Thứ Bảy, 23 tháng 10, 2021

THỜ KẺ BÁN NƯỚC LÀ PHẢN QUỐC!

KẺ NÀO ĐÚC TƯỢNG THỜ TÊN BÁN NƯỚC PHAN THANH GIẢN? 


Tại sao lại thờ tên bán nước Phan Thanh Giản.?

Những kẻ bán nước như Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký thì khác gì thờ tên Ngô Đình Khả (bố đẻ Ngô Đình Diệm.).

Chúng đang rửa tội cho Triều Nguyễn - Triều đình  "rước voi dày mả tổ" - triều đình pháp về đô hộ Việt  Nam.

Triều đình đã đẩy nhân dân Việt Nam suốt 80 năm trời nô lệ tăm tối.

Thế mà chúng lại thờ.

Bọn chúng là ai.?

Còn sống hay đã chết.?

Tại sao chúng dám thờ tên bán nước Phan Thanh Giản.?

Hãy lên tiếng mạnh mẽ, hãy đập bỏ, vứt tượng kẻ bán nước xuống biển đông.!


KẺ TAY SAI BÁN NƯỚC PHAN THANH GIẢN


1.Cuộc đời quan lộ Phan Thanh Giản. 

Phan Thanh Giản tên tự là Phan Tịnh Bá và Phan Đạm Như, hiệu là Lương Khê, sanh năm Bính Thìn 1796 mất năm Đinh Mẹo 1867, vốn là con cháu của một gia đình người Tàu Minh hương, vì phản Thanh phục Minh mà qua nước mình. Phan Thanh Giản là con dân đất Vĩnh Long (sau nhiều lần thay đổi địa chánh thời nay thuộc huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre), sanh sống và học hành ở xứ nầy.Minh Mạng năm thứ 5 (1825) Phan đậu Cử nhơn khoa thi Hương Ất Dậu tại Gia Định, khi đó Phan 30 tuổi. Năm sau (1826), 31 tuổi, Phan đã đậu Đệ tam Giáp đồng Tấn sĩ khoa Bính Tuất (đứng hạng 3 trên 9). Phan Thanh Giản đã trở thành Tấn sĩ khai khoa ở Nam kì.Mùa thu năm Minh Mạng thứ 7 (1827), Phan Thanh Giản được Vua Minh Mạng cho nhiệm chức quan Chánh Thất phẩm: Hàn lâm viện biên tu. Phan được Vua khen:

"Người Nam kì như Phan Thanh Giản, lòng ngay chí chắc, học rộng tài cao, phải khuyến khích. Phan Thanh Giản lập công lao, Trẫm sẽ gia tăng quyền lực."

Vua Minh Mạng rất nóng tánh mà Phan đại thần thường can cái nầy tấu cái kia, không được lòng nhà Vua và cầm binh không giỏi nên đã ba lần bị giáng chức, trong đó có lần Phan phải làm “Lục phẩm thuộc viên”, tức giữ việc quét dọn, sắp đặt bàn ghế ở chốn công đường tại tỉnh Quảng Nam (1836).

Hai trào Vua tiếp theo Phan Thanh Giản đởm nhận nhiều chức quan lớn nhỏ khác nhau. Năm 1850, Phan Thanh Giản được Vua Tự Đức cử vào trấn nhiệm miền Tây Nam kì cùng với tướng Nguyễn Tri Phương. Sau đó, được phong làm Kinh lược sứ Nam kì.

Như vậy qua nhận xét của nhiều người, trong đó có Vua thì hình ảnh Phan Thanh Giản là một người con hiếu thảo, một đệ tử Nho gia chơn chánh, một vị quan tận tụy vì nước và được Vua Tự Đức ban thưởng bốn chữ “Liêm-Bình-Cần-Cán” vào năm 1852.

2. Làm trái lịnh Vua, giao giặc 3 tỉnh miền Đông Nam kì

Như cổ nhơn từng dạy: “Nước loạn mới biết tôi trung”. Lời dạy nầy ứng dụng vô trường hiệp của Phan Thanh Giản thì “đắt” vô cùng.

Năm 1858, quân xâm lược Pháp đã tấn công nước Việt, cuộc đấu tranh không cân sức và đầy hi sanh, gian khổ của dân tộc bắt đầu. Và cũng từ đây, Phan Thanh Giản mới bắt đầu lộ bộ mặt thiệt: phản quốc và đầy xảo trá.

Trong sự ủng hộ và phục vụ của “hàng muôn người Công giáo”(2) giặc Tây xâm lược tấn chiếm Đà Nẵng. Do lực không đủ, thay vì tấn công kinh thành Huế để diệt “ông Vua không thờ Chúa” như yêu cầu của giáo dân Gia tô, Pháp lại quyết định tấn công Nam kì.

Tháng 2 năm 1861 Tây lịch, Pháp tấn công Đại đồn Chí Hòa (Sài Gòn). Quân dân ta chịu nhiều hi sanh, chống cự quyết liệt nhưng do hỏa lực của giặc quá mạnh nên Tướng Nguyễn Tri Phương đã buộc phải rút lui. Pháp thừa thắng đánh chiếm Định Tường, Biên Hòa, Vĩnh Long. Nhơn dân Nam kì theo nghĩa binh kháng Pháp khắp vùng Lục tỉnh.

Đầu tháng 5 năm 1862, sau khi cùng các đình thần bàn bạc, vua Tự Đức sai quan thông báo cho phía Pháp đề nghị “giảng huề”. Phan Thanh Giản với vai trò là Chánh sứ và Lâm Duy Hiệp là Phó sứ được cử đi điều đình với Pháp, Trước khi đi “nhà Vua có căn dặn Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp ráng sức chuộc các tỉnh đã mất với giá 1.300 vạn lượng, còn nếu phía Pháp đòi cắt đất luôn thì kiên quyết không nghe.”

Trong đoàn sứ nầy Phan chánh sứ có dẫn theo một linh mục Thiên chúa tên là Đặng Đức Tuấn chưa rõ là chức vụ gì và đi theo với mục đích gì. Phan Thanh Giản đại diện cho trào đình Tự Đức kí kết hiệp ước hòa bình và hữu nghị “Hòa ước Nhâm Tuất” ngày 5 tháng 6 năm 1862 tại Sài Gòn với các điều khoản: nộp Pháp ba tỉnh miền Đông còn nộp thêm tiền, hườn toàn trái lịnh Vua. Thêm một điều khiến người đương thời và cả hậu nhơn sau nầy thắc mắc nữa là tại sao một điều ước quan trọng tới như vậy nhưng Giản chỉ kí xong chỉ trong "hơn một ngày”? 

Hiệp ước gồm 12 khoản, theo đó, ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường và đảo Côn Luân được nhượng cho Pháp (Khoản 3 Hiệp ước); trào đình phải trả cho Pháp và Tây Ban Nha một khoản bồi hường chiến phí là 4 triệu piastre trong 10 năm, mỗi năm 400.000 đồng (quy ra bạc là 288 ngàn lượng) (Khoản 8 Hiệp ước). Đổi lại, người Pháp sẽ trả lại tỉnh Vĩnh Long cho trào đình Huế, nhưng kèm theo điều kiện là trào đình phải có biện pháp chấm dứt các cuộc khởi nghĩa chống lại người Pháp ở các tỉnh (Khoản 11 Hiệp ước).

Sứ bộ hồi trào, Vua Tự Đức choáng váng với nội dung bổn Hiệp ước. Không những không đòi được đất mà còn hiệp thức hóa 3 tỉnh miền Đông cho Pháp, cấm cản quân dân Nam kì chống Pháp rồi còn phải thường tiền nữa. Giận quá giận, nhà Vua đã lên án trưởng, phó phái bộ Phan, Lâm không những là “tội nhơn của bổn triều mà còn là tội nhơn của muôn đời”.(3) Sau nầy, trong bài văn khắc trên bia Khiêm Lăng, nhà Vua còn nhắc lại chuyện cũ:

"Bất đắc dĩ cầu huề với giặc, sai sứ đi định ước, không biết vì cớ gì mà lập thành hòa ước dễ dàng, đem tất cả thổ địa nhơn dân của các trào trước mở mang khó nhọc bỗng chốc bỏ cho giặc hết”" (4)

Là tội nhơn của đất nước của dân tộc nhưng Phan Thanh Giản đã lập công lớn cho quân xâm lược. Trích trong báo cáo của Đô đốc Bonard gởi về Pháp ngày 8 tháng 9 năm 1862:

"Phải nói rằng tôi chỉ còn biết hài lòng về chánh phủ Tự Đức và những người thay mặt họ (tức là nói Phan với Lâm) đã giúp tôi tại Nam kì…" (5)

Lấy đất nộp giặc nhưng Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp vẫn không bị Vua Tự Đức xử tội mặc dầu Vua giận lắm. Lẽ đó là vì nhà Vua hi vọng hai người nầy sẽ lập công chuộc tội. Sách Việt sử tân biên (quyển 5) chép:

“Ngày 14 tháng ấy, ông Phan và Lâm về kinh tâu bày sự việc. Vua Tự Đức vừa than vừa thống trách hai vị sứ thần. Cả trào đình đều bất đồng ý kiến về nội dung của Hòa ước, nhưng đòi sửa đổi ngay thì biết rằng không được, nên đề ghị cho Phan, Lâm trở lại để giao thiệp với Soái phủ Sài Gòn (của Pháp)…”

Việc chuộc ba tỉnh không thành, Phan Thanh Giản bị cách lưu làm Tổng đốc Vĩnh Long, nhưng rồi lại được cử làm Chánh sứ (Phó sứ là Phạm Phú Thứ và Ngụy Khắc Đản) qua nước Pháp để điều đình một lần nữa về việc chuộc lại ba tỉnh miền Đông (1863). Trước khi sứ bộ lên đường, vua Tự Đức có căn dặn: “Quốc thơ phải đưa tới nơi, đừng để các quan đương sự ngăn đón, đừng chuyên tin lời người thông ngôn. Sứ thần là người thay mặt Vua đừng lạy mà nhục quốc thể”. Cuộc sứ năm đó cũng không đạt được kết quả. Tại Pháp, Phan Thanh Giản được người Pháp tiếp đón tử tế và tặng nhiều quà.

Năm 1865, Phan được phục chức Hiệp biện đại học sĩ, Hộ bộ thượng thơ, sung Kinh lược sứ ba tỉnh miền Tây (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) và được tha tội cách lưu: “Tội các ngươi đáng phạt nặng, nhưng nghĩ việc thương nghị ta coi như chưa thành, nay ta chỉ dụ cho Phan Thanh Giản làm Tổng đốc Vĩnh Long, Lâm Duy Hiệp làm Tuần võ Thuận Khánh, để giao tiếp với người Pháp, tìm cách uốn nắn những lầm lỗi trong Hòa ước mà các ngươi đã phạm phải”.

Việc trên vô tình tạo cơ hội cho họ Phan bán nước thêm lần nữa.

