Thứ Hai, 25 tháng 10, 2021

NÊU GƯƠNG - MỘT TRONG CÁC PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO

 

   Nêu gương chính là thực hành lãnh đạo, để những giá trị của đạo đức và tài năng của người lãnh đạo lan tỏa, dẫn dắt, truyền cảm hứng thúc đẩy mọi hành động của nhân dân. Quán triệt Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 8 khóa XII, bài viết tập trung làm rõ cơ sở lý luận của nêu gương, các hình thức nêu gương, các giải pháp nêu gương của người lãnh đạo.

   1. Lãnh đạo và nêu gương

   Lãnh đạo là quá trình tương tác có định hướng giữa người lãnh đạo (cá nhân, nhóm lãnh đạo) và người bị lãnh đạo (cá nhân, nhóm) với kết quả cuối cùng là hoàn thành tốt các mục tiêu của tổ chức, thực hiện được các sứ mệnh cao cả của người lãnh đạo vì một tương lai tốt đẹp hơn của tổ chức và xã hội.

   Thuật ngữ “lãnh đạo” được phiên âm từ “Hán Việt”, “lãnh” tức là nhận lấy, là được một cái gì, là “cầm đầu”, là “đứng đầu”; “đạo” tức là “đường đi”, là “quy luật”, là “cái tất yếu”. Như vậy từ ghép “lãnh đạo” tức là “nhận lấy việc dẫn đường” hay “dẫn đầu”, “đi đầu”, “định hướng”. Trong tiếng Anh thuật ngữ “lãnh đạo” được gọi “lead” có nghĩa là: chỉ huy, hướng dẫn, dẫn đường, đánh trước, khuyến dụ, điều khiển; và chữ “leader” có nghĩa là những người đứng đầu, cầm đầu có tầm quan trọng nhất, chức vụ cao nhất trong các nhóm xã hội thực hiện vai trò hướng dẫn, chỉ huy, điều khiển và chịu trách nhiệm cao nhất trong tổ chức ấy.

   Các tác giả Hemphill và Coons cho rằng: “Lãnh đạo là cư xử của một cá nhân khi anh ta chỉ đạo các hoạt động của nhóm để đạt tới mục tiêu chung”.

   Tannenhaum, Weschles và Masarik nhận định: “Lãnh đạo là sự  ảnh hưởng (tác động) mang tính tương tác, được thực hiện trong một tình huống, được chỉ đạo thông qua quá trình thông tin để đạt tới những mục tiêu cụ thể”.

   Rauch và Behlinh lại xem: “Lãnh đạo là quá trình ảnh hưởng tới những hoạt động của nhóm có tổ chức để đạt tới mục tiêu”.

   Các tác giả Paul Hersey và Ken Blan Chard cho rằng lãnh đạo là quá trình gây ảnh hưởng đến các hoạt động của cá nhân hay một nhóm nhằm đạt được mục đích trong những tình huống nhất định.

   Như vậy, những định nghĩa về lãnh đạo luôn có điểm chung là nó bao hàm sự tương tác giữa hai hay nhiều người, nó bao gồm quá trình ảnh hưởng khi sự ảnh hưởng có mục đích được thực hiện bởi nhà lãnh đạo với khách thể lãnh đạo (người dưới quyền, họ vừa là chủ thể và vừa là khách thể của hoạt động lãnh đạo). Mục tiêu của hoạt động lãnh đạo hướng đến vấn đề xây dựng những giá trị cốt lõi của nhóm, tổ chức xã hội; thúc đẩy sự phát triển nhóm - tổ chức hội trong điều kiện những thách thức thường xuyên xảy ra.

   Từ đó, có thể hiểu lãnh đạo là quá trình ảnh hưởng giữa chủ thể lãnh đạo và khách thể lãnh đạo nhằm định hướng mục tiêu, xây dựng niềm tin và phát triển nhóm - tổ chức xã hội.

   Những nghiên cứu của Khoa học lãnh đạo đã khẳng định, bản chất của lãnh đạo là quá trình sử dụng quyền lực lãnh đạo. Khẳng định này thể hiện, quyền lực chính là công cụ cốt lõi của nhà lãnh đạo gây ảnh hưởng tới khách thể lãnh đạo (người bị lãnh đạo). Tức là, khách thể lãnh đạo chịu ảnh hưởng từ nhà lãnh đạo bởi quyền lực mà nhà lãnh đạo có. Sự thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của khách thể lãnh đạo nếu có là dưới tác động của quyền lực lãnh đạo.

   Theo các nghiên cứu của Ken Blan Chart, Paul Hersey..., căn cứ vào nguồn gốc hình thành thì quyền lực lãnh đạo có 2 loại cơ bản, đó là quyền lực địa vị và quyền lực cá nhân. Quyền lực địa vị biểu hiện là ảnh hưởng từ địa vị của người lãnh đạo (thông qua quyền hạn của mỗi địa vị nhất định trong hệ thống tổ chức - xã hội), còn quyền lực cá nhân được biểu hiện qua sự ảnh hưởng bằng những giá trị từ nhân cách của người lãnh đạo. Trong hai loại quyền lực cơ bản này, quyền lực địa vị không làm thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của người bị lãnh đạo mà nó chỉ tạo nên sự phục tùng uy quyền đến từ địa vị lãnh đạo do hệ thống tổ chức quy định; còn, quyền lực cá nhân mới là cơ sở tạo nên tính tích cực, động lực, và sáng tạo từ khách thể lãnh đạo. Quyền lực địa vị và quyền lực cá nhân có quan hệ biện chứng thống nhất với nhau. Mối quan hệ này trong lãnh đạo là mối quan hệ giữa nội dung và hình thức. Quyền lực địa vị là biểu hiện hình thức của lãnh đạo, nó quy định quyền hạn của mỗi vị trí trong hệ thống lãnh đạo, qua đó phản ánh sự phân quyền trong hệ thống tổ chức và phản ánh hình thức phối hợp trong hoạt động thực thi các sứ mệnh chung của hệ thống tổ chức xã hội. Quyền lực cá nhân chính là nội dung của lãnh đạo, thể hiện yêu cầu về nhân cách người lãnh đạo cần có để hoàn thành những giá trị của mỗi vị trí (địa vị) trong hệ thống tổ chức. Quyền lực cá nhân chính là bản chất cốt lõi của lãnh đạo. Mọi giá trị được tạo nên của lãnh đạo là bằng quyền lực cá nhân, tức là bằng đạo đức, sự thông thái và tài năng từ người lãnh đạo.

   Quyền lực với ý nghĩa là công cụ cơ bản của lãnh đạo làm cho hoạt động lãnh đạo trở thành loại hình lao động đặc biệt, khác biệt với các loại hình lao động khác trong xã hội. Sự cải biến đối tượng lao động được thực hiện thông qua hệ thống quyền lực lãnh đạo. Nêu gương chính là quá trình người lãnh đạo phát huy cơ sở “quyền lực cá nhân” trong lãnh đạo. Nội dung của lãnh đạo chính là nêu gương. Người lãnh đạo phải lấy đạo đức, sự thông thái và tài năng của mình làm “công cụ” lãnh đạo. Không có nêu gương thì sẽ không có hoạt động lãnh đạo. Và, nêu gương là sự thể hiện tính đặc biệt của lao động lãnh đạo, là quá trình thường xuyên, liên tục được thể hiện trong mỗi hành vi lãnh đạo.

   2. Quy định số 08-QĐi/TW về nêu gương trong lãnh đạo của cán bộ, đảng viên

   Cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay là những người đóng vai trò cá nhân lãnh đạo thuộc về hệ thống lãnh đạo đối với toàn thể Nhân dân. Nêu gương trong lãnh đạo là thể hiện hành động lấy “quyền lực cá nhân” làm công cụ lãnh đạo, vì thế mọi lời nói và hành vi của cán bộ, đảng viên đều trực tiếp hoặc gián tiếp quy định lời nói và hành động của mọi tầng lớp nhân dân.

   Quy định số 08-QĐi/TW của Đảng về nêu gương, có 8 nội dung quy định về những điều cần “gương mẫu đi đầu thực hiện” và 8 nội dung cần phải “nghiêm khắc với bản thân và kiên quyết tránh”  đối với “Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”, có thể thấy rằng các yêu cầu Đảng ta chỉ ra là yêu cầu về “cái tâm, cái tầm, cái tài” hay là “đức và tài” của người cán bộ, đảng viên mà cụ thể là những phẩm chất nhân cách người lãnh đạo. Với vai trò là người lãnh đạo mỗi cán bộ, đảng viên phải dùng những yêu cầu về “quyền lực cá nhân” làm cơ sở để xây dựng niềm tin, dẫn dắt, truyền cảm hứng tạo nên động lực, tính tích cực, sáng tạo trong hoạt động công vụ đối với cấp dưới và toàn thể Nhân dân.

   Có thể thấy rằng, từ Quy định 101 - QĐ/TW ngày 7-6-2012 đến Quy định số 08-QĐi/TW là bước phát triển mới về yêu cầu nhân cách của chủ thể nêu gương. Đó là từ việc quy định yêu cầu về phẩm chất và năng lực gắn với các mối quan hệ cụ thể của người cán bộ, đảng viên trong nêu gương (có 7 mối quan hệ cơ bản: về chính trị; về đạo đức, tác phong; về tự phê và phê bình; về trách nhiệm với nhân dân; về trách nhiệm trong công tác; về ý thức tổ chức kỷ luật; về đoàn kết nội bộ) đến các yêu cầu cụ thể về nhân cách cán bộ, đảng viên được thể hiện cụ thể 8 yêu cầu “gương mẫu đi đầu” và 8 yêu cầu về “nghiêm khắc với bản thân và kiên quyết chống”. Sự phát triển này thể hiện sinh động mối quan hệ biện chứng giữa “xây” và “chống”, bám sát vào thực tiễn, gắn với những vấn đề mà xã hội đang quan tâm, và gắn với chủ trương xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh được thể hiện qua Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII “về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” và Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

   Quy định số 08-QĐi/TW là quy định của Ban Chấp hành Trung ương - cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng giữa 2 kỳ Đại hội, khẳng định “về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”. Có thể thấy quy định này là quyết định của cấp lãnh đạo cao cấp nhất và đối tượng được ưu tiên xác định “trước hết” là chính mình. Lãnh đạo là một hệ thống, tổ chức và cá nhân có “quyền lực địa vị” càng cao thì tầm ảnh hưởng, lan tỏa càng lớn, do đó đòi hỏi “quyền lực cá nhân” cũng phải tương xứng để bảo đảm cho tầm ảnh hưởng và sức lan tỏa đó. Như vậy, Đảng ta đã xác định cụ thể về trách nhiệm nêu gương trong lãnh đạo “Cán bộ, đảng viên giữ chức vụ càng cao càng phải gương mẫu nêu gương”. Từ cơ sở lý luận về lãnh đạo và nêu gương thì đây là một giá trị mới thể hiện sự nhận thức và quyết định đúng đắn của Đảng ta.

