Chủ Nhật, 24 tháng 10, 2021

F0 bất ngờ tăng, Nghệ An họp khẩn với hai địa phương

 Trước tình hình dịch bệnh đang diễn ra khá phức tạp trên địa bàn thành phố Vinh và huyện Nghi Lộc, Ban chỉ đạo phòng, chống dịch Covid-19 tỉnh Nghệ An đã tiến hành họp khẩn với hai đơn vị này.

Ngày 24/10, PGS.TS Dương Đình Chỉnh - Giám đốc Sở Y tế - Phó Chỉ huy phòng, chống dịch Covid-19 đã làm việc với thành phố Vinh và huyện Nghi Lộc.

Theo báo cáo từ CDC Nghệ An, từ ngày 15/10 đến nay, thành phố Vinh xuất hiện 55 ca F0; huyện Nghi Lộc có 11 F0.

F0 bất ngờ tăng, Nghệ An họp khẩn với hai địa phương - 1

Nhấn để phóng to ảnh

PGS.TS Dương Đình Chỉnh - Giám đốc Sở Y tế - Phó Chỉ huy phòng, chống dịch Covid-19 tỉnh Nghệ An làm việc với thành phố Vinh và huyện Nghi Lộc (Ảnh: Thành Trung).

Sau khi xuất hiện các ca F0, thành phố Vinh và huyện Nghi Lộc đã khẩn trương truy vết, khoanh vùng, lấy mẫu xét nghiệm, cách ly các trường hợp liên quan và phong tỏa, cách ly các khu vực. Đến thời điểm này, đã tiến hành lấy mẫu sàng lọc cộng đồng lần thứ 2 tại khu vực phong tỏa để bóc tách F0.

Ông Dương Đình Chỉnh cho biết, hiện nay, dịch tại thành phố Vinh rất phức tạp, nhưng đang trong tầm kiểm soát, các ca F0 vẫn tiếp tục xuất hiện thông qua sàng lọc cộng đồng…

F0 bất ngờ tăng, Nghệ An họp khẩn với hai địa phương - 2

Nhấn để phóng to ảnh

Cán bộ y tế phường Đông Vĩnh đến tận các gia đình có người già, nằm một chỗ để lấy mẫu làm xét nghiệm (Ảnh: Nguyễn Duy).

"Một thực tế hiện nay khi chuyển trạng thái phòng, chống dịch để "Thích ứng, an toàn, linh hoạt, hiệu quả" theo Nghị quyết 128 của Chính phủ, đòi hỏi các địa phương phải chủ động xây dựng phương án chống dịch mới, phù hợp, trong đó phải xem việc "chăm sóc, bảo vệ sức khỏe người dân là hàng đầu", vừa chống dịch, vừa phát triển kinh tế. Việc thực hiện xét nghiệm phải nhanh chóng kịp thời để đảm bảo việc phòng, chống dịch hiệu quả", ông Chỉnh chia sẻ .

Để sớm kiểm soát dịch bệnh, Giám đốc Sở Y tế Nghệ An đề nghị thành phố Vinh và huyện Nghi Lộc khẩn trương truy vết các đối tượng liên quan, lấy mẫu, xét nghiệm, cách ly theo quy định, tuyệt đối không được bỏ sót F1. Quản lý chặt chẽ các khu vực phong tỏa, cách ly, "nội bất xuất, ngoại bất nhập" để tránh dịch lây lan ra các địa phương khác.

Các xã, phường còn lại, đề nghị tiếp tục tuyên truyền người dân có các triệu chứng bất thường: Ho, sốt, khó thở… cần đến Trạm Y tế để lấy xét nghiệm sàng lọc F0.

KỶ NIỆM NGÀY SINH CỐ THƯỢNG TƯỚNG HOÀNG MINH THẢO TƯ LỆNH CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN (25/10/1921-25/10/2021).

 Chiến dịch Tây Nguyên (bắt đầu từ 4-3 đến 3-4-1975), mật danh: Chiến dịch 275, là chiến dịch mở đầu cho cuộc Tổng tiến công mùa xuân năm 1975 của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Chiến dịch Tây Nguyên do cố Thượng tướng Hoàng Minh Thảo là Tư lệnh chiến dịch.

Chiến dịch Tây Nguyên với trận Buôn Ma Thuột là trận đánh then chốt, mở đầu của chiến dịch tiến công Tây Nguyên năm 1975; đồng thời là trận đánh mở màn, đòn điểm huyệt chính dẫn đến sự chấm dứt chiến tranh Việt Nam (1954 – 1975) chỉ trong 55 ngày.

Khi viết cuốn sách “Tìm hiểu tổ tiên ta đánh giặc” năm 1971 ngay tại chiến trường Tây Nguyên, Giáo sư – Thượng tướng Hoàng Minh Thảo đã sớm nhận ra chỗ yếu và hiểm yếu của chiến trường Tây Nguyên.

Đến năm 1973, khi ra Bắc họp ông đã đề nghị với Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp về việc đánh Buôn Ma Thuột, chi tiết lịch sử này đã được ghi lại trong cuốn hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng – trang 126: “Trong buổi làm việc, anh Hoàng Minh Thảo với nhãn quan một nhà nghiên cứu khoa học quân sự đã nêu ý kiến: Khi đã chọn hướng chiến lược là Tây Nguyên thì trước hết nên đánh Buôn Ma Thuột, vì đây là thị xã lớn nhất, là nơi hiểm yếu và cũng là nơi sơ hở nhất. Khó khăn phải vượt qua để tiến công trên hướng này là thiếu đường hành quân và thiếu nước. Tôi rất tán thành. Sau này ý kiến đó của ông được Bộ Chính trị, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu đồng tình chấp nhận".

Thực hiện kế nghi binh lừa địch, khi Sư đoàn 10 đã tiến về Đức Lập, phía Nam Buôn Ma Thuột, Sư đoàn 320 đã tiến về Ea H’leo, Bắc Buôn Ma Thuột thì ta thực hiện đánh chia cắt chiến lược và chia cắt chiến dịch ở Tây Nguyên chuẩn bị cho việc “trói địch lại mà diệt”. Ta đánh cắt đứt đường 19, đường 14, rồi tiếp đến là đường 21 làm cho Buôn Ma Thuột hoàn toàn bị cô lập.

Thế trận đã giăng. Sư đoàn 23 ngụy bị trói chân ở Pleiku – Kon Tum, các đơn vị tổng dự bị chiến lược của địch bị ghìm ở hai đầu Nam Bắc (tức Huế – Đà Nẵng và Sài Gòn). Đây là một mưu kế chiến lược sáng suốt, nhìn xa trông rộng của Bộ Tổng tư lệnh. Thời cơ để ta hạ quyết tâm tiến công Buôn Ma Thuột đã đến. Với sức mạnh từ ba sư đoàn của các binh chủng hợp thành táo bạo và bất ngờ tiến công thẳng vào thị xã Buôn Ma Thuột.

Ngày 10-3-1975, khi những chiếc xe tăng của bộ đội ta đã cán xích trên đường phố Buôn Ma Thuột lúc đó viên tướng ngụy Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2 kiêm Tư lệnh vùng 2 chiến thuật mới biết tin. Ông ta tái mặt, choáng váng thất kinh vì đã quá muộn, ta đã làm chủ hoàn toàn Buôn Ma Thuột. Tổng thống ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh: “Phải giữ Buôn Ma Thuột bằng bất cứ giá nào”. Do đường 14 là đường bộ duy nhất nối liền Pleiku với Buôn Ma Thuột đã bị Sư đoàn 320 cắt đứt và chiếm giữ, nên Sư đoàn 23 ngụy muốn thực hiện phản kích chỉ còn cách đi bằng máy bay trực thăng, đổ quân vào nơi ta dự kiến.

