Thứ Hai, 15 tháng 11, 2021

BÀ ĐẦM XÒE KHÔNG PHẢI LÀ BIỂU TƯỢNG VĂN HÓA VIỆT NAM!

       Tại sao khách nước ngoài đến Việt Nam họ muốn tham quan Lăng Bác, Bảo tàng Dân tộc học, đình chùa, ngắm hoa sen, phố cổ, rồng, rùa; muốn thưởng thức các làn điệu dân ca, xem chiếu chèo, văn hoá cồng chiêng, nhà Rông, chứ không phải bà đầm xoè? 


Trả lời ngắn gọn rằng: BÀ ĐẦM XÒE KHÔNG PHẢI LÀ BIỂU TƯỢNG VĂN HÓA VIỆT NAM

Thực ra, "Bà đầm xòe" không thể tồn tại ở Việt Nam đã từ lâu, dù đó là biểu tượng chung của Mỹ hay Pháp qua câu chuyện này.

Năm 1887, Pháp đã tặng cho Triều đình An Nam một bức tượng "Nữ thần tự do" của Mỹ bằng đồng nguyên khối, để dựng lên tại Hà Nội. Bản chính bức tượng này tại Thành phố New York của Mỹ có chiều cao là 46 m nhưng bản sao tại Hà Nội chỉ có kích cỡ khoảng 2,85m. Nó được di chuyển nhiều lần đến Việt Nam và người Pháp sợ nó nhạy cảm bởi phản ứng của dân chúng nên đã lưu giữ tại một nhà kho hơn bảy năm trời, sau đó được dựng lên tại Hà Nội.

Khi được dựng lên, nó chủ yếu phục vụ các quan lại, trí thức thân tây và Tòa toàn quyền Đông Dương tại Hà Nội trong những khi rảnh rỗi chiêm ngưỡng nó và những cuộc trò chuyện, bình thơ của họ, còn lại, các trí thức yêu nước và nhân dân lại xem đó là nỗi nhục dân tộc vì trong khi bao nhiêu hào kiệt anh hùng nước Việt không được phục dựng nhưng vô số bức tượng tây lại đua nhau mọc lên, trở thành câu chuyện đàm tiếu của dân chúng vùng Bắc Bộ phủ.

Trước khi cách mạng tháng 8/1945 nổ ra, tượng Nữ thần tự do và một số tượng khác của phương tây bị người dân Hà Nội kéo đổ lúc 9 giờ 45 phút ngày 1/8/1945.

Những bức tượng này nhanh chóng được người dân mang cất dấu để tránh cảnh sát toàn quyền Đông Dương phát hiện. Khoảng 2 tuần sau đó, Cách mạng tháng 8 đã nổ ra và thành công, trở thành dư địa chấn trên toàn Châu Á, Phi, Mỹ - Latinh và trở thành phong trào cách mạng giành độc lập dân tộc cho khắp 5 châu của các dân tộc thuộc địa bị đô hộ, áp bức của chủ nghĩa thực dân, đế quốc.

Ngày 26/10/1952, tượng Nữ thần được xẻ ra từng miếng nhỏ bỏ vào lò đúc đun nóng chảy rồi đổ vào khuôn để đúc tượng A Di Đà cho chùa Thần Quang, làng Ngũ Xã, Phường Trúc Bạch, Hà Nội do Thượng tọa Vĩnh Tượng, tiến sĩ Vũ Văn Quý, họa sĩ Nguyễn Văn Hiếu, nghệ nhân Nguyễn Văn Tùy chủ trì thực hiện. 2 năm sau đó thực dân Pháp bại trận thảm hại tại Điện Biên Phủ ngày 7/5/1954.

Ngày 27/8/1967, sau 15 năm, một chiếc máy bay A4 của Mỹ cũng bị chính người dân Hà Nội bắn rơi tại hồ Trúc Bạch, gần chùa Thần Quang (quận Ba Đình, Hà Nội), thiếu tá hải quân - phi công Mỹ John McCain bị bắt làm tù binh chính nơi "xẻ thịt" Nữ thần tự do của Mỹ.

Tượng nữ thần tự do chỉ tồn tại ở Việt Nam khoảng 65 năm rồi tan biến. Sau này, khi Mỹ thay Pháp nhảy vào Đông Dương xâm lược miền Nam cũng không bao giờ dám đúc hay khiêng 1 bức tượng nào đặt trên đất nước này. 

Ấy thế mà có 1 bà Đầm xoè đứng trên 1 cái đế trong bức ảnh này chúng ta cảm thấy bị xúc phạm bởi vì mình là con dân Việt Nam.

Cảnh này thì đúng là làng quê Việt Nam rồi, mọi người kiểm tra giúp xem đây là ảnh thât hay potoshop và tượng này đăt ở đâu ạ?


Yêu nước ST.

GỬI NHẠC SĨ TUẤN KHANH VÀ NHỮNG KẺ PHẢN BỘI TỔ QUỐC, “CHẾT KHI ĐANG CÒN SỐNG”!

      Sáng ra thấy Việt Tân đăng tải bài viết của nhạc sĩ Tuấn Khanh, nội dung bài viết là sự kích động thù địch, bài Trung Quốc và bôi nhọ lãnh đạo Đảng và nhà nước ta. Y cho rằng: “Đừng nghĩ Việt Nam chỉ có kẻ thù là Bắc Kinh với nụ cười nham hiểm trên môi họ, mà kẻ thù của chúng ta nằm ngay trên đất nước mình với những thỏa hiệp, ham danh lợi, phản bội, và sẵn sàng bán rẻ tổ quốc với những lời ngụy biện ngu xuẩn”. Cổ nhân dạy “khuyển mã bất khá giáo hóa thành nhân”. Thế nhưng cũng có đôi lời gửi đến Việt Tân và nhạc sĩ Tuấn Khanh:

Năm 938, khi Ngô Quyền chiến thắng Quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, giành lại độc lập cho đất nước ta thì trước đó nhân dân ta đã phải chịu kiếp sống của kẻ tôi đòi hơn 1000 năm Bắc thuộc. Kể từ đó đến nay đã trãi qua 1083 năm với bao biến cố và thăng trầm của lịch sử; lúc hưng thịnh cũng như lúc suy tàn; có lúc là thù, lúc lại lại bạn. Tuy nhiên với những ai am tường về lịch sử của dân tộc có thể nhận thấy một điều rằng cha ông ta đã rất khôn khéo trong việc chung sống hòa bình với người Trung Quốc - người láng giềng phương Bắc khổng lồ! Chung sống hòa bình vì bách tính của Đại Việt chứ không phải là lệ thuộc Bắc phương.

Lịch sử dân tộc ta chưa bao giờ có khái niệm “sợ Trung Quốc”, có nghĩa là một khi họ dấy can qua, mang sức mạnh để uy hiếp, xâm lược thì các Triều đại phong kiến của ta đã lãnh đạo nhân dân đứng lên để bảo vệ sơn hà xã tắc, khẳng định với giặc phương bắc chân lý bất diệt “Nam Quốc sơn hà Nam Đế cư”. Triều Tiền Lê và nhà Lý chống Tống; nhà Trần bình quân Mông Cổ, Lê Lợi, Nguyễn Trãi đánh thắng quân Minh lập nhà Hậu Lê; Vua Quang Trung đại phá quân Thanh, nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đập tan 60 vạn quân Trung Quốc tại biên giới phía Bắc năm 1979. Đó là những trận chiến long trời lở đất của quân và dân ta qua các thời kỳ khác nhau, làm cho giặc phương Bắc “chích luân bất phản, phiên giáp bất hoàn” khẳng định rằng “sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”!

Tổ tiên ta đã rất tinh anh khi hiểu rõ rằng dù đến hàng triệu năm sau thì dân nước Nam ta và Trung Quốc vẫn sẽ là hàng xóm láng giềng, đó là điều bất biến! So về thế và lực thì chúng ta phải thừa nhận rằng họ mạnh hơn ta trên hầu hết các lĩnh vực ngoại trừ lòng yêu nước! Vậy nên khi đánh thắng chúng rồi, các bậc tiền nhân cấp ngựa xe, thuyền bè, lương thảo cho chúng về nước, cử sứ thần qua hòa hiếu với chúng. Không phải là chúng ta đớn hèn mà đó là vì tiền nhân lấy đại cục làm trọng nên đem đại nghĩa để đối trọng với hung tàn, lấy chí nhân để loại trừ cường bạo. Mục đích cuối cùng là thái bình cho tổ quốc, vì cuộc sống của bách tính nước Việt mà thôi! Vì sách động binh đao, gây thù chuốc oán không phải là hồng phúc cho muôn dân trăm họ! 

Dù muốn hay không thì Việt - Trung mãi mãi là hàng xóm láng giềng, không thể tách rời lãnh thổ, lãnh hải được. Thực tế cho thấy, Trung Quốc đang trên đà trở thành đất nước hùng mạnh nhất thế giới. Họ là nước lớn và để chung sống hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển, không phải là chuyện dễ. Chuyện quốc gia đại sự cần phải có những cái đầu tinh anh thì mới dẫn dắt cả dân tộc đi đến thắng lợi. Những kẻ thất phu như Tuấn Khanh, Lý Thái Hùng, Đỗ Hoàng Điềm chỉ là giống ký sinh trùng trên cơ thể ngoại bang, tư cách gì để dạy những người đã đánh đuổi ngoại xâm, mang lại hòa bình, hạnh phúc cho tổ quốc? Bài học chúng sống hòa bình với nước lớn thì cứ lấy gương Ukraina mới đây để hiểu rõ vẫn đề. Ukraina mắc sai lầm chết người là đối đầu với Nga, quốc gia hùng cường ở sát nách họ và là người anh em lâu đời để theo phương Tây. Kết cục là họ mất cả chì lẫn chài, Crimea đã thuộc Nga và Donetsk cũng ly khai, bất ổn. Các người cứ kêu gọi bài Trung theo Mỹ để đòi lại Hoàng Sa, chẳng những Hoàng Sa nhất thời chưa lấy lại được bằng vũ lực mà chắc biển Đông lại dậy sóng, hậu họa không lường! Bãi cạn Scarborough của người anh em Philippines là bài học nhãn tiền. 

