Thứ Hai, 25 tháng 10, 2021

THỦ ĐOẠN ‘VẤY MỰC’ HÌNH ẢNH NGƯỜI CHIẾN SỸ GIÚP DÂN TRONG ĐẠI DỊCH COVID-19

 Những ngày qua, làn sóng thứ 4 của dịch COVID – 19 đã tác động, ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống vật chất, tinh thần của người dân Việt Nam. Từ tháng 4/2021 đến nay, đại dịch COVID – 19 đã xuất hiện ở nhiều địa phương trên cả nước như Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội, Nghệ An, Hà Tĩnh, TP Hồ Chí Minh, Bình Dương…

Trong tình hình dịch bệnh, điều khó khăn hơn cả là trong số những người cách ly tập trung và cách ly tại nhà lại là những lao động chính trong gia đình, họ là những người trực tiếp tham gia vào các hoạt động sản xuất tại các xí nghiệp hoặc ở ruộng đồng. Rõ ràng, nếu như khi đến mùa vụ thu hoạch lúa, vải thiều, dưa hấu… mà không kịp thu hoạch, chỉ chậm ít ngày thì tất cả các sản phẩm đó có thể hư hỏng, dẫn đến thiệt hại lớn đến nguồn thu của bà con.

Trong khi lực lượng Quân đội đang nỗ lực chống dịch, hỗ trợ cho người dân hạn chế những thiệt hại kinh tế do dịch bệnh gây ra bằng những hành động thiết thực như vậy thì có không ít đối tượng phản động, chống đối đã đăng tải các bài viết, đưa ra các bình luận tiêu cực về công tác phòng, chống dịch. Họ đưa ra các bài viết, bình luận bôi nhọ hình ảnh người chiến sỹ, cho rằng các bộ đội đang “diễn kịch gặt lúa”, “diễn kịch hái vải thiều”…

Không chỉ riêng những blogger mà nhiều trang mạng phản động cũng vào hùa để ăn theo những hình ảnh mang tính vu cáo cán bộ, chiến sĩ. Nhiều tài khoản mạng xã hội vào a dua, ăn theo nói leo, đưa ra những bình luận khiếm nhã, thiếu tôn trọng lực lượng đang ngày đêm làm công tác phòng, chống dịch.Việc sử dụng các hình ảnh rồi bôi nhọ Quân đội không phải là một chiêu trò mới lạ của thế lực chống đối, thù địch. Tuy nhiên, với phương châm “bình mới, rượu cũ”, các thế lực thù địch, phản động vẫn gây ra sự hoang mang, dao động đối với một bộ phận người xem thiếu hiểu biết, gây nên các tâm lý hoài nghi, không tôn trọng sự thật khách quan. Nhiều đối tượng còn sử dụng video, hình ảnh được cắt ghép, sai sự thật nhưng quảng bá là ảnh thật, người thật nhằm đánh lừa người xem. Mục đích của những chiêu trò này là từng bước tác động nhằm thay đổi nhận thức tư tưởng của người dân tham gia mạng xã hội, là những bước cơ bản để tiến hành chia rẽ lực lượng vũ trang với nhân dân.

Với những luận điệu trên, lật ngược lại vấn đề, thử hỏi những người đang xuyên tạc, vu khống, bôi nhọ, họ đã làm được gì để hỗ trợ cho nhân dân vùng dịch, cho đất nước khống chế dịch bệnh hay chưa? Với mỗi người dân khi tham gia mạng xã hội, hãy là người dùng mạng tỉnh táo, không tiếp nhận, lan truyền thông tin xấu độc trong tình hình diễn biến dịch COVID – 19 hết sức phức tạp như hiện nay. Đặc biệt là không tin, nghe và không chia sẻ, bình luận, lan truyền những luận xuyên tạc, vu cáo, bôi nhọ hình ảnh lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.

Sự cần thiết của tư duy dám nghĩ, dám làm

 Trong điều kiện tình hình cách mạng nước ta hiện nay, kinh nghiệm chống dịch vừa rồi, có rất nhiều tình huống đòi hỏi người cán bộ phải linh hoạt, sáng tạo, trên cơ sở phải có kinh nghiệm dám nghĩ, dám làm phong phú  thì mới có thể giải quyết được những vấn đề nảy sinh khó khăn và phức tạp.

          Tư duy năng động, dám nghĩ, dám làm hoạt động bao giờ cũng là mảnh đất hiện thực cho sự hình thành, phát triển những phẩm chất nhân cách, trí tuệ, tài năng của mỗi con người. Chính thông qua dám nghĩ, dám làm, người cộng sản có điều kiện áp dụng tri thức đã tiếp thu, tích luỹ kinh nghiệm, vốn sống nâng cao nhận thức, giác ngộ chính trị. Mặt khác, thông qua dám nghĩ, dám làm họ bày tỏ tình cảm, cảm xúc của mình, biểu lộ thái độ, hành vi, ý chí cá nhân trước sự kiện, khó khăn thử thách.

          Bằng tư duy dám nghĩ dám làm, thông qua thực tiễn, họ mới tự kiểm tra, đánh giá được trình độ nhận thức, tình cảm và ý chí của họ so với cái chuẩn, từ đó hình thành ý thức rèn luyện, tu dưỡng. V.I.Lê-nin vạch rõ: Chúng ta căn cứ vào cái gì để xét đoán những tư tưởng, tình cảm thực của cá nhân có thực, tất nhiên căn cứ ấy chỉ có thể là những hoạt động của cá nhân ấy. Như vậy, Lê Nin đã rất đề cao vai trò của thực tiến, của tư duy dám nghĩ dám làm. Những vấn đề được V.I.Lê-nin nêu ra cách đây gần một thế kỷ chính là những chỉ dẫn có ý nghĩa phương pháp luận cần tiếp tục nghiên cứu, khai thác trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam hiện nay.

          Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng căn dặn: Học lý luận cốt là để áp dụng vào công việc thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luận suông. Dù xem được hàng ngàn, hàng vạn quyển lý luận, nếu không đem ra thực hành, thì khác nào cái hòm đựng sách. Với ý nghĩa đó, giáo dục lý tưởng cộng sản phụ thuộc rất lớn vào khả năng và mức độ dám nghĩ, dám làm của họ. Tư tưởng của Người vẫn luôn còn đúng trong mọi điều kiện, hoàn cảnh của cách mạng.

          Như vậy, dù trong cương vị công tác nào, mỗi đảng viên, cán bộ phải luôn tích cực tu dưỡng, rèn luyện tư duy dám nghĩ, dám làm để có đủ bản lĩnh và năng lực hoàn thành mọi nhiệm vụ mà Đảng giao phó./.

Bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho công nhân các khu công nghiệp

 Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, giai cấp công  nhân ngày càng đóng góp vai trò quan trọng. Trước tác động của mặt trái của nền kinh tế thị trường, cộng với những hiệu ứng hai mặt của không gian mạng, công nhân trong các khu công nghiệp trên địa bàn cả nước là đối tượng dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng để truyền bá các tư tưởng chống đối. Do vậy, đối với nước ta hiện nay, giáo dục đạo đức cách mạng vừa là một nội dung cơ bản trong giáo dục chính trị, tư tưởng vừa là một giải pháp quan trọng trong nâng cao niềm tin, lý tưởng cộng sản cho công nhân các khu công nghiệp.

          Phẩm chất, đạo đức cách mạng là một trong những yêu cầu cơ bản của nhân cách, là yếu tố tạo nên tình cảm cách mạng của người cách mạng. Không thể có niềm tin, lý tưởng cộng sản nếu ở con người không có sự hội tụ của giá trị đạo đức cách mạng, của lối sống XHCN. Nói cách khác, sự sa sút, tha hoá về đạo đức, lối sống ở con người chính là cơ sơ để giảm sút, sói mòn niềm tin, lý tưởng cộng sản. Nghị quyết Đại hội XI nhấn mạnh: Đặc biệt quan tâm giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên để mỗi cán bộ, đảng viên thực sự là tấm gương sáng về phẩm chất, đạo đức, lối sống, hết lòng vì nhân dân, vì sự nghiệp cách mạng. Theo chúng tôi, giáo dục đạo đức cách mạng, lối sống XHCN cho công nhân để nâng cao niềm tin, lý tưởng cộng sản cần tập trung theo hướng: Các giá trị đạo đức được định hướng, giáo dục phải được xác lập trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Hệ thống các giá trị định hướng giáo dục để nâng cao đạo đức cách mạng, lối sống XHCN phải trên cơ sở kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc.

          Triển khai thực hiện tốt công tác rèn luyện đạo đức cách mạng cho công nhân các khu công nghiệp sẽ thực hiện được mục tiêu kép, vừa bảo vệ cho lực lượng công nhân các khu công nghiệp trước những cám dỗ của cơ chế thị trường vừa làm cho những công nhân các khu công nghiệp này thành những chiến sỹ kiên trung chống lại những đối tượng thù địch, phản động.

Những kẻ ngây ngô học đòi bình luận

 Đã từ lâu đời, người Việt Nam có câu “nghe hơi nồi chõ” để chỉ những người mới nghe thông tin loáng thoáng đâu đó, không thèm kiểm chứng, đã vội tin ngay, để rồi tự làm khổ mình, khổ người thân. Lại có những người thích làm “thầy bói xem voi”, biết được một chút nhưng lại cứ tưởng mình biết tuốt, vội phán ngay như đúng rồi. Hai tính cách này mà kết hợp với nhau trong 1 người thì đúng là thảm họa. Thảm họa như cái cách mà một số kẻ mới đây ngô nghê bình luận về kinh tế.

          Chẳng hiểu họ suy nghĩ thế nào lại đem ghép 2 cái câu chẳng ăn nhập vào nhau để giật một cái tít rồi hả hê. Câu thứ nhất là của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ nói vào ngày 12/10 trong cuộc họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về kế hoạch cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2021-2025. Nguyên văn câu này nói đến việc tiền trong dân còn nhiều có ý nghĩa là làm sao tạo ra các chính sách tốt để huy động nguồn lực xã hội, nguồn lực trong dân vào những lĩnh vực sản xuất mang lại hiệu quả cao để thúc đẩy nền kinh tế. Tiền trong dân là của dân chứ liên quan gì đến việc làm ăn lỗ hay lãi của các doanh nghiệp nhà nước? Ai có nhận thức tối thiểu cũng thừa hiểu, tiền người dân có chi ra thì cũng là để phục vụ cho lợi ích của chính họ, Nhà nước chỉ có thể tạo ra các chính sách tốt để làm sao lợi ích của người dân cũng đồng thời mang lại lợi ích chung cho tổng thể cả nền kinh tế.

