Thứ Bảy, 6 tháng 11, 2021

Vị đại tướng tạo khí thế mới cho nền nông nghiệp nước nhà

Tuy thời gian được Đảng giao trực tiếp phụ trách mảng nông nghiệp và nông thôn không dài, nhưng Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã có những cống hiến quan trọng, góp phần tạo nên luồng gió mới trên đồng ruộng miền Bắc, xây dựng miền Bắc trở thành hậu phương vững chắc trong những năm tháng cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Nhớ lại những năm 1960, bình quân ruộng đất tính theo đầu người của miền Bắc khoảng 3 sào Bắc Bộ, tức khoảng trên 1000m2. Khi đó, đồng chí Nguyễn Chí Thanh luôn nhắc đến khẩu hiệu “phá xiềng 3 sào”. Ông đã rất chú trọng vấn đề bảo vệ, khai hoang mở rộng diện tích canh tác, đặc biệt là diện tích cấy lúa, hạn chế tốc độ tăng dân số và sử dụng hợp lý quỹ đất nông nghiệp.

Trong lịch sử và tâm trí của hàng triệu con người Việt Nam còn in đậm phong trào “Gió Đại Phong”, một mô hình nông nghiệp thời chống Mỹ mà đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã dày công tổng kết và chỉ đạo.

Đại Phong huyện Lệ Thủy, Quảng Bình là một hợp tác xã ban đầu chỉ có 24 hộ và 24 mẫu ruộng. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã nêu khẩu hiệu “phá xiềng 3 sào” đồng thời giúp hợp tác xã quản lý tốt, phân công lao động hợp lý, vừa khuyến khích khai hoang, vừa tăng cường thâm canh tăng vụ phát triển nghề phụ, xã viên đoàn kết một lòng.

Chỉ trong 3 năm đã phát triển thành hợp tác xã cấp cao với 455 hộ và 1.113 mẫu ruộng, cơ sở vật chất kỹ thuật phát triển, đời sống xã viên ngang với mức trung nông. Đồng chí đã tổng kết rút kinh nghiệm phổ biến cho các hợp tác xã khác.

Sáng kiến thi đua “Học tập, đuổi kịp và vượt hợp tác xã Đại Phong” được Đảng và Bác Hồ chấp thuận, gần 2 tháng sau khi phát động, đã có hơn 1000 hợp tác xã đăng ký thi đua học tập Đại Phong.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá: “Đó là một phong trào rất tốt và rất mạnh mẽ, nó chứng tỏ tinh thần hăng hái, lực lượng to lớn và khả năng dồi dào của đông đảo nông dân ta”. 


Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (phải) tại Hợp tác xã nông nghiệp Đại Phong (1961). 

 

Đồng chí Nguyễn Chí Thanh rất quan tâm đến thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp, đồng thời cũng luôn chú ý tới việc phân phối sản phẩm, nâng cao đời sống nông dân. Đồng chí cho rằng, sản xuất và phân phối là những khâu quan trọng và có liên quan mật thiết đến nhau.

Theo ông, cần nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc vấn đề phân phối để điều chỉnh những chỗ chưa hợp lý nhằm khuyến khích sản xuất phát triển. Đây là lợi ích kinh tế của người lao động, nếu không được thực hiện tốt sẽ triệt tiêu một trong những động lực quan trọng để thúc đẩy phát triển nền kinh tế quốc dân.

Nhiều địa phương thời bấy giờ chủ trương “vắng chợ đông đồng” thì đồng chí chủ trương “chợ nông thôn nó cần phải có, đó là thực tế khách quan kinh tế của ta”, “kinh tế phụ gia đình có tác dụng hỗ trợ”. Đồng chí cho rằng kinh tế hợp tác xã và kinh tế gia đình có quan hệ mật thiết với nhau, chi phối tương tác nhau cùng phát triển theo một tỷ lệ hợp lý.

Năm 1962 khi đánh giá về phong trào hợp tác hóa, bên cạnh cái hay của cách làm ăn tập thể, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã thẳng thắn chỉ ra một số khuyết điểm lớn, kéo dài của phong trào làm hạn chế đáng kể hiệu quả làm ăn của hợp tác xã.

Ông cũng đi sâu nghiên cứu, phân tích kỹ tình hình cần chú ý ở nước ta khi tiến hành hợp tác hóa nông nghiệp, đó là: Ta tiến hành hợp tác hóa với vốn cơ sở vật chất, kỹ thuật nghèo nàn, lạc hậu, ruộng đất ít. Ông đề ra phải “phá xiềng 3 sào” để tạo điều kiện mới cho sức sản xuất. Lao động nông nghiệp cần phải phân bổ lại cho hợp lý.

Ông rất coi trọng xây dựng chế độ hợp tác mới ở nông thôn trên ba mặt là: Cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật và xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh cũng nhận định, xóa đói giảm nghèo, tăng hộ giàu trong nông thôn sau cải cách ruộng đất là một xu thế phân hóa tích cực, đúng đắn. Những tư tưởng lớn của đồng chí Nguyễn Chí Thanh đối với nông dân, nông nghiệp nước ta đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

 


Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tham gia tăng gia sản xuất tại căn cứ Trung ương Cục miền Nam (1966). 

 Nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trong bài viết về mặt trận nông nghiệp giai đoạn 1960-1963 đã nhấn mạnh: “Khi Đại tướng Nguyễn Chí Thanh rời Thủ đô Hà Nội vào chiến trường miền Nam, hơn 10 triệu nông dân (miền Bắc) trong hợp tác xã nông nghiệp đã phấn đấu đưa sản lượng nông nghiệp đến năm 1963 cao hơn hai lần so với năm 1939, là năm phát triển nhất thời thuộc Pháp và trước Chiến tranh thế giới lần thứ hai.

Các hợp tác xã có vai trò quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Nhờ có nó, chúng ta phát triển và củng cố được nông thôn- một địa bàn chiến lược rộng lớn nhất của căn cứ địa miền Bắc – tạo nên sự nhất trí cao về chính trị và tinh thần của cả miền Bắc, động viên và tổ chức được hàng triệu thanh niên ra tiền tuyến, đảm bảo hậu phương quân đội, hậu phương chiến tranh ngày càng vững mạnh.