Việt Nam ngày nay kế tục tiền nhân, Đảng và nhà nước ta luôn khôn khéo lựa chọn cho đất nước bước đi đúng đắn; với chính sách “viễn giao, cận giao” chúng ta sẵn sàng làm bạn, là đối tác với tất cả các nước trên thế giới trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, hợp tác cùng phát triển, thêm bạn bớt thù với mục đích chính là tạo môi trường thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, tất cả vì nhân dân Việt Nam. Trong đó, Trung Quốc là một trong những nước có mối quan hệ ngày càng phát triển với chúng ta; điều này thể hiện bằng Quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt - Trung. Đây là mối quan hệ bình đẳng, sòng phẳng vì nhân dân hai nước, vì hòa bình, hợp tác của khu vực và trên thế giới; hoàn toàn khác so với luận điệu của bọn phản quốc khi chúng cho rằng Việt Nam lệ thuộc Trung Quốc, bán đất đai, biển đảo cho Trung Quốc và sẽ bị sát nhập vào Trung Quốc…

Cái gọi là “thỏa hiệp, ham danh lợi, phản bội, và sẵn sàng bán rẻ tổ quốc với những lời ngụy biện ngu xuẩn” như Tuấn Khanh nói, vậy xin hỏi: Ai đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào!, đánh bại chính Trung Quốc năm 1979”, thu giang sơn của tổ tiên sau bao năm bị bọn ngụy quân, ngụy quyền hết bán cho Pháp lại dâng cho Mỹ? Ai đã lãnh đạo nhân dân xây dựng một đất nước điêu tàn vì khói lửa của chiến tranh; người dân đói rét, thất học nhiều mà trở thành một đất nước được cả thế giới nể trọng! Ai đã lãnh đạo nhân dân chiến đấu và chiến thắng kẻ thù xâm lược để bảo đảm giang Sơn muôn dặm không mất một tất cho Tây, cho Tàu, vẫn đang đấu tranh để đòi lại Hoàng Sa (do ngụy Sài Gòn làm mất năm 1974) bằng luật pháp quốc tế? Nếu không có Đảng Cộng sản Việt Nam thì liệu tổ quốc này có còn tồn tại theo một thể thống nhất?

Thực tế, đám tàn dư ngụy quân, ngụy quyền đã chống đối chế độ Cộng sản nhiều đời và nhiều lần trong lịch sử hiện đại. Chúng “trung thành” Pháp, Mỹ, Úc, Canada chứ không phải trung thành với nước Việt. Chúng yêu bản thân và vì lợi ích cá nhân hơn là yêu nước. Mục đích tối thượng của chúng là lật đổ Nhà nước Việt Nam để phục hận vì những lợi ích gắn liền với giặc ngoại xâm của chúng bị mất sạch sau khi Việt Nam thắng Mỹ. Chúng muốn trở về rửa hận, lấy lại những gì đã mất, tranh quyền giành ghế. Mối quan hệ phức tạp Việt - Trung chính là một trong những chiêu bài để chúng bám lấy và lợi dụng. Đó là bản chất của đám lưu vong và những kẻ chết não như Tuấn Khanh, thực chất chẳng bao giờ có chuyện các người yêu nước!

Chiến tranh xảy ra thì ngọc đá đều tan, đó không phải là cái phúc của xã tắc nhưng lại là món lợi ngàn năm có một của các thế lực thù địch và bọn phản động trong và ngoài nước vì đó là thời cơ để chúng hòng “lật đổ Đảng Cộng sản Việt Nam và chính quyền nhân dân”, rước ngoại bang và nhà để thỏa mãn mưu đồ đã trở thành bản chất của chúng là bán nước cho giặc để được “vinh thân, phì gia.

Chúng ta nên tranh thủ luật pháp quốc tế, sự ủng hộ của thế giới nhằm bảo vệ chủ quyền biển đảo, giữ gìn hòa bình và sự ổn định trong khu vực. Dù vậy, chúng ta vẫn sẵn sàng cầm súng chiến đấu nếu Trung Quốc nổ súng gây chiến tranh, đe dọa quyền lợi quốc gia và sự tồn vong dân tộc; tuy nhiên đó là biện pháp bất đắc dĩ, biện pháp cuối cùng khi không còn sự lựa chọn nào khác. Chúng ta luôn trân trọng hòa bình. Vì thế, ta không hy sinh và dùng chủ quyền đánh đổi hòa bình phụ thuộc. Những năm tháng chống Trung Quốc (1979-1989) đã cho chúng ta thấy rất rõ sự nhất quán trước sau như một, chúng ta vừa đánh để giành chủ quyền vừa tìm cách giữ cho nó trong sự kiểm soát, không để bất kỳ thế lực thứ ba nào lợi dụng, khoét sâu, kích động để leo thang cuộc chiến, cố gắng vãn hồi hòa bình, cố gắng tránh xung đột quy mô lớn. Đó là bài học lịch sử mà mỗi chúng ta cần nắm rõ để đập tan mưu đồ của bọn phản quốc!

Cổ nhân có câu “làm việc lớn không câu nệ tiểu tiết mà lấy đại cục làm trọng” Những người Cộng sản Việt Nam luôn lo đến cái lợi lớn nhất của đất nước, cái tổng thể chung, lâu dài, bền vững, không để những tiểu tiết làm hư đại sự, không vì muốn thỏa mãn những cảm tính, tự ái, không để bị kích động nhất thời mà làm hỏng chuyện lớn. Còn những kẻ chống đối, cơ hội chính trị, từng theo chân giặc vẫn luôn miệng tuyên truyền dối trá, nâng quan điểm về những cái gọi là “đại họa mất nước”, “Cộng sản bán nước cho giặc”, “Cộng sản đang bị Hán hóa”, “Việt Nam sẽ bị sát nhập vào Trung Quốc”. Có một điều chắc chắn là nếu nước ta chuyển sang chống Trung Quốc như trong giai đoạn 1979-1989 thì chẳng bao giờ chúng theo ta chống Trung Quốc đâu. Những người vì nhẹ dạ cả tin hãy tỉnh ngộ đi! Chúng ta đoàn kết, thống nhất để lộ bản mặt xấu xa và đê hèn của các tổ chức phản động lưu vong ở nước người và lũ phản phúc đang làm tay sai cho chúng ở trong nước như tên giặc Tuấn Khanh./.

Yêu nước ST.

Cán bộ là cái gốc của mọi công việc

Để hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2025, nước ta là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định, một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ Đại hội XIII đó là: “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ Nhân dân và sự phát triển của đất nước”.

Chủ Nhật, 14 tháng 11, 2021

THIỆN CHÍ CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM VỀ HÒA GIẢI DÂN TỘC TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC!

     Trong những dịp kỷ niệm ngày 30/4/1975 giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước, đáng lẽ ra không cần phải nhắc lại việc hòa gải dân tộc nữa, vì nó đã kết thúc được 46 năm rồi, nhưng có những kẻ vẫn cố tình kích động hoà giải, bóp méo, xuyên tạc sự thật, hạ thấp ý nghĩa, tầm quan trọng của chiến dịch Hồ Chí Minh tấn công vào hang ổ ngụy quyền ở Sài Gòn, buộc chúng phải đầu hàng vô điều kiện trưa ngày 30/4/1975.

Góp phần vạch mặt những kẻ xuyên tạc lịch sử, xin tóm tắt ngắn gọn lại nội dung chủ yếu bài tham luận dài 16 trang khổ 14 × 20 của cố Thượng tướng Trần Văn Trà, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đọc tại cuộc hội thảo khoa học ở Mỹ nhân dịp 15 năm giải phóng Miền Nam năm 1975 - 1990 có nhan đề MỘT CUỘC CHIẾN TRANH ĐÁNG LẼ KHÔNG XẨY RA, đăng trong sách "Cảm nhận về Xuân Mậu Thân 1968" của tác giả, Thượng tướng Trần Văn Trà, do NXB Trẻ TP Hồ Chí Minh in và phát hành năm 1998, để thấy rõ thiện chí của chính phủ và nhân dân Việt Nam trong việc hòa giải dân tộc và ý nghĩa của ngày giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước.

MỸ NGỤY ĐÃ PHÁ BỎ BỐN CƠ HỘI HÒA GIẢI DÂN TỘC THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC NHƯ THẾ NÀO

- CƠ HỘI THỨ NHẤT:

Năm 1954, Pháp thất bại ở Điện Biên Phủ phải ký hiệp định Giơneve chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam, ấn định hai miền nam, bắc sẽ tiến hành tổng tuyển cử thống nhất đất nước vào tháng 7/1956. Nhưng Mỹ đã can thiệp vào Việt Nam, lập ra chế độ Ngô Đình Diệm theo quĩ đạo của Mỹ, chống lại hiệp định, đàn áp những người cộng sản, phá bỏ tổng tuyển cử. Mỹ đã hậu thuẫn bằng đưa cố vấn quân sự và viện trợ quân sự, tiến hành cuộc chiến tranh không tuyên bố ở Miền Nam Việt nam (chiến tranh một phía).