   Lãnh đạo là hoạt động đặc biệt được thể hiện qua nêu gương và nêu gương là quá trình thường xuyên, liên tục được thể hiện trong mỗi hành động lãnh đạo. Nhận thức về nêu gương qua Quy định số 08-QĐi/TW cần thấy được bản chất của nêu gương của cán bộ, đảng viên trong hành động lãnh đạo, như sau:

   - Nêu gương, chính là làm gương về những giá trị chân chính mà Đảng và nhân dân chọn lựa. Cán bộ, đảng viên phải “tiên thiên hạ chi ưu, hậu thiên hạ chi lạc” để làm gương về sự tiên phong, dám hy sinh bản thân mình cho những giá trị chân chính; lấy việc chung làm trọng, làm cơ sở để thuyết phục, tạo dựng niềm tin của nhân dân. Cán bộ, đảng viên với vai trò của mình luôn lấy nêu gương làm công cụ. Lãnh đạo có “quyền lực địa vị” càng cao, việc thể hiện nêu gương phải càng mạnh; và cán bộ, đảng viên luôn luôn nêu gương trước Nhân dân.

   - Nêu gương, chính là làm gương thấm nhuần và thực hiện nghiêm chỉnh quan điểm, chủ trương của Đảng; pháp luật và chính sách của Nhà nước. Những hành vi của cán bộ, đảng viên luôn là những mẫu mực để quần chúng soi rọi làm chuẩn mực cho những hành vi của mình. Nêu gương, cũng chính là cán bộ, đảng viên phải nghiêm chỉnh thực hiện đúng điều lệ đảng và các quy định của Đảng, đề cao việc trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm giải trình trong đảm trách vai trò lãnh đạo, và trách nhiệm công khai, minh bạch về tài sản và thu nhập của cá nhân. Làm được điều này là cơ sở của việc củng cố, xây dựng và phát triển niềm tin và điểm tựa của nhân dân vào Đảng, là cơ sở để Đảng ta xứng đáng và làm tròn sứ mệnh là tổ chức lãnh đạo duy nhất đảm bảo cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

   - Nêu gương là làm gương trong học tập và làm theo tấm gương, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh. Cán bộ, đảng viên là mẫu mực trong trong thể hiện “nói đi đôi với làm”, lấy hành động của mình để làm công cụ tuyên truyền, thuyết phục, cảm hóa, lôi cuốn quần chúng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy rằng: “Hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”; “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”.

   - Nêu gương là làm gương trong công việc từ việc nhỏ đến việc lớn; từ việc học tập, rèn luyện, tu dưỡng cho đến việc làm trong thực tiễn, trong quan hệ với Nhân dân. Đó là sự tận tâm thực hiện những nhiệm vụ mà mình đóng vai trò là người lãnh đạo, thường xuyên “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Đó là sự thận trọng, tỉ mỉ, đúng giờ trong công việc với tinh thần trách nhiệm cao.

   - Nêu gương cũng là dũng cảm đấu tranh với những biểu hiện “suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên; là phải kiên quyết khắc phục mọi biểu hiện quan liêu, mệnh lệnh, xa rời thực tế, thiếu ý thức tổ chức kỷ luật, tha hóa về quyền lực địa vị, xa rời quần chúng của chính bản thân mình.

   3. Tăng cường trách nhiệm nêu gương của người lãnh đạo

   Một là, cần thấy rõ hơn nữa vai trò của nêu gương trong lãnh đạo.

   Về mặt nhận thức, mỗi cán bộ, đảng viên phải tự bản thân mình nhận thức rõ “Nêu gương là công cụ lãnh đạo”. Nêu gương không phải là một hình thức hay phương pháp có tính chất tình huống trong lãnh đạo mà nêu gương là người lãnh đạo dùng những “tài” và “đức” của bản thân mình để gây ảnh hưởng, để lãnh đạo. Do đó, nêu gương là hiện thân của lãnh đạo. Để thể hiện vai trò là người lãnh đạo thì cán bộ, đang viên bằng hoạt động của mình phải đi trước “Đảng viên đi trước, làng nước đi sau”. Tức là người cán bộ, đảng viên phải đem những “phẩm chất mẫu”, “giá trị mẫu” từ lời nói và hành vi của mình để thực hiện vai trò dẫn dắt, thuyết phục, thúc đẩy, khai mở tâm - trí và đoàn kết các đảng viên, quần chúng, các tổ chức doanh nghiệp và người dân. Muốn vậy, phải quán triệt và thuấn nhuần Quy định số 08-QĐi/TW về “trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết  là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương” mà cụ thể là 8 nội dung phải gương mẫu đi đầu thực hiện và 8 nội dung phải nghiêm khắc với bản thân kiên quyết chống của “Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”.

   Hai là, người lãnh đạo thường xuyên tự đánh giá nghiêm khắc về bản thân.

   Công cụ hoạt động của cán bộ, đảng viên chính là phẩm chất đạo đức và năng lực, vì thế bản thân họ cần phải biết rõ ưu điểm, hạn chế về tài năng và các phẩm cách của mình để qua đó mà học hỏi, tu dưỡng và rèn luyện để “công cụ nêu gương” luôn có sức hút, sức lan tỏa thuyết phục mạnh mẽ đến người dưới quyền và nhân dân.

   Phân tích, đánh giá bản thân, tức là coi trọng phương pháp “phê bình và tự phê bình”. Đó là lấy việc tự phân tích, đánh giá bản thân mình làm trọng và thông qua sự phê bình của người khác làm điều kiện để nhận thức về bản thân. Đồng thời cũng thông qua trách nhiệm với đồng chí của mình mà phê bình, giúp họ nhận thức đúng về bản thân họ.

   Phân tích và đánh giá đúng bản thân là cơ sở của việc phân tích, nắm bắt về “quyền lực cá nhân” của người cán bộ, đảng viên. Chỉ khi nắm bắt đúng về “quyền lực cá nhân” của mình thì cán bộ, đảng viên mới có thể sử dụng nó để gây ảnh hưởng đến cấp dưới, đến nhân dân nhằm thực hiện sứ mệnh lãnh đạo nhân dân xây dựng và phát triển đất nước.

   Ba là, thường xuyên hoàn thiện nhân cách người lãnh đạo.

   Hoàn thiện nhân cách cũng là kỹ năng của người lãnh đạo. Lãnh đạo và kiểm soát bản thân là việc cán bộ, đảng viên định hướng, dẫn dắt và xây dựng cho bản thân mình những giá trị văn hóa cao đẹp, tránh xa những thói hư, tật xấu.

   Lãnh đạo và phát triển bản thân người lãnh đạo cần khiêm tốn, tự giác học hỏi, tu dưỡng và rèn luyện thường xuyên bản thân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Muốn rèn luyện đạo đức cách mạng, thì chúng ta phải ra sức học tập, tu dưỡng, tự cải tạo để tiến bộ mãi. Nếu không cố gắng để tiến bộ, thì tức là thoái bộ, là lạc hậu”.  Liên tục học hỏi, tu dưỡng, rèn luyện nhân cách của cán bộ, đảng viên có ý nghĩa quan trọng, thiết thực nhằm đấu tranh ngăn chặn các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

   Các nhà lãnh đạo học Warren Bennis và Burt Nanus khẳng định rằng: “Quá trình trở thành nhà lãnh đạo cũng giống như quá trình trở thành một con người hoàn thiện vậy”.

   Bốn là, thực hành dân chủ, lắng nghe dư luận xã hội để điều chỉnh những giá trị nêu gương.

   Đối tượng lãnh đạo của hệ thống chính trị là nhân dân. Chính nhân dân là người chịu ảnh hưởng từ những giá trị nêu gương của lãnh đạo. Để nêu gương, người cán bộ, đảng viên cần có quá trình liên tục hoàn thiện những phẩm chất và năng lực của bản thân. Chính trong quá trình này, những lời nói và hành vi từ người dân lại là tấm gương phản chiếu lời nói và hành vi lãnh đạo. Để không ngừng nâng cao giá trị nêu gương, việc thực hiện tốt các cơ chế dân chủ, lắng nghe ý kiến từ dư luận tập thể, xã hội là rất cần thiết và rất quan trọng./.

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH

 

   Trong xây dựng Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm giáo dục cho đội ngũ cán bộ, đảng viên về nội dung tự phê bình và phê bình. Theo Người, tự phê bình và phê bình là vũ khí sắc bén để chiến đấu và chiến thắng với những sai lầm, khuyết điểm, là quy luật sống còn đối với sự tồn tại, phát triển của Đảng ta.

   Theo Người: "Phê bình là nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm của đồng chí mình. Tự phê bình là nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm của mình. Tự phê bình và phê bình phải đi đôi với nhau". Tự phê bình và phê bình theo tư tưởng của Bác là phải có quan điểm toàn diện, phải chú ý cả ưu điểm và khuyết điểm, phải kết hợp chặt chẽ cả hai mặt tự phê bình và phê bình. Điều này tưởng như đơn giản, nhưng trước kia cũng như hiện nay, đã có không ít cán bộ, đảng viên thường tiến hành phê bình một cách phiến diện, chỉ nêu khuyết điểm mà ít chú ý ưu điểm của đồng chí; chỉ đi phê bình người, mà ít quan tâm tới tự phê bình mình. Đây là căn bệnh phải kiên quyết khắc phục. Song, để khắc phục được nó, chắc chắn phải là một quá trình đấu tranh lâu dài, đòi hỏi mỗi người cán bộ, đảng viên phải có ý thức tự giác và tinh thần trách nhiệm rất cao.

