Thứ Ba, 16 tháng 11, 2021

Thích ứng an toàn trong tình hình mới

Trước bối cảnh làn sóng lần thứ tư dịch COVID-19 tạm thời lắng xuống, Nghị quyết 128/NQ-CP về Quy định tạm thời “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19” được Chính phủ ban hành vào ngày 11/10/2021 là hoàn toàn phù hợp với tình hình thực tế trong thời điểm hiện tại. Sau gần một tháng triển khai, Nghị quyết bước đầu phát huy hiệu quả, được đông đảo người dân, doanh nghiệp và các tầng lớp xã hội đồng tình, ủng hộ.

Bằng việc áp dụng Nghị quyết 128/NQ-CP về Quy định tạm thời “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19” (Nghị quyết 128), từ ngày 11/10 đời sống của người dân trên cả nước cơ bản đã trở lại trạng thái bình thường mới. Dịch COVID-19 được phân loại theo bốn cấp độ tương ứng với các mầu xanh, mầu vàng, mầu cam, mầu đỏ trên quy mô từ cấp xã, nên mỗi địa phương có thể tự chủ động thực hiện đánh giá cấp độ dịch dựa trên tỷ lệ ca mắc mới tại cộng đồng/số dân/thời gian, độ bao phủ vắc-xin, khả năng thu dung, điều trị các tuyến. Đến nay cơ bản tất cả 63 tỉnh, thành phố trên cả nước đã triển khai đúng với tinh thần chỉ đạo của Chính phủ và Bộ Y tế về công bố cấp độ dịch, phục hồi sản xuất, lưu thông hàng hóa, từ đó đem lại nhiều kết quả khả quan. Có thể nói đây là một bước tiến về tư duy trong phòng, chống dịch, hình thành sự thống nhất trên toàn quốc, không còn tình trạng cục bộ ở từng địa phương, giải tỏa các yếu tố từng gây trở ngại trong đời sống nhân dân, ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội. 

Sau gần một tháng thực hiện Nghị quyết 128, dựa trên tình hình thực tế riêng, các địa phương ban hành kế hoạch thích ứng, phương án phòng, chống dịch cũng thay đổi linh hoạt theo thời điểm, trong đó có vấn đề cần quan tâm nhất là kiểm soát lượng người từ vùng dịch trở về. Sau khi Nghị quyết 128 được áp dụng, hàng trăm nghìn người từ TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh Bình Dương, Long An,… trở về các tỉnh phía nam, miền trung, miền bắc, dẫn đến xuất hiện nhiều F0 ở nhiều địa phương. Thực tế này yêu cầu mỗi địa phương phải linh hoạt trong phòng, chống dịch, không thể chủ quan, lơ là trong kiểm tra, giám sát, kiểm soát người mới trở về, đồng thời tổ chức tốt việc xét nghiệm, cách ly và các biện pháp khác không để dịch lây lan ra cộng đồng.

Những người đã tiêm đủ hai mũi vaccine được theo dõi sức khỏe tại nhà, xét nghiệm theo quy định, và thực hiện tốt 5K, tùy điều kiện mà người chưa tiêm được tiến hành cách ly tại nhà hay tập trung, luôn có sự giám sát của chính quyền, cơ quan y tế địa phương. Cách làm này thực sự đã mang lại hiệu quả, người dân giảm căng thẳng tâm lý, chính quyền cũng không phải sử dụng quá nhiều nguồn lực phòng, chống dịch. Với cách thức chống dịch mới theo tinh thần Nghị quyết 128, yếu tố sống còn, tiên quyết là năng lực quản lý, giám sát của mỗi địa phương. Thực tế cho thấy địa phương nào không chủ quan, “thả lỏng” thì dù lúc đầu tình hình phức tạp nhưng sau đó do chủ động phòng, chống nên dịch bệnh đã nhanh chóng bị khống chế, bảo đảm an toàn đời sống của người dân, cũng như hoạt động sản xuất, kinh doanh. 

Một vấn đề quan trọng để bảo đảm thích ứng dịch bệnh tình hình mới là bao phủ vaccine, vì đây là một trong các tiêu chí để phân loại cấp độ dịch ở từng địa phương. Theo thống kê trên Cổng thông tin tiêm chủng quốc gia, đến nay cả nước đã tiêm được hơn 85 triệu liều vaccine. 62 trong số 63 tỉnh, thành phố đạt tỷ lệ người dân trong độ tuổi được tiêm ít nhất 1 liều vaccine đạt từ 50% trở lên. Có 54 địa phương đạt tỷ lệ phủ mũi 1 là 70% trở lên. Đầu tháng 11 bắt đầu triển khai chương trình tiêm vaccine cho trẻ em từ 12 tuổi đến 17 tuổi, hiện đã có 6 địa phương đang tiêm cho đối tượng này. Theo chỉ đạo của Bộ Y tế, từ đầu tháng 11, sẽ đẩy nhanh tốc độ tiêm vaccine khu vực đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên, vì đây là các khu vực hiện đang xuất hiện một số ổ dịch phức tạp, độ phủ vaccine chưa cao. Ngoài ra, các địa phương cũng cam kết chuẩn bị đủ cơ sở vật chất, hệ thống điều trị, giường bệnh cho tình huống xuất hiện nhiều ca nặng để kiểm soát dịch, giảm tối đa số người chết; đồng thời xác định nâng cao năng lực điều trị cho cán bộ, nhân viên y tế là tiêu chí quan trọng quyết định việc nâng hoặc hạ cấp mức độ dịch ở mỗi địa phương.

Song song với chiến lược thích nghi an toàn chống dịch là chiến lược khôi phục, phát triển kinh tế, đó là hai nội dung cốt lõi của Nghị quyết 128. Bên cạnh các giải pháp phòng, chống dịch linh loạt, việc mở cửa để tổ chức sản xuất, kinh doanh đã góp phần giảm nỗi lo lắng và sức ép tinh thần, tạo điều kiện thuận lợi giúp người dân, doanh nghiệp trở lại hoạt động có hiệu quả, giúp kinh tế dần phục hồi. Tất nhiên, trong khi tình hình dịch bệnh còn diễn biến phức tạp, khó lường, các doanh nghiệp không thể hoàn toàn chủ động, nhưng quy chiếu những quy định của Nghị quyết 128 vào tình hình cụ thể, mỗi địa phương, doanh nghiệp có thể chủ động hoạch định kế hoạch hoạt động, phần nào yên tâm sản xuất, kinh doanh. Nghị quyết 128 được ví như đã mở ra “cánh cửa”, cho phép doanh nghiệp trong mọi tình huống, diễn biến của dịch vẫn có thể sản xuất, chỉ cần đáp ứng tốt yêu cầu phòng, chống dịch trên địa bàn. Có thể thấy gần một tháng qua, việc lưu thông hàng hóa cơ bản thông suốt, nhiều doanh nghiệp đã sản xuất trở lại, đây được xem là cơ hội tăng tốc để đạt hiệu quả tối đa trong những tháng cuối năm.

Như vậy, một thời gian dài sau khi làn sóng thứ tư dịch COVID-19 bùng phát (từ cuối tháng 4), nhiều tỉnh, thành phố thực hiện giãn cách theo các Chỉ thị 15, 16, 19 kéo dài gây khó khăn cho cuộc sống của người dân, ảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế, thì việc thay đổi phương án chống dịch linh hoạt và duy trì sản xuất, kinh doanh là việc làm kịp thời, cần thiết. Tuy nhiên, quan điểm của Chính phủ và Bộ Y tế rất cụ thể, và cả nước cần thông suốt nguyên tắc thích ứng không có nghĩa chủ quan, lơ là phòng, chống dịch mà là phòng, chống dịch với tinh thần mới. Theo đó, dù không phải “chôn chân” tại chỗ như trước, người dân và doanh nghiệp vẫn phải chịu sự kiểm soát một cách khoa học, chặt chẽ, linh hoạt của chính quyền. Chính vì thế, cần phải nhìn thẳng vào một thực tế cần nhanh chóng khắc phục là trong khi đa số địa phương triển khai tốt Nghị quyết 128 thì ở một vài địa phương vẫn tồn tại tình trạng chưa thống nhất từ trên xuống dưới, còn thiếu đồng bộ trong chỉ đạo, thực hiện phòng, chống dịch, đáng chú ý là tình trạng trì trệ, thiếu sáng tạo, thiếu linh hoạt, chống dịch như là theo bản năng, không dựa trên cơ sở khoa học, các yếu tố dịch tễ…

Trong phạm vi nhất định, có thể nói, hạn chế là khó tránh khỏi, nhất là khi diễn biến dịch bệnh trong nước cũng như trên thế giới còn rất phức tạp. Tuy nhiên dựa vào một vài thiếu sót đó, các thế lực thù địch, thiếu thiện chí đã cố tình bóp méo, xuyên tạc nỗ lực của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong phòng, chống dịch bệnh. Như sau khi Nghị quyết 128 được ban hành, một số phương tiện truyền thông ở nước ngoài lập tức cho rằng đó là thể hiện “thất bại” của Việt Nam trong phòng, chống dịch, hoặc vin vào một vài trường hợp cá biệt để “bé xé ra to” cho rằng chống dịch ở Việt Nam có tình trạng “trên bảo dưới không nghe”! Họ vẫn sử dụng thủ đoạn quen thuộc: một mặt cố tình phủ nhận thành quả phòng, chống dịch của Việt Nam; một mặt thổi phồng một vài hạn chế để suy diễn, quy kết làm ảnh hưởng tới uy tín của Việt Nam, và tác động làm giảm lòng tin của nhân dân. 

Trong quá trình triển khai Nghị quyết 128, bên cạnh việc tổ chức tập huấn quy mô cho lực lượng chống dịch ở các địa phương, Thủ tướng Chính phủ thường xuyên tổ chức nhiều cuộc họp trực tuyến để trực tiếp đánh giá, biểu dương, phê bình, chấn chỉnh. Việc làm này là bình thường và cần thiết, thể hiện sự sâu sát của một Chính phủ vì dân, hàng ngày, hàng giờ sát cánh cùng nhân dân, kiểm soát dịch bệnh. Phải khẳng định, trong gần hai năm dịch bệnh hoành hành, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã làm hết sức mình, cùng nhân dân chống chọi, đẩy lùi dịch bệnh trong điều kiện muôn vàn khó khăn, và đó là điều không thể phủ nhận. Đặc biệt, các kết quả khả quan đạt được từ khi áp dụng Nghị quyết 128 trong thời gian qua cho thấy Đảng, Nhà nước luôn lấy lợi ích của người dân, doanh nghiệp lên hàng đầu trong hoạch định chính sách. Chính phủ luôn có giải pháp phù hợp từng thời điểm, hoàn cảnh cụ thể để phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân, từng bước ngăn chặn, đẩy lùi đại dịch.