- CƠ HỘI THỨ HAI *:

Ngày 20 tháng 12 năm 1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam được thành lập. Mặt trận kêu gọi hòa bình, hòa giải dân tộc, cơ hôi tốt có thể quay trở lại thực hiện Hiệp định Giơneve 1954, lập lại hòa bình, cũng là cơ hội có thể chấm dứt chiến tranh vào năm 1961. Mỹ ngụy không những đã phớt lờ thiện trí của mặt trận mà còn đẩy mạnh chiến tranh với chiến lược "phản ứng linh hoạt" và đến tháng 5/1961, Mỹ bắt đầu đưa quân vào Miền nam Việt nam. Cuộc chiến tranh từ một phía trở thành chiến tranh hai phía.


- CƠ HỘI THỨ BA *:

Năm 1963, Mỹ lật đổ Ngô Đình Diệm, đưa Dương Văn Minh lên thay. Mặt trận Dân tộc giải phóng kêu gọi Dương Văn Minh thương lượng hòa bình để tiến tới tổng tuyển cử tự do. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng gửi thông điệp cho Tổng thống Mỹ Johnson yêu cầu mở tọa đàm hòa bình. Tổng thống Pháp Charles de Gaulle đề nghị đứng ra làm trung gian giúp Việt nam đem lại hòa bình và hòa giải. Tổng thư ký Liên hiệp quốc U Thant cũng đề nghị Mỹ ủng hộ một chính phủ liên hiệp ở Nam Việt Nam. Tổng thống Dương Văn Minh cũng tỏ rõ ý muốn thương lượng, tuyển cử tự do, một chế độ trung lập, một chính phủ liên hiệp cho Nam Việt Nam. Thế nhưng nhà cầm quyền Mỹ đã không nghe, cự tuyệt hòa đàm, chống mọi xu hướng trung lập, gạt bỏ Dương Văn Mịnh, đưa Nguyễn Khánh lên thay. Nguyễn Khánh đã hô hào "Bắc tiến". Mỹ đưa thêm vũ khí và quân đội vào, cuộc chiến tranh leo thang thành chiến tranh cục bộ. Đến 1964 Mỹ còn gây cuộc chiến tranh phá hoại đánh phá Miền Bắc Việt Nam.

Cơ hội ngàn vàng chấm dứt chiến tranh, đem lại hòa bình cho Việt Nam đã bị Mỹ, ngụy gạt bỏ một cách độc ác bằng chính sách chiến tranh ngông cuồng và tàn bạo.


- CƠ HỘI THỨ TƯ *:

Sau Mậu thân 1968, Mỹ, Ngụy phải ngồi vào bàn đàm phán ở Paris. Cuộc chiến tranh vẫn tiếp diễn cho tới tháng 10 năm 1972 đạt được thỏa thuận ký kết hiệp định hòa bình, thế mà phải đợi đến cuộc tấn công hủy diệt, tàn bạo nhất bằng không quân của Mỹ suốt 12 ngày đêm vào cuối tháng 12/1972 vào Hà Nôi, Hải phòng, bị thất bại thì Mỹ Ngụy mới chịu ký Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Thế nhưng tuy phải rút hết quân đội khỏi Miền Nam Việt Nam, Mỹ đã hậu thuẫn để lại vũ khí, trang bị và viện trợ cho ngụy quân của Nguyễn Văn Thiệu chống phá hòa bình với chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Nguyễn Văn Thiệu vẫn điên cuồng chống lại Hiệp định hòa bình, tuyên bố sẽ bắn bỏ bất ký ai nói hai từ cộng sản.

Nếu năm 1973, Thiệu không phá hoại Hiệp định hòa bình, Mỹ từ bỏ chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" hòng giành thắng lợi vào năm 1977, thì lịch sử Việt Nam sẽ theo môt chiều hướng khác, đó là nền hòa bình sẽ được lập lại ở Việt Nam từ năm 1973 với một chính phủ liên hợp ba thành phần, Mỹ có thể chuyển từ viện trợ quân sự sang viện trợ kinh tế cho Việt nam, rồi từng bước Việt nam sẽ được thống nhất bằng phương pháp hòa bình.

Thế nhưng cơ hội hòa bình lại bị Mỹ, Ngụy gạt bỏ, để cho xương máu tiếp tục đổ thêm hai năm nữa cho đến khi không còn gì để hòa giải mới kết thúc cuộc chiến tranh vào 30/4/1975, khi ngụy quân bị đánh tan rã, ngụy quyền sụp đổ, quân giải phóng tiến vào Sài gòn, buộc ngụy quyền phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện./.



Môi Trường ST.

 


 

PHÓNG THÀNH CÔNG VỆ TINH NANODRAGON CỦA VIỆT NAM LÊN QUỸ ĐẠO

 

Vào lúc 9 giờ 6 phút 54 giây (giờ Hà Nội) ngày 9-11, vệ tinh NanoDragon "Made in Vietnam"’ đã tách thành công khỏi tên lửa Epsilon-5 của Nhật Bản, đi vào quỹ đạo, bắt đầu làm việc trong không gian.

Trong lần phóng này, cùng với NanoDragon, 8 vệ tinh khác của Nhật Bản cũng đã tách thành công khỏi tên lửa đẩy. Việc phóng 9 vệ tinh này nằm trong khuôn khổ “Trình diễn công nghệ vệ tinh sáng tạo 2”- Innovative Satellite Technology Demonstration-2” của Cơ quan Hàng không - Vũ trụ Nhật Bản (JAXA).

Trước đó, tên lửa Epsilon số 5 được điểm hỏa và phóng lên quỹ đạo vào lúc 7 giờ 55 phút 16 giây cùng ngày, sau khoảng 52 phút, tên lửa bắt đầu thả các vệ tinh mà nó mang theo vào quỹ đạo. Vệ tinh đầu tiên được thả ra là vệ tinh RAISE-2. Vệ tinh NanoDragon là vệ tinh thứ 9 (cuối cùng) được thả vào không gian.

Tham gia phóng cùng vệ tinh của Việt Nam lần này có tất cả 9 vệ tinh, bao gồm: 1 vệ tinh nhỏ là vệ tinh RAISE-2 của Cơ quan Hàng không Vũ trụ Nhật Bản nặng 110kg; 4 vệ tinh lớp micro, bao gồm: HIBARI (55 kg) của Viện Công nghệ Tokyo; Z-Sat (46 kg) của công ty TNHH Mitsubishi Heavy Industries; DRUMS (62 kg) của công ty TNHH Kawasaki Heavy Industries; TeikyoSat-4 (52 kg) của trường Đại học Teikyo.

4 vệ tinh lớp cubesat bao gồm: NanoDragon (3,8kg) của VNSC phối hợp cùng Công ty TNHH điện tử Meisei; ASTERISC (4kg) của Viện Công nghệ Chiba: ARICA (1kg) của Trường Đại học Aoyama Gakuin; KOSEN-1 (3kg) của Trường cao đẳng quốc gia Kochi.

Clip tên lửa Epsilon số 5 được phóng vào không gian từ Trung tâm Vũ trụ Uchinoura, mang theo vệ tinh NanoDragon của Việt Nam và 8 vệ tinh khác của Nhật Bản. Nguồn: Đại sứ quan Việt Nam tại Nhật Bản NanoDragon là vệ tinh dạng cubesat lớp nano nặng 3,8 kg với kích thước tiêu chuẩn 3U (100 x 100 x 340,5 mm), được Trung tâm Vũ trụ Việt Nam (VNSC), Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST) phát triển. Vệ tinh là sản phẩm của Đề tài “Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, phóng và vận hành thử nghiệm vệ tinh siêu nhỏ cỡ nano” thuộc “Chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia về công nghệ vũ trụ giai đoạn 2016 – 2020”. NanoDragon là vệ tinh được nghiên cứu, thiết kế, chế tạo 100% tại Việt Nam, do các nhà khoa học thuộc Trung tâm Vũ trụ Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam thực hiện.

Vệ tinh NanoDragon được phát triển với mục đích chứng minh có thể dùng công nghệ chùm vệ tinh cỡ siêu nhỏ để thu tín hiệu nhận dạng tự động tàu thủy (Automatic Identification System - AIS) sử dụng cho mục đích tránh bị va chạm hoặc kết hợp dữ liệu để theo dõi, giám sát phương tiện trên biển. Vệ tinh NanoDragon cũng được thiết kế để nhằm xác minh chất lượng của hệ thống điều khiển và xác định tư thế vệ tinh và một máy tính tiên tiến mới được phát triển riêng dành cho vệ tinh cỡ nhỏ. Vệ tinh NanoDragon dự kiến sẽ hoạt động ở quỹ đạo đồng bộ mặt trời ở độ cao khoảng 560 km.

Trước đó vào năm 2013, vệ tinh siêu nhỏ PicoDragon (1kg) do Trung tâm Vũ trụ Việt Nam nghiên cứu, chế tạo cũng được phóng, hoạt động tương đối ổn định trong khoảng 3 tháng và liên tục phát tín hiệu quảng bá với bản tin “PicoDragon VietNam” đến các trạm mặt đất trên toàn thế giới.

Tiếp theo đến năm 2019 MicroDragon - một sản phẩm nằm trong Hợp phần đào tạo vệ tinh cơ bản, thành phần của Dự án “Phòng chống thiên tai và biến đổi khí hậu sử dụng vệ tinh quan sát Trái Đất” (viết tắt là Dự án Trung tâm Vũ trụ Việt Nam) được phát triển bởi 36 học viên, là các cán bộ nghiên cứu của Trung tâm Vũ trụ Việt Nam cũng đã được phóng lên quỹ đạo thành công và đang hoạt động theo đúng mục tiêu đề ra.


