Thứ Ba, 16 tháng 11, 2021

Đánh bại âm mưu hòng làm suy giảm niềm tin của nhân dân

    Bằng những chiêu trò, thủ đoạn tinh vi và quan điểm sai trái, xuyên tạc, các thế lực thù địch đang tìm mọi cách hòng làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

    Hiện nay do sự tác động của nền kinh tế thị trường và ảnh hưởng tiêu cực của nhiều yếu tố mới từ bên ngoài, cùng với nội tại bên trong của đất nước còn nhiều hạn chế, bất cập như tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, “lợi ích nhóm”, tham nhũng, lãng phí trên một số lĩnh vực, địa bàn vẫn còn nghiêm trọng, phức tạp, gây bức xúc trong xã hội. Tình trạng trên là nguyên nhân làm cho niềm tin của một số người có xu hướng suy giảm.

    Lợi dụng tình hình đó, các  thế lực thù địch, phản động đang ráo riết dùng nhiều thủ đoạn tinh vi chống phá Đảng và Nhà nước ta. Bằng những quan điểm sai trái, chúng tấn công vào nền tảng tư tưởng, đánh vào thế giới quan, cơ sở khoa học đường lối chính trị của Đảng; chống phá sự lãnh đạo của Đảng, xuyên tạc cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; xuyên tạc lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng ta, lịch sử cách mạng; bôi nhọ lãnh tụ và các đồng chí lãnh đạo của Đảng; triệt để khai thác những hiện tượng tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng dẫn đến “tự chuyển hóa” của một số cán bộ, đảng viên, chúng tiếp tục tấn công, xuyên tạc, cắt xén, bác bỏ những luận điểm căn bản nhất của chủ nghĩa Mác – Lênin; tìm mọi cách chia rẽ Đảng với nhân dân, lôi kéo kích động, tách nhân dân ra khỏi ảnh hưởng của Đảng bằng việc vu cáo vi phạm dân chủ, nhân quyền.

    Tất cả các hành động đó nhằm hướng tới làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Khi niềm tin của nhân dân với Đảng bị giảm sút thì mọi chủ trương, đường lối mục tiêu mà Đảng, Nhà nước ta đề ra sẽ không thể đạt được và đó sẽ là cơ sở để các thế lực thù địch lợi dụng, chống phá, chia rẽ, gây mất đoàn kết nội bộ. Mục tiêu của chúng là hạ thấp uy tín, vai trò của Đảng trước nhân dân, tiến tới xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với cách mạng Việt Nam.

    Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chỉ trong thời gian ngắn, từ ngày 14 đến ngày 28/8/1945, hơn 20 triệu người Việt Nam từ miền Bắc tới miền Nam, từ nông thôn đến thành thị, từ đồng bằng đến miền núi đồng loạt nổi dậy giành chính quyền về tay nhân dân. Cuộc Tổng khởi nghĩa đã nhanh chóng thành công trên cả nước, lật đổ chế độ thực dân, phong kiến, thiết lập chính quyền công nông. Thắng lợi vĩ đại đó xuất phát từ bài học “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng”.

    Trong quá trình đổi mới đất nước, đứng trước vô vàn khó khăn, thử thách, nhưng với niềm tin vào hệ tư tưởng chủ nghĩa Mác – Lênin, vào sự lãnh đạo của Đảng và sức mạnh của toàn dân tộc, chúng ta đã tạo nên nhiều thành tựu to lớn. Công cuộc đổi mới, xây dựng, phát triển đất nước ta trong 35 năm qua có ý nghĩa lịch sử, tạo dựng nên cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín của đất nước chưa bao giờ có như ngày nay. Đây chính là cơ sở gốc rễ củng cố và tăng cường niềm tin nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa.

    Trên mặt trận ứng phó với dịch bệnh COVID-19, góp phần vào thành công của Việt Nam chính là sự đoàn kết một lòng của toàn xã hội, là sự tin tưởng tuyệt đối của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước trong cuộc chiến “chống dịch như chống giặc”. Năm 2020 có nhiều biến động do đại dịch và thiên tai ở miền Trung nhưng Việt Nam đã thành công trong thực hiện nhiệm vụ kép “vừa phòng chống dịch, vừa phát triển kinh tế”, vai trò, vị thế và uy tín của Việt Nam trên thế giới ngày càng được nâng cao. Nhân dân càng thêm vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Không một thế lực nào có thể đánh bại “bức tường thành niềm tin” mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta gây dựng. Âm mưu và thủ đoạn hòng làm suy giảm niềm tin của nhân dân dù thâm hiểm và tinh vi thế nào cũng đã và sẽ thất bại hoàn toàn.


Lòng biết ơn - giá trị sống, vẻ đẹp nhân cách con người

Lợi dụng mạng xã hội (MXH), họ chê bai đủ thứ về hiện thực đất nước qua lăng kính chỉ toàn màu đen. Thậm chí có người tự biến mình thành kẻ vô ơn bạc nghĩa trước tấm lòng cao cả của cộng đồng, tổ chức và chế độ từng nuôi dưỡng, bao bọc, rèn luyện và tạo cơ hội cho họ thành danh. Mỗi chúng ta đều nằm lòng câu tục ngữ “Uống nước nhớ nguồn”. Đây không chỉ là đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta được trao truyền từ đời này qua đời khác, mà còn là lẽ sống cao cả, là tình cảm ân nghĩa thủy chung, là thái độ ứng xử có trước có sau của một nhân cách văn hóa. Biết trân trọng, ghi nhớ tất cả những gì mà tổ tiên, ông cha đã tốn bao công sức, trí tuệ và cả xương máu để ươm trồng, vun đắp và tạo dựng cơ đồ, sự nghiệp cho con cháu hôm nay và mai sau, chính là việc làm ý nghĩa nhất để góp phần hiện thực hóa đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”. Lòng biết ơn còn là một giá trị sống, đồng thời là một phương châm ứng xử nhân văn, tinh tế để góp phần làm nên vẻ đẹp nhân cách của con người. Nhờ có lòng biết ơn của thế hệ sau đối với thế hệ trước, của hậu duệ đối với tiền nhân, của con cháu đối với ông bà, cha mẹ mà các thế hệ người Việt Nam đã bồi đắp nên truyền thống văn hóa tri ân “Ăn quả nhớ người trồng cây”. Đối lập với lòng biết ơn là sự vô ơn. Một con người vô ơn thì khó tìm được hạnh phúc đích thực và lương tâm thanh thản vì trái tim bị thói ích kỷ cá nhân làm cho “rỉ máu”. Vì vậy, trong văn hóa ứng xử của ông cha ta, những kẻ vô ơn bạc nghĩa luôn bị xã hội phê phán với thái độ nghiêm khắc. Khi được người khác đối đãi tử tế nhưng bản thân lại đối xử trở mặt như trở bàn tay là những kẻ ăn mật trả gừng. Khi hưởng thụ quyền lợi nơi này nhưng lại ủng hộ, vun vén cho nơi khác là những kẻ ăn cây táo rào cây sung. Khi đạt được mục đích cá nhân nhưng vội quên ngay người khác giúp đỡ mình là những kẻ “được chim bẻ ná, được cá quên nơm”. Đáng khinh nhất là những kẻ vô ơn bạc nghĩa khi thể hiện thói ích kỷ cá nhân đến mức “khỏi vòng cong đuôi”, “qua cầu rút ván”, “ăn cháo đá bát”... Một người dân mà có thái độ vô ơn đã là điều đáng trách. Càng đáng phê phán hơn khi có những người từng mấy chục năm được hưởng “ăn cơm nhà nước, hưởng lộc người dân” nhưng sau khi rời nhiệm sở trở về cuộc sống đời thường lại nảy sinh tư tưởng tiền hậu bất nhất. Lợi dụng MXH chê bai đủ thứ về hiện thực đất nước qua lăng kính chỉ toàn màu đen. Có người khi đương chức, đương quyền thì giữ gìn lời ăn tiếng nói, cẩn trọng phát ngôn từng câu, từng chữ để được tiếng là “khôn ngoan đến mực, nói năng phải lời”, nhưng khi về hưu lại biến mình thành “thông tấn xã vỉa hè” bởi ngồi ở đâu, chỗ nào cũng có thể “bàn loạn” chuyện quốc gia đại sự mà không hề giữ mồm, giữ miệng, thậm chí tùy tiện nhận xét cán bộ đương chức này kém cỏi, đánh giá cán bộ đương nhiệm khác tài hèn đức mọn với động cơ thiếu lành mạnh. Cũng có người từng gắn bó lâu năm với công việc trọng yếu, bộ phận nhạy cảm trong bộ máy công quyền, lúc hành nghề thì mang nặng lời thề sống để dạ, chết mang theo, nhưng khi giải nghệ một thời gian thì không ngại ngần tiết lộ những thông tin gây bất lợi cho việc giữ gìn đồng thuận xã hội và bảo vệ an ninh tư tưởng văn hóa. Những người như thế không thể hiện sự nhất quán đối với chính bản thân mình, mà còn ít nhiều bộc lộ sự vô ơn đối với tổ chức, cơ quan, ngành nghề mình từng nhiều năm công tác. Thời gian qua, đất nước trải qua không ít sự cố bởi dịch bệnh, thiên tai hoành hành gây ra biết bao hệ lụy cho xã hội. Trong những hoàn cảnh khó khăn như vậy, đối với những người yêu nước, thương dân thật lòng thì không bao giờ kêu ca, than phiền hay bày tỏ thái độ dửng dưng, vô cảm trước những tổn thất của người dân. Đáng tiếc có người thời còn giữ chức vụ lời nói có trọng lượng, nhưng khi về hưu lại mở miệng chê bai, phê phán cấp ủy, chính quyền thiếu sâu sát, quyết liệt, thiếu thương dân nên mới để dịch Covid-19 tái phát. Cũng có người một thời sát cánh cùng đồng chí, đồng đội, đồng bào trong những năm tháng chiến đấu gian khổ, thì nay một phần để cho tư tưởng công thần lên ngôi, phần khác vì bị lôi kéo, kích động bởi các phần tử cơ hội chính trị nên không bảo trọng vẹn toàn lời thề kết nạp Đảng năm nào, tự biến mình trở thành “cái loa” phát ngôn cho những thông tin sai trái, lệch lạc, làm nhiễu nhương dư luận, gây phân tâm lòng người. Cách ứng xử như thế cũng là tiền hậu bất nhất và họ đang tự biến mình thành người vô ơn bạc nghĩa trước tấm lòng cao cả của cộng đồng, tổ chức và chế độ từng nuôi dưỡng, bao bọc, rèn luyện và tạo cơ hội cho họ thành danh trước khi rời vị trí công tác xã hội. Thật ra, xã hội nào, thể chế chính trị nào cũng luôn khuyến khích, đề cao, ghi nhận những con người công tác trong bộ máy công quyền giàu lòng cống hiến, hy sinh và luôn mang trong mình văn hóa tri ân. Bởi vì suy cho cùng, thể chế chính trị là cái nôi, là bệ đỡ cho anh thành đạt thì dù đang công tác hay khi về hưu thì anh rất nên/cần ghi nhớ, biết ơn cái nơi cho mình cả danh phận cá nhân lẫn cuộc sống hạnh phúc gia đình. Dù khi rời nhiệm sở, cán bộ không còn sở hữu quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước, nhưng không có nghĩa là tự mình xa rời hay lãng quên tinh thần phụng công, thủ pháp, trách nhiệm công dân và ý thức nêu gương trước quốc dân đồng bào. Có thể nói rằng, uy lực công quyền một thời đã tạo thế, tạo danh cho cán bộ lãnh đạo, quản lý thì khi về hưu họ ít nhiều vẫn được “thơm lây” từ cái thế, cái danh đó. Cho nên lời nói, phát ngôn, ý kiến của họ vẫn có trọng lượng nhất định. Do đó, bất cứ một sự thoái thác nào về danh vị, chức tước của mình một cách không chính đáng, không thiện chí rồi sa đà vào lối hành xử tiền hậu bất nhất sẽ vô hình trung làm giảm uy tín, thậm chí làm tiêu tan thanh danh một thời mình dày công gây dựng. Một trái tim biết đồng cảm với khó khăn, hoạn nạn của người khác là một trái tim nhân hậu. Một con người biết chia sẻ với nỗi buồn, đau thương của người khác là một con người giàu tình cảm nhân văn. Nói rộng ra, khi con người, đặc biệt là cán bộ, đảng viên thể hiện tình cảm, bổn phận, đạo lý, trách nhiệm đúng lúc, đúng chỗ, đúng mực với cộng đồng, xã hội, đất nước, chế độ cũng là biểu hiện cao cả của lòng biết ơn. Lòng biết ơn không tự nhiên sinh ra mà có, mà cần được giáo dục, trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và giữ gìn, nâng niu, bảo toàn như một “báu vật” vì lòng biết ơn đã góp phần làm nên giá trị đạo đức, văn hóa của mỗi con người. Đối với mỗi cán bộ, đảng viên, thể hiện lòng biết ơn không chỉ đối với tổ tiên, dòng họ, gia đình, thầy cô, nhà trường, làng xóm, quê hương-nơi mình sinh ra, lớn lên, học tập; mà cần bền bỉ duy trì, thực hiện văn hóa tri ân đối với cộng đồng, đất nước, dân tộc, nhân dân-nơi mình được bao bọc, nuôi dưỡng về thể chất và tâm hồn; đối với tổ chức, cơ quan, đơn vị và thể chế chính trị-nơi mình được công tác, làm việc, cống hiến, trưởng thành, có địa vị xã hội và cuộc sống gia đình ổn định, hạnh phúc. Khi cán bộ, đảng viên chú trọng bảo toàn nét đẹp văn hóa tri ân của bản thân ở mọi lúc, mọi nơi sẽ góp phần lan tỏa giá trị đạo đức tốt đẹp trong xã hội, đồng thời đây cũng là một cách phòng ngừa thói tiền hậu bất nhất và sự dửng dưng, vô cảm-một nguy cơ làm bào mòn tâm hồn, cốt cách của người cộng sản. Đây cũng là một cách tự phòng ngừa bản thân tránh rơi vào tình trạng “tự chuyển hóa” về tư tưởng chính trị.