3. Giúp Pháp lấy 3 tỉnh Tây Nam kì “không tốn một giọt máu”(6)

Trên đường từ Sài Gòn xuống Vĩnh Long nhiệm chức, Phan Thanh Giản ghé lại Mĩ Tho (tỉnh Định Tường), hội kiến với Trung tá Hải quân Ansart, chỉ huy tối cao (commandant supérieur) tỉnh Định Tường. Bổn tường trình của Ansart đề ngày 18.11.1866 gửi cho De La Grandière hé lộ nhiều chi tiết trong cuộc hội kiến giữa hai người. Mở đầu bổn tường trình, Ansart viết:

"Tôi hân hạnh báo cáo với Ngài về cuộc đàm thoại với Phan Thanh Giản vào ngày 16 vừa qua, khi ông ấy dừng lại Mĩ Tho, trên đường từ Sài Gòn xuống Vĩnh Long. Lúc bốn giờ chiều, tôi hướng dẫn Phan Thanh Giản vào ngôi nhà kiểng trong vườn, và ở đó, sau khi cho đoàn tùy tòng đi nghỉ, ông bắt đầu cuộc nói chuyện với sự trung gian của cha Marc, và đặt cho tôi câu hỏi sau: Chừng nào các ông lấy ba tỉnh (Tây Nam kì)? Tôi trả lời ông ấy rằng tôi hoàn toàn không biết gì hết, nhưng trước khi đi xa hơn, tôi phải nhắc với ông ấy rằng tôi không có tư cách chánh thức nào để giải quyết những vấn đề tương tợ, và rằng, nếu tôi đồng ý hướng cuộc đối thoại vào lãnh vực nầy, thì ông ấy phải nhìn thấy trong những lời nói của tôi sự diễn đạt những ý kiến cá nhơn, không dính dáng gì đến chánh phủ Pháp. Ông ấy trả lời tôi rằng ông muốn nói chuyện với tôi trong tình thân hữu…" (7)

Không chỉ kí nộp ba tỉnh miền Đông cho Pháp, khi được Vua giao trọng trách trấn thủ ba tỉnh miền Tây thì Phan lại thông đồng bắn tin cho giặc: “Bổn chức sẽ không ngăn cản sự xâm chiếm bằng một cuộc kháng cự mà chúng tôi hiểu là vô ích” và nói trắng là “Nếu quới quốc lấn tới, quả nhơn sẽ không chống cự!” Phan Thanh Giản khuyên đồng bào “Các người có thể sống dưới sự điều khiển của người Phú Lang Sa”, một mặt chỉ điểm cho giặc về những người yêu nước, mặt khác dâng sớ về trào xin trị tội, thuyên chuyển khỏi nơi cứ địa hoặc cách chức những chủ soái nghĩa quân như Trần Văn Thành, Trịnh Quang Nghị, Võ Duy Dương, Trương Định…

Mặc dầu ức hiếp Nguyễn trào đủ điều nhưng chưa thỏa, ngày 18 tháng 6 năm 1867 (lịch Tây), quân Pháp gồm 1.200 lính cùng với 400 lính tập người Việt tập hiệp ở Mĩ Tho. Ngày 19, từ Sài Gòn, De La Grandière chỉ huy một đội tàu gồm 16 chiếc cũng tới Mĩ Tho rồi cho hành quân ngây trong đêm. Sáng ngày 20, đoàn quân thủy bộ của Pháp đã tới trước thành Vĩnh Long. 

Tới khi đoàn tàu thuyền nhà binh Pháp đậu kín trước thành Vĩnh Long “là một thành khá kiên cố, địa thế rất dễ phòng thủ” và tướng giặc cho người mang thơ lên gởi thì Phan ra lịnh cho binh sĩ không kháng cự và dẫn đám thuộc hạ xuống tàu Pháp trách cớ. Ngay sau đó quân Pháp “cho bộ binh nối gót theo sau rồi chia làm bốn cánh vào chiếm đóng thành”. Binh lính trong thành ngây từ đầu đã nhận lịnh Phan nên không có kháng cự nào. Còn phần Phan không có ý gì chống Pháp mà còn tiếp tay Pháp vội viết mật thơ dụ hàng các đồng liêu là thủ thành Châu Đốc và Hà Tiên theo yêu cầu của quan Pháp. Sự việc nầy sau đó được Tổng Đốc Vĩnh Long là Trương Văn Uyển khai trước Trào đình là:

"Ngày 19 tháng 5 năm ngoái(8), vào khoảng giờ Thìn, thấy viên quan Tây đem số lớn tàu binh đến bến tỉnh thành thả neo, kì thủy một viên quan ba cùng một người tên là Cố Trường (tức linh mục Pháp Legrand de la Liraye) đưa đến một phong thơ, trong thơ nói rằng: viên quan Tây nhận thấy bọn giặc [ý nói nghĩa binh Nam kì] quấy rối lâu nay phần nhiều là dân của tỉnh Châu Đốc, nay y muốn rằng quới quốc nhường lại ba tỉnh [miền Tây] để y kiểm soát, thì chúng không dám quấy rối như xưa…

Thần đẳng xem xong bức thơ, cùng nhau thương nghị, rồi Kinh lược sứ (Phan Thanh Giản) lập tức đem viên Niết ti Võ Doãn Thanh, theo xuống dưới tàu cùng viên chúa tàu đàm thoại; trách y đã vin vào cớ nhỏ mọn mà đã vội làm thương tổn đại nghĩa. Y trả lời rằng: “Bổn ý thế nào, đã nói ở trong bức thơ”. Nói đoạn y cho chiến thuyền tấn sát vào phía ngoài thành rồi cho bộ binh vào thành đóng giữ..."(9)

Xong, vậy là xong. Pháp đã chiếm trọn ba tỉnh miền Tây mà “không tốn một giọt máu nào”, viên Đại tá Thomazi hoan hỉ viết trong nhựt kí: “Đến tháng 6/1867, binh lính ta đi chơi một bữa vậy là xong hết cuộc chinh phục toàn xứ Nam-kì, công cuộc khó nhọc bắt đầu từ năm 1858”. Trong báo cáo gởi cho chánh quốc về việc chiếm lấy ba tỉnh miền Tây, De La Grandière đã viết:

"Các thành Vĩnh Long, Châu Đốc và Hà Tiên đã mở cửa mà không kháng cự, các quan chức địa phương giao nộp sổ thuế và hồ sơ lưu trữ cho 9 sĩ quan ngạch Thanh tra các công việc bổn xứ được cử đi trước để cai trị những vùng đất bị sáp nhập…"(10)

Tại chánh quốc, tờ báo Moniteur Universel số ra ngày 9.8.1867 cũng đăng bổn tin trong đó có đoạn viết: “Quân ta đã chiếm đóng các tỉnh Vĩnh Long-Sa Đéc, Châu Đốc, Hà Tiên. Các quan giữ thành đã mở cửa thành cho quân ta vào với sự tán đồng của dân chúng.”

Có thể thấy cái công của Phan Thanh Giản giúp quân xâm lược nuốt trọn Nam kì là rất lớn vậy.

4. Lập lờ đánh lận về cái chết của Phan Thanh Giản.

Cái tội bán nước của Phan Thanh Giản đã quá rõ ràng. Nhưng bao nhiêu đó thôi là chưa đủ thấy hết bộ mặt thiệt của nhơn vật nầy. Mặc dầu vậy, Phan Thanh Giản cũng được một số người binh vực (chắc là) vì lí do Phan đã uống độc dược tự tử.

Có thiệt đó là “tuẫn tiết” không? Có gì mờ ám phía sau? Cái nầy không thể chỉ dựa vào sử sách của Nguyễn trào (vì các vua Nguyễn từ Đồng Khánh trở về sau đều là bù nhìn do Pháp dựng lên, sau nầy đã viết lại sử theo ý Pháp) mà phải coi thêm các văn bổn của người Pháp nữa mới biết được (người Pháp viết gởi người Pháp, chẳng ngại ngần gì hay kiêng sợ gì nên có thể tin tưởng các chi tiết về vụ nầy được).

Sau khi nộp thành Vĩnh Long dụ hàng hai thành An Giang và Hà Tiên cho Pháp xong, Phan thủng thẳng ra sống tại một ngôi nhà tranh ở ngoại thành Vĩnh Long, tỉnh táo sắp xếp mọi việc châu đáo. Phan gởi một lá sớ lên Vua Tự Đức xin xá tội. Bs. Nguyễn Văn Thịnh trong bài “Cụ Đồ Chiểu có làm thơ khóc thương Phan Thanh Giản?” có viết: 

"Đồng thời, Phan cũng gởi một bức thơ dài cho Lagrandière. Hết lời ca ngợi “tình thân ái giữa các dân tộc bên hai bờ đại dương”; ca ngợi Hải quân Trung tướng Bonard với “những võ công hiển hách chinh phục xứ nầy, là người đồng chung một ý tưởng từ lâu về vấn đề lấy xứ Nam kì làm thực dân địa và rất tiếc là người đã ra đi trước, bây giờ tử thần sẽ cho hai ta gặp mặt trong sự vĩnh cửu, sẽ sung sướng vô biên giới và tình huynh đệ không thể tan rã được”; ca ngợi Đề đốc Rigault de Genouilly “có tầm nhìn xa biết chiếm lấy Sài Gòn để xây dựng thành trung tâm bền bỉ lâu dài”; ca ngợi Đề đốc Lagrandière “là người tạo lập ra thuộc địa Nam kì”… toàn là những từ hoa mĩ nể trọng, ân tình thắm thiết!"

Thơ gởi Trào đình đã lâu, Vua Tự Đức giận phản thần mà không thèm trả lời. Đợi hoài không thấy vua hồi âm, Phan Thanh Giản lo sợ: tội cũ nộp 3 tỉnh miền Đông chưa xử, nay lại nộp tiếp 3 tỉnh miền Tây nữa. Biết là không thể thoát khỏi tội chết, Phan rất khôn ngoan “đi trước một bước” uống á phiện tự sát.

Bức thơ đề ngày 4.8.1867 của Trung tá Ansart, người đã chứng kiến những giây phút cuối cùng của Kinh lược sứ Phan Thanh Giản, gởi cho tướng Tham mưu trưởng Reboul kể lại từng chi tiết một về những gì mà ông ta cho rằng mình đã trực tiếp nghe thấy:

"… Ông bình tĩnh xếp đặt mọi chuyện, cho mua quan tài, tang phục cho thân nhơn và gia nhơn, ấn định lễ tang trong từng chi tiết nhỏ nhứt và dành cho con cái những lời khuyên khôn ngoan (đừng chống Pháp) và đáng khâm phục… Ông yêu cầu để cho người Pháp nuôi nấng chúng cẩn thận và mấy ngày trước khi thực hiện quyết định bi thảm của mình, ông đã bày tỏ với tôi niềm ao ước được để lại cho tôi vài ngàn quan Pháp nhằm trang trải chi phí cho chúng ở Sài Gòn…"

Tuy tuyệt thực rồi uống á phiện tự sát để trốn phạt tội nhưng Phan Thanh Giản phút cuối vẫn còn tiếc nuối cái mạng. Theo thơ tường trình của Ansart kể về những giờ cuối đời của ông nầy:

"… Lúc các ông quan (Nam trào) còn lại ở Vĩnh Long, ông đã khăng khăng từ chối mọi thứ thuốc men, chúng tôi đã phải gần như ép ông và lợi dụng một trong những lúc ông ngất đi mới khiến ông nuốt được một chút giải độc.

Nhưng ngay khi ông được biết là các quan đã bỏ đi và chỉ còn có mình ông với chúng tôi (mấy sĩ quan Pháp) thì ông đã thuận mọi điều, lại hỏi: “Liệu có cứu được tôi không?” Than ôi, khi đó đã quá muộn rồi!" (11)

Rõ rồi nha! “Tuẫn tiết” chỉ là giả, còn “sợ chết” mới là thiệt.

Sau khi Phan chết thì Phó Thủy sư Đề đốc Thống soái Nam kì De La Grandière lại châu đáo cho tàu kéo và một toán lính kèn với đội tiêu binh hộ tống thi hài Phan về tận nơi an táng ở cố hương đúng theo nghi thức truyền thống nhà binh Pháp, đồng thời gởi thơ chia buồn và hết lời khen:

"Nơi trào đình Huế trừ một mình ngài thấy rõ đâu là ích nước lợi dân. Người Pháp quốc hằng bền một lòng tôn trọng quan lớn Phan Thanh Giản và gia đình của ngài. Bổn trấn hứa sẽ hết lòng bảo bọc cho con cháu ngài hoặc muốn ra mà giúp việc nhà nước hay là muốn tước lộc chi thì bổn trấn cũng vui lòng ban ơn theo như ý."

Ngộ chưa? Quan Nam trào chết mà Trào đình không thèm nhìn, đồng liêu thì coi thường, dân chúng thì chửi rủa vậy mà lại được Tướng giặc khen ngợi hết lời luôn!?

Nếu thực có tâm chết vì nước sao Phan không như Tướng Nguyễn Tri Phương tử thương giữ thành Hà Nội, như Tướng Trương Định rút kiếm tự sát nơi “Đám lá tối trời”(12) hây như Đại thần Huỳnh Diệu tự sát theo thành Hà Nội… mà lại nộp thành cho giặc rồi gởi thơ cho Vua xin tội, khi không xong mới uống độc dược tự sát? Câu hỏi nầy có lẽ không cần Phan trả lời, hậu nhơn cũng hiểu được.

Vẫn thường nghe câu “Con chim sắp chết kêu tiếng bi thương, con người sắp chết nói lời chơn thiệt”. Vậy trước lúc chết thì Phan Thanh Giản nói chuyện gì?

Ông ta khuyên con cháu đừng có chống Pháp còn dân chúng thì nên an phận dưới sự cai trị của người Pháp.

"Các người có thể sống dưới sự điều khiển của người Phú Lang Sa"- Nguyễn Duy Oanh, Chân dung Phan Thanh Giản, Bộ Văn hóa, Giáo dục và Thanh niên, Sài Gòn, 1974, tr. 253.