Thế trận ta đã bày sẵn, Sư đoàn 10 và Trung đoàn 25 của ta liên tiếp đánh bại bốn trận phản kích của địch ở đường 21 phía Đông Buôn Ma Thuột, Sư đoàn 23 ngụy, con “át chủ bài” đã cơ bản bị xóa sổ, những cố gắng và hy vọng chiếm lại Buôn Ma Thuột của địch đã bị dập tắt.

Ngày 14-3-1975, Nguyễn Văn Thiệu và Bộ Tham mưu ngụy đã quyết định rút bỏ Tây Nguyên và ra lệnh: Tùy nghi di tản; cho quân rút về co cụm ở đồng bằng ven biển miền Trung để bảo toàn lực lượng. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã dự kiến tình huống này và đã chỉ thị cho các đơn vị đón đánh tiêu diệt chúng. Cuộc rút chạy của quân địch đã gây ra hoảng loạn “đột biến”. Sư đoàn 320 vẫn kịp thời truy kích, kết hợp với các lực lượng vũ trang tỉnh Phú Yên đã tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch rút chạy và bắt cả viên chỉ huy cuộc hành quân rút chạy này ngay tại thị xã Tuy Hòa.

Thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên đã mở ra “thời cơ chiến lược lớn” thừa thắng chuyển sang tổng tiến công và nổi dậy quân dân ta tấn công xuống đồng bằng ven biển miền Trung. Đại quân ta ào ào như thác đổ tiến về Sài Gòn tiêu diệt toàn bộ bộ thống soái của địch, kết thúc cuộc Tổng tiến công mùa xuân 1975 đại thắng, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Vị tướng chỉ huy trận đánh Buôn Ma Thuột lịch sử là Nhà giáo nhân dân, Giáo sư - cố Thượng tướng Hoàng Minh Thảo.

Từ nhãn quan một nhà nghiên cứu quân sự, ông đã chọn hướng chiến lược là Tây Nguyên – nơi hiểm yếu là Buôn Ma Thuột và trực tiếp chỉ huy, đề ra nguyên lý: “Mưu sinh ra kế, thế đẻ ra thời. Đánh bằng mưu kế, thắng bằng thời thế”, đó là những tinh hoa của nghệ thuật quân sự Việt Nam.
-------------
Phùng Tiến st



Khẩn trương hoàn thiện dự thảo Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội bảo đảm hiệu quả, khả thi

 

Khẩn trương hoàn thiện dự thảo Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội bảo đảm hiệu quả, khả thi

Chiều ngày 24/10, Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì cuộc họp của Thường trực Chính phủ cho ý kiến về dự thảo Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội.

Tại cuộc họp, các đại biểu đã tập trung thảo luận, phát biểu có trách nhiệm, tâm huyết, cho ý kiến về kết cấu dự thảo; phân tích bối cảnh, tình hình, các bài học kinh nghiệm, sự cần thiết ban hành chương trình; phạm vi, quy mô, thời gian, quan điểm, mục tiêu, phạm vi, giải pháp, nguồn lực… thực hiện chương trình.

Thủ tướng yêu cầu chương trình phải có phạm vi đủ rộng, quy mô đủ lớn, thời gian đủ dài, trên cơ sở bám sát Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2021-2025 và Chương trình phát triển kinh tế - xã hội năm 2022.

Thủ tướng đề nghị tinh thần là đánh giá, dự báo tình hình phải đúng, sát thực tế, khách quan, trung thực, phải dựa trên số liệu thống kê có độ tin cậy cao. Đồng thời, đánh giá những việc đã triển khai, các bài học kinh nghiệm, kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách hỗ trợ người dân và doanh nghiệp, tháo gỡ khó khăn, phục hồi và thúc đẩy  sản xuất, kinh doanh trong thời gian qua…

Chương trình cần tập trung trọng tâm, trọng điểm vào một số vấn đề theo hướng như sau:

Cần nâng cao năng lực y tế để thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh COVID-19, đặc biệt quan tâm y tế dự phòng, y tế cơ sở, vaccine và các biện pháp điều trị; nâng cao ý thức người dân trong phòng chống dịch…

Về các vấn đề an sinh xã hội, cần quan tâm đến khôi phục và phát triển thị trường lao động, giảm nghèo bền vững. Thủ tướng nhấn mạnh, để bảo đảm an sinh xã hội, cần dựa trên 3 trụ cột chính: Giảm thiểu rủi ro thông qua bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; khắc phục rủi ro thông qua bảo trợ xã hội, giảm nghèo bền vững, chính sách cho người có công; phòng ngừa rủi ro trên cơ sở tạo việc làm bền vững, năng suất cao, phục hồi và phát triển thị trường lao động, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Cùng với đó là chương trình hỗ trợ, phục hồi doanh nghiệp, hợp tác xã; chương trình phát triển hạ tầng chiến lược.

Thủ tướng nhấn mạnh yêu cầu giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, cân đối cung cầu, quản lý rủi ro, cũng như giải pháp khơi thông các nguồn lực, khai thác tối đa tiềm năng khác biệt, cơ hội nổi trội, lợi thế cạnh tranh của đất nước. 

Tăng cường năng lực quản trị quốc gia, tiếp tục hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính, đẩy mạnh phân cấp phân quyền đi đôi với bố trí nguồn lực và tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Tính toán, huy động và phân bổ các nguồn lực, điều chỉnh linh hoạt chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm các cân đối lớn, kiểm soát lạm phát…

Thủ tướng đề nghị cơ quan chủ trì tiếp thu ý kiến các đại biểu và tiếp tục tham khảo ý kiến của các cơ quan liên quan về dự thảo Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế xã hội, khẩn trương hoàn thiện, trình các cấp có thẩm quyền sớm nhất có thể, đặc biệt lưu ý phải đảm bảo tính hiệu quả, khả thi, tạo được sự đồng thuận cao./.

 

DỌN ĐƯỜNG XÉT LẠI LỊCH SỬ!

Nhằm đạt mục đích cuối cùng là xoá bỏ vai trò lãnh đạo của ĐCS và lật đổ chế độ XHCN ở Việt nam. Sau khi âm mưu " chuyển lửa về quê nhà " thất bại trên đất nước ta. Bằng nhiều thủ đoạn lưu manh, thâm độc, những năm 90 của thế kỷ XX giới sử học "cấp tiến " đã liên minh chặt chẽ với các thế lực chống cộng trong và ngoài nước mở hàng loạt chiến dịch lũng đoạn, phá hoại tư tưởng niềm tin người dân vào vai trò của Đảng với Lịch sử truyền thống dân tộc.  Chiêu trò đánh tráo khái niệm, cào bằng Lịch sử từng bước có hiệu quả trên khắp cả nước. Bị người dân và cộng đồng mạng yêu nước chân chính, kịch liệt lên án phản đối cái gọi là góc " nhìn mới " về  lịch sử của các nhà lật sử, ( được giới học giả cực đoan lưu vong tâng bốc là " nhà sử học chánh thống")

Để thăm dò dư luận và dọn đường cho âm mưu dựng dậy thây ma ngụy quyền Sài gòn, để đặt ngang hàng với chính quyền VNDCCH..Và tẩy trắng tội ác làm tay sai cho Đế quốc Mỹ chống lại nhân ta...và xóa sạch tội ác của ĐQ Mỹ và chư hầu trong chiến tranh Việt nam 1954-1975.


Họ vụ cáo các nhà Sử học Việt Nam trước đây sai lầm trong vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng đã sa vào chủ nghĩa giáo điều, máy móc, từ đó phủ nhận tất cả Công lao của nhà Nguyễn. Làm cho  di sản lịch sử ,văn hóa dân tộc đã bị hủy hoại, là một trong những lỗ hổng của lịch sử VN . Nên đòi hỏi người làm sử hôm nay phải đánh giá lại một cách khách quan và đầy đủ hơn?