Cán bộ, đảng viên – nhân tố quan trọng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

    Trong giai đoạn hiện nay, khi công nghệ thông tin phát triển, các thế lực thù địch đã sử dụng nhiều chiêu bài khác nhau, đặc biệt là lợi dụng ưu thế của mạng xã hội để phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng.

    Âm mưu phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng

    Các thế lực thù địch không từ bỏ âm mưu thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến” “tự chuyển hóa“, tăng cường hoạt động chống phá, chia rẽ nội bộ Đảng và phá hoại mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân, làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng. Chúng triệt để lợi dụng phương tiện truyền thông và mạng Internet, đặc biệt là mạng xã hội như một thủ đoạn thâm độc hòng lấy chính ta để chống ta, thúc đẩy sự suy yếu từ bên trong.

    Trên các trang mạng, trang cá nhân của các tổ chức, cá nhân phản động, đối tượng chống đối, thù địch và cả những kẻ cơ hội chính trị nhan nhản những nội dung với những câu hỏi hoài nghi như: “Vì sao đến giờ này mà Đảng và Nhà nước Việt Nam vẫn kiên định mục tiêu, lý tưởng cộng sản, chủ nghĩa xã hội?”. Có những kẻ còn trắng trợn đặt vấn đề rằng: “Hệ thống chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô cũ đã sụp đổ, chủ nghĩa xã hội là ảo vọng, sao Việt Nam còn hướng tới mục tiêu này?”… hay “nền kinh tế thị trường của chủ nghĩa tư bản những năm qua mới là con đường” để đưa Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, đời sống nhân dân được cải thiện và nâng cao chứ không phải là “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” để rồi reo rắc hoài nghi là “về thực chất Việt Nam đã đi theo con đường tư bản chủ nghĩa”… 

    Đây thực chất là những luận điệu phi lịch sử, phản khoa học và phản động. Mục đích của chúng nhằm reo rắc hoài nghi khiến không chỉ quần chúng nhân dân mà cả những cán bộ, đảng viên hoài nghi, bi quan, dao động, suy giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn. Sâu xa hơn, chúng muốn đi tới đích cuối cùng là xóa bỏ chủ nghĩa xã hội, thay đổi chế độ chính trị, hướng lái nước ta theo con đường tư bản chủ nghĩa.

    Bước vào thời kỳ phát triển mới, những tác động mặt trái của cơ chế thị trường, công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế đã ảnh hưởng tiêu cực tới nhiều mặt đời sống xã hội, tư tưởng, tình cảm của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân. Trong khi đó, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên “nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”, thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu, quên đi trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước nhân dân. Đây là những kẽ hở cho các thế lực thù địch có cơ hội xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.

    Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng – Sứ mệnh của người cán bộ, đảng viên

    Chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh – nền tảng tư tưởng của Đảng ta là ánh sáng soi rọi, là kim chỉ nam đưa đất nước và dân tộc ta giành chiến thắng trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng với nền tảng tư tưởng ấy, đất nước ta đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

    Đảng ta đã xác định “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là nguy cơ không thể xem thường đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng. Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng cảnh báo: “Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc câu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”.

    “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ thực chất là quá trình tự biến đổi về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên theo chiều hướng tiêu cực, đi ngược, làm trái với với quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Vì vậy, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta phải đi liền với ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đây là nhiệm vụ cấp bách và quan trọng để làm thất bại âm mưu của của các thế lực thù địch chống phá Đại hội lần thứ XIII của Đảng.

    Thời gian qua, đại đa số cán bộ, đảng viên đã góp phần tích cực vào công tác đấu tranh thông tin, phản bác quan điểm sai trái trên không gian mạng. Tham gia chia sẻ, lan tỏa sâu rộng những thông tin tích cực, góp phần nâng cao tinh thần cảnh giác, sức đề kháng, nâng cao nhận thức của nhân dân trong việc chấp hành pháp luật, đấu tranh với luận điệu xuyên tạc, thông tin sai sự thật của các phần tử cơ hội chính trị, phản động. Tích cực tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; quán triệt và thực hiện có hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Trang bị cho bản thân khả năng tự phòng, chống trước âm mưu, thủ đoạn và hoạt động của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị… Một số cán bộ, đảng viên trở thành “cây bút chiến” viết tin, bài đấu tranh, phản bác chất lượng. Chính tinh thần trách nhiệm đó đã tạo nên sức mạnh tổng hợp góp phần mang lại thắng lợi trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

    Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là sứ mệnh của mỗi cán bộ, đảng viên, thể hiện trách nhiệm và tình cảm với Đảng, với đất nước, nhân dân và với chính mình. Để tiếp tục phát huy tinh thần này, mỗi cán bộ, đảng viên đứng trong hàng ngũ của Đảng cần kiên quyết nói không với mọi thông tin sai trái, xấu độc; tích cực tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức của quần chúng về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ hệ ý thức chính trị xã hội chủ nghĩa, kịp thời phát hiện, báo với các cơ quan chức năng thông tin xấu độc, xuyên tạc, thù địch để chủ động phòng chống, ngăn chặn, xử lý đạt hiệu quả cao nhất.

    Đấu tranh để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta trước sự chống phá quyết liệt từ bên ngoài cũng như đấu tranh chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là việc làm thường xuyên, lâu dài, cuộc đấu tranh “kép” này thành hay bại cần đến ý thức, trách nhiệm và hành động của mỗi cán bộ, đảng viên.

 