Nghị quyết 128 xác định mục tiêu sống còn là bảo vệ tối đa sức khỏe, tính mạng của người dân, hạn chế đến mức thấp nhất số ca mắc bệnh nặng, đặc biệt là số người chết do COVID-19, từng bước khôi phục, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội, thực hiện mục tiêu kép, đưa cả nước chuyển sang trạng thái bình thường mới sớm nhất có thể, qua đó củng cố, tăng cường niềm tin của toàn dân. Với hàng loạt giải pháp cụ thể được hướng dẫn kỹ càng cho các địa phương, có thể thấy, Chính phủ và các cấp, các ngành, địa phương luôn ưu tiên hàng đầu công tác kiểm soát dịch bệnh, không để lây lan bùng phát trong cộng đồng. Bám sát diễn biến thực tế, vừa làm vừa điều chỉnh, rút kinh nghiệm, bổ sung hoàn thiện sao cho phù hợp với tình hình là cách phòng, chống dịch sáng suốt, thông minh, nhờ đó mọi khó khăn đều được giải quyết kịp thời, nhanh chóng điều chỉnh, xử lý hiệu quả vấn đề bất cập nảy sinh trong bối cảnh mới. Đó là cơ sở để vừa qua Tổ chức Y tế thế giới đánh giá cao cách tiếp cận toàn dân trong phòng, chống dịch COVID-19 của Việt Nam.

Dù trước mắt dịch COVID-19 còn diễn biến khó lường, thời điểm hiện tại nhiều địa phương đang phải đối mặt nguy cơ bùng phát dịch trong cộng đồng, nhưng với sự tổ chức, lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, sự phối hợp chặt chẽ của các ngành liên quan và các địa phương, của các lực lượng tuyến đầu, đặc biệt là vai trò của toàn dân, cùng với các kinh nghiệm phòng, chống dịch đã tích lũy, chúng ta hoàn toàn tin tưởng công tác phòng, chống dịch COVID-19 ở Việt Nam chắc chắn sẽ tiếp tục tạo ra những chuyển biến tích cực, cuộc sống mọi mặt của người dân Việt Nam được ổn định và phát triển./. 

Chiêu lật mặt của những kẻ lái buôn thuật ngữ

Thời gian qua, liên tiếp có một số cán bộ ngành y tế bị cơ quan chức năng khởi tố để điều tra, xử lý do những sai phạm trong thực hiện công vụ. Điển hình nhất là các vụ việc liên quan đến ông Trương Quốc Cường, Thứ trưởng Bộ Y tế; ông Nguyễn Quang Tuấn, Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, nguyên Giám đốc Bệnh viện Tim Hà Nội; ông Nguyễn Minh Quân, Giám đốc Bệnh viện TP Thủ Đức (TP Hồ Chí Minh); trước đó là vụ án của ông Nguyễn Nhật Cảm, Giám đốc Trung tâm Kiểm soát bệnh tật TP Hà Nội và Nguyễn Quốc Anh, nguyên Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai đã bị đưa ra xét xử. Trong những vụ việc này, nhiều cán bộ liên quan cũng bị khởi tố để điều tra hoặc đã phải vào tù.

Sai phạm của họ do liên quan đến mua sắm, đấu thầu trang thiết bị y tế, thuốc chữa bệnh; cấp số đăng ký lưu hành nhiều tân dược giả... Đại đa số dư luận rất đau xót nhưng đều rất đồng tình với việc cần phải xử lý nghiêm minh, kiên quyết những sai phạm. Việc xử lý này cũng thể hiện quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong chống tham nhũng, tiêu cực là “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào”.

Dù sai phạm của các cán bộ y tế này là rõ ràng và nguyên nhân hoàn toàn do họ cố tình làm sai, gây bất bình xã hội, nhưng thật nực cười khi một số cá nhân lại sử dụng mạng xã hội để viết bài công kích, vu cáo thể chế chính trị, lên án chế độ của Việt Nam, hoặc lợi dụng đài, báo nước ngoài thiếu thân thiện với đất nước mà điển hình là VOA tiếng Việt để phát biểu bừa bãi. Họ đổ lỗi rằng, sở dĩ các cán bộ trên tham nhũng, sai phạm, phải tù tội "do lỗi của chế độ"; rằng chế độ ta "sinh ra tham nhũng, lỗi hệ thống tạo ra chứ không phải do biện pháp thực hiện"; "Đảng Cộng sản Việt Nam không những là nguyên nhân sinh ra tham nhũng mà còn không thể đấu tranh chống tham nhũng thành công"...

Điển hình là những trang Facebook của các đối tượng như: Dương Quốc Chính, Phạm Minh Vũ, Trân Văn... Trên Facebook, Dương Quốc Chính tán phát bài viết: “Ai cho quan làm người lương thiện” với một cách lý giải kiểu đổi trắng thay đen. Facebook của Phạm Minh Vũ tán phát bài viết: “Cái kết của một người có tài đi theo Đảng”, xóa nhòa ranh giới giữa công và tội. Trên VOA tiếng Việt, bài viết: “Từ vụ Nguyễn Quang Tuấn: Thể chế chuyên biến giả thành thật và ngược lại!” của Trân Văn ra sức công kích chế độ. Đây là những giọng điệu không xa lạ gì trong thời gian qua, vì nó được nuôi dưỡng bởi tiền của các thế lực phản động từ nước ngoài chuyên chống phá đất nước. Vì thế, họ sẵn sàng dựng chuyện bằng bất cứ lý do gì.

Đổ lỗi, vu cáo cho thể chế hay đổ lỗi cho chế độ là chiêu bài quen thuộc của một số nhóm đối tượng chuyên chống phá Đảng, Nhà nước. Tuy nhiên, họ đã nhầm, hoặc do cố tình “đánh lận con đen” khi quy chụp rằng, chế độ mà chúng ta đang xây dựng đã sinh ra tham nhũng.

Từ cổ đại đến hiện đại, tất cả học giả kinh tế hay chính trị đều thống nhất một quan điểm: Tham nhũng là hiện tượng xã hội, tồn tại tất yếu, khách quan trong xã hội có nhà nước (có giai cấp). Tham nhũng tồn tại ở mọi quốc gia, hiện diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, không phụ thuộc vào chế độ chính trị “đa đảng” hay “một đảng” và cũng không phụ thuộc vào trình độ phát triển.

Hiểu một cách cơ bản thì tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực trong xã hội có giai cấp, có nhà nước. Thời đại nào, chế độ nào, quốc gia nào cũng có, không thể xóa tận gốc nó trong một thời gian ngắn. Để phòng, chống tham nhũng, mọi quốc gia đều phải sử dụng các công cụ, biện pháp trong quản trị nhà nước nhằm triệt tiêu nó. Bởi thế, đổ lỗi cho chế độ ta mới sinh ra tham nhũng là rất thiếu hiểu biết, hoặc đó là cách ngụy biện.

Xin được dẫn chứng: Trước vấn đề tham nhũng, Trung Quốc đã ban hành nhiều quy định, đồng thời sử dụng biện pháp rất mạnh để đấu tranh với tham nhũng. Trung Quốc cũng có hàng loạt đạo luật phòng, chống tham nhũng như: Luật Chống hối lộ năm 1988, Luật Chống tham nhũng năm 1997. Năm 2010 Trung Quốc còn ban hành sách trắng về chống tham nhũng. Singapore cũng xác định phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, lâu dài, xuyên suốt quá trình phát triển kinh tế-xã hội.

Singapore đã ban hành đạo luật Chống Tham nhũng và Luật Sung công tài sản tham nhũng để đấu tranh với tội phạm tham nhũng. Với Hoa Kỳ, cường quốc này xác định tham nhũng là một tội phạm nghiêm trọng và không thể xóa bỏ hoàn toàn. Hoa Kỳ có cơ quan chuyên làm nhiệm vụ chống tham nhũng trực thuộc Bộ Tư pháp, đó là Cục Điều tra liên bang (FBI). Ngay cả Liên hợp quốc cũng có Công ước về chống tham nhũng. Do là vấn đề tất yếu nên dù có rất nhiều biện pháp phòng, chống thì tham nhũng vẫn không thể mất đi.

Trong 5 năm thực hiện chủ trương “đả hổ, diệt ruồi” (2013-2017) của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, Trung Quốc có 182.000 quan chức cấp cao và quan chức ở địa phương bị truy tố vì hành vi tham nhũng và lạm dụng chức vụ quyền hạn.

Tổ chức Minh bạch Quốc tế (TI) công bố Chỉ số Cảm nhận tham nhũng (CPI) năm 2020 cho thấy, một bức tranh màu xám về tình trạng tham nhũng trên toàn thế giới, với hơn 2/3 trong số 180 quốc gia được đánh giá chỉ đạt điểm dưới 50 trên thang điểm 100. Như vậy có thể thấy, tham nhũng là vấn đề toàn cầu chứ không riêng bất cứ một quốc gia nào.

Theo kết quả điều tra dư luận xã hội do Ban Nội chính Trung ương phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương tiến hành, trong thời gian từ năm 2013 đến 2020, tuyệt đại đa số ý kiến người dân (93%) bày tỏ tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Kết quả này cũng cho thấy, mọi sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch đối với công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng ta đều trở nên trơ trẽn, nực cười.

Tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XV, phát biểu với Quốc hội về vấn đề liên quan đến các sai phạm của cán bộ ngành y tế trong đấu thầu, mua sắm trang thiết bị y tế, Đại tướng Tô Lâm, Bộ trưởng Bộ Công an đã khẳng định: Sai phạm trong ngành y không phải do lỗi cơ chế. “Chúng tôi khẳng định không phải do các lỗi này, mà đều có việc lợi dụng tình hình khó khăn, lách luật để vi phạm và đây là những vi phạm hình sự rất đáng phải xử lý", Đại tướng Tô Lâm nhấn mạnh.

Quá trình điều tra, các cán bộ này đã thừa nhận sai phạm. Cơ quan điều tra đều có yêu cầu cá thể hóa trách nhiệm cá nhân trong từng vụ việc và đã chứng minh rõ yếu tố tư lợi, tham ô, tham nhũng, trục lợi... Đơn cử như việc mua máy móc, có trường hợp thông đồng với nhà thầu, đẩy giá ăn chia, trích phần trăm. Đây là yếu tố tư lợi, biểu hiện tham ô, tham nhũng...

Nếu phải trả lời trước câu hỏi: Chúng ta có tiếc khi xử lý cán bộ có vi phạm đó hay không? Câu trả lời là: Rất tiếc! Vì họ là đảng viên, là đội ngũ tinh hoa của đất nước. Nhưng nếu hỏi rằng: Có cần thiết phải xử lý họ không? Câu trả lời là: Rất cần thiết. Pháp luật là công bằng.

Thượng tôn pháp luật là lẽ sinh tồn của quốc gia. Luật pháp Việt Nam không cho phép bất cứ cá nhân, tổ chức nào làm phương hại đến lợi ích của nhân dân, của đất nước. Không ai được phép đứng trên pháp luật, đứng ngoài Hiến pháp. Những con số cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật cho thấy Đảng Cộng sản Việt Nam đã nghiêm túc thực thi pháp luật, nhất quán giữa nói và làm. Riêng nhiệm kỳ XII, hơn 87.000 đảng viên bị thi hành kỷ luật, trong đó 113 đảng viên là cán bộ diện Trung ương quản lý.

Từ đầu nhiệm kỳ XIII đến nay, nhiều đảng viên là cán bộ cấp cao vi phạm tiếp tục bị xử lý, không có ngoại lệ. Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền nhưng Đảng luôn đặt mình trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội nhưng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về mọi quyết định của mình.