Đến khi Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc, nó là cơ sở vững mạnh bảo đảm thắng lợi của cuộc chiến tranh nhân dân đất đối không”. 

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã sống một cuộc đời giản dị và gần gũi, đúng như Tố Hữu đã viết về ông “sáng trong như ngọc một con người”. Từ một vị tướng cầm quân đánh giặc, ông đã hoàn thành trọng trách lãnh đạo một ngành kinh tế trọng yếu của đất nước, có liên quan trực tiếp đến đời sống của nhân dân, đó là mặt trận nông nghiệp.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh: Vị tướng “xắn quần lội ruộng”

Vào những năm đầu thập kỷ 60 của thế kỷ trước, miền Bắc sau khi đã hoàn thành kế hoạch khôi phục kinh tế, đang hoàn thành kế hoạch 3 năm phát triển kinh tế và văn hóa, Đảng ta thực hiện chủ trương đưa nông dân vào con đường làm ăn tập thể theo hình thức tổ đổi công và hợp tác xã. Theo nhận định của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Làm ăn tập thể, đó là một sự biến đổi cực kỳ to, cực kỳ mới, cực kỳ tốt, cho nên lúc đầu không tránh khỏi bỡ ngỡ và khó khăn”.


Đồng chí Nguyễn Chí Thanh cấy lúa với bà con xã viên Hợp tác xã Chiến Thắng, xã Lý Ninh, tháng 1-1962. 

 

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ sản xuất nông nghiệp là một mặt trận mà “cuốc cày là vũ khí, nhà nông là chiến sĩ”. Thời kỳ xây dựng Chủ nghĩa xã hội trên miền Bắc, Bác Hồ coi nông nghiệp cùng với công nghiệp là hai chân của nền kinh tế. Khi được Đảng và Bác Hồ phân công, đồng chí Nguyễn Chí Thanh sang lãnh đạo chỉ đạo nông nghiệp với yêu cầu củng cố và phát triển phong trào hợp tác hóa nông thôn, Bác Hồ đã căn dặn: “Phong trào mới nhóm, trầm trầm chú hãy cố gắng tìm cho được điển hình tốt, rút kinh nghiệm và phát huy nó lên để đánh tan bầu không khí kém phấn khởi”. 

Thực hiện lời Bác dặn, khi phụ trách mặt trận nông nghiệp, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã cho thấy một tấm gương về một vị tướng không quản ngại bất cứ khó khăn nào, luôn làm việc với tinh thần “xốc tới” và là người lăn lộn với phong trào. Xuất thân từ nông dân, trưởng thành trong phong trào cách mạng, đã qua thử thách trong lao tù kẻ thù, bất kỳ ở cương vị nào, đồng chí Nguyễn Chí Thanh vẫn luôn cố gắng kiên trì và phát huy những năng lực của mình.

Điển hình như năm 1962, Trung ương Đảng, Chính phủ phát động phong trào thi đua đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp trong toàn miền Bắc nước ta. Một số địa phương thuộc tỉnh Thanh Hóa, do phô trương thành tích, sản lượng thu hoạch thấp lại báo cáo cao. Đến khi giáp hạt thiếu lương thực nghiêm trọng, nạn đói đã xảy ra, có nơi đã có người chết. Đảng và chính quyền tỉnh không dám báo cáo lên Chính phủ.

Biết được tình trạng đó, Bác Hồ cử đồng chí Nguyễn Chí Thanh về tận nơi kiểm tra cấp cứu tại chỗ. Khi về đến tỉnh thì trời mưa to, đường sá nước ngập, gió mùa lạnh buốt, các đồng chí lãnh đạo tỉnh, huyện ngại không muốn đồng chí Nguyễn Chí Thanh đến những nơi đang xảy ra sự cố nhưng đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã nhất quyết đi và động viên anh em cùng đi. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã băng đồng lội nước, hối hả xuống gặp dân, vào từng nhà, xem từng hũ gạo, bồ thóc, niêu cơm, từng người ốm đói…

Và khi biết rõ có người chết đói là sự thật, đồng chí Nguyễn Chí Thanh vội vã quay về tỉnh kiểm tra kho dự trữ lương thực quốc gia thấy còn lúa gạo, và được các đồng chí lãnh đạo tỉnh trả lời: “Chưa có lệnh Trung ương, tỉnh không dám mở kho xuất gạo”.

Đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã chỉ thị “mở kho xuất gạo ngay”. Thấy các đồng chí lãnh đạo tỉnh còn ái ngại, ông nói: “Tôi xin chịu trách nhiệm trước Trung ương, Chính phủ, luật pháp…”, rồi viết ngay lệnh xuất kho. Số gạo được chở đến những vùng có nạn đói, kịp thời cứu dân và ngăn chặn nguy cơ đói lan tràn.

 


Đồng chí Nguyễn Chí Thanh tăng gia sản xuất tại căn cứ Trung ương Cục miền Nam. 

 

Bất kỳ chuyến đi thực tế nào của ông cũng có mục đích cụ thể như tìm hiểu thâm canh lúa, tổ chức chăn nuôi đại trà, làm nghề phụ, tạo việc làm cho nông dân lúc nông nhàn…, nhưng đằng sau những cái đó chung quy hướng vào việc tìm lời giải cho việc nâng cao đời sống của người trồng lúa.

Đồng chí thường xuyên đi thăm để tìm hiểu tình hình các huyện, hợp tác xã. Nhiều lần không thông báo trước, đồng chí lội tắt cánh đồng, quan sát cung cách làm ăn của hợp tác xã rồi vào thẳng trụ sở bàn bạc với đảng ủy, ủy ban, ban quản lý hợp tác xã về các mặt công tác.