Văn học, nghệ thuật không thể đứng ngoài chính trị

Thời gian qua, một số người biến chất hoạt động trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật nước nhà được sự hà hơi, tiếp sức, kích động của các thế lực bên ngoài đã lớn tiếng kêu gọi và đòi văn học, nghệ thuật không phụ thuộc vào sự lãnh đạo của Đảng, đứng ngoài chế độ chính trị hiện hành (cho dù chính chế độ này đã mang lại cho họ những giá trị đích thực và họ đã, đang được hưởng). Vì thế, họ ra sức truyền bá các tác phẩm văn học, hội họa, những chương trình ca nhạc, phim ảnh có nội dung chống chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN), phủ nhận thành quả của cách mạng, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ đề cao, cổ súy một số tác phẩm của những văn nghệ sĩ cực đoan, quá khích. Thậm chí, họ còn cho rằng, những tác phẩm này đã tạo nên "luồng gió mới" trong lĩnh vực báo chí, văn học, nghệ thuật nước ta và đã "tiên phong" thoát ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, thể hiện đúng tinh thần "văn nghệ mở". Bên cạnh đó, một số kẻ đã cố tình bôi nhọ, đả kích các nhân vật, các nhà phê bình văn học có quan điểm chính thống; xuyên tạc cho rằng họ là những "bồi bút” cho Đảng, "con rối" trên diễn đàn văn chương... Điển hình trong đó có nhóm tự xưng “Ban vận động Văn đoàn Việt Nam độc lập”, phiến diện cho rằng: Văn học, nghệ thuật do Đảng lãnh đạo là thứ văn học, nghệ thuật minh họa nghị quyết, tô hồng thực tế theo chỉ đạo của Đảng. Thật đáng buồn hơn, khi có nhà văn, nhà thơ trưởng thành trong nền văn chương cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhưng đã “mắc bệnh nặng” nên “mờ mắt”, phủ nhận chính những đứa con tinh thần của mình khi "loạn ngôn" cho rằng: Các tác phẩm văn học viết trong chiến tranh là những kiểu viết minh họa đầy chất “đặt hàng” của Đảng mà không phải viết do cảm xúc, do tình người của nhà văn. Do đó, những tác phẩm đó không có giá trị và phải có nhận thức mới để thoát khỏi sự can dự của Đảng. Chắc chắn các “nhà văn nghệ mở” đều đã biết, sự tồn tại của chính trị trong một xã hội thường được thể hiện trên hai phương diện là học thuyết chính trị và nhà nước. Trong đó, học thuyết chính trị giữ vai trò chủ đạo trong ý thức xã hội để giải quyết mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc, các tầng lớp trong xã hội và xây dựng nên một nhà nước nhằm tổ chức, quản lý, điều chỉnh và định hướng xã hội phát triển theo lý luận, quan điểm của học thuyết chính trị đó. Như vậy, trong một xã hội, nói đến chính trị là nói đến vai trò chủ đạo cả trong ý thức xã hội lẫn hệ thống thiết chế mang tính chất nhà nước để bảo đảm cho sự hiện thực hóa tư tưởng chính trị. Khi đã hiển nhiên giữ vai trò chủ đạo trong một xã hội, thì chính trị không chỉ ảnh hưởng và tác động tới các hình thái ý thức xã hội khác cùng trong một kiến trúc thượng tầng, mà còn giữ vai trò lãnh đạo và chi phối mọi hoạt động trong lĩnh vực vật chất, tinh thần của xã hội. Bằng cách tiếp cận thực sự khách quan, toàn diện, khoa học, Chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ ra, văn học, nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội nhưng là hình thái ý thức xã hội đặc thù; biểu hiện tập trung, đầy đủ, sâu sắc nhất quan hệ thẩm mỹ của con người đối với hiện thực và luôn nhấn mạnh văn học, nghệ thuật phải thấm nhuần tư tưởng cách mạng, có tính giai cấp, tính đảng, tính định hướng... Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Rõ ràng là dân tộc bị áp bức, thì văn nghệ cũng mất tự do. Văn nghệ muốn tự do thì phải tham gia cách mạng”. Vì vậy, dù có những đặc trưng, đặc thù nào đi chăng nữa thì từ sự nhận thức, phản ánh của mình, văn học, nghệ thuật vẫn phải nhằm mục đích góp phần vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc, giải quyết những mâu thuẫn, những yêu cầu đặt ra của thời đại. Ý thức chính trị và ý thức văn học là những người bạn đồng hành trên con đường đi tìm hạnh phúc. Tiếng nói chính trị và tiếng nói nghệ thuật bổ sung cho nhau, làm thăng bằng đời sống tinh thần của xã hội. Thực hiện sứ mệnh mà dân tộc, nhân dân giao cho, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo văn học, nghệ thuật nhằm phát huy cao nhất tính “chân, thiện, mỹ” của nó, vì khát vọng cao đẹp của nhân dân và dân tộc Việt Nam. Điều đó cũng có nghĩa, Đảng lãnh đạo văn học, nghệ thuật không phải là sự áp đặt, mà trở thành nhu cầu khách quan, không chỉ cho việc thực hiện mục tiêu, lý tưởng của dân tộc, mà còn vì chính sự tồn tại, phát triển của văn học, nghệ thuật; bảo đảm cho “hình thái ý thức xã hội đặc thù” này phát triển đúng hướng, toàn diện, có ích và đáp ứng khát vọng tốt đẹp, phong phú, lành mạnh của nhân dân, của dân tộc. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh, đường lối văn học, nghệ thuật của Ðảng là một bộ phận trong đường lối phát triển con người, phát triển đất nước, được xây dựng trên những căn cứ khoa học xác đáng, hướng tới những mục tiêu cao đẹp mà văn học, nghệ thuật cũng nhằm hướng tới. Do đó, văn học, nghệ thuật Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo đã chuyển hóa lập trường cho nhiều trí thức tiểu tư sản sang người trí thức cách mạng giàu lòng yêu nước. Đơn cử như, bài thơ “Từ ấy” của Tố Hữu (năm 1938) là một mốc son đánh dấu sự chuyển biến, đi theo lý tưởng cao đẹp, dám sống, dám đấu tranh của giới văn nghệ sĩ lúc bấy giờ. Nhà thơ Chế Lan Viên đã cảm ơn Đảng: Người thay đổi đời tôi, Người thay đổi thơ tôi. Nhà văn Nguyễn Công Hoan cũng đã khẳng định: Chính Cách mạng Tháng Tám đã cứu sống đời ông, giải phóng cho gia đình ông và giải phóng cho ngòi bút viết tiểu thuyết của ông... Trong giai đoạn cách mạng từ 1930 đến 1945, văn học, nghệ thuật đã có vai trò quan trọng trong vận động cách mạng, cổ vũ đồng bào cả nước làm nên thắng lợi lịch sử Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, các tên tuổi, như: Nguyễn Đình Thi, Phạm Tiến Duật, Xuân Hồng, Phạm Tuyên, Nguyễn Thi, Lê Anh Xuân... đã vừa cầm súng, vừa cầm bút; vừa chiến đấu, vừa sáng tác, góp phần làm nên hình ảnh cao đẹp, đáng tự hào-“Người nghệ sĩ-chiến sĩ”. Họ đã có những tác phẩm đạt tới tầm cao về tư tưởng, văn học, nghệ thuật; tạo ra những hình tượng đậm chất lý tưởng, thực sự mang tầm văn hóa lớn trong đấu tranh cách mạng, hướng bạn đọc đi đến những cái cao thượng anh hùng... Từ khi đất nước thống nhất, đặc biệt trong sự nghiệp đổi mới, văn học, nghệ thuật tiếp tục đạt được những thành tựu đáng trân trọng; đại đa số các văn nghệ sĩ phát huy trách nhiệm công dân, trách nhiệm nghệ sĩ-chiến sĩ, sáng tác ra nhiều tác phẩm có giá trị về tư tưởng và nghệ thuật, góp phần thúc đẩy phát triển văn hóa nước nhà, xứng đáng đại diện cho “những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng”. Thực tế là vậy! Thử hỏi các “nhà văn nghệ mở”, các ngòi bút “tiên phong” rằng, đó có phải là bóp nghẹt tự do, dân chủ, áp đặt tư tưởng, quan điểm trong sáng tạo văn học, nghệ thuật; hay trấn áp những văn nghệ sĩ, đấu tranh cho tự do tư tưởng, tự do sáng tạo không? Và, nếu các tác phẩm được viết theo kiểu “minh họa”, hay viết theo “đặt hàng mà không phải do cảm xúc” thì liệu có đạt tới tầm cao về tư tưởng, văn học, nghệ thuật như vậy không? Phải chăng, từ ý thức chính trị kết hợp với tài năng và tấm lòng trong sáng đã đem tới các thế hệ văn nghệ sĩ cách mạng Việt Nam ý chí, tình yêu vô bờ bến với sự nghiệp chính nghĩa của dân tộc. Từ ý thức đó, các văn nghệ sĩ được tự do sáng tác và vững bước cùng dân tộc, góp phần cùng dân tộc làm nên những kỳ tích mà lịch sử sẽ còn lưu giữ mãi. Thời gian qua, các cơ quan chức năng của Việt Nam đã cấm phát hành và quyết định thu hồi một số tác phẩm, ấn phẩm văn học đã phát hành là do vi phạm Luật Xuất bản; thậm chí có tác phẩm có những quan điểm, nhận định, đánh giá thiếu căn cứ khoa học, mơ hồ về chính trị, hoặc có nội dung xuyên tạc lịch sử, thông tin tư liệu sai lệch, tuyên truyền chủ nghĩa xét lại một cách cực đoan, kích động thù hằn dân tộc, tạo tâm lý oán trách... Việc làm đó là hoàn toàn chính xác, đúng đắn để tạo điều kiện cho nền văn học, nghệ thuật chân chính phát triển, góp phần tích cực vào xây dựng chế độ XHCN mà nhân dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam đã lựa chọn, chứ không như một số người rêu rao: Trừng trị, triệt tiêu những đóng góp của giới tinh hoa, trí thức! Có chăng, đó chỉ là việc làm ngăn chặn những tác phẩm bôi đen, trút bức xúc và hằn học cá nhân, lấy cái tôi để làm thước đo phẩm chất cộng đồng...; những tác phẩm đó bao giờ cũng mang tới sự “phản giá trị” đối với tác phẩm và chính chủ nhân của nó. Đó là sự thật không thể chối cãi được. Cho nên, khi người ta đòi hỏi tách văn học, nghệ thuật khỏi chính trị, thì nếu đó không nhằm tiếp tay, thực hiện ý đồ đen tối cho các thế lực phản động, thì cũng là biểu hiện của sự ấu trĩ, mất phương hướng trong nhận thức mà thôi.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

    Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước trong công tác phòng, chống thiên tai, khắc phục hậu quả mưa lũ đã và đang triển khai thực hiện là có hệ thống, đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất từ Trung ương đến địa phương với những giải pháp, chính sách quyết liệt, mạnh mẽ, lâu dài nhằm đảm bảo cuộc sống người dân, duy trì ổn định xã hội và hiệu quả thực tiễn đang chứng minh điều đó. Đừng chủ quan phán xét, đừng vin cớ trên nỗi đau của đồng bào miền Trung để xuyên tạc, bôi nhọ, nói xấu Đảng, Chính phủ và các cấp chính quyền bằng những thủ đoạn, chiêu trò lố bịch bởi tùy thuộc vào từng tình hình thực tiễn, Đảng, Chính phủ sẽ đưa các giải pháp cấp bách, lâu dài và không ồ ạt, nhất thời để rồi “chết yểu” như tư duy của các “nhà dân chủ yêu nước”.

    Ngày 22/10/2018, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, trong đó nêu rõ quan điểm “Nâng cao hiệu quả đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch; uốn nắn những nhận thức lệch lạc”. Những luận cứ bài viết trình bày trên đây chỉ là một trong những phương thức các thế lực thù địch, đối tượng chống đối lợi dụng để xuyên tạc nhằm tác động, chuyển hóa nhận thức của mỗi người dân từ những sự việc, hiện tượng rất đỗi thường ngày, từ đó thấm dần hướng tới phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, bôi nhọ tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. Sự lung lay về ý chí, sự rệu rã về lòng dân, mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ là mục tiêu các thế lực chống phá hướng tới. Song, tính trơ trẽn, lố bịch, bịa đặt không thể che mờ đi sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Nhà nước ta; tinh thần cống hiến không mệt mỏi của các lực lượng chức năng từ Trung ương đến địa phương đang diễn ra hằng ngày, hằng giờ với những kết quả đạt được đáng ghi nhận mãi là những minh chứng rõ nét. Do đó, trước thời đại mạng Internet phát triển mạnh mẽ kéo theo sự bùng nổ thông tin như hiện nay, mỗi người dân cần nêu cao tinh thần cảnh giác khi tiếp cận thông tin trên không gian mạng, nhất là mạng xã hội, không để bị những luận điệu xấu độc này dẫn dắt, làm lu mờ nhận thức chính trị một cách vô căn cứ. Mạnh dạn đấu tranh, phản bác với luồng thông tin sai sự thật, chưa được kiểm chứng để tạo sức mạnh lan tỏa ý thức phòng ngừa trong cộng đồng với những “chiêu trò” này.


Phòng ngừa hoạt động lợi dụng tình hình Biển Đông để xuyên tạc, kích động chống phá Đảng và Nhà nước

    Những ngày gần đây, tình hình Biển Đông tiếp tục diễn biến phức tạp. Trung Quốc có xu hướng đẩy mạnh các hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế của các nước, thậm chí có hành động khiêu khích thô bạo hơn đối với hoạt động dầu khí của Indonesia và Malaysia; tăng cường điều các tàu thăm dò, khảo sát được tàu hải cảnh, hải quan hộ tống đến áp sát những điểm hoạt động dầu khí của các bên tranh chấp khác ở Biển Đông, trong đó đã điều tàu khảo sát Điện Khoa 1, tàu nghiên cứu khoa học Thẩm Quát hoạt động trong vùng biển của Việt Nam. Các nước ASEAN liên quan tiếp tục tăng cường năng lực bảo vệ chủ quyền và quyền chủ quyền nhưng vẫn thận trọng trong phản ứng với Trung Quốc. Liên quan dịp tròn 5 năm ngày Tòa trọng tài quốc tế ra Phán quyết về vụ khởi kiện Biển Đông, Philippines ra tuyên bố với nội dung mạnh mẽ nhất từ trước đến nay; Mỹ tiến hành các hoạt động tuần tra tự do hàng hải ở quần đảo Hoàng Sa; phối hợp các đồng minh (Nhật Bản, Úc, Canada, Anh…) đưa ra các tuyên bố đề cao phán quyết và bác bỏ các yêu sách phi lý của Trung Quốc ở Biển Đông.

    Trước hết, phải khẳng định rằng, chủ quyền quốc gia là không thể từ bỏ và đây cũng là nguyên tắc bất biến trong quá trình xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Đối với vấn đề Biển Đông, Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định, Việt Nam có chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán đối với các vùng biển ở Biển Đông được xác định theo đúng các quy định của Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) mà Việt Nam và các nước ở Biển Đông là thành viên. Trong quá trình giải quyết các xung đột lợi ích trên Biển Đông, Đảng và Nhà nước ta luôn giữ vững quan điểm nhất quán là luôn coi trọng hòa bình, kiên quyết, kiên trì bảo vệ chủ quyền và lợi ích hợp pháp; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Các bất đồng phải được giải quyết thông qua các biện pháp hòa bình, theo đúng luật pháp quốc tế, đặc biệt là công ước Liên Hợp quốc về Luật biển 1982 và Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).

    Thực tế cho thấy, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên Biển Đông bị xâm phạm, lãnh đạo Đảng, Nhà nước luôn thể hiện tinh thần đấu tranh kiên quyết, kiên trì bằng các biện pháp hòa bình, cụ thể là thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao… Mặt khác, ngày nay vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao, chúng ta càng có thêm nhiều cơ hội để đưa ra tiếng nói, khẳng định chủ quyền ở Biển Đông tại các cơ chế, diễn đàn đa phương. Ví dụ điển hình nhất là trong thời gian đảm nhiệm vai trò chủ tịch ASEAN năm 2020 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 – 2021, Việt Nam đã nhiều lần nêu vấn đề Biển Đông để cộng đồng quốc tế có cái nhìn khách quan, đúng đắn về vấn đề này. Vì vậy, nhiều lúc tình hình trên biển có diễn biến căng thẳng, phức tạp, Việt Nam vẫn đạt được mục đích, đó là giữ vững chủ quyền biển, đảo, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, không để xảy ra xung đột. Qua đó, càng chứng minh chủ trương, đường lối, chính sách giải quyết bất đồng trên Biển Đông của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu thế chung của thế giới.

