giúp quân xâm lược Mãn Thanh. Trời bất dung gian, cả đoàn thuyền bị một cơn bão nhấn chìm xuống biển Đông, nhưng hành động này nói lên bản chất cực kỳ phản động của y.

Giúp quân Thanh giày xéo đất nước ta ở phía Bắc, rước quân Xiêm xâm lược đất nước ta ở phía Nam, rồi lại cầu cứu rước tư bản phương Tây, đặc biệt là tư bản Pháp vào xâm lược nước ta, tròng vào cổ nhân dân ta xích xiềng nô lệ kéo dài suốt 80 năm. Còn vua Quang Trung đánh tan quân Xiêm ở phía Nam, đánh tan quân Thanh ở phía Bắc. Rõ ràng thời vua Quang Trung đất nước ta đã độc lập, thống nhất."

"Sử sách còn ghi chép: Ngày 28/11/1787, Bá Đa Lộc thay mặt Nguyễn Anh kí kết với chính phủ Pháp hiệp định Véc-xây nhượng hẳn đảo Côn Lôn, cửa biển Hội An và cam kết để cho Pháp độc quyền buôn bán trên cả nước, cung cấp binh lính và lương thực cho Pháp khi có tranh chấp giữa Pháp với một nước ở phương Đông. Chính phủ Pháp nhận giúp đỡ Nguyễn Anh 4 tàu chiến và một đội quân gồm 1.650 người. Đây là một trong những bản hiệp ước bán nước. Gần 75 năm sau - ngày 5/6/1862, Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp có Trương Vĩnh Ký làm thông ngôn đã ký với Bonard và Palanca một hiệp ước gọi là hòa ước năm Nhâm Tuất cắt đứt 3 tỉnh miền Đông cho Pháp, bồi thường chiến phí trong 10 năm, mỗi năm 400 ngàn quan cho đại diện của Pháp ở Sài Gòn. Tự Đức thấy “thành quả” của hiệp ước đã trách Phan - Lâm: “ Ôi con dân mấy triệu, tội gì mà khổ thế? Thật là đau lòng. Hai người không những chỉ là tội nhân của triều đình mà còn là tội nhân muôn đời của hậu thế”.

Không chỉ bán nước, vương triều Nguyễn còn trở thành tay sai đắc lực của Pháp trong việc chống lại nhân dân, hãm hại những người yêu nước. Hãy xem mật thơ của “Tổng đốc Vĩnh Long” Phan Thanh Giản gởi Trung tướng Hải quân Bonard Thống đốc kiêm Tư lệnh”: “Vĩnh Long ngày 7/2/1863. “Tên Trương Định đã đóng quân vi pháp trên đất Tân Hòa (Gò Công). Tại đây, y đã tự đặt vào vị thế chống lại chính phủ An Nam, tuyển mộ binh lính; vì đã từ lâu y không có liên lạc nào với tôi nên tôi không thể đoán trước rằng ngày 18 tháng này (5/2/1863) có tên Quang do y sai đem tới một văn thơ và yêu cầu tôi tường lãm… Đọc bản tuyên ngôn đính theo đây, tôi đã nhận thấy sự kiêu hãnh và ngạo mạn cao độ của con người dám phủ nhận cả đương triều. Quân đội thuộc quyền các hạ mà còn chưa diệt trừ được tên ấy thì lòng kiêu hãnh của y cứ gia tăng. Tôi đã cho bắt giữ tên Quang do Trương Định sai tới và giam giữ ngặt để đưa ra xét xử… Tôi xin đính theo mật văn này bản tuyên ngôn đã nhận được để các hạ tri tường. Đây là mật văn của tôi. Năm thứ 15 triều vua Tự Đức, ngày 20 tháng 12” (Chân dung Phan Thanh Giản của Nguyễn Duy Oanh - tủ sách sử học do Bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh niên của chế độ cũ ấn hành năm 1974 (Sđd., trang 155, 156, 157).

Sau khi chiếm đóng 3 tỉnh miền Đông, quân Pháp tiếp tục đánh chiếm 3 tỉnh miền Tây, lúc đó Phan Thanh Giản với chức Kinh lược toàn quyền quân sự và dân sự 3 tỉnh miền Tây, song Phan Thanh Giản đã đầu hàng, theo lệnh của Lagrandiere Phan gởi công thơ cho quan Tổng đốc An Giang, Hà Tiên như sau: “Hỡi các quan và dân chúng!… Bản chức van vái trời, bản chức nghe theo lẽ phải và tự nhủ: “Mình còn ngốc khi mình đánh người Phú lang sa bằng võ khí, cũng như con nai con muốn bắt con cọp. Mình lại kéo về phe mình một cách vô ích những tai họa lớn, để tai hại ấy đè lên đầu dân mà trời đã giao cho mình chăn. Vậy bản chức viết công thơ cho các quan văn cũng như các tướng võ hãy bẻ gãy giáo và gươm giao thành trì khỏi chống lại…” (Sđd., trang 253).

Phan Thanh Giản yếu hèn như thế, vương triều nhà Nguyễn cũng chẳng kém gì hơn, ngay cả sử sách của chế độ cũ và nhiều tài liệu đang được lưu giữ ở Á châu (ASIE) – Văn khố Bộ Ngoại giao Paris, các Bảo tàng Lịch sử còn lưu truyền cũng không mở được khâu “đột phá nhận thức về chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn”, chưa cập nhật được một cách đầy đủ các kết quả nghiên cứu mới nhất, như một nhóm người của Hội KHLS đã làm. Sự thật lịch sử dù cho có các nghiên cứu mới nhất cũng không thể hô “biến” là kẻ bán nước trở thành người yêu nước."

Sự thật, sau khi vua tôi nhà Nguyễn ký hàng ước hiến dâng nước ta cho thực dân Pháp. Theo sắc lệnh ngày 17-10-1887, thực dân Pháp thành lập Liên bang Đông Dương, năm đó mới bao gồm có Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ và Kampuchia trực thuộc Bộ Hải quân và Thuộc địa. Ngày 19-4-1899, Tổng thống Pháp Emile Loubet ra sắc lệnh sáp nhập thêm Lào vào Liên bang Đông Dương, đất nước ta bị chia cắt làm 3 kỳ: Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ với ba chế độ cai trị khác nhau. Bắc kỳ và Trung kỳ là hai xứ bảo hộ, chính quyền phong kiến vẫn còn được giữ lại về mặt hình thức. Nam kỳ là đất thuộc địa hoàn toàn do Pháp quản lý cùng với Lào và Kampuchia cũng là đất bảo hộ của Pháp. Bằng thủ đoạn này, thực dân Pháp đã xóa bỏ tên Việt Nam hoặc Đại Nam, Lào và Kampuchia trên bản đồ thế giới. Đứng đầu Liên bang Đông Dương có Toàn quyền Đông Dương là người thay mặt chính phủ Pháp cai trị Đông Dương về mọi mặt. Dưới Toàn quyền Đông Dương là Thống đốc Nam kỳ; Thống sứ Bắc kỳ; Khâm sứ ở Trung kỳ, Lào và Kampuchia (Theo Đề cương Lịch sử Việt Nam toàn tập của GS Trương Hữu Quýnh – GS Đinh Xuân Lâm – PGS Lê Mậu Hãn – NXB Giáo dục, trang 532, 566). Rõ ràng, thời Pháp thuộc nhân dân ta là vong quốc nô, làm gì có Tổ quốc, làm gì có Việt Nam hoặc Đại Nam, làm gì có “lãnh thổ của Việt Nam và cơ bản giống lãnh thổ Việt Nam hiện nay”.


Thưa GS Phan Huy Lê!

Giáo sư cho rằng việc trình bày lịch sử xây dựng đất nước vẫn còn nặng về chính trị… trong bộ Lịch sử Việt Nam đang được biên soạn, cần phải trình bày về lịch sử Việt Nam theo quan điểm đầy đủ, toàn diện… Dư luận cho rằng, việc trình bày lịch sử xây dựng đất nước không thôi chưa đủ mà còn phải có lịch sử bảo vệ đất nước, có chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… Khi còn sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Dân ta phải biết sử ta/ Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”. Đã là người Việt Nam thì ở đâu cũng phải biết lịch sử của nước mình vì đó là đạo lý muôn đời của dân tộc “uống nước nhớ nguồn”, những người viết lịch sử không chỉ viết một vài sự kiện, một vài chiến công nói về tiến trình đi lên của dân tộc hoặc để ghi nhớ công lao của một số người đã làm nên những sự nghiệp to lớn mà còn phải biết tìm hiểu, tiếp nhận những nét đẹp của đạo đức, của đạo lý làm người Việt Nam. Không thể có trong bộ Lịch sử Việt Nam đang được biên soạn, cần phải trình bày về lịch sử Việt Nam theo quan điểm đầy đủ, toàn diện… Quan điểm đầy đủ, toàn diện… là quan điểm gì, thấy sao mơ hồ quá!

Hãy xem Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về nhà Nguyễn: Trong thư gửi ông Utơlây, ngày 16-10-1919, Nguyễn Ái Quốc viết: “Ngay trong cái cung điện Huế cũ kỹ và tối tăm, mà cuộc sống tù hãm, trụy lạc đã nhấn chìm những người sống trong đó vào sự nhu nhược, đến nỗi họ dửng dưng trước mọi việc diễn ra bên ngoài…”.

- Trong “Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản” ngày 21-9-1923, Nguyễn Ái Quốc viết: “Triều đình và vua quan (nhà Nguyễn) lệ thuộc tuyệt đối vào chính quyền Pháp. Họ bị chủ Pháp khinh bỉ và nhân dân ghét”.