Trong những chuyến đi ngược Tây Bắc, từ Hòa Bình qua Yên Châu, Mộc Châu, Thuận Châu, lên đèo Pha Đin, sang Mường Lò, Nghĩa Lộ, vượt sông về Yên Bái, Phú Thọ… đến đâu ông cũng về bản làng thăm hỏi, động viên đồng bào.

Triển khai Hội nghị Trung ương 5 (khóa III), Bộ Chính trị chuẩn bị ban hành Nghị quyết về miền núi, ông lại “kéo quân”, mà thực tế là vài ba chuyên viên và một nhà báo, “lùng sục” nhiều nơi. Từ Hà Nội lên huyện Bằng Mạc, tỉnh Bắc Giang nghiên cứu Hợp tác xã Nà Cà, đi tiếp lên một bản huyện Lộc Bình, Lạng Sơn chưa lập hợp tác xã xem nguyên nhân do đâu.

Về Hà Nội, đáp xe lửa thẳng Lào Cai tìm hiểu sản xuất và đời sống đồng bào Mông. Dạo ấy có phong trào nông dân vùng châu thổ Sông Hồng lên miền núi tham gia xây dựng kinh tế mới. Đồng bào miền xuôi lên đây có gắn bó như với quê hương bản quán mình? Mô hình hợp tác nào thuận lợi cho đồng bào dân tộc sống rải rác? Tìm cách gì dạy nghề, tạo việc làm cho bà con sống heo hút lưng chừng đèo?...

Với mỗi nhiệm vụ được giao, đồng chí Nguyễn Chí Thanh luôn lấy kiến thức từ thâm nhập thực tế để hiểu thật sâu về mảng mà mình phụ trách. Trong buổi dặn dò với lớp cán bộ quân đội được chuyển sang làm công tác nông nghiệp, đồng chí đã lấy kinh nghiệm bản thân làm minh chứng cụ thể, tạo sức thuyết phục với người nghe.

“Chính bản thân tôi khi mới ở quân đội chuyển sang tôi đã tự nêu cho mình mục tiêu phấn đấu lúc đầu là trong vòng một năm phải đuổi cho được trình độ hiểu thực tế của anh Chủ nhiệm hợp tác xã và Bí thư chi bộ. Xuống cơ sở, phải thực tế chứ không thể sách vở, tổ chức lao động thế nào, phân tro, giống má ra sao, giống thế nào là tốt, là xấu, chọn giống, giữ giống thế nào… Ý kiến phải cho cụ thể và cho tốt, chứ không thể chung chung, vì như thế sẽ không giúp được gì cả mà nghe báo cáo không biết đúng sai, hay dở nữa”.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh không mấy khi hài lòng với những việc làm được. Đến đâu ông cũng đề cao những nhân tố mới, khẳng định thành tựu, khích lệ đồng bào, nhưng bên cạnh đó luôn cánh cánh những vấn đề cuộc sống đặt ra, những việc thực tế đòi hỏi mà ta chưa nhìn rõ hướng làm.

Hình ảnh vị tướng xắn quần lội ruộng xem xét việc canh tác, khảo sát những khó khăn, tìm hiểu những nơi sản xuất khá đã không còn xa lạ với những người nông dân chân lấm tay bùn. Ông đã thực sự gây dựng được niềm tin và sự quý mến với nông dân, như cán bộ và bà con trên mặt trận nông nghiệp vẫn thường gọi ông là “Đại tướng nông dân”.
Trong quá trình thâm nhập, sâu sát thực tế tại một số địa phương đã giúp cho vị tướng trận mạc những kinh nghiệm quý báu trên mặt trận nông nghiệp.

“Nơi thành đồng Tổ quốc” - đứa con của “món nợ ân tình”

    Giữa làn sóng dịch bệnh thứ 4, Đại tá, nhà báo, nhà thơ Trần Thế Tuyển dành nhiều thời gian chăm sóc cho những đứa con tinh thần. Mới đây, ông trình làng tập truyện ký “Nơi thành đồng Tổ quốc” với gần 40 bút ký giàu cảm xúc, xoay quanh hình tượng người lính Bộ đội Cụ Hồ.
Bìa sách Nơi thành đồng Tổ quốc.
Mỗi lần nghe tin Đại tá, nhà báo, nhà thơ Trần Thế Tuyển ra mắt sách, những đồng nghiệp, bạn bè, các thế hệ học trò của ông lại mong ngóng. Văn, thơ của ông dù chỉ xoay quanh mảng đề tài về Bộ đội Cụ Hồ nhưng cuốn hút đến lạ, thậm chí đọc qua rồi vẫn muốn nghiền ngẫm từng câu chữ.
 
Sách ông hay không chỉ ở ngôn từ đa dạng, giọng điệu giàu cảm xúc mà còn hay ở tính chân thật. Những câu chuyện, con người mà Đại tá Trần Thế Tuyển viết, vẽ lên không phải là hình dung, mường tượng mà ông là người trực tiếp đi, thu thập và cất giữ. Mấy chục năm qua, ông xem những tư liệu đó là hiện thực lịch sử, là bệ phóng cho những đứa con tinh thần của mình.
 
Quay lại “Nơi thành đồng Tổ quốc”, truyện ký với hơn 300 trang, tập hợp những bút ký về hình tượng người Bộ đội Cụ Hồ, chiến trường xưa… Có thể kể đến “Chiến công thầm lặng”, “Một chuyến hành hương”, “Kỷ niệm ngày vào Đảng”, “Long Khốt vùng di sản quốc gia”… đan xen đó là những câu chuyện, ký ức của tác giả về các chuyến hành quân về chiến trường xưa.
 
Dù truyện ký viết về hồi ức lịch sử, câu chuyện quá khứ nhưng cách thể hiện của ông luôn tươi mới, thu hút bởi vậy mà sách vừa ra lò đã “cháy hàng”. Có thể thấy, thành công lớn nhất trong cuộc đời cầm bút của Đại tá Trần Thế Tuyển là chạm đến trái tim của nhiều người, độc giả của ông không chỉ là những người cùng trang lứa mà đó còn là những cụ ông, cụ bà lớn tuổi, thậm chí là những người tuổi đôi mươi.
 