    Tuy nhiên, trước những thông tin mới về tình hình Biển Đông, các tổ chức, đối tượng phản động lưu vong, số đối tượng cơ hội chính trị, số chống đối cực đoan trong nước triệt để lợi dụng tình hình phức tạp ở Biển Đông để kích động biểu tình chống TQ và gây rối an ninh trật tự, qua đó tập hợp lực lượng, kết hợp thúc đẩy phong trào “bất tuân dân sự, hiệp thông liên tôn”, nhằm tập dượt cho cuộc “cách mạng đường phố” lật đổ chế độ. Các trung tâm phá hoại tư tưởng và trang mạng phản động tán phát nhiều bài viết xuyên tạc về tình hình Biển Đông, kích động tâm lý chống TQ; kích động tạo ra xung đột quân sự trên Biển Đông; gây chia rẽ đoàn kết dân tộc, kêu gọi mọi người tham gia phong trào “bài xích người TQ, người Hoa”, đập phá trụ sở, nhà máy, xí nghiệp của TQ; các đối tượng phản động, số đối tượng cực đoan, bất mãn trong và ngoài nước tích cực sử dụng Internet, mạng xã hội như một phương tiện biểu đạt quyền tự do cá nhân, quyền tự do ngôn luận, thường xuyên cập nhật, chia sẻ các tin, bài viết tại các fanpage của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước như Việt Tân, Nhật ký yêu nước, Con đường Việt Nam, BBC News Tiếng Việt, Chân Trời Mới Media; đăng tải các bài viết trong các hội nhóm trên không gian mạng… để tuyên truyền xuyên tạc về tình hình Biển Đông, chống phá Đảng và Nhà nước ta, kích động biểu tỉnh, ủng hộ “Đảng Việt Tân”… Đồng thời, sử dụng xã hội làm phương tiện liên lạc, tìm cách móc nối, liên kết các kênh, tổ chức, cá nhân phản động để đăng tải, chia sẻ các tin, bài viết, video, clip ngắn… liên quan đến vấn đề Biển Đông với luận điệu xuyên tạc, lừa bịp nhằm kích động hoạt động chống đối, biểu tình, bạo loạn, nói xấu cán bộ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo các cơ quan, ban ngành, tuyên truyền, kêu gọi ủng hộ các tổ chức phản động…

    Nhằm kiên quyết đấu tranh và làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề Biển Đông chống phá Đảng và Nhà nước, các cấp, các ngành cần phải tập trung thực hiện hiệu quả một số vấn đề sau:

    Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước trong đấu tranh và làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề Biển Đông chống phá. Bảo vệ chủ quyền quốc gia dân tộc nói chung, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển, bảo vệ lợi ích trên Biển Đông nói riêng là hoạt động có tổ chức của cả hệ thống chính trị và toàn dân, do lực lượng chuyên trách làm nòng cốt và phải luôn được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước nhằm thực thi, giữ vững chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia của Việt Nam. Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước trong vấn đề này cân tập trung tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương trong công tác tuyên truyền, phản bác các quan điểm tư tưởng sai trái, thù địch, lợi dụng vấn đề Biển Đông để chống phá. Trong đó, phải thường xuyên củng cố lực lượng lãnh đạo, chỉ đạo cũng như lực lượng trực tiếp triển khai công tác tuyên truyền. Cấp ủy, chính quyền địa phương phải luôn đánh giá được hiệu quả và mục đích, yêu cầu của công tác tuyên truyền về tình hình Biển Đông, quan điểm và chủ trương đường lối xử lý của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề này; trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo các lực lượng chức năng thực hiện tốt nhiệm vụ trong vận động tuyên truyền, đấu tranh xử lý các hoạt động lợi dụng vấn đề Biển Đông để chống phá trên địa bàn.

    Hai là, tuyên truyền sâu rộng đến quần chúng nhân dân trên địa bàn đường lối, chủ trương chính sách giải quyết bất đồng trên Biển Đông của Đảng và Nhà nước ta là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tế trong nước cũng như khu vực và trên thế giới; giáo dục, tuyên truyền cho cán bộ, đảng viên, nhân dân những quy định pháp lý về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Hiện nay, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, cạnh tranh giữa các nước lớn, xung đột, tranh chấp chủ quyền biển, đảo xảy ra ở nhiều nơi, trong đó có khu vực Biển Đông. Hiện nay, những điểm bất đồng giữa các quốc gia, dân tộc đều có xu hướng giải quyết trên nền tảng hòa bình, đối thoại, cùng nhau tìm giải pháp chung và trên nền tảng nguyên tắc nhất định của pháp luật quốc tế.

    Trong bối cảnh Trung Quốc có các hành động vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn giữ chủ trương :”Giải quyết mâu thuẫn thông qua thương lượng hòa bình trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phù hợp với luật pháp quốc tế…”. Chúng ta kiên trì đấu tranh trên các mặt trận, mọi cấp độ, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các quốc gia trên thế giới; duy trì thường xuyên lực lượng chuyên trách, sử dụng biện pháp đấu tranh hòa bình, không để xảy ra xung đột vũ trang. Trước tình hình căng thẳng trên Biển Đông, thông qua đường lối đúng đắn, chúng ta vẫn đảm bảo và bảo vệ được lợi ích quốc gia dân tộc. điều này cho thấy, chủ trương, đường lối, chính sách giải quyết bất đồng trên Biển Đông của Đảng, Nhà nước ta hoàn toàn đúng đắn phù hợp với xu thế thời đại. Chính vì vậy, việc tuyên truyền những nội dung này đến quần chúng nhân dân để nhân dân hiểu và nắm được chủ trương của Đảng và Nhà nước là việc làm vô cùng cân thiết. Thông qua đó ta nâng cao nhận thức cho nhân dân trên địa bàn nắm rõ, hiểu đúng, đầy đủ các nổ lực Đảng và Nhà nước đang triển khai nhằm bảo vệ các quyền, lợi ích của ta trên biển, cũng như duy trì môi trường thuận lợi cho phát triển đất nước. Nâng cao cảnh giác, tăng cường “sức đề kháng” cho nhân dân góp phần đấu tranh chống lại các luận điệu xuyên tạc, mang tính kích động, thông tin xấu độc, gây chia rẽ, phá hoại của các thế lực thù địch, phản động.

    Ba là, phát hiện kịp thời các hoạt động lợi dụng vấn đề Biển Đông xuyên tạc chống phá Đảng, Nhà nước; lợi dụng vấn đề này để kích động, lôi kéo một bộ phận người dân nhẹ dạ, cả tin nhằm tập trung đông người gây rối an ninh, trật tự để chủ động đấu tranh ngăn chặn, vô hiệu hóa các hoạt động này. Tăng cường lãnh đạo và quản lý các hoạt động báo chí, phát thanh, truyền hình và Internet… không để thế lực thù địch, phản động và số đối tượng xấu lợi dụng xuyên tạc, kích động phá hoại. Đồng thời, phát huy vai trò của báo chí, truyền thông, mạng xã hội, Internet trong việc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của đất nước, chủ động phản bác các thông tin sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động.

    Bốn là, thường xuyên rà quét, bóc gỡ, ngăn chặn những thông tin xấu, độc về tình hình Biển Đông. Đẩy mạnh đấu tranh vô hiệu hóa các trang mạng xã hội có nội dung xấu, các hội nhóm có đăng tải những nội dung xuyên tạc về tình hình Biển Đông; tăng cường công tác đảm bảo an ninh mạng và quản lý đối với các trang mạng xã hội có phạm vi hoạt động tại nước ta; chủ động triển khai công tác phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn, xử lý nghiêm các đối tượng lợi dụng Internet, mạng xã hội đăng tải, chia sẻ các bài viết, video, hình ảnh có nội dung tuyên truyền, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với vấn đề Biển Đông. Thiết lập các trang mạng, tài khoản chính thống để huy động cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động trên internet và mạng xã hội tạo thành thế trận liên hoàn, sức mạnh tổng lực.

 


BÁC TRONG TRÁI TIM NGƯỜI DÂN NGA

 


 

Năm 1991, nước Nga đảo lộn. Nhân lúc hỗn loạn, có một số kẻ quá khích định phá bỏ Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh trên Quảng trường mang tên Bác ở Mátxcơva. 

Nghe tin, Chủ tịch Hội Hữu nghị Xô - Việt, Thượng tướng Gherman Titov cùng một nhóm những người bạn của Việt Nam đã tức tốc đến ngay hiện trường.

Ông đứng vào giữa những kẻ có dã tâm kia và bức tượng, phanh ngực áo quát: “Kẻ nào dám xâm phạm tượng của Người trước hết phải bước qua xác tao”. Sau đó ông và những người bạn của Việt Nam đã thay nhau túc trực bên tượng đài để ngăn chặn những kẻ quá khích.

Tôi đã hỏi đi hỏi lại người kể về xuất xứ câu chuyện thì được biết là ông nghe từ chính các vị lãnh đạo Hội Hữu nghị Nga-Việt và vợ của Titov trong một lần gặp ở Mátxcơva. Gặp bà Tamara ở Hạ Long, tôi kể lại câu chuyện và hỏi có đúng vậy không, bà xác nhận là từng có những kẻ cực đoan định làm vậy với tượng Bác Hồ, nhưng nhân dân đã đứng ra bảo vệ tượng Bác.

“Dưới sự lãnh đạo của Gherman Titov?” - Tôi hỏi. Bà Tamara đáp: “Thì là như vậy”. Trước đó, Titov cũng đóng vai trò quan trọng trong việc Mátxcơva có Quảng trường Hồ Chí Minh và Tượng đài Hồ Chí Minh.

Trên đây là câu chuyện truyền khẩu. Còn đây là tư liệu thành văn. Báo Văn hóa của Nga, số 10 năm 1991 đăng bài về chuyện có những thế lực âm mưu “di dời” tượng Bác, trong đó có đoạn: “Một mưu đồ đê tiện - phi công vũ trụ, Anh hùng Lao động Việt Nam Titov đã nhận định như vậy về kế hoạch của Hội đồng thành phố Mátxcơva chuyển tượng Hồ Chí Minh đi. 

G.Titov đã nhắc lại rằng, Hồ Chí Minh, ngoài chuyện là một lãnh tụ chân chính của nhân dân, một nhà tư tưởng, nhà thơ và con người với đạo đức cao thượng nhất còn là một người bạn lớn của Liên Xô, người có nhiều năm sống ở Mátxcơva. Việc di dời, theo ý kiến của Titov, sẽ gây tổn thất không thể đắp bù cho uy tín của Liên Xô ở Việt Nam và trên khắp thế giới”.

Cho đến nay, nhiều thứ ở nước Nga đã thay đổi tận gốc, nhưng tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh và quảng trường mang tên Người vẫn uy nghi ở Mátxcơva.

 

Bản án dành cho nhóm “Báo Sạch”

 


Trương Châu Hữu Danh cùng đồng phạm là những đối tượng đã có hành vi vi phạm pháp luật, lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân…

Cuối tháng 10 vừa qua, TAND huyện Thới Lai, TP Cần Thơ đã đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức cá nhân” đối với Trương Châu Hữu Danh và các đồng phạm. Các bị cáo bị truy tố gồm: Trương Châu Hữu Danh (39 tuổi, trú tại tỉnh Long An), Nguyễn Thanh Nhã (41 tuổi), Đoàn Kiên Giang (36 tuổi) (cùng trú tại TP.HCM), Nguyễn Phước Trung Bảo (39 tuổi, trú tại TP Đà Nẵng), Lê Thế Thắng (39 tuổi, trú tại Hà Nội).

Trong vụ việc này, TAND huyện Thới Lai (Cần Thơ) đã tuyên phạt các bị cáo là thành viên nhóm “Báo Sạch” tổng cộng 14 năm 6 tháng tù giam về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” theo khoản 2, Điều 331 Bộ Luật Hình sự. Ngoài ra, tòa còn tuyên phạt bổ sung cấm các bị cáo hoạt động trong lĩnh vực báo chí thời hạn 3 năm.

Sau khi 5 đối tượng thuộc nhóm “Báo Sạch” bị tuyên án, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ đã ra thông cáo, nêu ra những ý kiến thiếu khách quan, sai lệch về tự do báo chí ở Việt Nam, kêu gọi trả tự do cho "5 nhà báo này và tất cả những người bị giam giữ vô cớ”. Cái gọi là Tổ chức Phóng viên không biên giới cũng ra thông báo phản đối các bản án đối với nhóm “Báo Sạch”, vu cáo Việt Nam “gia tăng đàn áp truyền thông độc lập”.

Trước hết, cần phải khẳng định, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm bảo vệ và thúc đẩy các quyền cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin.