Việc xử lý cán bộ, đảng viên vi phạm chính là bảo vệ hoạt động đúng đắn của cơ quan nhà nước, bảo vệ tài sản, các lợi ích hợp pháp của Nhà nước và nhân dân, để giữ vững ổn định và phát triển của toàn xã hội. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh: Việc xử lý nghiêm nhiều cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao sai phạm là điều không ai mong muốn, thậm chí rất đau xót, rất đau lòng, nhưng vì sự nghiệp chung, vì sự nghiêm minh kỷ luật của Đảng, thượng tôn pháp luật của Nhà nước, sự trong sạch, vững mạnh và uy tín của Đảng, Nhà nước và ý nguyện của nhân dân, chúng ta phải làm và kiên quyết làm.

Chúng ta đang trong quá trình hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng một xã hội mà công và tội phân minh. Có công thì thưởng, có tội thì phạt. Những cống hiến của các cán bộ này luôn được Đảng, Nhà nước ghi nhận, bằng cách bổ nhiệm họ vào các chức vụ quản lý quan trọng; phong, thăng những chức danh về học hàm, học vị; ưu đãi các chế độ, chính sách...

Vậy thì khi có tội, họ phải chấp nhận hình phạt cũng là bình thường. Sai phạm của họ là do chính cá nhân họ cố tình gây nên, đã không vượt qua được sự cám dỗ của vật chất, đã lợi dụng chức vụ, quyền lực được giao để trục lợi. Nó chính là do sự thoái hóa biến chất của con người. Nó diễn ra ngay ở trong chính bản thân mỗi con người./.

Âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc

Những ngày qua, lợi dụng phát ngôn của một số người thiếu hiểu biết và có cái nhìn phiến diện về vấn đề nảy sinh khi sinh viên, tình nguyện viên của tỉnh Hải Dương vào TP Hồ Chí Minh tham gia chống dịch Covid-19, các thế lực thù địch, bất mãn đã thổi phồng thông tin, đánh lái dư luận theo nhiều chiều hướng tiêu cực.

Mục đích của họ nhằm kích động chia rẽ vùng miền, làm suy yếu sức mạnh trong cuộc chiến chống dịch Covid-19 và sâu xa hơn là âm mưu phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam.

Họ vẽ ra kịch bản trong tưởng tượng rằng, có một “âm mưu chính trị” đằng sau lý do giúp TP Hồ Chí Minh chống dịch Covid-19 với cái mà chúng gọi là “đội quân Nam tiến của miền Bắc”. Các thế lực thù địch tự khẳng định "TP Hồ Chí Minh có thể tự phòng, chống dịch chứ không cần người miền Bắc vào giúp đỡ". Từ đây, họ kích động người dân tại TP Hồ Chí Minh tẩy chay, từ chối sự giúp đỡ chống dịch của những tình nguyện viên từ các tỉnh. Không dừng lại ở đó, những kẻ bất mãn, thù địch còn cố ý gợi lại lịch sử đau thương của dân tộc trong thời kỳ đế quốc, thực dân chia cắt hai miền Nam-Bắc để phụ họa cho giọng điệu chống phá: "Miền Nam và miền Bắc không thể là một trong cuộc chiến chống dịch"(!). 

Thế nhưng, ngay cả những cái đầu hoang tưởng đến đâu cũng chẳng hình dung nổi cái “âm mưu chính trị" đằng sau lý do giúp TP Hồ Chí Minh chống dịch Covid-19 là gì? Ngược lại, chỉ có sự thật hiện hữu mà mọi người dân Việt Nam đều biết, đó là, cả nước đang chung sức, đồng lòng quyết tâm đẩy lùi dịch bệnh, sớm mang lại cuộc sống bình yên cho Nhân dân, để không chỉ TP Hồ Chí Minh mà cả nước tiếp tục khôi phục sản xuất, ổn định và phát triển kinh tế, xã hội.

Các thế lực thù địch cũng tưởng tượng rằng, gợi lại quá khứ nước ta bị chia cắt hai miền sẽ kích động được sự phân biệt, chia rẽ Bắc-Nam. Để đập tan âm mưu của đế quốc, thực dân, để non sông thống nhất một nhà, toàn dân tộc đã hy sinh biết bao máu xương và nước mắt. Không ai dại gì mong muốn chia cắt Bắc-Nam, bởi đó là điều mà không đất nước nào mong muốn.

Việc các thế lực thù địch cố tình lợi dụng chống phá khối đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam chính là âm mưu thâm độc, nham hiểm. Nhưng thủ đoạn nêu trên, ai cũng biết là rất thô vụng, thể hiện sự bất lực "cắn càn"!

Bản lĩnh của Đảng để trừ "giặc nội xâm"

Gần một thế kỷ đã qua, mặc dù có lúc mắc sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng, có lúc rơi vào chủ quan duy ý chí, có lúc chưa nắm được quy luật khách quan... nhưng xuyên suốt lịch sử lãnh đạo Nhân dân làm cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã luôn biết tự chỉ trích, nhận ra sai lầm, khuyết điểm, tự chỉnh đốn, đổi mới, tự vượt qua mọi trở lực khách quan và chủ quan để làm tròn nhiệm vụ của một đảng tiên phong, một đảng chân chính cách mạng. Về cơ bản, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giữ được vai trò là đội tiên phong chính trị của giai cấp và dân tộc, tiên phong cả trong lý luận cách mạng, trong đường lối chủ trương, trong quyết sách chính trị, trong chỉ đạo chiến lược và tiên phong gương mẫu trong hành động cách mạng, trong hy sinh anh dũng vì nền độc lập, tự do, hạnh phúc của Nhân dân.

Thời nào cũng có kẻ thù bên ngoài và bên trong. Thời nào cũng đều có ngoại xâm dưới hình thức này hay hình thức khác và luôn luôn bất cứ lúc nào, ở bất cứ nơi đâu, trong mỗi con người đều tiềm ẩn nội xâm. Nội xâm lúc này là tệ si mê quyền lực, vun vén lợi ích cá nhân, là chạy chức, chạy quyền, chạy tội là lợi dụng mọi sơ hở của cơ chế, chính sách, là lạm quyền, là thói vô trách nhiệm, là ô dù che chắn, là quan liêu, khinh thường kỷ cương phép nước, là cơ hội, tham nhũng, lãng phí, là ăn chơi xa đọa, là thói vô cảm trước vất vả, thiếu thốn, khó khăn của đồng bào, đồng chí... Nội xâm len lỏi vào hàng ngũ Đảng và Nhà nước... vào từng ngõ ngách xóm thôn, phường phố, cơ quan, công sở, vào từng gia đình, vào mọi tầng lớp và đến cả những người được đào tạo, có bằng cấp học vị, được giao chức trọng, quyền cao... Vì vậy, tính tiên phong của Đảng lúc này là phải có dũng khí, có bản lĩnh để dám trừ "giặc nội xâm" ở ngay trong mỗi đảng viên, cán bộ, tính tiên phong lúc này là sáng suốt trong các quyết sách chính trị, trong lãnh đạo, chỉ đạo phát huy sức mạnh tổng hợp, lòng yêu nước của toàn dân tộc, đặc biệt là làm tốt công tác tổ chức, kiểm tra, thực hiện đúng đắn chính sách dùng người. Tính tiên phong lúc này là dũng khí đấu tranh với đồng chí, đồng cấp, với cả cấp trên và cấp dưới vi phạm kỷ luật Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để trừ diệt mọi thói hư, tật xấu và tội lỗi. Tính tiên phong lúc này là làm trong sạch đội ngũ, là giáo dục, thuyết phục và trừng phạt công khai, công minh, bình đẳng trước kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đang sáng lên niềm tin và khát vọng của mọi người dân Việt Nam dù ở trong nước hay ở nước ngoài. Niềm tin và khát vọng ấy đang đặt lên vai những người vừa vinh dự được bầu vào cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng. Vinh dự càng cao, trách nhiệm càng lớn. Trách nhiệm và vinh dự của những chiến sĩ đi tiên phong trong sự nghiệp cách mạng của Nhân dân, trong cuộc đấu tranh cho hạnh phúc của xã hội. Mác vĩ đại đã dạy chúng ta rằng: “Hạnh phúc xã hội sản sinh ra lý trí chính trị”. Và đến lượt nó, lý trí chính trị của Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đang đòi hỏi nâng cao chất lượng “đầu não” và “trái tim” của mỗi chúng ta.

Một số vấn đề phòng, chống sự xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội

Nhận thấy không xóa được chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở nước ta, nếu không xóa được vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Họ cho rằng, “Quân đội do Nhà nước nuôi dưỡng nên chỉ phục tùng Nhà nước, không phục tùng đảng phái nào”. Họ viện dẫn thực tiễn ở các thể chế chính trị tư sản với chế độ đa đảng, Quân đội không do đảng nào lãnh đạo. Dựa vào đó, họ phủ nhận nguyên tắc “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội Nhân dân Việt Nam”; đòi bỏ quy định “Lực lượng vũ trang Nhân dân tuyệt đối trung thành với Đảng” ở Điều 65, Hiến pháp 2013...

Mục tiêu nhất quán của những thủ đoạn trên là thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, làm cho Quân đội xa rời mục tiêu, lý tưởng cách mạng và sự lãnh đạo của Đảng; biến chất về chính trị, tiến tới vô hiệu hóa vai trò Quân đội ta là chỗ dựa vững chắc của Đảng, Nhà nước và Nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Những thủ đoạn trên dù rất tinh vi, nhưng sai cả về lý luận và thực tiễn. Trên phương diện lý luận, Nhà nước và Quân đội là sản phẩm của xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp. Vì vậy, Quân đội mang bản chất giai cấp của nhà nước tổ chức và nuôi dưỡng nó. Không có nhà nước “phi giai cấp”, nên không có Quân đội “phi chính trị”. Ở các nền chính trị có cấu trúc đa đảng đối lập, đảng nào thắng thế sẽ đứng ra lập chính phủ, nên quân đội bao giờ cũng phụ thuộc vào đường lối chính trị của đảng cầm quyền; đồng thời, bất cứ đảng cầm quyền nào cũng tìm cách nắm Quân đội. Tuy vậy, khi mà sự tranh giành quyền lực giữa các đảng diễn ra gay gắt, dẫn đến khủng hoảng chính trị, thường xuất hiện lời kêu gọi “Quân đội không đứng về đảng phái nào”; nhưng trong thực tế, các đảng đều tìm sự hậu thuẫn từ quân đội.

Để phòng, chống sự xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội trong tình hình hiện nay, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó cần tập trung vào những vấn đề chủ yếu sau:

Trong mọi hoàn cảnh phải luôn giữ vững nguyên tắc “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội”. Đây là nguyên tắc xuyên suốt trong lịch sử Đảng ta lãnh đạo Quân đội, mặc dù hình thức diễn đạt ở mỗi thời kỳ có khác nhau. Theo đó, Đảng không chia sẻ, ủy quyền lãnh đạo quân đội cho bất kỳ tổ chức, lực lượng, cá nhân nào; không thông qua một khâu trung gian nào. Sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội tập trung vào Ban Chấp hành Trung ương, trực tiếp và thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội là toàn diện, trên mọi mặt công tác, mọi nhiệm vụ, trong mọi điều kiện, hoàn cảnh. Ở đâu có tổ chức và hoạt động của Quân đội, ở đó có sự lãnh đạo của Đảng.

Sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng gắn liền với sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội. Mọi hoạt động của Quân đội phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Nhà nước thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng Quân đội thành luật pháp, chính sách và tổ chức thực hiện trong thực tế. Sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với Quân đội đều nhằm bảo đảm cho quân đội luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và Nhân dân; giữ vững bản chất GCCN, tính Nhân dân và tính dân tộc; có sức mạnh chiến đấu cao, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong mọi tình huống. Vì vậy, trong mọi hoàn cảnh, chúng ta phải kiên định nguyên tắc “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội”.

Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng; tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh (TSVM). Sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội chỉ được tăng cường khi bản thân Đảng TSVM. Đây là giải pháp căn cốt nhất để bác bỏ sự xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với xã hội, cũng như đối với Quân đội. Để Đảng luôn vững mạnh, chúng ta cần kiên trì thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII và Nghị quyết Đại hội XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng với chỉnh đốn, giữa xây dựng với bảo vệ Đảng; tăng cường xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; không ngừng nâng cao năng lực và đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; tích cực đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Vấn đề then chốt là tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội TSVM, mẫu mực, tiêu biểu, có năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu cao. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong quân đội cần thực hiện quyết liệt các biện pháp xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI gắn với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị và Chỉ thị số 87-CT/QUTW của Thường vụ Quân ủy Trung ương về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 51-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) về “Tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam”; tập trung nâng cao năng lực lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp; chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; kịp thời phát hiện, ngăn ngừa, xử lý các trường hợp vi phạm kỷ luật, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; bảo đảm mọi tổ chức đảng trong quân đội luôn TSVM về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức.

Tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, làm cho mọi người hiểu rõ sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định bản chất cách mạng, sức mạnh chiến đấu của quân đội nhân dân. Trong thời gian tới, cần tăng cường thông tin, định hướng cho mọi tầng lớp Nhân dân quán triệt những quan điểm cơ bản của Đại hội XIII về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, xây dựng quân đội. Làm cho các tầng lớp nhân dân hiểu rõ những nội dung cơ bản của đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng quân đội nhân dân, tư duy mới về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc của Đảng; thấm nhuần nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội. Cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng công tác giáo dục Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các nhà trường; nâng cao hiệu quả công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng trong thời gian tới.

Để tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng trong quân đội, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần phát huy vai trò của cơ quan chính trị, cán bộ chính trị trong giáo dục Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, xây dựng quân đội trong thời gian tới. Cần làm cho mọi quân nhân nhận thức đầy đủ hơn nền tảng tư tưởng của Đảng; hiểu rõ Quân đội ta là quân đội nhân dân do Đảng xây dựng, giáo dục và rèn luyện. Trên cơ sở đó, củng cố niềm tin vào mục tiêu, lý tưởng của Đảng; nâng cao bản lĩnh chính trị, không mơ hồ, mất cảnh giác trước những thủ đoạn xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội.

Chủ động đấu tranh, phản bác các thủ đoạn xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Đây là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài nhưng rất bức thiết, đòi hỏi các cấp ủy, tổ chức đảng phải luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, tích cực xây dựng nội bộ đơn vị mình, tổ chức mình vững mạnh toàn diện để không có ai dao động trước những thủ đoạn xuyên tạc của các thế lực thù địch. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần tiếp tục quán triệt, thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Trên cơ sở đó, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của mọi cán bộ, đảng viên, nhất là trong các cơ quan nghiên cứu, các học viện, nhà trường; phóng viên, biên tập viên các cơ quan báo chí đối với nhiệm vụ đấu tranh phản bác các thủ đoạn xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Cần phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng; nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ phận nòng cốt, chuyên sâu; tổ chức đấu tranh bằng nhiều hình thức: Trên các phương tiện thông tin đại chúng, qua hệ thống giáo dục lý luận chính trị, tuyên truyền miệng và trên mạng xã hội, internet.

Phòng, chống sự xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội là góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đó nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị, của mọi cán bộ, đảng viên, trong đó Quân đội Nhân dân Việt Nam giữ vai trò nòng cốt. Kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”; giữa phản bác các quan điểm sai trái, thù địch với xây dựng nội bộ vững mạnh là phương thức hữu hiệu để làm thất bại mọi mưu đồ chống phá của các thế lực thù địch.

Thiết lập “vùng xanh” Covid-19

Trên bản đồ Covid, màu xanh dường như đã trở thành một sắc màu mang tới sự lạc quan, niềm tin và hy vọng. Đó là màu xanh từ những “vùng xanh” hay còn được gọi là “vành đai xanh”- vành đai an toàn không Covid-19. Xây dựng “vùng xanh” trong cuộc chiến chống Covid-19 đang là giải pháp nhằm giảm mức độ từ vùng nguy cơ rất cao (vùng đỏ) thành vùng nguy cơ cao (vùng cam), vùng nguy cơ (vùng vàng) và tiến tới trở thành địa bàn an toàn - vùng xanh. Tùy vào đặc thù cụ thể, từng địa phương đã và đang triển khai nhiều cách làm, giải pháp quyết liệt để mở rộng “vùng xanh” với phương châm củng cố, phát triển ngay từ cơ sở, địa bàn dân cư. Bảo vệ “vùng xanh” ở cấp độ “tế bào” (tổ dân phố, ngõ, xóm) được xem là “vaccine cộng đồng”, mũi giáp công hiệu quả trong chiến lược chuyển hướng từ phòng ngự sang phản công. 

Tại những cuộc làm việc với các bộ, ngành, địa phương về phòng, chống dịch, Thủ tướng Phạm Minh Chính đều nhấn mạnh thông điệp, phải có cách tiếp cận mới và triển khai các giải pháp quyết liệt hơn, mạnh mẽ hơn, hiệu quả hơn. Các bộ, ngành, địa phương liên quan hết sức chú ý việc củng cố, bảo đảm an toàn các “vùng xanh”. Nhiều ý kiến đánh giá, mô hình “vùng xanh” cũng như việc phân vùng xanh, đỏ, vàng để có cách thức chống dịch phù hợp, là một cách tiếp cận mới so với trước, để chủ động phòng ngừa dịch ngay khi dịch bệnh chưa xảy ra, nhất là khi biến thể Delta có hệ số lây nhiễm R0 rất cao.

Thiết lập “vùng xanh” trên không gian mạng cũng cần thiết không kém “vùng xanh” trong cộng đồng. Để thực hiện có hiệu quả công tác phòng, chống tin giả trên mạng xã hội, tránh việc người dân bị hoang mang, dao động đối với công tác phòng, chống dịch Covid-19 của Nhà nước ta, đã đến lúc chúng ta cần thiết lập một “vùng xanh” trên Internet theo hướng nhận diện tin giả và “vùng xanh” như sau:

Thứ nhất, tăng cường các kênh thông tin chính thống đa dạng phủ sóng trên các nền tảng mạng xã hội (Facebook, YouTube, Tiktok…) để người dân có thể nhận diện được thông tin đúng đắn và tạo sự đề phòng, tính cảnh giác của bản thân khi tiếp xúc với thông tin được lan truyền khác không chính thống trên không gian mạng. Từ đó tạo thói quen có sự tham khảo khi sử dụng thông tin, nhất là thông tin được chia sẻ bởi mạng xã hội, chủ thể không rõ nguồn gốc, không xác thực.

Thứ hai, đối với các kênh tin giả, thông qua các kênh thông tin ở “vùng xanh” để giúp người dân có thể nhận diện được các đặc điểm như: Tin giả thường có tiêu đề hấp dẫn, giật gân, viết in hoa kèm dấu ký tự mang tính chất khẳng định, thường có vẻ khó xảy ra trong thực tế nhưng được viết dưới dạng khẳng định để thu hút sự chú ý của người đọc. Đồng thời, kiểm tra đường dẫn liên kết. Đường dẫn URL chứa tin giả thường giả mạo gần giống các trang tin chính thống.

Ví dụ: đuôi tên miền “.org” dành cho các tổ chức phi chính phủ hoặc phi lợi nhuận nhưng không vì thế mà mất cảnh giác, bởi những trang này có thể đăng tải thông tin chủ quan vì mục đích riêng của tổ chức đó chứ không hoàn toàn cung cấp thông tin khách quan cho người đọc. Kiểm tra kỹ mục “liên hệ” hoặc “giới thiệu” trên trang tin để tìm kiếm thông tin về cá nhân hoặc tổ chức đứng sau, xác định mức độ tin tưởng thông qua các thông tin được đề cập như: Chức danh, chức vụ, học hàm, học vị, mức độ phản hồi của người dùng, tính xác thực của địa chỉ.

Tin giả thường không được chú trọng về cấu trúc ngữ pháp, thể thức văn bản, dễ có lỗi chính tả và ngữ pháp, không thống nhất. Hình ảnh sử dụng trong bài viết đa phần là ảnh lấy trên mạng rồi chỉnh sửa cho phù hợp với nội dung nguồn tin. Cần kiểm tra xem ảnh có tồn tại trên không gian mạng thông qua tính năng “Search Google for image” và nguồn gốc, địa điểm, thời gian. Về mốc thời gian sử dụng trong bài viết, tin giả được biên soạn và định dạng mốc thời gian không trùng với thực tế, do đó, cần xem kỹ các mốc thời gian, sự kiện có trong nội dung tin và thời gian đăng tải. Về các luận cứ, luận chứng trong bài viết, thông thường các tin giả được tạo ra dựa trên một câu chuyện, tình tiết có thực nhưng được thêm thắt, thổi phồng, làm giả ở những nội dung quan trọng nhất.

Điều quan trọng nhất là người dân khi tiếp cận các thông tin trên mạng xã hội cần nâng cao cảnh giác trước những thông tin thất thiệt, mang tính kích động, gây hoang mang dư luận, có biện pháp tự bảo vệ mình trước những thông tin xấu độc.  Không chia sẻ, bình luận, like các bài viết đăng tải những thông tin chưa được kiểm chứng. Để nắm các thông tin chính trị, kinh tế-xã hội, tình hình dịch Covid -19, người dân cần tham khảo trang thông tin của các ban, bộ, ngành và cơ quan chức năng, thu thập, tiếp nhận thông tin ở các tờ báo chính thống, có uy tín những thông tin thuộc “vùng xanh”.

Một số biện pháp khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên” .

Sau hơn 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước ta đã vượt qua khủng hoảng kinh tế – xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế. Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, phát triển; chính trị – xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; văn hoá – xã hội có bước phát triển; bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi; dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng; khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền và cả hệ thống chính trị được đẩy mạnh. Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao.

Tuy nhiên, trong bối cảnh đất nước hội nhập ngày càng sâu rộng và đầy đủ vào nền kinh tế thế giới, bên cạnh những cơ hội lớn do toàn cầu hóa kinh tế đem lại, chúng ta cũng đang đứng trước không ít khó khăn, thách thức lớn, đan xen nhau, tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp; đặc biệt vấn đề “tự diễn biến” đang nổi lên như một nguy cơ gây mất ổn định chính trị – xã hội, mất định hướng xã hội chủ nghĩa và không thể xem thường. Nếu chúng ta không chủ động phòng ngừa từ trước, ngăn chặn từ xa, lơ là chủ quan, mất cảnh giác với thủ đoạn “tự diễn biến” của các thế lực thù địch thì tất yếu sẽ dẫn đến những hệ lụy tiêu cực về mặt tư tưởng, tâm lý trong xã hội và hậu quả không lường hết được.

Trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch là chủ thể tác động tạo ra “tự diễn biến”. Đối tượng tác động nằm trong Đảng, trong hệ thống chính trị, trong xã hội, trong đội ngũ đảng viên, công chức, nhưng chủ yếu hướng đích mà các thế lực thù địch muốn tạo ra chính là đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những người đã và đang giữ những trọng trách cao trong Đảng, Nhà nước, trong lực lượng Quân đội, Công an. “Tự diễn biến” bao gồm cả nguyên nhân bên trong và bên ngoài, nguyên nhân khách quan và chủ quan, song quá trình và mức độ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đến đâu, vẫn do các nguyên nhân bên trong, nguyên nhân chủ quan; tức là, do chính chúng ta quyết định. V.I.Lênin – vị lãnh tụ thiên tài của giai cấp vô sản thế giới đã cảnh báo: “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta, ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta… Nếu chúng ta do sai lầm mà gây ra sự chia rẽ thì tất cả sẽ sụp đổ”. Vì thế, nhận diện đúng các nguyên nhân dẫn đến “tự diễn biến” có ý nghĩa rất quan trọng và cấp thiết, nhằm phát hiện kịp thời và phá vỡ các mầm mống, khả năng “tự diễn biến” trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.

“Tự diễn biến” trên lĩnh vực tư tưởng chính trị diễn ra rất phức tạp, đa dạng, nhiều cấp độ, trong đó cấp độ cao nhất là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, biểu hiện đó là: phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng ta là chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đòi Đảng từ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ và thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; phê phán lịch sử cách mạng thiếu khách quan, toàn diện; xét lại con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, kêu gọi thay bằng chế độ tư bản chủ nghĩa; xuyên tạc, bôi đen hình ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Quân đội, Công an…

Thực tiễn cho thấy, khi tư tưởng chính trị chệch hướng sẽ làm cho bộ máy Đảng và Nhà nước bị chia rẽ và nguy cơ tự sụp đổ của chế độ chính trị là khó tránh khỏi. Vì vậy, các thế lực thù địch luôn đặt trọng tâm thúc đẩy “tự diễn biến” về tư tưởng chính trị, trước hết nhằm vào các cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, là nơi hoạch định ra đường lối, chủ trương, chính sách của đất nước. Tùy theo từng đối tượng và phạm vi tác động, chúng sử dụng những thủ đoạn, nội dung, hình thức và phương pháp thúc đẩy “tự diễn biến” về tư tưởng chính trị khác nhau.

“Tự diễn biến” trên lĩnh vực kinh tế là sự phủ nhận của một số người đối với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; hạ thấp, đi đến làm mất vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, vai trò quản lý kinh tế của nhà nước xã hội chủ nghĩa; đòi tư nhân hóa hoàn toàn nền kinh tế, xóa bỏ chế độ công hữu tư liệu sản xuất chủ yếu để thay thế bằng chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa… Quá trình “tự diễn biến” trên lĩnh vực kinh tế càng trở nên nguy hiểm trong điều kiện các thế lực thù địch có tiềm lực kinh tế mạnh hơn chúng ta nhiều lần. Chúng đã và đang tìm mọi cách lợi dụng những kẽ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, khoét sâu vào những hạn chế, khuyết điểm của chúng ta để cổ súy, thúc đẩy tư nhân hóa nền kinh tế, nhằm đến một giai đoạn nhất định, khi sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa giữ vai trò chi phối cơ sở hạ tầng kinh tế, thực chất là đã chuyển hóa thành kinh tế tư bản chủ nghĩa, thì kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa chỉ còn tồn tại trên danh nghĩa và thực sự đã “đổi màu”. Khi đó, chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa được thay bằng chế độ kinh tế tư bản chủ nghĩa.

“Tự diễn biến” trên lĩnh vực văn hóa, xã hội, đạo đức, lối sống biểu hiện ở việc sùng bái, chạy theo văn hóa, lối sống tư sản; từ bỏ các giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống dân tộc, các giá trị xã hội chủ nghĩa; xuyên tạc trắng trợn lịch sử, phủ nhận nền văn hóa cách mạng; thương mại hóa các hoạt động văn hóa một cách thái quá, đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc; đề cao chủ nghĩa cá nhân, thói đạo đức giả, vị kỷ, xa hoa, trụy lạc… Điều rất nguy hại là “tự diễn biến” về đạo đức, lối sống lại diễn ra ở một bộ phận cán bộ, đảng viên của hệ thống chính trị và sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với sự nghiệp cách mạng, thậm chí đối với cả vận mệnh của Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa, như đã từng diễn ra ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô trước đây.

Cùng với thành tựu đạt được sau 30 năm đổi mới, cũng như khó khăn thách thức mà đất nước đã và đang vượt qua; trước yêu cầu của sự nghiệp cách mạnh trong giai đoạn mới, hơn bao giờ hết, Đảng cần tự đổi mới, tự chỉnh đốn, xây dựng Đảng thật sự vững vàng về chính trị, tư tưởng; thống nhất cao về ý chí, hành động; trong sạch về đạo đức, lối sống; chặt chẽ về tổ chức; gắn bó mật thiết với nhân dân, đủ sức lãnh đạo đưa đất nước ngày càng phát triển. Mỗi chúng ta cần nêu cao ý thức cảnh giác, phòng, chống “tự diễn biến” trong nội bộ, trước hết chú trọng thực hiện một số giải pháp cơ bản sau:

Một là, luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa; giữ vững và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; giữ vững truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc…

Hai là, chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê phán mọi biểu hiện “tự diễn biến” từ phía các thế lực thù địch và từ phía nội bộ ta trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, ở mọi lúc, mọi nơi, mọi cấp độ, cả ở trong nước và ngoài nước.

Ba là, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” làm cơ sở quyết định để “chống”. Trước hết, phải xây dựng hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh để “miễn dịch” trước mọi sự tác động tiêu cực từ bên ngoài. Cùng với đó, kịp thời phát hiện các nguy cơ “tự diễn biến” từ khi còn ở dạng mầm mống, khả năng thì mới có thể “chống” tốt. Luôn tích cực, chủ động, kiên quyết đấu tranh, bài trừ tệ nạn tham nhũng, lãng phí và bệnh quan liêu, coi đó như một loại “giặc nội xâm”, không khác gì với đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Bốn là, công tác tổ chức cán bộ phải luôn gắn kết với tăng cường giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên trong tình hình mới. Coi đây là biện pháp cốt lõi để triệt tiêu mọi âm mưu, thủ đoạn thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của các thế lực thù địch.

Năm là, coi trọng gắn kết chặt chẽ công tác tổ chức cán bộ với tăng cường giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên về bản lĩnh chính trị, lý luận cách mạng, năng lực công tác, phẩm chất đạo đức, lối sống, để họ không dao động trước bất kỳ tình huống khó khăn, phức tạp nào, yên tâm với vị trí, cương vị và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

“Tự diễn biến” là vấn đề rất nguy hiểm, nhưng nó xâm nhập được vào nội bộ chúng ta hay không, điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào chính chúng ta. Cần khẳng định, khi mỗi cán bộ, đảng viên luôn nhận thức rõ mọi âm mưu, thủ đoạn chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào cũng vững niềm tin son sắt vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi công cuộc đổi mới, thì dù các thế lực thù địch có tìm mọi cách để thúc đẩy “tự diễn diễn”, “tự chuyển hóa” đến đâu, chúng cũng không thể đạt được ý đồ thâm hiểm làm chuyển hóa chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta mà toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã lựa chọn.


