Thứ Tư, 17 tháng 11, 2021

 

CHIÊU THỨC CHỐNG PHÁ MỚI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

LỢI DỤNG VẤN ĐỀ DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN, DÂN TỘC, TÔN GIÁO

Những năm qua, các thế lực thù địch đã dùng nhiều hình thức, biện pháp để tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo tình hình dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo và vấn đề dân tộc ở Việt Nam.

Chúng đưa ra yêu sách đòi mở rộng dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, tự do lập hội để tập hợp lực lượng, kích động nhân dân, dẫn đến mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Đặc biệt, chúng tìm mọi cách hướng lái truyền thông nhằm tác động vào quá trình xây dựng hệ thống pháp luật, nhất là thời điểm sửa đổi các văn bản pháp luật về dân chủ, nhân quyền, tôn giáo hoặc ban hành các chỉ thị, nghị quyết, quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng,… để bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước; kích động, lôi kéo, chia rẽ nội bộ, nhằm gây áp lực với Đảng, Nhà nước ta.

Đồng thời, thành lập nhiều tổ chức và đưa người vào Việt Nam để theo dõi, thu thập thông tin về dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, tiến hành móc nối, cài cắm, truyền bá tư tưởng sai trái, vu cáo, xuyên tạc tình hình thực tế ở Việt Nam.

Để đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, âm mưu các thế lực thù địch thực hiện “dân chủ” trong đời sống xã hội. Thúc đẩy “dân chủ hóa” trong nội bộ ĐCSVN, tiếp đó thực hiện “dân chủ hóa” trong truyền thông và xã hội.

Hai yếu tố này có quan hệ mật thiết với nhau, yếu tố thứ nhất mang tính quyết định đến tiến trình “dân chủ hóa” từ bên trên, bên trong nội bộ ta; yếu tố thứ hai sẽ đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của toàn xã hội.

Quá trình “dân chủ hóa” truyền thông là đưa dân chủ vào mạng truyền thông quốc gia và đội ngũ cán bộ, phóng viên báo chí, truyền thông. Con đường xâm nhập để hướng lái truyền thông của các thế lực thù địch là tác động thông qua các hoạt động hợp tác giáo dục, hội thảo, giao lưu, “mượn” các phương tiện truyền thông của Nhà nước, các địa phương, cơ quan, đơn vị để tuyên truyền cho chúng, tách khỏi sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.

Mặt khác, chúng còn lợi dụng các trang mạng xã hội, Facebook, blogger và một số báo, đài phương Tây, hệ thống phương tiện truyền thông của lực lượng phản động người Việt lưu vong,… để tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo, kêu gọi dân chủ, nhân quyền, tự do ngôn luận, tự do báo chí và cạnh tranh trên lĩnh vực truyền thông, gây nhiễu loạn tư tưởng, mất phương hướng trong đời sống xã hội.

Ngoài ra, chúng còn tăng cường hoạt động xâm nhập, móc nối, xây dựng nhân tố bên trong để tác động tư tưởng, phá hoại văn hóa dân tộc, thực hiện xâm lăng văn hóa để thúc đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta...

Đây là những chiêu thức mới của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo hòng chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam. Vì vậy, chúng ta cần nâng cao cảnh giác không để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá.

 

Nhớ ghi lời Bác về đại đoàn kết

    Từ khi Đảng cộng sản Việt Nam được thành lập (ngày 3-2-1930) đến nay, trong các chỉ thị, nghị quyết, phương pháp cách mạng của Đảng…, vấn đề đoàn kết trong Đảng, đại đoàn kết toàn dân tộc luôn được xác định là một chiến lược của cách mạng, được tổ chức lãnh đạo phát triển đến đỉnh cao, tập trung sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc.

    “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết…”  là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, cơ bản, nhất quán và lâu dài, xuyên suốt tiến trình cách mạng, là nội dung quan trọng, chủ đạo hợp thành hệ thống tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tinh thần yêu nước, trọng nhân nghĩa, khoan dung, sự cố kết, chia sẻ, đùm bọc yêu thương đã thấm sâu trong tư tưởng, tình cảm, tâm hồn, cốt cách của mỗi người dân, trở thành lẽ sống, chất kết dính, gắn bó bền vững các thành viên từ trong mỗi gia đình, làng quê, xóm phố và trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.

    Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng huấn thị: “Mục đích của Đảng có thể bao gồm trong 8 chữ là: Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc”. Người nói: “Ngày nay, sự đoàn kết trong Đảng là quan trọng hơn bao giờ hết, nhất là sự đoàn kết chặt chẽ giữa các cán bộ lãnh đạo”.

    Trước lúc đi xa, trong Di chúc thiêng liêng, Bác căn dặn: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xem đại đoàn kết dân tộc là kim chỉ nam cho mọi hành động. 

    Đại hội XIII của Đảng khẳng định quan điểm: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Quán triệt tinh thần đó, cần xác định: Đoàn kết toàn dân nói chung, đoàn kết trong mỗi tổ chức của hệ thống chính trị, tổ chức xã hội nói riêng, phải nhằm thực hiện tốt đường lối quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.

    Điều này hoàn toàn trái ngược với những cá nhân, những nhóm người nhân danh tổ chức, lợi dụng chức quyền, vị trí công tác để gây bè, kéo cánh để tham nhũng, tham ô tài sản của Nhà nước, của nhân dân. Nguy hiểm hơn, một số cá nhân lại sử dụng đồng tiền bất chính đó để chạy chọt, “mua quan bán chức”, nhằm chui sâu, leo cao để mưu danh, mưu lợi cho riêng mình.