Tại Việt Nam, không ai bị bắt giữ và xét xử chỉ vì bày tỏ chính kiến hay bảo vệ nhân quyền. Chỉ có những đối tượng lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, vi phạm pháp luật; tung tin giả, tin xấu, độc hòng gây bất ổn tình hình đất nước, gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, gây hoang mang dư luận, phá hoại cuộc sống bình yên của Nhân dân... mới bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Thực tiễn diễn biến quá trình khởi tố bắt giam và phiên tòa xét xử các đối tượng vừa qua cho thấy rõ: Trương Châu Hữu Danh cùng đồng phạm là những đối tượng đã có hành vi vi phạm pháp luật, lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân... Những đối tượng này cần phải bị trừng trị thích đáng theo đúng quy định của pháp luật.

Hoạt động tác nghiệp của nhà báo, phóng viên phải phù hợp với tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí theo đúng quy định tại Luật Báo chí năm 2016. Quyền và nghĩa vụ của nhà báo được quy định tại Điều 25 Luật Báo chí 2016, trong đó tại Khoản 1, Điều 25 Luật Báo chí 2016 quy định rõ: "Nhà báo là người hoạt động báo chí được cấp thẻ nhà báo". Các đối tượng thuộc nhóm “Báo Sạch” đã bị tước thẻ nhà báo thì không thể hoạt động như một nhà báo thông thường, mọi hoạt động lấy danh nghĩa nhà báo đều là hành vi vi phạm các quy định của pháp luật.

Việc các đối tượng nhóm “Báo Sạch" bị khởi tố, đưa ra xét xử tại phiên tòa sơ thẩm vừa qua đã chứng minh rõ hoạt động của các đối tượng là vi phạm pháp luật, hoạt động của các đối tượng là tư lợi, xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, phá hoại lợi ích của nhân dân.

Hành vi vi phạm pháp luật của các đối tượng được thể hiện rõ với đầy đủ tài liệu chứng cứ. Căn cứ vào hồ sơ, kết quả thẩm tra, xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm xét xử bị cáo Trương Châu Hữu Danh cùng các đồng phạm, Hội đồng xét xử phiên tòa đánh giá việc truy cứu trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra đối với các bị cáo là đúng quy định của pháp luật.

Việc kêu gọi thả tự do cho các đối tượng là luận điệu tuyên truyền chống phá cách mạng Việt Nam, đi ngược lại với lợi ích của Nhà nước, của nhân dân./.NVS

 

Y tế phường

Bao nhiêu lần gia đình bạn có người bị ốm và tìm đến y tế phường? Dù đã có nhiều biện pháp, nhưng tỷ lệ lượt người sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại trạm y tế xã, phường rất thấp - chỉ 17,7% năm 2016, 15,9% năm 2018. Y tế cơ sở vẫn chưa thực hiện tốt việc quản lý sức khỏe cá nhân, tầm soát phát hiện bệnh sớm, quản lý bệnh, nhất là các bệnh mạn tính cho cộng đồng địa phương. Phát biểu khai giảng lớp nâng cao chuyên môn của nhân viên y tế Bình Dương trong điều trị người bệnh Covid-19 mới đây, tôi nhấn mạnh, không phải các trung tâm hồi sức Covid ở tuyến cuối là "chìa khoá" mà chính hệ thống y tế cơ sở cấp quận huyện, phường xã quyết định kết quả cuộc chiến với đại dịch. Chính các nhân viên y tế cơ sở sẽ không còn làm nhiệm vụ phát hiện, truy vết, khoanh vùng mà sẽ tham gia chẩn đoán, phân loại và điều trị sớm F0. Có như vậy, chúng ta mới yên tâm dần mở cửa, kinh tế mới phục hồi và xã hội sẽ bình an. Cải thiện năng lực y tế cơ sở là mắt xích quan trọng để giải quyết dần những khó khăn, bất cập của ngành Y. Thực ra, Bộ Y tế đã có đề án nâng cao năng lực y tế cơ sở. Mục tiêu của đề án, đến năm 2025, 100% số trạm y tế xã có đủ điều kiện khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế và thực hiện được đầy đủ các nội dung của chăm sóc sức khỏe ban đầu, thực hiện được tối thiểu 90% danh mục dịch vụ kỹ thuật của tuyến xã; 100% dân số được quản lý, theo dõi sức khỏe. Vậy nhưng một câu hỏi chưa có lời giải: làm cách nào để nâng cao chất lượng y tế cơ sở thực chất? Đại dịch như cơn lốc tràn qua, quét sạch cái vỏ "sơn son thếp vàng", bộc lộ những cái ruột vừa yếu về cơ sở vật chất và đặc biệt yếu về chuyên môn, con người. Nhìn vào số lượng, đúng là ta không thiếu các trạm y tế xã, phường, vì đây là tiêu chí bắt buộc của mỗi địa phương. Bệnh viện quận, huyện cũng được quan tâm đầu tư xây dựng ở những tỉnh thành có điều kiện. Tuy nhiên, việc đầu tư rất hình thức. Xây nhà to đẹp, vị trí cũng đắc địa, nhưng cái ruột chẳng có gì. Tôi đã thăm rất nhiều trạm y tế xã. Với những câu hỏi đơn giản như "Cấp cứu ngừng tuần hoàn, sốc phản vệ thế nào cho đúng cách?", câu trả lời tôi nhận được thường là những nụ "cười trừ" hoặc sai bét. Gần như 100% các trạm y tế đều không có máy shock điện, một phương tiện mà chúng ta có thể bắt gặp ở nhiều địa điểm công cộng tại các nước phát triển. Chính vì những nguyên nhân tưởng như rất nhỏ mà các trạm y tế xã, phường cuối cùng chỉ làm nhiệm vụ tiêm chủng, chữa cảm cúm, khâu vết thương và phát thuốc tăng huyết áp, đái tháo đường, động kinh... Ngày thường, nhân viên khá nhàn rỗi, nhưng khi dịch xảy ra lại là nơi vất vả nhất với trăm việc đổ lên đầu và rối như canh hẹ, vì cấp nào cũng chỉ đạo được cái trạm y tế với nhúm người chẳng ra chuyên môn cũng không phải công chức nhà nước. Dài dòng vậy để ta cùng hiểu, từ chủ trương đến thực sự bắt tay vào xây dựng cải tổ hệ thống y tế cơ sở là quãng đường dài và rất nhiều chông gai. Tôi thấy hai yếu tố rõ ràng là mục tiêu cần thay đổi. Thứ nhất là cơ sở vật chất, trang thiết bị, thuốc men. Thứ hai, nhưng quan trọng hơn, là thay đổi con người. Y tế cơ sở cũng cần hai công cụ để đạt được mục tiêu đó là chính sách và tiền bạc. Về cơ sở vật chất, một cuộc tổng rà soát cấp quốc gia hệ thống y tế quận huyện, xã phường; đưa ra danh mục trang thiết bị thuốc men, kỹ thuật thực hiện dựa vào mô hình bệnh tật hiện nay là cấp thiết. Cơ chế đấu thầu thuốc cho hệ thống này cũng cần thay đổi, đặc biệt với những thuốc dành cho bệnh mạn tính để chấm dứt tình trạng mỗi tháng mỗi loại thuốc khác nhau cho một bệnh nhân tăng huyết áp thông thường. Hệ thống công nghệ thông tin y khoa rất cần ưu tiên đầu tư đến tận cấp xã, phường, đồng thời đồng bộ dữ liệu ít nhất trong phạm vi một tỉnh để liên thông các kết quả xét nghiệm. Tiền ở đâu ra? Nguồn tiền đầu tư nằm trong chương trình mục tiêu quốc gia, được coi là tiêu chí đánh giá phát triển của địa phương. Muốn vậy, ta phải xác lập lại cơ chế hoạt động của các trạm y tế xã phường, coi chúng như các phòng khám chịu quản lý trực tiếp cả về hành chính lẫn chuyên môn của trung tâm y tế quận, huyện. Các bác sĩ, điều dưỡng có thể luân chuyển giữa những cơ sở y tế này. Con người quan trọng nhất nhưng cũng vô cùng khó khăn. Đã quá lâu, chúng ta không chú trọng và ngủ quên trên chiến thắng khi đã có những thành công nhất định của hệ thống y tế công cộng trong quá khứ. Dự phòng là mục tiêu quan trọng nhưng chữa bệnh cũng cần được coi là chìa khoá để y tế cơ sở có đủ sức tồn tại và phát triển trong kinh tế thị trường hôm nay. Tôi khuyến nghị những thay đổi sau: Thứ nhất, luật pháp có cơ chế bảo vệ nhân viên y tế trước nạn hành hung không có xu hướng giảm những năm qua. Trường hợp vị công an rút súng dọa nhân viên y tế ở Lâm Đồng mới đây là ví dụ điển hình về sự yếu thế của y tế cơ sở Việt Nam. Chế tài nghiêm khắc là nhiệm vụ của các cấp chính quyền. Thứ hai, ngành chủ quản thiết lập hệ thống đào tạo liên tục cho nhân viên y tế, coi như điều kiện cần để họ tiếp tục hành nghề, tổ chức một cách thuận tiện, nghiêm túc. Telehealth là một giải pháp đã chứng minh hiệu quả trong thời gian qua, tạo hành lang pháp lý để y học từ xa vươn đến mọi trạm y tế xã, phường. Công nghệ thông tin hướng tới chăm sóc sức khỏe đến tận các hộ dân, y tế cơ sở vì thế không thể nằm ngoài xu thế. Cuối cùng, nhanh chóng sửa đổi Luật Khám chữa bệnh nhằm nâng cao vai trò của y tế cơ sở. Theo đó, bãi bỏ những quy định phân tuyến phi khoa học như: theo hạng bệnh viện chỉ được dùng thuốc, làm dịch vụ, thủ thuật mức độ nhất định, không hạn chế phạm vi hoạt động của nhân viên y tế, chỉ cần đánh giá đủ điều kiện vật chất và con người là có thể cho phép các trạm y tế tiến hành các thủ thuật, các phương pháp điều trị dưới sự giám sát chặt chẽ của bệnh viện quận, huyện. Tương tự, ở cấp cao hơn, bệnh viện, trung tâm y tế quận huyện sẽ là cánh tay nối dài của các bệnh viện tỉnh, thành. Với chỉ đạo tuyến thông suốt, việc phân khúc điều trị sẽ là một hệ thống mềm, uyển chuyển không cứng nhắc duy ý chí. Tôi không thể không nhắc đến thu nhập của nhân viên y tế cơ sở. Với thu nhập dưới mức trung bình hiện nay, chắc chắn không một bác sĩ nào dù mới ra trường lại chọn y tế xã, phường làm nơi bắt đầu sự nghiệp. Một chiến sĩ công an có thể phấn đấu từ cảnh sát khu vực trở thành vị tướng quyền uy, nhưng một bác sĩ phường, xã khó bao giờ tiến dần đến những vị trí đầu ngành. Đơn giản, vì muốn nâng cao tay nghề cũng như danh tiếng, nhân viên y tế rất cần phương tiện khám chữa bệnh, nghiên cứu khoa học và đặc biệt là được thực hành thường xuyên với những ca bệnh phức tạp. Đã khó phát triển về chuyên môn lại thu nhập "ba cọc ba đồng", thà bỏ nghề chứ ít bác sĩ muốn bám trụ ở trạm y tế xã. Bằng chứng là hơn một nửa số trạm y tế xã, phường ở TP HCM chưa có trưởng trạm. Hay huyện Phù Mỹ, Bình Định, nơi tôi ứng cử đại biểu Quốc hội, nhiều năm nay không tuyển nổi bác sĩ trẻ phần nhiều vì những lý do này. Các bác sĩ ở các trạm y tế xã hầu hết đã trên tuổi 50. Giải pháp tình thế "hỗ trợ năm triệu đồng mỗi tháng để giữ chân nhân viên y tế" đã được đề xuất lên Hội đồng Nhân dân TP HCM. Tuy nhiên, theo tôi, đó chỉ là bước tạm thời. Chỉ khi các trạm y tế đơn sơ được "biến" thành phòng khám thuộc bệnh viện tuyến trên, phát triển dịch vụ y tế hiện đại, quản lý chăm sóc được bệnh mạn tính, ứng dụng công nghệ điều trị tại nhà, nhân viên y tế mới có động lực để làm việc và đạt thành quả xứng đáng với thu nhập của mình. Rất mong sau đại dịch không thể nào quên này, mọi nhà đều biết địa chỉ của trạm y tế gần nhất.

Di sản giả, phồn vinh giả?