          Có lẽ sự ngây ngô nhất của những kẻ này được bộc lộ khi xoáy sâu vào câu chuyện Nhà nước hỗ trợ 12.000 nghìn tỷ đồng cho Hãng hàng không Quốc gia Vietnam Airline (VNA) trong mùa dịch COVID-19. Khi dịch bệnh xảy ra, các nước đều áp đặt lệnh giãn cách, hạn chế di chuyển, các hãng hàng không buộc phải tạm dừng hoạt động vì không có khách, không có doanh thu. Trong khi đó, chi phí mà các hãng này phải chi ra để duy trì hoạt động là không hề nhỏ, từ tiền lương cho đội ngũ nhân viên khổng lồ, tiền lãi vay ngân hàng, tiền thuê máy bay, thuê chỗ đỗ… Với tình cảnh như vậy không chỉ VNA mà tất cả các hãng hàng không trên toàn thế giới đều bị ảnh hưởng. Năm 2020, chính phủ Thái Lan phải chi 770 triệu USD (tương đương gần 23 nghìn tỷ VND) kèm theo các gói giảm thuê để cứu trợ các hãng hàng không giá rẻ nội địa với yêu cầu họ giữ lại 20 nghìn nhân viên trong suốt mùa dịch. Theo ước tính của Hiệp hội Hàng không quốc tế (IATA), ước tính đại dịch COVID-19 đã khiến ngành hàng không toàn cầu thiệt hại khoảng 250 tỷ USD trong năm 2020. Tổ chức này đã gửi thư tới lãnh đạo 18 nước thuộc khu vực châu Á-Thái Bình Dương đề nghị hỗ trợ khẩn cấp. Ngày 24/3, để hỗ trợ cho ngành hàng không của mình, Thượng viện Mỹ đã thông qua gói cứu trợ trị giá 58 tỷ USD, trong đó 1/2 số tiền trên sẽ được sử dụng dưới dạng hỗ trợ để trả lương cho khoảng 750.000 nhân viên hàng không nước này.

          Sự ngô nghê hay cố tình của những người này đã rõ. Muốn chống phá, muốn chê bai thì cũng phải có kiến thức. Còn những kẻ ngây ngô, bi bô học đòi, “thầy bói xem voi” kiêm “nghe hơi nồi chõ” thì chỉ khiến mọi người ngán ngẩm mà thôi.

Những góc nhìn tốt đẹp về Việt Nam của bạn bè quốc tế

 Những thành tựu ấn tượng của Việt Nam trong thời gian qua đã chiếm được cảm tình sâu sắc của bạn bè quốc tế. Điều đó thể hiện trong các trang báo quốc tế uy tín như:

          Trang The armchair trader của Anh vừa có bài viết nhận định Việt Nam là quốc gia có nền tảng kinh tế rất mạnh và sẽ ngày càng tốt lên, đặc biệt Việt Nam chính là câu chuyện thành công điển hình tại Châu Á. Theo The armchair trader, Việt Nam là một trong những quốc gia Đông Nam Á có khả năng chống chọi tốt với đại dịch Covid-19 và cũng có thể hưởng lợi từ xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng trong khu vực.Trích ý kiến từ Vietnam Holding, quỹ đầu tư niêm yết tại London chuyên đầu tư vào các công ty tăng trưởng cao có trụ sở tại Việt Nam, cho rằng Việt Nam là một trong những thị trường mới nổi tốt nhất trên thế giới khi đại dịch qua đi.

          Trang The armchair trader còn đặc biệt nhấn mạnh, thị trường chứng khoán Việt Nam cũng là một trong những thị trường hoạt động tốt nhất ở châu Á, tăng hơn 23% trong năm nay. Dynam Capital Management, quản lý Quỹ Vietnam Holding Limited, cho biết dù nhiều nhà đầu tư nước ngoài lớn rút khỏi thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2020-2021, song sự tham gia của các nhà đầu tư bán lẻ đã hỗ trợ đáng kể cho thị trường. Việt Nam hiện có hơn 4 triệu tài khoản giao dịch chứng khoán, chiếm khoảng 3% dân số cả nước.

          Hơn nữa, Dynam Capital cũng lạc quan về dịch vụ tài chính tại Việt Nam, cho rằng dịch vụ tài chính vẫn là lĩnh vực phân bổ lớn nhất. Điều này không có gì đáng ngạc nhiên trước sự phát triển nhanh chóng của lĩnh vực này ở Việt Nam trong thập kỷ qua. Trong khi đó, theo Vietnam Holding, đây vẫn sẽ là xu hướng trong thời gian tới tại Việt Nam. Việt Nam vẫn là nền kinh tế châu Á phát triển nhanh chóng và không phải đối mặt với các vấn đề đại dịch như một số quốc gia khác. Tăng trưởng GDP vững chắc và dân số đông đã tiếp sức cho Việt Nam cạnh tranh hiệu quả với các nước trong khu vực trong lĩnh vực sản xuất và công nghiệp nặng, trang The armchair trader cho biết. Tháng 7/2021, trong Báo cáo đầu tư 2021 của Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), với số vốn FDI 16 tỷ USD năm 2020, lần đầu tiên Việt Nam lọt top 20 nền kinh tế thu hút FDI nhiều nhất thế giới.

          Những thành tựu đó ngày càng chứng tỏ sự đúng đắn, ưu việt của con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã sáng suốt lựa chọn.

Miệng lưỡi của những kẻ ác ý

 Dưới sự chỉ đạo tài tình, sáng suốt của Đảng và Chính phủ, cùng sự hoà đồng, nhất trí của nhân dân, tình hình dịch bệnh trên cả nước đi từ chỗ vô cùng bi đát đến nay đã được kiểm soát cơ bản. Những người dân trước đây đã về quê tránh dịch nay lại nối đuôi nhau quay trở lại thành phố để tiếp tục làm ăn sinh sống. Vậy mà nhiều kẻ ác ý lại cố tình xuyên tạc, bịa đặt với những ý đồ xấu xa, ác độc.

          Giọng điệu của chúng là “dòng người đó chỉ có vài trăm chứ không phải vài nghìn”, rồi là “không có công nhân mà toàn người có nhà và có việc văn phòng thành phố nên quay lại”. Nếu có nhà ở thành phố thì ai lại giữa mùa dịch rời phố về quê để rồi giờ phải vất vả đi xe máy cả ngày mà quay lại thành phố?

          Khôi hài hơn, chúng còn dựng lên ví dụ “chị bạn T.V”. Chị T.V” được cho là cũng trong đoàn người quay lại, chị quay lại thành phố để chuẩn bị bay sang Canada sinh sống vì ở Việt Nam “chị bị “bóc lột khổ sở” quá. Vâng, chị có tiền mua chiếc vé máy bay 20 triệu sang Canada, có tiền để chuẩn bị sinh sống ở một trong những quốc gia đắt đỏ nhất thế giới nhưng chị lại không có tiền đi ô tô, mà phải mặc áo mưa, leo lên chiếc xe máy cọc cạch phi trên đường chịu nắng mưa suốt cả ngày mới đến được thành phố! Không biết có ai tin được cái câu chuyện hoang đường này?

          Rồi theo lời “chị T.V” – mà thật ra là miệng lưỡi của những kẻ ác độc – xung quanh chị bạn bè ai cũng sắp đi nước ngoài hoặc cho con đi nước ngoài hết đến nơi, chẳng còn ai muốn ở lại nữa. Thời đại bây giờ chỉ việc bỏ tiền mua cái vé xin visa là ra nước ngoài, mà không hiểu sao đến giờ này “chị” và “bạn bè chị” vẫn ở nhà đi xe máy rồi kể chuyện tấu hài cho chúng nghe.

          Đất nước ngày một phát triển, đời sống người dân ngày một được cải thiện. Ngay khi TP.HCM và Bình Dương hoạt động bình thường trở lại là người dân từ nhiều nơi lại tụ hội về. Dẫu có cay cú xuyên tạc hay phản đối thì những kẻ ác độc đó cũng chẳng thay đổi được một sự thật đã rõ như ban ngày. Có lẽ vì vậy, mà những kẻ chỉ còn cách tìm kiếm một giấc ngủ giữa ban ngày để tìm đến một giấc mơ hoang tưởng nào đó.

Cảnh giác luận điệu của Việt Tân “Chúng ta đang sống trong xã hội vô lương và mất nhân tính”

 Gần đây, Việt Tân một tổ chức phản động đã đăng nhiều bài viết cố tình bịa đặt, xuyên tạc về dân chủ và tình hình thực thi pháp luật ở Việt Nam. Thủ đoạn của chúng là bôi nhọ hình ảnh xã hội tươi đẹp của nhân dân ta đang sống trở thành  xã hội “vô lương và mất nhân tính”.

          Trải qua các hình thái xã hội, pháp luật luôn song hành cùng sự tồn tại của Nhà nước. Nhà nước dùng pháp luật và đạo đức để duy trì xã hội. Xã hội hiện nay của chúng ta cũng vậy, mọi người phải có trách nhiệm tuân thủ pháp luật. Việc thi hành các bản án là một phần của việc tuân thủ pháp luật mà cũng là thực hiện công bằng xã hội. Ưu việt hơn cả các xã hội khác, xã hội Việt Nam hiện tại còn luôn phát huy cao nhất yếu tố đạo đức để duy trì xã hội. Trong đó đặc biệt là chính sách nhân văn, nhân nghĩa với những người đã vi phạm pháp luật, nhất là với những tội phạm chính trị.

          Mọi phạm nhân bao gồm những đối tượng phạm nhân đội lốt dân chủ như chúng đều được chăm sóc sức khoẻ theo đúng quy định. Vậy mà chúng lại viết rằng người dân chỉ cần bị bắt nhốt vào đồn Công an là bỗng dưng lăn đùng ra chết rồi được thông báo là họ tình nguyện “tự tử chết”. Thật vô lý và nực cười! Dẫn chứng cụ thể là đối tượng Trần Huỳnh Duy Thức đã từng đòi tuyệt thực, nhưng sau một thời gian ở tù thì lại tăng cân, da dẻ hồng hào. Hay là các đối tượng Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Văn Hải (Điếu cày) được chứng minh sống khá khoẻ trong tù.