Quả đúng là như vậy, sau nầy hai con của Phan Thanh Giản là Phan Tôn và Phan Liêm cũng đã phản bội nghĩa binh, quây ngược mũi giáo làm tay sai cho Pháp giết hại nghĩa sĩ nước nhà. Nhờ công sát hại đồng bào phục vụ quân xâm lược mà hai con của Phan Thanh Giản được Pháp cho làm quan lớn.(13)

Phan Thanh Giản trước lúc chết không quan tâm tới “tam cương, ngũ thường” của “đạo nhà” mà lại quan tâm tới đạo Gia tô. Đạo nầy như Vua Minh Mạng từng nói “Tà đạo của người Tây làm hư hoại lòng người” (chiếu của Vua năm 1832), và theo Thầy Chiểu thì tà đạo nầy chuyên “quăng vùa hương, xô bàn độc” và “ông cha không thờ” đây mà.

"…Khi cha Marc đến, Phan Thanh Giản không nói tới ý định tuyệt vọng của ông nữa. Sáng ngày mùng 1 tháng 8, ông chỉnh đốn một số văn kiện liên quan đến đạo Thiên chúa. Ông nói: “nhanh lên”. Lúc 11 giờ, ông uống thuốc độc trước mặt con cái và những người thân cận. Khi người ta đến báo tin cho tôi lúc 2 giờ thì đã muộn rồi. Ông chỉ còn thời giờ ôm chầm lấy cha Marc và tôi và bắt đầu cơn hấp hối…" Tạp chí France Asie số XI tháng 6-7.1955 trang 740.

Còn phần Phan Thanh Giản, tội lỗi tày trời, không thể lấy cái chết mà trốn tội được. Vì làm mất trọn Nam kì, trào đình Huế đã xử Phan án “trảm quyết”, đồng thời lột hết chức tước và cho đục bỏ tên ở bia tấn sĩ.(14) Trích chiếu chỉ của Vua Tự Đức ngày 21-10-1867:

"Phan Thanh Giản thủy chung lời nói không xứng với việc làm, đem học vấn danh vọng một đời trút sạch xuống biển Đông, thực là táng tận lương tâm."

"Đi sứ không có công, giữ chức Kinh lược để mất ba tỉnh, hai tội đều nặng. Mặc dầu đã lấy cái chết tự phạt nhưng cũng không đủ đền bù cho trách nhiệm. Vậy cho truy đoạt chức tước phẩm hàm, đục bia tấn sĩ."

Bổn án “giết người chết để răn người sống”(15) nầy cũng là để cảnh cáo những kẻ có lòng theo giặc cũng là điều thích đáng.

5. Chạy tội cho Phan Thanh Giản

Tội chứng, tội cớ của Phan Thanh Giản rành rành ra đó nhưng cũng có nhiều người đã và đang gắng chạy tội cho họ Phan:

- Trước tiên là người Pháp. Quá dễ hiểu, công lao giúp Pháp nuốt trọn Nam kì thì đâu có nhỏ. Pháp điều khiển được trào đình Huế mà để “công thần” họ Phan mang tiếng xấu thì coi không có được. Vậy là Pháp nói tốt cho Phan.

- Thứ hai là các Vua quan Nam trào bù nhìn của Pháp. Pháp nói gì mà mấy vị nầy không nghe. Không nghe thì khỏi làm vua. Trước tiên phải kể là Vua Đồng Khánh (ông vua nầy vốn là con nuôi Vua Tự Đức đã “xin” Pháp cho được làm vua), người “rất được lòng người Pháp” (đánh giá của Trần Trọng Kim). Một trong những hành động đẹp lòng người Pháp của ông Vua nầy là ra sắc chỉ khôi phục hàm cũ là Hiệp tá Đại học sĩ cho Phan Thanh Giản với những lời khen: “Phẩm vọng ngươi cao như núi Thái Sơn, văn chương ngươi như mây bay nước chảy, được xưng tụng cao nhứt một đời”.

- Một số đông người theo đạo Tây dương: mấy người nầy thì khỏi phải nói nhiều, nhìn những việc làm của họ trong lịch sử dân tộc thì bạn biết rồi đó. 

Năm 1924, Vua Khải Định sắc cho quan dân tỉnh Thủ Dầu Một thờ phượng Phan như “thần hộ quốc an dân”. Công ơn gì với dân miền Đông? Nộp 3 tỉnh miền Đông cho Pháp chăng? Kế tới là năm 1933, (con Vua Khải Định là) Vua Bảo Đại lại sắc cho quan dân tỉnh Vĩnh Long thờ phượng Phan với nội dung cũng như vậy. Thưởng công giúp Pháp lấy 3 tỉnh miền Tây không tốn viên đạn nào chăng?

- Dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm, tên Phan Thanh Giản còn được đặt làm tên đường, tên trường nữa (Vĩnh Long xưa cũng có đường tên nầy, nay là đường 3 tháng 2). Ông họ Ngô nầy là con chiên ngoan của Giáo hội Vatican nên thôi, khỏi bàn.

Trào Ngô, dưới quyền Tỉnh trưởng Huỳnh Ngọc Diệp, tỉnh Vĩnh Long đã dựng lên cái “của nợ” nầy ngây chổ bến xe Vĩnh Long hồi xưa mà ngày nay là “Ngã ba Cần Thơ” ở phường 2, thành phố Vĩnh Long. Bẩy chữ trên mặt nầy của tháp là “Tiền trào đại thần Phan Thanh Giản”. Tháp vinh danh kẻ bán nước cho Tây nầy vào tháng 5.1975 đã bị nhơn dân đập banh chành.

Nước nhà thống nhứt, tự nhiên có phong trào chỉnh sửa lịch sử rồi tự dưng tôn vinh nhơn vật nầy. Tượng đài, đền thờ Phan Thanh Giản mọc lên nhiều nơi.

Giờ ai mà muốn bàn tội của Phan Thanh Giản thì phải chấp nhận bị người bất đồng ý kiến chỉ trách thôi. Ai chỉ trách họ Phan, họ hỏi “bán nước” sao được Nhà nước dựng tượng, lập đền thờ? Hết biết đường trả lời sao luôn! Câu nói của cố Thủ tướng đã được những người binh vực Phan Thanh Giản lợi dụng triệt để. Hễ ai chỉ trách họ Phan là họ lấy câu nầy ra để “lấp miệng” người đối thoại rồi sau đó là … đắc thắng. Thắng thiệt chớ không phải chơi, cố Thủ tướng nói thì ai dám cãi, Tiêu cũng vậy thôi. Không dám, không dám!

Như vậy có thể thấy để chỉ trách Phan Thanh Giản và bảo vệ được quan điểm của mình thiệt là khó lắm thay! Sau nầy nếu lỡ như có giặc, cớ chọn cách “yêu-nước-kiểu-Phan-Thanh-Giản”,  biết đâu hên xui được lập đền thờ như ông nầy hổng chừng?!

—————

Chú thích:

(1) Dịch nghĩa: “Ở đất Long Hồ, ông đã uổng phụ cái chí làm người học trò già” lời dịch của cô giáo Phạm Thị Hảo – Giảng viên môn Văn học cổ Trung Quốc tại ĐHSP TPHCM trong bài “Viết về Phan Thanh Giản nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã dùng bút pháp Xuân Thu” đăng trên báo Văn nghệ TP HCM tháng 3 năm 2009.

(2) Lời các Giáo sĩ gởi trong thơ kêu gọi Pháp tấn công nước Việt và xin làm nội ứng cho Pháp.

(3) Phan Khoang, Việt-Pháp bang giao sử lược, Huế, 1950, trang 148.

(4) Dẫn theo Nguyễn Phan Quang, tr. 285.

(5) Kho Lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp, Kỉ yếu tập 28.

(6) G. Taboulet – La geste franVaise en Indochine, Paris 1955 – trang 515.

(7) Georges Taboulet- La geste franVaise en Indochine, Paris 1955 – trang 509-510.

(8) Bổn khai nầy xài lịch Việt, ngày đó là ngày 20 tháng 6 năm 1867 theo lịch Tây.

(9) Tập tâu của Viện Cơ mật-Bổn dịch của Tô Nam-Tập-san Sử Địa – số 7-8 năm 1967-trang 239-240.

(10) G. Taboulet-Sđd-trang 513(11) Nguyễn Duy Oanh – Chân-dung Phan Thanh Giản”, Sài Gòn, Tủ sách sử học Bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh niên CHVN, 1974.

(12)  Đám lá tối trời: Từ Gò Công đi về hướng ao Trường Đua, theo đường ấp Long Hưng tới ngã ba ấp Giá Trên thuộc xã Kiểng Phước; từ đây có bảng hướng dẫn đi thêm 8,5 km nữa để đến đền thờ Trương Định, chổ nầy khi xưa gọi là là “Đám lá tối trời”.

(13) Nguyễn Đình Vân Tiên – Con đường mang tên Phan Liêm đăng tại Hồn Việt.

(14) Quốc trào chánh biên – Sđd – trang 356(15) Nguyễn Duy Oanh, sđd, trang 302.


Yêu nước ST.

ÔNG “TUẤN TIM” VÀ CÁI TÚI ÁO BÁC SĨ BỊ KHÂU KÍN

 Vào năm nhận danh hiệu Công dân ưu tú thủ đô, ông Nguyễn Quang Tuấn cũng từng nói đến cái tâm, "Nếu cái tâm không có sẽ lái cuộc đời theo hướng khác".

Một bác sĩ giỏi, một nhà quản lý tồi, và hôm qua là một bị can trong vụ thổi giá thiết bị y tế.

Ông “Tuấn tim” là cách người trong “ngành” gọi Giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Quang Tuấn.

Tuấn tim - một nickname như sự thừa nhận một đôi tay vàng trong làng phẫu thuật tim - chứ không phải chỉ vì chức danh Giám đốc Viện Tim Hà Nội.

Từng tốt nghiệp xuất sắc tại trường Đại học Toulouse (Pháp) và từ chối lời mời ở lại để về nước, để cống hiến. Từng giành giải nhất Nhân tài đất Việt lĩnh vực y tế với đề tài “Can thiệp động mạch vành qua đường ống thông (đặt stent)”. Chuyên gia đầu ngành tim mạch, biến Viện Tim trở thành một trong những cơ sở y tế mà chuyên môn có thể sánh tầm châu lục, thế giới... Nếu là một bác sĩ, và chỉ là một bác sĩ - ông Tuấn tim đúng là một bác sĩ tài giỏi. Và đúng đứng trước người bệnh, chúng ta không có gì phải nghi ngờ về sự lựa chọn duy nhất mà ông Tuấn từng nói tới, đó là “làm thế nào để mang tới niềm hạnh phúc cho bệnh nhân, là khỏi bệnh, là kéo dài sự sống”.

Nhưng với những cái sai, những vi phạm các quy định về đấu thầu với hậu quả nghiêm trọng, ông Tuấn vẫn đương nhiên phải chịu trách nhiệm, dẫu từng được trao danh hiệu Công dân ưu tú Thủ đô, dẫu từng đại diện cho dân ở Quốc hội.

Với pháp luật, mọi công dân đều bình đẳng thôi.

Nhưng điều gì đã khiến chúng ta mất đi một bác sĩ giỏi?

Báo Pháp luật Việt Nam năm 2016, thời điểm ông Tuấn được trao danh hiệu công dân ưu tú Thủ đô, từng dẫn lời nói về y đức, rằng: Nếu chỉ hô khẩu hiệu không nhận phong bì chung chung, hoặc giải pháp cực đoan ở một số nơi (khâu kín túi áo của bác sĩ) vừa không kết quả, vừa rất phản cảm. Rằng: Y đức phải ở trong cái tâm, trong suy nghĩ, trong hành động của mỗi người thầy thuốc, nó phải “tự nhiên như hơi thở”, chứ không thể giáo điều răn đe, áp đặt, hay ép buộc từng người phải thế này hay thế khác.

Vị bác sĩ, chuyên gia đầu ngành, khi ở cương vị quản lý cũng nói nhiều đến cái tâm: Nếu cái tâm không có sẽ lái cuộc đời theo hướng khác. 

Ở Viện Tim Hà Nội dưới thời ông Tuấn, từng có một phương châm 3H (Head, Hand, Heart) - làm việc với trí tuệ, kỹ năng và cái tâm.