Với cách nhìn bệnh hoạn đó.Ngay từ những năm 80, 90 của thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI. Với uy quyền của Viện trưởng  Viện Sử học Việt Nam, Gs Phan Huy Lê cùng với Dương Trung Quốc, tổng thư ký HKHLS VN,  GS Huỳnh Lứa, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử TP HCM, PGS TS Võ Xuân Đàn và Ông Nguyễn Hạnh , Phó Tổng Biên tập Tạp chí Xưa & Nay và cựu học sinh trường Phan Thanh Giản, Bến tre định cư ở nước ngoài, Tổ chức nhiều cuộc hội thảo tọa đàm phục hồi, rửa nhục cho " Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn.  Trong đó có nhiều Hội thảo và toạ đàm đã đánh giá lại nhân cách, công lao, cuộc đời, sự nghiệp của Phan Thanh Giản, Nguyễn Ánh và Trương Vĩnh Ký ?


Ngày 20/01/2008, Viện Sử học VN ra văn bản quyết định công nhận Nguyễn Ánh, Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký là danh nhân, đại học sỹ yêu nước, có những đóng góp xứng đáng về chính trị, ngoại giao, văn hóa cho đất nước. 


Ngày 24/01/2008 Cục Di sản Văn hoá ra chỉ thị kiểm kê, phục dựng, trùng tu các di tích văn hoá liên quan đến Phan Thanh Giản. Cho phép Tỉnh Bến Tre, Đồng tháp lập đền thờ, dựng tượng Phan Thanh Giản,Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Ánh.

Ngày 14/10/2009 Cần Thơ, tổ chức Hội thảo lấy tên Phan Thanh Giản thay cho tên trường Châu Văn Liêm. 

Những cuộc hội thảo, tọa đàm này là mũi dao đâm thẳng vào trái tim dân tộc, giới sử học chân chân chính và nhân dân Việt Nam. Ngược lại, đây là niềm vui vỡ oà của giới sử học, học giả, các tổ chức phản quốc lưu vong, CCCĐ tại Mỹ, Úc, Canada... ghi ơn  các nhà sử học " Chánh thống " đồng hành, kiên trì giải oan cho các " đại học sỹ và danh nhân yêu nước hơn 150 năm oan nghiệt."              


Sau những Hội thảo, tọa đàm " đột phá-chạy tội" cho chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn cùng với việc cho phép lập đền thờ,dựng tượng ác nhân, tội đồ Nguyễn Ánh, Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký tại một số tỉnh Nam bộ, đã gây nhức nhối, bức xúc cao độ trong truyền thông chính thống, các tầng lớp nhân dân nặng lòng với lịch sử dân tộc.


Trước làn sóng phản bác của truyền thông chính thống, học giả và nhà sử học chân chính, buộc Viện sử học và cục Di sản  tạm dừng cấp phép gắn tên Phan Thanh Giản cho một số trường học, thay tên các anh hùng dân tộc.

 Thế nhưng chỉ một cuộc điện của Ts Huỳnh Long Vân từ Úc châu cho Ông TS Đặng Văn Bài cục trưởng và ông  TS Nguyễn Quốc Hùng cục phó cục Di sản Văn hoá. Và cuộc gặp mặt trực tiếp giữa Ts  Huỳnh Long Vân, Huỳnh Thị Kim Chung, Gs Nguyễn Trung Quân( cựu hiệu trưởng trường Trung học Phan Thanh Giản Cần Thơ) với Cục Di sản Văn hoá và một số cơ quan chức năng TƯ (. vào trung tuần tháng 5/2008 ). Ông Ts Việt kiều" yêu nước ", tỉnh Bến Tre và Cần Thơ, Vĩnh Long, được cấp Quyết định cho phép đặt tên Phan Thanh Giản cho trường học ...và được phép tôn tạo, phục dựng các đi tích văn hoá liên quan đến Phan Thanh Giản.

Tháng 8/2008 Khánh thành tượng Phan Thanh Giản tại Vĩnh Long. 18/4/2009 hoàn thành và an vị tượng Phan Thanh Giản tại Văn Thánh Miếu. Cuối năm 2008 Bến tre khánh thành tượng Phan Thanh Giản tại Trường THPT Ba Tri. Ngày 21/5/2009 Cần Thơ tổ chức Hội thảo trả lại tên trường Phản Thanh Giản Cần Thơ.


Năm 2009 và sau đó, nhiều học giả, nhà báo phê phán chiến dịch dọn đường, thăm dò dư luận của Gs Phan Huy Lê. Đồng thời " Đánh thức", cảnh báo với các cấp quản lý Viện sử học, Cục Di sản Văn hoá quốc gia về Tư tưởng xét lại lịch sử của Phan Huy Lê và học trò. Nhưng tất cả đều rơi vào im lặng ? Tạo điều kiện cho Phan huy Lê chiêu mộ lực lượng đẩy mạnh âm mưu Xét lại Lịch sử lên tầm " chiến lược" ?

Là công dân sống làm việc theo Hiến pháp và Pháp luật, chúng tôi được quyền kiến nghị, yêu cầu các cơ quan chức năng của Đảng, nhà nước làm rõ bản lĩnh chính trị, tư tưởng, trách nhiệm của các cơ quản lý Gs Phan Huy Lê, Viện sử học Việt Nam, Cử nhân Dương Trung Quốc và Cục Di sản Văn hoá quốc gia, đã vô tình ủng hộ tư tưởng xét lại lịch sử với cái gọi là "cách nhìn mới về lịch sử " của Gs Phan Huy Lê, Vũ Minh Giang, Nguyễn Mạnh Hà, Trần Đức Cường, Nguyễn Nhã... đã khuấy đảo niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của về bảo vệ Lịch sử của dân tộc./.


Quý vị tìm đọc.

 -  Vũ Hạnh công an Tp HCM 2009 với bài " Đột phá Hay chạy tội",

  -  Nguyễn Khải Hoàn với bài " Dựng tượng Phan Thanh Giản dạy chúng ta bài học gì?" Văn nghệ Tp HCM số 53 tháng 3/2009

  - Hoàng Lại Giang với:  "Trao đổi với đồng nghiệp". Văn Nghệ TW số 11, tháng 03/2009.

  - Cao Đức Trường: Đâu là “Sử học minh họa” và đâu là “Sử gia công chức”. Văn Nghệ TP HCM số 49, tháng 02/2009.

   - Đặng Trần Nguyên: "Lẽ phải và lòng người." Văn Nghệ TP HCM s ố 50, tháng 02/2009.

- Lê Văn Duy: "Quê hương Đồng Khởi dựng tượng Phan Thanh Giản?" Văn Nghệ TP HCM số 51, tháng 02/2009.

- Nguyễn Văn Thịnh: " Đừng tung hỏa mù vào lịch sử ". Văn Nghệ TP HCM số 49, tháng 02/2009.

- Nguyễn Văn Thịnh: "Dựng tượng ai?"  Văn Nghệ TP HCM số 56, tháng 04/2009.

- Nguyễn Văn Thịnh - Nhị Hà: " Phan Thanh Giản & Trương Vĩnh Ký những tội đồ của lịch sử ". Văn Nghệ TP HCM s ố 52, tháng 03/2009.

- Nhị Hà: " Vị quốc vong thân và mại quốc - không thể đánh đồng." Văn Nghệ TP HCM số 51, tháng 02/2009.

- Nhị Hà: Sự thật lịch sử chỉ có một. Văn Nghệ TP HCM số 56, tháng 04/2009.

- Trí Nhân: Vài lời đàm với ông Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam. Văn Nghệ TP HCM số 50, tháng 02/2009.

- Trương Sinh: Sao tỉnh Bến Tre lại dựng tượng Phan Thanh Giản? Văn Nghệ TP HCM số 54, tr.1, 18, tháng 03/2009.

- Vũ Hạnh: Vương Triều Nguyễn dưới mắt người xưa. Văn Nghệ TP HCM s ố 52, tháng 03/2009.