- Trong bài “Nên học sử ta” đăng trên báo Việt Nam độc lập, ngày 1-2-1942, Nguyễn Ái Quốc viết: “Trước khi vua Gia Long bán nước cho Tây, nước ta vẫn là nước độc lập”. “Vì muốn giành làm vua mà Gia Long đem nước ta bán cho Tây. Thế là giang san gấm vóc tan tác tiêu điều, con Lạc cháu Hồng hóa làm trâu ngựa”.

- Trong bài diễn ca “Lịch sử nước ta”, do Việt Minh Tuyên truyền Bộ xuất bản, tháng 2-1942, Nguyễn Ái Quốc đã viết về vua Gia Long như sau:

“Gia Long lại dấy can qua/ Bị Tây Sơn đuổi, chạy ra nước ngoài/ Tự mình đã chẳng có tài/ Nhờ Tây qua cứu, tính bài giải vây/ Nay ta mất nước thế này/ Cũng vì vua Nguyễn rước Tây vào nhà/ Khác gì cõng rắn cắn gà/ Rước voi giày mả, thiệt là ngu si”.

Và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã viết về vua Tự Đức như sau: “Nay ta mất nước nhà tan/ Cũng vì những lũ vua quan ngu hèn/ Năm Tự Đức thập thất niên/ Nam kỳ đã lọt dưới quyền giặc Tây/ Hăm lăm năm sau trận này/ Trung kỳ cũng mất, Bắc kỳ cũng tan/ Ngàn năm gấm vóc giang san/ Bị vua họ Nguyễn đem hàng cho Tây!/ Tội kia càng đắp càng dày/ Sự tình càng nghĩ càng cay đắng lòng”.

- Trong “Báo cáo đọc tại Đại hội các đoàn thể cách mạng Việt Nam ở nước ngoài” họp tại thành phố Liễu Châu (tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc), vào tháng 3-1944, Nguyễn Ái Quốc đã phát biểu: “Năm 1862, vua Tự Đức ký hiệp ước bán nước, cắt nhượng ba tỉnh Sài Gòn, Biên Hòa, Mỹ Tho cho giặc Pháp”.

- Trong “Trả lời điện phỏng vấn của Dân quốc Nhật báo” (Trung Quốc), ngày 3-4-1949, Hồ Chủ tịch đã viết bài về Bảo Đại-ông vua cuối cùng của vương triều Nguyễn như sau: “Vĩnh Thụy trở về nước với hơn 10.000 viện binh Pháp để giết hại thêm đồng bào Việt Nam. Vĩnh Thụy cam tâm bán nước. Vĩnh Thụy làm tay sai cho thực dân, là một tên phản quốc”.

- Trong quyển “Thường thức chính trị” do NXB Sự thật ấn hành lần đầu năm 1954, Bác Hồ chỉ rõ: “Hơn 80 năm trước đây, đế quốc Pháp thấy nước ta người đông, của nhiều, bèn dùng vũ lực sang cướp nước ta. Giai cấp phong kiến (vua, quan) thì hủ bại hèn nhát, chỉ biết bán nước, không dám chống giặc.

- Trong “Báo cáo về Dự thảo Hiến pháp sửa đổi” tại kỳ họp thứ XI Quốc hội khóa I, ngày 18-12-1959, Bác Hồ viết: “Giữa thế kỷ XIX, đế quốc Pháp bắt đầu xâm lược nước ta: Bọn vua quan phong kiến đã đầu hàng giặc ngoại xâm và bán nước ta cho đế quốc Pháp. Trong gần một thế kỷ, đế quốc Pháp đã cấu kết với giai cấp phong kiến để thống trị nước ta một cách vô cùng tàn bạo”.

- Trong Báo cáo chính trị đọc tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I của Đảng (27-31/3/1935), đồng chí Tổng bí thư Lê Hồng Phong chỉ rõ: Chính sách mới của đế quốc Pháp và mưu mô mới của bọn thống trị bản xứ là “trả quyền cho bù nhìn Bảo Đại, cải cách Nam triều, lập nguyên lão nghị viện. Thi hành các chính sách ấy, không phải trở lại điều ước nô lệ năm 1884 như nhiều người đã tưởng mà là kiên cố quyền thống trị của đế quốc Pháp”.

- Trong Nghị quyết của cuộc Hội nghị Trung ương lần thứ VI nổi tiếng (6-8/11/1939), do đồng chí Tổng bí thư Nguyễn Văn Cừ trình bày, đã phân tích kỹ: “Chính phủ Nam triều Bảo Đại đã hoàn toàn bán mình cho đế quốc Pháp, làm tay sai đắc lực cho đế quốc trong cuộc đàn áp phong trào cách mệnh năm 1930-1931”. “Bảo Đại đã hoàn toàn làm nô lệ một cách vô liêm sỉ cho đế quốc” (website Đảng Cộng sản Việt Nam).

Không chỉ Bác Hồ, trong thế kỷ XX, các đồng chí lãnh đạo lỗi lạc của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta như: Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp… cũng đều đánh giá vương triều nhà Nguyễn và đều hoàn toàn nhất trí với quan điểm của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh.

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization), gọi tắt là UNESCO, Khóa họp Đại hội đồng UNESCO lần thứ 24 tại Paris, từ ngày 20-10 đến 20-11-1987, đã thông qua các nghị quyết về việc tổ chức lễ kỷ niệm các nhân vật kiệt xuất và các sự kiện lịch sử, trong đó có Nghị quyết 24C/18.65 về việc Kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với tư cách là Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam và là Nhà văn hóa kiệt xuất của nhân loại.

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc đã vinh danh Chủ tịch Hồ Chí Minh như vậy. Vậy mà, được sự “phù phép” của tạp chí Xưa & Nay - cơ quan của Hội KHLS do GS Phan Huy Lê làm Chủ tịch danh dự, ông Dương Trung Quốc làm Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký kiêm Tổng biên tập, ông Nguyễn Hạnh – Phó Tổng biên tập tạp chí Xưa & Nay. Tạp chí Xưa & Nay làm “bà đỡ”, ông Đặng Phước Thành xây… “nhà thờ họ” gọi là “Nam phương Linh từ” tọa lạc tại xã Long Hưng A, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp. Thờ đến 125 người mà ông Đặng Phước Thành và những người của tạp chí Xưa & Nay lẫn Hội KHLS cho là có công khai mở, giữ gìn và làm rạng danh vùng đất phương Nam như Nguyễn Ánh (Gia Long), Minh Mạng, Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký, Lê Văn Duyệt… Theo văn bản số 72/X&N ngày 2-7-2014 của tạp chí Xưa & Nay, trong danh sách các vị xét để thờ, không có thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh! Mọi người còn nhớ, “Trong lễ quốc tang Bác Hồ năm 1969, ông Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam lúc bấy giờ đọc bài “Điếu văn” trong đó có đoạn: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta…” . Một tác giả khuyết danh trước đây ở Sài Gòn trân trọng điếu Hồ Chủ tịch: “Thế giới đạo tiến trình. Âu Á kim vô hậu bối; Vĩ nhân tân xã hội, Mã liệt chi hận hữu tiên sinh”, nghĩa là: “Vạch ra con đường lên thế giới mới, Xưa nay Âu Á chưa từng có như Người, Vĩ nhân của xã hội mới, sau Các Mác, Lê Nin chỉ có Người mà thôi” (Từ điển Nhân vật Lịch sử Việt Nam của Nguyễn Q. Thắng – Nguyễn Bá Thế, NXB Văn hóa 1993 – trang 630). Ai cho phép tạp chí Xưa & Nay, cơ quan của Hội KHLS có chức năng tuyển chọn, bình xét những người là anh hùng dân tộc hoặc có công với nước để thờ, để cho lớp trẻ học tập mà không thờ Bác Hồ?! Lại thờ Nguyễn Ánh (Gia Long), Minh Mạng, Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký, Lê Văn Duyệt… Bấy nhiêu đó, đã nói lên lập trường, quan điểm của Hội KHLS. Mặt khác, hơn 10 năm qua, toàn Đảng, toàn Quân và toàn Dân ta tích cực thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, thiết nghĩ, một nhóm người trong Hội KHLS không có tư cách để nói khác lịch sử, nói khác với Cụ Ngô Đức Kế và Bác Hồ, nói khác sự đánh giá vương triều nhà Nguyễn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh và của những đồng chí lãnh đạo lỗi lạc của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta.

Những người viết lịch sử chân chính, chính là người làm tốt công tác chính trị tư tưởng, là người góp phần hình thành nhân cách, phẩm chất, lối sống cho mọi công dân theo mục tiêu: “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Tất cả những điều đó chỉ có thể thực hiện được thông qua người viết lịch sử, người dạy lịch sử và mọi công dân tiếp thu lịch sử chứ không thể có trong bộ Lịch sử Việt Nam đang được biên soạn, cần phải trình bày về lịch sử Việt Nam theo quan điểm đầy đủ, toàn diện… chung chung được. Dư luận hoàn toàn không yên tâm nếu giao cho một nhóm người của Hội KHLS chỉnh sửa sách giáo khoa Sử học và biên soạn bộ quốc sử của nước nhà, Hội KHLS sẽ đứng trên lập trường, quan điểm như vừa nêu trên chắc chắn sẽ gây ra cho Đảng, Nhà nước và nhân dân ta những tổn thất không nhỏ trong lĩnh vực giáo dục chính trị tư tưởng cho mọi công dân.


Rõ ràng, Hội KHLS chỉnh sửa sách giáo khoa Sử học và biên soạn bộ quốc sử nước nhà là không chấp nhận được.



HÃY LÊN ÁN VÀ THẲNG TAY TRỪNG TRỊ

 Hiện nay mặc dù tình hình dịch bệnh đã cơ bản được kiểm soát tại hai thành phố lớn là Hà nội và thành phố Hồ Chí Minh, mọi hoạt động xã hội đã từng bước được khôi phục; tuy nhiên một loại tội phạm mới vừa xuất hiện tại thành phố Hồ Chí Minh.