   Sinh thời, Bác Hồ kịch liệt phê phán thái độ "dĩ hòa vi quý", e dè nể nang, che dấu khuyết điểm, ngại đấu tranh phê bình. Người luôn nhắc nhở đội ngũ cán bộ, đảng viên phải kiên quyết chống thói "trước mắt thì nể, kể lể sau lưng". Người đã phân tích một cách sâu sắc, sinh động về thái độ nể nang, né tránh đấu tranh phê bình và tự phê bình rằng: "Nể nang không phê bình, để cho đồng chí mình cứ sa vào lầm lỗi, đến nỗi hỏng việc. Thế thì khác nào thấy đồng chí  mình ốm, mà không chữa cho họ. Nể nang mình, không dám tự phê bình, để cho khuyết điểm của mình chứa chất lại. Thế thì khác nào tự bỏ thuốc độc cho mình!". Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy, thái độ e dè, nể nang, né tránh tự phê bình và phê bình vẫn còn tồn tại ở một số đảng bộ, chi bộ. Nhìn chung, đảng viên ngại phê bình cán bộ và cán bộ cấp dưới ngại phê bình cán bộ cấp trên. Cá biệt, có trường hợp, cán bộ cấp dưới chẳng những không phê bình cán bộ cấp trên, mà còn nịnh nọt, tâng bốc cán bộ cấp trên để nhằm vụ lợi. Thực tế ở đại hội đảng bộ các cấp vừa qua cho thấy, thái độ né tránh tự phê bình và phê bình còn diễn ra ở một số đảng bộ, chi bộ. Đặc điểm nổi lên là, báo cáo chính trị của một số đại hội chủ yếu trình bày thành tích, ưu điểm, mà ít chú ý tới thiếu sót, khuyết điểm. Không khí thảo luận ở một số đại hội còn xuôi chiều, tán dương thành tích, tính chiến đấu, tinh thần tự phê bình và phê bình còn hạn chế.

   Để tự phê bình và phê bình đạt hiệu quả thiết thực, Hồ Chí Minh luôn quan tâm giáo dục cho đội ngũ cán bộ, đảng viên về mục đích, ý nghĩa của việc tự phê bình và phê bình. Người đã nhiều lần nhấn mạnh, tự phê bình và phê bình là để cho mọi người học tập ưu điểm của nhau, giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, cùng nhau đoàn kết thống nhất, cùng nhau tiến bộ, trưởng thành. Theo Người, muốn đạt được mục đích cao đẹp nêu trên, thì khi tiến hành tự phê bình và phê bình, mỗi người cán bộ, đảng viên phải có động cơ, thái độ và phương pháp phê bình đúng; đồng thời, phải luôn gương mẫu trong thực hiện tự phê bình và phê bình. Người đã nhiều lần xác định, động cơ phê bình đúng là động cơ trong sáng, thái độ chân tình, hết lòng vì sự tiến bộ của đồng chí. Người yêu cầu cán bộ, đảng viên: "Phê bình thì phải rõ ràng, thiết thực, ngay thẳng, thành thật - mục đích là cốt sửa chữa, chứ không phải để công kích, cốt giúp nhau tiến bộ, chứ không phải làm cho đồng chí khó chịu, nản lòng".

   Về phương pháp phê bình đúng, Người chỉ rõ, cách phê bình phải sao cho "thấu lý, đạt tình", "Ta phải biết cách phê bình sáng suốt, khôn khéo, như chiếu tấm gương cho mọi người soi thấu những khuyết điểm của mình, để tự mình sửa chữa". Thực tế tiến hành tự phê bình và phê bình ở nhiều đảng bộ, chi bộ đã khẳng định rằng, chỉ có động cơ trong sáng, thái độ chân tình, mềm dẻo, lời lẽ thuyết phục, thì tự phê bình và phê bình mới đem lại hiệu quả cao.

   Người khuyên cán bộ, đảng viên phải có thái độ tiếp thu phê bình đúng mực, khi bị phê bình "phải vui lòng nhận xét để sửa đổi" và không vì bị phê bình mà "nản chí hoặc oán ghét". Theo Người, điều quan trọng là phải thành tâm sửa hết khuyết điểm và có nhiều biện pháp khắc phục hết sai lầm. Tiếp thu phê bình là khâu cuối cùng của quá trình tự phê bình và phê bình. Chúng ta đều biết rằng, cho dù có nội dung phê bình đúng, có động cơ phê bình tốt, có phương pháp phê bình hay, nhưng cán bộ được phê bình không thành thật tiếp thu, không tự giác sửa chữa khuyết điểm, thì phê bình không thể đạt được kết quả. Chính vì thế, tiếp thu phê bình đúng mực là vấn đề cực kỳ quan trọng. Để tiếp thu phê bình đúng mực, cán bộ, đảng viên được phê bình phải thực sự cầu thị, cầu tiến bộ, phải nghiêm khắc tự đấu tranh với bản thân mình để vừa loại bỏ tính chủ quan, bảo thủ; vừa loại bỏ tính tự ti, nản chí. Đối với đảng bộ, chi bộ, phải có lòng khoan dung, độ lượng, tìm mọi cách để giúp cán bộ sửa chữa sai lầm. Đặc biệt, phải kịp thời cổ vũ động viên, trân trọng với những bước tiến nhỏ của cán bộ, đảng viên có quyết tâm sửa chữa khuyết điểm. Thực hiện tốt các vấn đề trên, thì nhất định cán bộ, đảng viên sẽ tiếp thu phê bình đúng mực, hiệu quả tự phê bình và phê bình sẽ được nâng cao.

   Khi tiến hành phê bình, mỗi cán bộ, đảng viên phải bình tĩnh, lời lẽ rõ ràng, nhẹ nhàng, tinh tế. Bất kỳ cán bộ cấp nào, khi tiến hành phê bình cũng không được dùng những lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc và phải chú ý chỉ phê bình việc làm sai, chứ không phê bình con người. Đặc biệt, trong tiến hành phê bình, chúng ta kiên quyết phản đối thái độ thiếu xây dựng, thái độ "đao to búa lớn", "truy chụp vu cáo", lợi dụng phê bình để moi móc, công kích. Khi tự phê bình và phê bình, mọi cán bộ, đảng viên cần chú ý chỉ rõ nguyên nhân thiếu sót, khuyết điểm; đồng thời, nêu rõ những biện pháp cụ thể để sửa chữa, khắc phục. Trên cơ sở thực hiện được tự phê bình và phê bình như vậy, nhất định đảng viên sẽ tiến bộ, tổ chức đảng sẽ vững mạnh, trưởng thành.

   Hiện nay, nhiệm vụ xây dựng Đảng đang đặt ra những yêu cầu mới, đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên phải nỗ lực phấn đấu, rèn luyện toàn diện. Trong đó, vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh để thực hiện có hiệu quả tự phê bình và phê bình là nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết để góp phần xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ mới./.

NGHỆ THUẬT DÙNG MƯU TRONG TRẬN ĐÁNH CỦA THƯỢNG TƯỚNG HOÀNG MINH THẢO

 


Trong một lần triệu tập Thượng tướng Hoàng Minh Thảo (lúc đó là Trung tướng) ra Hà Nội tham khảo ý kiến, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nêu câu hỏi: “Nếu đánh Tây Nguyên thì đánh ở đâu trước?”.

Thượng tướng Hoàng Minh Thảo trả lời: “Đánh Tây Nguyên thì đánh vào Buôn Ma Thuột trước. Vì Buôn Ma Thuột là thị xã lớn nhất, là hậu cứ của địch, là nơi địch yếu mà là hiểm yếu. Buôn Ma Thuột là địa bàn chiến lược cơ động, từ đây ta có thể phát triển theo ba hướng: Đánh lên bắc Tây Nguyên, xuống đồng bằng ven biển, vào miền Đông Nam Bộ, cắt chiến trường miền Nam ra làm đôi”.

Thượng tướng Hoàng Minh Thảo sau này nhận định:

“Ta ghìm địch ở đầu mạnh (Bắc Tây Nguyên) để phá vỡ địch ở đầu yếu (Nam Tây Nguyên). Đó là một thành công trong nghệ thuật dùng mưu”.

Trong "Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng – trang 126" của tướng Giáp có viết: “Trong buổi làm việc, anh Hoàng Minh Thảo với nhãn quan một nhà nghiên cứu khoa học quân sự đã nêu ý kiến: Khi đã chọn hướng chiến lược là Tây Nguyên thì trước hết nên đánh Buôn Ma Thuột, vì đây là thị xã lớn nhất, là nơi hiểm yếu và cũng là nơi sơ hở nhất.

Khó khăn phải vượt qua để tiến công trên hướng này là thiếu đường hành quân và thiếu nước. Tôi rất tán thành. Sau này ý kiến đó của ông được Bộ Chính trị, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu đồng tình chấp nhận"./.

Tỉnh táo trước tin nhắn, thông tin mạng xã hội “núp bóng” phòng, chống dịch Covid-19

 


Khi dịch bệnh Covid-19 kéo dài, nhiều công nhân, viên chức rơi vào tình cảnh thất nghiệp, hoàn cảnh khó khăn, Nhà nước đã có rất nhiều chính sách hỗ trợ người dân và nhiều công nhân, viên chức, đồng thời thực thi các biện pháp chống dịch với quyết tâm cao nhất. Lợi dụng điều này, các đối tượng tội phạm công nghệ cao lợi dụng chúng tăng cường phát tán, lây nhiễm mã độc nhằm chiếm đoạt tài sản, tung tin bịa đặt gây hoang mang cho người dân nhất là trên các địa bàn có dịch.