    Cùng với đó, họ sử dụng những thủ đoạn hết sức tinh vi, như nhận tiền hối lộ, cài cắm người nhà, người thân, đồng hương, những kẻ cơ hội, bất tài… vào các vị trí công tác quan trọng thuộc các cơ quan công quyền, nhằm tạo cánh hẩu, ê kíp, chân rết.. bảo vệ lẫn nhau, cùng nhau trục lợi, tham ô, tham nhũng, tiêu cực…

 

CHIÊU THỨC CHỐNG PHÁ MỚI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

LỢI DỤNG VẤN ĐỀ DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN, DÂN TỘC, TÔN GIÁO

Những năm qua, các thế lực thù địch đã dùng nhiều hình thức, biện pháp để tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo tình hình dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo và vấn đề dân tộc ở Việt Nam.

Chúng đưa ra yêu sách đòi mở rộng dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, tự do lập hội để tập hợp lực lượng, kích động nhân dân, dẫn đến mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Đặc biệt, chúng tìm mọi cách hướng lái truyền thông nhằm tác động vào quá trình xây dựng hệ thống pháp luật, nhất là thời điểm sửa đổi các văn bản pháp luật về dân chủ, nhân quyền, tôn giáo hoặc ban hành các chỉ thị, nghị quyết, quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng,… để bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước; kích động, lôi kéo, chia rẽ nội bộ, nhằm gây áp lực với Đảng, Nhà nước ta.

Đồng thời, thành lập nhiều tổ chức và đưa người vào Việt Nam để theo dõi, thu thập thông tin về dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, tiến hành móc nối, cài cắm, truyền bá tư tưởng sai trái, vu cáo, xuyên tạc tình hình thực tế ở Việt Nam.

Để đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, âm mưu các thế lực thù địch thực hiện “dân chủ” trong đời sống xã hội. Thúc đẩy “dân chủ hóa” trong nội bộ ĐCSVN, tiếp đó thực hiện “dân chủ hóa” trong truyền thông và xã hội.

Hai yếu tố này có quan hệ mật thiết với nhau, yếu tố thứ nhất mang tính quyết định đến tiến trình “dân chủ hóa” từ bên trên, bên trong nội bộ ta; yếu tố thứ hai sẽ đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của toàn xã hội.

Quá trình “dân chủ hóa” truyền thông là đưa dân chủ vào mạng truyền thông quốc gia và đội ngũ cán bộ, phóng viên báo chí, truyền thông. Con đường xâm nhập để hướng lái truyền thông của các thế lực thù địch là tác động thông qua các hoạt động hợp tác giáo dục, hội thảo, giao lưu, “mượn” các phương tiện truyền thông của Nhà nước, các địa phương, cơ quan, đơn vị để tuyên truyền cho chúng, tách khỏi sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.

Mặt khác, chúng còn lợi dụng các trang mạng xã hội, Facebook, blogger và một số báo, đài phương Tây, hệ thống phương tiện truyền thông của lực lượng phản động người Việt lưu vong,… để tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo, kêu gọi dân chủ, nhân quyền, tự do ngôn luận, tự do báo chí và cạnh tranh trên lĩnh vực truyền thông, gây nhiễu loạn tư tưởng, mất phương hướng trong đời sống xã hội.

Ngoài ra, chúng còn tăng cường hoạt động xâm nhập, móc nối, xây dựng nhân tố bên trong để tác động tư tưởng, phá hoại văn hóa dân tộc, thực hiện xâm lăng văn hóa để thúc đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta...

Đây là những chiêu thức mới của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo hòng chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam. Vì vậy, chúng ta cần nâng cao cảnh giác không để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá.

 

 

LIÊN XÔ SỤP ĐỔ VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

  

30 năm Liên Xô sụp đổ và bài học cho Việt Nam - Khi “then chốt của then chốt” bị…gài chốt.

Sự sụp đổ của Liên Xô, của một Đảng cộng sản với hơn 20 triệu đảng viên trong phút chốc có nguyên nhân quan trọng từ yếu kém, hạn chế của công tác cán bộ - “cái gốc của mọi công việc”. Đặc biệt, sai lầm về xây dựng đội ngũ cán bộ chiến lược, chọn người đứng đầu đã khiến Đảng và cả đất nước phải trả một cái giá quá đắt.

Chúng ta tin tưởng rằng với quyết tâm chính trị cao và sự nghiêm túc đúc rút những bài học lịch sử từ công tác cán bộ ở Liên Xô, chúng ta sẽ ngày càng làm tốt hơn khâu “then chốt của then chốt”, xây dựng được đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chiến lược thật sự vững mạnh, thực hiện được điều Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nhấn mạnh: “Ban Chấp hành Trung ương mạnh, Bộ Chính trị mạnh, cán bộ chủ chốt mạnh thì không sợ gì hết, nhân dân tin tưởng ủng hộ!”; góp phần tiếp tục đưa sự nghiệp đổi mới thành công, vững bước trên con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn./.

 

 

NHẬN THỨC RÕ NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC BẤT NHÂN

NHẰM CHỐNG PHÁ ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC

 Mới đây, trên mạng xã hội (Danlambao) có đưa ra cái gọi là Việt Nam hôm nay: “Nhà nước bất nhân, đảng bất nghĩa, lãnh đạo bất tài” của Nguyễn Dân với thủ đoạn xảo quyệt, vẫn chiêu trò cũ, y đưa ra một số “dẫn chứng” với luận điệu đầy vu khống và xuyên tạc. Bằng giọng lưỡi vô nhân đạo, cắt xén thông tin y đã phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, bôi nhọ lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta.