Lợi dụng chủ trương phòng, chống dịch CVID-19 của thành phố và sự lo sợ mắc bệnh của người dân, một số đối tượng vô lương tâm đã giả danh cán bộ y tế phòng chống dịch COVID-19 đã đến các gia đình có nguy cơ cao để lừa đảo, trộm cắp, chiếm đoạt tài sản.

Tối hôm qua (21/10/2021), tại một gia đình trên đường CMT8, phường 12 quận 3 thành phố Hồ Chí Minh, 3 đối tượng mặc đồ bảo hộ y tế, đeo khẩu trang kín mặt đến yêu cầu gia đình lấy mẫu xét nghiệm nhanh COVID-19 do gia đình có người tiếp xúc với F0 tại nơi làm việc. Sau khi cả gia đình được chọc mũi lấy mẫu xét nghiệm liền rơi vào trạng thái mê man, đồ đạc trong nhà bị trộm sạch. Đến sáng nay khi được người dân phát hiện, cả gia đình vẫn trong trạng thái mê man. Hiện tại công an phường 12 và quận 3 đang tiến hành điều tra sự việc. Qua sự việc này, cả xã hội nên đề cao cảnh giác, khi phát hiện các đối tượng có biểu hiện nghi vấn, cần báo ngay cho cơ quan chức năng để kịp thời lên án và trừng phạt.

THƯA ĐỒNG BÀO: "NGỤY" THÌ VẪN LÀ "NGỤY" THÔI!

Tôi có quen biết một số bà con ta ở hải ngoại, họ đã hỏi tôi như sau:

- Vậy nếu bây giờ cứ giữ nguyên từ "Ngụy" trong sách sử thì kiều bào ta những người mà một thời lịch sử đã sai lầm có ngại vì họ sẽ cảm thấy chạnh lòng hay dè dặt khi trở về cố quốc không?

Nay tiện đây tôi xin được bày tỏ quan điểm của mình để cộng đồng mạng xã hội chúng ta cùng nhau chia sẻ, cũng là câu trả lời chung cho những kiều bào đã thắc mắc nói trên và nhiều kiều bào khác đang ở hải ngoại.

Trước hết xin được nhắc lại, khẳng định lại như sau: Ngay từ sau ngày 30/4/1975 với các chủ trương, chính sách khoan hồng của mình thì Đảng CSVN, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa và QĐND Việt Nam đã không còn tư tưởng hận thù, cố chấp mâu thuẫn, không còn coi những người đã từng theo giặc Pháp, Mỹ là giặc nữa. Ngày nay, nhân dân Việt Nam cũng chẳng ai còn gọi họ và xem họ là giặc Ngụy nữa. Quá khứ đã lùi vào lịch sử. Chữ nghĩa, ngôn từ chẳng phải quá quan trọng nếu nó không được gắn liền với những âm mưu, thủ đoạn, dã tâm bất chính muốn lật đổ sự chân chính, lật đổ chính nghĩa dựng lại phi nghĩa.

Sở dĩ tại sao nhân dân trong nước hiện nay vô cùng bức xúc, bất bình và đấu tranh mạnh mẽ với việc bỏ cụm từ "Ngụy quân, ngụy quyền" trong sách lịch sử đó là bởi 2 nguyên nhân:

1. Để đảm bảo tính trung thực, sự thật khách quan của lịch sử. Sự thật đã diễn ra như thế nào thì lịch sử phải được ghi chép đúng như thế, không được vì bất cứ lý do nào của thời đại mà có thể đánh tráo lịch sử, thay đổi lịch sử. Nếu làm vậy thì gọi là Ngụy sử chứ không phải Chính sử. Nếu làm vậy tức là đã phủ bụi lịch sử, phản bội lại lịch sử, phản bội lại xương máu của những người đã hy sinh, cống hiến cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, độc lập dân tộc và thống nhất đất nước.

2. Những kẻ chép sử cố tình thay đổi, đánh tráo lịch sử đó, những kẻ khơi mào xét lại lịch sử đó, chúng hoàn toàn không phải vì mục đích cao cả là vì lợi ích dân tộc, lợi ích quốc gia như chúng đã và đang rêu rao tuyên truyền, ngụy biện: "hòa hợp dân tộc", mà mục đích chính của chúng là muốn lật đổ chế độ XHCN ở Việt Nam hiện nay. Âm mưu của chúng là từng bước thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập ở Việt Nam. Cái hồn ma bóng quế "ngụy quyền, ngụy quân Sài Gòn - VNCH" chỉ là cái cớ, chỉ là một quân chốt, một lá bài trên bàn cờ, trong ván bài chính trị mà chúng đang từng bước thực hiện cái gọi là "Cách mạng màu - DBHB" ở Việt Nam. Chính vì lẽ đó mà chúng đã đưa ra rất nhiều sự ngụy biện khác nhau nhưng lại mâu thuẫn nhau và phản khoa học logic biện chứng. Càng ngụy biện thì chúng lại càng lòi cái "đuôi cáo" của chúng ra.

Bên cạnh với hành động xét lại lịch sử dân tộc thì những hành động như xét lại và hạ bệ tượng đài dân tộc, xét lại học thuyết Mác - Lê và xét lại con đường của CNXH là những minh chứng cho sự thật đó. Không những vậy, các "vệ tinh" của chúng là các tổ chức xã hội dân sự bất hợp pháp và các tổ chức "dân chủ cuội" bất hợp pháp, các thành phần bất mãn vẫn đã và đang không ngừng xuyên tạc, bôi nhọ chế độ xã hội Việt Nam, bôi nhọ uy tín lãnh đạo của Đảng CSVN và Nhà nước CHXHCN Việt Nam, là dẫn chứng để chứng minh cho âm mưu, thủ đoạn đê hèn của chúng.

Rất may là nhân dân Việt Nam đã không ngẫn ngờ để chúng có thể lừa gạt và dắt mũi.

Như vậy, rất mong kiều bào ta ở hải ngoại hãy tỉnh táo và sáng suốt để nhìn nhận và đánh giá đúng bản chất của sự việc. Hãy yên tâm, hãy hồ hởi, phấn khởi mà quay về cùng nhân dân cả nước chung tay xây dựng Tổ quốc ta ngày càng giàu mạnh, sánh vai cùng các cường quốc 5 châu đúng như di nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và muôn vàn kính yêu./.

Yêu nước ST.

THẤM NHUẦN NHỮNG CHỈ DẪN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ KHÁT VỌNG VIỆT NAM

Ngày 5/6/1911, người thanh niên 21 tuổi Nguyễn Tất Thành rời bến Nhà Rồng bắt đầu cuộc hành trình tìm đường cứu nước, cứu dân. Đó là bước ngoặt khởi đầu dẫn tới sự thay đổi số phận của nhân dân ta, thai nghén cho sự hình thành tư tưởng lớn, khát vọng mãnh liệt của Người, định hình đường lối cách mạng, thực hành triết lý và chủ thuyết của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh sau này, dẫn tới thời đại mới, thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử vinh quang hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Đó là thời đại mang tên Người - thời đại Hồ Chí Minh - như Đảng ta khẳng định, thời đại của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Cuộc hành trình 30 năm của Người, cả cuộc đời và sự nghiệp của Người với những bước ngoặt lịch sử, đã ngay từ đầu gắn bó máu thịt với Tổ quốc và nhân dân, đã phấn đấu hy sinh, dấn thân và quên mình vì Nước, vì Dân, sau này được khái quát thành lý luận: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó là con đường, là quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam.

Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời với bản Tuyên ngôn độc lập bất hủ, Hồ Chí Minh xác định Quốc hiệu và hệ giá trị Việt Nam là: “Việt Nam dân chủ cộng hòa. Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”. Đó là bản chất của chính thể, của nhà nước ta, là hệ giá trị phát triển của Việt Nam. Cho đến khi cuối đời, khi viết bản Di chúc thiêng liêng để lại cho toàn dân, toàn Đảng, Hồ Chí Minh vẫn nhất quán với những giá trị mục tiêu đó. Tâm nguyện cuối cùng của Người vẫn chỉ là “xây dựng thành công một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Trên cương vị Chủ tịch nước, nguyên thủ quốc gia, Hồ Chí Minh bày tỏ niềm hy vọng, niềm tin tưởng mãnh liệt của mình, ký thác vào thế hệ trẻ nước nhà, thế hệ sẽ làm cho Tổ quốc được vẻ vang, dân tộc được hùng cường, có mặt xứng đáng trong thế giới và nhân dân ta có cuộc sống hạnh phúc.

Khát vọng Việt Nam của Hồ Chí Minh là: Khát vọng giải phóng, giải phóng dân tộc ta ra khỏi tình cảnh bị áp bức, bóc lột, đọa đầy bởi đế quốc thực dân, làm cho Tổ quốc độc lập và thống nhất, có chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, nhân dân ta từ nô lệ tới tự do, ở địa vị người làm chủ và làm chủ, tự quyết định vận mệnh cuộc sống và tương lai phát triển của mình. Khát vọng đó của Người là mãnh liệt, phải “độc lập thực sự”, “tự do thực sự”, do đó, “thà hy sinh tất cả quyết không chịu làm nô lệ”, “không có gì quý hơn độc lập tự do”. Đó còn là khát vọng phát triển, giải phóng dân tộc để phát triển dân tộc, lựa chọn con đường phát triển: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Hồ Chí Minh thể hiện rõ khát vọng phát triển ấy với một tầm mắt nhìn xa trông rộng, thực hiện lý tưởng, mục tiêu phát triển bền vững, văn minh, hiện đại. Dân tộc Việt Nam nhất định phải trở thành một dân tộc thông thái. Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là xây dựng nước ta giàu mạnh, sao cho đời sống vật chất ngày càng tăng, đời sống tinh thần ngày một tốt, xã hội ngày càng văn minh, tiến bộ. Chủ nghĩa xã hội Việt Nam là một xã hội văn hóa cao. Đó là khát vọng đất nước phồn vinh, dân tộc cường thịnh, sánh vai cùng các cường quốc năm châu, con người Việt Nam phát triển toàn diện cả thể lực, tâm lực và trí lực, đủ sức giữ vững nền độc lập, tự do và thụ hưởng hạnh phúc. Đó là khát vọng đổi mới, sáng tạo, hội nhập quốc tế vì phát triển.