Chưa rõ cái tâm ấy, cái túi áo bác sĩ ấy có liên quan gì không, đến con số 40 tỉ thiệt hại kia. Chuyện đó cơ quan pháp luật sẽ làm rõ. Nhưng dưới góc độ y học, nhiều người vẫn mong ông Tuấn - một giáo sư, tiến sĩ đầu ngành sẽ không phạm phải những lỗi lầm nghiêm trọng để sớm trở về với gía trị thực của ông- bàn tay vàng trong làng phẫu thuật tim mạch.

ĐÀO TUẤN

Vào năm nhận danh hiệu Công dân ưu tú thủ đô, ông Nguyễn Quang Tuấn cũng từng nói đến cái tâm, "Nếu cái tâm không có sẽ lái cuộc đời theo hướng khác".
-----------
Phùng Tiến st


ĐỔI MỚI SỬ HỌC, ĐỔI MỚI TƯ DUY SỬ HỌC?

Kẻ nào nói đổi mới sử học, đổi mới tư duy sử học thì kẻ đó là thiếu hiểu biết. Bởi lịch sử vốn là hiện thực và khách quan, lịch sử không thể thay đổi mà nó chỉ có thể được nhìn nhận, đánh giá đúng hoặc sai tùy thuộc vào sự hiểu biết và sự công tâm, khách quan của người nhìn nhận, đánh giá. Lịch sử không phụ thuộc vào lăng kính chủ quan của người nhìn nhận, nó khác với văn học là vì vậy. Sử học là một bộ môn khoa học còn văn học thì không. Sử học (chính sử) không thể sáng tác, sáng tạo theo nhận thức nhân sinh quan của người chép sử mà người chép sử chỉ làm công việc ghi chép lại những sự việc hiện tượng đã xảy ra trong thực tế sau đó có thể nhìn nhận, đánh giá dựa trên sự thật khách quan. Chỉ có cái được gọi là dã sử mới mang tính văn học. Dã sử là dòng văn chương mượn hiện tượng hoặc nhân vật lịch sử nào để khai triển nhân sinh quan tác giả. Do đó, nếu là chính sử thì không thể thay đổi và đương nhiên là không cần phải đổi mới tư duy để gọi là trả lại sự thật cho lịch sử hay nói cách khác không cần phải "đổi mới tư duy" để vo tròn hay bóp méo sự thật lịch sử (chính sử).

Như vậy, kẻ nào nói đổi mới sử học, đổi mới tư duy sử học thì kẻ đó là kẻ thiếu hiểu biết. Kẻ nào nói đổi mới sử học, đổi mới tư duy sử học thì kẻ đó chỉ là khua môi múa mép để tâng bốc mình lên cho ra vẻ ta đây hiểu biết nhưng thực tế lại là thiếu hiểu biết, hoặc là để che đậy dã tâm. Tại sao phải đổi mới tư duy khi đổi mới hay không thì cũng chỉ là nhận thức chủ quan của người nhìn nhận, còn lịch sử (chính sử) luôn luôn là sự thật khách quan?


Môi Trường ST.

KỈ NIỆM 60 NĂM NGÀY MỞ ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH TRÊN BIỂN

 Sáng 23/10, tại Khu di tích quốc gia Bến Vàm Lũng (huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau), cán bộ, chiến sĩ, tướng lĩnh Vùng 5 Hải quân cùng chính quyền và nhân dân địa phương đến đặt tràng hoa, dâng hương tưởng nhớ các Anh hùng, liệt sĩ đã làm nên chiến công của tuyến đường huyền thoại, nhân Kỷ niệm 60 năm đường Hồ Chí Minh trên biển (23/10/1961 - 23/10/2021). 


60 năm về trước, chiếc tàu gỗ mật hiệu “Phương Đông 1” do thuyền trưởng Lê Văn Một, cùng chỉ huy là đồng chí Bông Văn Dĩa làm Chính trị viên và 11 chiến sĩ đã rời bến Ðồ Sơn (Hải Phòng), chở theo hơn 30 tấn vũ khí đã cập bến Vàm Lũng an toàn sau 5 ngày đêm vượt biển, mở ra con đường huyền thoại trên Biển Đông gắn với đoàn tàu không số.


Sau thành công từ chuyến tàu đầu tiên ấy, những chuyến tàu không số mật hiệu “Phương Ðông 2”, “Phương Ðông 3”… lần lượt vượt biển an toàn, mang theo vũ khí tập kết tại 4 cụm bến dã chiến ven biển, gồm: Vàm Lũng, Bồ Đề, Vàm Hố (tỉnh Cà Mau); Long Vĩnh, Trường Long Hòa  (tỉnh Trà Vinh); Thạnh Phong, Cồn Rừng (tỉnh Bến Tre) và Rạch Chanh (Bà Rịa - Vũng Tàu). 


Con đường huyền thoại Hồ Chí Minh trên biển đi vào lịch sử và mãi mãi là niềm tự hào của dân tộc ta, là biểu tượng cao đẹp của tình quân - dân thắm thiết. Truyền thống tốt đẹp ấy tiếp tục được thế hệ trẻ địa phương hôm nay hun đúc, tiếp nối, phát huy bằng việc tăng gia lao động, sản xuất vì sự đi lên của quê hương, để những con tàu không số, những bến cảng không tên ở chiến tích Vàm Lũng mãi trường tồn cùng thời gian.



Cũng trong ngày 23/10, tại Di tích lịch sử quốc gia Vũng Rô, xã Hòa Xuân Nam, thị xã Đông Hòa, Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Phú Yên long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 60 năm Ngày mở đường Hồ Chí Minh trên biển (23/10/1961 - 23/10/2021).

________

📌Xem chi tiết tại: https://tinyurl.com/nhandandientu670748

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH TRONG VIỆC ĐOÀN KẾT, TẬP HỢP THANH NIÊN THAM GIA BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH!

   Ngày 22-10-2018, Bộ Chính trị khóa XII ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW, về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Nghị quyết khẳng định, đây là nhiệm vụ rất quan trọng, liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ, nên đó là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, trong đó có lực lượng đoàn viên, thanh niên.


   NHỮNG ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ VỀ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ NHẰM VÀO THANH NIÊN

   Ở Việt Nam, thanh niên trong độ tuổi từ 16 đến 30 tuổi là một lực lượng đông đảo, chiếm khoảng 30% dân số. Đây là lực lượng dân cư có nhiều tiềm năng về sức khỏe, trí tuệ và khả năng thích nghi với sự thay đổi nhanh chóng của môi trường trong nước và quốc tế. Thanh niên Việt Nam nhìn chung đều có tinh thần nhiệt tình cách mạng, hăng hái, tiên phong, ham học hỏi, có tinh thần đổi mới, sáng tạo. Khi được dìu dắt, tập hợp, thanh niên dễ liên kết thành một khối thống nhất, đoàn kết. Tuy nhiên, do có những hạn chế nhất định về trình độ, kinh nghiệm sống nên thanh niên Việt Nam cũng dễ bị lôi kéo, kích động, thường dễ có tâm lý chán nản, bi quan trước những thất bại, vấp ngã đầu đời… Đây là những đặc điểm dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng.

   Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn coi trọng vai trò của thanh niên, coi thanh niên là “chủ nhân tương lai của đất nước”, “là rường cột của nước nhà”… Do đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng đã đặt nhiều kỳ vọng và luôn chăm lo đến việc giáo dục, rèn luyện cho đoàn viên, thanh niên. Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành một phần nói về thanh niên và căn dặn Đảng cần phải quan tâm đến việc giáo dục, bồi dưỡng thanh niên - thế hệ cách mạng cho đời sau. Người căn dặn: “ĐOÀN VIÊN VÀ THANH NIÊN ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Đây chính là sự tổng kết, đúc rút vô cùng quý báu của Người từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng Việt Nam nói chung và công tác thanh niên nói riêng, nhằm phát huy mọi tiềm năng to lớn của thanh niên trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc.

   Vì thế, khi các thế lực thù địch hướng đến thanh niên chính là nhằm phá hoại tương lai của đất nước ta; phá hoại niềm tin, sự kỳ vọng của Đảng, của Bác và của nhân dân dành cho thế hệ tương lai của nước nhà. Đây cũng là một âm mưu thâm độc mà các thế lực thù địch đã sử dụng, tấn công vào thanh niên các nước xã hội chủ nghĩa trước kia, nhằm “phá hủy lực lượng cộng sản tiềm năng không thể coi thường ở các nước xã hội chủ nghĩa”.

   Như vậy, sở dĩ các thế lực thù địch hướng đến thanh niên không chỉ là vì đặc điểm tâm lý, lứa tuổi của thanh niên, mà còn do thanh niên là chủ nhân tương lai của đất nước, luôn nhận được sự kỳ vọng của Đảng, Nhà nước và cả xã hội. Thời gian qua, các thế lực thù địch đã luôn coi thanh niên là đối tượng chủ yếu để tuyên truyền, lôi kéo, kích động. Nếu như tại các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, các thế lực thù địch lợi dụng các cách thức truyền thống, như dồn dập tung thông tin xuyên tạc với mục đích “mưa dầm thấm lâu” bằng tờ rơi, báo chí, phát thanh…, thì ngày nay, các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng các phương tiện truyền thông xã hội để tấn công vào thanh niên. Nhận thấy thanh niên là lực lượng chủ yếu sử dụng internet và các phương tiện truyền thông xã hội, các thế lực thù địch đã ra sức phát tán các bài viết, blog, hình ảnh, video clip bịa đặt, xuyên tạc, vu khống trên các kênh Youtube, Facebook,... Những âm mưu, nội dung chủ yếu mà các thế lực thù địch thường sử dụng để xuyên tạc, chống phá là:

   Thứ nhất, làm phai nhạt lý tưởng cao cả nhất của đoàn viên, thanh viên Việt Nam - lý tưởng cộng sản - bằng lấy sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu làm cái cớ để xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Cho đến nay, các thế lực thù địch vẫn luôn rêu rao rằng, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu là một “tất yếu lịch sử” vì bắt nguồn từ “sự lạc hậu, lỗi thời của bản thân chủ nghĩa Mác - Lê-nin”; và bởi “chủ nghĩa xã hội mà Mác nêu ra chỉ là một lý tưởng, một chủ nghĩa xã hội “không tưởng”, không bao giờ thực hiện được”. Họ cũng cho rằng, chủ nghĩa xã hội khoa học mà các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã xây dựng chỉ là một học thuyết “viển vông”, “ảo tưởng”... Những luận điệu đó được tung ra khắp nơi trên thế giới với các hình thức, trên các diễn đàn khác nhau nhằm phủ nhận bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Xuất phát từ sự xảo biện đó, họ cho rằng hiện nay, Việt Nam cần “tránh chỗ tối, tìm chỗ sáng” để “đi theo con đường tư bản chủ nghĩa”(?!). Những luận điệu này được tung ra nhằm làm lung lạc tinh thần, lung lay ý chí của thanh niên; khiến cho thanh niên hoài nghi về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam; từ đó, làm phai nhạt lý tưởng cộng sản, mất mục tiêu phấn đấu.

   Thứ hai, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam để làm suy giảm niềm tin của thanh niên đối với Đảng. Các thế lực thù địch xuyên tạc rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam có nhiều sai lầm trong quá khứ, dù quá khứ có làm được một số việc thì bây giờ chuyển sang thời kỳ mới, Đảng đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ sức để lãnh đạo đất nước”. Từ những hạn chế của công cuộc đổi mới, nhất là sự tụt hậu về kinh tế của Việt Nam so với các nước trong khu vực, các thế lực thù địch đã lên tiếng đổ lỗi cho Đảng ta lãnh đạo đất nước không hiệu quả nên cần phải “trả lại cho nhân dân Việt Nam quyền tự quyết định vận mệnh của chính mình và của đất nước”. Với danh nghĩa đứng về phía nhân dân, các thế lực thù địch đã khuyên nước ta cần phải đi theo mô hình “xã hội dân chủ”, thực hiện chính sách “chính trị đa nguyên”, “đa đảng đối lập”. Chúng còn xuyên tạc, phủ nhận những thành tựu của Việt Nam trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hòng làm cho thanh niên mất niềm tin vào Đảng, từ đó hoài nghi, dao động về lập trường tư tưởng, mất phương hướng.