Trưởng thành từ một người lính của Trung đoàn 174 (Đoàn Cao - Bắc - Lạng), là người trực tiếp cầm súng chiến đấu trên chiến trường nên những ký ức bên đồng đội luôn sống mãi trong ông. Những đứa con tinh thần ra đời cũng là cách để ông trả món nợ nghĩa tình.
 
“Gừng càng già càng cay”, văn, thơ của Đại tá Trần Thế Tuyển qua nhiều năm lại càng mặn mà, đặc biệt, cách đúc kết, xâu chuỗi các sự kiện, nhân vật, bối cảnh từ quá khứ đến thực tại càng làm người đọc hiểu rõ hơn về những giá trị lịch sử, những hy sinh, cống hiến của người lính Bộ đội Cụ Hồ. Qua đó, giúp thế hệ trẻ nhận thức sâu sắc hơn về vai trò, trách nhiệm đối với quê hương, dân tộc...

“Học hành là vô cùng. Học càng nhiều biết càng nhiều càng tốt...”

    Đó là lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Thư gửi đồng bào xã Duyên Trang, huyện Tiên Hưng, tỉnh Thái Bình”, ngày 13-11-1947.

    Sau hơn hai năm Trung ương Đảng và Chính phủ phát động toàn dân thực hiện phong trào diệt giặc dốt, phong trào đã đạt được những kết quả quan trọng, hàng triệu người dân Việt Nam đã biết đọc, biết viết. Bác Hồ rất vui mừng khi nhận được báo cáo về kết quả kỳ thi ngày 6-9-1947, toàn dân xã Duyên Trang từ 8 tuổi trở lên đều thoát nạn mù chữ. Bác đã thay mặt Chính phủ gửi lời khen ngợi đến đồng bào toàn xã, nhất là cảm ơn các phụ lão, thân hào đã ra sức giúp đỡ, các cán bộ bình dân học vụ đã cố gắng dạy dỗ bà con nhân dân trong xã.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là tấm gương sáng về tinh thần tự học. Người không những là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất, mà còn là một nhà giáo dục, một tấm gương suốt đời tự học để trưởng thành, tiến bộ. Theo Người, muốn trở thành người có đức, có tài để phục vụ và cống hiến nhiều cho Đảng, cho nhân dân thì “suốt đời phải học tập”. Chỉ có học tập mới nâng cao sự hiểu biết về mọi mặt và phục vụ cho quê hương, đất nước nhiều hơn, tốt hơn.

    Thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phong trào diệt giặc dốt đã được toàn dân đồng lòng, đồng sức triển khai với quyết tâm cao, toàn dân, toàn quân ra sức học tập, lao động sản xuất để chiến đấu và phục vụ chiến đấu, giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

    Ngày nay, lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn nguyên giá trị, nhất là đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo của nước nhà. Đảng, Nhà nước ta luôn coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội. Để thực hiện được mục tiêu đó, mỗi người dân Việt Nam cần nêu cao tinh thần tự học, tự rèn, tích cực “học tập suốt đời” theo gương Bác để phục vụ tốt hơn.

    Đối với Quân đội ta, thực hiện lời dạy của Bác, mỗi cán bộ, chiến sĩ cần nhận thức sâu sắc việc học tập, rèn luyện vừa là nghĩa vụ, vừa là trách nhiệm, là vinh dự của mỗi quân nhân; phải coi việc học tập là một nhu cầu tự thân, nó thấm sâu vào mỗi quân nhân, trở thành nếp nghĩ và hành động trong cuộc sống của mỗi người. Cần chủ động khắc phục mọi khó khăn, sử dụng mọi thời gian, tranh thủ mọi điều kiện để học tập, rèn luyện với tinh thần bền bỉ, kiên trì, cầu tiến bộ.

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới về kinh tế thị trường định hướng XHCN

    Thực tiễn quá trình cách mạng của nước ta hiện nay cũng chứa đựng những vấn đề không đơn giản. Chúng ta đang ở thời kỳ quá độ lên CNXH, trong đó nền kinh tế và cả xã hội cũng có những vấn đề quá độ đan xen nhau rất khó rạch ròi.

    Quá trình mở cửa hội nhập, chủ động làm ăn với các nước tư bản chủ nghĩa lại sử dụng những giải pháp và cách thức phát triển của CNTB để xây dựng CNXH đặt ra nhiều thách thức đối với công tác lý luận và có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch.

    Thực tế cho thấy, trước những bước ngoặt của sự nghiệp cách mạng, những khó khăn của đất nước hoặc ở thời điểm quan trọng, nhạy cảm, các thế lực thù địch thường đẩy mạnh chống phá về tư tưởng, còn trong nội bộ có thể xuất hiện những quan điểm lệch lạc.

    Vì thế, việc nghiên cứu xác định rõ những luận cứ phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng càng cần được chú trọng hơn; chống cả những quan điểm thù địch diễn ra thường xuyên và nhất là trong các thời điểm trước và sau những sự kiện quan trọng. Chúng ta cần tập trung một số vấn đề sau:

    Nhận thức không thể phủ nhận thành tựu xây dựng CNXH và công cuộc đổi mới.

    Đổi mới ở Việt Nam do Đảng khởi xướng và lãnh đạo bắt đầu từ Đại hội VI của Đảng (năm 1986). Đó là sự lựa chọn tất yếu nhằm đưa Việt Nam thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, là một bước ngoặt quan trọng trong tiến trình phát triển của đất nước.

    Sau 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Nền kinh tế của đất nước ngày càng phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất khu vực và thế giới.

    Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đã tiếp tục khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; khẳng định con đường đi lên CNXH của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

    Nhận thức chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản cùng tồn tại, vừa hợp tác, vừa đấu tranh

    Thế giới hiện nay là thế giới toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế; là cả một không gian mở, đan xen lợi ích, tùy thuộc lẫn nhau. Một khi khủng hoảng kinh tế ở một khu vực hoặc một nước lớn sẽ kéo theo khủng hoảng toàn cầu; một khi giá dầu mỏ lên xuống thất thường và đột biến đủ làm cho kinh tế thế giới bị ảnh hưởng…

    Như vậy, cùng với việc đổi mới nhận thức của toàn nhân loại, đặc biệt là của giới lãnh đạo các nước về trách nhiệm chung đối với sự phát triển thế giới, những nhân tố khách quan nêu trên vừa thúc đẩy, đòi hỏi, vừa tạo điều kiện cho việc cùng tồn tại và hợp tác cùng phát triển đối với tất cả các nước.

    Trong khi nhận thức rõ sự hợp tác giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản hiện nay là khá toàn diện, thì không thể quên rằng giữa hai chiều hướng phát triển này vẫn chứa đựng những mâu thuẫn vốn có.

    Các thế lực hiếu chiến và thù địch chưa bao giờ từ bỏ dã tâm muốn xóa sổ chủ nghĩa xã hội. “Diễn biến hòa bình” là một trong những chiến lược tổng thể của chủ nghĩa đế quốc nhằm thực hiện mục tiêu đó. Đây là cuộc chiến tranh không khói súng nhưng thực sự là kế sách nham hiểm phá vỡ thành lũy của chủ nghĩa xã hội từ bên trong.

    Tất cả những thủ đoạn mà các thế lực đế quốc đã và đang sử dụng đối với các nước XHCN, cũng như đối với giai cấp những người lao động trên toàn thế giới cho thấy, cuộc đấu tranh giai cấp hiện nay không kém phần gay gắt, quyết liệt và phức tạp.

    Bởi vậy, trong điều kiện mở cửa, hội nhập với thế giới, thu hút vốn đầu tư, công nghệ và hợp tác, giao lưu với các nước tư bản, các nước XHCN phải luôn kiên định bảo vệ nền tảng tư tưởng và giữ vững định hướng XHCN, hợp tác cùng phát triển nhưng luôn cảnh giác và sẵn sàng đấu tranh bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc và mục tiêu, lý tưởng của mình.

    Từ một nước kinh tế kém phát triển, nếu chúng ta biết tranh thủ những thời cơ, những thuận lợi và biết vượt qua những thách thức, những nguy cơ, chúng ta có thể “phát triển rút ngắn” lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa theo quan điểm của V.I.Leenin.

    Nhận thức phê phán quan điểm cho rằng Việt Nam đang đi theo con đường tư bản chủ nghĩa và trá hình chủ nghĩa xã hội

    Quan điểm trên hoàn toàn sai trái. Một là, Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức ngày càng rõ hơn nội dung bỏ qua chế độ TBCN. Xây dựng CNXH bỏ qua chế độ TBCN, tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp, cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ”(11). Đây là bước tiến về nhận thức của     Đảng khi xác định rõ nội dung bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Hai là, Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức về CNXH ngày càng rõ hơn.

    Nhận thức được những vấn đề lý luận căn bản đó sẽ giúp chúng ta hiểu một cách sâu sắc đường lối của Đảng về hoàn thiện KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam, củng cố niềm tin đối với quá trình đổi mới và con đường phát triển đất nước trong bối cảnh mới.

    Chuyển hóa từ nhận thức vào hành động trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đối với mỗi cán bộ lãnh đạo quản lý theo vị trí việc làm đó là tổ chức thực thi các chính sách của Nhà nước và tham mưu cho các cấp lãnh đạo trong việc hoạch định chính sách nhằm mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi địa phương, mỗi ngành, trên cả nước.

 


Một số vấn đề đặt ra về nền kinh tế thị trường XHCN trong tình hình mới

    Những thách thức đối với cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch cũng không hề nhỏ mà lý do chính là những tồn tại, khiếm khuyết trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước.

    Trong những năm qua, kinh tế vĩ mô của nước ta cơ bản ổn định nhưng chưa vững chắc, nợ công tăng nhanh, nợ xấu giảm dần nhưng vẫn ở mức cao, sản xuất kinh doanh còn gặp nhiều khó khăn; chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp. “Phát triển thiếu bền vững cả về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường.

    Nhiều vấn đề bức xúc nảy sinh, nhất là các vấn đề xã hội và quản lý xã hội chưa được nhận thức đầy đủ và giải quyết có hiệu quả; còn tiềm ẩn những nhân tố và nguy cơ mất ổn định xã hội.

    Trên một số mặt, một số lĩnh vực, một bộ phận nhân dân chưa được thụ hưởng đầy đủ, công bằng thành quả của công cuộc đổi mới… Bốn nguy cơ mà Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (năm 1994) nêu lên vẫn tồn tại, có mặt diễn biến phức tạp, như tham nhũng, lãng phí, “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch với những thủ đoạn mới, nhất là triệt để sử dụng các phương tiện truyền thông trên mạng Internet để chống phá ta và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng, chế độ có mặt bị giảm sút” .

    Về tiếp tục hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế KTTT định hướng XHCN, được bắt đầu ngay từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, tuy nhiên đây là vấn đề rường cột trong nội dung đổi mới và rất phức tạp, đòi hỏi sự đổi mới trong nhiều lĩnh vực.

    Vì vậy, trong nhiều nhiệm kỳ Đại hội vấn đề này luôn được coi là một nội dung trọng tâm, cần phải được quán triệt cả về nhận thức và hành động. Tuy nhiên, Văn kiện Đại hội XIII khẳng định: “Thể chế KTTT định hướng XHCN còn nhiều vướng mắc, bất cập.

    Năng lực xây dựng thể chế còn hạn chế; chất lượng luật pháp và chính sách trên một số lĩnh vực còn thấp. Môi trường đầu tư, kinh doanh chưa thực sự thông thoáng, minh bạch. Chưa tạo được đột phá trong huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển. Thể chế phát triển, điều phối kinh tế vùng chưa được quan tâm và chậm được cụ thể hóa bằng pháp luật nên liên kết vùng còn lỏng lẻo”.