Thực hiện những mục tiêu vĩ đại, cao quý đó, đòi hỏi Đảng lãnh đạo cầm quyền phải thật trong sạch, vững mạnh, “là đạo đức, là văn minh”. Nhà nước của dân, do dân, vì dân phải là nhà nước dân chủ - pháp quyền - nhân nghĩa. Đại đoàn kết dân tộc là sức mạnh và nhân tố quyết định cho dân tộc phát triển. Cán bộ, đảng viên, công chức phải luôn trung thành, tận tụy phục vụ nhân dân, coi đó là trách nhiệm mà cũng là lựa chọn lối sống cao thượng.

Với Hồ Chí Minh, để thực hiện khát vọng Việt Nam phải ra sức thực hiện, thực hành khát vọng về Đảng, về Nhà nước, về Mặt trận, về đoàn kết, dân chủ, đồng thuận, từ đại đoàn kết toàn dân tộc tới đoàn kết, lấy đoàn kết trong Đảng làm hạt nhân và tối hệ trọng.

Di chúc của Hồ Chí Minh kết tinh mọi khát vọng đó, nổi bật những lời dạy, những quan niệm của Người về chủ nghĩa xã hội, về đổi mới mà Đảng phải nhận lấy trách nhiệm cao nhất trước sự phát triển của dân tộc và hết lòng chăm lo cho lợi, quyền, hạnh phúc của nhân dân.

Mai Năm Mới

Thành tựu đổi mới là bằng chứng thực tiễn sinh động nhất cho sự lãnh đạo tài tình của Đảng

Qua 35 năm đổi mới, “đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, là nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ, phát triển nhanh và bền vững đất nước".

Nhìn lại những nét chính yếu của hành trình đổi mới, chúng ta thấy rõ nhận định nêu trên của Đại hội XIII là chính xác. Công cuộc đổi mới đã giải phóng sức sản xuất, củng cố và tăng cường quan hệ sản xuất mới, đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng của một nước có thu nhập thấp; đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể; ổn định chính trị-xã hội được bảo đảm; định hướng xã hội chủ nghĩa được giữ vững; vai trò lãnh đạo của Đảng được tăng cường; quốc phòng, an ninh được củng cố vững chắc; quan hệ hợp tác quốc tế ngày càng được đẩy mạnh thêm.

Chính đổi mới đã đưa nước ta từ chỗ thiếu thốn, có khi phải nhập lương thực, nay trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới. Chưa bao giờ nhịp độ phát triển và đổi thay từ nông thôn tới thành thị, từ miền núi đến đồng bằng lại nhanh chóng, mạnh mẽ như hiện nay. Cũng chưa bao giờ phong cách sống và làm việc của mọi gia đình và mọi người dân lại có những nét mới mẻ, tươi tắn như hôm nay. Đổi mới giúp chúng ta vừa kế thừa và phát huy những thành quả tốt đẹp đã đạt được trước đây vừa có cách nghĩ khác trước, nghe khác trước, nhìn khác trước, làm khác trước, phù hợp với tình hình đang phát triển. Đổi mới đã đem đến một sức vóc mới cho đất nước, tiếp sức đôi chân chúng ta đi thêm những bước dài trên con đường hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Tuy vậy, trong tiến trình đi lên, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, chúng ta không quên rằng đất nước mình vẫn còn nhiều khó khăn, sự phát triển của nền kinh tế chưa vững chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp, còn nhiều yếu tố chưa bảo đảm tăng trưởng cao và lâu bền, còn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định, mà những nhân tố đó còn có phần tăng thêm. Rõ ràng là phía trước của chúng ta không chỉ có thuận lợi và thời cơ mà còn có những khó khăn và nguy cơ không thể xem thường. Càng như vậy càng phải tiếp tục đổi mới, tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức để đất nước tiếp tục phát triển bền vững.
Mai Năm Mới

Phát huy mạnh mẽ động lực, nguồn lực của đổi mới để phát triển bền vững

Nếu quan niệm động lực, nguồn lực là những yếu tố tạo nên sức mạnh thúc đẩy sự phát triển thì động lực của đổi mới bao gồm nhiều yếu tố tiềm ẩn và hiển hiện có thể nhận biết được.

Một là, yếu tố khơi nguồn động lực của đổi mới chính là việc định hướng đúng, phát động đúng thời điểm. Chúng ta xác định đổi mới phải theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Định hướng đúng đắn cho sự nghiệp đổi mới vừa hợp thời, hợp quy luật, hợp lòng dân, vừa có sự chắc chắn, vững tin. Chuẩn bị kỹ và phát động đổi mới đúng lúc, đồng thời với mở cửa hội nhập nên chúng ta có thể chủ động và sáng tạo trong mọi tình huống, đã đứng vững và phát triển trong khi cải tổ, cải cách ở Liên Xô và Đông Âu bị thất bại.

Hai là, những thành quả của đổi mới lại tiếp thêm luồng sinh khí mới, tăng thêm động lực cho nó, tạo cho đất nước ta thế mới, lực mới, gia tốc mới. Thế mới và lực mới là tổng hợp những thành tựu to lớn về kinh tế-xã hội, là kết quả của việc phát triển mọi mặt với sự thông thoáng trong nước và mở rộng quan hệ hợp tác với bên ngoài. Gia tốc mới là khả năng vượt trội, là độ tăng trưởng liên tục ở mức khá cao, tạo đà cho giai đoạn kế tiếp. Thế mới, lực mới, gia tốc mới tạo ra tầm vóc và khả năng mới của đất nước. Đó không chỉ là khả năng đất nước vươn tầm mà còn là năng lực mới mạnh mẽ để tiếp tục thúc đẩy sự nghiệp đổi mới phát triển. Đổi mới được nạp thêm năng lượng mới.

Ba là, yếu tố quyết định là động lực và những nguồn lực trong nước. Động lực quan trọng phục vụ và thúc đẩy công cuộc đổi mới là tổng hợp các nguồn lực trong nước, bao gồm không chỉ có vốn, tài sản đã tích lũy được mà còn là tài nguyên chưa đưa vào sử dụng, là lợi thế về địa kinh tế, địa chính trị và quan trọng hơn hết là nguồn lực con người, bao gồm cả sức lao động trí tuệ và tinh thần gắn với truyền thống văn hóa của dân tộc ta. Trong các nguồn lực đó, nguồn lực về tài nguyên là khá phong phú; nguồn lực về đất đai, vị trí địa lý là khá thuận lợi; nguồn lực về truyền thống là sâu sắc, đặc thù; nguồn lực về con người và trí tuệ vô cùng to lớn.

Bốn là, những nguồn lực từ bên ngoài. Đây là một yếu tố quan trọng mà nếu biết cách tranh thủ cũng sẽ tạo nên động lực cho công cuộc đổi mới đất nước. Nguồn lực bên ngoài bao gồm: Vốn, kỹ thuật-công nghệ, kinh nghiệm quản lý, chất xám, tinh hoa văn hóa nhân loại. Trên cơ sở phải phát huy mọi nguồn lực trong nước, chúng ta có đầy đủ điều kiện để có thể thu hút nguồn lực bên ngoài. Với việc mở rộng nhiều hình thức, có bước đi, biện pháp và chính sách ưu đãi thích hợp, chúng ta nhất định khuyến khích mạnh mẽ việc hợp tác về kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật, công nghệ; đặc biệt là thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào nước ta trên cơ sở đôi bên cùng có lợi.

Năm là, sự phù hợp giữa ý Đảng và lòng dân. Đây là động lực mang tính quyết định đối với sự nghiệp đổi mới. Động lực đó bắt nguồn từ năng lực sáng tạo, bản lĩnh trí tuệ của Đảng ta và của nhân dân ta, thể hiện ở trình độ đoán định, nắm bắt những yếu tố và những vấn đề của thời cuộc, dự kiến đúng tình huống, xác định đường đi nước bước rõ ràng, sẵn sàng tạo lập và nắm bắt thời cơ, khắc phục nguy cơ, vượt qua thách thức đưa đất nước đi lên. Do đổi mới là sự phù hợp giữa ý Đảng và lòng dân nên khi Đảng ta phát động, nhân dân nhiệt tình hưởng ứng tạo thành động lực to lớn thực hiện có hiệu quả sự nghiệp đổi mới đất nước.

Rõ ràng, công cuộc đổi mới ở nước ta không chỉ đạt được những thành tựu to lớn qua 35 năm thực hiện mà còn tiếp tục được đẩy mạnh với những nguồn lực phong phú và hết sức to lớn, trong đó có những nguồn lực không bao giờ cạn. Hành trình đổi mới đã và đang kết hợp tất cả 3 yếu tố: Thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Đó là động lực lớn nhất, là yếu tố cơ bản nhất tạo nên khả năng thành công của mục tiêu cao cả: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Mai Năm Mới

Thứ Năm, 21 tháng 10, 2021

VIỆC SỬ DỤNG TỪ “NGỤY“ TRONG LỊCH SỬ CÁC NƯỚC!

Thưa các bạn: 

Trên không gian mạng hiện nay có rất nhiều kẻ thiếu hiểu biết ( hoặc hiểu biết nhưng cố tình xuyên tạc ) cách gọi “ngụy quân, ngụy quyền“ trong lịch sử của Dân tộc. Chúng cho rằng gọi như vậy là không chính xác, vì một chính phủ có tồn tại trong thực tế thì không thể nào gọi là ngụy được. Đây là một nhận thức sai lệch, ấu trĩ, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhận thức của các tầng lớp Nhân dân về lịch sử Dân tộc. 