   Thứ ba, các thế lực thù địch xuyên tạc bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, làm cho một bộ phận không nhỏ thanh niên có nhận thức sai lệch. Ngoài ra, các thế lực thù địch còn ra sức thổi phồng những thành tựu của chủ nghĩa tư bản hiện đại, tuyên truyền, cổ xúy lối sống phương Tây với những biểu hiện thực dụng, coi trọng các giá trị vật chất, lối sống cá nhân, vị kỷ,… nhằm làm cho thanh niên dễ bị lôi kéo, mua chuộc, dễ bỏ quên những giá trị truyền thống tốt đẹp, có biểu hiện “sính ngoại”, sẵn sàng vì lợi ích cá nhân mà đánh đổi lợi ích của tập thể, của dân tộc…

   Các thế lực thù địch đã “sử dụng khoảng 50 đài phát thanh, truyền hình, gần 400 tờ báo, tạp chí tiếng Việt, trong đó có khoảng 10 tờ có nội dung rất phản động, 66 nhà xuất bản để tuyên truyền, chống phá cách mạng Việt Nam, đưa một số lượng lớn tài liệu, sách báo, truyền đơn, băng hình… có nội dung phản động, đồi trụy vào Việt Nam, chỉ đạo bọn “bồi bút”, cơ hội viết nhiều bài xuyên tạc, bôi nhọ tình hình Việt Nam”.

   Thực tiễn cho thấy, một phần do ảnh hưởng từ mặt trái của kinh tế thị trường và do sự xuyên tạc, chống phá bằng những thủ đoạn tinh vi của các thế lực thù địch, không ít thanh niên đã có những biểu hiện phai nhạt lý tưởng, xa rời mục tiêu phấn đấu. “Do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, do sự bùng phát của lối sống thực dụng chạy theo danh lợi bất chấp đạo lý đã dẫn đến những tiêu cực trong xã hội ngày càng phổ biến. Những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội chưa được khắc phục, sự chống phá của các thế lực phản động quốc tế nhằm thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” đã tác động không nhỏ đến đời sống đạo đức công dân, ảnh hưởng lớn đến tâm tư, tình cảm, ý chí phấn đấu của sinh viên, thanh niên trí thức. Hậu quả là đã có một bộ phận thanh niên, trong đó có không ít sinh viên phai nhạt niềm tin, lý tưởng, mất phương hướng phấn đấu, không có chí lập thân, lập nghiệp; chạy theo lối sống thực dụng, sống thử, sống dựa dẫm, thiếu trách nhiệm, thờ ơ với gia đình và xã hội, sa vào nghiện ngập, hút sách, thiếu trung thực, gian lận trong thi cử, chạy điểm, chạy thầy, chạy trường, mua bằng cấp. Đây là những biểu hiện không thể coi thường. Thực trạng này không chỉ đe dọa trực tiếp đến cuộc sống, tương lai của thanh niên mà còn đến tương lai, vận mệnh của đất nước. Do đó, cần phải có những giải pháp hữu hiệu để đoàn kết, tập hợp thanh niên tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch hiện nay, góp phần bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng, bảo vệ thanh niên trước sự lôi kéo, mua chuộc, xúi giục của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị./.

Môi Trường ST.

THỦ ĐOẠN “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG - VĂN HÓA


Hiện nay, để chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch thực hiện “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa là mũi đột phá nhằm gây chia rẽ, suy giảm niềm tin, gây hỗn loạn về lý luận tư tưởng, tạo ra những khoảng trống để đưa hệ tư tưởng tư sản thâm nhập vào cán bộ, đảng viên và nhân dân tiến tới xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, chúng ta phải nhận rõ bộ mặt thật của thủ đoạn thâm độc này để có biện pháp phòng, chống hiệu quả, điều này rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay.

 Hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa đối với nước ta trong những năm qua được thể hiện trên các thủ đoạn và nội dung chủ yếu như xuyên tạc bôi nhọ, đả kích bản sắc văn hóa dân tộc, đặc biệt là truyền thống văn hóa, văn nghệ cách mạng, lối sống xã hội chủ nghĩa - những giá trị tinh thần của chế độ xã hội chủ nghĩa. Chúng ra sức truyền bá văn hóa, lối sống tư sản phương Tây vào nước ta, đây là lối sống thực dụng, vụ lợi, cá nhân sùng bái đồng tiền, dâm ô trụy lạc… kích thích sự phục hồi phát triển lối sống mê tín dị đoan, tôn thờ chủ nghĩa hữu thần, tìm hiểu, móc nối, mua chuộc, kích động trí thức, văn nghệ sĩ có tư tưởng bất mãn, thù địch, cơ hội,... Qua đó, lôi kéo vào con đường chống lại Đảng, Nhà nước và nhân dân. Tìm cách thao túng, lũng đoạn, chi phối các cơ quan, tổ chức văn hóa, văn nghệ làm cho văn hóa, văn nghệ đi chệch định hướng xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó, chúng cũng ra sức phá vỡ, đẩy lùi lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng, đời sống tinh thần của xã hội. Đồng thời, chúng tăng cường đả kích, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước và mục tiêu, con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Đảng và dân tộc ta đã lựa chọn. Chúng cho rằng con đường đó không còn phù hợp với quy luật của lịch sử, làm cho đất nước không thể phát triển và đòi Việt Nam từ bỏ con đường đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tác động của “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa ở nước ta trong những năm qua thể hiện trên những phương diện chủ yếu như sau:

 Phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng và Nhà nước ta, làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Lợi dụng sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa trước đây, các thế lực thù địch đã tấn công quyết liệt vào nền tảng tư tưởng của Đảng, Nhà nước ta là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư ưởng Hồ Chí Minh; đả kích đường lối cách mạng của Đảng, lái cách mạng Việt Nam đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.

Chúng kích động, lôi kéo những phần tử bất mãn trong nội bộ Đảng, nội bộ Nhà nước ta để làm nòng cốt chuyển hóa từ bên trong, kích động tâm lý hoài nghi dẫn đến phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Thực tế đã có một bộ phận nhân dân trong đó có một số cán bộ, đảng viên đã dao động, giảm lòng tin đối với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như con đường mà Đảng và dân tộc ta đã lựa chọn. Một số kẻ cơ hội xét lại đã tung ra những bài viết xuyên tạc, vu khống, bác bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Những việc làm ấy đã gây hoang mang, hoài nghi cho không ít người. Bằng cách đó, chúng muốn thúc đẩy “tự diễn biến” từ bên trong xã hội ta. Trước hết là “tự diễn biến” về nhận thức, tư tưởng, từ đó dẫn đến những “tự diễn biến” về các mặt khác.

Bên cạnh đó, các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề nhân quyền để phá hoại về tư tưởng đối với Việt Nam, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của chúng ta, đặt điều kiện hòng ép ta thỏa hiệp, nhượng bộ về chính trị, thay đổi đường lối của ta, đi theo quỹ đạo của chúng; núp dưới chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” để tuyên truyền kích động dư luận thế giới cô lập Việt Nam, gieo rắc sự nghi ngờ của công dân Việt Nam đối với Nhà nước; kích động và khơi dậy sự phản kháng của những kẻ bất mãn, những phần tử cơ hội, thoái hóa biến chất, những người trước đây cộng tác với chế độ cũ, hiện đang còn ở Việt Nam để chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị còn ra sức vu khống, xuyên tạc chính sách của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo, dân tộc; chính sách đối với văn nghệ sĩ. Âm mưu của chúng là tạo ra những lực lượng chống đối ngầm trong nội bộ nhân dân ta. Nếu không được vạch trần, ngăn chặn, nó có khả năng làm rối loạn xã hội, tạo cơ hội cho “diễn biến hòa bình” phát triển.

Trong lĩnh vực văn hóa, kẻ thù tập trung phá hoại truyền thống văn hóa dân tộc, văn hóa cách mạng, các chuẩn mực đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa. Chúng tìm mọi phương thức để các sản phẩm văn hóa độc hại xâm nhập sâu vào nước ta. Chúng sử dụng các sản phẩm văn hóa đồi trụy, phản động để đầu độc quần chúng nói chung, đặc biệt là thế hệ thanh thiếu niên ở nước ta nói riêng, làm chuyển đổi giá trị thẩm mỹ, thị hiếu nghệ thuật, chuyển đổi các thang bậc giá trị xã hội theo chiều hướng xấu; âm mưu biến thế hệ trẻ thành công cụ và lực lượng xã hội chủ yếu trong thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của chúng.

Ngoài ra, “diễn biến hòa bình” còn tác động xấu đến đạo đức, lối sống nhân dân ta, đó là sùng ngoại, coi thường giá trị văn hóa của dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân, ích kỉ, ham muốn làm giàu không chính đáng, ham muốn quyền lực cực đoan… đã và đang phá hoại thuần phong mỹ tục của dân tộc ta. Khuynh hướng này hết sức nguy hiểm, có sức phá hoại mạnh, tác động trực tiếp đến tư tưởng, đạo đức, lối sống của nhân dân ta và về lâu dài sẽ ảnh hưởng rất lớn đến nền tảng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Tóm lại, nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn tinh vi xảo quyệt của các thế lực thù địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa đối với Việt Nam hiện nay là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Điều đó đòi hỏi các cấp, các ngành tích cực, chủ động đấu tranh phòng chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa trong tình hình mới một cách thường xuyên, liên tục và không khoan nhượng. Đây là yêu cầu, nhiệm vụ cấp bách và là trách nhiệm chính trị của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./. 

TIA CHỚP

NHỮNG ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ VỀ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ NHẰM VÀO THANH NIÊN

 


   Ở Việt Nam, thanh niên trong độ tuổi từ 16 đến 30 tuổi là một lực lượng đông đảo, chiếm khoảng 30% dân số. Đây là lực lượng dân cư có nhiều tiềm năng về sức khỏe, trí tuệ và khả năng thích nghi với sự thay đổi nhanh chóng của môi trường trong nước và quốc tế. Thanh niên Việt Nam nhìn chung đều có tinh thần nhiệt tình cách mạng, hăng hái, tiên phong, ham học hỏi, có tinh thần đổi mới, sáng tạo. Khi được dìu dắt, tập hợp, thanh niên dễ liên kết thành một khối thống nhất, đoàn kết. Tuy nhiên, do có những hạn chế nhất định về trình độ, kinh nghiệm sống nên thanh niên Việt Nam cũng dễ bị lôi kéo, kích động, thường dễ có tâm lý chán nản, bi quan trước những thất bại, vấp ngã đầu đời… Đây là những đặc điểm dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng.

   Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn coi trọng vai trò của thanh niên, coi thanh niên là “chủ nhân tương lai của đất nước”, “là rường cột của nước nhà”… Do đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng đã đặt nhiều kỳ vọng và luôn chăm lo đến việc giáo dục, rèn luyện cho đoàn viên, thanh niên. Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành một phần nói về thanh niên và căn dặn Đảng cần phải quan tâm đến việc giáo dục, bồi dưỡng thanh niên - thế hệ cách mạng cho đời sau. Người căn dặn: “ĐOÀN VIÊN VÀ THANH NIÊN ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Đây chính là sự tổng kết, đúc rút vô cùng quý báu của Người từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng Việt Nam nói chung và công tác thanh niên nói riêng, nhằm phát huy mọi tiềm năng to lớn của thanh niên trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc.

   Vì thế, khi các thế lực thù địch hướng đến thanh niên chính là nhằm phá hoại tương lai của đất nước ta; phá hoại niềm tin, sự kỳ vọng của Đảng, của Bác và của nhân dân dành cho thế hệ tương lai của nước nhà. Đây cũng là một âm mưu thâm độc mà các thế lực thù địch đã sử dụng, tấn công vào thanh niên các nước xã hội chủ nghĩa trước kia, nhằm “phá hủy lực lượng cộng sản tiềm năng không thể coi thường ở các nước xã hội chủ nghĩa”.