Không cần dẫn nhiều hơn những thành tựu vĩ đại của dân tộc ta, mà chỉ một minh chứng dưới đây đã cho thấy không chỉ nhân dân ta, mà cả nhân loại tiến bộ, yêu chuộng hoà bình trên thế giới đều hiểu, đánh giá cao và ghi nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ ưu việt của Nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Như chúng ta đã biết, kể từ đợt bùng phát dịch lần thứ 4 (từ ngày 27/4/2021), nhất là ở Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh Nam bộ đã làm cho nhiều người nhiễm Covid-19, đời sống nhân dân, người lao động gặp khó khăn. Trước tình hình đó, hưởng ứng Lời kêu gọi của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, với tinh thần “tất cả vì Miền Nam ruột thịt”, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Y tế và các tỉnh, thành phố phía Bắc đã kịp thời điều động nhân lực, vật lực chi viện cho “tâm dịch”; đã có hàng chục nghìn cán bộ, chiến sĩ, bác sĩ, điều dưỡng tham gia trực tiếp phòng, chống dịch. Nhiều cán bộ, chiến sĩ, bác sĩ, điều dưỡng đã xung phong vào “tâm dịch”, không ngại khó khăn, gian khổ, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Phối hợp cùng với các bộ, ngành và Thành ủy, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh, thành phía Nam và lực lượng vũ trang Quân khu 7 đã phát huy vai trò lực lượng nòng cốt, trên tuyến đầu trong phòng, chống dịch Covid -19. Lực lượng vũ trang được tăng cường cùng với đội ngũ bác sĩ, điều dưỡng “tinh nhuệ” trong và ngoài quân đội đã kịp thời cứu chữa bệnh nhân, vận chuyển lương thực, thực phẩm cho nhân dân tại các khu cách ly tập trung và bệnh viện điều trị Covid-19. Cùng với đó là sự góp của, góp công của nhân dân cả nước về lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, vật tư y tế để ổn định đời sống nhân dân.

Điều đó cho thấy, trước đại dịch Covid -19 đầy cam go, phức tạp tinh thần đại đoàn kết dân tộc tiếp tục được Đảng ta khơi dậy và phát huy mạnh mẽ. Với tinh thần cả nước chung sức cùng với sự ủng hộ của đồng bào ta ở nước ngoài, sự giúp đỡ chí tình của bạn bè, tổ chức quốc tế, nhất định Việt Nam chúng ta sẽ chiến thắng đại dịch Covid -19.

Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân ta hãy tin tưởng tuyệt đối vào thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo nói chung, phòng, chống dịch covid-19 nói riêng. Kiên quyết vạch trần, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá Nhà nước của các thế lực thù địch./.

 

VÌ SAO VIỆT TÂN “NÓI GÌ” TRƯỚC QUY ĐỊNH SỐ 37

 

Mới đây, vào ngày 25 tháng 10 năm 2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Quy định số 37-QĐ/TƯ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng quy định “Về những điều đảng viên không được làm” nhằm tăng cường kỷ cương, kỷ luật của Đảng, giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, tính tiên phong, gương mẫu của đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng. Quy định này thay thế Quy định số 47-QĐ/TW, ngày 1/11/2011 trước đây. Tuy nhiên, sau khi ban hành Quy định số 37 các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động liên tục đăng tải bài viết, đưa tin nhằm xuyên tạc những nội dung trong Quy định số 37. Bọn chúng tự do suy diễn và tự cho mình vai trò “người phát xét” để quy kết, chỉ trích chế độ, chỉ trích vị trí, vai trò của Đảng. Tiêu biểu là đài RFA, VOA, BBC… và nhất là trang Facebook Việt Tân đăng tải nhiều bài xuyên tạc Quy định số 37. Bên cạnh đó, trên nhiều trang mạng của cá nhân, tổ chức thù địch, phản động, hội đoàn chống cộng hải ngoại xuyên tạc rằng, việc Đảng ban hành quy định mới chứng tỏ sự mục nát, là “vá những lỗ thủng quá nhiều của chế độ”. Các đối tượng vu cáo gốc rễ của tham nhũng là “do lỗi của thể chế chính trị”, lỗi hệ thống tạo ra chứ không phải do biện pháp thực hiện, từ đó quy kết việc Đảng đưa ra hết biện pháp này đến biện pháp khác để chống tham nhũng mà không thay đổi chế độ thì không bao giờ chống tham nhũng được. Đưa ra luận điệu “Đảng đứng trên pháp luật”, các đối tượng suy diễn “Đảng loay hoay, mò mẫm soạn ra các văn bản giấy tờ quy định cấm cho thêm rắc rối, chồng lấn pháp luật, vì những điều ấy pháp luật cũng cấm rồi, đảng viên cũng là công dân, thêm điều cấm là Đảng đứng trên, đứng ngoài pháp luật”!

Với những luận điệu xuyên tạc trên, các thế lực thù địch, nhất là tổ chức khủng bố Việt Tân muốn hạ thấp mục tiêu, vai trò, ý nghĩa của Quy định mới về những điều đảng viên không được làm, tạo ra diễn biến tư tưởng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, làm giảm niềm tin đối với công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phủ nhận thành tựu to lớn trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Và cuối cùng là làm suy giảm niềm tin, hạ thấp, thúc đẩy, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Thực chất, khi Quy định số 37-QĐ/TƯ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII được ban hành đã khiến các thế lực thù địch “run sợ”, đặc biệt là tổ chức khủng bố Việt Tân. Vì sao lại như vậy?