 


Âm mưu sau lời kêu gọi “tẩy chay”

    Thật lạ là trong khi đại đa số người dân rất mong tuyến đường sắt Cát Linh-Hà Đông đi vào hoạt động để được đi lại nhanh chóng, thuận lợi, giảm ùn tắc giao thông và ô nhiễm môi trường, thì một số phần tử lại ra sức kêu gọi “tẩy chay”, vận động người dân không sử dụng tàu điện này với lý do: Đó là đường sắt “Tàu” (!); đó là công trình điển hình về tham nhũng và chậm tiến độ (!); ai đi tàu điện này là… không yêu nước (!)

    Ngày 6-11, tuyến đường sắt Cát Linh-Hà Đông đã chính thức vận hành, khai thác thương mại giai đoạn 1 với tần suất từ 6-15 phút/chuyến.

Sự kiện này được người dân Hà Nội, nhất là những người có nhu cầu đi lại trên tuyến đường thuộc loại đông đúc nhất Thủ đô mong chờ từ lâu, bởi đường sắt trên cao đi vào hoạt động sẽ đánh dấu bước phát triển của vận tải hành khách công cộng, góp phần quan trọng giúp người dân đi lại nhanh chóng, thuận lợi, giảm ùn tắc giao thông và ô nhiễm môi trường.

    Thực tế những năm qua, người dân đã rất sốt ruột, thậm chí kêu ca, phàn nàn nhiều vì dự án này bị chậm tiến độ, không kịp thời “gỡ khó” cho tuyến giao thông trọng điểm, thường xuyên bị quá tải, ùn tắc, lưu thông rất khó khăn.

    Thế nhưng, khác hẳn với đại đa số người dân rất mong tuyến đường sắt Cát Linh-Hà Đông hoạt động, thì một số phần tử lại ra sức kêu gọi “tẩy chay”, vận động người dân không sử dụng tàu điện này với lý do: Đó là đường sắt “Tàu” (!); đó là công trình điển hình về tham nhũng và chậm tiến độ (!); ai đi tàu điện này là… không yêu nước (!)

    Trước đó, ngay từ khi tuyến đường sắt đô thị Cát Linh-Hà Đông được khởi công xây dựng, những đối tượng này đã ra sức chống phá: Nào là Trung Quốc làm tuyến đường sẽ “trấn yểm long mạch” Thủ đô của Việt Nam, “chặn linh khí quốc gia” làm cho nước ta lụi bại (!); lãnh đạo Việt Nam sợ Trung Quốc nên buộc phải giao cho Trung Quốc làm tổng thầu (!); công nghệ tàu điện và đường sắt trên cao của Trung Quốc lạc hậu (!)…

    Đặc biệt, khi tuyến đường thi công chậm tiến độ, điều chỉnh, phát sinh nhiều hạng mục dẫn đến đội vốn (từ hơn 8.000 tỷ đồng lên hơn 18.000 tỷ đồng) thì các đối tượng càng lợi dụng để vu khống, chống phá quyết liệt. Dù không có bằng chứng, cơ sở nào nhưng họ vẫn ngang nhiên suy diễn, vu cáo rằng “các nhà lãnh đạo Việt Nam và Bộ Giao thông vận tải, TP Hà Nội tham nhũng rất nhiều từ dự án đường sắt Cát Linh-Hà Đông” (!)

    Âm mưu, bộ mặt thật của những đối tượng này đã bộc lộ rõ nhất ở chỗ: Mỗi lần dự án đường sắt Cát Linh-Hà Đông gặp sự cố (tai nạn lao động, chậm tiến độ…) thì chúng “vui như mở cờ” vì có cớ để thổi phồng, chống phá; còn khi công trình triển khai thuận lợi, được đơn vị liên danh tư vấn độc lập của Pháp (ATC) cấp chứng nhận an toàn, chạy thử thành công, được toàn bộ 9/9 thành viên Hội đồng kiểm tra Nhà nước chấp thuận đồng ý kết quả nghiệm thu có điều kiện để đưa vào vận hành, khai thác thương mại (ngày 29-10 vừa qua) thì chúng lại vô cùng tức tối.

    Bởi, thực tâm những đối tượng này chỉ mong tuyến đường sắt Cát Linh-Hà Đông (và các công trình khác ở Việt Nam) trở thành phế tích để có cớ chống phá Đảng, Nhà nước ta, chứ chúng hoàn toàn không xót gì tiền bạc của nhà nước và nhân dân, cũng không cần biết nỗi khổ của người dân khi đi lại khó khăn, giao thông ách tắc.

    Chủ trương xây dựng tuyến đường sắt Cát Linh-Hà Đông là hoàn toàn đúng, nhưng quá trình triển khai thực hiện dự án có nhiều thiếu sót do cả nguyên nhân chủ quan và khách quan, dẫn đến dự án chậm tiến độ gần 6 năm và đội vốn hơn gấp đôi so với dự toán ban đầu. Điều này đã được Kiểm toán Nhà nước kết luận rõ ràng và Bộ Giao thông vận tải, UBND TP Hà Nội đã công khai giải trình từng vấn đề mà báo chí và nhân dân có ý kiến, nêu trách nhiệm cụ thể đối với từng thiếu sót.

    Nếu công dân không đồng tình với những kết luận, giải trình đó, có bằng chứng về những sai phạm thì hoàn toàn có thể đề nghị, thậm chí tố cáo để các cơ quan chức năng tiến hành thanh tra, làm rõ theo đúng quy định của pháp luật. Đảng, Nhà nước ta luôn khuyến khích nhân dân phát huy vai trò giám sát và chủ động tố giác khi phát hiện những sai phạm, chứ không hề cấm đoán việc này; nếu có sai phạm thì Đảng, Nhà nước sẽ xử lý nghiêm như thực tiễn đã chứng minh.

    Thế nhưng, việc một số đối tượng cố tình kêu gọi “tẩy chay tàu điện Cát Linh-Hà Đông” với những lý do chỉ có tính suy diễn, quy chụp, vu khống (hoàn toàn không có cơ sở nào) là không thể chấp nhận, cần phải xử lý nghiêm theo đúng quy định của pháp luật.