 

 

 


 


NGHỆ THUẬT GIÀNH THẾ CHỦ ĐỘNG CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TRONG “LỜI KÊU GỌI TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN”

 Năm 2021, Đảng ta, Nhân dân ta và Quân đội anh hùng long trọng kỷ niệm 75 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, văn kiện lịch sử vô giá, bản hiệu triệu của non sông đất nước, chứa đựng khát vọng cháy bỏng, ý chí mãnh liệt về bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc với chân lý “không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Ra đời sau khi quân và dân ta tranh thủ thời gian hòa bình để tích cực chuẩn bị cho cuộc chiến tranh biết trước không thể nào tránh khỏi, “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” thực sự là mẫu mực về nghệ thuật giành thế chủ động, đánh dấu bước phát triển sáng tạo của tư tưởng quân sự Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

Lịch sử chiến tranh và nghệ thuật quân sự, giành, giữ quyền chủ động được các bên tham chiến luôn coi trọng, xem đó là nghệ thuật tác chiến bao trùm, chi phối xuyên suốt. Theo Ph.Ăngghen: “Khởi nghĩa là một bài toán có những đại lượng rất bất định mà giá trị có thể thay đổi từng ngày” . Chiến tranh cũng là cuộc đọ sức toàn diện; thử thách ác liệt đối với mỗi quốc gia, dân tộc. Do đó, giành, giữ quyền chủ động là vấn đề mang tính quy luật; trở thành nghệ thuật phát huy ưu thế về khả năng lãnh đạo, tổ chức; có tác động to lớn đến tiến trình và kết cục của chiến tranh. Ngay từ năm 1944, trong tác phẩm “Chiến thuật du kích”, Người đã khẳng định: “Giữ quyền chủ động là khôn khéo sử khiến quân thù, muốn đánh nó ở chỗ nào thì đưa nó đến mà đánh, muốn đưa nó vào bẫy của mình có thể đưa được. Nếu nó mạnh quá đánh không có lợi thì mình lùi, mình tự ý lùi cũng là giữ quyền chủ động, giữ được chủ động thì thế nào cũng thắng, không thắng to thì thắng nhỏ”. Vì vậy, từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến cuộc trường chinh chống thực dân Pháp trở lại xâm lược, mở đầu bằng “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, Đảng ta, Nhân dân, Quân đội ta luôn luôn ở thế chủ động. Và với việc ra “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu một bài học mẫu mực về nghệ thuật giành thế chủ động trong lãnh đạo và tổ chức tiến hành chiến tranh. Biểu hiện cụ thể:

Một là, chủ động phát động chiến tranh đúng thời cơ, làm thất bại âm mưu đánh nhanh, thắng nhanh của thực dân Pháp.

Hai là, chủ động bước vào cuộc kháng chiến, tạo thế và lực; định hình rõ nét đường lối cho cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện.

Ba là, chủ động tiến công địch, đồng thời nêu cao tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến với khát vọng cháy bỏng về độc lập, tự do và niềm tin không gì lay chuyển nổi vào thắng lợi cuối cùng.

Bốn là, chủ động trong chỉ đạo, định hướng xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân, bảo đảm cho cuộc trường kỳ kháng chiến của Nhân dân ta chắc thắng.

Phát huy tinh thần “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, nhất là nghệ thuật giành thế chủ động trong điều kiện hiện nay, chúng ta cần khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; chủ động xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, “thế trận lòng dân”, bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa./.



 

QUYẾT TÂM PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC

 

Một số vụ án tham nhũng gây ra những thiệt hại đặc biệt lớn liên quan những cán bộ từng là lãnh đạo đơn vị, ngành được xử lý nghiêm trong thời gian qua được dư luận đặc biệt quan tâm.

Sự công minh, công bằng của pháp luật được thể hiện rõ ràng qua từng bản án. Sai phạm liên quan tới cán bộ được làm rõ và đưa ra xét xử đã phần nào cho thấy công tác phòng, chống tham nhũng vẫn không ngừng nghỉ, thậm chí ngày càng quyết liệt hơn, có hiệu quả cao hơn và thêm nhiều bài học quý, nhiều kinh nghiệm tốt hơn.

Đã có những lúc người ta thì thầm với nhau về những “vùng cấm” trong hoạt động tố tụng. Những lời xì xào ấy không hẳn là không có cơ sở, bởi một số sai phạm nghiêm trọng diễn ra đã lâu mà chưa bị xử lý. Thậm chí, những sai phạm ấy có đôi lúc còn ảnh hưởng tới lòng tin của nhân dân đối với các cơ quan công quyền, có trách nhiệm cầm cân nảy mực.

Từ thực tế của các cơ quan tư pháp và hành pháp có thể thấy rằng, các cơ quan này đã có nhiều nỗ lực, triển khai nhiều giải pháp quyết liệt, kịp thời, thích ứng, trau dồi và bổ sung những điều kiện, kiến thức để phù hợp thực tiễn và yêu cầu công tác.

Trong kỳ họp Quốc hội vừa rồi, Đại tướng, Bộ trưởng Công an Tô Lâm thừa ủy quyền của Thủ tướng báo cáo tới các đại biểu Quốc hội về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật cho biết: Qua đẩy mạnh điều tra các vụ án, vụ việc kinh tế, tham nhũng đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo dõi, chỉ đạo; đồng thời, tăng cường phân cấp, hướng dẫn Cơ quan điều tra các địa phương thực hiện, đã phát hiện 8.081 vụ (tăng 1,87%), 7.032 đối tượng (giảm 8,69%), 73 tổ chức (tăng 231,82%), trong đó có 10 pháp nhân thương mại phạm tội về trật tự quản lý kinh tế; 371 vụ (tăng 22,44%), 687 đối tượng (tăng 5,69%) phạm tội về tham nhũng, chức vụ. Nổi bật là Bộ Công an đã chỉ đạo tăng cường biện pháp nghiệp vụ, nhận diện các vi phạm. Chọn khâu đột phá để phát hiện xử lý theo phương châm “xử lý một vụ, cảnh tỉnh cả vùng, cả lĩnh vực”.

Những vụ án, sai phạm được đưa ra ánh sáng những ngày gần đây chính là hồi chuông răn đe, cảnh tỉnh những ai vẫn còn mang ý định vi phạm pháp luật. Điều đó khẳng định quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng là “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai, không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào”./.


 


BẤT NGỜ VỚI MÓN QUÀ SINH NHẬT ĐẶC BIỆT MÀ ĐẾ QUỐC MỸ TẶNG BÁC KÍNH YÊU.!

Ngày 19/5/1966, Không lực Hoa Kỳ gửi một thông điệp trên những quả bom nặng 2000 cân để làm "quà" Chúc mừng sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh, bom được gắn trên máy bay F100 cất cánh từ sân bay Biên Hòa đánh phá từ Quảng Bình ra đến Hà Nội. Đây có lẽ là "món quà sinh nhật" đặc biệt nhất mà Bác nhận được khi còn sống.
NGHE NÓI, phi công lái chiếc máy bay mang quả bom này ngay sau đó trở thành khách VIP của Hỏa Lò hotel, đến năm 1973 mới được trở về đất Mẹ.
Anh ấy trở thành người tặng quà đi quãng thời gian lâu nhất trong lịch sử loài người, với 7 năm cho quãng đường 500 kilomet.
Và Việt Nam cũng được cho là nước hiếu khách nhất thế giới, khi giữ lại vị "thượng khách" hẳn 7 năm bao ăn ở, quần áo và ngủ khách sạn 5 sao H

 ĐẢNG VIÊN TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG


Cũng như bảo vệ quyền con người trong cuộc sống thực, việc bảo vệ quyền con người trên không gian mạng là vấn đề luôn được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Cán bộ nghỉ hưu hay đương chức cũng như mọi người dân đều có quyền tham gia MXH, nhưng phải tuân thủ tinh thần “thượng tôn pháp luật”, đặc biệt là facebook với sự phủ sóng rộng khắp của Internet, nhà nhà dùng người người dùng, trong đó cố số lượng không nhỏ Đảng viên.

Chúng ta thấy bên cạnh một số đảng viên tự tin đăng tải, chia sẻ thông tin, hình ảnh từ các trang chính thống thể hiện quan điểm, ý kiến cá nhân của mình về một vấn đề nào đó .. thì vẫn còn không ít người thờ ơ, phớt lờ cả những vấn đề xã hội đang quan tâm.

Vậy thì vai trò của đảng viên ở đâu trên không gian mạng này? ....
"Thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không lên án" đang tồn tại ở nhiều cơ quan, đơn vị... cả trên mạng xã hội: Họ lặng lẽ vào mạng, dò, tìm, đọc.. rồi âm thầm biến như chiếc bóng
Với những bài hay, tích cực, nguồn chính thống, đàng hoàng.. cũng không thấy chia sẻ, bình luận, thích bài. Với các thông tin tiêu cực, bức xúc, tệ hại ..xã hội đang nói nhiều cũng chẳng thấy họ biểu hiện gì một thái độ dửng dưng, vô cảm đến lạ lùng.

Chúng ta thường nghĩ: đã là đảng viên thì ít ra cũng phải nhận thức được thông tin nào đúng, sai, tích cực, tiêu cực chứ? Khi thấy hay, đúng, nguồn rõ ràng .. thì cũng nên “thích”, “thả tim”, “thương thương”. Hay gõ vài chữ động viên, cổ vũ nhau chứ? Còn thấy sai lệch, hay nghi ngờ độ chính xác thì cũng nên “ngạc nhiên”, “buồn” hoặc “phẫn nộ” chứ ?
Xem, đọc rồi lặng lẽ cho qua khác nào đồng tình, ủng hộ thông tin xấu đó rồi... bởi mặc nhiên:
“làm thinh là nhất trí ”mà!!