Tránh nhẹ dạ, vô tình bị lợi dụng

Tiếp nhận thông tin một chiều, không có điều kiện thẩm định thực-hư, không nắm chắc bản chất vấn đề, cũng không nhận rõ yếu tố chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa vị kỷ của những người lớn tiếng “kêu oan”, bày tỏ bức xúc... nên dư luận xã hội, nhất là trên cộng đồng mạng được dịp a dua, theo đóm ăn tàn, like, share cảm tính, vô hình trung tạo nên làn sóng dư luận tiêu cực trong cộng đồng. Chính điều đó đã tác động không nhỏ đến đời sống tinh thần xã hội. Theo chiều tiêu cực, nhiều người dần dần hình thành cách nhìn phiến diện, thiếu thiện cảm đối với hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ. Nhiều người hiểu sai bản chất và không nhận rõ tính khoa học, khách quan từ những chủ trương, giải pháp của Đảng, Nhà nước về công tác tư tưởng, tổ chức và chính sách đối với cán bộ, đảng viên; không thấy hết nỗ lực của các cấp, các ngành trong hiện thực hóa chủ trương tinh giản biên chế, quyết tâm xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; không nhận thức đủ tính ưu việt trong chính sách trọng dụng hiền tài và quyết tâm thải loại những thành phần yếu kém về năng lực, phẩm chất ra khỏi tổ chức... Những hành vi lệch lạc đó đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhận thức, tình cảm, ý chí, niềm tin của quần chúng đối với tổ chức đảng và bộ máy chính quyền Nhà nước. Nguy hại hơn là từ những sự vụ, sự việc nêu trên, các lực lượng thù địch lấy đó làm nguyên cớ hòng đưa đẩy vấn đề theo hướng tiêu cực, rồi suy diễn, quy chụp về những tồn tại, hạn chế trong nội bộ Đảng và bộ máy Nhà nước. Từ một vài ví dụ trên mạng xã hội, chúng rêu rao rằng "nội bộ tổ chức đảng và chính quyền đang mất đoàn kết, phân chia bè cánh, kèn cựa, đấu đá hạ bệ lẫn nhau nên mới có chuyện thải loại và đẩy cán bộ tốt vào đường cùng"... Từ đó, chúng đề xuất, tự thúc đẩy trào lưu đấu tranh, kích động biểu tình, gây rối trên một số địa bàn. Sự việc diễn ra năm 2018 ở nhiều địa phương, nhất là ở Bình Thuận càng giúp chúng ta thấm, ngấm được bài học về việc cộng đồng xã hội và người dân bị các thế lực thù địch “dắt mũi” thông qua những bài viết trên mạng xã hội. hải khẳng định ngay, những cá nhân nêu trên đã tự đánh mất mình, rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Họ đã mặc nhiên quay lưng với chính hệ tư tưởng, quan điểm, lý tưởng cống hiến trong suốt quãng đời công tác trước đây của bản thân. Chính họ đã tự xúc phạm, giẫm đạp lên quá khứ của chính mình! Vì sao lại thế? Có muôn nghìn câu trả lời. Cũng thấy rõ muôn vàn lý do, nguyên nhân đưa đến thực trạng đó. Nào là do những xích mích, mất lòng trong hàng ngũ lúc còn đương chức; do về hưu phải đối diện với sự cô đơn, cô độc, lại có nhiều thời gian nên “rảnh rỗi sinh nông nổi”; do thiếu thông tin, không tìm hiểu cặn kẽ sự việc... nên nhận thức phiến diện, cực đoan; do tác động từ âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, nhất là khi chúng xác định nhóm công dân này là một trong những đối tượng có thể tập trung lợi dụng, lôi kéo... Thế nhưng, dù căn nguyên ra sao thì vấn đề cốt tử vẫn nằm ở bản lĩnh chính trị và bản chất của những người từng khoác lên mình màu áo đảng viên và danh dự, tư cách người cán bộ cách mạng. Thực tế cho thấy, một khi cán bộ thật sự có bản lĩnh, chí công, vô tư phục vụ tổ chức, cơ quan, đơn vị, sống chân thành, tử tế với đồng chí, đồng đội lúc đương chức thì khi nghỉ hưu, rời tổ chức, họ vẫn một lòng gắn bó với sự nghiệp của tập thể. Họ vẫn theo dõi, quan sát từng bước phát triển, trưởng thành của tổ chức, xem đó là nguồn hạnh phúc của mình. Thậm chí, nhiều người còn chủ động tham mưu, hiến kế, giúp đỡ thế hệ đi sau hoàn thành nhiệm vụ. Nhiều cán bộ khi nghỉ hưu hoặc luân chuyển đi nơi khác... vẫn nhận được sự quan tâm, động viên, kính trọng của đồng nghiệp, anh em nơi cơ quan cũ. Cấp trên đương chức, nhân viên, đồng nghiệp vẫn thường xuyên lui tới thăm hỏi, trò chuyện, giữ mối liên hệ mật thiết, sẻ chia vui buồn. Ngược lại, những kẻ đã, đang và sẽ hống hách, rao giảng, kêu than trên mạng xã hội thì lúc đương chức tâm địa có lẽ cũng có vấn đề... Nói như vậy sẽ không hẳn là đúng với mọi trường hợp, mà câu chuyện này còn chịu sự chi phối đa chiều bởi các quy luật tâm lý-xã hội. Có nghĩa, bất cứ ai nghỉ hưu, bị thải loại, rời xa tổ chức cũ... cũng đều ít nhiều rơi vào các biểu hiện, vấn đề của tư tưởng, tâm lý. Con người ta sẽ không tránh khỏi những nỗi buồn khách quan và sự hẫng hụt về mặt tinh thần khi phải bắt đầu một nếp sống mới. Nói như vậy để thấy, việc quan tâm, làm tốt công tác tư tưởng cho đối tượng sắp nghỉ hưu, đối tượng tinh giản... cần phải được cấp ủy, lãnh đạo, chỉ huy các cấp tiến hành thường xuyên, liên tục. Bởi có một thực tế là, ở một số cơ quan, đơn vị hiện nay, việc tiến hành công tác tư tưởng cho cán bộ trước và sau khi nghỉ công tác vẫn bị coi nhẹ, ít có sự động viên, quan tâm thường xuyên. Thế nhưng, dù các tác động khách quan có đến mức nào đi chăng nữa thì yếu tố chủ quan vẫn giữ vai trò quyết định. Nhiều cá nhân trước khi nghỉ hưu vẫn mưu toan giữ ghế, tham vọng bám trụ lại tổ chức vì quyền lợi riêng nên thật khó chiến thắng được sự xung đột tâm lý cá nhân. Và nhất là khi mưu cầu tư lợi không đạt được thì sinh ra bệnh tư tưởng, rồi “giận cá chém thớt”, làm những chuyện trái khoáy... khiến dư luận phải dị nghị, xem thường! Nhiều chuyên gia tâm lý cho rằng: Trong khi toàn Đảng và cả hệ thống chính trị đang quyết liệt thực hiện chủ trương “có lên, có xuống, có vào, có ra” thì tinh thần này phải được thấu triệt đến mọi cấp, mọi ngành, mọi địa phương. Từng cấp ủy, tổ chức phải đẩy mạnh giáo dục để cán bộ lúc đương chức luôn thông suốt về tư tưởng, nhận thức rõ việc nghỉ hưu, rời tổ chức là việc đương nhiên, tất yếu. Từng cá nhân phải cố gắng duy trì quan điểm dù đang công tác hay nghỉ công tác thì đều giữ đúng chức phận của mình; là người đảng viên kiên định, kiên trung của Đảng. Có được tư duy và cách nghĩ đó thì chắc chắn việc nghỉ hưu, rời tổ chức sẽ tự nó trở nên thanh thản, nhẹ nhàng... Còn xét dưới góc độ tổ chức, đối với những trường hợp vừa rời tập thể đã hòa vào đám đông một cách tiêu cực thì cần phải được cấp có thẩm quyền nhận diện, đấu tranh phê bình nghiêm khắc; thậm chí xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật để giáo dục chung. Thực tế nhiều năm qua cho thấy, những trường hợp như đã nêu ở trên diễn ra khá phổ biến, ở nhiều cơ quan, đơn vị, nhưng việc xử lý vẫn chưa triệt để, nghiêm khắc. Có chăng chỉ là sự nhắc nhở, động viên, đối thoại, cảnh tỉnh... rồi “đâu lại vào đấy”. Do vậy, cùng với giáo dục, thuyết phục, các cơ quan chức năng cần có thái độ quyết liệt xử lý thực trạng này. Khi phát hiện các đối tượng lợi dụng mạng xã hội để nói xấu Đảng, chế độ, bôi nhọ tổ chức, cơ quan, đơn vị thì kiên quyết xử lý nghiêm minh đến cùng, đúng người, đúng mức độ vi phạm, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”... Làm cán bộ, đảng viên của Đảng thì cần phải khắc ghi và hiểu sâu sắc lời dạy quý báu của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân".

“Sói đơn độc” – Cảnh giác âm mưu truyền bá tư tưởng khủng bố trên Internet

    Trước sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, không gian mạng đã và đang trở thành vùng lãnh thổ mới có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của mỗi quốc gia.

    Do đặc thù thông tin trên không gian mạng có tốc độ truyền thông tin nhanh chóng, không gian, thời gian rộng mở nên những thông tin trên mạng có khả năng tác động nhanh chóng, mạnh mẽ đến nhận thức của con người ở mọi đối tượng, nhất là trong một thời điểm nhất định có thể tạo làn sóng tích cực hay tiêu cực tác động vào đời sống kinh tế – xã hội và tình hình an ninh, trật tự của một khu vực hay một quốc gia.

    Thực tiễn trong những năm qua, các tổ chức khủng bố triệt để lợi dụng các hình thái mạng xã hội để tuyên truyền về chủ nghĩa khủng bố, đồng thời cũng coi đây là phương thức liên lạc an toàn hiệu quả cho các thành viên trên thế giới thực hiện các hành vi khủng bố theo kiểu “sói đơn độc”. Phương thức sử dụng không gian mạng để thực hiện các hoạt động khủng bố đã và đang đặt ra những thách thức không nhỏ về công tác an ninh cho các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

    Vậy hình thức khủng bố “sói đơn độc” là gì?

    Thời gian gần đây, nhiều quốc gia châu Âu đã trở thành mục tiêu của các cuộc tấn công khủng bố đơn lẻ vào những khu vực đông người ở các nước như Anh, Pháp, Bỉ… và gần đây nhất là nước Áo. Các vụ tấn công liên tiếp này đang tạo ra tâm lý bất an khắp châu Âu.

    Trên mạng xã hội các nước tràn ngập việc tìm kiếm từ khóa như Satoshi Uematsu (Nhật); Mohamed Lahouaiej Bouhlel (Pháp) Omar Mateen (Mỹ)… đã và đang là những từ khóa gây kinh hãi nhất qua hình thái mạng xã hội. Dù được gọi bằng những từ ngữ khác nhau nhưng tựu chung lại, họ gọi chúng là những “sói đơn độc” hay đơn giản là phương thức khủng bố “sói đơn độc”, một phương thức mới khác xa so với phương thức khủng bố theo nhóm trước đây, gây ra những bất ổn trong xã hội của một quốc gia.

    Phương thức khủng bố “sói đơn độc” nguy hiểm vì tính chất đơn lẻ, hành động một mình nên manh mối về âm mưu tấn công của những kẻ khủng bố rất khó bị phát hiện.

    Theo các nhà phân tích, có thể số lượng “sói đơn độc” tại châu Âu ngày càng tăng vì sự chênh lệch quá lớn về thu nhập và mức sống khiến nhiều người rơi vào bế tắc. Một nguyên nhân khác là do sự phổ biến của Internet và mạng xã hội đã lan truyền các tư tưởng cực đoan một cách nhanh chóng và mạnh mẽ hơn.

    Sự truyền bá tư tưởng khủng bố, cực đoan qua mạng Internet, các web chìm hoặc mạng xã hội mã hóa đầu cuối đang được xem như là công cụ hỗ trợ đắc lực cho các tổ chức khủng bố gieo rắc và kích động tư tưởng cực đoan tới những cá nhân vốn đã mang sẵn sự thù ghét, bất mãn xã hội trong mình. Như trong vụ tấn công tại Anh tháng 6/2017, có đối tượng thậm chí còn chưa bao giờ ra khỏi biên giới nước Anh lại bị cực đoan hóa ngay trong lòng nước Anh.

    Thực tế đối mặt với phương thức khủng bố mới “sói đơn độc” đã khiến cho các nước châu Âu bên cạnh việc tăng cường an ninh, theo dõi các đối tượng cực đoan kể cả trên môi trường không gian mạng và đồng thời ban hành các đạo luật mới giúp cho lực lượng an ninh có thể xâm nhập vào tài khoản nghi vấn trên không gian mạng với lí do an ninh trong công cuộc chống khủng bố.

    Tuy nhiên, để tiêu diệt và ngăn chặn những phần tử cực đoan hành động như những con “sói đơn độc”, những việc làm này là chưa đủ, lực lượng an ninh các nước châu Âu cần nhiều hơn nữa về sự phối hợp ở cấp liên quốc gia và khu vực, sự đánh giá đúng mức mối liên hệ giữa các mạng lưới khủng bố qua không gian mạng ở bên ngoài biên giới mỗi quốc gia và tội phạm quy mô nhỏ ở trong lòng châu Âu, nhất là trong cộng đồng người nhập cư, nhằm ngăn chặn nguy cơ bị cực đoan hóa trong lòng châu Âu.

    Nguy cơ khủng bố “sói đơn độc” đối với Việt Nam

    Không gian mạng là hệ thống của những mối quan hệ trên nền tảng internet; Việt Nam là nước có số người dùng Internet trên không gian mạng thuộc tốp đầu trên thế giới. Năm 2019, dân số Việt Nam đạt mốc xấp xỉ 97 triệu dân, với tỷ lệ dân thành thị là 36%.Cùng trong năm, có 64 triệu người sử dụng Internet, tăng đến 28% so với năm 2017; hơn 55 triệu người sử dụng các mạng xã hội (chiếm 57% dân số) và 436 mạng xã hội đang hoạt động, đứng thứ 7 trong 10 nước có số người sử dụng mạng xã hội nhiều nhất thế giới. Cùng với những giá trị tích cực không gian mạng cũng bộc lộ những mặt trái và hệ lụy của nó, không gian mạng “được ví như con dao 2 lưỡi ẩn chứa nhiều vấn đề bất cập và hiểm họa khó lường, nhất là những đối tượng sử dụng không đúng mục đích”.

    Trong những năm qua kể từ khi các hình thái mạng xã hội trên không gian mạng xâm nhập và phát triển vào Việt Nam các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị trong và ngoài nước càng gia tăng hoạt động tuyên truyền, chống phá Đảng, Nhà nước ta.

    Thông qua các trung tâm phá hoại tư tưởng, các tổ chức khủng bố lưu vong (như “Việt Tân”, “Quỹ người Thượng”, “Khối 8406”, Ủy ban Cứu người vượt biển”, “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”, “Triều đại Việt”) và số đối tượng phản động, chống đối, bất mãn chế độ, cơ hội chính trị trong nước đã tiến hành nhiều phương thức khác nhau, đặc biệt là lợi dụng hình thái mạng xã hội trên không gian mạng để thực hiện các hoạt động truyền bá tư tưởng cực đoan nhằm kích động người dân thực hiện các hành vi như tụ tập đông người gây rối an ninh, trật tự; sử dụng bom xăng tấn công lực lượng chức năng; thậm chí tuyển thành viên để tiến hành các hoạt động khủng bố ở trong nước mà đối tượng đó không cần phải xuất cảnh ra nước ngoài.