- Vũ Hạnh - Dương Linh: "Có lẽ phải mới thuận lòng người". Văn Nghệ TP HCM số 52, tháng 03/2009.







Yêu nước ST.

Cảnh giác với “Thuyết âm mưu chính trị” của các thế lực thù địch

 Hiện nay, các thế lực thù địch không ngừng chống phá nước ta trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng – an ninh, đối ngoại... với nhiều thủ đoạn, phương phương thức khác nhau, bản chất là Thuyết âm mưu chính trị, sử dụng thông tin sai lệch để chống phá Việt Nam.

Bảo vệ nội dung đặc biệt quan trọng trong nền tảng tư tưởng của Đảng ta

 

Nguyễn Ái Quốc là nhà yêu nước Việt Nam đầu tiên đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin. Cùng với việc truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân quốc tế và phong trào đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc là người đầu tiên truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin và gieo “hạt giống cộng sản” ở Việt Nam; trực tiếp chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ GÓP PHẦN BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 

   Hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” với các thủ đoạn tinh vi nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta. Bối cảnh đó đặt ra yêu cầu cấp thiết cần đẩy mạnh công tác giáo dục lý luận chính trị, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.

     Vai trò của giáo dục lý luận chính trị

   Giáo dục lý luận chính trị (LLCT) là một phần quan trọng trong công tác tư tưởng của Đảng, góp phần củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào tiền đồ cách mạng. Đảng ta chỉ rõ “công tác tư tưởng lý luận đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng làm cho hệ tư tưởng của Đảng của giai cấp công nhân, lý tưởng XHCN, những giá trị tốt đẹp trong truyền thống văn hóa dân tộc, những tinh hoa văn hóa thế giới chiếm vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội”.

   Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất quan tâm đến việc học tập lý luận, Người khẳng định: “lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”. Trong Đảng, “về tư tưởng, nhất định phải học tập lý luận Mác - Lênin” và “giáo dục tư tưởng và lãnh đạo tư tưởng là việc quan trọng nhất, phải kiên quyết chống cái thói xem nhẹ tư tưởng” nói chung và xem nhẹ việc học tập lý luận nói riêng. Với những cán bộ, đảng viên ngại, lười học lý luận chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, đó là những người chỉ bo bo giữ lấy kinh nghiệm lẻ tẻ. Họ không hiểu rằng lý luận rất quan trọng cho sự thực hành cách mạng, trong khi đó thì “có kinh nghiệm mà không có lý luận cũng như một mắt sáng một mắt mờ”. Đó cũng chính là những người không hiểu, thậm chí cố tình không hiểu vai trò của lý luận chính trị đối với thực tiễn và mối quan hệ chặt chẽ giữa lý luận chính trị và thực tiễn, nên trong công tác, họ không có lý luận dẫn đường. Lối làm việc theo lối kinh nghiệm, đầy cảm tính mà nguyên nhân là do “kém lý luận, hoặc khinh lý luận, hoặc lý luận suông” đã khiến họ gặp phải không ít khó khăn và lúng túng khi xử lý công việc, dẫn đến phạm không ít sai lầm, khuyết điểm. Vì thế, Người nhấn mạnh, Đảng cần phải giáo dục và yêu cầu đảng viên ra sức học tập lý luận... Đảng phải chống cái thói xem nhẹ học tập lý luận. Vì không học lý luận thì chí khí kém kiên quyết, không trông xa thấy rộng, trong lúc đấu tranh dễ lạc phương hướng, kết quả là “mù chính trị”, thậm chí hủ hóa, xa rời cách mạng; đồng thời, yêu cầu cán bộ, đảng viên phải thường xuyên trau dồi, nâng cao trình độ lý luận; thực hiện tốt nguyên tắc gắn lý luận với thực tiễn. Phải chống giáo điều cũng như bệnh lười học, ngại học, hình thức trong học tập lý luận chính trị và vận dụng tri thức lý luận vào thực tiễn.

   Thực tiễn công tác giáo dục LLCT những năm qua cho thấy, “Công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT được đổi mới cả về nội dung và phương pháp; tăng cường quản lý, kỷ luật trong giảng dạy, học tập; chất lượng đào tạo, bồi dưỡng được nâng lên”. Trong đó, nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng LLCT liên tục được đổi mới, cập nhật, có sự thống nhất hài hòa giữa lý luận và thực tiễn. Phương pháp giáo dục, bồi dưỡng cũng được thay đổi theo hướng tích cực, hiện đại, ứng dụng những thành tựu của khoa học - công nghệ hiện đại vào hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, quản lý, đánh giá thái độ, kết quả học tập, rèn luyện. Nhờ đó, chất lượng, hiệu quả của công tác giáo dục, bồi dưỡng LLCT từng bước được cải thiện, góp phần đáng kể khắc phục tình trạng ngại học, lười học lý luận chính trị, dạy và học hình thức.

     Những vấn đề đặt ra

   Bên cạnh những kết quả đã đạt được, Đại hội XIII của Đảng cũng chỉ ra một số hạn chế trong công tác giáo dục, bồi dưỡng tư tưởng, chính trị nói chung và giáo dục LLCT nói riêng. Đó là “việc giáo dục tư tưởng, chính trị cho cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên, một bộ phận đảng viên chưa nắm được chủ trương, đường lối của Đảng. Việc học tập lý luận chính trị tuy có nhiều cố gắng nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu”. Vẫn còn một số cán bộ, đảng viên nhận thức chưa đúng đắn vị trí, vai trò, tầm quan trọng của học tập LLCT, có những biểu hiện ít quan tâm, xem nhẹ, coi thường việc học tập lý LLCT; xác định động cơ, mục đích học tập LLCT không đúng đắn, học không vì mục đích bù đắp những tri thức, kỹ năng còn thiếu, mà học để hoàn thiện bằng cấp, đáp ứng tiêu chuẩn được đề bạt, bổ nhiệm lên những vị trí cao hơn. Một số cán bộ, đảng viên thiếu tự giác, không chủ động tham gia học tập LLCT, mượn nhiều lý do để trốn tránh hoặc xin thôi không tham gia học tập LLCT. Có người vừa học vừa giải quyết các công việc khác hoặc đến điểm danh rồi nghỉ giữa chừng; thái độ học tập thiếu nghiêm túc, gượng ép, học đối phó, thậm chí vi phạm quy chế học tập như nhờ học hộ, thi hộ hoặc bỏ học, bỏ thi…

   Việc ngại, lười học tập LLCT là một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị rất nguy hiểm, là một trong những nguyên nhân dẫn đến những trường hợp, cán bộ, đảng viên khi tiếp xúc với quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch thì tỏ ra lúng túng, hiểu nửa vời, thiếu lý lẽ để “lý giải” cho chính mình và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, phản động nhằm bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) khẳng định, nhận thức không đúng về vai trò của lý luận và LLCT, lười học LLCT chính là biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị. Chính sự suy thoái này không chỉ ảnh hưởng nghiêm trọng đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo của mỗi cán bộ, đảng viên mà còn khiến họ gặp khó khăn trong công tác vận động quần chúng; thậm chí không giữ được lập trường trước sự cám dỗ của vật chất và sự lôi kéo của các thế lực phản động.

   Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế hiện nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của internet, mạng xã hội, lợi dụng những vấn đề nảy sinh từ mặt trái của nền kinh tế trị trường; một số yếu kém trong quản lý, điều hành của Nhà nước; tình trạng ô nhiễm môi trường và các vụ việc phức tạp liên quan đến vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để ra sức chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta với nhiều phương thức, thủ đoạn mới, tinh vi hơn. Chúng tập trung xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin trên các nguyên lý cơ bản như: Lý luận về hình thái kinh tế - xã hội, học thuyết giá trị thặng dư, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân; phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta; phủ nhận mục tiêu, lý tưởng, con đường đi lên CNXH ở Việt Nam; hạ thấp và đi đến phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội. Xuyên tạc, phá hoại Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách được thể hiện trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” (bổ sung, phát triển năm 2011), trong các văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và các Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII).