Trái ngược với các thế lực thù địch, khi Quy định số 37-QĐ/TƯ được ban hành đã được toàn bộ cán bộ, đảng viên bày tỏ sự đồng tình, nhất trí cao và cho rằng, Quy định có tính pháp quy cao để mỗi đảng viên có trách nhiệm tự soi và tự điều chỉnh hành vi, góp phần tăng cường kỷ cương, kỷ luật của Đảng, giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, tính tiên phong gương mẫu của đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng. Đồng thời, Quy định số 37-QĐ/TƯ cho thấy, quy định về kỷ luật Đảng là công tác hệ trọng để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; là công việc thường xuyên, liên tục và mang tính kế thừa. Do đó, việc bổ sung một số quy định mới để đảm bảo đáp ứng yêu cầu thực tiễn, đảm bảo tính khách quan, khoa học. Từ đó, tổ chức Đảng, đảng viên có cơ sở, căn cứ để rèn luyện, tu dưỡng, ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ. Những điều cấm đảng viên không được càng góp phần xây dựng đảng viên, tổ chức đảng ngày càng vững mạnh, bởi những quy định mới về những điều đảng viên không được làm đã được Trung ương cập nhật, bổ sung kịp thời nhiều chỉ đạo mới của Đảng, pháp luật của Nhà nước, khắc phục các điểm còn vướng mắc, khó thực hiện về quy chuẩn đạo đức, lối sống, những nội dung trùng lặp, chưa thật lôgíc. Quy định mới được xác định có tính pháp quy cao, được xây dựng theo nhóm hành vi với các điều khoản chặt chẽ hơn, cụ thể hơn, rõ nội hàm, rõ hành vi, bảo đảm ngắn gọn, dễ nhớ, dễ thực hiện và dễ kiểm tra, giám sát, xử lý kỷ luật khi đảng viên có dấu hiệu hoặc vi phạm.

Với tất cả những lý do trên, các thế lực thù địch và nhất là tổ chức khủng bố Việt Tân rất “run sợ” và “lo lắng” vì đội ngũ đảng viên, tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng vững mạnh, sức chiến đấu ngày càng cao và có thể ngăn chặn, đập tan mọi âm mưu chống phá của bọn chúng. Như vậy là Việt Tân cũng như các thế lực thù địch khác hết con đường sống, không còn ai cung cấp tiền, tài trợ để hoạt động cũng như là sinh sống qua ngày. Vì thế bọn chúng “run sợ” những điều cấm đảng viên không được làm tại Quy định số 37-QĐ/TƯ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XIII là đương nhiên./.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH VỚI CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRÊN MẠNG XÃ HỘI HIỆN NAY

 

Trong giai đoạn hiện nay, âm mưu, thủ đoạn và sự chống phá của các thế lực thù địch không hề thay đổi, trái lại ngày càng tinh vi hơn. Chúng đã triệt để lợi dụng những thành tựu của cách mạng khoa học công nghệ, khai thác không gian mạng xã hội để gia tăng sức ảnh hưởng và tiếp tục không ngừng chống phá Đảng và Nhà nước ta.

Phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng ta, cụ thể là phủ nhận học thuyết Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

Bằng cách tuyên truyền các thuyết “quái thai”, “đẻ non của lịch sử”, “CNXH cáo chung”... các thế lực thù địch đã tìm mọi cách phê phán triệt để, bôi đen hiện thực để đi đến bác bỏ hoàn toàn CNXH. Xoay quanh các luận điệu: CNXH ra đời ở các nước lạc hậu không đúng theo kịch bản của Mác, rằng: sự thất bại và sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu đã chứng tỏ rằng CNXH không có sức sống và nó chỉ được nặn ra từ đầu óc ngông cuồng của những người cộng sản. Bằng những lý lẽ xuyên tạc, bóp méo, ngụy biện chúng ra sức chứng minh CNXH là một hiện tượng không phù hợp với quy luật lịch sử. Từ đó chúng đi đến kết luận: “Xã hội loài người chỉ ngừng lại ở CNTB” và “CNTB sẽ tồn tại vĩnh viễn như một điểm dừng của lịch sử”.

Chúng sử dụng nhiều thủ đoạn, từ tinh vi thâm độc đến công khai trắng trợn nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp phủ định các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin. Một số phản động khác thì tuyên truyền: Chủ nghĩa Mác chỉ phù hợp với thế kỷ XIX, nay đã lỗi thời và lạc hậu. Chủ nghĩa Mác- Lênin phù hợp một chừng mực nào đó với trình độ lực lượng sản xuất và văn hoá Nga, không phù hợp với thế kỷ này, với nước ta. Từ những lập luận đó chúng đi đến những kết luận xuyên tạc như: Hồ Chí Minh chỉ là người dân tộc chủ nghĩa, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm phương tiện, du nhập chủ nghĩa Mác - Lênin với thuyết đấu tranh giai cấp gây ra cảnh “nồi da nấu thịt” suốt mấy chục năm, rằng: Đưa chủ nghĩa Mác- Lênin vào Việt Nam là một sai lầm.

Phủ nhận CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng

Xoá bỏ chế độ XHCN là mục tiêu cuối cùng của chủ nghĩa đế quốc (CNĐQ). Thực hiện âm mưu này, trên lĩnh vực tư tưởng các thế lực phản động ra sức làm lung lạc ý chí của nhân dân ta với các luận điệu tuyên truyền: Việt Nam trước đây có sự giúp đỡ của các nước XHCN thì có thể bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN, nay không còn sự giúp đỡ đó thì không thể đi lên CNXH được, hãy trở lại chế độ dân chủ nhân dân. Chúng xuyên tạc: đường lối phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN của ta là chắp vá, không tưởng. Chúng rùm beng rằng: Việt Nam hiện nay đang đứng ở ngã ba đường không biết đi theo con đường nào; kêu gọi ta không nên cứ tôn thờ CNXH một cách lý thuyết suông mà hãy hoà nhập vào thời đại, đi theo con đường TBCN. Cuối cùng, chúng khẳng định: không có con đường đổi mới để có CNXH, mà chỉ có con đường từ bỏ CNXH để quay về với cái dòng chính tự nhiên của lịch sử là CNTB. Nếu chúng ta biết tự giác theo con đường đó thì đến đích nhanh hơn, nếu không thì tất yếu sẽ phải đi theo con đường đó nhưng đến đích đau đớn hơn...