Đà Lạt với tôi không chỉ là đô thị nghỉ dưỡng thơ mộng mà kiến trúc sư nào đến đây cũng muốn góp phần tô điểm, đây còn là quê ngoại - nơi sống và làm việc của ông bà ngoại, cha mẹ và bà con, bạn bè của tôi. Được xây dựng từ cuối thế kỷ 19, theo thời gian, đô thị cao nguyên này đã hình thành hai khu trung tâm rõ rệt: Khu phố Pháp dọc theo trục đường Yersin (nay là Trần Phú) và khu phố Việt nối liền khu Hòa Bình và Ấp Ánh sáng, nay trở thành hai khu trung tâm di sản. Khu trung tâm Hòa Bình của Thành phố Đà Lạt có vị trí phía tây bắc Hồ Xuân Hương, với tổng diện tích 30 ha, thuộc phần lõi Khu đô thị trung tâm lịch sử của Đà Lạt. Khu Hòa Bình được chỉnh trang kể từ quy hoạch của hai kiến trúc sư Louis Georges Pineau năm 1933 và Jacques Lagisquet năm 1943, cho đến "Quy hoạch chỉnh trang trung tâm khu Hòa Bình" năm 1960 của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, cha tôi. Năm 2014, quy hoạch điều chỉnh Đà Lạt của kiến trúc sư Thierry Huau đưa ra tầm nhìn vùng, khuyến khích phát triển các khu đô thị mới ra ngoại vi Đà Lạt, phát triển đô thị vệ tinh trong khi bảo vệ bản sắc di sản lịch sử của khu đô thị trung tâm. Đồ án được Thủ tướng phê duyệt cùng năm đó, còn gọi là Quy hoạch 704, ghi rõ: Cấu trúc đô thị Đà Lạt bao gồm bốn khu vực: Khu đô thị trung tâm lịch sử (gồm khu Hòa Bình), khu đô thị nông nghiệp sạch phía Bắc, các khu đô thị phát triển mở rộng phía Đông và phía Tây. Khu đô thị trung tâm lịch sử - có chữ "lịch sử", tức là phải được chỉnh trang theo hướng bảo tồn, bảo vệ di sản và không gian di sản, không cho phép xây nhà cao tầng, tăng cây xanh, cải thiện hạ tầng. Vì thế, tôi không khỏi trăn trở khi chứng kiến sự chuyển hướng phát triển của Đà Lạt. Nhà đầu tư đã tài trợ một dự án quy hoạch khu Hòa Bình theo hướng tư duy địa ốc: cao tầng và hiện đại hóa, đi kèm là khách sạn 10 tầng trên đồi Dinh, đều là những dự án tác động vào công trình di sản và thu hẹp đáng kể diện tích xanh hiếm hoi còn lại của khu vực. Khác với tư duy quy hoạch kiến trúc theo hướng bảo tồn di sản, tư duy địa ốc thường ưu tiên tối đa hóa lợi ích của nhà đầu tư. Trong khi, khu Hòa Bình xứng đáng được ưu tiên bảo vệ di sản và không gian xanh công cộng, chỉnh trang theo hướng hài hòa lợi ích chung của người dân, doanh nghiệp. Việc cổ xúy cho những dự án theo tư duy địa ốc có thể làm Đà Lạt biến thành một đô thị với di sản giả, phồn vinh giả. Thứ nhất, về tác động pháp lý, Quyết định 229 năm 2019 của UBND tỉnh Lâm Đồng phê duyệt quy hoạch cho khu Hòa Bình theo tư duy dự án địa ốc là sai với Quy hoạch chung Thành phố Đà Lạt do Thủ tướng phê duyệt theo Quyết định 704 năm 2014. Theo quy hoạch này, khu phố Việt di sản Hòa Bình nằm trong Vùng I - Khu đô thị trung tâm lịch sử (mục 6c), là vùng phải ưu tiên bảo tồn di sản. Trong đó, khu đồi Dinh được quy hoạch là "đất trung tâm văn hóa" công cộng phục vụ cộng đồng. Giờ đây, Quy hoạch 229 lại cho phép phá bỏ rừng cây và xâm hại di sản Dinh Tỉnh trưởng để chuyển thành "đất dự án khách sạn và dịch vụ thương mại", tức thay đổi về mục đích sử dụng đất, trong khi khu vực không có đủ không gian xanh. Thứ hai, về tác động kiến trúc cảnh quan, định hướng sai dẫn đến cả ba đề xuất kiến trúc trên cơ sở quy hoạch đó sai theo, vì đều xâm hại giá trị di sản kiến trúc và di sản thiên nhiên. Thứ ba, về tác động văn hóa lịch sử, dự án sẽ xóa bỏ giá trị lịch sử độc đáo của khu di sản phố Việt, cao tầng hóa khu Hòa Bình, trong khi lại bảo tồn khu di sản phố Pháp. "Giải pháp" đưa Dinh Tỉnh trưởng lên cao độ 28 mét để xây khách sạn 10 tầng bên dưới đồng nghĩa với việc phá hỏng một di sản thật để làm một "di sản" giả trên cao. Thay đổi này sẽ không giữ được giá trị nguyên bản về quy hoạch tổng thể, kiến trúc kết cấu gạch với cảnh quan rừng cây bao quanh và ý nghĩa văn hóa của không gian công cộng này trong lòng người dân. Thứ tư, về tác động môi trường, dự án trên đề xuất: Chặt cổ thụ trên đồi Dinh để xây khách sạn 10 tầng; chặt nhiều cây lớn để xây dựng một quảng trường lớn bê tông hóa; xây nhiều công trình bọc kính với điều hòa không khí; khuyến khích giao thông cá nhân thông qua việc mở rộng đường, tăng mạnh diện tích bãi xe ngầm,... Các đề xuất này không chỉ giảm mạnh không gian xanh mà còn làm gia tăng kẹt xe, tăng nhiệt độ môi trường, giảm độ ẩm, mất sương mù và tăng nguy cơ ngập đô thị. Thứ năm, về tác động kinh tế, đề xuất cao tầng hóa khu Hòa Bình theo dự án địa ốc trên đòi hỏi nguồn vốn đầu tư ngoại tỉnh rất cao, làm tăng mức độ lệ thuộc kinh tế của địa phương; tăng áp lực lên ngân sách công của tỉnh do phải chi cho đền bù giải tỏa, đầu tư nâng cấp hạ tầng để phục vụ việc gia tăng mạnh diện tích sàn xây dựng. Nó còn làm nguồn thu ngân sách địa phương không cao sau khi trừ đi chi phí đền bù giải tỏa, đầu tư hạ tầng và các chi phí khác trong khi lợi ích chủ yếu thuộc về nhà đầu tư. Nó gây tăng áp lực cạnh tranh dịch vụ thương mại đối với tiểu thương và doanh nghiệp nhỏ tại chợ Đà Lạt và khu Hòa Bình, có thể làm tăng nguy cơ phá sản cho họ. Hình ảnh cao tầng hiện đại tương lai khu Hòa Bình mà nhà đầu tư đang quảng bá sẽ phù hợp hơn ở khu đô thị mới ngoại vi, còn áp đặt lên trung tâm chỉ đem lại "phồn vinh giả tạo", hào nhoáng bên ngoài. Thứ sáu, về tác động xã hội, cao tầng hóa khu di sản phố Việt sẽ xóa bỏ những giá trị bản sắc đã giúp kết nối những người yêu Đà Lạt, làm cho họ cảm thấy xa lạ, ít gắn bó hơn với Đà Lạt, chưa kể không gian xanh và văn hóa công cộng miễn phí cho dân chúng bị chuyển sang không gian dịch vụ thương mại tư nhân có thu tiền. Phần lớn ý kiến phản biện của các chuyên gia trên nhiều kênh, tại các khảo sát điều tra và hội thảo khoa học hai năm qua, đều cho rằng giải pháp quy hoạch kiến trúc theo tư duy bảo tồn và chỉnh trang Đà Lạt đem lại nhiều lợi ích hơn. Trong hai cuộc bình chọn vừa diễn ra, trên 3.000 độc giả của VnExpress (hơn 90%) cho biết "muốn giữ nguyên hiện trạng", không muốn nâng Dinh Tỉnh trưởng lên 28 mét để xây khách sạn 10 tầng bên dưới, và trên 450 độc giả của báo Tuổi Trẻ (hơn 97%) cho biết muốn "giữ nguyên, tôn tạo khu đồi Dinh để làm công trình công cộng". Cho tới hôm nay, chỉ hơn chục chuyên gia ủng hộ cho giải pháp xây khách sạn 10 tầng, trong khi 77 kiến trúc sư đã ký kiến nghị gửi tỉnh Lâm Đồng, Bộ Xây dựng và Thủ tướng đề nghị đánh giá lại tính hợp pháp của quy hoạch khu trung tâm Hòa Bình, bày tỏ lo ngại về việc xâm hại di sản văn hóa và thiên nhiên của quy hoạch, chưa kể vài trăm bài viết của các chuyên gia đầu ngành ủng hộ tư duy bảo tồn và chỉnh trang khu vực. Kiến nghị trên từ tháng 4/2019 cho tới nay chưa nhận được phản hồi của tỉnh Lâm Đồng. Lãnh đạo Đà Lạt vẫn chưa đưa ra chủ trương muốn nghiên cứu đồi Dinh và khu Hòa Bình theo giải pháp quy hoạch kiến trúc bảo tồn, chỉnh trang để so sánh một cách khoa học, công khai minh bạch với giải pháp quy hoạch kiến trúc dự án địa ốc trước khi đưa ra quyết định cuối cùng cho số phận di sản này. Sapa là bài học nhãn tiền cho thấy tác hại của chủ trương cao tầng hóa và bê tông hóa lên di sản quy hoạch kiến trúc và di sản thiên nhiên của một thành phố nghỉ dưỡng. Thế giới đã có nhiều bài học thành công lớn về kinh tế, văn hóa và xã hội của giải pháp quy hoạch bảo tồn, chỉnh trang giúp trung tâm di sản trở thành khu đi bộ nổi tiếng như làng nghệ sĩ Greenwich (New York, Mỹ), khu phố cổ Montreal và phố cổ Quebec (Canada), khu đồi Montmartre (Paris, Pháp), khu phố chợ Pike Place (Seattle, Mỹ)... mà Đà Lạt có thể học hỏi. Nếu để chuyện đã rồi, quyết định sai lầm sẽ gây những tác hại không thể sửa chữa cho tương lai Đà Lạt.