   Các thế lực thù địch cũng khoét sâu vào những “điểm nóng” về an ninh, về trật tự, an toàn xã hội để kích động chống phá ta, nhất là trên các địa bàn chiến lược quan trọng, những vùng sâu, vùng xa, vùng cao nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, đang có những khó khăn về đời sống vật chất và tinh thần. Lợi dụng những sơ hở, thiếu sót của ta trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội, trong đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí để gây áp lực, bôi nhọ, xuyên tạc, hạ thấp uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta...

     Một số giải pháp

   Trong thời gian tới, để phát huy vai trò, nâng cao chất lượng công tác giáo dục LLCT, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, các cấp ủy, tổ chức đảng cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

   Một là, thường xuyên giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên về vai trò của việc học tập LLCT, trọng tâm là quán triệt và thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 32-NQ/TW, ngày 26-5-2014 của Bộ Chính trị, về tiếp tục đổi mới nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý, bảo đảm chặt chẽ, nghiêm túc, tránh tình trạng quán triệt, triển khai qua loa, hình thức, chiếu lệ, xem nhẹ việc học LLCT.

   Hai là, thực hiện nghiêm quy định, chế độ học tập LLCT gắn với việc cung cấp thông tin, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII): “Có kế hoạch học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận bắt buộc hằng năm đối với cán bộ, đảng viên gắn với việc cung cấp thông tin, cập nhật kiến thức mới phù hợp từng đối tượng, từng cấp, từng ngành, từng địa phương”. Đồng thời, phát huy vai trò nêu gương của người đứng đầu, của cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, phải coi việc học tập LLCT là nghĩa vụ bắt buộc đối với mọi cán bộ, đảng viên và phải được quy định thành chế độ để mọi người tự giác thực hiện nghiêm túc.

   Ba là, nâng cao chất lượng của đội ngũ giảng dạy LLCT, trong đó tập trung xây dựng, củng cố, thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao phẩm chất, năng lực của đội ngũ giảng viên chính trị, báo cáo viên, đồng thời kiện toàn, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống các trường chính trị. Ngoài việc bám sát nội dung kiến thức trong khung chương trình giáo trình, sách giáo khoa theo quy định, đội ngũ giảng viên cần tích cực, chủ động, kịp thời cập nhật, bổ sung các kiến thức mới về các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước; những kiến thức, kinh nghiệm thực tiễn trong chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện và các vấn đề do thực tiễn đang đặt ra của địa phương, đơn vị. Chủ động đấu tranh chống các quan điểm sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

   Bốn là, đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục LLCT theo hướng lấy người học làm trung tâm với phương châm “Dạy thực chất, học thực chất, kiểm tra đánh giá kết quả thực chất”. Chú trọng xây dựng các chuyên đề về “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” đưa vào chương trình giảng dạy LLCT ở các trường chính trị. Các giảng viên cũng cần tăng cường hoạt động trao đổi, thảo luận, tương tác giữa người dạy và người học trong mỗi tiết học. Trên cơ sở xác định đúng mục tiêu, chương trình, nội dung, cần sử dụng các hình thức, phương pháp phù hợp giữa truyền thống với hiện đại nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục LLCT. Đặc biệt, để nâng cao chất lượng giảng dạy trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp như hiện nay, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, phương tiện hiện đại vào trong giảng dạy, học tập.

   Năm là, làm tốt công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng, lấy kết quả học tập LLCT làm thước đo phẩm chất, năng lực, phân loại của cán bộ, đảng viên. Sau mỗi đợt học tập, cần tiến hành chặt chẽ, nghiêm túc việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, gắn với nhận xét, đánh giá cán bộ, đảng viên; đề cao trách nhiệm chính trị và tính tự giác, gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong học tập và tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng. Cán bộ, đảng viên giữ cương vị càng cao, càng phải gương mẫu học tập, nói và làm theo đúng nghị quyết của Đảng.

   Sáu là, mỗi cán bộ, đảng viên cũng cần nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của việc học tập, nâng cao trình độ LLCT, xem đây là trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của mình; khắc phục bệnh “lười” học tập LLCT, chủ động, tự giác, tích cực trong học tập, nghiên cứu để đạt kết quả cao trong học tập và lĩnh vực mà mình công tác, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên “vừa hồng vừa chuyên” trong tình hình mới./.

Làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình”: Không bôi đen bức tranh kinh tế - xã hội

 

Kinh tế-xã hội đất nước đang gặp khó khăn nhất định do ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-19. Đó là một thực tế. Nhưng, chúng ta không thể chấp nhận một số người lợi dụng sự khó khăn do dịch bệnh mà bôi đen bức tranh kinh tế-xã hội, từ đó nói xấu Đảng, Nhà nước và chế độ ta.

Xét xử blogger chống phá Nhà nước Việt Nam

 Ngày 4-11, sẽ xét xử Bloger Phạm Thị Đoan Trang tội tuyên truyền chống Nhà nước

Phạm Thị Đoan Trang (SN 1978, trú tại Cầu Giấy, Hà Nội) sẽ bị xét xử phiên sơ thẩm về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” theo quyết định của TAND TP Hà Nội.

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa là bà Chử Phương Ngọc, các Hội thẩm nhân dân là ông Trương Việt Toàn và bà Nguyễn Thị Thúy.


Trước đó, Phạm Thị Đoan Trang bị khởi tố, bắt tạm giam ngày 7-10-2020. Thời điểm đó, bị cáo Trang đang ở tại địa chỉ phòng 6, số 372/36 đường Cách Mạng Tháng Tám, Quận 3, TP Hồ Chí Minh.


Phạm Thị Đoan Trang được biết đến là một Blogger và sở hữu trang Facebook có gần 70.000 lượt theo dõi.


Theo cáo trạng của VKSND TP Hà Nội, từ ngày 16-11-2017 đến 5-12-2018, Phạm Thị Đoan Trang có hành vi làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, bài viết có nội dung nhằm chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.


Phạm Thị Đoan Trang đã trả lời phỏng vấn trên truyền thông nước ngoài với nội dung xuyên tạc đường lối, chính sách của nhà nước cũng như “phỉ báng chính quyền nhân dân”.


Theo cáo trạng của Viện kiểm sát, các tài liệu trên có nội dung tuyên truyền với luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân, tuyên truyền, thông tin xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.


Quá trình làm việc với cơ quan Công an, Phạm Thị Đoan Trang xác nhận, mình là tác giả của báo cáo nghiên cứu về luật tín ngưỡng, tôn giáo. Bị can Trang cùng nhóm tác giả viết báo cáo này bằng Tiếng Anh, sau đó dịch ra tiếng Việt và đăng tải trên trang điện tử do mình lập ra.

                                           XT st

Ngày mở đường Hồ Chí Minh trên biển

 60 năm về trước, chiếc tàu gỗ mật hiệu “Phương Đông 1” do thuyền trưởng Lê Văn Một, cùng chỉ huy là đồng chí Bông Văn Dĩa làm Chính trị viên và 11 chiến sĩ đã rời bến Ðồ Sơn (Hải Phòng), chở theo hơn 30 tấn vũ khí đã cập bến Vàm Lũng an toàn sau 5 ngày đêm vượt biển, mở ra con đường huyền thoại trên Biển Đông gắn với đoàn tàu không số.