Công kích đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là định hướng XHCN

Những thế lực chống cộng tập trung công kích đường lối đổi mới của Đảng và nhân dân ta bằng nhiều luận điệu xuyên tạc trắng trợn. Chúng cho rằng: Những thắng lợi trong công cuộc đổi mới của nước ta chẳng qua vì những người cách mạng Việt Nam đã quá độ sang CNTB, đi theo CNTB. chúng phê phán đường lối phát triển của ta lấy kinh tế nhà nước là chủ đạo tức là tập trung vào khu vực kinh tế kém hiệu quả, khó tránh khỏi tụt hậu, yêu cầu ta phát triển thị trường tự do tư bản, khuyến khích tư nhân phát triển…

Lợi dụng kết quả cuộc đấu tranh chống tham nhũng do Đảng ta tiến hành, chúng xuyên tạc, bóp méo, vu khống, suy diễn cho rằng đó là cuộc “thanh toán phe phái”, “trả thù cá nhân” giữa người này với người kia, nhóm này với nhóm khác vì “lợi ích nhóm”... Từ đó, nhằm gieo rắc những hoài nghi trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chúng xuyên tạc các mối quan hệ cho rằng người này ủng hộ người kia, người này cùng ê kíp người kia, rồi tự phân chia phe phái. Từ những sự việc mà báo chí đã đưa tin, chúng đặt điều, vu khống, bóp méo, xuyên tạc nói rằng người này đang “dắt tay” người kia vào vị trí này, vị trí nọ; bình phẩm, phán xét rồi nhận định người này nghỉ thì người kia sẽ lên thay và cuộc chiến chống tham nhũng sẽ đi về đâu, “cán cân” quyền lực sẽ nghiêng về phe nào. Âm mưu của chúng là gây hoang mang, hoài nghi trong nhận thức tư tưởng, trong Đảng và nhân dân về đường lối đổi mới và định hướng XHCN.

Xuyên tạc, bịa đặt, nói xấu cán bộ, đảng viên của ta

Có thể khu biệt những thông tin xuyên tạc, bịa đặt, nói xấu cán bộ, đảng viên được kẻ xấu thể hiện ở một số kiểu dạng như: xuyên tạc, sai sự thật về tình hình sức khỏe; moi móc, thêu dệt bí mật đời tư; bình phẩm, phán xét về trình độ, năng lực; xuyên tạc nhân phẩm, đạo đức lối sống... Chẳng hề được chứng kiến sự kiện, mà chỉ là “bắc chõ nghe hơi”, nhưng chúng đã dựng nên những câu chuyện về các cuộc tiếp xúc ngoại giao, đón tiếp nguyên thủ các quốc gia sang thăm, các chuyến đi công tác nước ngoài... Điều này khiến cho dư luận hiểu sai về trình độ, khả năng ứng xử của cán bộ, hiểu sai về đường lối đối ngoại của Việt Nam ta.

Bên cạnh đó, chúng dùng chiêu “nắn dòng” đưa ra những thông tin bình phẩm về trình độ, năng lực của người này, người kia rồi đặt lên bàn cân so sánh. Khi cần “hạ bệ” cá nhân nào, chúng tập trung khoét sâu những hạn chế, khuyết điểm ở những ngành, những lĩnh vực mà cá nhân đó phụ trách; rồi quy kết trách nhiệm theo kiểu “bới lông tìm vết”, “có ít xít ra nhiều”; thậm chí là trắng trợn dựng chuyện, bịa đặt, đổi trắng thay đen, bóp méo hòng thay đổi bản chất của các vụ việc liên quan đến một số cán bộ...

Tóm lại, các thế lực chống phá cách mạng nước ta đã ra sức bài bác CNXH trên tất cả các mặt, từ nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác- Lênin đến CNXH hiện thực. Phương pháp, thủ đoạn chủ yếu của chúng là dùng “thứ lý luận phản khoa học” để bác bỏ chủ thuyết và dùng sự sụp đổ của Liên Xô, Đông Âu để bác bỏ về mặt thực tiễn của CNXH, còn những thành tựu của công cuộc đổi mới thì chúng xuyên tạc theo con đường TBCN. Chúng cố tạo ra “khoảng trống” về tư tưởng trong nhân dân ta- bước đầu tiên để đi đến thủ tiêu CNXH.

Những luận điệu trên của các thế lực thù địch được xuất phát từ những mưu đồ đen tối, mang chủ định ác ý, thiên kiến… nên hoàn toàn xa rời sự thật lịch sử. Sự thật là ngày nay tuy CNXH ở Liên Xô và Đông Âu không còn tồn tại, song CNXH hiện thực trong hơn 100 năm qua đã đạt được những thành tựu có tầm thời đại và ý nghĩa lịch sử, đã khẳng định được sức sống của một hình thái kinh tế xã hội mới và là nhân tố cực kỳ quan trọng trong tiến trình phát triển của xã hội loài người. Tình trạng khủng hoảng toàn diện và sâu sắc vừa diễn ra ở các nước XHCN hoàn toàn không bắt nguồn từ bản chất của CNXH, mà bắt nguồn từ những sai lầm trong công cuộc xây dựng CNXH tích tụ lại nhưng không được kịp thời sửa chữa, đặc biệt là do sai lầm trong cải tổ, cải cách và đã để cho kẻ thù của CNXH lợi dụng. Có những sai lầm mang tính chủ quan của bản thân những người lãnh đạo, nhưng có những sai lầm mang tính khách quan khó tránh khỏi của một quá trình mò mẫm, tìm tòi, khai phá con đường xây dựng một hình thái kinh tế- xã hội mới chưa hề có trong lịch sử.