    Điển hình từ cuối năm 2016, các đối tượng Đào Minh Quân, Phạm Lisa và một số đối tượng phản động trong và ngoài nước là thành viên của tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”, thông qua mạng xã hội đã lôi kéo nhiều đối tượng không nghề nghiệp, bất mãn chế độ nhưng có chung một điểm là hám lợi thành lập các “nhóm hành động” để tiến hành khủng bố, phá hoại tại Việt Nam.

    Trong đó có vụ đặt bom xăng ở sân bay Tân Sơn Nhất năm 2016, vụ ném bom xăng bãi giữ xe vi phạm Công an thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai năm 2017 và gần đây nhất là vụ ném bom tại trụ sở Công an phường 12, quận Tân Bình năm.

    Các vụ khủng bố trên dù chưa gây ra thiệt hại lớn về người nhưng đã đặt ra những thách thức trong công tác đảm bảo an ninh của Việt Nam. Qua quá trình điều tra, xét xử, các đối tượng đều thành khẩn khai nhận trong quá trình sử dụng mạng xã hội đã tiếp xúc liên lạc với những đối tượng khủng bố lưu vong ở nước ngoài và nhận hướng dẫn, chỉ đạo và nhận tiền từ các đối tượng bên ngoài để thực hiện các hành vi khủng bố.

    Từ những phân tích nêu trên cho thấy, hoạt động truyền bá tư tưởng khủng bố trong thời gian qua đã được các tổ chức khủng bố lưu vong người Việt ở nước ngoài đẩy mạnh trên không gian mạng. Vì vậy, để phòng ngừa nguy cơ truyền bá tư tưởng khủng bố trên không gian mạng, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục qua các trang tin chính thống và các phương tiện thông tin đại chúng đểngười dân, nhất là những người thường xuyên xử dụng mạng nhận thức đúng đắn, đầy đủ về nguyên nhân, sự nguy hiểm cùng tác hại, ảnh hưởng to lớn do hoạt động khủng bố gây ra không chỉ đối với sống của mình và người thân mà đối với an ninh, an toàn xã hội.

    Đồng thời công khai các địa chỉ trang tin trên mạng xã hội của các tổ chức khủng bố lưu vong và các đối tượng khủng bố người Việt ở nước ngoài để người dân nhìn nhận rõ nét về bản chất, âm mưu, thủ đoạn của chúng để cảnh giác, ngăn chặn.

Công an và quân đội là hai cánh tay của nhân dân, của Đảng, của Chính phủ, của vô sản chuyên chính

    Quân đội nhân dân và Công an nhân dân ra đời từ các phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, được Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức lãnh đạo và giáo dục, có nhiệm vụ chiến đấu giành, giữ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và những thành quả cách mạng, cùng toàn dân xây dựng đất nước, chính vì vậy, bản thân nó đã là một lực lượng chính trị.

    Trong suốt quá trình cách mạng, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ cùng sự giúp đỡ, đùm bọc của nhân dân đã không ngừng lớn mạnh, trưởng thành, có những đóng góp quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, đánh thắng hai đế quốc, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; làm tốt vai trò là lực lượng nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với xây dựng thế trận an ninh nhân dân vững chắc, góp phần quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân đã luôn đoàn kết, gắn bó chặt chẽ với nhau, cùng sát cánh kề vai, nỗ lực vượt qua khó khăn, gian khổ, sẵn sàng xả thân vì nước, lấy lợi ích của Tổ quốc và nhân dân làm lý tưởng, mục tiêu cao nhất để phấn đấu; một lòng, một dạ, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, hết lòng phục vụ nhân dân; đoàn kết tận tụy trong công tác, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu; chủ động phòng ngừa, tấn công làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và các loại tội phạm, góp phần giữ vững ổn định chính trị, phục vụ có hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội và đối ngoại của đất nước.

    Từ năm 2003, Bộ Công an đã phối hợp với Bộ Quốc phòng tham mưu với Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 107/QĐ-TTg, ngày 2-6-2003 về “Quy chế phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội trong tình hình mới”. Sau đó, hai Bộ đã tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định số 77/2010/NĐ-CP về Phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội và nhiệm vụ quốc phòng; Nghị định số 152/2007/NĐ-CP của Chính phủ về khu vực phòng thủ, quy định gắn thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân…

    Luật Quốc phòng năm 2005 xác định: “Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội có trách nhiệm phối hợp với Quân đội nhân dân và Dân quân tự vệ thực hiện nhiệm vụ quốc phòng”. Luật Công an nhân dân năm 2014 quy định: “Quân đội nhân dân, Dân quân tự vệ có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với Công an nhân dân để bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội và xây dựng Công an nhân dân”. Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng nhấn mạnh: “Bố trí thế trận quốc phòng, an ninh phù hợp với tình hình mới. Gắn kết quốc phòng với an ninh. Kết hợp chặt chẽ quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế trên từng địa bàn lãnh thổ, trong công tác quy hoạch, kế hoạch và các chương trình, dự án”. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “…phải tiếp tục giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc”.

    Trên cơ sở đó, lực lượng Quân đội và Công an đã kịp thời, chủ động phát hiện, tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước nhiều chủ trương, giải pháp bảo vệ an ninh, trật tự, bảo vệ biên giới, lãnh thổ của Tổ quốc; ban hành và hoàn thiện chính sách, pháp luật về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, về quốc phòng, an ninh, đối ngoại; bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang nhân dân, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển đất nước.

    Phải sáng suốt và luôn đề cao cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn tinh vi, thâm độc của các thế lực thù địch hòng gây chia rẽ làm suy yếu lực lượng vũ trang. Kiên quyết phê phán, vạch trần luận điệu đòi “phi chính trị hóa” Quân đội và Công an góp phần đánh bại chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch nhằm chống phá cách mạng Việt Nam.


Không ngừng xây dựng, củng cố niềm tin của nhân dân

    Ngay từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định mục đích phấn đấu là lãnh đạo nhân dân làm cách mạng, giải phóng, giành độc lập, tự do cho dân tộc, đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội, mang lại cường thịnh cho đất nước, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài đấu tranh vì lợi ích của dân tộc, lợi ích của nhân dân. Xây dựng, bồi đắp, củng cố niềm tin của nhân dân đối với vai trò lãnh đạo của Đảng là một trong những thành tố đặc biệt quan trọng phát huy sức mạnh của toàn dân tộc, là bài học lớn trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.

    Lịch sử đã chứng minh mọi thắng lợi của cách mạng đều xuất phát từ sức mạnh của quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trải qua nhiều giai đoạn cách mạng với nhiều khó khăn, thử thách, Đảng ta luôn bền tâm, vững chí, dựa vào dân và nguyện chiến đấu, hy sinh, phụng sự nhân dân. Để có được sự đồng hành, ủng hộ của nhân dân thì việc rất quan trọng đối với Đảng ta là xây dựng niềm tin của nhân dân với Đảng.

    Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh một trong số các yếu tố trung tâm có ý nghĩa quan trọng hàng đầu để có thể biến mục tiêu đó thành hiện thực là “củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Một trong những nhiệm vụ quan trọng hiện nay là củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước. Cần thẳng thắn thừa nhận, trong bộ máy Nhà nước ta hiện nay có một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa làm tròn trách nhiệm… làm giảm sút lòng tin của nhân dân vào bộ máy của Đảng, Nhà nước, làm mất uy tín, tổn hại danh dự của Đảng, thậm chí đe dọa đến sự tồn vong của Đảng”…

    Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh là điều kiện tiên quyết để cho dân tin Đảng, để củng cố niềm tin của dân đối với Đảng và chế độ. Đảng phải thực hiện bằng được các cam kết chính trị của mình với dân tộc, trong đó xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ vững độc lập và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ chính là cam kết chính trị trực tiếp nhất, quan trọng nhất. Phải làm cho Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng; chặt chẽ, hợp lý về tổ chức, bộ máy; nghiêm khắc về kỷ luật, kỷ cương; có đủ năng lực lãnh đạo nhân dân trong công cuộc xây dựng đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Đảng phải nêu gương, các tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải tiên phong, gương mẫu trong đạo đức và lối sống, kết hợp hài hòa giữa lợi ích riêng và lợi ích chung; khi lợi ích riêng mâu thuẫn với lợi ích chung thì phải đặt lợi ích chung lên trên hết, trước hết. Những năm qua, Đảng đã kiên quyết loại ra khỏi hàng ngũ những cá nhân thoái hóa, biến chất, những cán bộ không trung thực, nói không đi đôi với làm. Bởi lẽ, chính đội ngũ cán bộ là hình ảnh và đại diện trực tiếp của Đảng trước nhân dân. Đây là nhân tố góp phần tạo nên uy tín của cán bộ, uy tín của Đảng với nhân dân và góp phần xây dựng, bồi đắp niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

    Sự chống phá của các thế lực thù địch, âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” ngày càng tinh vi, xảo quyệt,… đã và đang tác động không nhỏ đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Chúng ta cần củng cố niềm tin để xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, tạo nền tảng phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Từ dao động, hoài nghi đến xa rời, phản bội lý tưởng cách mạng