Ở bất kỳ quốc gia nào cũng không thể có chuyện tùy tiện suy diễn, quy chụp, vu cáo người nào đó tham nhũng trong khi không có bằng chứng gì. Khi xem xét bất kỳ sự việc gì cũng phải tuân thủ nguyên tắc khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển, chứ không thể phiến diện, thành kiến, chủ quan, “vơ đũa cả nắm”, áp đặt ác ý, gây tổn hại danh dự, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tổ chức, cá nhân.

    Thiết nghĩ, việc kêu gọi “tẩy chay tàu điện Cát Linh-Hà Đông” để nhằm mục đích gì, có lợi cho ai và gây thiệt hại cho ai thì tất cả những người có lương tri đều biết tỏng. Có những kẻ ra sức kêu gọi, chỉ mong người dân không đi tàu đó, để rồi lại có cớ rêu rao, phủ nhận hiệu quả của một chủ trương đúng, từ đó cho rằng việc quyết định làm tuyến đường này không phải vì sự đi lại thuận lợi của nhân dân, vì tiến bộ và văn minh đô thị mà vì… lợi ích nhóm (chúng hướng tới mục đích sâu xa là gây mất lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước).

    Bên cạnh đó, cũng có một số người a dua, hùa theo bởi sự đi lại thuận lợi của nhân dân phần nào làm giảm thu nhập của họ. Đó là bản chất của vấn đề mà mọi người cần tỉnh táo nhận rõ để có thái độ, ứng xử đúng đắn, không mắc phải những mưu đồ đen tối gây tổn hại cho nhân dân, đất nước và phụ công sức, sự nỗ lực của bao người.

 


Choáng ngợp trước vẻ đẹp quyến rũ của vùng núi cao Tây Bắc

    Lên với vùng cao Tây Bắc, du khách thường choáng ngợp trước những con đèo quanh co khúc khuỷu. Con người Tây Bắc hiền hậu, thật thà chân chất tô điểm thêm một Tây Bắc quyến rũ.
Choáng ngợp trước vẻ đẹp quyến rũ của vùng núi cao Tây Bắc - Ảnh 1
Tây Bắc nổi tiếng với những cung đường đèo núi quanh co.
Choáng ngợp trước vẻ đẹp quyến rũ của vùng núi cao Tây Bắc - Ảnh 2
Vẻ đẹp bình dị nơi núi rừng Tây Bắc. 
Choáng ngợp trước vẻ đẹp quyến rũ của vùng núi cao Tây Bắc - Ảnh 3
Lên Tây Bắc du khách sẽ được ngắm nhìn những biển mây mờ ảo. 
Choáng ngợp trước vẻ đẹp quyến rũ của vùng núi cao Tây Bắc - Ảnh 4
Biển mây nơi núi rừng Tây Bắc. 
Choáng ngợp trước vẻ đẹp quyến rũ của vùng núi cao Tây Bắc - Ảnh 5
Những thửa ruộng bậc thang xanh màu lúa trải dài phủ khắp các triền núi. 
Choáng ngợp trước vẻ đẹp quyến rũ của vùng núi cao Tây Bắc - Ảnh 6
Những thửa ruộng bậc thang níu chân du khách. 
Choáng ngợp trước vẻ đẹp quyến rũ của vùng núi cao Tây Bắc - Ảnh 7
Những con suối nhỏ len lỏi trong các vách núi. 
Choáng ngợp trước vẻ đẹp quyến rũ của vùng núi cao Tây Bắc - Ảnh 8
Tây Bắc là nơi sinh sống của nhiều đồng bào dân tộc. 
Choáng ngợp trước vẻ đẹp quyến rũ của vùng núi cao Tây Bắc - Ảnh 9
Đến Tây Bắc với những sắc màu và phong tục của nhiều đồng bào dân tộc đang sinh sống nơi đây. 
Choáng ngợp trước vẻ đẹp quyến rũ của vùng núi cao Tây Bắc - Ảnh 10
Hồ Pá Khoang (Điện Biên) với vẻ đẹp cuốn hút.
Choáng ngợp trước vẻ đẹp quyến rũ của vùng núi cao Tây Bắc - Ảnh 11
Hoa mận nở mỗi độ xuân về. 
Choáng ngợp trước vẻ đẹp quyến rũ của vùng núi cao Tây Bắc - Ảnh 12
Hang Chua Ta (huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên) là điểm đến khám phá của nhiều du khách. 
Choáng ngợp trước vẻ đẹp quyến rũ của vùng núi cao Tây Bắc - Ảnh 13
Hoa Ban nở dọc con đường lên Cửa khẩu quốc tế Tây Trang. 
Choáng ngợp trước vẻ đẹp quyến rũ của vùng núi cao Tây Bắc - Ảnh 14
Thành phố Điện Biên Phủ ngày càng đổi mới và phát triển. 
Choáng ngợp trước vẻ đẹp quyến rũ của vùng núi cao Tây Bắc - Ảnh 15
Sông núi hòa quyện vào nhau tạo nên vẻ đẹp hùng vĩ. 

TỰ HÀO LÀ CON DÂN CỦA ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM!

1. Đánh hạ Pháp 1954 (Trùm thực dân) - Mỹ 1975 (Siêu cường quân sự) - Trung Quốc 1979 (Biển người)

2. Khai thác nhôm: Bắn rơi máy bay B52 (vào thời điểm Mỹ tuyên bố không ai có thể hạ được).

3. Biến CIA thành trò hề khi cài gián điệp tận đầu não " ngụy" , Địa đạo Củ Chi , rừng Sác nằm trong vùng Mỹ kiểm soát nhưng tồn tại suốt cả cuộc chiến.

4. Dân tộc Việt Nam bị giặc Phương Bắc đô hộ hơn 1.000 năm nhưng vẫn không bị mất gốc & tiếng nói của mình, ngược lại ta còn đồng hóa dân Phương Bắc khi họ đến lập nghiệp ở Việt Nam dần trở thành một bộ phận của dân tộc ta.