          Truyền thống yêu thương đồng bào của con cháu Lạc Hồng chúng ta luôn được gìn giữ và phát huy cho đến tận mai sau. Chẳng ai có thể dửng dưng, im lặng và quay lưng trước lời khẩn cầu và kêu cứu của người khác? Xã hội của chúng ta còn đó tình thương, lòng trắc ẩn, chẳng qua những đối tượng phản động kia cố tình không thấy mà thôi. Bọn chúng tìm đâu cho ra hình ảnh ngược đãi, đối xử ác độc còn tệ hơn cả súc vật trong xã hội này mà chúng đã bịa ra.

          Để được sống trong cuộc sống như ngày hôm nay, thật không dễ dàng mà có được. Còn đó hình ảnh Nhân dân ta đoàn kết vượt qua dịch bệnh, thiên tai, còn đó hình ảnh nhân dân đùm bọc yêu thương lẫn nhau. Đừng để những bài viết của Việt Tân xuyên tạc, làm ảnh hưởng đến cuộc sống tươi đẹp của chúng ta.

KỶ NIỆM NGÀY SINH CỐ THƯỢNG TƯỚNG HOÀNG MINH THẢO TƯ LỆNH CHIẾN DỊCH TÂY. NGUYÊN (25/10/1921-25/10/2021)!

Chiến dịch Tây Nguyên (bắt đầu từ 4-3 đến 3-4-1975), mật danh: Chiến dịch 275, là chiến dịch mở đầu cho cuộc Tổng tiến công mùa xuân năm 1975 của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Chiến dịch Tây Nguyên do cố Thượng tướng Hoàng Minh Thảo là Tư lệnh chiến dịch.

Chiến dịch Tây Nguyên với trận Buôn Ma Thuột là trận đánh then chốt, mở đầu của chiến dịch tiến công Tây Nguyên năm 1975; đồng thời là trận đánh mở màn, đòn điểm huyệt chính dẫn đến sự chấm dứt chiến tranh Việt Nam (1954 – 1975) chỉ trong 55 ngày.

Khi viết cuốn sách “Tìm hiểu tổ tiên ta đánh giặc” năm 1971 ngay tại chiến trường Tây Nguyên, Giáo sư – Thượng tướng Hoàng Minh Thảo đã sớm nhận ra chỗ yếu và hiểm yếu của chiến trường Tây Nguyên.

Đến năm 1973, khi ra Bắc họp ông đã đề nghị với Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp về việc đánh Buôn Ma Thuột, chi tiết lịch sử này đã được ghi lại trong cuốn hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng – trang 126: “Trong buổi làm việc, anh Hoàng Minh Thảo với nhãn quan một nhà nghiên cứu khoa học quân sự đã nêu ý kiến: Khi đã chọn hướng chiến lược là Tây Nguyên thì trước hết nên đánh Buôn Ma Thuột, vì đây là thị xã lớn nhất, là nơi hiểm yếu và cũng là nơi sơ hở nhất. Khó khăn phải vượt qua để tiến công trên hướng này là thiếu đường hành quân và thiếu nước. Tôi rất tán thành. Sau này ý kiến đó của ông được Bộ Chính trị, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu đồng tình chấp nhận".

Thực hiện kế nghi binh lừa địch, khi Sư đoàn 10 đã tiến về Đức Lập, phía Nam Buôn Ma Thuột, Sư đoàn 320 đã tiến về Ea H’leo, Bắc Buôn Ma Thuột thì ta thực hiện đánh chia cắt chiến lược và chia cắt chiến dịch ở Tây Nguyên chuẩn bị cho việc “trói địch lại mà diệt”. Ta đánh cắt đứt đường 19, đường 14, rồi tiếp đến là đường 21 làm cho Buôn Ma Thuột hoàn toàn bị cô lập.

Thế trận đã giăng. Sư đoàn 23 ngụy bị trói chân ở Pleiku – Kon Tum, các đơn vị tổng dự bị chiến lược của địch bị ghìm ở hai đầu Nam Bắc (tức Huế – Đà Nẵng và Sài Gòn). Đây là một mưu kế chiến lược sáng suốt, nhìn xa trông rộng của Bộ Tổng tư lệnh. Thời cơ để ta hạ quyết tâm tiến công Buôn Ma Thuột đã đến. Với sức mạnh từ ba sư đoàn của các binh chủng hợp thành táo bạo và bất ngờ tiến công thẳng vào thị xã Buôn Ma Thuột.

Ngày 10-3-1975, khi những chiếc xe tăng của bộ đội ta đã cán xích trên đường phố Buôn Ma Thuột lúc đó viên tướng ngụy Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2 kiêm Tư lệnh vùng 2 chiến thuật mới biết tin. Ông ta tái mặt, choáng váng thất kinh vì đã quá muộn, ta đã làm chủ hoàn toàn Buôn Ma Thuột. Tổng thống ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh: “Phải giữ Buôn Ma Thuột bằng bất cứ giá nào”. Do đường 14 là đường bộ duy nhất nối liền Pleiku với Buôn Ma Thuột đã bị Sư đoàn 320 cắt đứt và chiếm giữ, nên Sư đoàn 23 ngụy muốn thực hiện phản kích chỉ còn cách đi bằng máy bay trực thăng, đổ quân vào nơi ta dự kiến.

Thế trận ta đã bày sẵn, Sư đoàn 10 và Trung đoàn 25 của ta liên tiếp đánh bại bốn trận phản kích của địch ở đường 21 phía Đông Buôn Ma Thuột, Sư đoàn 23 ngụy, con “át chủ bài” đã cơ bản bị xóa sổ, những cố gắng và hy vọng chiếm lại Buôn Ma Thuột của địch đã bị dập tắt.

Ngày 14-3-1975, Nguyễn Văn Thiệu và Bộ Tham mưu ngụy đã quyết định rút bỏ Tây Nguyên và ra lệnh: Tùy nghi di tản; cho quân rút về co cụm ở đồng bằng ven biển miền Trung để bảo toàn lực lượng. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã dự kiến tình huống này và đã chỉ thị cho các đơn vị đón đánh tiêu diệt chúng. Cuộc rút chạy của quân địch đã gây ra hoảng loạn “đột biến”. Sư đoàn 320 vẫn kịp thời truy kích, kết hợp với các lực lượng vũ trang tỉnh Phú Yên đã tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch rút chạy và bắt cả viên chỉ huy cuộc hành quân rút chạy này ngay tại thị xã Tuy Hòa.

Thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên đã mở ra “thời cơ chiến lược lớn” thừa thắng chuyển sang tổng tiến công và nổi dậy quân dân ta tấn công xuống đồng bằng ven biển miền Trung. Đại quân ta ào ào như thác đổ tiến về Sài Gòn tiêu diệt toàn bộ bộ thống soái của địch, kết thúc cuộc Tổng tiến công mùa xuân 1975 đại thắng, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Vị tướng chỉ huy trận đánh Buôn Ma Thuột lịch sử là Nhà giáo nhân dân, Giáo sư - cố Thượng tướng Hoàng Minh Thảo.

Từ nhãn quan một nhà nghiên cứu quân sự, ông đã chọn hướng chiến lược là Tây Nguyên – nơi hiểm yếu là Buôn Ma Thuột và trực tiếp chỉ huy, đề ra nguyên lý: “Mưu sinh ra kế, thế đẻ ra thời. Đánh bằng mưu kế, thắng bằng thời thế”, đó là những tinh hoa của nghệ thuật quân sự Việt Nam. 

Môi Trường ST.

Giải phóng phụ nữ - giá trị nhân văn trong Tư tưởng Hồ Chí Minh

 Không phải ngẫu nhiên mà ngoài ngày Quốc tế phụ nữ mùng 8 tháng 3, Việt Nam ta có riêng một ngày Phụ nữ Việt Nam 20 tháng 10. Tinh thần tôn trọng và giải phóng phụ nữ đã tồn tại trong tư tưởng của Bác Hồ, người cha gia dân tộc ngay từ từ rất sớm. Đó là một trong những giá trị nhân văn to lớn trong tư tưởng của Người.

          Trong hành trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh chứng kiến nhiều cảnh phụ nữ ở các nước, nhất là các thuộc địa, bị đối xử bất công, bị bóc lột, chà đạp một cách tàn nhẫn. Khi đến đất nước của tượng Nữ thần tự do, Người đã nhận thấy sự cách biệt về quyền con người ở Mỹ: Ánh sáng trên đầu tượng Nữ thần Tự do tỏa trên bầu trời xanh, còn dưới chân tượng Nữ thần Tự do thì người da đen đang bị chà đạp. Bao giờ người da đen mới có sự bình đẳng với người da trắng, bao giờ phụ nữ được bình đẳng với nam giới. Hồ Chí Minh nung nấu hoài bão làm sao để phụ nữ nói chung, phụ nữ Việt Nam nói riêng thoát khỏi áp bức, bất công của chế độ thuộc địa. Chỉ có giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người triệt để mới mang lại quyền tự do thật sự cho con người, tạo tiền đề thực hiện bình đẳng nam nữ và mang lại sự tiến bộ cho phụ nữ. Vấn đề giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam nữ theo Tư tưởng Hồ Chí Minh mang đậm tính nhân văn sâu sắc. Tiến sỹ M.At-mét, Giám đốc UNESCO khu vực châu Á - Thái Bình Dương khẳng định: “Trong khi chiến đấu cả đời mình chống lại ách thống trị thực dân, Người vẫn là một nhà nhân văn chân chính trong tư tưởng và hành động”.

          Hồ Chí Minh cho rằng, phụ nữ có quyền tham gia mọi hoạt động chính trị một cách bình đẳng như nam giới, có quyền bầu cử, ứng cử, có quyền tự do ngôn luận, đi lại, cư trú và quyền bình đẳng trước pháp luật. Điều 6 Hiến pháp năm 1946 do Người là Trưởng Ban soạn thảo ghi rõ: “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa”. Cụ thể hơn về quyền lợi, Điều 9 ghi: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”. Phát biểu tại phiên họp bế mạc Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa I, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới nước Việt Nam đã độc lập… phụ nữ Việt Nam đã được đứng ngang hàng với đàn ông để được hưởng chung mọi quyền tự do của một công dân”(4). Bình đẳng với nam giới về mọi phương diện, Hiến pháp năm 1946 mở ra cho phụ nữ một thời đại mới - thời đại người phụ nữ được làm chủ cuộc sống của mình, được tham gia các hoạt động xây dựng và kiến thiết đất nước - những quyền và nghĩa vụ mà người phụ nữ chưa từng được thừa hưởng trong các chế độ xã hội trước. Những quyền bình đẳng đó tiếp tục được khẳng định trong Hiến pháp năm 1959. Song song với việc ghi nhận quyền bình đẳng của phụ nữ trên các mặt của đời sống xã hội, Hiến pháp năm 1959 đã quy định các điều kiện cần thiết cho việc thực hiện quyền bình đẳng trên thực tế và nhấn mạnh đến quyền bình đẳng về việc hưởng thụ các thành quả của phát triển.