Hôm nay tôi sẽ làm sâu sắc hơn cách gọi “ngụy quân, ngụy quyền“ trong lịch sử của Dân tộc, mà bất cứ kẻ nào cũng không có quyền bỏ đi bản chất “ ngụy “ vốn có của một chính phủ làm tay sai cho giặc.

Tôi hy vọng rằng bài viết này sẽ đến được tai các ông mà Nhân dân gọi là "ngụy sử" như Vũ Minh Giang, Trần Đức Cường, Nguyễn Mạnh Hà, Nguyễn Nhã, Dương Trung Quốc, Nguyễn Quang Ngọc, Hiển Vũ…cùng bọn đang ủng hộ cho việc bỏ tính từ “ngụy“ trong các bộ lịch sử Việt Nam

Bài viết tuy dài nhưng có rất nhiều bằng chứng cũng như bút tích, của tất cả các Chính phủ chính danh trên Thế giới vẫn luôn sử dụng Tính từ “ngụy“ trong lịch sử của mình. Và đặc biệt là, cách mà Chính phủ VNDCCH và Chủ tịch Hồ Chí Minh, luôn sử dụng Tính từ “ngụy“ trong các nghị quyết văn kiện của Đảng, cũng như các bức thư hay lời kêu gọi mỗi khi nhắc đến một chính phủ làm tay sai cho ngoại bang rước voi về rầy mả Tổ.


A - Ý NGHĨA VÀ CÁCH SỬ DỤNG TỪ “NGỤY“

Bách khoa toàn thư Wikipedia" ngụy" là một từ gốc Hán trong tiếng Việt có nhiều nghĩa tùy thuộc vào văn cảnh và từ ghép với nó. Nghĩa thường dùng là để chỉ sự vật, sự việc mang tính giả tạo, như trong từ ngụy trang, ngụy tạo, ngụy quân tử... Trong lịch sử, từ "ngụy" được dùng để chỉ một chính phủ được lập ra một cách bất hợp pháp, không chính thống, không được người dân công nhận, như trong từ ngụy triều, ngụy binh, ngụy quân, ngụy quyền.

Tại Việt Nam, có hai từ ngụy đồng âm khác nghĩa thường được xử dụng trong văn hóa giao tiếp và văn học của người Việt.

1. Một từ ngụy (偽) là tính từ, có ý nghĩa là "sự giả tạo", ví dụ như "ngụy tạo, ngụy biện, ngụy trang, ngụy quân, ngụy quyền". Trong chính trị, từ này được dùng để chỉ một triều đại hoặc chính quyền do soán đoạt mà có, hoặc do quân xâm lược nước ngoài dựng lên để hợp thức hóa sự xâm lược, đô hộ một nước khác. Về bản chất, chính quyền này không có thực quyền, chỉ là hữu danh vô thực, chính quyền này bị quân xâm lược nước ngoài khống chế, mang tính chất bất hợp pháp và không chính danh. Trong lịch sử các nước Đông Á như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam, từ "ngụy triều","ngụy quyền" được sử dụng nhiều trong các văn bản lịch sử. Ở phương Tây, thuật ngữ "ngụy quyền" có cách gọi khác là chính quyền tay sai, hoặc Chính phủ bù nhìn, chế độ tay sai, nhà nước con rối ("Puppet State, Puppet Regime").

Theo Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam (năm 2007) thì: "ngụy quyền là chính quyền bản xứ do thế lực nước ngoài dựng lên, nuôi dưỡng, sử dụng làm công cụ xâm lược, nô dịch của họ. Ở Việt Nam, chính quyền Bảo Đại (1949-1954) và chính quyền Sài Gòn (1954-1975) đều là ngụy quyền (do Pháp và Mỹ dựng lên)". 

2. Một từ "Ngụy" khác (魏) là danh từ dùng để chỉ địa danh, tên gọi tại Trung Quốc, ví dụ: nước Ngụy thời Chiến Quốc bên Trung Quốc, nhà Ngụy thời Tam Quốc bên Trung Quốc, hay họ Ngụy tại Đông Á, trong đó có Việt Nam. Từ này được viết hoa.


B -  VIỆC SỬ DỤNG TỪ “NGỤY“ TRONG LỊCH SỬ CÁC NƯỚC


TRUNG QUỐC :

Có một số triều đại và nhân vật thì được sử sách Trung Quốc gọi là "ngụy" (偽 – viết khác từ "ngụy" ở trên). Từ "ngụy" này là tính từ, chỉ sự giả tạo, bất hợp pháp, không được thừa nhận. Ví dụ như triều đình "ngụy Sở" (1127-1128) của Trương Bang Xương, triều đình "ngụy Tề" (1130–1137) của Lưu Dự do nhà Kim lập ra. Các triều đình này chỉ là bù nhìn, được nhà Kim lập ra nhằm hợp thức hóa sự xâm lược Trung Quốc.

Trong Chiến tranh Trung–Nhật, Trung Quốc bị Nhật Bản xâm chiếm. Chính phủ Quốc dân Trung Hoa Dân Quốc của Uông Tinh Vệ và Chính phủ Mãn Châu quốc của Phổ Nghi, bị cả Đảng Cộng sản và Quốc Dân Đảng gọi là "ngụy quyền", "ngụy quân", "ngụy Mãn Châu quốc" hoặc "chính phủ ngụy" do các chính phủ này được Đế quốc Nhật Bản lập ra nhằm hợp thức hóa sự xâm lược Trung Quốc. Thuật ngữ này cũng được sử dụng trên các kênh truyền thông, sách báo, phim ảnh của Trung Quốc và Đài Loan (của Quốc Dân Đảng) cho tới nay.


HÀN QUỐC VÀ TRIỀU TIÊN :

Bán đảo Triều Tiên từng bị Đế quốc Nhật Bản xâm lược và đô hộ (giai đoạn 1895-1945). Hàng trăm nghìn người Triều Tiên đã cộng tác với thực dân Nhật để đàn áp những đồng bào đấu tranh đòi độc lập. Ngày nay, sử sách Triều Tiên và Hàn Quốc gọi những người Triều Tiên cộng tác với quân Nhật là "ngụy quân". Sau khi giành được độc lập, CHDCND Triều Tiên đã bắt giam hoặc xử bắn hàng loạt những người hợp tác với Nhật với tội danh phản quốc. Tại Hàn Quốc thì luật pháp có hẳn 1 quy định về đối tượng này, Trung tâm Sự thật và Công lý Lịch sử (CHTJ) đã lập ra cả 1 danh sách 4.389 người từng cộng tác với Nhật để xét lý lịch với con cháu của họ, năm 2019 Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in nói rằng “xóa sạch những dấu tích của việc cộng tác với Nhật Bản là điều nên được thực hiện từ lâu”


VIỆT NAM:


A - THỜI PHÁP THUỘC

Sau khi quân đội viễn chinh Pháp xâm lược và áp đặt chế độ thuộc địa ở Đông Dương (trong đó có Việt Nam), Chính phủ Pháp đã dùng chính sách "chia để trị" và chia cắt Việt Nam ra làm 3 xứ riêng lẻ là Cochinchine (Nam Kỳ), Annam (Trung Kỳ), và Tonkin (Bắc Kỳ), 3 vùng cùng với Lào và Campuchia đã trở thành Liên bang Đông Dương (Union Indochinoise) hay còn được gọi với tên Đông Dương thuộc Pháp (Indochine française). Người Pháp tiếp tục duy trì các hoàng đế bù nhìn từ Đồng Khánh cho đến Bảo Đại. Vào năm 1887, hoàn tất quá trình xâm lược Việt Nam, người Pháp đã tổ chức ra một bộ máy cai trị khá hoàn chỉnh từ trung ương cho đến địa phương.

Trong thời gian cai trị Việt Nam, thực dân Pháp đã mua chuộc và sử dụng một số cộng sự người Việt, họ cũng cho xây dựng và thành lập một số đơn vị quân đội bản xứ, nhằm hỗ trợ quân chính quy người Pháp trong việc trấn áp nghĩa quân và các lực lượng nổi dậy ở Việt Nam, tiêu biểu là Quân đoàn bộ binh Bắc Kỳ, lính khố xanh, lính khố đỏ, lính khố vàng... Một số người Việt được toàn quyền Đông Dương tuyển dụng vào quân đội Lê dương Pháp. Tất cả các đội quân này đều do sĩ quan Pháp chỉ huy. Các lực lượng nghĩa quân và nhiều người dân bản xứ gọi các đội quân này là ngụy quân hoặc ngụy binh. Họ cũng gọi các triều đình bù nhìn ở Huế là "ngụy triều", thường kết hợp với niên hiệu của hoàng đế bù nhìn, như đầu thế kỷ 20, các nhà Nho thường gọi triều đình là "ngụy triều Khải Định, ngụy triều ngụy quyền Bảo Đại".


B - CHÍNH PHỦ BÙ NHÌN QUỐC GIA VIỆT NAM 

Ngày 02 Tháng 09 Năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố Việt Nam độc lập với tên gọi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuy nhiên, tại miền Nam Việt Nam, chỉ bốn ngày sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập, quân Pháp đã quay lại xâm chiếm miền Nam của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chính phủ Pháp muốn khôi phục thuộc địa Đông Dương, quân Pháp tuyên bố sẽ lập chính quyền mới tại miền Nam. Sau đó, quân Pháp nổ súng chiếm quyền kiểm soát thành phố Sài Gòn. Nước Việt Nam vừa giành được độc lập lại đứng nạn ngoại xâm.