Đánh cắp thông tin qua tin nhắn mạo danh hỗ trợ dịch Covid-19

Các đối tượng đã giả mạo email của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam với nội dung “Công đoàn hỗ trợ tiền mặt cho người lao động bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19” và đề nghị toàn thể cán bộ, nhân viên trong các doanh nghiệp điền đầy đủ thông tin theo đường link có sẵn. Khi người dùng cung cấp các thông tin tài khoản cá nhân, hoặc click vào các đường link có chứa mã độc, kẻ gian sẽ xâm nhập hệ thống mạng doanh nghiệp đánh cắp thông tin tài khoản ngân hàng nhằm chiếm đoạt tài sản. Với hình thức nhắn tin vào số điện thoại, đối tượng tội phạm sẽ gửi tin nhắn mạo danh và giả mạo website của Bộ Y tế. Trong tin nhắn này, các đối tượng gửi kèm hướng dẫn hoàn tất thủ tục đăng ký xin trợ cấp kèm theo đường link dẫn đến website có giao diện giống website của Bộ Y tế và yêu cầu người dùng nhập thông tin cá nhân, tài khoản ngân hàng (username, password, OTP) để nhận trợ cấp. Nếu người dùng làm theo hướng dẫn, kẻ gian sẽ đánh cắp toàn bộ thông tin nhằm chiếm đoạt tiền trong tài khoản cá nhân. Hoặc là nhắn tin đề nghị nạn nhân cung cấp thông tin, hình ảnh cá nhân, giấy tờ tùy thân để nhận được tiền hỗ trợ ảnh hưởng của dịch Covid-19. Thực chất, các đối tượng tội phạm dùng thông tin của nạn nhân để làm hợp đồng vay tiền online của các công ty tài chính. Với thủ đoạn này, kẻ gian đã chiếm đoạt được tiền của các công ty cho vay tài chính, đồng thời biến các nạn nhân thành “con nợ” bất đắc dĩ.

Để tránh các hình thức lừa đảo liên quan đến mua bán, giảm giá các mặt hàng nhu yếu phẩm thiết yếu bán lẻ, các hoạt động từ thiện cứu trợ người dân trong vùng dịch… do tội phạm công nghệ cao thực hiện, NCSC khuyến cáo người dân chủ động thường xuyên truy cập vào các website chính thống của Bộ Y tế tại địa chỉ https://moh.gov.vn/ để cập nhật thông tin tin cậy, không tiếp cận thông tin từ những nguồn không chính thống. Người dùng internet cần nâng cao cảnh giác, đề phòng trước những nguy cơ lừa đảo đang ngày càng gia tăng trên không gian mạng.

 

Chủ Nhật, 24 tháng 10, 2021

KỶ NIỆM 100 NĂM NGÀY SINH CỐ THƯỢNG TƯỚNG HOÀNG MINH THẢO TƯ LỆNH CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN (25/10/1921-25/10/2021).

 Chiến dịch Tây Nguyên (bắt đầu từ 4-3 đến 3-4-1975), mật danh: Chiến dịch 275, là chiến dịch mở đầu cho cuộc Tổng tiến công mùa xuân năm 1975 của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Chiến dịch Tây Nguyên do cố Thượng tướng Hoàng Minh Thảo là Tư lệnh chiến dịch.

Chiến dịch Tây Nguyên với trận Buôn Ma Thuột là trận đánh then chốt, mở đầu của chiến dịch tiến công Tây Nguyên năm 1975; đồng thời là trận đánh mở màn, đòn điểm huyệt chính dẫn đến sự chấm dứt chiến tranh Việt Nam (1954 – 1975) chỉ trong 55 ngày.
Khi viết cuốn sách “Tìm hiểu tổ tiên ta đánh giặc” năm 1971 ngay tại chiến trường Tây Nguyên, Giáo sư – Thượng tướng Hoàng Minh Thảo đã sớm nhận ra chỗ yếu và hiểm yếu của chiến trường Tây Nguyên.
Đến năm 1973, khi ra Bắc họp ông đã đề nghị với Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp về việc đánh Buôn Ma Thuột, chi tiết lịch sử này đã được ghi lại trong cuốn hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng – trang 126: “Trong buổi làm việc, anh Hoàng Minh Thảo với nhãn quan một nhà nghiên cứu khoa học quân sự đã nêu ý kiến: Khi đã chọn hướng chiến lược là Tây Nguyên thì trước hết nên đánh Buôn Ma Thuột, vì đây là thị xã lớn nhất, là nơi hiểm yếu và cũng là nơi sơ hở nhất. Khó khăn phải vượt qua để tiến công trên hướng này là thiếu đường hành quân và thiếu nước. Tôi rất tán thành. Sau này ý kiến đó của ông được Bộ Chính trị, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu đồng tình chấp nhận".
Thực hiện kế nghi binh lừa địch, khi Sư đoàn 10 đã tiến về Đức Lập, phía Nam Buôn Ma Thuột, Sư đoàn 320 đã tiến về Ea H’leo, Bắc Buôn Ma Thuột thì ta thực hiện đánh chia cắt chiến lược và chia cắt chiến dịch ở Tây Nguyên chuẩn bị cho việc “trói địch lại mà diệt”. Ta đánh cắt đứt đường 19, đường 14, rồi tiếp đến là đường 21 làm cho Buôn Ma Thuột hoàn toàn bị cô lập.
Thế trận đã giăng. Sư đoàn 23 ngụy bị trói chân ở Pleiku – Kon Tum, các đơn vị tổng dự bị chiến lược của địch bị ghìm ở hai đầu Nam Bắc (tức Huế – Đà Nẵng và Sài Gòn). Đây là một mưu kế chiến lược sáng suốt, nhìn xa trông rộng của Bộ Tổng tư lệnh. Thời cơ để ta hạ quyết tâm tiến công Buôn Ma Thuột đã đến. Với sức mạnh từ ba sư đoàn của các binh chủng hợp thành táo bạo và bất ngờ tiến công thẳng vào thị xã Buôn Ma Thuột.
Ngày 10-3-1975, khi những chiếc xe tăng của bộ đội ta đã cán xích trên đường phố Buôn Ma Thuột lúc đó viên tướng ngụy Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2 kiêm Tư lệnh vùng 2 chiến thuật mới biết tin. Ông ta tái mặt, choáng váng thất kinh vì đã quá muộn, ta đã làm chủ hoàn toàn Buôn Ma Thuột. Tổng thống ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh: “Phải giữ Buôn Ma Thuột bằng bất cứ giá nào”. Do đường 14 là đường bộ duy nhất nối liền Pleiku với Buôn Ma Thuột đã bị Sư đoàn 320 cắt đứt và chiếm giữ, nên Sư đoàn 23 ngụy muốn thực hiện phản kích chỉ còn cách đi bằng máy bay trực thăng, đổ quân vào nơi ta dự kiến.
Thế trận ta đã bày sẵn, Sư đoàn 10 và Trung đoàn 25 của ta liên tiếp đánh bại bốn trận phản kích của địch ở đường 21 phía Đông Buôn Ma Thuột, Sư đoàn 23 ngụy, con “át chủ bài” đã cơ bản bị xóa sổ, những cố gắng và hy vọng chiếm lại Buôn Ma Thuột của địch đã bị dập tắt.
Ngày 14-3-1975, Nguyễn Văn Thiệu và Bộ Tham mưu ngụy đã quyết định rút bỏ Tây Nguyên và ra lệnh: Tùy nghi di tản; cho quân rút về co cụm ở đồng bằng ven biển miền Trung để bảo toàn lực lượng. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã dự kiến tình huống này và đã chỉ thị cho các đơn vị đón đánh tiêu diệt chúng. Cuộc rút chạy của quân địch đã gây ra hoảng loạn “đột biến”. Sư đoàn 320 vẫn kịp thời truy kích, kết hợp với các lực lượng vũ trang tỉnh Phú Yên đã tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch rút chạy và bắt cả viên chỉ huy cuộc hành quân rút chạy này ngay tại thị xã Tuy Hòa.
Thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên đã mở ra “thời cơ chiến lược lớn” thừa thắng chuyển sang tổng tiến công và nổi dậy quân dân ta tấn công xuống đồng bằng ven biển miền Trung. Đại quân ta ào ào như thác đổ tiến về Sài Gòn tiêu diệt toàn bộ bộ thống soái của địch, kết thúc cuộc Tổng tiến công mùa xuân 1975 đại thắng, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Vị tướng chỉ huy trận đánh Buôn Ma Thuột lịch sử là Nhà giáo nhân dân, Giáo sư - cố Thượng tướng Hoàng Minh Thảo.
Từ nhãn quan một nhà nghiên cứu quân sự, ông đã chọn hướng chiến lược là Tây Nguyên – nơi hiểm yếu là Buôn Ma Thuột và trực tiếp chỉ huy, đề ra nguyên lý: “Mưu sinh ra kế, thế đẻ ra thời. Đánh bằng mưu kế, thắng bằng thời thế”, đó là những tinh hoa của nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Phản bác xuyên tạc về công tác cán bộ của Đảng

 



Gần đây, khi Đảng Cộng sản Việt Nam và người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đẩy mạnh công cuộc chỉnh đốn Đảng, trong đó có việc xử lý kỷ luật hàng loạt cán bộ, trong đó có những cán bộ giữ chức vụ cao, các thế lực thù địch lại đăng các bài viết, bài nói xuyên tạc công tác cán bộ của Đảng. Họ cho rằng thực chất công tác cán bộ của Đảng là sai lầm nên mới sinh ra nhiều cán bộ hư hỏng như vậy (!?)…

Những luận điệu xuyên tạc

Các luận điệu xuyên tạc về công tác cán bộ cho rằng thực chất đội ngũ cán bộ hiện nay sai phạm nhiều là do sai lầm của Đảng trong lựa chọn cán bộ. Họ cho rằng việc lựa chọn cán bộ của Đảng chủ yếu là theo “cánh hẩu”, phe nhóm, con ông cháu cha mà đưa lên chứ không phải vì tài năng hay đạo đức. Các quan điểm sai trái, xuyên tạc ấy cho rằng để khắc phục tình trạng sai lầm này thì Đảng Cộng sản Việt Nam hãy để cho mọi người tranh cử công khai và không cần Đảng phải thực hiện công tác cán bộ…

Khi Đảng xử lý hàng loạt các cán bộ sai phạm, các luận điệu xuyên tạc lại rêu rao cho rằng đó chỉ là “phe cánh triệt hạ lẫn nhau”, là “thanh trừng phe phái”, là “loại người của bên thua cuộc” để đưa những người của “bên thắng cuộc” lên... Họ cũng trắng trợn xuyên tạc cho rằng thực chất Đảng dung dưỡng cho cán bộ tham nhũng để chính những người ấy sẽ bảo vệ sự tồn tại cho chế độ. Đặc biệt, trong công cuộc phòng, chống đại dịch Covid-19 vừa qua, khi một bộ phận người dân bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh và chịu nhiều mất mát, vất vả, khó khăn, chúng liền vin vào cớ này để xuyên tạc và cho rằng thực chất cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở vô tài, bất đức, chỉ lo cho bản thân mình, phe nhóm mình mà không quan tâm đến người dân, để “sống chết mặc dân”… Trước những bất cập, nhất là yếu kém của một số cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở trong phòng, chống dịch Covid-19, họ tung ra những bài viết, bài nói để khoét sâu vào những bức xúc của người dân để quy chụp, đánh giá phiến diện một chiều khi cho rằng tất cả những yếu kém, hạn chế ấy là do cán bộ và nguyên nhân của các yếu kém đó là do công tác cán bộ của Đảng sai lầm với mục đích cuối cùng là đổ tất cả các hạn chế, bất cập ấy là do… Đảng (?!).