   Như vậy, sở dĩ các thế lực thù địch hướng đến thanh niên không chỉ là vì đặc điểm tâm lý, lứa tuổi của thanh niên, mà còn do thanh niên là chủ nhân tương lai của đất nước, luôn nhận được sự kỳ vọng của Đảng, Nhà nước và cả xã hội. Thời gian qua, các thế lực thù địch đã luôn coi thanh niên là đối tượng chủ yếu để tuyên truyền, lôi kéo, kích động. Nếu như tại các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, các thế lực thù địch lợi dụng các cách thức truyền thống, như dồn dập tung thông tin xuyên tạc với mục đích “mưa dầm thấm lâu” bằng tờ rơi, báo chí, phát thanh…, thì ngày nay, các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng các phương tiện truyền thông xã hội để tấn công vào thanh niên. Nhận thấy thanh niên là lực lượng chủ yếu sử dụng internet và các phương tiện truyền thông xã hội, các thế lực thù địch đã ra sức phát tán các bài viết, blog, hình ảnh, video clip bịa đặt, xuyên tạc, vu khống trên các kênh Youtube, Facebook,... Những âm mưu, nội dung chủ yếu mà các thế lực thù địch thường sử dụng để xuyên tạc, chống phá là:

   Thứ nhất, làm phai nhạt lý tưởng cao cả nhất của đoàn viên, thanh viên Việt Nam - lý tưởng cộng sản - bằng lấy sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu làm cái cớ để xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Cho đến nay, các thế lực thù địch vẫn luôn rêu rao rằng, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu là một “tất yếu lịch sử” vì bắt nguồn từ “sự lạc hậu, lỗi thời của bản thân chủ nghĩa Mác - Lê-nin”; và bởi “chủ nghĩa xã hội mà Mác nêu ra chỉ là một lý tưởng, một chủ nghĩa xã hội “không tưởng”, không bao giờ thực hiện được”. Họ cũng cho rằng, chủ nghĩa xã hội khoa học mà các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã xây dựng chỉ là một học thuyết “viển vông”, “ảo tưởng”... Những luận điệu đó được tung ra khắp nơi trên thế giới với các hình thức, trên các diễn đàn khác nhau nhằm phủ nhận bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Xuất phát từ sự xảo biện đó, họ cho rằng hiện nay, Việt Nam cần “tránh chỗ tối, tìm chỗ sáng” để “đi theo con đường tư bản chủ nghĩa”(?!). Những luận điệu này được tung ra nhằm làm lung lạc tinh thần, lung lay ý chí của thanh niên; khiến cho thanh niên hoài nghi về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam; từ đó, làm phai nhạt lý tưởng cộng sản, mất mục tiêu phấn đấu.

   Thứ hai, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam để làm suy giảm niềm tin của thanh niên đối với Đảng. Các thế lực thù địch xuyên tạc rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam có nhiều sai lầm trong quá khứ, dù quá khứ có làm được một số việc thì bây giờ chuyển sang thời kỳ mới, Đảng đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ sức để lãnh đạo đất nước”. Từ những hạn chế của công cuộc đổi mới, nhất là sự tụt hậu về kinh tế của Việt Nam so với các nước trong khu vực, các thế lực thù địch đã lên tiếng đổ lỗi cho Đảng ta lãnh đạo đất nước không hiệu quả nên cần phải “trả lại cho nhân dân Việt Nam quyền tự quyết định vận mệnh của chính mình và của đất nước”. Với danh nghĩa đứng về phía nhân dân, các thế lực thù địch đã khuyên nước ta cần phải đi theo mô hình “xã hội dân chủ”, thực hiện chính sách “chính trị đa nguyên”, “đa đảng đối lập”. Chúng còn xuyên tạc, phủ nhận những thành tựu của Việt Nam trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hòng làm cho thanh niên mất niềm tin vào Đảng, từ đó hoài nghi, dao động về lập trường tư tưởng, mất phương hướng.

   Thứ ba, các thế lực thù địch xuyên tạc bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, làm cho một bộ phận không nhỏ thanh niên có nhận thức sai lệch. Ngoài ra, các thế lực thù địch còn ra sức thổi phồng những thành tựu của chủ nghĩa tư bản hiện đại, tuyên truyền, cổ xúy lối sống phương Tây với những biểu hiện thực dụng, coi trọng các giá trị vật chất, lối sống cá nhân, vị kỷ,… nhằm làm cho thanh niên dễ bị lôi kéo, mua chuộc, dễ bỏ quên những giá trị truyền thống tốt đẹp, có biểu hiện “sính ngoại”, sẵn sàng vì lợi ích cá nhân mà đánh đổi lợi ích của tập thể, của dân tộc…

   Các thế lực thù địch đã “sử dụng khoảng 50 đài phát thanh, truyền hình, gần 400 tờ báo, tạp chí tiếng Việt, trong đó có khoảng 10 tờ có nội dung rất phản động, 66 nhà xuất bản để tuyên truyền, chống phá cách mạng Việt Nam, đưa một số lượng lớn tài liệu, sách báo, truyền đơn, băng hình… có nội dung phản động, đồi trụy vào Việt Nam, chỉ đạo bọn “bồi bút”, cơ hội viết nhiều bài xuyên tạc, bôi nhọ tình hình Việt Nam”.

   Thực tiễn cho thấy, một phần do ảnh hưởng từ mặt trái của kinh tế thị trường và do sự xuyên tạc, chống phá bằng những thủ đoạn tinh vi của các thế lực thù địch, không ít thanh niên đã có những biểu hiện phai nhạt lý tưởng, xa rời mục tiêu phấn đấu. “Do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, do sự bùng phát của lối sống thực dụng chạy theo danh lợi bất chấp đạo lý đã dẫn đến những tiêu cực trong xã hội ngày càng phổ biến. Những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội chưa được khắc phục, sự chống phá của các thế lực phản động quốc tế nhằm thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” đã tác động không nhỏ đến đời sống đạo đức công dân, ảnh hưởng lớn đến tâm tư, tình cảm, ý chí phấn đấu của sinh viên, thanh niên trí thức. Hậu quả là đã có một bộ phận thanh niên, trong đó có không ít sinh viên phai nhạt niềm tin, lý tưởng, mất phương hướng phấn đấu, không có chí lập thân, lập nghiệp; chạy theo lối sống thực dụng, sống thử, sống dựa dẫm, thiếu trách nhiệm, thờ ơ với gia đình và xã hội, sa vào nghiện ngập, hút sách, thiếu trung thực, gian lận trong thi cử, chạy điểm, chạy thầy, chạy trường, mua bằng cấp. Đây là những biểu hiện không thể coi thường. Thực trạng này không chỉ đe dọa trực tiếp đến cuộc sống, tương lai của thanh niên mà còn đến tương lai, vận mệnh của đất nước. Do đó, cần phải có những giải pháp hữu hiệu để đoàn kết, tập hợp thanh niên tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch hiện nay, góp phần bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng, bảo vệ thanh niên trước sự lôi kéo, mua chuộc, xúi giục của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị./.

BƯỚC ĐỘT PHÁ TRONG TƯ DUY LÝ LUẬN CỦA ĐẢNG TẠI ĐẠI HỘI XIII VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ


   Dựa vào nền tảng nguyên tắc của công tác xây dựng Đảng, với tư duy lý luận đột phá, đổi mới, sáng tạo của Đảng về công tác cán bộ - “then chốt của then chốt”; tất cả các khâu và các quy trình của công tác cán bộ đều được đổi mới. Công tác cán bộ được quan tâm một cách xứng tầm, thực sự là công việc “then chốt của then chốt”. Điều này giúp cho các cấp ủy nâng cao sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo để phát huy tốt hơn vai trò của mình trong nhiệm kỳ mới, xứng đáng hơn với niềm tin và kỳ vọng của nhân dân.

   Tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Để Nghị quyết của Đảng đi vào thực tiễn cuộc sống, việc nhận thức, quán triệt các quan điểm, tư duy lý luận của Đảng trong hệ thống các văn kiện và chỉ đạo tổ chức thực hiện là vấn đề vô cùng quan trọng đối với các cấp, các ngành và mỗi cán bộ, đảng viên.

   Bằng cơ sở lý luận khoa học, thực tiễn vững chắc, với “tất cả sự khiêm tốn của người cộng sản”, có thể khẳng định rằng: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Thật vậy, những thành tựu của đất nước những năm qua là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của dân tộc là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại. Tất yếu khẳng định rằng, tư duy lý luận đột phá, đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo. Trong phạm vi bài viết, chúng tôi xin đề cập vấn đề xây dựng Đảng về cán bộ, “then chốt của then chốt” - một trong những bước đột phá tư duy lý luận của Đảng tại Đại hội XIII.

     1. Đột phá về tách nội hàm cán bộ

   Không phải ngẫu nhiên, Đại hội XIII quyết định tách nội hàm cán bộ từ xây dựng Đảng về tổ chức, mà xuất phát từ yêu cầu, đòi hỏi cần tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, có chất lượng, ngang tầm nhiệm vụ; đồng thời, đây cũng là kết quả sự đúc kết từ những kinh nghiệm của công tác tổ chức xây dựng Đảng trong nhiều nhiệm kỳ, với nhiều cách làm mới, sáng tạo, hiệu quả.

   Thấm nhuần sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò của cán bộ và tầm quan trọng của công tác cán bộ “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” và “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt. Cán bộ là những người đem chính sách của Chính phủ, của Đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được”; suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đặc biệt quan tâm đến công tác cán bộ, coi đây là khâu “then chốt của then chốt” - nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

   Nhìn lại lịch sử của việc tách nội hàm trong công tác xây dựng Đảng, từ Đại hội III, Đảng ta đã xác định công tác xây dựng Đảng trên 3 mặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức. Và từ Đại hội III đến Đại hội XII bổ sung nội dung “xây dựng Đảng về đạo đức”. Khi xác định xây dựng Đảng trên ba mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức, nội hàm về đạo đức đã nằm trong nội hàm tư tưởng. Trước thực tiễn một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức lối sống, Đại hội XII đã quyết định tách nội dung đạo đức trong xây dựng Đảng về tư tưởng thành một nội hàm riêng. Nên Đại hội XII xác định xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, thực tế cho thấy công tác cán bộ có vai trò đặc biệt quan trọng, nên ngày 19/5/2018 Trung ương ra Nghị quyết 26-NQ/TW về công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ. Đây chính là “chiến lược về cán bộ của thời kỳ phát triển mới”.

   Theo đó, đến Đại hội XIII quyết định tách nội hàm cán bộ từ “xây dựng Đảng về tổ chức” ra riêng để tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, giải quyết vấn đề cán bộ: “Đặc biệt coi trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ - nội dung then chốt trong công tác xây dựng Đảng”. Chính vì vậy, Nghị quyết Đại hội XIII yêu cầu phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Đây là bước đột phá tư duy lý luận của Đảng trong nhìn nhận, cân nhắc vấn đề xây dựng Đảng với trọng tâm, trọng điểm là công tác cán bộ.

     2. Đột phá về phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ

   Tiếp tục thực hiện hai trọng tâm và năm đột phá xác định trong Nghị quyết 26-NQ/TW, nhất là đột phá “Hoàn thiện cơ chế để cán bộ, đảng viên thật sự gắn bó mật thiết với nhân dân và phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ”, Đại hội XIII khẳng định: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng”. Từ đó, Đảng yêu cầu, cán bộ phải tăng cường tiếp xúc, đối thoại, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân; chăm lo đầy đủ và sâu sát đến đời sống, lợi ích của nhân dân; xây dựng mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân; lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng viên.

   Đó là bước đột phá trong tư duy lý luận của Đảng về phát huy vai trò của Nhân dân tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ. Đúng vậy, công tác tổ chức xây dựng Đảng về cán bộ luôn là vấn đề hệ trọng, liên quan trực tiếp tới sự thành bại của cách mạng, sinh mệnh của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Hơn nữa, đây là nhiệm vụ rất khó khăn, hết sức tinh tế và nhạy cảm vì tác động đến tổ chức, con người, đòi hỏi những người làm công tác tổ chức xây dựng Đảng phải luôn nỗ lực, lao tâm khổ tứ, đau đáu, trăn trở, công tâm, trong sáng, giữ mình…, mới có thể hoàn thành được nhiệm vụ. Bài học thực tiễn sâu sắc từ việc tổng kết nhiệm kỳ 2015 - 2020, công tác xây dựng Đảng nỗ lực vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, gặt hái được nhiều thành tựu; đặc biệt có những cách làm mới, sáng tạo, quyết liệt, từ Trung ương đến cơ sở, mọi vấn đề hệ trọng trong công tác cán bộ đều xuất phát từ nhân dân.