Hà Nội giám sát chặt F1 cách ly tại nhà

Chính quyền phường ở thủ đô dựng rào chắn, đặt biển báo và bố trí người giám sát suốt 24h hàng ngày với những người cách ly tại nhà. Chiều 16/11, chị Thu, 49 tuổi, một F1 ở đường Lương Thế Vinh, phường Trung Văn, quận Nam Từ Liêm (Hà Nội) đặt shipper giao thực phẩm, chuẩn bị cơm tối. Túi thực phẩm bọc kín đặt trên ghế ngoài hàng rào sắt, phía trên treo biển "điểm cách ly y tế" và lịch trực của 10 thành viên tổ Covid cộng đồng, cảnh sát khu vực. Một thành viên của tổ Covid cộng đồng phường Trung Văn xịt khử khuẩn, sau đó đứng xa 5 m, gọi điện để chị Thu ra lấy đồ. Ngôi nhà bốn tầng của chị Thu có mặt sàn rộng hơn 160 m2, chia thành 7 phòng riêng, là nơi sinh sống của 6 người trong gia đình. Thành viên tổ Covid cộng đồng phường Trung Văn, quận Nam Từ Liêm khử khuẩn đồ tiếp tế cho một gia đình F1 cách ly tại nhà ở đường Lương Thế Vinh chiều 16/11. Ảnh: Tất Định. Thành viên tổ Covid cộng đồng phường Trung Văn, quận Nam Từ Liêm khử khuẩn đồ tiếp tế cho một gia đình F1 cách ly tại nhà ở đường Lương Thế Vinh, chiều 16/11. Ảnh: Tất Định. 10 ngày trước, con trai của chị Thu xét nghiệm dương tính với nCoV sau khi trở về từ TP HCM, được đưa vào bệnh viện điều trị. Lực lượng liên ngành phường Trung Văn đã đến điều tra dịch tễ, gia đình chị có bố mẹ trên 70 tuổi (đã tiêm hai mũi vaccine) và cháu nhỏ 7 tuổi, đủ điều kiện để cách ly tại nhà. Đây cũng là điểm cách ly y tế tại nhà đầu tiên của phường Trung Văn. "Tôi vẫn có thể làm việc trực tuyến, kèm cặp cháu học và chăm sóc bố mẹ. Sinh hoạt của gia đình không nhiều xáo trộn. Tôi thấy cách ly tại nhà như thế này an toàn hơn đi cách ly tập trung", chị Thu nói. Ông Nguyễn Đắc Long, Chủ tịch UBND phường Trung Văn, đánh giá mô hình cách ly y tế tại nhà giúp tránh được tâm lý hoang mang cho người bệnh, người nhà, giảm tải cho điểm cách ly tập trung. Để thực hiện tốt mô hình này cần có sự đồng thuận của người dân trong khu vực. Việc cử người giám sát, hỗ trợ F1 suốt 24h trong ngày là bắt buộc để đảm bảo an toàn cho cộng đồng. Tuy nhiên, việc này cũng gây áp lực rất lớn cho lực lượng phòng chống dịch cơ sở. "Ngoài việc giám sát F1, chúng tôi phải chia người thực hiện các nhiệm vụ khác như tiêm vaccine, khoanh vùng điều tra dịch tễ. Khi số F1 cách ly tại nhà tăng lên sẽ là thách thức lớn cho chính quyền địa phương", ông Long nói và cho hay hiện cán bộ, nhân viên phường có hơn 20 người, trong suốt đợt dịch họ phải kiêm nhiệm nhiều vị trí. Phường Quang Trung có số F1 đang được cách ly tại nhà nhiều nhất của quận Hà Đông với 17 người. Suốt 10 ngày qua, ông Trương Trung Lễ, Tổ trưởng dân phố 12 (phường Quang Trung), cùng công an thường xuyên kiểm tra khu vực có nhà một F1 trong tổ dân phố để nhắc nhở. Trước cửa nhà, lực lượng chức năng giăng dây, đặt biển ghi dòng chữ khu vực phong tỏa. Bên trong, những người cách ly sinh hoạt bình thường, mọi yêu cầu về nhu yếu phẩm được đáp ứng. "Tôi nghĩ cách ly F1 tại nhà rất phù hợp, những trường hợp đủ điều kiện nên khuyến khích áp dụng. Nhưng điều này còn phải phụ thuộc vào sự quản lý của tổ dân phố có tốt hay không", ông Trương Trung Lễ nói. Theo ông Hoàng Văn Tám, Chủ tịch UBND phường, cách đây 10 ngày, các F1 trên địa bàn đều phải đi cách ly tập trung, nhưng quận chưa chuẩn bị xong địa điểm. "Lúc đầu chúng tôi cũng muốn chuyển F1 đi cách ly tập trung, nhưng đến nay khi áp dụng cách ly tại nhà, áp lực không còn lớn khi tất cả đều đã âm tính hai lần", ông Tám cho hay. Trong các F1 cách ly tại nhà ở phường Quang Trung, có một số phụ nữ mang thai, gia đình có con nhỏ... "Quá trình cách ly 17 F1 tại nhà, hàng ngày chúng tôi cử cán bộ y tế xuống kiểm tra, tư vấn, thu gom rác thải", ông Tám nói. Tại quận Hà Đông, bà Lê Thị Thanh Bình - Trưởng phòng Y tế quận, cho biết thời gian qua quận vẫn đưa F1 đi cách ly tập trung, song nhóm người cao tuổi, phụ nữ có thai và trẻ em được tạo điều kiện cách ly tại nhà. "Những người có bệnh nền, nhưng gia đình không đủ điều kiện về cơ sở vật chất thì vẫn phải đi, trừ trường hợp thật sự đặc biệt", bà Bình cho biết. Ông Trương Kỳ Phong, Giám đốc Trung tâm Y tế quận Hà Đông, thông tin thêm trên địa bàn quận hiện có khoảng 70 F1 cách ly tại nhà, trải rộng gần như ở tất cả các phường. Quận triển khai thí điểm cách ly F1 tại nhà được khoảng một tuần. Hiện quận Hà Đông sử dụng khu ký túc xá Trường Đại học Đại Nam, phường Phú Lãm, làm nơi cách ly tập trung F1 với quy mô tối đa 320 người. Toàn quận có 3 khu dân cư cách ly y tế gồm tầng 7, chung cư HH2H Xuân Mai (phường Yên Nghĩa), tổ dân phố 3 (phường Yên Nghĩa) và khu đất dịch vụ Cây Quýt, Tổ dân phổ 5 (phường La Khê). Theo ông Khổng Minh Tuấn, Phó giám đốc Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) Hà Nội, một số quận, huyện đã bắt đầu cách ly tại nhà F1 thuộc 4 nhóm: Người già, người có bệnh nền, trẻ em, phụ nữ mang thai nếu đảm bảo đủ các điều kiện về cơ sở vật chất. Điều kiện là gia đình F1 phải có phòng riêng, nhà vệ sinh riêng, có người chăm sóc, thu gom, xử lý rác thải. Các F1 cách ly tại nhà sẽ được xét nghiệm Covid-19 định kỳ. Ngoài ra, ông Tuấn cũng cho biết, UBND TP Hà Nội cũng vừa đồng ý cho phép 12 khách sạn được tiếp nhận cách ly F1 do người cách ly tự nguyện chi trả phí (áp dụng từ 15/11). Các khách sạn gồm: Hòa Bình; Mường Thanh Hà Nội Grand Centre; Sofitel Legend Metropole HaNoi; Silk Path Hà Nội; Hilton Garden Inn; Hilton Hanoi Opera; Bình An 1; Bình An 2; Bình An 3; Grand Vista; Lake Side; Mường Thanh Grand Xa La. Chiều 16/11, Chủ tịch Hà Nội Chu Ngọc Anh ký ban hành công điện số 23 về tiếp tục triển khai các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19. Thành phố tiếp tục cách ly tập trung F1 (14 ngày) và thí điểm cách ly tại nhà đối với các trường hợp đủ điều kiện theo quy định của Bộ Y tế và hướng dẫn của Sở Y tế. Trường hợp không đủ điều kiện cách ly tại nhà, thành phố yêu cầu bắt buộc cách ly tập trung hoặc tự nguyện cách ly tại khách sạn (cam kết chi trả kinh phí). Thời gian thí điểm đến khi có thông báo mới của thành phố. Một tuần qua, bình quân mỗi ngày Hà Nội ghi nhận hơn 60 F0. Toàn thành phố có 14 chùm ca bệnh và vẫn còn hơn 120 điểm phong tỏa phòng, chống Covid-19. Trung tâm kiểm soát bệnh tật Hà Nội dự báo, số ca F0 phát sinh trong những ngày tới sẽ tiếp tục tăng cao do các nguồn lây đã tồn tại trong cộng đồng và nhiều người dân trở về từ các địa phương có dịch. Cộng dồn số mắc tại Hà Nội trong đợt dịch thứ 4 là 6.481 ca, trong đó số ghi nhận ngoài cộng đồng 2.346, số mắc đã được cách ly 4.135.

Nhận diện các quan điểm sai trái, thù địch và định hướng giải pháp đấu tranh của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay

Nhận diện các quan điểm sai trái, thù địch và định hướng giải pháp đấu tranh của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay V.I.Lênin đã từng khẳng định: Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng và “chỉ đảng nào được một lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiền phong” . Với bản chất khoa học và cách mạng của mình, kể từ khi ra đời cho đến nay, chủ nghĩa Mác – Lênin đã trở thành nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho giai cấp vô sản và những người cộng sản trên thế giới. Đảng ta, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) được thông qua tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI cũng lại một lần nữa khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động” . Đảng Cộng sản Việt Nam, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng đã luôn nhấn mạnh vị trí, vai trò của công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, coi đó là một bộ phận quan trọng trong công tác tư tưởng, lý luận của Đảng. Chính vì vậy, ngày 22-/10/2018, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị, về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Nghị quyết nêu rõ: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là bảo vệ Ðảng, bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối lãnh đạo của Ðảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Ðó là nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân, trong đó các cơ quan báo chí tuyên truyền các cấp là nòng cốt; là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị – xã hội các cấp; của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, của cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu… 1. Nhận diện các quan điểm sai trái, thù địch. a. Nhận thức về quan điểm sai, trái, thù địch. Quan điểm sai trái là sự nhìn nhận lệnh lạc, phiến diện, không đúng với sự thật; xa lạ, đi ngược, đi chệnh với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, truyền thống, thuần phong mỹ tục của dân tộc. Quan điểm thù địch là các quan điểm sai trái được nâng lên thành lý luận, quan điểm để kích động chống Đảng, chống chế độ. b. Các cấp độ của quan điểm sai trái, thù địch. - Cấp độ cao nhất, nguy hiểm nhất. Phủ định sạch trơn toàn bộ nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Quan điểm này cho rằng không có chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, khẳng định những điều này trong Cương lĩnh của Đảng là ảo tưởng. - Cấp độ trung bình. Phủ định một phần, chấp nhận một phần nào đó chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. - Cấp độ thấp. Cơ bản tán đồng chủ trương, Nghị quyết của Đảng nhưng khi diễn đạt trên diễn đàn lại phủ định, nhất là phủ định các thành tựu; lồng ghép ý kiến chủ quan của cá nhân vào, đặc biệt là các ý kiến phê phán, phản bác, gây phân tâm, nghi ngờ cho người nghe hoặc nói thì tán đồng Nghị quyết, nhưng trong thực hành thì làm ngược lại… c. Đặc điểm của quan điểm sai trái, thù địch. Quan điểm sai trái, thù địch thường có các đặc điểm như sau: Thứ nhất, thể hiện cách nhìn phiến diện, một chiều, bị chệnh hoặc đi ngược lại với nhận thức chung, với quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Thứ hai, con đường hình thành có thể do ngộ nhận, cũng có thể là sự chuyển biến về tư tưởng một cách tức thì, nhanh chóng do một vấn đề nào đó mới phát sinh tác động đến tư tưởng, tình cảm, hoặc là kết quả của quá trình tư duy lệch lạc, bức xúc cá nhân trong thời gian dài. Thứ ba, có sự ảnh hưởng, tác động khác nhau. Nếu là quan điểm sai trái thì chỉ dừng ở mức độ cá nhân, nhỏ. Nhưng nếu cá nhân tìm cách truyền bá rộng rãi các quan điểm sai trái đó để tạo thành quan điểm thù địch với Đảng, Nhà nước thì mức độ ảnh hưởng là rất lớn. d. Các dạng quan điểm sai trái, thù địch. Một là, phủ nhận các luận điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Để bác bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị trong và ngoài nước tung ra các luận điệu sau: - Chủ nghĩa Mác – Lênin đến nay đã lỗi thời. Họ cho rằng, cứ xem là chủ nghĩa Mác – Lênin đúng, nhưng chỉ đúng ở thời điểm cách đây hơn 100 năm, chỉ phù hợp với một chừng mực nào đó với trình độ lực lượng sản xuất và văn hóa của nước Nga, không phù hợp với thế kỷ XXI. Đây cũng là học thuyết ngoại lai, bắt nguồn từ phương Tây nên không phù hợp với Việt Nam. - Phủ định các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin. Họ cho rằng, học thuyết về hình thái kinh tế – xã hội của C.Mác là sai lầm, lỗi thời, là một lý thuyết về chủ nghĩa xã hội không tưởng, không bao giờ thực hiện được; sự sụp đổ chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu, Liên Xô là một tất yếu, được dự báo trước. Họ cũng cho rằng, học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác đã lỗi thời, chủ nghĩa tư bản hiện đại đã thay đổi bản chất, không còn là chế độ bóc lột nữa… - Nghi ngờ, bác bỏ thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Họ cho rằng, Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là trái với tự nhiên và quy luật khách quan, là duy ý chí. Từ đó, việc xác định thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là phi thực tế, cần phải bị xóa bỏ. - Phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh, tìm cách hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh. Họ cho rằng, Hồ Chí Minh chỉ là người tiếp thu mù quáng chủ nghĩa Mác – Lênin chứ không hề có tư tưởng cao siêu Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh là người dân tộc chủ nghĩa, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm phương tiện; đưa chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam là một sai lầm lịch sử. Từ đó, họ cho rằng Việt Nam nên có tư tưởng mới, khác với cả chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vì thời cuộc đã khác, điều kiện đã khác. Hai là, xuyên tạc, phủ định các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Các thế lực thù địch tung ra các luận điểm xuyên tạc sau: - Về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Họ ra sức phủ nhận mục tiêu, lý tưởng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, phê phán triệt để, bôi đen chủ nghĩa xã hội hiện thực, bác bỏ con đường xã hội chủ nghĩa, công khai ca ngợi con đường tư bản chủ nghĩa. - Về Đảng cầm quyền. Để xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, họ đòi bác bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng được ghi trong Điều 4 Hiến pháp; kiến nghị đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng “Đảng chỉ nên lãnh đạo tư tưởng, đạo đức, lối sống và định hướng chung chung”, “không lãnh đạo kinh tế, văn hóa, không lãnh đạo lực lượng vũ trang”… vì đó là công việc của Nhà nước. - Về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các thế lực thù địch cho rằng, “đường lối phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là chắp vá, không tưởng. Việt Nam hiện nay đang đứng ở ngã ba đường, không biết đi theo con đường nào. Nếu không hòa nhập vào thời đại, đi theo con đường tư bản chủ nghĩa thì sẽ bị trả giá, tự giác thì sẽ đến đích nhanh hơn, không tự giác thì tất yếu cũng phải đi theo con đường đó, nhưng đến đích đau đớn hơn, chậm chạp hơn”. Họ phủ nhận mối quan hệ giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; phủ nhận vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. - Về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Họ cho rằng, sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu đã chứng minh rằng: sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân đã kết thúc. - Về vấn đề dân chủ, nhân quyền. Họ tìm cách tuyên truyền vu cáo Việt Nam vi phạm “dân chủ, nhân quyền”, bắt giữ “những tiếng nói dân chủ”, kêu gọi sự can thiệp của nước ngoài về vấn đề “dân chủ, nhân quyền” ở Việt Nam; tuyên truyền Việt Nam vi phạm chính sách tự do, tôn giáo, đàn áp tôn giáo, kích động tổ chức biểu tình; tăng cường tài trợ các dự án thúc đẩy hình thành xã hội dân sự. - Về quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Họ cho rằng, quân đội và công an chỉ làm nhiệm vụ bảo vệ đất nước và an ninh, trật tự xã hội, không nên bị chi phối bởi chính trị. Nhiệm vụ cao nhất, duy nhất của quân đội và công an là bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Nhân dân, không phải là bảo vệ Đảng, chế độ, do vậy cần phi chính trị hóa quân đội và công an. Họ còn xuyên tạc quan điểm đối tác, đối tượng; tìm cách chia rẽ mối quan hệ truyền thống giữa Việt Nam với các nước láng giềng, triệt để lợi dụng vấn đề biên giới, lãnh thổ để chống phá. Ba là, phủ định các giá trị lịch sử của dân tộc và những thành quả của cách mạng. - Các thế lực thù địch tuyên truyền phủ nhận sự lựa chọn tất yếu của lịch sử và tính chính nghĩa của cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, tìm cách đánh đồng những chiến sỹ cách mạng hy sinh vì chính nghĩa với những kẻ làm tay sai, bán nước. - Chê bai, phủ nhận những thành quả mà Đảng và Nhân dân ta đã nỗ lực phấn đấu đạt được trong hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nhưng lại ra sức xuyên tạc hoặc lờ đi về những thành tựu đạt được. Bốn là, xuyên tạc, bóp méo các sự kiện chính trị, các vụ việc phức tạp, nhạy cảm. - Xuyên tạc, bóp méo những chủ trương, chính sách, những văn bản ký kết của Đảng và Nhà nước với một số nước để kích động, hạ thấp uy tín của Đảng và Nhà nước ta. - Lợi dụng những sơ hở của chính sách để kích động, lôi kéo, chống phá nhằm hạ uy tín của Đảng, Nhà nước, làm giảm niềm tin của Nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của Nhà nước. - Lợi dụng các sự kiện nhạy cảm, nhất là các sự kiện liên quan đến các vấn đề phân định biên giới, lãnh thổ, các vấn đề tranh chấp Biển Đông; những vấn đề liên quan đến đầu tư, ô nhiễm môi trường… để kích động gây mất ổn định chính trị, xã hội. Năm là, hạ bệ thần tượng; bôi nhọ, nói xấu lãnh đạo Đảng và Nhà nước qua các thời kỳ. Các thế lực thù địch tấn công vào đời tư của lãnh tụ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước; xuyên tạc, chia rẽ mối quan hệ giữa các đồng chí lãnh đạo; xuyên tạc, bóp méo những quyết định của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước qua các thời kỳ để hạ uy tín, phủ nhận bản chất của Đảng và Nhà nước ta. 2. Dự báo tình hình và định hướng một số giải pháp đấu tranh của Đảng ta trong thời gian tới. a. Dự báo tình hình. Trong thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực và trong nước còn diễn biến phức tạp. Đối với sự nghiệp cách mạng của nước ta, bên cạnh những thuận lợi là cơ bản, đã và sẽ còn có diễn biến khó lường với nhiều khó khăn, thách thức mới. Các thế lực thù địch sẽ triệt để lợi dụng mọi phương tiện để chống phá thông qua việc đẩy mạnh “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ… Đặc biệt, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ, không gian mạng sẽ trở thành một bộ phận cấu thành thiết yếu và đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia, dân tộc. Chính vì vậy, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã, đang và sẽ tập trung dùng Internet, triệt để sử dụng mạng xã hội để chống phá, bịa đặt, nhào nặn, lan truyền những thông tin, hình ảnh thất thiệt gây tâm lý bi quan, hoài nghi vào sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành, quản lý của Nhà nước trong cán bộ, đảng viên và nhân dân với mục tiêu cốt lõi để phá hoại nền tảng tư tưởng, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. b. Định hướng một số giải pháp đấu tranh của Đảng ta trong thời gian tới. - Giải pháp chung. + Phải ngăn chặn tác động của các quan điểm sai trái, thù địch, làm cho các cấp, các ngành và mỗi cán bộ, đảng viên và người dân miễn dịch với nó. Phải khẳng định cái đúng, cái tích cực; công khai các hạn chế, thách thức, yếu kém. + Phải công khai các kết quả thanh tra, kiểm tra của Đảng, Nhà nước để cho mọi người được biết. Một khi đã công khai thì bên ngoài mới không còn những đồn đoán, suy diễn sai trái, thiếu căn cứ. + Đặc biệt lưu tâm giới trẻ, học sinh, sinh viên. Đây là lực lượng đông đảo, sẽ là người làm chủ tương lai của đất nước, năng động, tiếp thu nhanh với cái mới nhưng lại thiếu thực tiễn, nhận thức chính trị còn hạn chế. + Phải đa dạng cách thức tuyên truyền bằng nhiều phương tiện, lực lượng. + Tiếp tục đổi mới nội dung công tác lãnh đạo của Đảng. Đây không phải chỉ là nhiệm vụ của riêng những người làm công tác tư tưởng, mà là của toàn hệ thống chính trị. - Những giải pháp cụ thể. + Xây dựng, tổ chức lực lượng. Kiện toàn đồng bộ Ban Chỉ đạo 94 từ Trung ương đến các bộ, ngành, địa phương để thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức hoạt động đấu tranh phản bác. Xây dựng tổ chức lực lượng nòng cốt Nhóm Chuyên gia, cộng tác viên từ Trung ương đến địa phương, phải đảm bảo tính bí mật, không công khai về tổ chức, hoạt động và nhân sự. Xây dựng tạo lập hệ thống Facebook trong cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương để chia sẻ, trao đổi thông tin, nắm bắt các luồng tư tưởng, lồng ghép bài viết định hướng tuyên truyền và đấu tranh phản bác. + Thống nhất cơ chế phối hợp trong đấu tranh phản bác. Thống nhất cơ chế phối hợp trong công tác đấu tranh phòng, chống giữa Ban Chỉ đạo Trung ương 94 với Ban Chỉ đạo 94 các bộ, ngành, địa phương theo cơ chế trao đổi thông tin hai chiều, đảm bảo nhanh, kịp thời, thay việc trao đổi thông tin thông qua văn bản như hiện nay bằng việc sử dụng “Hệ thống thư điện tử bảo mật” trong hệ thống mạng nội bộ của Đảng. Nắm bắt tình hình hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, nhất là liên quan đến các vụ việc phức tạp, nhạy cảm, “điểm nóng” mới phát sinh ở ngành, địa phương; kịp thời chỉ đạo định hướng ngay các biện pháp đấu tranh. Chỉ đạo thống nhất, phối hợp lực lượng từ Trung ương đến địa phương đấu tranh phản bác; chia sẻ, chuyển tải bài viết của Nhóm Chuyên gia Trung ương lên các Blog, Facebook trong hệ thống, tạo sự chủ động, lan tỏa nhanh và huy động tổng lực các lực lượng đấu tranh, phản bác trước những thông tin xuyên tạc, bịa đặt liên quan đến các sự kiện chính trị, vụ việc phức tạp, nhạy cảm được xã hội quan tâm. + Tổ chức hoạt động đấu tranh phản bác. Công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, phải được triển khai tích cực, thường xuyên và lâu dài. Trong đấu tranh phải kiên quyết, linh hoạt, chủ động, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là chính. Tập trung định hướng tuyên truyền giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân nâng cao cảnh giác, tạo sức đề kháng trước những thông tin, quan điểm sai trái, thù địch. Đổi mới hình thức đấu tranh phê phán, phản bác các quan điểm sai trái thù địch, sử dụng đồng bộ các phương tiện thông tin đại chúng (báo mạng, báo hình, báo nói, báo in), chú trọng tuyên truyền công khai trên các báo điện tử, trang tin điện tử; qua các trang mạng xã hội; qua tuyên truyền miệng… Đa dạng hóa các phương pháp đấu tranh, sử dụng đồng bộ, kết hợp có hiệu quả các phương pháp đối thoại, đấu tranh trực diện. Quan tâm phương pháp đối thoại nhằm thuyết phục những người có nhận thức sai lầm, lệch lạc. Cách thức đấu tranh phản bác phải linh hoạt dựa trên tính chất vấn đề cần đấu tranh, phản bác. Hiện nay, trước diễn biến mới của tình hình và nhiệm vụ cách mạng, cuộc đấu tranh chống lại những quan điểm sai trái, thù địch ngày càng phức tạp. Tuy nhiên cần thẳng thắn nhìn lại, cuộc đấu tranh này vẫn còn không ít những hạn chế, bất cập. Điều này được Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, chỉ rõ: Nhiều tổ chức đảng, đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; việc đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị còn bị động, thiếu sắc bén và hiệu quả chưa cao. Có thể thấy, các thế lực thù địch không từ bất cứ âm mưu, thủ đoạn nào nhằm chống phá cách mạng Việt Nam trên mọi lĩnh vực. Trước tình hình ấy, Ðảng ta đã xác định đấu tranh chống lại những quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên của toàn bộ hệ thống chính trị, của mỗi cán bộ, đảng viên và của mọi công dân…

TRI ÂN THẦY CÔ VÀ CÁC LỰC LƯỢNG SƯ PHẠM


Tri thức nhân loại mênh mông

Đố ai thành đạt mà không có Thầy

Chở bao nhiêu chuyến đò đầy

Không ngại mưa nắng tháng ngày gian lao

Nghĩa tình Thầy tựa mưa rào

Giúp cây xanh tốt biết bao công trình

Truyền thống Đất Nước chúng mình

Tôn sư trọng đạo, trọng tình nhân văn

Nét đẹp văn hóa ngàn năm

Sáng trong lộng lộng đêm rằm mênh mông

Thầy cho em trí tuệ hồng

Mặt trời tri thức vầng đông tuôn trào

Tâm Thầy sáng tựa ánh sao

Thổi hồn con trẻ dạt dào ước mơ

Thầy đưa em đến bến bờ

Dòng sông tri thức ước mơ một đời

Biết ơn Thầy lắm Thầy ơi

Thầy như Cha Mẹ một đời của con

Đất bồi nên núi nên non

Có Thầy kiến tạo nên hòn núi cao 

Kể sao hết được công lao

Tháng ngày vất vả gian lao nghề Thầy

Thầy ơi tháng tháng ngày ngày

Chắt chiu dạy bảo điều hay lẽ đời

Chúng con nhớ mãi Thầy ơi

Chúc Thầy vui khỏe muôn lời dấu yêu

Chúng con gửi đến bao điều

Tôn Sư Trọng Đạo bấy nhiêu tấm lòng.

Bùi Bá Luân.