Thiết nghĩ, mỗi cán bộ, đảng viên cần nghỉ nhiều về trách nhiệm của mình đối với xã hội, đất nước... trước hết nên có lập trường, tư tưởng, quan điểm, chưa nói đến tính đảng thì cộng đồng trên không gian mạng luôn thể hiện những thao tác đương nhiên và bình thường đó như nghĩa của hai chữ tương tác thôi.
Chúng ta cùng mong rằng tất cả mọi người mà nhất là các đảng viên luôn là những nhân tố, những "tương tác viên" tích cực trong xây dựng mối đoàn kết toàn dân trên không gian mạng các bạn thân thương nhé!

 LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA NGÀY HỘI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC 18/11

1. Lịch sử ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc.

Lịch sử dân tộc Việt Nam từ xưa tới nay, dòng chủ lưu chính là sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc. Đoàn kết dân tộc đã được hình thành và củng cố trong hàng ngàn năm lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước. Nó thấm đẫm vào tư tưởng, tâm hồn của mỗi người con đất Việt. Và đại đoàn kết dân tộc tiếp tục là nội dung tư tưởng chính của Đảng Cộng sản Việt Nam trong cuộc Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng như trong cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa. Với sự ra đời của ngày hội đại đoàn kết dân tộc, nó minh chứng cho việc đổi mới phương thức hoạt động, tập hợp đông đảo lực lượng quần chúng nhân dân, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, phát huy sức mạnh nội lực nhằm thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Trong quá trình củng cố và mở rộng về tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, yêu cầu đặt ra là phải có sự vận dụng sáng tạo, linh hoạt, phù hợp với đặc điểm, điều kiện kinh tế, xã hội, phong tục tập quán của từng vùng, từng địa phương. Để thực hiện được điều đó phải hướng công tác Mặt trận về cơ sở, về từng địa phương, từng khu dân cư, từng gia đình. Tạo cơ sở để xây dựng khối đại đoàn kết từ cá nhân, gia đình, khu dân cư đến cấp xã, phường, huyện, tỉnh. Đó chính là cơ sở để xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc ở Việt Nam. Xuất phát từ thực tiễn đó, mà ngày hội đại đoàn kết ở Việt Nam ra đời.

Nhằm phát huy truyền thống Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, năm 1986 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI đã quyết định lấy ngày 18/11/1930 – ngày Đảng chủ trương thành lập Mặt trận thống nhất để làm ngày truyền thống của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Từ đó đến nay, hằng năm cứ đến ngày 18/11, Mặt trận đã đề ra chương trình, nội dung và các hình thức hoạt động phong phú, đa dạng nhằm ôn lại truyền thống lịch sử của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam.

Ngày 1/8/2003, Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã ra Nghị quyết số 04/NQ/ĐCT-MTTW về việc tổ chức “Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc" và quyết định lấy ngày 18/11 hàng năm làm ngày tổ chức Ngày hội đại đoàn kết ở khu dân cư nhằm tiếp tục xây dựng, củng cố và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thời kỳ mới.

2. Ý nghĩa của ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc

Sau khi có quyết định của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, ngày hội đại đoàn kết toàn dân ở khu dân cư ngày càng được quan tâm hơn, diễn ra với nhiều hình thức phong phú, phù hợp với điều kiện của từng địa phương. Ngay cả những vùng nông thôn, vùng miền núi, ngày hội càng mang nhiều bản sắc văn hóa và tập trung đông đảo quần chúng nhân dân tham gia và thực sự trở thành ngày hội của toàn dân tộc.
    
- Ngày hội đại đoàn kết đã tôn vinh những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Thông qua ngày hội, các nét văn hóa đặc  

 LỜI BÁC DẠY NGÀY 15/11/1948:


“… Đã tự kiêu, tự ái thì không thể đoàn kết. Không đoàn kết tức là cô độc. Đã cô độc thì chẳng việc gì thành công”.

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài viết “Bệnh tự kiêu, tự ái”, dưới bút danh X.Y.Z, đăng trên báo Sự Thật, số 102, ra ngày 15 tháng 11 năm 1948.

Đây là thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của quân và dân ta mới được hai năm, trong xã hội đã có một số cán bộ có biểu hiện cá nhân chủ nghĩa, công thần, hẹp hòi, kèn cựa địa vị, cục bộ bè phái, mất đoàn kết, chủ quan khinh địch; thiếu cố gắng vươn lên, tự cho mình việc gì cũng thạo, cũng làm được, việc gì mình cũng giỏi hơn người, mình là thần thánh, không cần học ai, hỏi ai; không can đảm tự phê bình, không ưa những lời phê bình thật thà ngay thẳng… nói tóm lại là đã mắc bệnh tự kiêu, tự ái. Trước tình hình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Bệnh tự kiêu, tự ái”, vạch rõ thực chất của căn bệnh này và khẳng định: “… Đã tự kiêu tự ái, thì không thể đoàn kết. Không đoàn kết tức là cô độc. Ðã cô độc, thì chẳng việc gì thành công”.

Giá trị, ý nghĩa sâu sắc câu nói của Bác vẫn còn tính thời sự, là lời răn dạy đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và quần chúng nhân dân phải luôn toàn tâm, toàn ý phục sựu Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân; chống mọi biểu hiện vô cảm, quan liêu, mệnh lệnh, hách dịch, nhũng nhiễu, gây phiền hà cho nhân dân. Phải ra sức thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; luôn khiêm tốn, trung thực, dũng cảm, mạnh dạn tự phê bình và hoan nghênh người khác phê bình mình; kiên quyết sửa chữa sai lầm, khuyết điểm và phát triển ưu điểm. Luôn gương mẫu đi đầu, nói đi đôi với làm; không ngừng học tập nâng cao trình độ, cố gắng học hỏi để luôn luôn tiến bộ. Phải ra sức thực hành đoàn kết, chống mọi biểu hiện chia rẽ, bè phái, cục bộ địa phương, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi.

Học tập và làm theo lời Bác dạy, cán bộ, chiến sĩ Quân đội thực hiện tốt Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, quán triệt sâu sắc các tiêu chí phẩm chất đạo đức cách mạng của quân nhân. Không ngừng học tập, phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện với tinh thần cầu thị, gắn với thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, học tập và công tác hàng ngày; thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, đề cao tự phê bình và phê bình, kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân. Mỗi cán bộ, chiến sĩ tự lập kế hoạch, xác định nội dung và phương pháp tự học tập, rèn luyện cụ thể phù hợp với chức trách, nhiệm vụ của bản thân và điều kiện thực tế của đơn vị. Tự nghiên cứu, tự đọc tài liệu, sách, báo, cập nhật và xử lý thông tin hằng ngày để bổ sung tri thức, nâng cao hiểu biết, vận dụng sáng tạo những kinh nghiệm hay vào tổ chức thực hiện nhiệm vụ./. 

 

CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LỢI DỤNG PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA TRÊN CÁC TRANG MẠNG XÃ HỘI

 

Tham nhũng là một hiện tượng xã hội, được hiện hữu ở tất cả các quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị, cả ở nước nghèo và nước giàu, các quốc gia phát triển, đang phát triển hoặc kém phát triển. Hiện nay, tham nhũng đang là một vấn nạn chung của toàn cầu, diễn biến phức tạp, cần phải phòng, chống và triệt tiêu nó.

Nhận thức được mối nguy hiểm của tệ nạn tham nhũng đối với sự tồn vong của chế độ. Đảng và Nhà nước ta có quyết tâm chính trị rất cao, triển khai quyết liệt các giải pháp để cảnh tỉnh, răn đe và loại dần tệ nạn này. Chủ trương của Đảng được cụ thể hóa thành Luật Phòng chống tham nhũng và nhiều văn bản chỉ thị như của Đảng, Quốc hội, Chính phủ. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta là “không có vùng cấm trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng”.

Thực hiện quyết tâm của Đảng, trong những năm qua công tác phòng, chống tham nhũng được đẩy mạnh và đạt được những kết quả tích cực; nhiều vụ án tham nhũng, liên quan đến nhiều người, nhiều cấp đã được xử lý. Những vụ án tham nhũng và lợi dụng chức vụ quyền hạn làm trái quy định của pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng được đưa ra xét xử nghiêm minh, bất kể đó là ai, giữ cương vị nào. Điều đó, chứng tỏ quyết tâm của Đảng ta, cũng như hiệu quả của công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam, tạo được sự tin tưởng và đồng thuận của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

Tuy vậy, các thế lực thù địch và phần tử cơ hội không thấy rõ điều đó, mà còn lợi dụng vấn đề này để chống phá sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước của Nhân dân ta. Thời gian qua, các bài viết có nội dung đề cập đến hiện tượng tham nhũng ở Việt Nam được đăng tải trên các trang mạng xã hội, như: blog, facebook, website,… của một số hội, nhóm “xã hội dân sự” và các cá nhân tự xưng là những nhà hoạt động “dân chủ, nhân quyền”, “vì dân”, “vì nước”, v.v. Nhìn vào những thông tin, bài viết đó đủ thấy sự suy diễn chủ quan, tô vẽ, thổi phồng, thậm chí xuyên tạc trắng trợn tình hình tham nhũng và công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam. Mục đích của chúng vẽ lên một bức tranh xám xịt về thực trạng xã hội Việt Nam. Từ đó gây hoài nghi trong Nhân dân vào các cấp lãnh đạo, hệ thống chính trị, làm mất niềm tin của Nhân dân vào Đảng và chế độ, tạo sự “hoài nghi” về quyết tâm chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Đồng thời, phá hoại sự đoàn kết trong Đảng, chia rẽ nội bộ, chia rẽ cán bộ, đảng viên với quần chúng Nhân dân và sự đồng thuận trong xã hội; hô hào, xúi giục Nhân dân “đứng lên đấu tranh đòi tự do, dân chủ”.