          Những quy định về quyền bình đẳng nam nữ được ghi trong Hiến pháp, pháp luật đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng về địa vị pháp lý của phụ nữ Việt Nam và thể hiện tính nhân văn, tầm nhìn vượt thời đại, tư duy chính trị sắc sảo của Hồ Chí Minh. Lần đầu tiên trong lịch sử, phụ nữ Việt Nam được pháp luật thừa nhận và bảo đảm có những quyền bình đẳng với nam giới trên tất cả các lĩnh vực. Từ đây, người phụ nữ có cơ sở pháp lý để đấu tranh đòi bảo đảm những quyền bình đẳng này trong cuộc sống của mình.

          Cùng với sự phát triển của đất nước, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phụ nữ, thực hiện quyền bình đẳng cho phụ nữ ngày càng được quan tâm và coi trọng. Điều đó đã tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện quyền bình đẳng giới, tạo ra một bước chuyển biến mới trong việc bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ ở Việt Nam. Đó chính là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới.

Những bất cập, hạn chế trong xây dựng môi trường văn hóa ở nước ta thời gian qua

 

   Thứ nhất, cơ chế, chính sách, pháp luật về xây dựng, bảo vệ môi trường văn hóa vẫn còn những hạn chế, bất cập: Một số cơ chế, chính sách chưa có chế tài đủ mạnh để ngăn chặn các hành vi vi phạm. Hệ thống các văn bản quản lý nhà nước về xây dựng môi trường văn hóa tuy đã ban hành kịp thời, song vẫn còn thiếu đồng bộ, thiếu chi tiết, quy chuẩn, tính ổn định chưa cao; vẫn còn tình trạng văn bản mới được ban hành chưa lâu đã phải sửa đổi, bổ sung, từ đó hạn chế hiệu quả điều chỉnh hành vi của các cá nhân, tổ chức trong hoạt động văn hóa, xây dựng môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh.

   Thứ hai, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tuy đã đạt được những kết quả tích cực song chất lượng phong trào chưa bền vững. Việc tổ chức thực hiện các cuộc vận động trong phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” có nơi còn chạy theo thành tích và số lượng, chưa chú ý nâng cao chất lượng. Chất lượng phong trào xây dựng gia đình văn hóa, làng, thôn, ấp, bản, buôn văn hóa chưa vững chắc và đồng đều giữa các vùng. Chất lượng các danh hiệu văn hóa, như gia đình văn hóa, làng văn hóa, thôn, ấp, bản văn hóa ở nhiều nơi còn hạn chế; chưa phát huy hiệu quả và hấp dẫn được đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia.

   Thứ ba, xây dựng và thực hiện nếp sống văn hóa vẫn còn một số bất cập. Công tác quản lý và tổ chức một số lễ hội còn bộc lộ những yếu kém. Có biểu hiện thương mại hóa trong lễ hội, lợi dụng lễ hội để trục lợi, xuất hiện hiện tượng phản cảm, tranh cướp, chen lấn, xô đẩy, tranh giành, đeo bám khách làm mất trật tự, an ninh; lợi dụng tổ chức các trò chơi biến tướng sang đánh bạc còn diễn ra ở một số lễ hội, vẫn còn hiện tượng đốt nhiều vàng mã gây tốn kém, tiềm ẩn nguy cơ cháy, nổ; tình trạng xả rác bừa bãi vẫn còn diễn ra trong một số lễ hội làm ảnh hưởng không gian tổ chức lễ hội. Trong việc hiếu, hỉ, vẫn còn hiện tượng tổ chức đám cưới linh đình, tốn kém; tổ chức đám tang trong nhiều ngày gây ô nhiễm môi trường; lối sống, nếp sống văn hóa truyền thống tốt đẹp đang có biểu hiện suy giảm.

   Vẫn còn biểu hiện xuống cấp, suy thoái về đạo đức, lối sống. Đạo đức nghề nghiệp của một số ngành, nghề, nhất là những ngành, nghề vốn nhân văn, cao quý, như ngành giáo dục - đào tạo, có biểu hiện xuống cấp, gây nên những bức xúc, tạo hệ lụy xấu trong đời sống xã hội. Văn hóa ứng xử giữa con người với tự nhiên còn nhiều hạn chế, khiến môi trường sinh thái bị xâm hại. Đó là hiện tượng khai thác cạn kiệt nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá, như chặt phá rừng, sử dụng nguồn nước ngầm thái quá... đã phá vỡ các quy luật vốn có của tự nhiên dẫn đến hệ quả xấu. Môi trường thiên nhiên bị hủy hoại ngày càng tác động tiêu cực trở lại đến đời sống của con người, như hạn hán, lũ lụt, xâm nhập mặn, triều cường, nước biển dâng, sạt lở núi, đồi, sạt lở ven sông, ảnh hưởng đến đời sống người dân.

   Việc xây dựng mối quan hệ giữa con người với con người cũng chưa được chú ý đúng mức. Lối sống vì mình, quên người; vì lợi, bỏ nghĩa có nguy cơ lan rộng và bào mòn nhân tính của con người. Quan hệ giữa người và người dễ bị lấn át, che khuất trong các mối quan hệ trao đổi hàng - tiền, tiền - tiền, tiền và vật chất,... đã vô tình tạo ra cách nhìn nhận và đánh giá con người thông qua giá trị của cải vật chất, mà không phải là giá trị tình cảm trong sáng, nhân văn vốn là vốn quý trong đạo đức, lối sống truyền thống mà cha ông ta đã để lại.

   Tệ nạn xã hội gia tăng, gây hậu quả nghiêm trọng. Tính chất và số lượng các vụ án ma túy, mại dâm, cướp bóc, trấn lột, giết người... vẫn đang diễn ra ngày càng tinh vi, phức tạp. Tỷ lệ thanh thiếu niên gây ra các vụ án ngày một tăng cả về số lượng và mức độ nghiêm trọng. Tình trạng bạo hành gia đình, bạo lực học đường, xâm phạm trẻ em... vẫn là những vấn đề nóng trong xã hội. Đặc biệt, ở một số vùng nông thôn, phụ nữ và trẻ em vẫn là những đối tượng chính trong các vụ án mua bán người. Các tệ nạn xã hội, như cờ bạc, buôn lậu, mua bán trái phép chất ma túy, cá độ, tín dụng đen, cho vay nặng lãi... hoạt động ngày một tinh vi và thách thức cán bộ quản lý, gây nên những bức xúc trong xã hội. Vẫn còn hiện tượng du nhập, truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy, hoạt động thiếu lành mạnh thông qua các cơ sở dịch vụ văn hóa, như vũ trường, karaoke, in-tơ-nét công cộng...

   Thứ tư, tính ổn định, bền vững của những giá trị truyền thống tích cực trong đời sống văn hóa chưa cao. Tốc độ đô thị hóa, xu thế nông thôn hóa thành thị đang phá vỡ nền tảng văn hóa truyền thống, nhiều giá trị văn hóa truyền thống bị xói mòn hoặc bị phá vỡ như giá trị văn hóa làng, xã. Sự bền vững của nền tảng gia đình truyền thống bị lay chuyển, bản sắc văn hóa có nguy cơ suy giảm; các giá trị văn hóa trong gia đình, dòng họ, làng, xã có biểu hiện ngày càng đi xuống; từ đó, ảnh hưởng tới việc nuôi dưỡng và rèn nhân cách con người. Sự phân cực giàu nghèo, biến đổi khí hậu, tình trạng ô nhiễm môi trường sống vẫn tồn tại đã và đang làm biến đổi đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, khiến cho cuộc sống thường ngày của người dân bị ảnh hưởng. Công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa gặp nhiều khó khăn, bấp cập; nhiều di sản văn hóa bị xuống cấp, xâm phạm, ảnh hưởng tới sự tôn nghiêm của di sản. Nhiều phong tục, tập quán truyền thống tốt đẹp của các dân tộc bị ảnh hưởng do quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa làm mất đi bản sắc văn hóa của dân tộc, vùng, miền. Một số phong tục, tập quán cũ không còn phù hợp, trong khi đó các giá trị văn hóa mới chậm hình thành, chưa được khẳng định trong đời sống xã hội hiện nay; một số hình thức văn hóa, lối sống không lành mạnh thâm nhập về nông thôn, làm mất đi nét đẹp mang tính văn hóa truyền thống làng, xã ở nông thôn.

   Thứ năm, các thiết chế văn hóa, chưa phát huy được hết chức năng, chưa mang lại hiệu quả thiết thực. Một số nhà văn hóa, trung tâm văn hóa chỉ tồn tại mang tính hình thức, mà không có hoạt động văn hóa, sinh hoạt văn hóa thực chất, chưa thu hút được đông đảo quần chúng nhân dân tham gia; một số hoạt động cầm chừng, trang thiết bị, sách, báo còn thiếu nhiều,...

   Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, yếu kém trên, chủ yếu ở mấy điểm sau đây:

   - Nhận thức về xây dựng môi trường văn hóa chưa đầy đủ, toàn diện và thấu đáo: Một số cấp ủy, chính quyền chưa nhận thức đúng đắn và đầy đủ nên chưa có sự quan tâm đúng mức trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện, chưa cụ thể hóa bằng các biện pháp, kế hoạch và chương trình, thậm chí có tình trạng buông lỏng trong quản lý và tổ chức các hoạt động văn hóa.

   - Công tác tuyên truyền chưa đạt hiệu quả tối ưu: Công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động, nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân về xây dựng đời sống văn hóa nói riêng và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh nói chung chưa được thực hiện thường xuyên, bài bản, dẫn đến chưa phát huy được ý thức tự giác, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân, cộng đồng trong việc tham gia xây dựng môi trường văn hóa. Các hình thức tuyên truyền, giáo dục chưa phong phú và ít hiệu quả, còn mang tính hình thức, chưa đi sâu vào thực chất. Các hoạt động văn hóa chưa thực sự thu hút được đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia.