Những kết quả không thể phủ nhận

Một sự thật là công tác cán bộ của Đảng trong những năm qua đã thu được nhiều kết quả rõ nét, một trong những kết quả rõ nét nhất chính là việc Đảng đã xây dựng được đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, ngày càng trưởng thành, lớn mạnh.

Đại dịch Covid-19 lần thứ 4 đã bộc lộ cả những điểm tốt và chưa tốt của đội ngũ cán bộ, trong đó rõ ràng những điểm tốt vẫn là chủ đạo. Chúng ta vẫn thấy báo chí đưa tin về người cán bộ chỗ này hiểu chưa đúng về các quy định phòng chống dịch, chỗ kia hiểu chưa đúng về mặt hàng thiết yếu, cũng có người trục lợi trong dịch bệnh… Thế nhưng, tất cả những câu chuyện buồn ấy chỉ đủ đếm trên bàn tay, cao hơn hết thảy vẫn là tinh thần, trách nhiệm của đại bộ phận cán bộ, đảng viên của Đảng, nhất là lực lượng tuyến đầu, các lực lượng cơ sở, dân phòng, quân đội, công an…

Công tác cán bộ của Đảng, nhất là từ sau Đại hội XII của Đảng đã có nhiều đổi mới. Đảng đã ban hành rất nhiều các chỉ thị, nghị quyết về công tác cán bộ. Việc đánh giá cán bộ đã gắn chặt với chức trách, nhiệm vụ được giao, được thực hiện liên tục, xuyên suốt, nhiều chiều, theo những tiêu chí và bằng các sản phẩm cụ thể. Đặc biệt, công tác kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, chống chạy chức chạy quyền lần đầu tiên đã đưa ra được các tiêu chí cụ thể trong Quy định 205-QĐ/TW. Công tác nhân sự được chỉ đạo chặt chẽ, kỹ lưỡng bài bản. Từ Quy định 105-QĐ/TW của Đảng, các cấp ủy đã cụ thể hóa cho phù hợp với đặc điểm tình hình từng địa phương, đơn vị song vẫn đảm bảo quy trình chặt chẽ theo 5 bước, đảm bảo khách quan, công tâm, công khai, minh bạch. Công tác tạo nguồn cán bộ đã được thực hiện từ rất sớm và theo những lộ trình bài bản, khả thi.

Ở TP Hồ Chí Minh, ngay từ rất sớm đã có chương trình tạo nguồn cán bộ cho hệ thống chính trị từ sinh viên các khá giỏi ở các trường đại học, các chương trình đào tạo thạc sĩ ở nước ngoài… Rất nhiều sinh viên giỏi là con em của các gia đình nghèo từ nông thôn vào Thành phố học tập, nhờ học giỏi, phấn đấu tốt đã được lựa chọn, đào tạo và trưởng thành. Từ các chương trình này đã bổ sung một lực lượng lớn cho đội ngũ cán bộ và hiện nay có nhiều người đang đảm nhiệm các vị trí lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị ở Thành phố.

Đánh giá về những thành tựu trong công tác cán bộ, Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Công tác cán bộ có nhiều đổi mới, được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, đồng bộ và đạt một số kết quả quan trọng; về tổng thể, đội ngũ cán bộ đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới (…) từng bước hoàn thiện thể chế về công tác cán bộ; xây dựng, bổ sung, sửa đổi và ban hành mới nhiều quy định, quy chế về đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử và kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền…”.

Rõ ràng những hạn chế, khuyết điểm, thậm chí sai phạm của một số tập thể, cá nhân chỉ là cá biệt và không thể chủ quan, phiến diện dựa vào thiếu sót, khuyết điểm của một vài tập thể, cá nhân mà phủ nhận sạch trơn vai trò của đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ của Đảng.

 

Đảng Cộng sản Việt Nam không có khẩu hiệu nào là “Trí phú địa hào đào tận gốc, trốc tận rễ”

 



Để xuyên tạc quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, các thế lực thù địch không từ bất kỳ thủ đoạn nào, trong đó có cả việc sử dụng các luận điệu xuyên tạc, “lật sử”, và cả vu khống. Câu chuyện về khẩu hiệu “Trí phú địa hào đào tận gốc, trốc tận rễ” là một điển hình của các mưu đồ này.

Đảng Cộng sản Việt Nam không hề có câu khẩu hiệu này

Đối với một đảng chính trị, trong đó có Đảng Cộng sản Việt Nam, văn kiện có giá trị cao nhất là Cương lĩnh chính trị. Vì vậy, mọi nghị quyết, chỉ thị của Đảng đều không được trái với Cương lĩnh chính trị. Khi đưa ra luận điệu cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam có hẳn câu khẩu hiệu “Trí phú địa hào đào tận gốc, trốc tận rễ”, các thế lực thù địch đã xuyên tạc cho rằng nó ở trong Luận cương chính trị tháng 10 năm 1930 do Tổng Bí thư Trần Phú soạn thảo.

Có thể thấy việc hiểu sai hay cố tình xuyên tạc về nội dung này thì thiên hình, vạn trạng. Trên BBC, cũng đăng bài viết có tiêu đề “Khiếp nhược hay là đang náu mình” có nội dung như sau: “Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương ghi rõ Trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ. Như vậy trí thức là đối tượng được ưu tiên xếp hạng đầu tiên Đảng Cộng sản cần tiêu diệt”.

Đa phần các bài viết trên mạng đều dẫn khẩu hiệu này để quy kết cho Đảng Cộng sản Việt Nam về việc coi khinh trí thức, đàn áp trí thức. Cũng có những bài viết có vẻ khách quan hơn khi cho rằng đó là “một sai lầm của Đảng” và đã được sửa sai. Sự thật thì Đảng Cộng sản Việt Nam trong suốt lịch sử hơn 90 năm của mình chưa bao giờ có khẩu hiệu “trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ”. Câu khẩu hiệu này chỉ là một khẩu hiệu được đưa ra bởi một cấp ủy và chỉ để thực hiện trong nội bộ đảng của cấp ủy đó. Sau khi biết được điều này, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã kịp thời chấn chỉnh.

Đảng được xây dựng từ sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước của nhân dân

Như vậy, khẳng định rằng câu khẩu hiệu này không phải của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nó càng không phải là đã được ghi trong Cương lĩnh Chính trị năm 1930 của Đảng Cộng sản Đông Dương như bài viết của BBC nêu trên. Đây chỉ là chủ trương của một xứ ủy trực thuộc và sau khi nhận được thông tin này ngay lập tức Đảng đã ra chỉ thị chấn chỉnh.

Chúng ta đều biết Phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930 - 1931 đã bùng lên mạnh mẽ và sau đó bị đàn áp đẫm máu. Hàng loạt các tổ chức Đảng bị đàn áp, hàng loạt người yêu nước bị bắt và giết hại, các tổ chức của Đảng vỡ từng mảng, nhất là ở Xứ ủy Trung Kỳ. Khi ấy, ban lãnh đạo của Xứ ủy nhận định rằng tổn thất của phong trào có thể do trong hàng ngũ có kẻ phản bội. Nghi vấn đổ dồn vào những trí thức trong tổ chức khi ấy. Vì vậy, năm 1931, Xứ ủy Trung kỳ ra chỉ thị về vấn đề thanh Đảng (tức thanh lọc nội bộ của Đảng) có câu: “Thanh trừ trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ”. Ngay sau khi nhận được thông tin, Trung ương Đảng đã kịp thời uốn nắn nhận thức sai lầm này và khẳng định: “Xứ ủy Trung Kỳ, nhất là đồng chí Bí thư, ra chỉ thị thanh Đảng viết rõ từng chữ: Thanh trừ trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ, như vậy thì gốc đâu mà đào, xem rễ ở đâu mà trốc, quả là một ý nghĩ mơ hồ, một chỉ thị võ đoán và là một lối hành động quàng xiên chí tướng”.

Trung ương đã yêu cầu Xứ ủy Trung Kỳ phải có nhận thức đúng đắn và sửa sai: “Vậy tiếp được chỉ thị này, Xứ ủy phải nghiêm mật khảo xét lại từng địa phương, từng bộ phận, từng cá nhân, người nào sai, bộ phận nào sai phải dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy”.

Trung ương khẳng định: “Đảng ta được xây dựng theo những nguyên tắc xây dựng Đảng kiểu mới của chủ nghĩa Mác - Lênin và vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Đảng được xây dựng từ sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước của nhân dân ta, Đảng ta kế thừa truyền thống đấu tranh anh dũng chống ngoại xâm của dân tộc ta (…). Không tránh khỏi xuất hiện những tư tưởng hoang mang, dao động, bi quan, những phần tử đầu hàng phản bội. Điều đó không có gì lạ, mà là việc thường xảy ra đúng với quy luật đấu tranh cách mạng… nhưng là số ít, còn thì giai tầng nào mặc dầu, nhưng đa số đồng chí hết sức trung thành hiến thân cho Đảng đến giọt máu cuối cùng”. Trung ương cũng yêu cầu Xứ ủy Trung kỳ phải tự chỉ trích, phải khắc phục những sai lầm, Chỉ thị cho Xứ ủy Trung Kỳ phải nghiên cứu thẩm tra lại tình hình cụ thể từng đảng bộ, từng cấp ủy và toàn thể đảng viên tiến hành tự phê bình và phê bình, kiểm điểm sắp xếp lại lực lượng. Sau đó, Xứ ủy Trung kỳ đã kịp thời khắc phục sai lầm này trong lãnh đạo, chỉ đạo.