THAM NHŨNG TIẾP TỤC ĐƯỢC KIỀM CHẾ, NGĂN CHẶN

 Chiều 23/10, báo cáo Quốc hội về công tác phòng, chống tham nhũng năm 2021 của Chính phủ, Bộ trưởng Tư pháp Lê Thành Long cho biết, năm 2021, sự phối hợp đồng bộ giữa công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đối với các vụ việc, vụ án tham nhũng, tiêu cực ngày càng chặt chẽ, có hiệu quả; khẳng định quyết tâm mạnh mẽ, “không ngừng”, “không nghỉ”, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

Tri ân những người con ưu tú của Tổ quốc

 Thanh niên xung phong là lực lượng do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ đạo thành lập, đã nhiều lần góp công lớn trong các thời kỳ kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc. Năm tháng trôi qua, những cựu thanh niên xung phong cuối cùng lần lượt ra đi, trong lòng mang nặng ước nguyện về một sự ghi nhận, tri ân tuổi xuân đã tận hiến cho dân tộc.

Những thách thức, nguy cơ

 

Từ Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng 1-1994), Đảng đã chỉ ra những thách thức, những nguy cơ lớn đối với sự nghiệp đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Những thách thức đó là: nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa; nguy cơ về nạn tham nhũng và tệ quan liêu; nguy cơ “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Các nguy cơ đó có liên quan mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau.

Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra ở trên, đến nay vẫn còn tồn tại, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, có mặt còn gay gắt hơn, đang đe dọa sự tồn vong của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Và hiển nhiên đây cũng là những nguy cơ, thách thức đối với cán bộ, đảng viên.

Một là, nguy cơ phai nhạt lý tưởng, đánh mất bản sắc văn hóa, xói mòn những giá trị truyền thống của dân tộc

Nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa vẫn còn tiềm ẩn trong cơ chế thị trường, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần hiện nay. Vấn đề này có một số biểu hiện như: sự giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và hiệu lực quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, sự gia tăng của tình trạng vi phạm quyền làm chủ của nhân dân; sự yếu kém của doanh nghiệp nhà nước và kinh tế tập thể; gia tăng sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống, sự băng hoại các giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc...

Xuất hiện tình trạng “nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị". Một bộ phận cán bộ, đảng viên, phần lớn còn trẻ tuổi, giảm sút niềm tin, phai nhạt lý tưởng cách mạng, sống thực dụng, xa rời truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Thậm chí, một số ít thanh niên bị lôi kéo, có những việc làm đi ngược lại truyền thống của Đoàn, trái với mục tiêu của Đảng, của dân tộc. Có những cán bộ, đảng viên không giữ vững bản lĩnh cách mạng, ý thức nhạy bén chính trị kém, bị tác động bởi luận điệu, thông tin sai trái, có những biểu hiện tiêu cực, tạo ra mặt trái của xã hội và tiếp tay cho sự chống phá xuyên tạc của các thế lực thù địch, nhất là trên mạng xã hội.

Hai là, nguy cơ suy thoái về đạo đức lối sống, tham ô, tham nhũng, lãng phí

Thực tế cho thấy, một bộ phận không nhỏ cán bộ từ phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, làm việc hời hợt, ngại khó, ngại khổ, dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá". Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó có cả cán bộ cấp chiến lược, thiếu gương mẫu, uy tín thấp, năng lực, phẩm chất chưa ngang tầm nhiệm vụ, quan liêu, xa dân, cá nhân chủ nghĩa, vướng vào tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm. Không ít cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước thiếu tu dưỡng, rèn luyện, thiếu tính Đảng, lợi dụng sơ hở trong cơ chế, chính sách, pháp luật, cố ý làm trái, trục lợi, làm thất thoát vốn, tài sản của Nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng, bị xử lý kỷ luật đảng và xử lý theo pháp luật.

Tham nhũng là vấn nạn nhức nhối hiện nay trong cán bộ, đảng viên, xuất hiện với nhiều hình thức mới, như tham nhũng chính sách, tham nhũng đất đai, tham nhũng trong công tác cán bộ… Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy quy hoạch, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy khen thưởng, chạy danh hiệu, chạy tội..., trong đó có cả cán bộ cao cấp, chậm được ngăn chặn, đẩy lùi. Tham nhũng làm giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, gây bức xúc dư luận, làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, đối với cán bộ, đảng viên, gây ra những nguy cơ tiềm ẩn, xung đột, làm mất ổn định kinh tế - chính trị - xã hội của đất nước, gây phương hại to lớn tới sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và làm xấu đi hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế.

Ba là, âm mưu thực hiện “diễn biến hòa bình” nhằm vào cán bộ, đảng viên

Các thế lực thù địch thường tranh thủ, len lỏi vào cán bộ, đảng viên để thực hiện “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá nước ta với những biểu hiện mới, quyết liệt và tinh vi hơn trước. Bản chất thật sự của “diễn biến hòa bình” là hoạt động của các thế lực đế quốc tư bản lớn và cường quyền nhằm vào các nước có chế độ chính trị mà họ coi là không phù hợp với lợi ích của họ, bằng tổng hợp các biện pháp chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao, an ninh… để chuyển hóa chế độ chính trị của các nước này theo quỹ đạo có lợi cho họ[5]. Hiện nay, “diễn biến hòa bình” đã có những biểu hiện mới cả về chủ thể tiến hành, phương thức, nội dung, mục tiêu… đã phát triển đến đỉnh cao, với rất nhiều kịch bản khác nhau. Đặc biệt là sự phát triển của công nghệ số, các trang mạng, ứng dụng xã hội đã được các thế lực thù địch ráo riết tận dụng triệt để trong thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đây là nguy cơ không thể xem thường, thực tế đó đòi hỏi chúng ta cần phải có những biện pháp, cách thức, đối phó và khắc chế cho phù hợp, không để rơi vào tình trạng bị động, bất ngờ.

Bốn là, tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới vẫn là nguy cơ thường trực và khó khắc phục

Toàn cầu hóa tạo ra những thách thức không nhỏ đối với cán bộ, đảng viên trong công cuộc đưa đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong khi đó thì hiện nay chúng ta đang thiếu những cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, nhà khoa học và chuyên gia đầu ngành trên nhiều lĩnh vực. Năng lực của đội ngũ cán bộ chưa đồng đều, có mặt còn hạn chế, yếu kém; nhiều cán bộ, trong đó có cả cán bộ cấp cao thiếu tính chuyên nghiệp, làm việc không đúng chuyên môn, sở trường; trình độ ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp và khả năng làm việc trong môi trường quốc tế còn nhiều hạn chế. Không ít cán bộ trẻ thiếu bản lĩnh, ngại rèn luyện.

Kinh tế Việt Nam duy trì được tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2016-2020 đạt 6%/năm, (năm 2020, do ảnh hưởng dịch Covid-19, nhiều nước “tăng trưởng âm”, nhưng Việt Nam vẫn đạt GDP 2,91%, là mức tăng trưởng thuộc nhóm cao nhất thế giới). Quy mô nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu người tăng lên (năm 2020, GDP đạt 271,2 tỉ USD và thu nhập bình quân đầu người đạt 2.779 USD)[6].

Tuy nhiên, nhìn từ thực tế vẫn thấy: khoảng cách GDP của thế giới và của Việt Nam vẫn đang ngày càng doãng ra với tốc độ rất nhanh. Nếu cách đây 30 năm, GDP của thế giới hơn GDP của Việt Nam là 3.900 USD thì nay con số đó là 7.500 USD. Và như vậy là cho dù Việt Nam đã đi được nhiều bước, song đó chỉ là những bước ngắn, nên vẫn tụt hậu so với nhiều quốc gia khác trên thế giới dù bước chậm, nhưng họ lại đi được những bước dài. Và rõ ràng, đây là một thách thức thực sự, là một vấn đề khó đối với Việt Nam hiện nay, rất cần có chiến lược tổng thể, dài hạn để khắc phục. Điều này cũng chính là những thách thức, trở ngại và trách nhiệm lớn đặt lên vai cán bộ, đảng viên – là lực lượng làm việc chính, là chủ, là người đứng đầu các cơ quan công quyền, các doanh nghiệp… làm nhiệm vụ chèo lái con thuyền kinh tế Việt Nam ra biển lớn trên con đường hội nhập quốc tế.