   Với quan điểm chăm lo cán bộ phải từ gốc, ngay từ đội ngũ cán bộ cơ sở, những người hằng ngày, hằng giờ tiếp xúc và trực tiếp giải quyết những công việc liên quan tới lợi ích sát sườn của nhân dân, Tỉnh ủy Quảng Ninh sáng tạo, phát động từ cuối nhiệm kỳ 2010 - 2015 và tổ chức thực hiện thành công ở nhiệm kỳ 2015 - 2020 với mô hình 100% số bí thư chi bộ đồng thời là trưởng thôn, bản, khu phố trong toàn tỉnh, lựa chọn nhân sự theo phương thức: “Dân có tin rồi Đảng mới cử”. Cụ thể là, chọn những đảng viên được nhân dân tín nhiệm bầu làm trưởng thôn, bản, khu phố trước, rồi sau đó giới thiệu cho chi bộ bầu làm bí thư chi bộ. Sự tin cậy và hài lòng của người dân chính là hàn thử biểu đo chất lượng cán bộ, dựa vào nhân dân để lựa chọn và xây dựng đội ngũ cán bộ; đồng thời, “lòng dân” được đặt ở vị trí trước tiên, thể hiện sự tôn trọng nhân dân, xem nhân dân ở vai trò chủ thể, trung tâm của mọi quyết sách phát triển…

   Do vậy, đã hoàn thành mục tiêu 100% số bí thư chi bộ đồng thời là trưởng thôn, bản, khu phố, trên cơ sở thực hiện quy trình nhân sự “Dân tin - Đảng cử”. Đây là một giải pháp nhằm cụ thể hóa một cách sáng tạo các chủ trương, đường lối của Đảng, không chỉ tạo ra đợt sinh hoạt chính trị rộng khắp, ngày hội của toàn dân, mà quan trọng hơn chính là nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở và thúc đẩy, làm tốt hơn nữa việc thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở.

     3. Đột phá về “tinh hoa dẫn dắt” đất nước phát triển

   Đảng ta chỉ rõ, “tinh hoa dẫn dắt” đất nước, dân tộc là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược. Cán bộ cấp chiến lược có vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng, là những người chèo lái tuyến đầu con thuyền phát triển đất nước. Bởi vậy, trong Nghị quyết 26-NQ/TW, Trung ương đề ra chiến lược về cán bộ của thời kỳ phát triển mới, với những nội dung đặt ra về công tác cán bộ không chỉ thực hiện trong một thời gian ngắn, mà trong một thời gian dài, đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, với hàm ý chuẩn bị đội ngũ cán bộ chiến lược ngang tầm nhiệm vụ, đủ năng lực gánh vác trọng trách phát triển đất nước với những mục tiêu rất lớn được xác định ở cột mốc trọng đại năm 2030 (tròn 100 năm thành lập Đảng) và năm 2045 (tròn 100 năm thành lập nước). Từ đó, Đại hội XIII tiếp tục khẳng định: “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Hoàn thiện thể chế, quy định về công tác cán bộ, tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí, cơ chế đánh giá cán bộ. Xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu, là hạt nhân đoàn kết”.

   Việc xây dựng và quy hoạch cán bộ cấp chiến lược được làm lần đầu từ khoá XI. Qua tổng kết, rút kinh nghiệm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII tiếp tục thực hiện một cách căn cơ, bài bản, chặt chẽ hơn. Khác với các nhiệm kỳ trước, để chuẩn bị nhân sự khóa XIII, Ban Chấp hành Trung ương làm công tác quy hoạch từ rất sớm.

   Theo đó, công tác chuẩn bị nhân sự cấp chiến lược được quan tâm ngay từ đầu nhiệm kỳ khóa XII, được Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện, thường xuyên, chặt chẽ, bảo đảm đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, đoàn kết, thống nhất cao. Đồng thời tiến hành khoa học, bài bản, khách quan, toàn diện theo phương châm làm từng bước, từng việc, từng khâu; làm thận trọng, chặt chẽ, kỹ lưỡng, làm đến đâu, chắc đến đó.

   Công tác quy hoạch cán bộ cấp chiến lược gắn chặt với đào tạo, bồi dưỡng (Trung ương tổ chức 5 lớp cho cán bộ quy hoạch cấp chiến lược khóa XIII) và tiến hành luân chuyển (luân chuyển 27 bí thư tỉnh ủy không là người địa phương, tăng 11 người so với nhiệm kỳ trước) để rèn luyện. Có thể nói, sự khách quan, tư duy tầm chiến lược, mối quan hệ công tác với Trung ương của các nhân sự luân chuyển góp phần bổ khuyết tốt cho những mặt nào đó còn hạn chế của tập thể lãnh đạo các địa phương. Đồng thời, bản thân các cán bộ được luân chuyển cũng xác định đây là cơ hội để học tập, cọ xát, trui rèn qua thực tiễn để trưởng thành nên gắng sức, không quản gian khổ, “quăng mình” vào thực tiễn, công việc, giữ gìn chuẩn mực đạo đức, bước đầu đã có những đóng góp, cống hiến tốt, nên qua thời gian được đa số cấp ủy, cán bộ, đảng viên và Nhân dân địa phương ghi nhận, ủng hộ, phần nào giúp loại bỏ dần tư duy khép kín, cục bộ địa phương đã từng khá nặng nề.

   Với tư duy đột phá “Xây dựng quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ; thực hiện tốt quy định về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, chống chạy chức, chạy quyền; xử lý nghiêm minh, đồng bộ kỷ luật đảng, kỷ luật hành chính và xử lý bằng pháp luật đối với cán bộ có vi phạm, kể cả khi đã chuyển công tác hoặc nghỉ hưu”. Kết quả là, đội ngũ cán bộ cấp chiến lược được trẻ hóa, khi có tới 28 bí thư tỉnh ủy từ 50 tuổi trở xuống, tăng 15 người so với nhiệm kỳ trước.

   Đây là thế hệ cán bộ được học tập, đào tạo bài bản, bắt nhập nhanh với thời cuộc, thích ứng nhanh với khoa học - công nghệ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; tư duy sáng tạo, đổi mới, quyết đoán, dám làm, biết làm, đem đến làn gió mới, được kỳ vọng sẽ mang lại sự phát triển mới, đột phá cho các tỉnh, thành, đất nước trong giai đoạn phát triển tiếp theo.

   Tuy nhiên, đây cũng là những cán bộ nắm giữ các chức vụ quan trọng, nếu xảy ra những sai phạm, hậu quả sẽ khôn lường cho tổ chức. Do đó, việc xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược gắn chặt với việc kiểm soát quyền lực, chống “chạy chức”, “chạy quyền”, phòng, chống tham nhũng, lãng phí và tiêu cực. Giữ vững kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, đồng thời cũng cần có cơ chế khuyến khích, bảo vệ những cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, biết làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung…

   Như vậy, dựa vào nền tảng nguyên tắc của công tác xây dựng Đảng, với tư duy lý luận đột phá, đổi mới, sáng tạo của Đảng về công tác cán bộ - “then chốt của then chốt”; tất cả các khâu và các quy trình của công tác cán bộ đều được đổi mới. Công tác cán bộ được quan tâm một cách xứng tầm, thực sự là công việc “then chốt của then chốt”. Điều này giúp cho các cấp ủy nâng cao sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo để phát huy tốt hơn vai trò của mình trong nhiệm kỳ mới, xứng đáng hơn với niềm tin và kỳ vọng của nhân dân.

   Tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ tổ chức xây dựng Đảng năm 2018, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Càng ngày càng thấm thía cán bộ là cái gốc của công việc, là nguyên nhân của mọi nguyên nhân, do vậy cũng có thể nói nếu xây dựng Đảng là then chốt, thì công việc của ban tổ chức các cấp cũng là then chốt của then chốt. Nếu cái chốt này mà rắn chắc, cứng cáp thì công việc trôi chảy, suôn sẻ, nếu chẳng may cái chốt này nó mọt, nó trục trặc, thì không biết tình hình sẽ thế nào. Tôi chia sẻ với những khó khăn, thách thức mà các đồng chí đang phải đối mặt, song Đảng và nhân dân tin tưởng vào bản lĩnh, ý chí, quyết tâm, sự nỗ lực, sự cố gắng vươn lên của từng cấp ủy các cấp, cùng cán bộ làm công tác tổ chức xây dựng Đảng”./.


Thứ Sáu, 22 tháng 10, 2021

NGỤY SỬ, LẬT SỬ ĐANG HIỆN HỮU!

Mấy năm nay đang diễn ra những phát ngôn, ý định, quan điểm, và cả mưu mô viết sử, lật lại lịch sử! Đòi tôn vinh lính ngụy... Hai vấn đề rộ lên.

Công nhận ”Việt Nam cộng hoà” là một chế độ đã tồn tại trong lịch sử, bỏ cụm từ “ngụy quân”, “ngụy quyền”.

Vinh danh cho 74 binh sĩ ngụy quân chết trong trận Hải chiến Hoàng sa năm 1974.

     Cả hai vấn đề trên gắn với nhau đều nhằm mục đích lật sử để viết lại lịch sử với mưu mô sai trái, rất nguy hiểm.

    Nó diễn ra liên tục và ngày càng ráo riết. Ban đầu từ việc nói Lê Văn Tám là không có thật, rồi Pháp chiếm Việt Nam không phải xâm lược mà chỉ mượn Việt Nam làm bàn đạp để tiến công Trung Quốc. Khi viết bộ sử 15 tập họ đưa vấn đề công nhận chế độ Việt Nam cộng hoà, bỏ cụm từ “ngụy quân”, “ngụy quyền“ vào, hiện nay họ chủ trương quyết đưa vào bộ Quốc sử 30 tập đang viết. 

   Các vấn đề trên đều do các PGS, GS - TS ngành sử học đưa ra.

     Đặc biệt trong dịp kỉ niêm ngày chiến thắng 30 tháng 4 năm 2019, GS.TS Vũ Minh Giang - Phó chủ tịch HKHLS, quyền TBT bộ Quốc sử đã trả lời phỏng vấn báo chí. Trong các bài báo ông ấy nêu lên mấy vấn đề: Một là ông ta nhắc lại hiện nay có sự việc đấu tranh giữa một bên bỏ cụm từ “ngụy”... với một bên không bỏ. Hai là ông ta cho rằng kỷ niệm ngày 30/4 các Cơ quan truyền thông không nên bàn đến chuyện thắng - thua mà hãy cùng chung tay đoàn kết xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, có nghĩa là đừng có tổ chức lễ mừng chiến thắng nữa; ông cho rằng ta hoà giải với Mỹ dễ hơn với người phía bên kia . Từ những vấn đề đó ông có ngụ ý rằng những người đã từng cầm súng chống Mỹ cứu nước thì việc bỏ thù hận là khó đối với họ...

   Ông ta nói cuộc chiến tranh vừa qua là giữa người Việt Nam với nhau, có sự hiện điện của bên thứ ba là người Mỹ , tức là Việt Nam dân chủ cộng hoà xâm lược Việt Nam cộng hoà, Mỹ tham gia ủng hộ Việt Nam Cộng Hoà . Có nghĩa là không có cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước mà chỉ có cuộc nội chiến.

     Trước hết nói về bỏ cụm từ “ ngụy quân” , “ngụy quyền” trong viết sử là trái với tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Vấn đề này đã có rất nhiều bài viết phân tích rồi.

    Chính Ngô Đình Diệm đã phá hoại hiệp định Giơnevơ, bác bỏ tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Lê máy chém đi khắp miền Nam giết hại hơn hai mươi vạn đồng bào chiến sĩ yêu nước, dìm nhân dân miền Nam trong biển máu. Diệm lập nên chế độ Việt Nam cộng hoà, mở đường cho Mỹ vào gây ra cuộc chiến tranh xâm lược tàn khốc nhất trong lịch sử nhân loại, hàng triệu người hi sinh, mấy triệu sinh mạng người Việt Nam cả hai bên đã ngã xuống, đó là tội lỗi của Diệm và chính quyền tay sai bán nước.

  Bà Nguyễn Thị Bình - Bộ trưởng / Bộ ngoại giao của chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam đã công bố với thế giới rằng: Chúng tôi không đàm phán với Việt Nam cộng hoà, vì nó là chế độ tay sai bán nước.

   Lời của Bác Hồ, lời của BT Nguyễn Thị Bình, tội ác của Ngô Đình Diệm và bè lũ tay sai, ai cũng thấy. Nếu coi Việt Nam cộng hoà là một chế độ tồn tại trong lịch sử thì phải nói nó là “một chế độ tay sai bán nước”. Đương nhiên chính quyền là “ngụy quyền”, quân đội là “ngụy quân”.