Bài học rút ra trong việc tiếp nhận thông tin

Việc xuyên tạc của các thế lực thù địch nhằm bóp méo, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng là không phải bàn cãi. Tuy nhiên, có một điều đáng tiếc là ngay chính những người là cán bộ, đảng viên cũng đã có lúc nhận thức sai, hiểu sai về vấn đề này. Chẳng hạn, vì không tìm hiểu kỹ nên khi đánh giá về những hạn chế trong quá trình lãnh đạo cách mạng, có những đồng chí cán bộ, đảng viên vẫn chưa hiểu thật sự thấu đáo vấn đề này khi còn cho rằng đó là một trong những sai lầm của Đảng khi ấy. Rõ ràng, Đảng là một thực thể sống và bao gồm rất nhiều người thuộc các thành phần khác nhau. Do đó, Đảng không phải không có sai lầm. Đánh giá đúng, “có gan thừa nhận những khuyết điểm” (lời Hồ Chủ tịch) để rút ra bài học, khắc phục những hạn chế khuyết điểm là việc đáng nên làm. Thế nhưng, bất luận trong bối cảnh nào cũng phải hiểu thấu đáo vấn đề, gắn với bối cảnh và hoàn cảnh lịch sử.

Từ câu chuyện này, rõ ràng nếu xem kỹ Văn kiện Đảng, chắc chắn ai đó sẽ không thể phán bừa rằng câu khẩu hiệu ấy “được ghi trong Cương lĩnh của Đảng” và những ai tìm hiểu cặn kẽ cũng sẽ hiểu rõ thêm.

TIẾP TỤC NHẬN THỨC VỀ CHIẾN LƯỢC DIỄN BIẾN HÒA BÌNH CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH ĐỐI VỚI CÁCH MẠNG NƯỚC TA

  

Diễn biến hòa bình” là một chiến lược chống CNXH và CNCS do các thế lực thù địch với CNXH tiến hành nhằm thủ tiêu chế độ XHCN trên phạm vi toàn thế giới, chống phá độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội của các quốc gia, dân tộc bằng các biện pháp phi vũ trang, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ các nước XHCN và các nước độc lập dân tộc, lái chệch hướng phát triển của quốc gia, dân tộc theo quĩ đạo của CNTB.

Chủ thể chỉ đạo, điều khiển chiến lược “diễn biến hòa bình” là các thế lực thù địch với CNXH và độc lập dân tộc. Chủ thể tiến hành, thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” bao gồm những phần tử cầm đầu lực lượng phản động bên ngoài và phản động trong nước; lãnh tụ các đảng phỏi đối lập; những phần tử cơ hội, phản bội trong ban lãnhđạo cấp cao của đảng cầm quyền, chính quyền, quõn đội, an ninh, cảnh sỏt; một bộ phận quần chúng bất mãn với chính quyền và chế độ bị kích động, lừa gạt hoặc bị mua chuộc. Đối tượng của “diễn biến hòa bình” lúc đầu là các nước XHCN và phát triển theo định hướng XHCN, sau đó mở rộng ra một số nước độc lập dân tộc.

Mục tiêu sâu xa của chiến lược “diễn biến hòa bình” là thủ tiêu chế độ XHCN trên phạm vi toàn thế giới, phá hoại nền độc lập của các quốc gia, dân tộc, thiết lập một thế giới “nhất thể húa TBCN”. Mục tiêu trực tiếp đối với các nước XHCN và phát triển theo định hướng XHCN là thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ các nước XHCN và các nước độc lập dân tộc, đối với các nước XHCN nhằm tạo ra sự vận động chệch hướng của quốc gia, dân tộc theo quĩ đạo của CNTB; đối với các nước độc lập dân tộc nhằm tạo ra tình trạng mất ổn định về kinh tế và chính trị, suy thoái từ bên trong, đi đến khủng hoảng toàn diện, từ đó ngày càng lệ thuộc vào CNTB. Chiến lược “diễn biến hòa bình” mang tính chất phản cách mạng, phản động; tính chất dân tộc; tính chất giai cấp; tính chất toàn cầu; tính chất phi vũ trang.

Phương thức thực hiện chiến lược diễn biến hòa bình” là tiến công tổng hợp, toàn diện, “mềm, ngầm, sâu”, dựa vào lực lượng đối lập phản động trong nước, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” bên trong của đối tượng là chính; lấy chính trị làm đột phá; kinh tế làm mũi nhọn; dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền làm ngòi nổ; quốc phòng - an ninh làm then chốt; ngoại giao làm hỗ trợ; đấu tranh phi vũ trang là chủ yếu, kết hợp bạo loạn lật đổ, thực hiện răn đe quân sự từ bên ngoài, gây áp lực để làm tan rã, sụp đổ chế độ.

Nội dung chủ yếu của chiến lược “diễn biến hòa bình” bao gồm:

Diễn biến hòa bình trên lĩnh vực chính trị là khâu đột phá, giữ vai trò quan trọng hàng đầu, nội dung chủ yếu là chống phá hệ tư tưởng, đường lối chính trị, hệ thống chính trị, thể chế chính trị, thúc đẩy tự diễn biến”, “tự chuyển hóavề chính trị trong nội bộ: chống phá hệ tư tưởng chính trị, đường lối chính trị nhằm làm phai nhạt, tiến tới xoá bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm suy thoái, biến đổi tư tưởng chính trị cách mạng sang tư tưởng chính trị phản động, phản cách mạng; tiến công vào các thành tố quan trọng nhất trong hệ thống chính trị, thể chế chính trị, tập trung mũi nhọn phê phán, phủ định, làm tha hóa Đảng và Nhà nước; tác động vào công tác tổ chức, cán bộ, xây dựng lực lượng ngầm, tìm cách tạo dựng “ngọn cờ” để tập hợp lực lượng chống đối; đòi Việt Nam cải cách hệ thống pháp luật, tiến tới xóa bỏ lực lượng lãnh đạo, chuyển hóa bộ máy quản lý, điều hành đất nước và xã hội.

Diễn biến hòa bình trên lĩnh vực kinh tế là khâu mũi nhọn, nội dung chủ yếu là chống phá đường lối, chính sách kinh tế; làm chuyển hóa chế độ sở hữu, cơ cấu, thành phần kinh tế; hình thành môi trường kinh tế có lợi cho CNTB; từng bước xâm nhập, chiếm lĩnh những địa bàn, lĩnh vực kinh tế quan trọng và nhạy cảm; thúc đẩy tự diễn biến”, “tự chuyển hóavề kinh tế: chống phá và thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đường lối, chính sách kinh tế, chế độ sở hữu, cơ cấu, thành phần kinh tế; hỗ trợ khu vực kinh tế tư nhân, từng bước thực hiện tư nhân hoá nền kinh tế; hình thành môi trường kinh tế có lợi cho CNTB; từng bước xâm nhập, chiếm lĩnh những địa bàn, lĩnh vực kinh tế quan trọng và nhạy cảm.

Diễn biến hòa bình trên lĩnh vực văn hóa - xã hội là khâu quan trọng, nội dung chủ yếu là chống phá đường lối, chính sách văn hóa - xã hội;  thúc đẩy tự diễn biến”, “tự chuyển hóalàm chệch hướng giá trị văn hóa, đạo đức và giáo dục - đào tạo; lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để chia rẽ nội bộ, kích động chống đối, gây rối loạn bên trong CNXH: chống phá đường lối, chính sách văn hóa - xã hội; thúc đẩy chệch hướng giá trị văn hóa, đạo đức; làm suy thoái, biến đổi đạo đức, lối sống theo hướng tha hóa, suy đồi; thúc đẩy biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp, phân tầng và phân hóa xã hội theo mô hình xã hội TBCN; lợi dụng mâu thuẫn, khiếu kiện, chống tham nhũng để kích động biểu tình, bạo loạn lật đổ; truyền bá lối sống thực dụng, đồi trụy, cá nhân cực đoan; tuyên truyền, xuyên tạc và vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền; triệt để khoét sâu vấn đề dân tộc, tôn giáo, lấy đó làm “ngòi nổ” gây mất ổn định chính trị, kinh tế, rối loạn xã hội ở Việt Nam.

Diễn biến hòa bình trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh là khâu then chốt, chống phá về đối ngoại là khâu hỗ trợ quan trọng, nội dung chủ yếu là chống phá đường lối, chính sách quốc phũng - an ninh, đối ngoại; thực hiện phi chính trị hóa quân đội và công an: chống phá đường lối, chính sách quốc phũng - an ninh của Đảng, nhà nước; truyền bá tư tưởng tự do, dân chủ tư sản trong cán bộ, chiến sĩ LLVT; tìm cách xúc tiến “phi chính trị hoá” quân đội, công an; thúc đẩy hợp tác quân sự, an ninh để lôi kéo Việt Nam, đồng thời vừa răn đe, gây sức ép, tìm cách tạo chỗ đứng chân; tuyên truyền cho sức mạnh quân sự phương Tây, đặc biệt sức mạnh vũ khí công nghệ cao; kích động mâu thuẫn, gây chia rẽ nội bộ, phá hoại đoàn kết cán binh, đoàn kết quân dân; tổ chức các hoạt động tình báo, gián điệp, gây cơ sở và phá hoại từ bên trong; nhen nhóm “cách mạng màu”, kích động gây bạo loạn lật đổ; khi gặp tình huống và thời cơ thuận lợi có thể tổ chức lực lượng phản ứng nhanh gây xung đột vũ trang, hỗ trợ cho lực lượng phản động bên trong tiến hành bạo loạn ở những địa bàn xung yếu, thực hiện chia cắt chiến lược, tổ chức tập kích đường không vào những mục tiêu chiến lược của ta, không loại trừ khả năng tạo cớ tiến hành chiến tranh xâm lược khi thời cơ chín muồi; triệt để lợi dụng mở cửa, hội nhập để chuyển hóa Việt Nam; chia rẽ Việt Nam với các nước láng giềng, bạn bè truyền thống.

 

 

CHỈ RÕ ÂM MƯU THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH


Xây dựng, thiết lập hệ thống các giải pháp tuyên truyền đồng bộ, sát hợp, hiệu quả trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên không gian mạng góp phần nhận diện, chủ động đấu tranh sớm, kịp thời, hiệu quả trước các hình thức, phương thức tấn công, phá hoại xấu xa của các thế lực thù địch.