   - Xã hội hóa trong xây dựng môi trường văn hóa đạt hiệu quả thấp: Xây dựng nếp sống, lối sống văn hóa và xây dựng môi trường văn hóa là công việc của toàn xã hội. Việc thực hiện xã hội hóa trong xây dựng nếp sống, lối sống văn hóa và môi trường văn hóa tuy đã đạt được một số kết quả nhất định, nhưng chưa thu hút được sự tham gia đông đảo của các tổ chức, cá nhân và các tầng lớp nhân dân; vì vậy, các phong trào, các hoạt động văn hóa chưa phát triển bền vững, còn mang tính hình thức; chưa thực sự gắn kết với sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường sinh thái gắn với xây dựng môi trường văn hóa.

   - Công tác nghiên cứu khoa học chưa đáp ứng được đòi hỏi, yêu cầu thực tiễn đang đặt ra: Mặc dù công tác nghiên cứu khoa học về văn hóa và môi trường văn hóa đã được quan tâm, song chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu có giá trị về lý luận và thực tiễn sâu sắc, cung cấp những luận cứ khoa học xác đáng, kiến giải cho những hiện tượng, vấn đề mới đang phát sinh trong môi trường văn hóa, để trên cơ sở đó, định hướng cho công tác quản lý và tổ chức thực hiện xây dựng môi trường văn hóa ở nước ta hiện nay.

     Giải pháp xây dựng môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh

   Trên cơ sở các thành tựu đã đạt được và những bất cập, yếu kém cần khắc phục, từ thực tiễn môi trường văn hóa trong giai đoạn hiện nay, để xây dựng môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh, cần thực hiện một số giải pháp sau:

   Thứ nhất, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vị trí, vai trò của môi trường văn hóa trong sự phát triển bền vững, cũng như nội dung của xây dựng môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh.

   Thứ hai, tăng cường công tác quản lý nhà nước, hoàn thiện, xây dựng hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách: Để xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, tiến bộ, là nền tảng tinh thần của xã hội, nhất thiết phải có hệ thống pháp luật hướng tới việc bảo vệ các giá trị, đạo đức, lối sống, nếp sống văn hóa tốt đẹp, bảo vệ, tôn trọng quyền làm chủ của người khác, của cộng đồng. Thông qua vai trò quản lý nhà nước, xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, dùng luật pháp để điều chỉnh hành vi con người cho phù hợp, nhằm dần trở thành ý thức tự giác của mỗi người, hướng tới thực hiện chuẩn mực về tư tưởng, đạo đức, lối sống, nếp sống văn hóa.

   Thứ ba, quan tâm đầu tư, đào tạo nguồn lực xây dựng môi trường văn hóa: Phải có cơ chế, chính sách đầu tư, đào tạo nguồn lực, trước tiên là củng cố bộ máy cơ quan nhà nước đủ mạnh để tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ quan trọng này. Có chính sách phát triển văn hóa tương ứng với phát triển kinh tế, đầu tư về nguồn lực con người, nguồn lực tài chính nhằm hoàn thiện các thể chế, thiết chế văn hóa phục vụ xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở.

   Thứ tư, nâng cao chất lượng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, thực hiện chế độ tôn vinh khen thưởng kịp thời: Đặc biệt chú trọng các phong trào hạt nhân, như phong trào xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa và phong trào thi đua người tốt, việc tốt và các điển hình tiên tiến. Thường xuyên chú trọng công tác tôn vinh, khen thưởng những điển hình tiên tiến về tư tưởng, đạo đức, lối sống, xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở. Tiếp tục đẩy mạnh việc nêu gương người tốt, việc tốt; lấy nhân tố tích cực để đẩy lùi tiêu cực; đồng thời, phê phán, đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, vi phạm những chuẩn mực đạo đức, lối sống.

   Thứ năm, đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động văn hóa; tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, phát huy có chọn lọc các giá trị văn hóa truyền thống trong xây dựng môi trường văn hóa gắn với xây dựng môi trường kinh tế - xã hội: Sự kết hợp giữa môi trường văn hóa và môi trường kinh tế - xã hội đều nhằm đạt tới sự lành mạnh, tiến bộ, phát triển cho con người và xã hội. Do đó, cần phải thực hiện nghiên cứu khoa học, kiểm kê, đánh giá tư tưởng, văn hóa, đạo đức, lối sống, nếp sống truyền thống, để trên cơ sở đó, cái gì tốt thì kế thừa, cái gì xấu, cản trở sự phát triển phải loại ra khỏi đời sống thực tiễn. Ngày nay, trong điều kiện mở cửa, hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới, để xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, chúng ta cần tiếp thu những giá trị tư tưởng, đạo đức, lối sống, nếp sống văn hóa, văn minh tiến bộ của các dân tộc; đồng thời, phải chống lại những yếu tố phản động, đồi trụy, trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc đang tác động vào môi trường văn hóa của chúng ta./.

Thành tựu xây dựng môi trường văn hóa ở nước ta trong thời gian qua

 

    Trong lịch sử dân tộc, ở mọi thời đại, tư tưởng, đạo đức, lối sống và môi trường văn hóa là nội dung quan trọng trong xây dựng nhân cách con người, hình thành lối sống, nếp sống chuẩn mực, là yếu tố nền tảng để xây dựng một xã hội tốt đẹp, nhân văn, đồng thời phản ánh sự tiến bộ xã hội. Trong thời kỳ đổi mới, nội dung xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và môi trường văn hóa là nhiệm vụ hết sức to lớn và quan trọng trong đường lối chiến lược của Đảng và đời sống thực tiễn cả trước mắt và lâu dài. Nhiệm vụ này không phải của riêng ngành văn hóa, mà là yêu cầu đối với cả hệ thống chính trị, là trách nhiệm của toàn xã hội.

        Xét trên tổng thể, môi trường văn hóa là một bộ phận quan trọng của môi trường sống, gắn bó hữu cơ, mật thiết với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội do con người tạo nên. Môi trường văn hóa là kết quả của phép ứng xử của con người với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và với chính bản thân mình. Vì vậy, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh cũng đồng thời là cải thiện và nâng cao chất lượng của môi trường sinh thái tự nhiên, môi trường xã hội nhân văn, hình thành và nuôi dưỡng nhân cách con người. Với ý nghĩa đó, xây dựng môi trường văn hóa không tách rời với việc xây dựng nhân cách cá nhân và xây dựng lối sống, nếp sống văn hóa của cộng đồng.

   Nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng môi trường văn hóa, trong những năm qua, việc xây dựng môi trường văn hóa bước đầu đã đạt được những kết quả nhất định, cụ thể:

   Thứ nhất, hệ thống văn bản quản lý nhà nước về văn hóa ngày càng được hoàn thiện. Xây dựng môi trường văn hóa đã được Đảng, Nhà nước ta quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo bằng những định hướng cơ bản quan trọng, thông qua hệ thống văn kiện đại hội đại biểu Đảng toàn quốc qua các nhiệm kỳ đại hội Đảng và thông qua các nghị quyết chuyên đề, chuyên biệt về văn hóa, đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”; được thể hiện, thể chế hóa thông qua cơ chế, chính sách của Nhà nước. Qua đó, nhận thức của các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân về vị trí, vai trò của môi trường văn hóa và xây dựng môi trường văn hóa từng bước được nâng lên. Ngành văn hóa, thể thao và du lịch đã chủ động phối hợp với các ngành, các địa phương trong cả nước tham mưu xây dựng và ban hành các văn bản, các chủ trương, chính sách, phát động các phong trào văn hóa nhằm xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh. Công tác quản lý nhà nước về văn hóa được tăng cường với phương châm quản lý đi đôi với phát triển, kết hợp hài hòa giữa hai nhiệm vụ căn bản “xây” và “chống”. Hệ thống văn bản quản lý nhà nước về văn hóa ngày càng được hoàn thiện: Một số luật, nghị định và văn bản liên quan để điều chỉnh các hoạt động văn hóa phù hợp với sự phát triển của đất nước được ban hành, sửa đổi, bổ sung kịp thời, trong đó có các nội dung về xây dựng môi trường văn hóa, quản lý, bảo tồn các di sản, các giá trị văn hóa truyền thống, quản lý và tổ chức lễ hội, quy hoạch phát triển hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở...

   Thứ hai, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đạt được nhiều kết quả tích cực

   Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” (từ tháng 4-2000) kế thừa những thành tựu, kinh nghiệm, kết quả đạt được từ các phong trào “Đời sống mới” (năm 1961), xây dựng “Gia đình văn hóa”, “Làng văn hóa” (năm 1991) và phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” (năm 1995). Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” là sợi dây đan kết các phong trào hiện có, như phong trào “Người tốt, việc tốt”, “Uống nước, nhớ nguồn”, “Đền ơn, đáp nghĩa”, “Xóa đói, giảm nghèo”, xây dựng “Gia đình văn hóa”, “Làng văn hóa”, “Tổ dân phố văn hóa”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”...

   Kể từ khi phát động phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, tại các địa phương, ngày càng xuất hiện nhiều nhân tố mới về điển hình tiên tiến trong xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở. Phong trào đã mang tính toàn diện, được khẳng định trong cuộc sống và có ý nghĩa chính trị - xã hội, nhân văn sâu sắc; đồng thời, góp phần quan trọng nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vai trò và động lực của văn hóa đối với sự phát triển bền vững đất nước; nâng cao nhận thức của các cấp ủy, chính quyền, các ngành, đoàn thể, các tầng lớp nhân dân và toàn xã hội về trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ phát triển văn hóa, xây dựng nông thôn mới trong thời kỳ đổi mới, hội nhập và phát triển. Nhiều giá trị văn hóa, các quy định pháp luật và quy chế, quy tắc ứng xử văn hóa ngày càng thẩm thấu vào đời sống, tạo dựng môi trường sống lành mạnh cho cộng đồng dân cư, mỗi gia đình và cá nhân.

   Phong trào đã có tác động tích cực đến phát triển kinh tế và văn hóa - xã hội một cách bền vững. Truyền thống đoàn kết và đạo lý dân tộc được phát huy, trở thành nội lực giúp nhau “xóa đói, giảm nghèo”, “đền ơn, đáp nghĩa”; xây dựng con người về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, nếp sống được chú trọng, vai trò và vị trí của gia đình và cộng đồng được nâng lên; tình làng, nghĩa xóm được củng cố. Nhiều giá trị văn hóa dân tộc được bảo tồn và phát huy, làm phong phú đời sống văn hóa của người dân.