Vượt qua những nguy cơ trên để tiếp tục phát triển nhanh và bền vững, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vững thành quả cách mạng mà nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng phải hy sinh biết bao nhiêu xương máu mới có được, vẫn đang và sẽ là những thách thức thực sự, đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải có những nỗ lực vượt bậc, sự đoàn kết cao độ, cùng chung sức, đồng lòng với cả dân tộc nhằm bảo vệ và phát huy những thành quả cách mạng trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.

“Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy”

 

Công tác cán bộ luôn là vấn đề hệ trọng, quyết định, thu hút sự quan tâm của toàn Đảng, toàn dân. Điều này không có gì phải bàn cãi, nhưng thực tế không phải khi nào, ở đâu vấn đề nhân sự cũng “thấu tình, đạt lý”. Ngăn chặn những hạn chế, ngày càng làm tốt công tác cán bộ được xem như việc “đánh chìa khóa” để mở ra nhiều “cánh cửa” đầy hy vọng...

Trong so sánh ấy, mọi người đều có thể hiểu, nhìn nhận và đánh giá được vai trò của từng khâu, từng mắt xích trong dây chuyền của bộ máy. Và mỗi người đều có thể dễ mường tượng, hình dung ra việc khi mà dây chuyền bị trục trặc ở mắt xích, công đoạn nào đó thì chắc chắn sẽ ảnh hưởng không tốt đến hoạt động của dây chuyền cụ thể nói riêng, đến cả bộ máy nói chung. Và từ đó, có thể suy ra rằng, khi cán bộ có vấn đề về năng lực, trình độ, tư cách, phẩm chất đạo đức... thì sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến cả một tập thể, khiến tập thể đó không thể hoạt động bình thường, mà sẽ vấp phải những trục trặc, khó khăn về nhiều mặt khác nhau...Sự so sánh giản dị, dễ hiểu...“Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt. Cán bộ là những người đem chính sách của Chính phủ, của đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được (1). Không chỉ so sánh hết sức giản dị, dễ hình dung nhưng khúc chiết, chuẩn mực, bao quát như vậy, tư tưởng xuyên suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác cán bộ luôn khẳng định rõ rằng, cán bộ là cái gốc của mọi vấn đề, mọi công việc thành hay bại đều do cán bộ.

Không chỉ so sánh giàu hình ảnh về vị trí, vai trò của cán bộ, cũng như công tác cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đề cập đến tầm quan trọng của việc đào tạo đội ngũ cán bộ, để dây chuyền, cũng như bộ máy có thể vận hành trơn tru, hiệu quả. Người đúc kết từ thực tiễn trở thành lý luận rằng: “Nơi nào mà cán bộ cấp trên biết lựa chọn và dìu dắt, thì có nhiều cán bộ mới nảy nở và công việc rất phát triển. Trái lại, nơi nào cán bộ cấp trên không biết lựa chọn, dìu dắt, thì vẫn thiếu người mà công việc cứ luộm thuộm... Nơi nào có cán bộ tốt, thì cả vùng đó hoạt động như một bộ máy. Và cả vùng đó tỏa ra một bầu không khí hăng hái, vui vẻ” (2).

Rõ ràng, khi mà không đặt cái chung, vì tập thể lên trên hết với tinh thần khách quan, công tâm thì thật khó mà có đủ tâm, tầm, tài, trí để chọn lựa, bồi dưỡng, dìu dắt đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ kế cận “vừa hồng vừa chuyên”. Và ngược lại, nếu cán bộ tài đức, vì cái chung, vì sự phát triển của tập thể thì chắc chắn sẽ tạo ra được môi trường làm việc tốt, kích thích, phát huy tài năng, công sức, nâng cao hiệu quả làm việc của từng thành viên, nhờ đó mà tập thể có thể hoạt động tốt, tạo đà cho việc đạt được những thành tích quan trọng, đóng góp cụ thể vào sự phát triển chung.

Với việc lựa chọn, dìu dắt cán bộ kế cận, nói như Người rất dễ hiểu, nhưng trong thực tế việc thực hiện lại không hẳn đã dễ dàng. Mỗi thời kỳ, ở chỗ này, chỗ khác vẫn tồn tại hiện tượng khá phổ biến là việc chăm chút đào tạo đội ngũ cán bộ kế cận không thật sự được quan tâm, thậm chí còn bị lơ là, xem nhẹ, thậm chí buông lỏng nên dẫn đến tình trạng nhiều nơi còn để xảy ra tình trạng “đứt gãy”, khủng hoảng đội ngũ cán bộ, dẫu cho khoảng trống ấy các thành viên trong tập thể đều dễ dàng nhìn ra. Bên cạnh đó, việc lựa chọn, đề bạt cán bộ cũng không hẳn dựa trên những tiêu chí khách quan, những tiêu chuẩn cứng, không dựa trên năng lực thực sự, nên vẫn xảy ra tình trạng ưu ái cất nhắc, đề bạt “con ông, cháu cha”, vẫn diễn ra tình trạng chạy chức, chạy quyền ngày càng ngang nhiên, tinh vi. Điều ấy dẫn đến sự tha hóa cán bộ, tình trạng tiêu cực, tham nhũng tràn lan, ảnh hưởng xấu đến cả dây chuyền và bộ máy, tới sự phát triển chung...

 

Nhận diện 5 “nạn đạo”

 

Cuộc chiến chống tham nhũng hiện nay đang thu hút sự quan tâm của công luận. Chống tham nhũng chính là trận tuyến để qua đó vừa thanh lọc đội ngũ vừa thẩm xét, lựa chọn và cắt đặt nhân tài. Báo Đại biểu Nhân dân xin giới thiệu loạt bài “Chống tham nhũng và chọn nhân tài”

Ngày 26.1.1946, trong tờ Quốc lệnh, do chính Chủ tịch Hồ Chí Minh ký và ban hành, Người ghi rõ, tại Điều 8 của phần Phạt: “Ăn cắp của công sẽ bị xử tử”. Tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ Khóa VII (tháng 1.1994), Đảng ta cảnh báo nghiêm khắc về nguy cơ thứ ba: Tham nhũng và tệ quan liêu ở tầm mức quốc nạn. Ăn cắp của công, ăn trộm chức vụ, tham nhũng quyền lực đẻ ra vô vàn những cơn bệnh khác, không chỉ làm băng hoại cá nhân mà còn có nguy cơ làm tan tành thể chế.

Theo thiển ý người viết, tham nhũng (thực chất là ăn cắp, hay nói gọn là nạn đạo) có 5 loại:

Một là đạo chích: Đó là thói ăn cắp vặt, kẻ trộm trong làng xã, cơ quan, cộng đồng. Hở ra là trộm, từ chổi cùn cho tới rế rách, “thó” bất kể con cá lá rau, ở nơi thôn dã, phố phường hay vật dụng, tiền bạc, thậm chí cả thời gian ở chốn công đường... Nó làm cho cộng đồng bất an, cơ quan nặng nề vì bực mình, rồi nghi kỵ, ngờ vực lẫn nhau…

Hai là đạo vật: Chính là tệ trộm cắp, tham nhũng vật chất, tiền bạc... Nó đục khoét của công, biển thủ quốc khố, bòn rút mồ hôi, xương máu Nhân dân để bỏ túi cá nhân, vinh thân phì gia, bành trướng dòng họ, khiến muôn dân bị xâm hại, quốc gia khánh kiệt, quốc thể chênh vênh, xã hội rối ren. Cách nay 250 năm, Lê Quý Đôn từng răn rằng, trong năm nguy cơ làm mất nước, thì nguy cơ “tham nhũng tràn lan” kia, không thể không đứng hàng thứ tư đó sao! Quan lại càng giàu nhanh một cách khuất tất, trăm họ càng mau lầm than, rên xiết, đất nước càng chóng suy mạt, bại vong.