Ngày 9 tháng 10, tướng Pháp Leclerc đến Sài Gòn, theo ông là lực lượng gồm 40.000 quân Pháp để chiếm giữ miền Nam Việt Nam và Campuchia. Từ cuối tháng 10, quân Pháp bắt đầu đẩy mạnh kế hoạch phá vây, mở rộng đánh chiếm ra vùng xung quanh Sài Gòn và các tỉnh miền Nam Việt Nam, chiến tranh Đông Dương bùng nổ. 

Chiến tranh Việt – Pháp kéo dài từ năm 1945 đến 1954. Năm 1948, theo chiến lược Da vàng hóa chiến tranh, Tổng thống Pháp Vincent Auriol và Cựu hoàng Bảo Đại đã ký Hiệp ước Elysée tuyên bố thành lập chính phủ Quốc gia Việt Nam trong khối Liên hiệp Pháp, đứng đầu là Quốc trưởng Bảo Đại để làm đối trọng với Việt Minh. Dù vậy, người Pháp đã khéo léo khi thực tế trong hiệp ước, nghĩa chính xác của từ "độc lập", quyền hạn cụ thể của chính phủ mới đã không được người Pháp xác định rõ để tránh phải trao quyền chính trị cho Quốc gia Việt Nam. Theo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ý đồ của Pháp là muốn áp dụng chính sách Da vàng hóa chiến tranh, "Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt" và để thuyết phục Mỹ viện trợ kinh tế và quân sự để Pháp có thể tiếp tục đứng chân tại Đông Dương.

Theo Nghị định Quốc phòng ngày 13 tháng 4 năm 1949, một lực lượng quân đội của Quốc gia Việt Nam được thành lập, lấy tên là Vệ binh Quốc gia sẽ cùng phối hợp với quân Pháp để đánh lại Việt Minh. Ngày 11 tháng 5 năm 1950, Thủ tướng Trần Văn Hữu tuyên bố chính thức thành lập Quân đội Quốc gia Việt Nam với quân số lúc đó là 60.000 người.

Hiệp ước Elysee đã ghi rõ về vai trò chỉ huy của Pháp: "Trong thời chiến, toàn thể quân đội Quốc gia Việt Nam và Liên hiệp Pháp được đặt chung dưới quyền chỉ huy của Uỷ ban quân sự mà Tư lệnh sẽ là một sĩ quan Pháp có một Tham mưu trưởng phụ tá."  Theo đánh giá của Spencer C.Tucker, quân đội này được huấn luyện kém và không có sĩ quan chỉ huy cấp cao người Việt. Pháp chỉ đơn giản là đưa những người lính bản địa mới tuyển mộ được vào các quân đoàn viễn chinh của Pháp, tại đó, người chỉ huy là các sĩ quan Pháp. Quân đội Quốc gia Việt Nam phụ thuộc hoàn toàn vào hệ thống hậu cần của Pháp. Hai vấn đề quan trọng nhất là tài chính và quân đội của Quốc gia Việt Nam thì vẫn do Pháp nắm giữ, nhân viên hành chính Pháp tiếp tục làm việc ở các cấp chính quyền; Quốc gia Việt Nam chẳng được trao cho một chút quyền hành thực sự nào, như bấy giờ người ta nói, Quốc gia Việt Nam chỉ là một sự nguỵ trang cho nền cai trị của Pháp.

Theo phân tích pháp lý thì Hiệp định Élysée về việc thành lập chính phủ Quốc gia Việt Nam là bất hợp pháp từ cả hai bên ký kết vì những lý do sau :

• Người Pháp không còn tư cách pháp lý quốc tế ở Việt Nam sau khi vua Bảo Đại ra Tuyên cáo tháng 3-1945, theo đó xóa bỏ những hiệp ước mà nhà Nguyễn ký với Pháp. Sau khi Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập vào ngày 2/9/1945 khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Việt Nam đã trở thành một quốc gia độc lập, việc Pháp đem quân can dự vào Việt Nam là hành vi xâm lược, trái với luật pháp quốc tế.

• Bảo Đại (người ký Hiệp định Élysée với Pháp) không có tư cách pháp lý đại diện cho đất nước Việt Nam, bởi ông đã thoái vị ngày 25-8-1945 và chỉ còn là một công dân bình thường.

• Chính phủ hợp pháp đại diện cho nước Việt Nam khi đó là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Mọi văn bản do công dân Việt Nam ký với bất kỳ chính phủ nào mà không được phép của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì đều là vô giá trị.

Do chính phủ Quốc gia Việt Nam được thành lập một cách bất hợp pháp và bị Pháp thao túng, nên trong thời gian chiến tranh chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh và chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gọi chính phủ Quốc gia Việt Nam là ngụy quyền và Quân đội Quốc gia Việt Nam là ngụy binh, ngụy quân, quân ngụy, hoặc lính ngụy.

Trong Hội nghị lần 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khóa II họp từ ngày 27/9 đến ngày 5/10/1951, Hội nghị nhận định tình hình chiến sự và đề ra nhiệm vụ phải phá chính sách "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt" của thực dân Pháp và nhấn mạnh công tác "ngụy vận", đặc điểm của công tác này là phải: Coi công tác ngụy vận là một công tác vận động quần chúng, nhằm mục đích lâu dài. Phải biết gắn liền ngụy vận với dân vận trong vùng tạm chiếm. Phải phối hợp ngụy vận với tác chiến, khi có những điều kiện thuận lợi thì mở những cuộc tấn công chính trị để làm tan ra hàng ngũ ngụy binh. Cách thức tuyên truyền và vận động ngụy binh đều phải nhằm những điểm nói trên mà định cho thích hợp. Đi đôi với công tác vận động ngụy binh, phải tăng cường công tác vận động binh sĩ Âu - Phi.

Năm 1951, Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra lời hiệu triệu nhân ngày kỷ niệm toàn quốc kháng chiến, lên án chính sách "dùng người Việt đánh người Việt" của thực dân Pháp:

 "Không đủ sức chống kháng chiến, đế quốc Mỹ và thực dân Pháp lợi dụng bọn bù nhìn vong bản thi hành chính sách "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt", dùng độc lập giả hiệu để mê muội, đốt làng cướp của làm cho dân ta bần cùng trụy lạc để dễ áp bức lừa phỉnh, bắt thanh niên đi lính ngụy để đánh lại đồng bào."

Cùng năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh liên tục viết ba bức thư gửi binh lính trong Quân đội bù nhìn Quốc gia Việt Nam để thuyết phục họ về với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Quân đội Nhân dân Việt Nam. Tháng 6 năm đó Ông viết bức thư "Vận động ngụy binh". Tháng 9 Ông viết bức thư "Thư gửi các ngụy binh" . Tháng 11 ông viết bức thư "Lời kêu gọi ngụy binh quay về với Tổ quốc".

Tháng 3 năm 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bức thư "Ngụy binh giác ngộ" nêu một số tấm gương lính người Việt trong Quân đội bù nhìn Quốc gia Việt Nam rời bỏ hàng ngũ theo về với Việt Minh. Nội dung tuyên truyền chính sách khoan hồng của Đảng Lao động và Việt Minh:

 “Đại đa số ngụy binh là những thanh niên bị bắt buộc hoặc bị lừa bịp mà đi lính cho giặc. Nhưng họ vốn cũng có lòng yêu nước và ghét giặc. Ta giải thích rõ cho họ, khoan hồng với họ, thì họ sẽ giác ngộ và quay về với Tổ quốc. Nhiều lần, sự thực đã chứng tỏ như vậy. Cho nên cán bộ, bộ đội và nhân dân ta phải thi đua địch vận, ngụy vận, xem đó là một nhiệm vụ kháng chiến, thì ta sẽ không tốn đạn hao binh, mà được cả người lẫn súng. Và do đó, ta sẽ phá tan mưu mô của địch "dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh".


C - NGỤY QUÂN NGỤY QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HÒA

Việt Nam Cộng hòa được Hoa Kỳ thành lập trên cơ sở kế thừa từ Quốc gia Việt Nam. Cũng giống như tiền thân là Quốc gia Việt Nam, chế độ Việt Nam Cộng hòa bị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam coi là một chính phủ tồn tại bất hợp pháp, là chính phủ bù nhìn do Mỹ thao túng, và gọi đó là "ngụy quyền Sài Gòn" hay "ngụy quyền"; và quân lực Việt Nam Cộng hòa thì được gọi là "ngụy quân".

Từ ngụy quyền/quân có nghĩa là chính quyền/quân đội bất hợp pháp. Cụm từ này được sử dụng rộng rãi trên các nghị quyết, văn kiện Đảng, phương tiện truyền thông chính thức của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Trong thời kỳ chiến tranh, Việt Nam xác định Mỹ là kẻ thù chính, chế độ Việt Nam Cộng hòa chỉ là ngụy quân, ngụy quyền do Mỹ khống chế, nếu Mỹ thất bại thì ngụy quân, ngụy quyền cũng phải sụp đổ. Vì vậy Việt Nam xác định chỉ tiến hành đấu tranh với Mỹ, gọi đây là cuộc chiến tranh "chống Mỹ cứu nước" chứ không phải là"chống ngụy cứu nước".

Cuộc chiến của Mỹ ở Việt Nam là cuộc chiến theo kiểu chủ nghĩa thực dân mới. Theo đó, Mỹ chỉ đứng ngoài chỉ đạo, kiểm soát và thu lợi, còn việc thực thi là trách nhiệm của chính phủ tay sai bản địa, chứ Mỹ không trực tiếp tham chiến như Pháp (thực dân cũ), đó chính là chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" mà Mỹ áp dụng trong giai đoạn 1955-1963. Cách này tương tự như đạo diễn điều khiển diễn viên đóng kịch trên sân khấu theo kịch bản cho trước. Đến khi Việt Nam Cộng hòa tỏ ra vô dụng quá mức, không đảm đương nổi vai diễn (Chiến tranh đặc biệt thất bại vào năm 1963), thì "đạo diễn" là Mỹ buộc phải nhảy ra sân khấu làm kép chính luôn, và hàng trăm nghìn quân Mỹ đã tới Việt Nam tham chiến trực tiếp trong giai đoạn 1964-1973.