Nhận diện được những quan điểm cơ bản mà các thế lực thù địch tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, đặc biệt khi chúng sử dụng mạng xã hội như một công cụ, vũ khí hữu hiệu tấn công chúng ta, công tác tư tưởng của Đảng cần tập trung vào những nội dung và phương pháp sau đây:

Một là, nâng cao nhận thức trong toàn xã hội về nội dung và tầm quan trọng của công tác đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội.

Mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân phải hết sức cảnh giác, tỉnh táo trước những thông tin sai trái để kịp thời phát hiện, vạch mặt, chỉ tên và tẩy chay, không tiếp tay cho kẻ xấu lan truyền thông tin, nhất là trên không gian mạng. Cần thống nhất nhận thức trong toàn xã hội về phương châm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng trên cơ sở quán triệt sâu sắc, vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam, trước hết là trong xây dựng đường lối, chủ trương của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thể chế, nguyên tắc tổ chức hoạt động của toàn hệ thống chính trị,… Trọng tâm của công tác này là tiếp tục làm cho toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội, xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; đổi mới nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục đối với các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, nhằm nâng cao sức đề kháng, khả năng chủ động đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch.

Hai là, không ngừng tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng nâng cao bản lĩnh chính trị, kĩ năng và phương pháp đúng đắn, khoa học cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân trong cuộc đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội hiện nay.

Trong giai đoạn hiện nay, ngoài việc học tập tìm hiểu, tự rèn luyện của mỗi người, các cấp ủy đảng cần chú trọng đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục, bồi dưỡng nâng cao bản lĩnh chính trị, trang bị phương pháp xem xét, tiếp cận thông tin một cách đúng đắn, khoa học cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Chỉ có bản lĩnh vững vàng, nhận thức đầy đủ, hiểu biết thấu đáo, dân trí được nâng cao, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân mới có thể đủ sức đề kháng để tự phòng vệ trước các luồng thông tin, phân định rõ đâu là thông tin đúng, đâu là thông tin sai, đâu là thông tin độc hại và đâu là thông tin hữu ích.

Ba là, tạo lập môi trường thông tin thuận lợi để phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong cuộc đấu tranh chống lại các luận điệu sai trái, thù địch trên mạng xã hội, bảo vệ thành công nền tảng tư tưởng của Đảng. Để tạo lập được một môi trường thông tin thân thiện trong giai đoạn hiện nay, cần chú ý đến tính công khai, minh bạch, cập nhật về thông tin, tăng cường thông tin chính thống, đặc biệt là những thông tin liên quan đến công tác tổ chức cán bộ, công tác nhân sự trước mỗi kì Đại hội Đảng để đáp ứng nhu cầu thông tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân, tránh gây hoang mang, nghi ngờ trong nhân dân. Bên cạnh đó, phải chủ động và kịp thời lên tiếng, đấu tranh, đẩy lùi thông tin xuyên tạc, bịa đặt, kiên quyết không để kẻ xấu coi thường luật pháp, bôi nhọ uy tín, thanh danh của Đảng, Nhà nước và cá nhân các đồng chí lãnh đạo, gây hoang mang dư luận.

Bốn là, cần xây dựng hành lang pháp lý hoàn thiện làm cơ sở cho việc đảm bảo an toàn, an ninh thông tin trên không gian mạng xã hội. Để công tác đấu tranh phản bác trước những thông tin sai trái, bịa đặt, nói xấu, bôi nhọ cán bộ được chủ động, nhạy bén hơn nữa cần xây dựng khung khổ pháp lý về an toàn, an ninh và bảo mật thông tin. Theo đó, đối với những cá nhân có hành vi thông tin đăng sai sự thật, mang tính vu khống, bôi nhọ cá nhân phải kiên quyết xử lý theo pháp luật. Có làm được điều này mới thực sự góp phần xử lý hiệu quả các vi phạm về thông tin trên mạng xã hội hiện nay, đặc biệt là các thông tin xuyên tạc, bịa đặt, vu khống làm tổn hại đến uy tín, danh dự của đội ngũ cán bộ, đảng viên, kích động, bôi xấu hình tượng lãnh tụ, các lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.

Năm là, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng và tập huấn nâng cao kiến thức và kĩ năng khai thác và sử dụng Internet, mạng xã hội cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và những người trực tiếp làm công tác tư tưởng của Đảng để chống lại các quan điểm sai trái, thù địch một cách nhanh chóng, hiệu quả.

Cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch không phải đến thời điểm này mới đặt ra mà nó là cuộc “đấu tranh không ngừng nghỉ” kể từ ngày Đảng ta ra đời, đảm nhận vai trò lãnh đạo nhân dân thực hiện các cuộc cách mạng đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, xây dựng và phát triển đất nước. Hơn 90 năm qua, sự hiện diện của các thế lực thù địch, cũng như luận điệu xuyên tạc, sai trái chống phá Đảng luôn tồn tại, tiếp diễn. Trong giai đoạn hiện nay, với việc ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ và chiếm lĩnh không gian mạng xã hội, các thế lực thù địch vẫn dai dẳng, tiếp tục gia tăng ảnh hưởng chống phá Đảng và Nhà nước ta. Chính vì vậy, cần phải nhận diện một cách đầy đủ và toàn diện các nội dung, quan điểm đó để chủ động đấu tranh phản bác, bên cạnh đó cũng cần đổi mới hình thức, phương pháp và kĩ năng đấu tranh để làm tốt công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay./.