   Nguyễn Văn Thiệu không muốn ký hiệp định Pa ri. Khi buộc phải ký, hiệp định chưa ráo mực, Thiệu đã mở chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ”, xua quân tiến công lấn chiếm vùng giải phóng của ta, phá bỏ hiệp định Pa ri, phá bỏ việc thống nhất đất nước. Khi ta phản công, tiến công, nguy cơ thất bại, Nguyễn Văn Thiệu với cương vị tổng thống “Việt Nam cộng hoà” kêu gọi người Mỹ ném bom hủy diệt Việt Nam. Trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, một viên tướng của Pháp cũng đào tẩu sang Đức, nhưng cũng không dám kêu gọi Đức ném bom hủy diệt nước Pháp, thế mà Thiệu dám làm, không gọi ông ta là tổng thống ngụy quyền Sài Gòn thì gọi là cái gì hỡi các vị giáo sư lật sử.

Một điều hết sức ấu trĩ phát ra từ miệng vị GS-TSKH này là: hai phía bên nào cũng nói mình là yêu nước là hợp pháp, là chính nghĩa .Không hiểu ông ta có biết gì về lịch sử hai cuộc kháng chiến đầy khó khăn gian khổ, vô cùng ác liệt, hy sinh vô cùng lớn lao không?

  Chúng tôi cùng tuyệt đại những người yêu chế độ này đã phản bác các quan điểm sai trái của các ông Trần Đức Cường , Nguyễn Nhã, Nguyễn Mạnh Hà và nay là ông Vũ Minh Giang... 

Chúng tôi khẳng định những quan điểm lập luận như: bỏ để cho khách quan; bỏ để mọi người dễ chấp nhận; bỏ để tránh miệt thị, tránh biểu cảm; bỏ để có cơ sở pháp lý đòi lại Hoàng Sa, Trường Sa; bỏ để hoà giải, hoà hợp dân tộc; bỏ vì VNCH là một quốc gia độc lập được Liên Hiệp quốc công nhận, họ song song tồn tại cùng VNDCCH; Tất cả những lập luân đó chúng tôi đã phân tích ở trên và phản bác, khẳng định nó là một cách ngụy biện để vực dậy cái thây ma đã thối rữa cách đây đã 44 năm. 

Nhìn ra bên ngoài để ngẫm đến ta.

Năm 1987, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô

Goocbachop đã khởi xướng một trào lưu tư tưởng mang tên “suy ngẫm lại lịch sử”, họ mở một chiến dịch công kích Stalin, họ mô tả Ông như một tên tội phạm khét tiếng...Họ phủ nhận thắng lợi của chiến tranh Vệ quốc... Ngày ấy báo chí của ta cũng đăng tin lại y nguyên, làm cho nhân dân ta cả cán bộ đảng viên từ chỗ rất tôn trọng Stalin, một lãnh tụ tài giỏi có công lao rất lớn trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đai của nhân dân Liên Xô, nay cũng có cái nhìn khác đi, thậm trí có người còn khinh bỉ. Sau khi Liên Xô tan rã, tôi sang Nga 3 lần, đều đến thăm lăng Lê Nin, được nghe giới thiệu khá kỹ. Khi Xtalin mất, thi hài của ông được đưa vào lăng đặt cạnh thi hài Lê nin. Năm 1961 thời kì xét lại họ định đưa thi hài ông ra khỏi lăng mai táng ở vùng nông thôn xa xôi. Do sự đấu tranh của những người cộng sản, cuối cùng thi hài ông bị đưa ra khỏi lăng và đặt tại cạnh bức tường điện Kremli cùng với các nhà lãnh đạo Liên Xô khác. Tôi đã đến thăm viếng mộ Xtalin.

Tháng 3-1988, báo Nước Nga Xô-viết đăng bức thư của Nina Andreyeva, nữ giảng viên ở Học viện Khoa học kỹ thuật Leningrad lên án trào lưu suy ngẫm lại lịch sử, chỉ rõ nó thực chất là dòng nước ngược, bôi đen Liên Xô xã hội chủ nghĩa (XHCN).

Thế nhưng, thay vì ủng hộ ý kiến tâm huyết này, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô triệu tập hội nghị khẩn cấp để đáp trả “thế lực chống đối cải tổ”. Ngày 5-4-1988, Báo Sự Thật đăng bài phản kích Nina Andreyeva. Sau đó, các cơ quan báo chí đồng loạt phản kích. Toàn bộ lịch sử Liên Xô có cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đai, một nước XHCH hùng cường bị miêu tả như một mớ đen ngòm. Sang năm 1989, trào lưu chuyển sang phê phán, phủ định Cách mạng Tháng Mười, Chủ nghĩa Mác Lênin và chính Lênin, họ bãi bỏ môn học Chủ nghĩa Mác-Lênin trong trường học. Cơn lốc xét lại lịch sử ngày càng lan rộng và bùng lên mạnh mẽ, lôi cuốn toàn bộ xã hội. Một số tờ báo và tạp chí cấp tiến, như: Họa báo, Tia lửa và Tin tức Moscow công khai phủ định quá khứ, phủ định lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô, phủ định thành quả của cách mạng Tháng Mười, phủ định CNXH.

Sau này vào năm 1994, nhà văn Boldarev đã nhìn lại: “Trong 6 năm, báo chí đã thực hiện được mục tiêu mà quân đội châu Âu có trang bị tinh nhuệ nhất cũng không thể thực hiện được khi xâm lược nước ta bằng lửa và kiếm vào những năm 40. Quân đội đó có thiết bị kỹ thuật hàng đầu nhưng thiếu một thứ. Đó là hàng triệu ấn phẩm mang vi trùng”. Những cuộc hội thảo rầm rộ nhằm xem xét lại vai trò của V.I.Lênin và Hồng quân trong chiến tranh vệ quốc, xuyên tạc, bóp méo lịch sử, bôi nhọ các gương anh hùng cách mạng. Khi hình tượng V.I.Lênin bị đánh sụp, tượng đài Lênin ở một số nơi bị kéo đổ, họ đòi đưa thi hài Lê nin ra khỏi lăng, thì Đảng cũng tự đào hố chôn mình và đó cũng là lúc Gỏbachev kẻ phản bội tuyên bố giải tán Đảng Cộng sản Liên Xô dẫn đến sự tan rã của Liên bang Cộng hòa XHCN Xô viết. Một sự kiện sau này được Tổng thống Nga Vladimir Putin thừa nhận đó là cơn địa chấn khủng khiếp, là thảm họa của thế kỷ 20. 

Đau xót, cay đắng trước sự công phá khủng khiếp của trào lưu xét lại lịch sử, năm 1991 nhà thơ Tố Hữu đã viết bài thơ có đoạn: 

“Cả đàn sói chồm lên, cắn vào lịch sử

 Cào chiến công, xé cả xác anh hùng

 Ôi! Nỗi đau này là nỗi đau chung

 Lương tâm hỡi, lẽ nào ta tự sát?

 Lũ phản bội, điên cuồng, hèn nhát.

 Và cả bay quân cướp nước, giết người.

Chớ vội cười! Chân lý vẫn xanh tươi …”.

Ngẫm lại trào lưu xét lại lịch sử ở Liên Xô trước đây để thấy, ở Việt Nam chúng ta mấy năm nay manh nha xuất hiện trào lưu này và ngày càng táo tợn hơn của một nhóm các nhà sử học có vị thế . Nhiều kẻ mang danh là nhà khoa học, người có uy tín lên mạng công khai phủ nhận thành quả của cuộc Cách mạng tháng 8, hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Càng đau xót hơn khi nhiều người trong giới trẻ hiện nay nhìn nhận cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của chúng ta là cuộc chiến "nồi da nấu thịt", gọi chiến thắng 30/4 là "tháng tư đen"; phủ nhận sự hi sinh của hàng triệu anh hùng liệt sỹ và đồng bào cả nước nhằm giành quyền độc lập, tự do cho dân tộc. 

Chiến thắng 30 tháng 4 là kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thần thánh của dân tộc ta, sau ba mươi năm kháng chiến chống ngoại xâm vô cùng oanh liệt. Người trước ngã người sau đứng lên, cả dân tộc đứng lên giành độc lập tự do, thống nhất đất nước. Nay họ đang phủ nhận và gieo nọc độc cho lớp lớp thế hệ trẻ trong tương lai. Ngẫm lại mới thấy hậu quả tai hại của thế hệ trẻ ghét lịch sử, yêu văn hóa lai căng lớn như thế nào!

Cuộc kháng chiến thần thánh vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc mới chỉ kết thúc có hơn 40 năm, vết tích của cuộc chiến vẫn còn đọng lại trên đôi mắt, trong tâm trí và trên cánh tay của hàng chục vạn thương binh trên khắp mọi miền tổ quốc này, mà họ đã dám phát ra những ý kiến như vậy. Thử hỏi vài năm nữa đây, khi những cựu chiến binh thế hệ chống Mỹ ra đi, liệu còn ai đứng ra bảo vệ lịch sử, chống lại đám xét lại đang hoành hành ngày càng lớn trên báo chí hiện nay!

    Còn với cách nhìn của ông Giang là phó chủ tịch Hội KH LS, quyền TBT bộ quốc sử 30 tập đã phát biểu, hỏi xem các ông viết sử cho ai ? Phục vụ chế độ nào, dân tộc nào?. Nếu viết cho dân tộc Việt Nam sao ông không bàn đến chuyện ta thắng Mỹ , không bàn đến chuyện Mỹ thua Việt Nam thì các ông viết cái gì ?

     Cũng cách lập luận như vậy, họ có dám nói từ nay truyền thông cũng không bàn đến chuyện thắng - thua khi nói đến Chiến thắng Điện Biên Phủ , đánh bại Thực dân Pháp , đến Đại thắng quân Xiêm ở Rạch Gầm , Xoài Mút ; đến Đại thắng quân Thanh ở Đống Đa Ngọc Hồi , đến Đại thắng quân Nguyên , quân Minh , quân Tống ...Nếu ông cùng Hội KHLS dám nói và khẳng định các ông nói đúng thì các ông sẽ còn gì để viết sử và viết sử như các ông có cần cho Dân Tộc này nữa không. Viết sử phải đúng lịch sử diễn ra, chứ không phải sáng tác ra sử theo ý muốn chủ quan của một nhóm người muốn lật sử.

Hãy xâu chuỗi những sự kiện gắn với các bài nói, bài viết, các bộ sử đã và đang viết của các nhà nghiên cứu lịch sử trong mấy năm gần đây cho thấy, xu hướng xét lại lịch sử là có thật, nó là một nguy cơ diễn biến hoà bình đang trở thành hiện thực.

Với cán bộ, đảng viên, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã chỉ rõ: “Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh đạo tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước” là 1 trong 9 biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ. Từ thưc tế hiện nay cho thấy sự nguy hiểm của biểu hiện này được phát ra từ những nhà sử học.

Không được coi nhẹ mối hiểm họa này!

  Vấn đề tôn vinh cho 74 binh sĩ Việt Nam cộng hoà chết ở Hoàng Sa.

 Trong những năm hoạt động, các con tàu không số vượt biển đi qua khu vực biển Hoàng Sa, nhiều tàu chiến của hải quân ngụy từ căn cứ Đà Nẵng, từ quần đảo Hoàng Sa đã ra ngăn chặn, bắn chìm một số tàu, giết hại nhiều cán bộ chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam. Trong đó con tàu mang số hiệu HQ10 của hải quân ngụy Sài Gòn đã bị bắn chìm tại Hoàng Sa ngày 17/1//1974 cùng với 74 binh sĩ tử trân, con tàu và những binh sĩ này đã gây ra rất nhiều tội ác với các chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam. Trong trận hải chiến Hoàng Sa, lực lượng hải quân của quân ngụy Sài Gòn mạnh hơn rất nhiều so với Trung Quốc. Do sự bạc nhược hèn nhát đã tự bắn vào nhau, bỏ chạy nên để mất hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa.

Hiện nay có một số người, báo Thanh niên, kênh truyền hình VTC14 đang tuyên truyền đòi tôn vinh cho 74 binh sĩ ngụy này. Những binh sĩ ngụy này đã làm gì để được tôn vinh. Ngay chính người trong cuộc cũng không ca ngợi mà còn phê phán cơ mà.

Họ đòi tôn vinh 74 binh sĩ ngụy bạc nhược, hèn nhát với mục đích gì. Đây chính là một sự đồng điệu với mưu mô công nhận chế độ Việt Nam cộng hoà, bỏ cụm từ “ ngụy quân “, “ ngụy quyền”.

Ngụy sử đang lật sử nằm trong âm mưu lật đổ chế độ là một âm mưu nguy hiểm đang hiện hữu, nhưng chưa được quan tâm ngăn chặn kịp thời và đúng mức.

Hãy xem bài học Liên Xô trước đây./.


Yêu nước ST.