   Phong trào đã thực sự đi vào cuộc sống và trở thành cuộc vận động về văn hóa có tầm ảnh hưởng và quy mô lớn, thu được nhiều thành tựu đáng kể. Đến năm 2018, qua 18 năm thực hiện Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đã có nhiều mô hình tiêu biểu, cách làm hiệu quả được phổ biến, nghiên cứu, học tập, nhân rộng: 19.064.069/22.236.778 gia đình được công nhận “Gia đình văn hóa”; 69.024/106.382 thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố văn hóa; 84.785/114.972 cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp văn hóa; có 1.200.000 gương “người tốt, việc tốt” các cấp được tôn vinh, trong đó cấp tỉnh có 249.000 người, cấp huyện 712.000 người. Nhiều cá nhân, tập thể đã có thành tích xuất sắc được Đảng, Nhà nước, Chính phủ khen thưởng động viên kịp thời.

   Kết quả đạt được của phong trào đã góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, thúc đẩy kinh tế phát triển, giữ gìn an ninh, trật tự xã hội, ổn định chính trị, xóa đói, giảm nghèo; làm lành mạnh môi trường văn hóa, nâng cao dân trí cho mọi người; giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau trong cộng đồng dân cư, làng, xóm; làm cho chất lượng cuộc sống của nhân dân ngày càng được nâng cao, góp phần đẩy lùi các tệ nạn xã hội. Những nội dung, tiêu chí xây dựng và công nhận danh hiệu gia đình, làng, tổ dân phố văn hóa, xã đạt chuẩn nông thôn mới, phường đạt chuẩn văn minh đô thị cùng với nội dung quy ước, hương ước văn hóa được xây dựng và thực hiện trên các địa bàn cơ sở trong cả nước đang là những chuẩn mực về lối sống, đạo đức, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh cho toàn xã hội.

   Thứ ba, xây dựng nếp sống văn hóa, đạo đức, lối sống ngày càng được chú trọng và phát huy hiệu quả.

   Việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội trên địa bàn cả nước đã có nhiều chuyển biến tích cực, kịp thời đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, hạn chế và đẩy lùi những hiện tượng tiêu cực, những hủ tục. Nhiều địa phương đã tổ chức cưới, tang văn minh, tiết kiệm, gọn nhẹ, giảm bớt các hủ tục phiền hà. Nhiều nét văn hóa mới được phát huy, như tổ chức các đám cưới không hút thuốc, xuất hiện mô hình tổ chức các đám cưới tập thể. Nhiều địa phương đã chú trọng chỉ đạo lồng ghép nội dung thực hiện nếp sống văn minh trong việc tang với các nội dung xây dựng gia đình văn hóa, làng (thôn, ấp, bản), tổ dân phố văn hóa, khu dân cư tiên tiến.

   Việc xây dựng đạo đức, lối sống ngày càng được chú trọng; xuất hiện nhiều tấm gương đạo đức, hành động xả thân vì xã hội, dũng cảm cứu người trong các tầng lớp nhân dân, nhất là trong thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh COVID-19,...

   Thứ tư, giữ gìn và phát huy các giá trị di sản văn hóa ngày càng đi vào chiều sâu.

   Các giá trị, chuẩn mực cốt lõi của văn hóa, của môi trường văn hóa được gìn giữ, phát huy; các giá trị mới, chuẩn mực mới từng bước được hình thành, hoàn thiện; nhiều giá trị di sản văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể được bảo tồn, tôn tạo; nhiều phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số được nghiên cứu, sưu tầm và phục dựng; hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và sinh hoạt văn hóa tâm linh của nhân dân được quan tâm; truyền thống văn hóa gia đình, dòng họ, cộng đồng được phát huy; các sản phẩm văn hóa ngày càng phong phú, đa dạng, từng bước đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của các tầng lớp nhân dân; công tác xã hội hóa hoạt động văn hóa ngày càng được mở rộng, đẩy mạnh, góp phần đáng kể vào việc xây dựng, từng bước hoàn thiện, nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở; nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, góp phần xây dựng môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh. Hệ thống di sản văn hóa được khai thác, gắn kết việc đẩy mạnh xây dựng môi trường văn hóa, xây dựng đời sống văn hóa, phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững.

   Thứ năm, xây dựng và từng bước nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hóa.

   Thiết chế văn hóa có vai trò quan trọng để tổ chức các hoạt động văn hóa cho nhân dân, đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt chung của cộng đồng; qua đó, cộng đồng tổ chức xây dựng và tổ chức thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của địa phương. Thiết chế văn hóa cơ sở còn là yếu tố gắn kết cộng đồng, điều chỉnh các mối quan hệ ở địa bàn dân cư; tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với mọi người dân; cổ vũ nhân dân thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng. Hiện nay, toàn quốc có 72 thiết chế văn hóa cấp tỉnh, gồm 60 trung tâm văn hóa, 3 nhà văn hóa, 4 trung tâm thông tin - triển lãm và 5 thiết chế văn hóa khác; 589/713 huyện trong cả nước có trung tâm văn hóa, hoặc nhà văn hóa huyện, chiếm tỷ lệ 82,6%; 6.102/11.162 xã/phường, thị trấn có trung tâm văn hóa - thể thao, chiếm tỷ lệ 54,7% (trong 6.102 trung tâm văn hóa - thể thao hiện có, có 30% trung tâm đạt chuẩn theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch); 68.222/113.607 thôn, bản, buôn, làng, ấp có nhà văn hóa, đạt tỷ lệ 60% (trong 68.222 nhà văn hóa hiện có, có 47% nhà văn hóa đạt chuẩn theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch). Các thiết chế văn hóa thuộc các bộ, ngành, đoàn thể bao gồm 28 nhà văn hóa lao động cấp tỉnh, 17 nhà văn hóa lao động cấp huyện và trên 100 nhà văn hóa công nhân trong các doanh nghiệp; 80 nhà văn hóa, cung thiếu nhi cấp tỉnh; 189 cung, nhà thiếu nhi cấp huyện, nhà văn hóa thiếu nhi các ngành và các nhà văn hóa thuộc Quân đội, Công an nhân dân quản lý và sử dụng”. Với độ bao phủ và sự năng động, tích cực trong việc phát huy vai trò của các thiết chế, hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao từ tỉnh đến cơ sở ở nhiều nơi đã thực sự trở thành trung tâm hoạt động văn hóa, thể thao, bồi dưỡng nghiệp vụ, là hạt nhân có tác động tích cực nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho các tầng lớp nhân dân trên địa bàn; góp phần vào việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển, giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội,... phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, định hướng thẩm mỹ lành mạnh cho nhân dân.

ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG VẬN DỤNG, PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC ĐỐI VỚI CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

 

   Tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm soát quyền lực đối với cán bộ, đảng viên trong điều kiện Đảng cầm quyền là một di sản tư tưởng vô giá và trở thành cơ sở lý luận để giải đáp những vấn đề hiện nay về kiểm soát quyền lực đối với cán bộ, đảng viên. Đại hội XIII của Đảng đã vận dụng và có những phát triển tư tưởng của Người về vấn đề này trên một số nội dung cơ bản.

   1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm soát quyền lực đối với cán bộ, đảng viên

   Một là, về ý nghĩa, tác dụng của việc kiểm soát quyền lực đối với cán bộ, đảng viên

   Kiểm soát quyền lực để bảo đảm quyền lực của nhân dân. Trong thực tế, mỗi tổ chức, cá nhân được trao quyền lực thường có xu hướng lạm quyền, tức lạm dụng quyền lực đó để mưu cầu lợi ích của một nhóm người, hoặc lợi ích của cá nhân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thấy nguy cơ này ngay trong những ngày đầu thành lập nhà nước mới. Vì thế, Người đã chủ trương xây dựng một nhà nước kiểu mới thật sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, bảo đảm mọi quyền lực thuộc về nhân dân. Người khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”. Chỉ hơn nửa tháng sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, trong bài “Chính phủ là công bộc của dân” (ngày 19-9-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: dưới chế độ mới, “bao nhiêu những cái xấu xa, thối nát, bất công, áp bức của chế độ cũ, của các hội đồng kỳ mục trước sẽ không thể tồn tại trong các Ủy ban nhân dân bây giờ”. Nhận thấy nguy cơ “cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư””, Người luôn trăn trở, băn khoăn: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật”.

   Như vậy, quyền lực của các tổ chức, cá nhân là do Đảng hoặc Chính phủ, đoàn thể “ủy cho họ quyền lãnh đạo” mà có. Xét cho cùng, quyền lực đó cũng đều do nhân dân “ủy thác”. Người thẳng thắn giải thích: “Chính phủ là công bộc của dân vậy. Các công việc của Chính phủ làm phải nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu tự do hạnh phúc cho mọi người. Cho nên Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh”.

   Kiểm soát quyền lực để khắc phục sự tha hóa quyền lực, trừng trị và xử lý nghiêm khắc tình trạng lạm dụng quyền lực của cán bộ. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, Hồ Chí Minh thấy rõ nguy cơ của quyền lực làm tha hóa một bộ phận cán bộ, đảng viên; quyền lực được nhân dân ủy thác để thi hành nhiệm vụ bị biến thành quyền lực của riêng mình, không giữ được phẩm chất, bản lĩnh và ý chí dẫn đến lợi dụng chức quyền để trục lợi, lạm quyền, lộng quyền, suy thoái về đạo đức, lối sống cùng những tiêu cực khác. Người đã nghiêm khắc phê phán: “dân ghét các ông chủ tịch, các ông Ủy viên vì cái tật ngông nghênh, cậy thế, cậy quyền. Những ông này không hiểu nhiệm vụ và chính sách của Việt Minh, nên khi nắm được chút quyền trong tay vẫn hay lạm dụng”.

    Hồ Chí Minh nhấn mạnh, kiểm tra, kiểm soát chính là phương pháp quan trọng để bảo đảm quyền lực nhà nước thực sự là của nhân dân, cán bộ không bị tha hóa. Theo Hồ Chí Minh, việc kiểm tra công tác đối với cán bộ là một trong năm “cách đối với cán bộ”, tức là năm phương pháp quản lý cán bộ của Đảng. Người viết: “Kiểm tra - Không phải ngày nào cũng kiểm tra. Nhưng thường thường kiểm tra để giúp họ rút kinh nghiệm, sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm”. Vì vậy, Người giải thích: “Muốn chống bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy; muốn biết các nghị quyết có được thi hành không, thi hành có đúng không; muốn biết ai ra sức làm, ai làm qua chuyện, chỉ có một cách, là khéo kiểm soát. Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi”. Như vậy, qua công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi quyền lực sẽ phát hiện ra khuyết điểm, những cán bộ làm sai, lộng quyền, lạm quyền, không thực hiện đủ quyền hạn; qua kiểm soát, phát hiện và kiên quyết trừng trị những cán bộ lạm dụng quyền lực, lợi dụng quyền lực nhân dân trao cho rồi cậy quyền, cậy thế ức hiếp dân chúng, đi ngược lại với lợi ích của nhân dân.