Như vậy, đã rõ các tổ chức hội, nhóm, cá nhân trên đang cố tình muốn sử dụng vấn đề tham nhũng và đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam làm “công cụ”, “ngọn cờ tiên phong” để thực hiện ý đồ xấu, chống phá Việt Nam. Thực chất, đó chỉ là những tổ chức, cá nhân có quan điểm, tư tưởng phiến diện, lệch lạc được các thế lực thù địch, phản động “hậu thuẫn”, cổ vũ, đội lốt “trách nhiệm” với “vận mệnh” của dân tộc, của đất nước để chống lại công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ta hiện nay.

          Mục đích và thủ đoạn của các thế lực là quá rõ ràng. Mỗi người dân Việt Nam cần phải cảnh giác trước những âm mưu và thủ đoạn của kẻ thù, quyết tâm cùng toàn Đảng đẩy lùi tệ nạn tham nhũng, nhưng đồng thời đấu tranh với những hành động xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta. Đó mới là người dân của đất nước Việt Nam thực thụ, đó cũng chính là tình yêu đối với quê hương, đất nước. Chứ không như một số người kia, cứ rêu rao “dân chủ”, “dân quyền”, “vì nước”, “vì dân” nhưng hành động lại đi ngược lại./.

ST

 

 

 

NÂNG CAO CẢNH GIÁC CÁCH MẠNG, ĐẤU TRANH  VỚI CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 

Hiện nay, an ninh không gian mạng - thành tố của an ninh phi truyền thống là vấn đề nóng bỏng, thu hút sự quan tâm của dư luận trong nước. Thời gian qua, các thế lực phản động, cơ hội chính trị, tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động chống phá nhằm thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình" thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ; trong đó chúng tập trung chống phá Đảng và Quân đội ta một cách quyết liệt hơn.

Mục tiêu của chiến tranh thông tin thông qua không gian mạng chính là đánh vào ý thức hệ, vào tư tưởng, tình cảm của con người đối phương trước khi thực hiện các mục tiêu tiếp theo. Đất nước ta đã trải qua chặng đường 35 năm đổi mới với nhiều thành tựu đáng tự hào, được cả Thế giới ghi nhận và ngưỡng mộ.

          Để thực hiện mưu đồ đó, các thế lực thù địch thường sử dụng một số phương thức như: Thiết kế thông tin đa dạng, hấp dẫn, trong đó kết hợp cung cấp thông tin với nội dung có vẻ khách quan nhằm đánh lừa độc giả nhưng kèm theo đó là các thông tin xuyên tạc, phản động, chống đối... Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng các trang mạng xã hội để viết bài, bài bình luận mang tính kích động, xuyên tạc quan điểm, đường lối lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta, đi đôi với lợi dụng cán bộ thoái hóa biến chất để nói xấu chế độ trên không gian mạng.

          Lợi dụng các tầng lớp thanh niên nhẹ dạ, để lôi kéo mua chuộc, đưa lớp trẻ vào lối sống thực dụng, ảo tưởng; lợi dụng kẽ hở trong quản lý của Nhà nước về thông tin mạng để thâm nhập và truyền bá thông tin sai lệch. Lợi dụng ưu thế của mạng Internet để truyền tải quan điểm sai lệch, cổ súy cho đa nguyên, đa đảng, xâm nhập các mã độc vào hệ thống máy tính của các cơ quan để khai thác tư liệu, chống phá ta.

Để bảo vệ vững chắc chủ quyền của Tổ quốc và có thể "miễn dịch" trước các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên không gian mạng, cán bộ, chiến sỹ Quân đội cần tiến hành các biện pháp cơ bản sau:

Tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức về các âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, nêu cao cảnh giác cách mạng, làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ nhận thức rõ không gian mạng và các sản phẩm của nó; tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng để cán bộ, chiến sỹ có nhãn quan chính trị đúng đắn và trình độ lý luận sắc bén để nhận diện và đủ sức “phản biện” các thông tin xấu độc trên các trang mạng xã hội.

         Quán triệt, thực hiện nghiêm bảo mật thông tin mạng, Nghị định của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng Internet và thông tin trên mạng; Quy chế quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet trong Quân đội.         

Thường xuyên coi trọng xây dựng các tổ chức Đảng TSVM, đội ngũ cán bộ, chiến sĩ trước hết là trong sạch về tư tưởng chính trị, có kiến thức toàn diện, vững vàng về bản lĩnh chính trị, luôn luôn cảnh giác với những quan điểm sai trái và thông tin xấu độc trên không gian mạng.

          Chiến tranh thông tin và không gian mạng là một hình thái chiến tranh mới, chứa đựng nhiều nguy cơ và hậu quả khó lường. Triệt để lợi dụng không gian mạng để chống phá cách mạng Việt Nam đang là lĩnh vực được các thế lực thù địch ưu tiên, với mưu đồ: Đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới, từ đó làm chệch hướng XHCN, phát triển kinh tế thị trường TBCN; từng bước hình thành "xã hội dân sự", đẩy mạnh thực hiện "phi chính trị hóa" Quân đội. Tuy nhiên, xuyên tạc, bóp méo, bôi nhọ, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng và thành quả của cách mạng Việt Nam và chế độ XHCN cũng đồng nghĩa là chà đạp lên khát vọng của dân tộc, chà đạp lên xương máu của biết bao thế hệ người Việt Nam đã ngã xuống vì độc lập, tự do, thống nhất của Tổ quốc. Những luận điệu lạc lõng đang bơi ngược dòng sự thật ấy chắc chắn sẽ bị nhấn chìm./.

ST

 

 

 

VIỆT NAM TÔN TRỌNG TỰ DO TÔN GIÁO NHƯNG KHÔNG AI ĐƯỢC PHÉP ĐỨNG CAO HƠN PHÁP LUẬT!


Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo, hiện có 06 tôn giáo lớn: Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo, Cao Đài, Hoà Hảo. Chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là tôn trọng và tạo điều kiện thuận lợi để mọi người dân thực hiện quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng; coi trọng chính sách đoàn kết và hòa hợp giữa các tôn giáo, đảm bảo sự bình đẳng, không phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo, tín ngưỡng, bảo hộ hoạt động của các tổ chức tôn giáo bằng pháp luật; các giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo được phát huy. Quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo của công dân Việt Nam được quy định trong Hiến pháp và được bảo đảm trên thực tế. Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi) của nước CHXHCN Việt Nam (điều 24) ghi rõ: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Về cơ bản các các tín đồ thuộc các tôn giáo khác nhau chung sống hòa bình, góp phần xây dựng và bảo vệ tổ quốc thân yêu. 


Bên cạnh những điều hết sức tốt đẹp đó, vẫn đang tồn tại nhiều con sâu làm rầu nồi canh, nhiều kẻ lấy danh nghĩa tôn giáo để phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xuyên tạc, bôi nhọ chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật nhà nước, kích động gây chia rẽ và không ngừng chống phá chính tổ quốc mình… Tôn giáo có nhiều nhưng tổ quốc chỉ có một; tự do tôn giáo nhưng phải trong khuôn khổ pháp luật; không ai được phép đứng cao hơn pháp luật! Câu chuyện một số linh mục chống phá đất nước, chia rẽ người có đạo và người không theo tôn giáo nào, đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc như Đặng Hữu Nam, Nguyễn Ngọc Nam Phong, Nguyễn Duy Tân, Đinh Hữu Thoại…là những ví dụ điển hình. 


Vai trò là công dân Việt Nam, cần khẳng định rõ rằng, những vị này là những tên phản động đội lốt linh mục. Họ là công dân Việt Nam nhưng đã rất nhiều lần vi phạm pháp luật, kích động giáo dân chống phá chính quyền, đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc ta. Họ thường xuyên xúc phạm lãnh tụ, phỉ báng các vị lãnh đạo của Đảng và nhà nước ta, bôi nhọ, xuyên tạc về tình hình đất nước. Cấu kết với đám phản động ở trong và ngoài nước để tuyên truyền lật đổ chế độ và chính quyền nhân dân. Các ngươi nên nhớ rằng Thiên Chúa giáo chỉ du nhập vào nước ta bắt đầu từ năm 1533, từ năm 1533 đến năm 1614, chủ yếu là các giáo sĩ dòng Phan-xi-cô thuộc Bồ Đào Nha và dòng Đa Minh thuộc Tây Ban Nha đi theo những thuyền buôn vào Việt Nam. Từ năm 1615 đến năm 1665, các giáo sĩ dòng Tên thuộc Bồ Đào Nha từ Ma-cao (Macau, Trung Quốc) vào Việt Nam hoạt động ở cả Đàng Trong (nam sông Gianh), Đàng Ngoài (bắc sông Gianh). 


Hiện nay, Công giáo có khoảng 6,5 triệu tín đồ; 42 Giám mục, khoảng 4.000 linh mục, hơn 100 dòng tu, tu hội, tu đoàn với hơn 17.000 tu sỹ; có 26 giáo phận, 07 Đại Chủng viện. Nghĩa là Thiên Chúa giáo mới chỉ tồn tại trên đất nước này có 488 năm, chưa đến 5 thế kỷ. Trong khi đó, đất nước này có lịch sử lập quốc gần 5.000 năm (2.879 trước Công nguyên). Nghĩa là, trước khi người Việt Nam bắt đầu theo tôn giáo nào đó thì trước tiên họ phải có cội nguồn, có tổ tiên, có lịch sử và tất cả người Việt đều là cháu Hồng, con Lạc dù theo tôn giáo hay không theo tôn giáo. Có đạo hay không có đạo cũng đều là người Việt Nam, là cây chung gốc, là con một nhà. Vậy lý do gì để các vị linh mục kể trên ngày đêm chống lại quê hương, nơi cội nguồn, gốc rễ đã nuôi dưỡng mình? 