Tài liệu được giải mật của Lầu Năm Góc đã viết: "Không có sự yểm trợ của Hoa Kỳ, Diệm hầu như chắc chắn không thể đứng vững được ở miền Nam... Việt Nam Cộng hòa, về bản chất, là một sáng tạo của Hoa Kỳ" Thậm chí tổng thống Mỹ Nixon trong lúc tức giận còn từng nói: "Không thể để có cái đuôi chó phản lại cái đầu con chó được."

Tại cuộc họp do Hội "American Friends of Vietnam", một tổ chức vận động ủng hộ Ngô Đình Diệm ở Washington D.C. ngày 1/6/1956, John F. Kennedy (một năm sau trở thành Tổng thống Mỹ) tuyên bố: “Nếu chúng ta không phải là cha mẹ của nước Việt Nam bé nhỏ [chỉ Việt Nam Cộng hòa] thì chắc chắn chúng ta cũng là cha mẹ đỡ đầu của nó. Chúng ta chủ tọa lúc nó ra đời, chúng ta viện trợ để nó sống, chúng ta giúp định hình tương lai của nó (…). Đó là con đẻ của chúng ta - chúng ta không thể bỏ rơi nó, chúng ta không thể không biết tới những nhu cầu của nó”

Trong thập niên 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh có nhiều bài báo, bài diễn văn gọi chế độ Việt Nam Cộng hòa là "ngụy quyền" để nhấn mạnh tính chất bất hợp pháp, làm tay sai cho giặc ngoại xâm của chế độ này. Viết trên bài chính luận "Sách Trắng của Mỹ" nhằm phản đối việc Mỹ đổ quân viễn chinh vào Việt Nam năm 1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:

“"Ở Hội nghị Giơnevơ, Chính phủ Mỹ đã tuyên bố rằng: Mỹ sẽ không đe dọa hoặc dùng vũ lực cản trở Hiệp định ấy. Nhưng chữ ký chưa ráo mực thì Mỹ đã dùng mọi cách phá hoại Hiệp định Giơnevơ. Mỹ nặn ra chính phủ bù nhìn phát xít Ngô Đình Diệm, huấn luyện cho ngụy quyền một quân đội lính đánh thuê khát máu. Suốt mười nǎm trời, gần 20 vạn đồng bào miền Nam yêu nước đã bị Mỹ - Diệm khủng bố, tù đày, chặt cổ mổ bụng. 70 vạn người đã bị tra tấn giam cầm trở nên tàn phế. Hàng triệu người bị nhốt vào các trại tập trung mà chúng gọi là "ấp chiến lược". Không gia đình nào không có người bị hy sinh. Không làng xóm nào không bị càn quét. Đế quốc Mỹ và bọn tay sai đã phạm hết mọi tội ác dã man, chúng đã biến miền Nam thành một địa ngục...”

Trong "Lời Kêu gọi Toàn quốc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước" năm 1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:

“ Chúng (Đế quốc Mỹ) ồ ạt mang gần 30 vạn quân viễn chinh vào miền Nam nước ta. Chúng nuôi dưỡng ngụy quyền, ngụy quân làm công cụ hại dân phản nước. Chúng dùng những phương tiện chiến tranh cực kỳ man rợ, như chất độc hoá học, bom napan, v.v.. Chúng dùng chính sách đốt sạch, giết sạch, phá sạch. Bằng những tội ác ấy, chúng hòng khuất phục đồng bào miền Nam ta... ”

Bài thơ Chúc Tết năm 1969 là bài thơ chúc Tết cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi tới toàn dân Việt Nam, trong đó có 2 câu:

"Vì độc lập, vì tự do. Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào"

Trong bài báo "Lại chuyện chó Mỹ" trên báo Nhân dân số ngày 20/1/1966, tác giả mỉa mai rằng một con chó nghiệp vụ của quân đội Mỹ còn được đãi ngộ tốt hơn so với một lính ngụy:

“ Chó sǎn là đồng minh trung thành của đế quốc Mỹ. Đây là chuyện chó sǎn có bốn chân, chứ không phải loài chó sǎn mặt người bụng thú, rước voi giày mả tổ, cõng rắn cắn gà nhà, như bọn Thiệu - Kỳ.

Từ ngày Mỹ phái Hakin lập bộ tư lệnh ở Sài Gòn, thì chó Mỹ cũng được phái đến miền Nam nước ta. Chúng được ở nhà lầu, có lính ngụy hầu hạ. Mỗi con chó Mỹ được ǎn lương gấp nhiều lần lương của một ngụy binh. Một chuyện thú vị là tháng 9-1964, giặc Mỹ đưa 200 chó sǎn đến Tây Nguyên bắt đồng bào Thượng nuôi. Non một tháng sau, đàn chó biến mất hết, chỉ còn lại mấy đống xương...”

Năm 1960, Mặt Trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập trên danh nghĩa "Đoàn kết toàn dân đánh bại chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, đánh đổ ngụy quyền tay sai của chúng, giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất Tổ quốc". Chính sách học tập cải tạo sau năm 1975 tại Việt Nam cũng được thực hiện với nghị quyết: "Việc tổ chức cho ngụy quân, ngụy quyền và các đối tượng phản động ra trình diện học tập cải tạo thể hiện chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước, có tác dụng phân hóa hàng ngũ bọn phản động, cô lập bọn đầu sỏ ngoan cố, đập tan luận điệu tuyên truyền chiến tranh tâm lý của địch, tranh thủ được sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân."

Trong một số tài liệu, sách sử của phương Tây hiện nay, chế độ Việt Nam Cộng hòa cũng được sử gia nước ngoài gọi là "chính phủ bù nhìn, Tay sai, con rối", những từ có ý nghĩa tương tự như từ "ngụy".


C - KẾT LUẬN :

Thưa các bạn: 

Sẽ không có gì gọi là “Miệt thị, phản cảm, hay không khoa học, không khách quan“ khi mà cả Thế giới vẫn sử dụng những ngôn từ mạnh mẽ như “ngụy, Bù nhìn, Tay sai, Con rối“ để chỉ một chính phủ do nước ngoài tạo dựng nên, nhằm phục vụ quyền lợi và lợi ích của kẻ xâm lược. 


CHỈ CÓ MỘT CHÍNH PHỦ ĐƯỢC NHÂN DÂN BẦU NÊN, ĐÓ LÀ CHÍNH PHỦ VNDCCH, NGÀY NAY LÀ CHXHCN VIỆT NAM, PHỤC VỤ QUYỀN LỢI VÀ LỢI ÍCH CỦA NHÂN DÂN, MỚI HỘI ĐỦ ĐIỀU KIỆN LÀ MỘT CHÍNH PHỦ HỢP PHÁP TRÊN TOÀN BỘ LÃNH THỔ VIỆT NAM!

Yêu nước ST.

QUÉT SẠCH CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN!

Trong tác phẩm Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân viết năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Do cá nhân chủ nghĩa mà phạm nhiều sai lầm. Từ đó Người yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng.

Có 10 loại bệnh nảy sinh từ chủ nghĩa cá nhân gồm: Bệnh quan liêu; bệnh tham lam; bệnh lười biếng; bệnh kiêu ngạo; bệnh hiếu danh; bệnh “hữu danh, vô thực”; bệnh cận thị (chỉ chú ý đến cái nhỏ nhặt, vụn vặt, không thấy cái lớn, cái quan trọng); bệnh tị nạnh; bệnh xu nịnh, a dua và bệnh kéo bè kéo cánh. Những năm gần đây, chủ nghĩa cá nhân còn nảy sinh thêm một số biểu hiện như cơ hội, thực dụng, “mũ ni che tai”, đề cao “cái tôi” cá nhân thái quá...

Nên việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng luôn được Đảng ta đặc biệt coi trọng. Tại Hội nghị Trung ương 4 vừa qua, Đảng ta đã mở rộng phạm vi, xây dựng, chỉnh đốn Đảng bao gồm cả hệ thống chính trị đúng theo tinh thần nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Những người giàu lòng tự trọng, thấm nhuần các giá trị văn hóa tốt đẹp của ông cha và những phẩm chất đạo đức cách mạng sẽ tự phòng ngừa được bệnh cá nhân chủ nghĩa.

Nhưng không phải ai cũng làm được như vậy. Nên rất cần những người đứng đầu nêu gương rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng. Rất cần mỗi cá nhân thường xuyên tự soi tự sửa, cần mỗi tổ chức cơ sở Đảng thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình gắn với làm tốt công tác kiểm tra, giám sát; kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh cán bộ, đảng viên vi phạm./.

Môi Trường ST.

KIỂM SOÁT TIN GIẢ, THÚC ĐẨY THÀNH CÔNG PHÒNG, CHỐNG DỊCH COVID-19

 

Tin giả không phải là vấn đề mới trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, chỉ đến khi có sự trợ giúp của truyền thông xã hội và gắn với dịch COVID-19, tin giả mới thật sự trở thành một "đại dịch thông tin" trên thế giới và ở Việt Nam.

Tin giả về đại dịch và phòng, chống dịch COVID-19 có thể xuất phát từ sự vô ý, tùy tiện, thiếu trách nhiệm hoặc chủ ý của người tạo ra và đưa tin, nhằm phá hoại và trục lợi về kinh tế, làm cản trở, giảm uy tín, hiệu quả hoạt động của tổ chức, cơ quan và cả xã hội trong phòng, chống dịch bệnh. Thậm chí, một số báo chí và nhà báo cũng vô tình hay cố ý bị mắc bẫy tin giả, sản xuất và phát tán tin giả về dịch bệnh, gây hoang mang trong dư luận xã hội.