Các cơ quan báo chí cần tổ chức thông tin cân bằng hơn, tăng cường thông tin về các mặt tích cực, tốt đẹp trong xã hội tránh tình trạng mất cân bằng thông tin, khiến các thế lực thù địch, phản động dựa vào đó vu khống rằng bộ mặt đất nước quá nhiều gam màu xám, thiếu những tươi mới, phấn khởi… Bên cạnh đó, các cơ quan báo chí cần tăng cường đáng kể thời lượng cho các chuyên mục đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng…

Bên cạnh đó, cần thiết phải hình thành, duy trì hoạt động hiệu quả các trang thông tin trên mạng xã hội, nhất là trên mạng xã hội Facebook được tổ chức khoa học, bài bản, với đội ngũ phụ trách chuyên nghiệp, có nghề nhằm kịp thời, chủ động nhận diện, đấu tranh bài bản, khoa học, xác đáng, thuyết phục, hiệu quả trước các âm mưu, thủ đoạn, hành động xấu xa của các thế lực thù địch, phản động, từ việc viết bài đăng trên các phương tiện truyền thông xã hội nhằm xuyên tạc Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước ta, bôi xấu các lãnh đạo cấp cao, nhằm gây chia rẽ nội bộ; đến những việc như kêu gọi tụ tập, kích động biểu tình, chống phá; gây hấn, lăng nhục, chửi bới vô cớ, phạm pháp… để khiêu khích chính quyền, lực lượng chức năng “trấn áp” và quay video clip, chụp ảnh, lives tream để vu oan cho chính quyền…

Thứ sáu, cần kịp thời phát hiện, nhận diện để đấu tranh, can thiệp, nghiêm trị những phần tử phá hoại núp dưới danh nghĩa “yêu nước”, “nhân quyền”, “công bằng” để kích động, tạo lập các mầm mống gây bạo loạn, lật đổ… trên tất cả các phương diện, hình thức khác nhau, từ không gian mạng, đến các vụ việc cụ thể trong đời sống.

Phải khu biệt, cô lập, xác định đúng đối tượng phản động, phá hoại, kích động, chủ mưu trong từng vụ việc, cũng như đã cố tình vi phạm cả thời gian dài một cách có hệ thống để đưa ra xét xử trước pháp luật những phần tử chống phá, những kẻ nhân danh “lòng yêu nước”, “vì dân chủ”, “vì công bằng”, nhất là hai tổ chức phản động ở nước ngoài đã được Bộ Công an Việt Nam đưa vào danh sách các tổ chức khủng bố là Việt Tân và “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”…

Rõ ràng, chỉ có bị nghiêm trị trước pháp luật, các phần tử, những kẻ cố tình chống phá cách mạng nước ta mới giác ngộ, nhụt chí, từ bỏ sự phá hoại điên cuồng, ngu muội, cùng đường, vô lối...

Sự nghiêm trị của pháp luật cũng góp phần cảnh tỉnh, răn đe các đối tượng bất mãn, thiếu hiểu biết, tham lam mù quáng… không bước chân vào con đường tội lỗi, góp phần tàn phá chính đất nước, đồng bào mình.

 

KIÊN QUYẾT ĐẨY MẠNH ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG, TIEU CUC

 

Kiên quyết đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực từ Trung ương đến địa phương, tránh tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”, gây tâm lý hoài nghi, bất an, thậm chí mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng. Có thể khẳng định rằng, việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, những mặt trái trong xã hội thời gian qua đạt được nhiều kết quả tích cực, lấy lại niềm tin của đông đảo quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

Rõ ràng, đây là vấn đề hệ trọng, là mối quan tâm lớn của toàn Đảng, toàn dân nên không thể vội vàng, mắc sai lầm. Nhưng cũng vì thế mà không thể “chùng xuống”, không thể thiếu quyết liệt trong chỉ đạo, thực hiện, nhất là việc đẩy nhanh tiến độ xác minh, điều tra, xử lý các vụ việc, vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp…

Có như vậy, mới thấy rằng, cuộc đấu tranh này là không có “vùng cấm”, không loại trừ bất kỳ ai vi phạm pháp luật; qua đó tiếp tục củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, mới giúp cả nước đồng lòng, quyết tâm đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần đẩy mạnh công bằng xã hội, giúp đất nước phát triển tích cực, vững bền…


Một đánh giá phiến diện về tự do trên mạng của FH về Việt Nam

 


            Ngày 21/9, trong báo cáo hằng năm có tên “Tự do trên mạng 2021: Nỗ lực toàn cầu nhằm kiểm soát các đại công ty công nghệ”, tổ chức Freedom House (FH) đã đưa ra các cáo buộc sai sự thật về tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Trong báo cáo này, FH “chấm điểm” Việt Nam ở mức 19/100 điểm, thuộc nhóm các quốc gia “không có tự do Internet”(?).

Tỷ lệ người sử dụng internet ở Việt Nam rất cao

Tại buổi họp báo thường kỳ tổ chức theo hình thức trực tuyến vào ngày 23/9, liên quan tới câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam trước việc ngày 21/9, Tổ chức Freedom House ra báo cáo tiếp tục xếp Việt Nam vào nhóm các quốc gia không có tự do trên Internet, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng nêu rõ: “Đây không phải là lần đầu tiên tổ chức này đưa ra những đánh giá thiếu khách quan, định kiến dựa trên những thông tin sai sự thật về Việt Nam. Thực tế, những nỗ lực thúc đẩy và bảo đảm quyền con người ở Việt Nam được các nước, tổ chức quốc tế đánh giá cao tại Cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc qua các chu kỳ. Do đó, báo cáo của Freedom House là vô giá trị và tôi thấy không cần thiết phải bình luận thêm”.

Chúng ta đều biết ngày 19/11/1997, Việt Nam mới chính thức kết nối internet toàn cầu. Như vậy, có nghĩa là Việt Nam kết nối với internet toàn cầu chậm hơn nhiều so với các quốc gia khác. Tuy nhiên, số người sử dụng internet ở Việt Nam đã không ngừng tăng cao. Nếu ở giai đoạn đầu mới chỉ có khoảng trên 200 nghìn người sử dụng thì năm 2012, số người sử dụng internet lên tới 31 triệu người, năm 2017, con số này là hơn 50 triệu, chiếm 54% dân số, cao hơn mức trung bình 46,64% của thế giới khi ấy. Và nay, con số người sử dụng internet ở Việt Nam đã lên tới 68 triệu người, chiếm khoảng 70% dân số. Với con số này, Việt Nam là quốc gia có lượng người dùng Internet cao thứ 12 trên toàn thế giới và đứng thứ 6 trong tổng số 35 quốc gia/vùng lãnh thổ khu vực Châu Á. Nếu thật sự ở Việt Nam “không có tự do internet”, người dân “gần như bị cấm truy cập vào mạng xã hội” như bảng “chấm điểm” kia của FH thì phải giải thích ra sao về con số này?

Tự do internet không phải muốn làm gì thì làm

Internet là mạng xã hội ảo, song những tác hại mà nó gây ra là thật, vì vậy, các nước đều có những quy định để quản lý internet. Không phải chỉ Việt Nam, nhiều quốc gia trên thế giới đều ban hành các quy định để quản lý mạng xã hội phù hợp hướng tới môi trường internet an toàn lành mạnh, bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của người sử dụng.

Ủy ban Châu Âu (EC) yêu cầu Facebook, Google, Twitter phải điều chỉnh các điều khoản sử dụng dịch vụ, truy quét thông tin xấu, gồm cả tin xuyên tạc, sai sự thật, nếu không sẽ phải chịu chế tài xử lý nghiêm khắc. Chính phủ Mỹ đã ban hành 3 đạo luật an ninh mạng chính là: Đạo Luật về Quyền riêng tư trong lĩnh vực Y tế (HIPPA) năm 1996, Đạo Luật Gramm-Leach-Bliley trong lĩnh vực Tài chính năm 1999 và Đạo Luật An ninh nội địa năm 2021. Tòa án Tối cao Mỹ đã thông qua sửa đổi Điều 41 Bộ luật Hình sự, cho phép Cục Điều tra Liên bang (FBI) được quyền truy cập vào máy tính của bất kỳ ai, ở bất kỳ đâu và vào bất kỳ lúc nào nhằm ngăn chặn các hành vi vi phạm an toàn thông tin mạng internet.

Đức đã có quy định về Luật An ninh mạng từ rất sớm. Tháng 7/2015, Quốc hội Đức đã thông qua Luật An ninh mạng nhằm bảo vệ tốt hơn cho công dân và các doanh nghiệp trong kỷ nguyên số. Luật An ninh mạng của Đức yêu cầu các công ty và cơ quan liên bang phải có tiêu chuẩn bảo mật mạng tối thiểu và phải được Văn phòng Bảo mật Thông tin Liên bang (BSI) chứng nhận. Trong luật mới có những điều, khoản cụ thể đối với người sử dụng mạng internet như cấm âm mưu sử dụng bạo lực lật đổ an ninh quốc gia, cấm xúi giục hành vi phạm tội... Luật An ninh mạng của Singapore ban hành năm 2017 cho phép Cơ quan An ninh mạng nước này theo dõi và quản lý an toàn không gian mạng của quốc gia. Cơ quan An ninh mạng được phép thực hiện các biện pháp chủ động để bảo vệ cơ sở hạ tầng thông tin quan trọng và nhanh chóng ứng phó với các mối đe dọa và sự cố…

Thời gian qua ở Việt Nam, rất nhiều người đã sử dụng internet để đưa những thông tin kích động bạo lực, xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ, vu khống người khác, đưa các thông tin dâm ô, đồi truỵ, cổ suý bạo lực, gây chia rẽ vùng miền, dân tộc… Đó là những hành vi vô cùng nguy hiểm nếu các cơ quan có trách nhiệm không có những biện pháp mạnh để quản lý nhằm lập lại trật tự này. Một điều không thể phủ nhận là internet đã chi phối hầu như rất nhiều hoạt động của con người, của xã hội, vì vậy, một trong những yêu cầu bắt buộc là dù trên không gian mạng, trên môi trường ảo thì tất cả đều phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật.