   Hai là, về phương pháp kiểm soát quyền lực đối với cán bộ, đảng viên

   Thực thi nghiêm pháp luật. Để chống lại tình trạng lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực vì lợi ích cá nhân - theo Hồ Chí Minh - việc áp dụng pháp luật có vai trò rất quan trọng. Do vậy, việc xử lý bằng pháp luật đối với các vi phạm cần nghiêm minh, kịp thời, không được bao che. Người thường phê phán những cán bộ có tư tưởng bao che, xử lý không nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật: “Có cán bộ, đảng viên lợi dụng quyền thế của Đảng và Nhà nước làm những việc trái với chính sách và pháp luật, xâm phạm đến lợi ích vật chất và quyền tự do dân chủ của nhân dân, nhưng cũng chưa bị xử phạt kịp thời... Như vậy là kỷ luật chưa nghiêm”.

   Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát. Hồ Chí Minh cho rằng, kiểm tra, kiểm soát công việc lãnh đạo, quản lý nói chung và kiểm tra, kiểm soát đối với đội ngũ cán bộ có chức quyền có vai trò cực kỳ quan trọng. Người khẳng định: “chín phần mười khuyết điểm trong công việc của chúng ta là vì thiếu sự kiểm tra”. Trong kiểm soát quyền lực, việc kiểm tra, kiểm soát thường xuyên, cụ thể sẽ phát hiện sớm các biểu hiện lộng quyền, lạm quyền.

    Việc Đảng kiểm tra, giám sát, làm trong sạch đội ngũ đảng viên đang giữ những vị trí chủ chốt của các cơ quan nhà nước tức là Đảng đã thực hiện sự kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua kiểm soát đảng viên trong cơ quan nhà nước. Điều đó cho thấy, nếu Đảng có kỷ luật nghiêm, thì việc kiểm soát của Đảng đối với các đảng viên trong các cơ quan của bộ máy nhà nước càng có hiệu quả. Người phê bình nghiêm khắc các tệ lạm dụng quyền lực của các đảng viên là những người có chức quyền trong bộ máy nhà nước. Người viết: “Bệnh công thần rất có hại cho đoàn kết ở trong Đảng cũng như ở ngoài Đảng. Cậy thế mình là người của Đảng, phớt cả kỷ luật và cả cấp trên trong các đoàn thể nhân dân hoặc cơ quan Chính phủ”.

    Công tác kiểm tra của Đảng cầm quyền bao gồm các hoạt động chủ yếu, như: kiểm tra, giám sát việc chấp hành các nghị quyết, chủ trương của Đảng; việc thực hiện Điều lệ, các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, giữ gìn kỷ luật của Đảng, trong đó Hồ Chí Minh nhấn mạnh phương thức kiểm soát từ dưới lên. Người chỉ rõ: “Một cách nữa là từ dưới lên. Tức là quần chúng và cán bộ kiểm soát sự sai lầm của người lãnh đạo và bày tỏ cái cách sửa chữa sự sai lầm đó. Cách này là cách tốt nhất để kiểm soát các nhân viên. Còn ở trong Đảng, khi khai hội, các đảng viên nghe những người lãnh đạo báo cáo công việc, các đảng viên phê bình những khuyết điểm, cử hoặc không cử đồng chí nọ hoặc đồng chí kia vào cơ quan lãnh đạo”. Trong điều kiện một Đảng duy nhất cầm quyền, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Người chỉ rõ: “Có kiểm tra mới biết rõ năng lực và khuyết điểm của cán bộ, mới sửa chữa và giúp đỡ kịp thời”.

    Phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Hồ Chí Minh nhấn mạnh phương thức kiểm soát quyền lực thông qua việc thực thi thực chất, đầy đủ và rộng rãi quyền làm chủ của nhân dân, cả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện và dân chủ tham dự; trong đó, bầu cử có vai trò quan trọng, là một hình thức cơ bản để nhân dân thực hiện quyền kiểm soát của mình đối với Nhà nước.

   Theo Người, để bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, quan trọng nhất là cơ quan quyền lực nhà nước phải được nhân dân bầu ra một cách dân chủ và tiến bộ. Người lý giải: “Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức, để gánh vác công việc nước nhà”, bởi vì: “lá phiếu cử tri có một giá trị rất cao quý; nó là một dấu hiệu xác nhận rằng nhân dân thật sự làm chủ nước nhà”. Từ đó, Người khẳng định: “Tổng tuyển cử tức là tự do, bình đẳng; tức là dân chủ, đoàn kết. Do Tổng tuyển cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội. Quốc hội sẽ cử ra Chính phủ. Chính phủ đó thật là Chính phủ của toàn dân”.

   Điều kiện để kiểm soát tốt, có hiệu quả - theo Hồ Chí Minh - “phải có hai điều: một là việc kiểm soát phải có hệ thống, phải thường làm. Hai là người đi kiểm soát phải là những người rất có uy tín”; “theo cách “lãnh đạo liên hợp với quần chúng”, thì việc kiểm soát nhất định kết quả tốt”. Đồng thời, “phải hăng hái chịu khó, thiết thực hợp tác với các cơ quan, các đoàn thể để bày vẽ và kiểm soát những công việc đó”.

   2. Vấn đề kiểm soát quyền lực đối với cán bộ, đảng viên trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng

   Tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm soát quyền lực đối với cán bộ, đảng viên cho đến nay vẫn mang tính thời sự, có giá trị thiết thực trong tổ chức và hoạt động của bộ máy các cơ quan công quyền ở nước ta hiện nay. Kế thừa và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm soát quyền lực, Đại hội XIII đã đề ra những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu về kiểm soát quyền lực đối với cán bộ, đảng viên:

   Một là, kiểm soát quyền lực đối với cán bộ, đảng viên bằng việc phát huy mạnh mẽ tính chủ động, tích cực, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và nhân dân

    Cần phát huy mạnh mẽ tính chủ động, tích cực sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của toàn dân vào việc kiểm soát quyền lực đối với cán bộ là vì: Trong thể chế chính trị của nước ta hiện nay, tất cả các tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị (Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội) đều tham gia vào thực thi quyền lực chính trị. Vì vậy, việc kiểm soát quyền lực là tất yếu khách quan đối với bất cứ tổ chức nào và bất cứ chức danh nào trong hệ thống chính trị. Mặt khác, khi đánh giá về những hạn chế trong kiểm soát quyền lực thời gian qua, Đại hội XIII đã chỉ ra: “Cơ chế kiểm soát quyền lực trong Đảng và Nhà nước chưa đầy đủ, đồng bộ, hiệu lực, hiệu quả chưa cao. Việc thể chế hóa, cụ thể hóa một số chủ trương, nghị quyết của Đảng thành pháp luật của Nhà nước chưa đầy đủ, kịp thời”.

   Do đó, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về “kiểm soát phải có hệ thống” trong điều kiện hiện nay, cần xây dựng và thực thi cơ chế để các tổ chức, cá nhân được giao quyền lực phải thực hiện đúng, đầy đủ, có trách nhiệm các chức trách, nhiệm vụ được giao, không lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực vì mục đích, lợi ích cá nhân. Cuộc đấu tranh phòng, chống tha hóa quyền lực, kiểm soát quyền lực đòi hỏi quyết tâm chính trị cao của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng. Để kiểm soát quyền lực đối với cán bộ, đảng viên, cần coi trọng phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan và đại biểu dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, nhân dân và cơ quan truyền thông, báo chí.

   Hai là, kiểm soát quyền lực đối với cán bộ, đảng viên bằng việc thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng

   Có thể khẳng định, kiểm soát quyền lực đối với cán bộ, đảng viên thông qua việc thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng là một trong phương thức quan trọng và hiệu quả. Thực tiễn thời gian qua cho thấy, nhờ chú trọng kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nguyên tắc này trong các cơ quan nhà nước đã phát hiện và xử lý nhiều tổ chức và cán bộ vi phạm, trong đó một số cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ lãnh đạo đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, người đứng đầu áp đặt ý kiến cá nhân đối với tập thể lãnh đạo. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đánh giá: “Tình trạng bao biện, làm thay hoặc buông lỏng vai trò lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng còn xảy ra ở một số nơi. Một số cấp ủy, tổ chức đảng đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc; thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, thiếu kiểm tra, giám sát để xảy ra nhiều vi phạm, khuyết điểm kéo dài”; “việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số nơi chưa nghiêm, thậm chí còn vi phạm, mất đoàn kết nội bộ, có nơi biểu hiện cục bộ, lợi ích nhóm. Kiểm soát quyền lực còn lúng túng, hiệu quả thấp”. Để khắc phục hạn chế này, Đại hội XIII của Đảng đã đưa ra nhiệm vụ, giải pháp: “Quy định cụ thể quyền hạn, trách nhiệm của người đứng đầu và mối quan hệ giữa tập thể cấp ủy, tổ chức đảng với người đứng đầu, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”. Tùy theo tình hình thực tiễn và yêu cầu của công tác xây dựng Đảng trong mỗi lĩnh vực, mỗi cấp, một số nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng cần được cụ thể hóa và yêu cầu đảng viên thực hiện theo tinh thần kỷ luật đảng. Theo đó, cần “đẩy mạnh việc phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát, kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện phân cấp, phân quyền, chống tha hóa quyền lực; có cơ chế để các địa phương phát huy quyền chủ động sáng tạo, gắn với đề cao trách nhiệm, đồng thời đảm bảo sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý thống nhất của Trung ương”.