Tại Việt Nam, việc kiểm soát những thông tin sai sự thật liên quan đến phòng, chống dịch COVID-19 được đánh giá là có hiệu quả. Sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và xã hội, cũng như các cơ quan truyền thông trên "mặt trận" chống tin giả được thế giới đánh giá cao. Tuy nhiên, trên thực tế Việt Nam vẫn đang đứng trước thách thức rất lớn trước vấn nạn tin giả về dịch COVID-19. Với việc số lượng người dân tham gia truyền thông xã hội ngày càng đông đảo, với nhiều xu hướng mức độ thể hiện nhu cầu, điều kiện, kỹ năng và trách nhiệm xã hội khác nhau. Đặc biệt, các thế lực thù địch đang có xu hướng gia tăng việc sử dụng tin giả để chống phá sự ổn định và phát triển của đất nước trên tất cả các lĩnh vực và bằng tất cả các phương diện khác nhau, do dó hoạt động phòng, chống tin giả liên quan đến dịch COVID-19 phải được xác định là mặt trận hàng đầu hướng đến mục tiêu nhanh chóng chiến thắng đại dịch.

Muốn hạn chế nguy cơ gia tăng tin giả về dịch COVID-19, cần phải đảm bảo sự thành công rõ ràng, kịp thời của các biện pháp phòng, chống đại dịch đang được triển khai. Nếu những kết quả phòng, chống dịch và tình hình dịch COVID-19 được kiểm soát, có triển vọng tích cực thì các tin giả liên quan, cũng như hệ quả tác động xã hội tiêu cực của nó sẽ có xu hướng giảm. 

Cần tăng cường tính công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan  chức năng có thẩm quyền, các chuyên gia có uy tín cung cấp thông tin kịp thời, đầy đủ về tình hình dịch bệnh, và phòng chống dịch COVID-19 trên các phương tiện truyền thông đại chúng; và đảm bảo mọi người dân đều có cơ hội được tiếp cận. Tăng cường thực hiện chính sách "truyền thông an dân" trên các loại hình truyền thông hướng đến mục tiêu: mọi người dân đều có hiểu biết cơ bản về dịch bệnh; mọi người dân đều có thái độ bình tĩnh và yên tâm về các biện pháp phòng, chống dịch; mọi người dân đều chủ động tuân thủ, ủng hộ các biện pháp phòng, chống dịch; mọi người dân tích cực chấp hành các quy định liên quan đến phòng, chống dịch COVID-19 của Đảng và Nhà nước Việt Nam./.

NHỮNG TIN GIẢ TRONG PHÒNG, CHỐNG DỊCH COVID-19

 

Những tin giả đã lan truyền nhanh chóng tạo ra hệ quả xã hội nghiêm trọng và đã được các cơ quan chức năng kịp thời xử lý trong thời gian gần đây. Phần lớn các nội dung tin giả liên quan đến dịch COVID-19 ở Việt Nam hiện nay đang tập trung vào các vấn đề:

1. Tung tin xuyên tác sai sự thật về tình hình dịch COVID-19, về công dụng của thuốc, vật tư y tế phòng, chống dịch bệnh;

2. Kêu gọi tự điều trị, chẩn đoán tại nhà, không theo chỉ dẫn của Bộ Y tế;

3. Xuyên tạc chính sách phân bổ vaccine của Bộ Y tế, bịa đặt thông tin về công dụng hiệu quả vaccine phòng, chống COVID-19;

4. Bôi nhọ chính quyền các cấp, các cơ quan chức năng trong phòng, chống dịch COVID-19;

5. Chống đối, xúc phạm danh dự, nhân phẩm nhân viên y tế, người tham gia phòng chống dịch COVID-19; Kêu gọi sự kỳ thị, định kiến, xúc phạm danh dự người mắc bệnh, người có nguy cơ lây nhiễm COVID-19;

6. Kích động công nhân đình công tập thể tại các công ty, khu công nghiệp có yếu tố nước ngoài, các công ty không đáp ứng được yêu cầu "ba tại chỗ";

7. Kêu gọi tích tích trữ lương thực, thực phẩm, vật tư y tế, gây hoang mang trong các cộng đồng dân cư…

Các tin giả không những gây tâm lý hoang mang trong cộng đồng màcòn có khả năng tạo các tâm lý phản đối, mâu thuẫn trong xã hội, khiến người dân không tin tưởng vào các cơ quan chức năng, chính quyền trong phòng, chống dịch. Vì vậy, mỗi chúng ta cần cảnh giác, không cổ súy cho những thông tin bịa đặt, không chính thống để chung tay cùng các cấp đẩy lùi dịch bệnh./.

Những công việc thầm lặng trong thời bình đáng trân trọng

         Do đặc thù hoạt động quân sự, có những mất mát, hy sinh mà cán bộ, chiến sĩ trong QĐND Việt Nam chỉ âm thầm chịu đựng, chấp nhận thiệt thòi về mình để hoàn thành nghĩa vụ thiêng liêng, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Có thể vì nhiều lý do, những hy sinh bình dị mà cao quý ấy vẫn chưa được phản ánh đầy đủ trên các phương tiện truyền thông, nên chưa được nhiều người biết đến. Đó là, có những thân nhân của các cán bộ, chiến sĩ qua đời, thế nhưng, trong điều kiện dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, đơn vị thực hiện nhiệm vụ trực SSCĐ nên các anh không thể về quê nhà chịu tang. Những câu chuyện “tạm gác tình riêng” ấy không giản đơn như những công thức số học, mà nó là sự đan lẫn muôn vàn cảm xúc, đấu tranh quyết liệt giữa thiệt hơn, nên hay không nên trong mỗi người lính Cụ Hồ. Đơn cử như việc phải sống xa gia đình, vợ con, gắn bó với biên cương, hải đảo. Trước hết, người lính Cụ Hồ phải đối diện với nỗi nhớ thương tận cùng đằng đẵng đối với hậu phương hết tháng này sang tháng khác, hết năm này sang năm khác... Nơi biên cương heo hút đèo mây, giữa không gian thăm thẳm của chốn rừng thiêng nước độc... nỗi nhớ càng thêm chộn rộn, cồn cào và còn nhiều công việc khác nữa.

        Nếu chúng ta là những người lính kia, liệu có làm được những điều như họ đã và đang làm không. Vì thế, trước khi nhận xét về nhiệm vụ, cuộc sống của những người lính thì cần phải đặt mình vào vị trí của những người lính kia, để xem mình có thể làm được những điều như họ đã và đang làm hay không. Còn đối với những kẻ dã tâm chống phá cách mạng, cố tình bôi đen hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ thì cần phải đấu tranh, vạch trần mưu đồ, thủ đoạn của chúng; lên án thói ngông cuồng, nhận thức lệch lạc, chủ quan của một số “anh hùng bàn phím”. Những con người này vốn chỉ biết ngồi trong phòng lạnh huênh hoang, khoác lác trên mạng, còn trên thực tế thì có lẽ cái chốt của bộ đội nằm ở đâu trên tuyến biên giới thì họ cũng không hề biết và không dám đặt chân tới, chứ đừng nói đến việc có thể đến đó để thực hiện nhiệm vụ./. 

MẠC VĂN TRANG - LÃO GIÀ TRỞ CỜ, LÚ LẪN!


          Ở cái tuổi 80, với trình độ là PGS, TS lẽ ra Mạc Văn Trang phải được nhiều người tôn trọng, quý mến, nhưng mọi thứ thì ngược lại. Nhân gian thường nói "trẻ xông pha, già gương mẫu", nghịch lý là với cái hàm vị cao, tuổi lớn thì trí tuệ của anh Trang lại lú lẫn, phẩm chất đạo đức suy thoái nặng nề, lộ rõ tư tưởng phản động, trở cờ, ăn nói tệ hại hàm hồ như những kẻ vô học!

 

          Xin thưa, Bác Hồ là vị lãnh tụ kính yêu, cha già dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, người người 5 châu khâm phục, nể trọng và tôn vinh, kể cả những đất nước từng là kẻ thù.

          Bác Hồ đã dành cả cuộc đời mình dẫn dắt cả nước đánh đuổi ngoại xâm, giành độc lập, tự do cho dân tộc. Đã là một công dân Việt Nam thì phải luôn tri ân công lao vĩ đại ấy của Người. Còn anh đã già gần xuống lổ rồi nhưng chẳng lớn nổi thành người, quả thật là quá ất ơ.

          Nói cho anh biết, Phạm Đoan Trang là 1 ả đàn bà phản động, bán rẻ linh hồn cho tụi Việt Tân và các lực lượng thù địch chống phá đất nước ta, vi phạm pháp luật Việt Nam. Bị bắt và xử lý theo quy định của pháp luật là chuyện đương nhiên. Với tội đồ như vậy cần xử lý nặng hơn với mức án chung thân mới hợp lý.

          Tội bất trung, bất nghĩa với đất nước là tội nhơ nhuốc, bẩn thỉu nhất. Hơn ai hết, tụi phản động là những tên băng hoại đạo đức, lương tâm tha hóa chẳng thể cứu vãn.

          Coi thường lãnh tụ đất nước chỉ có tụi "người không ra người, vật không ra vật" như Vịt Tân thôi, còn anh lại láo toét mang cả Bác Hồ ra để so sánh. Quả thật đúng là đầu đất, phản động, hỗn xược.

          Đã già rồi, hãy sống cho tử tế vào cho đúng kiểu "gừng càng già càng cay", đừng thể hiện "lú", "láo", "nát" kiểu như vậy kẻo thiên hạ nguyền rủa thì nhục lắm. Hãy nhìn vào Bùi Tín và những kẻ trở cờ phản động... đều có kết cục bi thảm, để mà sống mảnh đời còn lại cho ra người ngợm Trang nhá!