Ba là đạo danh: Đó là nạn biển thủ tên tuổi, công trình của người khác làm của mình: đạo văn, đạo nhạc... Rồi tệ mua bán bằng cấp, học vị, học hàm... Rộng ra là ăn cắp tri thức, danh tiếng, công trình khoa học... để chui sâu vào bộ máy, leo cao những phẩm trật quan trường. Lúc sự dối trá, giả hiệu lộng hành thì là khắc sự trung thực, ngay ngắn bị tiêu diệt! Nó làm cho thật giả hỗn mang, trắng đen lẫn lộn, nhân phẩm suy đồi, lòng tin bại hoại. Nhớ lại tháng 6.1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Dìm người giỏi, để giữ địa vị và danh tiếng của mình là đạo vị (đạo là trộm)”. “Gặp việc phải, mà sợ khó nhọc nguy hiểm, không dám làm, là tham vật úy lao. Gặp giặc mà rút ra, không dám đánh là tham sinh úy tử”. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi các loại cán bộ “tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên”, “cậy quyền thế mà đục khoét dân, ăn của đút, hoặc trộm của công làm của tư...” đều là BẤT LIÊM “mà đi đến tội ác trộm cắp”. Tới mức nào đó, tệ ăn cắp đó khiến cho những bậc hiền nhân, thức giả khó còn chỗ hành đạo, thậm chí không còn chỗ dung thân…

Bốn là đạo vị: Đây là sự trộm cắp chức vụ trong bộ máy của Đảng, của Nhà nước và của hệ thống chính trị. Nhân dân và chúng ta thì gọi là, tham nhũng quyền lực. Từ “cả họ làm quan”, “cha truyền con nối” tới các thủ đoạn tham nhũng tuổi tác, bằng cấp để “lẻn” vào chốn quan trường, rồi mua phiếu bán danh, trộm cắp chức vụ bằng mọi quỷ kế. Khi các “chính trị gia” bắt tay một cách tăm tối với các doanh nhân thì nền chính trị không hủ bại, chính trường không bị “dắt mũi” mới là chuyện lạ! Từ dùng tiền để “cuỗm” quyền lực chính trị, rồi dùng chính trị để “cướp” lấy quyền lực kinh tế, lại dùng kinh tế để chui sâu leo cao vào chính trường, rắp đoạt lấy quyền lực chính trị cao hơn. Thì không nghi ngờ gì nữa, nó tác họa muôn dân, băm nhỏ lợi ích quốc gia, trộm cắp từng mảnh chính trị, kinh tế đất nước và lũng đoạn thể chế quốc gia. Tha hóa, thoái hóa quyền lực rất dễ tới nạn trộm cắp, buôn bán quyền lực, thậm chí lạm quyền, lộng quyền và thoán đoạt quyền lực. Nói gọn lại là, từ sở hữu quyền lực tới trộm cắp chức vụ hay đạo vị, buôn bán quyền lực là một bước chuyển hóa rất ngắn, chỉ trong gang tấc và hiểm họa khôn lường. Từ trộm cắp chức vụ tới buôn quan, bán tước, thoán đoạt quyền lực chỉ là một vệt trượt ngắn, rất ngắn nhưng hiểm họa chết người! Cụ Hồ nói: “Dìm người giỏi, để giữ địa vị và danh tiếng của mình là đạo vị”, tức ăn trộm chức vụ. “Dìm người tài đức để giữ địa vị và danh tiếng của mình, chính là tội trộm cắp”. Nó “nguy hiểm hơn cả Việt gian, mật thám”. Nó làm cho nhân quần ly tán, nền chính trị rối loạn, thể chế suy đồi, quốc gia hỗn mang, đất nước tan vỡ, thậm chí diệt vong hoặc làm nô lệ cho giặc ngoại bang. Mua quan bán tước, buôn bán quyền lực dẫn tới nạn hoặc nhỏ thì “anh hùng nhất khoảnh”, lớn thì “cát cứ sứ quân”, “dòng họ hoành hành”, thậm chí cả sự ô nhục bán nước cầu vinh chỉ là bước “tự chuyển hóa” rất ngắn, thậm chí trong gang tấc mà thôi! Lịch sử cho thấy không ít sự nhãn tiền sinh tử ấy.

Năm là đạo tâm: Đó chính là nạn ăn cắp lòng tin. Nói mà không làm, làm ngược lời nói. Trên diễn đàn thì, rao giảng đạo lý, dạy dỗ chính liêm, nơi chính sự thì ức vạn tối tăm, phè phỡn phù hoa, xa xỉ... Nó khiến muôn dân ai còn dám tin cậy được nữa! Nếu không nói nó khiến trăm họ oán thán, nổi giận! “Khẩu Phật tâm xà”, “Miệng rao đạo lý, tay thì đạo vị, tay lấp nhân tâm”, đạo đức giả lộng hành! Thử hỏi, lúc ấy, muôn dân còn dám hy vọng gì ở họ về liêm chính, về quốc sỉ hay quốc thể được nữa? Ông cha ta nói: Mất niềm tin là mất hết! Nếu lòng tin nơi đồng sự với nhau, nơi muôn dân với cán bộ, với thể chế bị đánh cắp, thật không còn gì nguy hiểm hơn!

Khi lòng tin của con người với nhau, với thể chế đã bị đánh cắp thì xã tắc không bị suy tàn, quốc gia không bị tan hoang mới là chuyện lạ!

BẮT ĐỐI TƯỢNG ĐĂNG TIN XUYÊN TẠC, CHỐNG PHÁ CHÍNH QUYỀN

Chiều 21/10, Cơ quan CSĐT Công an TP Vũng Tàu đã khởi tố, bắt tạm giam đối tượng Nguyễn Thiên Nghĩa (50 tuổi, HKTT tại TP Hồ Chí Minh) về hành vi “Đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, viễn thông".

Nguyễn Thiên Nghĩa sử dụng mạng xã hội Facebook có tài khoản Nghia Nguyen Thien để liên tục viết, đăng trên mạng xã hội hàng chục bài viết có nội dung bịa đặt, sai sự thật, xuyên tạc công tác phòng, chống dịch bệnh của Nhà nước ta. Những bài viết của đối tượng này đã nhận được chia sẻ, bình luận của một số đối tượng xấu, gây dư luận không tốt và ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự. 

Đáng chú ý, ngoài những thông tin không có thật do Nghĩa tự nghĩ ra để viết đăng về công tác phòng, chống dịch bệnh COVID-19 tại TP Hồ Chí Minh và nhiều địa phương khác, đối tượng này còn liên tục xuyên tạc những phát biểu chỉ đạo của cán bộ lãnh đạo Nhà nước, Bộ Y tế... với những lời lẽ thô tục, vô văn hóa, mang tư tưởng hận thù, kích động chống đối công tác phòng, chống dịch bệnh của Nhà nước và chính quyền các cấp. Thậm chí đối tượng này còn dùng nhiều từ ngữ phản cảm để xúc phạm, bôi nhọ nhiều cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước qua nhiều thời kỳ... gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân.

Nguyễn Thiên Nghĩa còn xuyên tạc, đả kích nhiều thông tin chính thống của các cơ quan báo chí đưa tin về những hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc vận động, kêu gọi giúp đỡ người dân gặp khó khăn do dịch bệnh, thông tin về việc nghiên cứu, sản xuất vaccine phòng chống COVID-19 của Việt Nam, hay các hoạt động chi viện y, bác sĩ vào TP Hồ Chí Minh chống dịch...!
------------------------
Phạm Vông (theo Báo CAND)