Bộ Giáo Luật - The Code of Canon Law: QUYỂN IV ghi rõ “Cả bàn thờ cố định lẫn bàn thờ di động chỉ được dành riêng cho việc thờ phượng Thiên Chúa, tuyệt đối không được sử dụng vào bất cứ việc phàm tục nào”. Thế nhưng các người vẫn cố tình phớt lờ, vi phạm nghiêm trọng khi biến nhà thờ thành nơi cổ vũ những việc làm phàm tục, dành phần lớn thời gian của một buổi lễ để nói xấu chế độ, huy động giáo dân khiếu kiện, thiếu đạo đức nơi tôn nghiêm, các người không những vi phạm Giáo luật mà còn vi phạm cả Luật pháp Việt Nam, vi phạm đạo đức và luân lý…


Điều 1211 của Bộ Giáo luật cũng ghi rõ “Những nơi Thánh bị xúc phạm do những hành vi vì bất xứng nghiêm trọng đã phạm tại đó và đã gây gương xấu cho các tín hữu…”. Với những việc làm vô pháp vô thiên như thế, các người liệu có kính Chúa khi mà hành động, lời nói đều không tương xứng với 10 điều răn, như thế có phải là bất kính với Chúa? Vai trò là linh mục, các người đã làm trái ý chúa và lòng dân. Đó là các phát ngôn, việc làm hoàn toàn không tương xứng với điều Giáo hoàng Francesco, Tòa thánh Vatican khuyến khích cộng đồng Công giáo ở Việt Nam “sống phúc âm giữa lòng dân tộc”, “người Công giáo tốt cũng là người công dân tốt”. Các phát ngôn, việc làm đó cũng hoàn toàn không tương xứng với điều đã được Giám mục răn dạy. 


Rõ ràng là chúng ta đã quá nhân nhượng để rồi một số linh mục được đà lấn tới. Khẳng định rõ là Đảng và Nhà nước ta luôn tôn trọng tự do tôn giáo, tuy nhiên không một tôn giáo nào có thể đứng trên pháp luật Việt Nam. Đặng Hữu Nam, Nguyễn Ngọc Nam Phong, Nguyễn Duy Tân, Đinh Hữu Thoại cần phải bị trừng trị trước pháp luật. Chúng không xứng làm linh mục, không xứng làm công dân Việt Nam. Cổ nhân dạy “trước dùng lễ để giáo hóa, sau mới dùng binh”. Tuyên truyền, vận động, giáo dục, thuyết phục nhiều nhưng chúng vẫn bỏ ngoài tai và chưa có dấu hiệu ngừng việc chống phá đất nước. Dùng lễ không được thì phải dùng binh, đưa chúng ra trước ánh sáng của pháp luật để trừng trị. Việt Nam tôn trọng quyền tự do tôn giáo nhưng không ai được pháp đứng trên pháp luật, tổ quốc./.

CHUYỆN KHEN THƯỞNG

 

Con người chắc chắn ai cũng muốn được khen. Tất nhiên là nếu bạn làm đúng, làm tốt thì bạn rất xứng đáng được khen thưởng, nhưng nếu bạn làm chưa tốt, thậm chí không tốt mà cố gắng tìm mọi cách để được khen thưởng thì đó là thảm hoạ. Không chỉ nhụt chí phong trào mà người khác nhìn vào họ sẽ coi thường, không tâm phục, khẩu phục. 


Ngày xưa khi trị quân, các tướng soái giỏi thường đưa ra các tiêu chí để thưởng, phạt thật phân minh. Có công được thưởng, có tội phải phạt. Thế mới bảo đảm được việc duy trì quân kỷ nghiêm minh, khích lệ tướng sĩ, đồng thời đặt ra những chuẩn mực để không ai dám vi phạm quân lệnh. Bác Hồ đã từng dạy "thi đua là yêu nước, yêu nước là phải thi đua, những người thi đua là những người yêu nước nhất". Tuy nhiên, cần so bó đũa để chọn cột cờ, tìm ra những người xứng đáng nhất và khen thưởng, động viên, khích lệ họ trên mặt trận thi đua, ái quốc!


Khen, chê, thưởng phạt đúng mực, đó cũng là cái trí của kẻ cầm cân nảy mực. Nước Việt thời Trần, huy hoàng khi 3 lần đánh bại quân Nguyên Mông. Hào khí Đông A ngút trời Á Đông, vì Hưng Đạo Vương biết khích lệ binh sĩ, thưởng phạt phân minh. Cả nước đồng lòng nhất trí để "SÁT THÁT". Đến đời vua Trần Dụ Tông, thế nước nghiêng ngã, suy vi vì Dụ Tông chỉ biết hưởng lạc, nghe lời tâng bốc, nịnh hót của đám nịnh thần. Vạn thế sư biểu của nước Việt là Chu Văn An can gián, phê bình và dâng sớ chém 7 tên nịnh thần, nhưng Vua không nghe. Trần Dụ Tông đắm chìm tửu sắc, chỉ thích khen, bỏ qua lời nói phải. Trung ngôn nghịch nhỉ, Chu Văn An đành gạt lệ mà từ quan. Nhà Trần suy vi từ đây, chẳng bao lâu sau thì mất nước. Thế mới thấy cái sự khen chê thật có giá trị biết bao.


Nước ta hiện nay, từ học sinh tiểu học cho đến cán bộ lãnh đạo cao cấp đều ngập tràn "bằng khen, giấy khen". Nhiều lúc, nhiều nơi người ta khen nhau vô tội vạ. Học sinh thì có lớp có 100% em nhận giấy khen. Quan chức thì có nơi được nhận giấy khen cho tất cả, chẳng ai mất lòng ai. Đó là cái hoạ suy vi, chúng ta cần phải suy nghĩ lại, nhận thức lại và hành động lại! Cả lớp học chỉ nên tặng giấy khen cho những ai thật sự xuất sắc, bỏ khen học sinh tiên tiến đi. Cả lớp nhìn vào một vài bạn xuất sắc để mà phấn đấu, không thể để chủ nghĩa bình quân. Cán bộ công chức cũng thế, một năm công tác, phải bình bầu vài người thật sự xứng đáng để nhận giấy khen, bằng khen. Không có chuyện hoà cả làng rồi "con hát mẹ khen hay". Nguy hiểm lắm đấy!  


Bệnh thành tích, chủ nghĩa vừa lòng cả làng chính là mối nguy của quốc gia, dân tộc. Ai cũng tưởng mình giỏi, mình hay thì làm sao mà tự phê bình và phê bình cho đặng. Có công phải thưởng là đúng nhưng phải so bó đũa để chọn cột cờ, làm gương cho người khác học tập. Tập thể nào cũng 100% hoàn thành xuất sắc, hoàn thành tốt nhiệm vụ thì hỏng vì con người không phải là thần thánh, ai cũng có sai lầm, khuyết điểm. Đừng quá huyễn hoặc về mình. Phải thường xuyên tìm tòi, học hỏi và nhận định đúng sai lầm, khuyết điểm của mình và của đồng chí, đồng đội của mình, tìm hướng khắc phục thì mới là hồng phúc của nhân dân. Người dân cần cán bộ như vậy chứ không cần những người "nhà chẳng có gì ngoài bằng khen, giấy khen". Con trẻ cũng cần hướng giáo dục đúng, đi vào thực chất chứ chẳng phải là thành tích theo kiểu tự sướng với nhau, tự sướng giữa phụ huynh và giáo viên. Cần lắm một cuộc "thay máu tư tưởng". Được thế thì xã tắc may lắm, nhân dân yêu lắm./.

Pháp luật là công bằng

 

          Nếu phải trả lời trước câu hỏi: Chúng ta có tiếc khi xử lý cán bộ có vi phạm đó hay không? Câu trả lời là: Rất tiếc! Vì họ là đảng viên, là đội ngũ tinh hoa của đất nước. Nhưng nếu hỏi rằng: Có cần thiết phải xử lý họ không? Câu trả lời là: Rất cần thiết. Pháp luật là công bằng.

          Thượng tôn pháp luật là lẽ sinh tồn của quốc gia. Luật pháp Việt Nam không cho phép bất cứ cá nhân, tổ chức nào làm phương hại đến lợi ích của nhân dân, của đất nước. Không ai được phép đứng trên pháp luật, đứng ngoài Hiến pháp. Những con số cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật cho thấy Đảng Cộng sản Việt Nam đã nghiêm túc thực thi pháp luật, nhất quán giữa nói và làm. Riêng nhiệm kỳ XII, hơn 87.000 đảng viên bị thi hành kỷ luật, trong đó 113 đảng viên là cán bộ diện Trung ương quản lý.

          Từ đầu nhiệm kỳ XIII đến nay, nhiều đảng viên là cán bộ cấp cao vi phạm tiếp tục bị xử lý, không có ngoại lệ. Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền nhưng Đảng luôn đặt mình trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội nhưng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về mọi quyết định của mình.