5. Cờ Việt Nam có thể nói tương đối giống cờ Trung Quốc, tuy nhiên Cờ Việt Nam xuất hiện trước Trung Quốc (Việt Nam tuyên bố độc lập ngày 02/9/1945; Trung Quốc tuyên bố độc lập tháng 10/1949, sau Việt Nam 4 năm) và Cờ Việt Nam chỉ có 01 ngôi sao 5 cánh tượng trưng cho sự đoàn kết các tầng lớp trong đại gia đình dân tộc Việt Nam (sĩ, nông, công, thương, binh) Chỉ bọn phản động, óc c.hó mới nói ngu: "cờ Việt Nam sao chép Trung Quốc"

6. Liên Xô anh cả của phe XHCN đã sụp đổ, như vậy hiện nay Việt Nam là nước theo CNXH lâu đời nhất trên thế giới (trước cả Trung Quốc) nên vai vế là còn trên cả của Trung Quốc, Cuba và Lào…

7. Cũng không ít người vô học hay so sánh Việt Nam với Thái Lan, Hàn Quốc... thậm chí còn dè bỉu chê bai Việt Nam thua kém họ! Nhưng do họ chả hề biết Thái Lan có cả 100 năm hòa bình để phát triển, không biết gì đến chiến tranh; còn Hàn Quốc giàu lên nhanh là nhờ chiến tranh Việt Nam (cho lính đi đánh thuê do chủ Mỹ trả công) như Philippines cũng vậy. Trong khi Việt Nam ta bị các đế quốc, bành trướng bá quyền xâu xé, chiến tranh tàn phá hàng trăm năm; chỉ có 20 năm sau này được yên, được hội nhập quốc tế và phát triển đất nước (xin nhớ 1995 ta mới hết bị cấm vận, năm 2000 ta bắt đầu mở cửa), vậy mà nhiều thành tựu đã đạt mức kỳ diệu; kinh tế Việt Nam đang dần đi lên, chế tạo thành công nhiều loại vũ khí như ngư lôi, đạn pháo. Còn bọn 3 que vào bảo VN không sản xuất nổi cái ốc vít thì bọn mày thử tới xưởng sản xuất vũ khí của VN đi. Các bác ở đấy sẽ cho bọn mày biết thế nào là "ốc vít biết bay"

8. ASEAN ban đầu được thành lập là để chống Việt Nam” cố kìm hãm Việt Nam phát triển... dù vẫn luôn còn nhiều kẻ ganh ăn, tức ở, như Sing, như Thái… nhưng năm 2020 Việt Nam chúng ta vẫn là Chủ tịch ASEAN...


Môi Trường ST.

Vắc xin Covid-19 dạng miếng dán có thể hiệu quả hơn tiêm

    Những loại vắc xin Covid-19 đang sử dụng phổ biến hiện nay thường được bảo quản ở nhiệt độ lạnh. Mới đây, giới chuyên môn đưa ra thông tin về một loại vắc xin dạng miếng dán không đòi hỏi các điều kiện lưu trữ phức tạp như vậy.

Vắc xin Covid-19 dạng miếng dán có thể hiệu quả hơn tiêm

Vắc xin Covid-19 dạng miếng dán có nhiều ưu điểm 

    Theo kết quả thử nghiệm trên chuột, miếng dán vắc xin Covid-19 mang lại khả năng bảo vệ miễn dịch tốt hơn so với cách tiêm truyền thống. Miếng dán chỉ cần bảo quản ở nhiệt độ phòng và mọi người có thể tự sử dụng. Các ưu điểm này thích hợp với những nơi thiếu kho lạnh và nhân viên y tế.

    Các loại vắc xin Covid-19 hiện đã được phổ biến rộng rãi ở nhiều quốc gia. Tuy nhiên, chúng phải được vận chuyển và bảo quản ở nhiệt độ lạnh, thậm chí âm sâu -25 độ C như Pfizer.

    Nhà virus học David Muller, Đại học Queensland ở Brisbane, Australia cho biết: “Chúng tôi muốn đưa ra một giải pháp để vắc xin có thể vận chuyển dễ dàng, đặc biệt là tới những nơi hạn chế cơ sở vật chất và nhân lực”.

    Muller và các đồng nghiệp của ông đã dành nhiều năm để phát triển miếng dán da phòng ngừa cúm, bại liệt, sốt xuất huyết và một số loại bệnh khác mà không cần kim tiêm hoặc bảo quản lạnh. Họ đã đặt ra câu hỏi liệu công nghệ tương tự có áp dụng cho vắc xin Covid-19 được hay không.

    Miếng dán kích thước vài cm có tới 5.000 gai nhỏ bằng nhựa, mỗi gai dài 0,25mm và được phủ một lớp vắc xin khô, ổn định hơn so với dạng lỏng. Miếng dán có chất dính giúp ép vắc xin vào da không gây đau đớn.

    Nhà virus học Muller thông tin, vắc xin dạng này tạo ra các phản ứng miễn dịch mạnh hơn. Khi họ sử dụng vắc xin cúm dạng miếng dán, chỉ cần 1/6 liều lượng do với vắc xin tiêm.  

    Vắc xin Covid-19 loại dán vẫn đang được thử nghiệm lâm sàng. Những con chuột sử dụng miếng dán vắc xin đã phát triển nhiều kháng thể hơn những con được tiêm. Chúng hoàn toàn không nhiễm bệnh, chống lại được biến thể, ngay cả khi chỉ dùng vắc xin một lần.

    Vắc xin Covid-19 dạng dán giữ được chất lượng ổn định trong 1 tháng khi bảo quản ở 25 độ C và trong một tuần ở 40 độ C.

    Cuộc thử nghiệm loại vắc xin Covid-19 này trên người sẽ bắt đầu vào năm tới. Ông Muller cho biết, nếu được chấp thuận, vắc xin dán có thể được sử dụng làm liều tăng cường.