   Ba là, xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm soát việc thực thi quyền lực của cán bộ, đảng viên

    Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về cơ sở pháp lý để kiểm soát quyền lực theo tinh thần: “Trăm đều phải có thần linh pháp quyền”. Đại hội XIII của Đảng đã đề ra giải pháp: bổ sung, hoàn thiện “các quy định về kiểm soát quyền lực, trách nhiệm người đứng đầu, trách nhiệm giải trình, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch”. Đây là điều kiện để hiện thực hóa các chủ trương về kiểm soát quyền lực: “nhốt quyền lực vào trong lồng cơ chế, luật pháp”, tránh sự chồng chéo của các cơ chế, chính sách, quy định về kiểm soát quyền lực. Trong kiểm soát quyền lực, Đại hội XIII chú trọng nhiệm vụ “xây dựng quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ; thực hiện tốt quy định về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, chống chạy chức, chạy quyền; xử lý hành chính và xử lý bằng pháp luật đối với cán bộ có vi phạm, kể cả khi đã chuyển công tác hoặc nghỉ hưu”. Theo đó, việc quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, địa phương trong công tác cán bộ. Đặc biệt là, lần đầu tiên nhấn mạnh trách nhiệm của cán bộ ngay cả khi đã nghỉ hưu hay chuyển công tác, đây là một trong những điểm mới đột phá để hạn chế sai phạm của cán bộ, góp phần thiết thực vào việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ.

   Bốn là, hoàn thiện các chế định pháp lý để phát huy quyền làm chủ của nhân dân thông qua việc tham gia giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, nhất là đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý ở địa phương

   Để phát huy vai trò của nhân dân trong việc tham gia quản lý nhà nước và xã hội, thực hiện vai trò kiểm soát quyền lực đối với cán bộ, đảng viên cần mở rộng quy chế dân chủ cơ sở, có cơ chế để nhân dân có quyền quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương, tham gia ngày càng thực chất vào các công việc của địa phương, kiểm soát hoạt động của các cơ quan nhà nước và các cán bộ ở địa phương. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hóa, thực hiện tốt cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Tổ chức có hiệu quả, thực chất việc nhân dân tham gia giám sát, đánh giá có hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị; phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng viên”.

   Năm là, vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh về điều kiện bảo đảm tính hiệu lực trong kiểm soát quyền lực đối với cán bộ, đảng viên

   Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: “Cần phải tăng cường công tác kiểm tra đôn đốc và đề cao kỷ luật của Đảng và Nhà nước” và bảo đảm tính khách quan, hiệu lực của kiểm soát quyền lực đối với cán bộ. Theo đó, sai phạm của cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng là không có “vùng cấm”, “không ai đứng trên, đứng ngoài pháp luật”, tổ chức, cá nhân lạm quyền, lộng quyền phải được phát hiện, xử lý nghiêm minh. Trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta kiên quyết chỉ đạo: kiểm soát quyền lực “không có vùng cấm, không có ngoại lệ những hành vi tham nhũng, lãng phí và bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, lãng phí”; “tăng cường kiểm tra, giám sát công tác cán bộ, gắn với kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền”./.

ÐƯA NỀN KINH TẾ SỚM TRỞ LẠI QUỸ ĐẠO TĂNG TRƯỞNG

 

   Hỗ trợ người dân và doanh nghiệp giảm đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19, từng bước mở cửa trở lại để phục hồi kinh tế là yêu cầu cấp thiết đang đặt ra.

   Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021, Chính phủ ước tính đạt và vượt tám trong số 12 chỉ tiêu chủ yếu Quốc hội giao với các điểm nhấn quan trọng: Kinh tế vĩ mô tiếp tục được duy trì ổn định; lạm phát được kiểm soát, chỉ số giá tiêu dùng được kiềm chế dưới mức Quốc hội giao; các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm...

   Nhận diện khó khăn

   Nhìn vào bốn chỉ tiêu chưa đạt, có thể nhận thấy nền kinh tế đang đứng trước những khó khăn chưa từng thấy. Cụ thể: Tăng trưởng GDP dự kiến chỉ đạt từ 3% đến 3,5% so mục tiêu đề ra là tăng trưởng 6%; thu nhập bình quân đầu người ước đạt từ 3.660 USD đến 3.680 USD, thấp hơn mức mục tiêu 3.700 USD/người; tỷ trọng đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp vào tăng trưởng ước đạt khoảng 32%, thấp hơn mức mục tiêu từ 44% đến 47%; tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn tiếp cận đa chiều ước giảm từ 0,5 điểm đến một điểm phần trăm, thấp hơn so mục tiêu từ một điểm đến 1,5 điểm phần trăm. Ðáng lo ngại là xuất hiện tình trạng đứt gãy một số chuỗi sản xuất, cung ứng, lao động. Thị trường tài chính, bất động sản có thời điểm tăng trưởng nóng. Tiến độ giải ngân vốn đầu tư công chậm, nhất là vốn ODA và vốn vay ưu đãi. Khu vực dịch vụ gặp khó khăn nghiêm trọng, nhất là du lịch, lưu trú, ăn uống. Lao động, việc làm bị ảnh hưởng nặng nề với tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm trong độ tuổi lao động tăng cao...

   Nhận diện những khó khăn nền kinh tế đang phải đối mặt, TS Nguyễn Ðình Cung, nguyên Viện trưởng Nghiên cứu quản lý kinh tế T.Ư cho rằng, đáng lo ngại nhất là các động lực tăng trưởng của nền kinh tế đang suy giảm. Ðầu tư công chưa phát huy được vai trò dẫn dắt, trong khi đầu tư tư nhân giảm mạnh. Năm 2020, đầu tư công là bệ đỡ của tăng trưởng với mức tăng 34,5% thì chín tháng năm 2021 mới giải ngân được hơn 47% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, thấp hơn nhiều tỷ lệ giải ngân hơn 56% so cùng kỳ. Khu vực doanh nghiệp nhà nước chưa phát huy được vai trò trong nền kinh tế, kể cả trong sử dụng nguồn lực nắm giữ và tác động cải cách thể chế để đẩy nhanh kế hoạch tái cơ cấu như kỳ vọng. Tiến trình thoái vốn, cổ phần hóa của khu vực này vẫn rất chậm, từ đầu năm đến nay mới có ba phương án cổ phần hóa của ba doanh nghiệp thuộc các tập đoàn, tổng công ty được phê duyệt. Tăng trưởng đầu tư tư nhân giảm từ mức khoảng từ 15% đến 17%/năm của giai đoạn trước xuống chỉ còn 3,9% trong chín tháng năm 2021.

   Ðáng lưu ý, vùng động lực phía nam đang yếu dần. Sự suy yếu này đã bắt đầu từ vài năm trở lại đây và càng trở nên rõ nét sau đợt bùng phát dịch Covid-19 lần thứ tư, thể hiện ở tỷ trọng trong GDP chung của cả nước giảm dần từ mức 39,7% năm 2010 xuống còn 37,7% năm 2020. Nguồn vốn đầu tư vào hạ tầng và logistics của vùng kinh tế trọng điểm phía nam chỉ bằng hai phần ba so với phần đầu tư vào vùng kinh tế trọng điểm phía bắc.

   Tận dụng các dư địa tăng trưởng

   Với mức tăng trưởng 1,42% trong ba quý, kinh tế Việt Nam khó có khả năng bật lên trong quý IV để đạt mục tiêu tăng trưởng cả năm 6%. Tuy nhiên, cơ hội cải thiện mức tăng trưởng là khả thi vì đến nay, đại dịch cơ bản được kiểm soát và cả nước đang thực hiện lộ trình thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát dịch bệnh hiệu quả. Các chuyên gia kinh tế cho rằng, động lực tăng trưởng kinh tế phụ thuộc nhiều vào việc tận dụng các dư địa sẵn có và tốc độ triển khai các giải pháp hỗ trợ cho người dân, doanh nghiệp; mở rộng hoạt động thương mại, tận dụng cơ hội từ các hiệp định thương mại tự do (FTA), chuyển đổi số, giải ngân vốn đầu tư công.

   PGS, TS Phạm Thế Anh, Kinh tế trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) phân tích: Nếu công tác chống dịch trong thời gian tới không làm đứt gãy lưu thông hàng hóa và sản xuất, sự hồi phục của kinh tế Việt Nam sẽ rất tốt. Hai động lực chính cho tăng trưởng trong quý IV là xuất khẩu và đầu tư công. Trong đó, xuất khẩu dự kiến sẽ có sự tăng trưởng mạnh mẽ nhờ các ngành sản xuất trong nước nối lại sản xuất và hưởng lợi từ sự hồi phục của nền kinh tế thế giới thông qua việc thực thi các FTA. Ðối với đầu tư công, Chính phủ đã có các giải pháp tập trung thúc đẩy giải ngân, nhất là các dự án mang tính trọng điểm quốc gia, các dự án kết cấu hạ tầng, không chỉ tạo động lực cho tăng tưởng trong ngắn hạn mà còn có tác động trong cả dài hạn.

   Ðặc trưng nổi bật của cú sốc kinh tế do đại dịch Covid-19 với biến chủng Delta là tạo ra sự đứt gãy các liên kết trong toàn bộ nền kinh tế và các hoạt động của đời sống xã hội, dẫn đến đứt gãy sự kết nối giữa tổng cung và tổng cầu. Do đó, các giải pháp đề ra cần thống nhất một số nguyên tắc xuyên suốt như bảo đảm tính toàn diện cả về y tế, kinh tế và xã hội; bảo đảm tính đồng bộ, phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ, ngành, địa phương và giữa T.Ư với địa phương; giữa doanh nghiệp, người lao động, người dân và chính quyền các cấp... Do đó trong bốn bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, ông Jacques Morisset, Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam nhấn mạnh đến giải pháp quản lý hạn chế di chuyển cần thông minh hơn, trên cơ sở giám sát chặt chẽ và chia sẻ thông tin, đơn giản hóa và điều phối các quy trình, không để xảy ra tình trạng đứt gãy chuỗi sản xuất, cung ứng như vừa qua. Cùng với đó, Ngân hàng Thế giới cũng khuyến cáo Việt Nam trong hỗ trợ tăng trưởng cần hướng sang chính sách tài khóa nhiều hơn và thực hiện chính sách tiền tệ ít hơn. Vì dư địa chính sách tài khóa vẫn còn và việc sử dụng công cụ tài khóa có thể giúp kích cầu trong ngắn hạn và cung trong dài hạn. Bên cạnh đó, các chương trình trợ giúp xã hội cần được thực thi hiệu quả hơn để giảm bớt gánh nặng kinh tế, trong đó Việt Nam cần tăng cường khả năng phục hồi thông qua một hệ thống trợ giúp xã hội mạnh mẽ và linh hoạt. Ðó chính là những giải pháp quan trọng cần thực thi để nền kinh tế sớm trở lại quỹ đạo tăng trưởng./.

0 bình luận