 

Lịch sử, ý nghĩa Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11

 

Việt Nam có nhiều ngày lễ, tết mang đậm bản sắc văn hóa truyền thống, trong đó mỗi ngành, nghề hay một tổ chức chính trị, xã hội cũng thường có một ngày kỷ niệm của riêng mình. Nhưng trong các ngày lễ, tết (hiện đại), Ngày nhà giáo Việt Nam 20/11 có một lịch sử khá đặc biệt vừa có tính chất quốc tế, vừa có tính chất dân tộc, vừa mang đặc trưng của các nhà giáo, của ngành Giáo dục nhưng cũng là ngày hội của toàn dân.

        Tháng 7/1946, Liên hiệp Quốc tế các công đoàn Giáo dục được thành lập (Fesdesration International Syndicat de l’enseignement) viết tắt là "FISE", trụ sở đặt tại Paris. Năm 1949, tại Hội nghị Vacxava, FISE xây dựng một bản "HIẾN CHƯƠNG CÁC NHÀ GIÁO" gồm 15 chương trong đó có một số nội dung chủ yếu là:

- Đấu tranh chống lại mọi quan điểm và phương pháp giáo dục lạc hậu phản động, phản dân chủ, phản khoa học của nền giáo dục phong kiến, tư sản, nhằm xây dựng nền giáo dục tiến bộ, dân chủ, khoa học.

           - Đấu tranh thủ tiêu chế độ bạc đãi, coi thường nghề dạy học, bảo vệ những quyền lợi vật chất và tinh thần chính đáng của nhà giáo.

- Quy định một số điều đối với các nhà giáo, đặc biệt coi trọng tính chất nhân văn của nghề dạy học và phương pháp dạy học tiên tiến.

Ở Việt Nam, lần đầu tiên ngày "Quốc tế hiến chương các nhà giáo" được tổ chức trên toàn miền Bắc vào ngày 20/11/1958.

          Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Công đoàn Giáo dục Việt Nam đã quan hệ với FISE để tranh thủ các diễn đàn quốc tế tố cáo âm mưu tội ác của bọn đế quốc xâm lược đối với nhân dân ta cũng như đối với giáo viên và học sinh đồng thời giới thiệu những thành tích của nền giáo dục cách mạng, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của toàn thể giáo viên trên thế giới đối với cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân ta.

Vào mùa xuân năm 1953, Đoàn Việt Nam do Thứ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Nguyễn Khánh Toàn làm trưởng đoàn dự Hội nghị quan trọng kết nạp Công đoàn Giáo dục của một số nước vào tổ chức FISE tại Viên (Thủ đô nước Áo), trong đó có Công đoàn Giáo dục Việt Nam. Như vậy, chỉ một thời gian ngắn sau khi thành lập (22.7.1951), Công đoàn giáo dục Việt Nam đã được kết nạp là một thành viên của FISE. Từ ngày 26 đến 30/8/1957, tại Thủ đô Vacsava, Hội nghị FISE có 57 nước tham dự, trong đó có cả Công đoàn Giáo dục Việt Nam, quyết định lấy ngày 20 tháng 11 làm ngày Quốc tế Hiến chương các nhà giáo.      

 

          Ngày 20/11/1958, lần đầu tiên ngày “Quốc tế Hiến chương các nhà giáo” được tổ chức trên toàn miền Bắc nước ta. Những năm sau đó, ngày Lễ 20 tháng 11 còn được tổ chức tại các vùng giải phóng ở miền Nam. Hàng năm vào dịp Kỷ niệm 20 - 11, cơ quan tiểu ban giáo dục thường xuất bản, phát hành một số tập san đặc biệt để cổ vũ tinh thần đấu tranh của giáo giới trong vùng tạm chiếm, động viên tinh thần chịu đựng gian khổ hy sinh của anh chị em giáo viên kháng chiến.

           Sau ngày đất nước được thống nhất 30/4/1975, nền giáo dục cả nước được thống nhất, giáo giới Việt Nam đoàn kết nhất trí xây dựng nền giáo dục theo định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng Cộng sản Việt Nam.

          Ý nghĩa của ngày “Quốc tế Hiến chương các nhà giáo” đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử với giáo giới Việt Nam. Song ngày 20 -11 đã trở thành truyền thống với nội dung mới của giáo giới Việt Nam và của nhân dân Việt Nam.

Chính vì thế theo đề nghị của ngành Giáo dục, ngày 28/9/1982 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Quyết định số 167 - HĐBT về ngày Nhà giáo Việt Nam. Nội dung Quyết định có những điều khoản như sau:

Điều 1: Từ nay hàng năm sẽ lấy ngày 20 - 11 là ngày Nhà giáo Việt Nam.

         Điều 2: Để ngày Nhà giáo Việt Nam có ý nghĩa thiết thực hàng năm, từ tháng 10 các cấp chính quyền và đoàn thể cần họp để xem xét tình hình công tác và hoạt động của đội ngũ giáo viên ở địa phương mình; kiểm điểm những việc đã làm và đề ra những việc cần tiếp tục làm nhằm động viên đội ngũ giáo viên phát huy truyền thống tốt đẹp của giáo giới Việt Nam, rèn luyện phẩm chất và năng lực, làm gương sáng cho học sinh noi theo. Về phía giáo viên, cần có những hoạt động phong phú nhằm nâng cao nhận thức về vinh dự và trách nhiệm của người giáo viên trong xã hội nước ta ngày nay, từ đó mà ra sức phấn đấu làm tốt hơn nhiệm vụ cao cả của mình.