Thực tiễn không thể phủ nhận

Trước đây, để phụ họa cho bảng “chấm điểm” một lần nọ của FH, trên trang của BBC có bài viết với tiêu đề: “Dân Việt dùng mạng xã hội nhiều, nhưng Việt Nam đứng chót bảng Tự do Internet”.

Theo các quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay, các hành vi bị nghiêm cấm trên internet đều là các hành vi vi phạm và gây nguy hiểm cho an ninh quốc gia, gây bất ổn về mặt xã hội. Chẳng hạn, cấm đưa các thông tin xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc, các thông tin sai sự thật, các thông tin ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng, xúi, lôi kéo người khác phạm tội, những thông tin về mại dâm, tệ nạn xã hội, mua bán người, dâm ô, đồi trụy, tội ác… Thử hỏi có đất nước nào - dù chưa có quy định - cổ suý cho việc đăng những thông tin dạng này?

Cũng cần khẳng định lại rằng, ở Việt Nam không hề có chuyện cấm sử dụng internet, không cấm mạng xã hội: Facebook, Youtube, Google, Zalo... Cũng vậy, không có quy định nào cấm phát ngôn trên mạng, nhưng người phát ngôn phải chịu trách nhiệm về thông tin của mình. Thời gian qua, đã có rất nhiều người có các hành vi vu khống, thoá mạ, bôi nhọ người khác trên internet bị xử phạt. Cùng với đó đã có rất nhiều người bị mất an ninh trên mạng đã được bảo vệ. Nếu “rảo” một vòng trên internet chúng ta sẽ không khó để bắt gặp rất nhiều các trang facebook của những người nổi tiếng viết những bài phản biện, góp ý “nảy lửa”, thế nhưng hầu như họ cũng không bị hạn chế hay gây khó dễ nếu không vi phạm các điều khoản của nhà quản lý mạng.

Có lẽ, ngoài việc “không cần thiết phải bình luận thêm” như phát biểu của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam thì ý kiến ông Yerlan Baizhanov - Ðại sứ Kazakhstan tại Việt Nam là ý kiến xác đáng. Ông Yerlan Baizhanov đã bình luận: “Có những tổ chức nhân quyền có tư tưởng rất cứng nhắc, phiến diện. Họ bị chi phối bởi tham vọng chính trị. Họ không chú ý đến sự khác biệt về hoàn cảnh lịch sử, văn hóa. Khi lập báo cáo, họ thường bị yếu tố chính trị và định kiến chi phối. Chúng ta sống và làm việc không phải để làm hài lòng những tổ chức như FH…”

 

Về vai trò của đội ngũ trí thức


Bên cạnh giai cấp công nhân, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhất là V.I.Lênin đã nhìn thấy vai trò to lớn của nông dân và trí thức trong sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân. Họ là đồng minh, là lực lượng cách mạng, là lực lượng vật chất của giai cấp công nhân. Nhưng với những hạn chế từ chính bản thân các giai tầng này, do phương thức lao động quy định, do vai trò trong hệ thống sản xuất xã hội và không có hệ tư tưởng, các giai tầng này không thể giữ vai trò lãnh đạo xã hội. V.I.Lênin cho rằng: “so với giai cấp công nhân thì giới trí thức bao giờ cũng có nhiều tính chất cá nhân chủ nghĩa hơn, ấy là do những điều kiện cơ bản của đời sống và công tác của họ không cho phép họ thống nhất lực lượng một cách trực tiếp và rộng rãi, không cho họ được giáo dục trực tiếp trong lao động tập thể có tổ chức”(7). Chính từ đặc điểm này, V.I.Lênin luôn luôn cảnh báo về thái độ thờ ơ chính trị của đội ngũ trí thức. Người viết: “Người trí thức cấp tiến, người trí thức xã hội chủ nghĩa rất dễ biến thành quan lại của chính phủ nhà vua, thành một anh quan lại tự an ủi rằng ở trong nếp cũ quan trường, mình cũng “có ích” và viện “sự có ích” đó để bào chữa cho thái độ lãnh đạm của mình đối với chính trị, bào chữa cho tính nô lệ của mình trước cái chính phủ roi vọt”(8).

Khi nói về vai trò của trí thức, trong tác phẩm tác phẩm Làm gì, V.I.Lênin khẳng định: “Công nhân trước đây không thể có ý thức dân chủ - xã hội được. Ý thức này chỉ có thể từ bên ngoài đưa vào. Lịch sử tất cả các nước chứng thực rằng chỉ do lực lượng của độc bản thân mình thôi thì giai cấp công nhân chỉ có thể đi đến ý thức công liên chủ nghĩa... Còn học thuyết xã hội chủ nghĩa thì phát sinh ra từ lý luận triết học, lịch sử, kinh tế, do những người có học thức trong giai cấp hữu sản, những trí thức xây dựng nên”(9). Khi đề cập đến vấn đề này, V.I.Lênin đã chỉ ra rằng, việc hình thành hệ tư tưởng của giai cấp công nhân chỉ có thể thực hiện được thông qua vai trò của trí thức - những người đứng ở đỉnh cao tri thức nhân loại.

Tuy nhiên, theo V.I.Lênin, trí thức tồn tại với tư cách không phải là một giai cấp, mà là một tầng lớp (đội ngũ) trung gian trong xã hội, hoạt động trong lĩnh vực lao động trí óc (sản xuất tinh thần là chủ yếu), trí thức không có hệ tư tưởng độc lập mà phụ thuộc vào hệ tư tưởng của giai cấp mà họ phục vụ. Với tư cách là một tầng lớp đặc biệt và ở trong một thể chế chính trị cụ thể, trí thức nói chung là của giai cấp thống trị, do hệ thống giáo dục và đường lối đào tạo của nhà nước, của thể chế chính trị ấy tạo ra. Đội ngũ này tự giác hoặc không tự giác phục vụ cho chế độ và giai cấp thống trị. Quá trình đấu tranh giai cấp và tác động nhiều mặt về lợi ích đã làm cho trí thức phân hóa thành những bộ phận khác nhau. Những bộ phận đó sẽ ngả theo lực lượng này hay lực lượng khác, giai cấp này hay giai cấp khác. Điều này cũng có nghĩa rằng, trí thức không phải là “siêu giai cấp”, “đứng trên mọi giai cấp” như quan niệm của các học giả tư sản, mà theo V.I.Lênin, “Nếu không nhập cục với một giai cấp thì giới trí thức chỉ là một con số không mà thôi”(10). Do đó, trí thức chỉ có thể chứng tỏ mình là một lực lượng xã hội thực sự khi gắn bó chặt chẽ và được sự ủng hộ của một giai cấp, tầng lớp nào đó trong xã hội. Theo nghĩa đó, trí thức không thể là đội ngũ lãnh đạo xã hội.

Lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế cho thấy, trong giai đoạn đầu của cách mạng vô sản, phần lớn những người trí thức đứng về phía giai cấp tư sản, bảo vệ những quan điểm, lập trường tư sản, phản ánh những lợi ích của giai cấp tư sản. Cùng với thực tiễn đấu tranh cách mạng của quần chúng nhân dân, tầng lớp trí thức ngày càng nhận rõ vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và tìm thấy lợi ích của mình trong cuộc đấu tranh chung đó. Vì thế, ngày càng nhiều trí thức đi theo giai cấp công nhân, ủng hộ phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

Ngày nay, trí thức càng có vai trò to lớn trong cách mạng khoa học công nghệ. Với những phát minh, sáng chế của trí thức, quá trình sản xuất vật chất của công nhân và nông dân đã có thay đổi căn bản, góp phần thay đổi sức sản xuất của xã hội, tạo ra sự phát triển vượt bậc của thời đại mới về cả giá trị vật chất và tinh thần cho nhân loại. Tuy nhiên, với những đặc điểm cơ bản nêu trên, trí thức không phải là đội ngũ lãnh đạo xã hội.


Vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản


Đảng cộng sản mang bản chất của giai cấp công nhân nên vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản cũng xuất phát từ bản chất cách mạng và vai trò của giai cấp ấy.

Khi phân tích về các giai tầng trong xã hội từ khi giai cấp công nhân xuất hiện, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, trong tất cả các giai cấp tồn tại cùng với giai cấp công nhân, chỉ có giai cấp công nhân là giai cấp hội đủ các yếu tố của một giai cấp lãnh đạo xã hội. Chỉ có giai cấp công nhân mới đủ sức cầm ngọn cờ cách mạng định hướng cho con đường đi của lịch sử nhân loại. Điều này không phải là mong muốn của chủ quan của giai cấp công nhân hay nguyện vọng của C.Mác như nhiều quan điểm lập luận. Sở dĩ giai cấp công nhân có được vai trò và sứ mệnh ấy bởi lẽ, giai cấp công nhân có sự khác biệt với tất cả các giai tầng khác về địa vị trong phương thức sản xuất, về tính tổ chức, tính kỷ luật và hệ tư tưởng.

Giai cấp công nhân ra đời và phát triển trong nền công nghiệp hiện đại với phương thức lao động đặc trưng là gắn liền với dây chuyền máy móc, sản xuất tập trung, theo chu trình khép kín. Chính điều này làm cho giai cấp công nhân có tính kỷ luật chặt chẽ. Tính kỷ luật chặt chẽ làm cho giai cấp công nhân thống nhất được hành động, thống nhất được lợi ích, qua đó thống nhất được nhận thức, tư tưởng. Nói cách khác, khi nhận thức được vai trò, sứ mệnh lịch sử của mình, hệ tư tưởng của giai cấp công nhân được hình thành. Hệ tư tưởng đã trở thành vũ khí trong cuộc đấu tranh giải phóng chính giai cấp công nhân và nhân dân lao động cần lao trên phạm vi toàn thế giới. Trong lịch sử, một giai cấp chỉ khẳng định được vai trò lãnh đạo của mình nếu có hệ tư tưởng. Nếu không có hệ tư tưởng thì các phong trào cách mạng chỉ có tính chất tự phát, tạm thời, kiểu “lửa rơm chóng tắt”(4), chứ không thể “lay chuyển những khối quần chúng đông đảo, những dân tộc trọn vẹn; rồi đến những giai cấp trọn vẹn trong mỗi dân tộc”(5), “đến chỗ tiến hành những hành động lâu dài đưa đến những biến đổi lịch sử vĩ đại”(6).