          Việc xử lý cán bộ, đảng viên vi phạm chính là bảo vệ hoạt động đúng đắn của cơ quan nhà nước, bảo vệ tài sản, các lợi ích hợp pháp của Nhà nước và nhân dân, để giữ vững ổn định và phát triển của toàn xã hội. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh: Việc xử lý nghiêm nhiều cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao sai phạm là điều không ai mong muốn, thậm chí rất đau xót, rất đau lòng, nhưng vì sự nghiệp chung, vì sự nghiêm minh kỷ luật của Đảng, thượng tôn pháp luật của Nhà nước, sự trong sạch, vững mạnh và uy tín của Đảng, Nhà nước và ý nguyện của nhân dân, chúng ta phải làm và kiên quyết làm.

          Chúng ta đang trong quá trình hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng một xã hội mà công và tội phân minh. Có công thì thưởng, có tội thì phạt. Những cống hiến của các cán bộ này luôn được Đảng, Nhà nước ghi nhận, bằng cách bổ nhiệm họ vào các chức vụ quản lý quan trọng; phong, thăng những chức danh về học hàm, học vị; ưu đãi các chế độ, chính sách...

          Vậy thì khi có tội, họ phải chấp nhận hình phạt cũng là bình thường. Sai phạm của họ là do chính cá nhân họ cố tình gây nên, đã không vượt qua được sự cám dỗ của vật chất, đã lợi dụng chức vụ, quyền lực được giao để trục lợi. Nó chính là do sự thoái hóa biến chất của con người. Nó diễn ra ngay ở trong chính bản thân mỗi con người.

 

 

Những đứa trẻ khát trường

Con gái tôi năm tuổi, hàng ngày đang bị “nhốt” trong nhà cùng anh 14 tuổi. Đã hơn sáu tháng, trường học và các dịch vụ giáo dục đều đóng cửa, gia đình tôi không có người giúp, hai con tôi quanh quẩn trông nhau trong bốn bức tường, không được tiếp xúc bạn bè cùng trang lứa. Mỗi buổi sáng, con gái luôn thức dậy trước sáu giờ để canh bố mẹ, ra chặn cửa và khóc, "bố mẹ đi làm nhớ nói với cô giáo cho về sớm để chơi với con". Buổi chiều đi làm về muộn, con nằng nặc đòi tôi đưa đi chơi với các bạn. Trường ngay dưới chân toà nhà, thỉnh thoảng con lại dắt bố đến, chỉ vào cổng bảo, trường con đấy, bao giờ mở cổng, tại sao con không được đến lớp. Tôi đã tìm các cách, cho con trò chuyện với bạn bè qua điện thoại, kết nối với gia đình khác qua nhóm trực tuyến, nhưng con đều kêu chán vì muốn gặp "bạn thật". Hà Nội hết giãn cách, chúng tôi đưa con đến nhà bạn ăn cơm. Con bé ngay lập tức dính lấy con của người bạn. Lúc tạm biệt ra về, hai đứa rủ nhau bỏ trốn, khi bị phát hiện thì khóc như mưa. Về nhà, con lại khóc, "con không cần người lớn, con phải chơi với trẻ con". Gia đình bạn tôi ở chung cư, nhà có hai trẻ nhỏ, khi giãn cách, lũ trẻ bức bối, thỉnh thoảng trốn ra hành lang chơi. Lần nào chúng cũng bị hàng xóm nhắc nhở, gọi điện báo ủy ban và công an phường. Họ cho rằng không được để trẻ ra hành lang. Là một bác sĩ có hai con nhỏ, tôi theo dõi rất sát ảnh hưởng của đại dịch ở cả trẻ em và người lớn. Và tôi nhận thấy, đối với trẻ em, nguy cơ ảnh hưởng lên sức khỏe do không được đến trường không thấp hơn nguy cơ mắc Covid-19. Hàng loạt nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra việc đóng cửa trường học tác hại rất lớn đến trẻ em, như sự gia tăng các vấn đề sức khoẻ tâm thần, bao gồm rối loạn hành vi, trầm cảm, tự sát, chưa kể học tập không mấy hiệu quả. Một nghiên cứu tổng hợp từ 54 nghiên cứu cho thấy, khả năng nhiễm virus ở trẻ em chỉ bằng một nửa so với người lớn trong cùng gia đình. Theo số liệu thống kê ở Mỹ từ tháng ba đến tháng 10 năm 2020, trẻ năm đến 14 tuổi, nguy cơ tử vong do Covid là 1/1.000.000 trong khi tử vong vì các nguyên nhân khác cao gấp 10 lần. Con số khác ở Thụy Điển, quốc gia có gần hai triệu trẻ em đi học không bắt buộc đeo khẩu trang, thời điểm dịch nóng nhất từ tháng ba đến tháng sáu năm 2020, chỉ 15 trẻ mắc Covid nặng và không có tử vong. Nghiên cứu tổng hợp khác cũng chỉ ra rằng, người già 85 tuổi nguy cơ tử vong cao gấp 7.500 lần so với trẻ 10 tuổi, trong khi người 65 tuổi sẽ cao gấp 700 lần. Tại Việt Nam, thời điểm học sinh bước vào năm học mới, TP HCM chỉ có 14.800 trẻ bị nhiễm - khoảng 5% tổng số ca nhiễm. Trong đó, 13 trẻ bị tử vong, chiếm 0,1% tổng số ca tử vong, tất cả đều có bệnh lý nền. Trẻ con cần con trẻ. Con gái tôi nói đúng. Những đứa trẻ không thể cứ bị nhốt mãi trong bốn bức tường với màn hình máy tính hoặc điện thoại, không thể chỉ ngày ngày tham chiếu với mỗi bố mẹ, anh chị hay ông bà. Trẻ phải có không gian của chúng. Đó là thế giới bên ngoài, là trường lớp, là bạn bè và thầy cô để học tập, tương tác, từ đó phát triển thể chất, trí tuệ và tâm hồn. Cân nhắc giữa lợi và hại khi mở cửa trường học, các nước phương Tây đã không chờ đợi tiêm vaccine mới cho trẻ đến lớp, các quốc gia ở châu Á cũng đã làm như vậy. Điều đó có làm trầm trọng thêm đại dịch? Câu trả lời là "không". Một nghiên cứu ở Đức đã tận dụng kỳ nghỉ hè để so sánh, từ đó chỉ ra rằng chưa có bằng chứng cho thấy việc đóng hay mở trường liên quan tới sự gia tăng số ca nhiễm. Virus chẳng thể biến mất trong một hai năm tới, sống chung trở thành lựa chọn hợp lý, Nghị quyết 128 chính là lựa chọn ấy. Sẽ có hai tình huống xảy ra ở bất cứ địa phương nào. Một là, Covid-19 trở thành bệnh đặc hữu, nghĩa là nó giống như cúm mùa, như sởi, thuỷ đậu hay nhiều bệnh truyền nhiễm khác. Trong tình huống này, số ca nhiễm không gây quá tải hệ thống y tế, số ca tử vong chấp nhận được. Thời điểm hiện tại, trung bình mỗi ngày khoảng 74 ca tử vong do Covid, 31 ca do lao, 205 ca do ung thư, theo Bộ Y tế. Bùng phát sởi, cúm mùa hay thuỷ đậu, vì là bệnh đặc hữu nên không thực hiện cách ly hay phong toả, cũng không đóng cửa trường học. Hai là, Covid-19 bùng phát mất kiểm soát, hệ thống y tế bị đe doạ, số ca tử vong cao. Lúc đó, nhà chức trách sẽ chuyển trạng thái của đại dịch, áp những biện pháp như giãn cách xã hội và tạm đóng trường học. Các lĩnh vực đời sống xã hội đã gần như bình thường trở lại, nhưng trường học vẫn chưa mở. Rõ ràng, quyền lợi của người lớn đang được ưu tiên so với hạnh phúc của trẻ em. Việc đóng cửa trường học dường như để bảo vệ người lớn nhiều hơn. Covid-19 nguy hiểm với người lớn, đặc biệt thảm khốc với người cao tuổi và có bệnh nền, nhưng trẻ em thì khác. Để những đứa trẻ trở lại trường học an toàn, theo tôi, cần xây dựng quy trình chống nhiễm khuẩn học đường thật tốt. Giáo viên nên được tiêm chủng đầy đủ, giới hạn sĩ số lớp học, phát hiện và cách ly học sinh có triệu chứng, hướng dẫn trẻ thói quen phòng vệ cá nhân. Mở cửa trường học có thể phải chấp nhận số ca trẻ nhiễm Covid tăng. Vaccine không phải lá bùa miễn nhiễm. Từ đầu năm 2021 đến nay, hàng triệu trẻ em trên thế giới đã đến trường an toàn khi dịch bệnh ở những quốc gia ấy vẫn đang hoành hành, điều đó càng xói mòn quan điểm cho rằng trẻ cần được tiêm phòng đầy đủ mới có thể đi học. Ba hôm trước, tôi lóe lên hy vọng khi nghe người đứng đầu chính phủ yêu cầu Bộ Giáo dục và Y tế khẩn trương xây dựng phương án đưa trẻ đến trường. Chúng ta không thể bất công với trẻ. Không thể để những đứa trẻ khát trường, khát bạn tiếp tục ngồi một mình trong bốn bức tường chờ đợi hai mũi vaccine để có thể gặp nhau. Đại dịch đã tổn thương sâu sắc đến trẻ em, phần lớn không phải vì trẻ mắc virus mà bởi những lựa chọn của xã hội. Gần hai năm trời, hàng triệu đứa trẻ mất cơ hội học tập, sự phát triển và tuổi thơ. Cho các em quay trở lại lớp càng sớm càng tốt là cách để không bỏ rơi trẻ một lần nữa, đặc biệt là những em cần giáo dục và chăm sóc đặc biệt như tự kỷ, chậm phát triển.