Gần đây, nếu quan tâm theo dõi tình hình, có thể thấy sự xuất hiện của một vài ý kiến đòi xem xét lại nội dung cốt lõi nền tảng tư tưởng của Đảng. Có người thì tỏ ra nhẹ nhàng “hiến kế”, “tâm thư”, “góp ý” rằng Chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời, nên thay bằng những thứ mà họ gọi là “chủ thuyết phát triển mới”, rằng nội dung Văn kiện Đại hội XIII của Đảng không có gì mới, vẫn là “bổn cũ soạn lại”, “sao chép theo lối mòn”, thiếu tầm tư duy chiến lược, không biết tiếp thu những tinh hoa của nhân loại. Có người thì công khai phủ định, phản bác Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH). Họ đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, xây dựng chế độ xã hội theo mô hình phương Tây... Những quan điểm mang tư tưởng xét lại, chống phá nói trên nếu không được phản bác, ngăn chặn sẽ gây hoang mang trong nhân dân, làm suy giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào CNXH và con đường đi lên CNXH. Thực tế thì không phải bây giờ mà ngay từ lúc Mác, Ăngghen và Lênin còn sống, những thành phần đòi xét lại Chủ nghĩa Mác-Lênin đã xuất hiện. Những người theo chủ nghĩa xét lại vẫn chấp nhận các lý tưởng cùng nền tảng lý luận cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin nhưng phê bình những luận điểm của Mác, Lênin về cương lĩnh, chiến lược và sách lược cách mạng... mà họ cho là không còn phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn trên thế giới và ở từng nước. Một số người đưa ra quan điểm rằng, trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản (CNTB) bước sang thời kỳ phát triển tương đối hòa bình, các hình thức đấu tranh nghị trường được sử dụng rộng rãi, mâu thuẫn cơ bản của CNTB sẽ dịu đi và vì vậy, không cần đấu tranh xóa bỏ sự bóc lột của tư bản chủ nghĩa, mà chỉ cần sự thâm nhập hòa bình của khuynh hướng XHCN là thực hiện được mục tiêu xóa bỏ áp bức, bóc lột. Những người khác thì lập luận rằng, những thứ như tự do chính trị, dân chủ, quyền công dân trong CNTB sẽ loại bỏ tính tất yếu đấu tranh chính trị của giai cấp công nhân. Vì thế, mục tiêu cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân là thiết lập dân chủ tư sản, cải cách CNTB, điều hòa xung đột giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân. Dù tên gọi, biến tướng có khác nhau nhưng tựu trung, chủ nghĩa xét lại có hai khuynh hướng chính. Chủ nghĩa xét lại “tả khuynh” tìm cách đánh tráo những nguyên lý của Chủ nghĩa Mác-Lênin bằng những quan điểm vô chính phủ, duy ý chí có tính tiểu tư sản, phủ nhận tính tất yếu đấu tranh chính trị của giai cấp công nhân, phủ nhận vai trò của đảng cộng sản và chuyên chính vô sản. Chủ nghĩa xét lại “hữu khuynh” thì đòi bác bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin, muốn thay thế những nguyên lý của Chủ nghĩa Mác-Lênin bằng những quan điểm, cải cách tư sản. Và dù ngụy trang dưới bất kỳ hình thức nào, dù có những điều chỉnh nhất định, chủ nghĩa xét lại cũng không thể che giấu được động cơ là xa rời mục tiêu cuối cùng của giai cấp công nhân, từ bỏ cuộc đấu tranh giành thắng lợi cho CNXH. Vì mang tính chất hai mặt của những giai tầng xã hội tiểu tư sản, tiểu chủ trong điều kiện CNTB và trong điều kiện đấu tranh vì CNXH ngày càng gay gắt nên chủ nghĩa xét lại thường xuất hiện khi có bước ngoặt. Vào thời điểm khó khăn, phức tạp, thử thách hoặc khi những phát minh, sáng chế khoa học và tình hình mới dẫn đến phá vỡ giới hạn nhận thức cũ, người nhiễm tư tưởng xét lại thường không đủ khả năng nhận thức đúng những hiện tượng mới nảy sinh, những thay đổi trong sách lược của các đảng cộng sản nên hay dao động, không vững vàng. Thêm vào đó, trước sự tấn công điên cuồng của CNTB, họ tỏ ra yếu đuối, hoang mang, dễ bị lợi dụng, từ đó mà nảy sinh tư tưởng xét lại, thậm chí chuyển hóa thành phản bội. Thực tế cho thấy, khi Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới thoái trào, những người mang tư tưởng xét lại bắt đầu tỏ ra bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn, khoa học của CNXH. Có người quy kết nguyên nhân đổ vỡ này là do sai lầm của Chủ nghĩa Mác-Lênin và sự lựa chọn con đường xây dựng CNXH. Có người thì quay ra phụ họa với các luận điệu công kích, bài bác CNXH, ca ngợi một chiều CNTB. Thậm chí có người còn sám hối về một thời đã tin theo Chủ nghĩa Mác-Lênin và con đường XHCN, cho rằng cần phải đi con đường khác. Các quan điểm “tân Mác-xít”, “hậu Mác-xít”... thi nhau trỗi dậy, gây xáo trộn về tư tưởng. Ở Việt Nam, trong quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, phức tạp, ở những bước ngoặt, chúng ta cũng thấy xuất hiện tư tưởng cơ hội, xét lại dưới nhiều màu sắc “hữu khuynh”, “tả khuynh”. Dù chỉ tồn tại với tính cách là quan điểm, tư tưởng chứ chưa định hình rõ như “chủ nghĩa”; biểu hiện ở lời nói, trang viết và hành động nhỏ lẻ của một số người, một nhóm người nhưng tư tưởng xét lại cũng gây nhiều khó khăn cho cách mạng. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, khi cuộc chiến ở vào thời kỳ quyết liệt, đã có những người tỏ ra dao động trước sức mạnh tàn bạo của kẻ thù, trước hy sinh, gian khổ nên không kiên định với đường lối đấu tranh giải phóng miền Nam, ảo tưởng về con đường chung sống hòa bình. Vào thời điểm Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, phong trào cộng sản suy thoái, đất nước thì lâm vào khủng hoảng kinh tế-xã hội sâu sắc, một số người bắt đầu dao động, ngả nghiêng, do dự, mơ hồ, hoài nghi vào con đường đi lên CNXH. Thậm chí có người cho rằng lý luận về CNXH đã sụp đổ, cần phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, xây dựng chế độ xã hội theo mô hình phương Tây, phi chính trị hóa quân đội... Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, trong đó có tư tưởng xét lại, để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đã trở thành vấn đề cơ bản, hệ trọng, có ý nghĩa sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng. Trước hết, phải thấy rằng theo đà phát triển không ngừng của thực tiễn và khoa học, bất cứ học thuyết nào tự bản thân nó cũng không phải là một hệ thống lý luận giáo điều, và chính Mác cũng đã từng đưa ra câu cách ngôn “Mỗi bước tiến của phong trào thực tiễn còn quan trọng hơn hàng tá cương lĩnh”. Học thuyết Mác-Lênin mặc dù rất khoa học và đúng đắn cũng không thể giải đáp đầy đủ, chi tiết, cặn kẽ mọi vấn đề, ở mọi thời đại, của mọi quốc gia. Nó chỉ là thế giới quan và phương pháp luận khoa học, là vũ khí tư tưởng của con người trong cuộc đấu tranh vì chân lý khoa học và chính nghĩa nhân văn để nhận thức và cải tạo thế giới mà không phải là “cái đã xong xuôi” hay “nhất thành bất biến”. Chính vì thế, học thuyết Mác-Lênin phải được bổ sung, phát triển không ngừng cùng với tiến trình phát triển tri thức, khoa học, thực tiễn của nhân loại. Tuy nhiên, dù bổ sung, phát triển ở bất cứ nội dung nào thì cũng phải đặt trên cơ sở những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin, bởi xa rời những nguyên lý này thì chắc chắn lý luận sẽ bị lệch lạc, bóp méo, mất định hướng và dễ sa vào chủ nghĩa xét lại. Bổ sung, phát triển thì cũng phải vì mục đích bảo vệ, chứ không phải là từ bỏ, là phản bội Chủ nghĩa Mác-Lênin. Với cách mạng Việt Nam hiện nay, việc nghiên cứu, bổ sung, phát triển lý luận phải nhằm mục tiêu góp phần xác lập một đường lối chính trị độc lập, tự chủ, đúng đắn và sáng tạo để dẫn dắt, chỉ đạo thắng lợi công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chứ không phải là phủ nhận, đổi hướng. Bên cạnh yêu cầu giữ vững nguyên tắc, đấu tranh với chủ nghĩa xét lại còn đòi hỏi phải nắm vững và xử lý khéo léo mối quan hệ giữa kiên định và đổi mới. Bởi nếu chỉ kiên định một cách máy móc thì dễ dẫn đến giáo điều, cứng nhắc, bảo thủ. Nhưng nếu không kiên định mà đổi mới một cách vô nguyên tắc thì cũng rất dễ rơi vào chủ nghĩa xét lại, chệch hướng, “đổi màu”. Thêm vào đó, đấu tranh với chủ nghĩa xét lại lại diễn ra ngay trong nội bộ những người cộng sản nên nó đòi hỏi sự kiên trì, khả năng thuyết phục, chứ không thể cực đoan, vội vã phân chiến tuyến, áp đặt phải đứng về bên này hay bên kia. Đặt ra vấn đề này bởi có lúc giáo điều, chủ quan, duy ý chí đã cản trở, gây tâm lý ngần ngại trước những thay đổi, hoặc nhìn nhận, đánh giá chưa hết những sáng tạo phát triển, đổi mới. Đây là việc làm không dễ dàng nhưng lịch sử cho thấy Đảng ta luôn biết vượt qua khó khăn, thử thách trong những thời điểm mà thực tế đòi hỏi phải có những đổi mới, phát triển mà không sa vào xét lại, chệch hướng bằng sự nhạy cảm chính trị và động cơ trong sáng vì nước, vì dân. Đó là tấm gương đồng chí Kim Ngọc, người đã khởi xướng, chủ trì ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TU ngày 10-9-1966 của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc “Về một số vấn đề quản lý lao động nông nghiệp trong hợp tác xã hiện nay”. Nghị quyết này khi đó bị coi là vi phạm nghiêm trọng đường lối của Đảng về phát triển nông nghiệp. Tuy nhiên, thực tế dần cho thấy tính đúng đắn của Nghị quyết 68 và tư duy của đồng chí Kim Ngọc. Sáng tạo đó đã được Đảng ta nghiên cứu, tiếp thu để năm 1981, Ban Bí thư ra Chỉ thị 100-CT/TW về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp (Khoán 100). Tiếp đó là năm 1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 10-NQ/TW về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp (Khoán 10), tạo bước đột phá cho nông nghiệp và nông thôn trong thời kỳ đổi mới. Đó là câu chuyện với đồng chí Nguyễn Văn Linh, nguyên Tổng Bí thư của Đảng. Từ thập niên 1980, khi còn là Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh, đồng chí đã thử nghiệm xóa bỏ cơ chế tập trung, bao cấp, thí điểm đổi mới quản lý kinh tế ở một số doanh nghiệp nhà nước. Đây là những bước đột phá đầu tiên nhằm xóa bỏ cơ chế quản lý cũ nên bị nhiều người phê phán, cho rằng chạy theo cơ chế thị trường nhưng đồng chí Nguyễn Văn Linh vẫn kiên trì từng bước với cách làm này. Thực tế sau này chứng minh sự đúng đắn trong tư duy sáng tạo của đồng chí Nguyễn Văn Linh, và đường lối đổi mới của Đảng hình thành và phát triển chính là từ tổng kết thực tiễn sáng tạo của nhân dân, trong đó có cống hiến to lớn của đồng chí Nguyễn Văn Linh. Và cũng chính thực tế sinh động của sự nghiệp đổi mới là bằng chứng thuyết phục nhất về sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin của Đảng ta mà không sa vào tư tưởng xét lại, chệch hướng, “đổi màu”. Sau 35 năm đổi mới, từ một nước chậm phát triển, đến cái ăn cũng không đủ, Việt Nam đã trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN, một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới. Giờ đây, Việt Nam là hình ảnh của một đất nước đang vững bước đi lên với một tư thế mới, tư thế của người làm chủ và biết làm chủ vận mệnh của mình; với một vị thế mới, vị thế của một đất nước độc lập, tự chủ, hòa bình, ổn định đang trên đà phát triển; với một tầm ảnh hưởng mới, ảnh hưởng của một đối tác đang chuyển mạnh từ “tham gia tích cực” lên “chủ động đóng góp xây dựng, định hình các cấu trúc mới, luật chơi mới”, một đối tác luôn có trách nhiệm trong các “sân chơi” khu vực và toàn cầu. Đúng như lời khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. “Đổi mới” đã song hành với “Việt Nam” đến khắp nơi trên thế giới, đã vang lên trên các diễn đàn quốc tế lớn như là một hiện tượng đặc biệt, một kỳ tích trong thế giới hiện đại. Thành công của đổi mới đã khẳng định sự đúng đắn con đường đi mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn cho đất nước, dân tộc.