Điều 3: Việc tổ chức ngày 20 tháng 11 hàng năm do Uỷ ban nhân dân và Hội đồng giáo dục các cấp chủ trì, có sự phối hợp của ngành giáo dục và các đoàn thể nhân dân. Các cấp, các ngành cần phân công cán bộ lãnh đạo đi thăm hỏi giáo viên, tổ chức các cuộc gặp mặt thân mật với giáo viên, nhân dịp này có thể tổ chức khen thưởng các giáo viên có thành tích.

         Việc tổ chức ngày Nhà giáo Việt Nam cần được tiến hành trọng thể và thiết thực, tránh hình thức phô trương gây phiền hà cho học sinh và cha mẹ học sinh.

Điều 4: Trong ngày 20 tháng 11, các trường có thể sắp xếp lại việc học tập và giảng dạy để giáo viên được nghỉ và tham gia các hoạt động của nhà trường và của địa phương.

         Ngày 20 tháng 11 năm 1982, là Lễ kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam đầu tiên được tiến hành trọng thể trong cả nước ta, và từ đó dến nay, đây là ngày để học trò thể hiện tình cảm quý mến, kính trọng với thầy giáo, cô giáo - những người đã dày công vun đắp cho chúng ta - những cây đời mãi mãi xanh tươi.

Ngày 20/11 là dịp để các thế hệ học trò bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc với những người thầy, để mọi ngành, mọi nghề và toàn xã hội chia sẻ niềm vui, tri ân với những người đã góp bao công sức và tâm huyết cho sự nghiệp trồng người cao cả, góp phần xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

          Để gửi lời tri ân sâu sắc tới tất cả các nhà giáo trên mọi miền tổ quốc, xin trích dẫn câu danh ngôn “Không có một vĩ nhân nào, một anh hùng nào trên đời này lại không qua bàn tay bế ẵm của người mẹ, thì trên trái đất này cũng không có một vĩ nhân, một anh hùng nào lại không qua bàn tay dìu dắt và sự dạy dỗ của người thầy giáo”./

                                                                  

Thứ Ba, 16 tháng 11, 2021

Người “truyền lửa” phải thực sự có “lửa”

“Bệnh” ngại học tập, nghiên cứu lý luận chính trị là một trong những biểu hiện của suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mà Trung ương đã chỉ ra. Đây cũng là một thách thức đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng ngại học lý luận chính trị, trong đó có những bất cập trong công tác giảng dạy hiện nay...

Bất cập thứ nhất là không ít người làm công tác giảng dạy lý luận chính trị chưa thực sự say nghề, chưa đầu tư nhiều trí tuệ, công sức vào việc chính của mình nên kiến thức chưa sâu, chưa đủ tầm để phân tích, chứng minh nội dung một cách thuyết phục; phương pháp truyền đạt chủ yếu là... đọc theo giáo án (hoặc có trình chiếu Powerpoint nhưng... toàn chữ như giáo án), người học chép mỏi tay! Kiểu giảng dạy như vậy khiến người học rất chán.

Cần làm gì để giảng viên lý luận chính trị thực sự say nghề, giỏi nghề? Trong rất nhiều giải pháp như: Lựa chọn người giỏi lý luận, đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nâng cao trình độ... thì vấn đề có tính quyết định là phải thực sự quan tâm, có chế độ đãi ngộ thỏa đáng để khuyến khích, tạo động lực cho những người làm công tác này. Người xưa đã dạy “có thực mới vực được đạo”.

Thực tế những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị chỉ có thu nhập từ lương, phụ cấp (vì ít có dạy thêm, làm thêm); trong khi những cán bộ tuổi đời, trình độ tương đương (thậm chí thấp hơn, là học trò) thì có chức quyền và cuộc sống khấm khá... đã tác động không nhỏ tới động lực phấn đấu của không ít giảng viên, nhất là giảng viên trẻ.Thậm chí, có những thầy vốn rất tâm huyết, giỏi về lý luận chính trị, nhưng bị áp lực, nỗi lo "cơm áo, gạo tiền, đặc biệt là chuyện nhà đất"... khiến dần giảm nhiệt huyết. Người “truyền lửa” mà “thiếu lửa” thì không thể “tiếp lửa” cho người học. Chưa kể, điều rất đáng lo ngại là có những thầy còn bột phát “buông” lời thể hiện sự tủi thân, bất mãn trước học viên.

Bất cập thứ hai là nhiều giảng viên lý luận chính trị thiếu kiến thức thực tiễn nên ít có ví dụ, tình huống thực tế để liên hệ, chứng minh, vận dụng nội dung lý luận, khiến nội dung giảng dạy khô cứng, người học khó tiếp thu. Nhiều ví dụ cũ từ hàng chục năm trước được thầy nêu ra không còn phù hợp với hiện thời. Được biết, các học viện, nhà trường đều có quy định cử giảng viên lý luận chính trị đi thực tế, nhưng vì thời gian ngắn nên chưa nắm bắt được nhiều. Đặc biệt, việc đi thực tế ở nước ngoài thì... vô cùng hiếm, trong khi nhiều thầy phải giảng dạy các nội dung trực tiếp liên quan đến thực tế ở các nước.

Một trong những yêu cầu của nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị là phải gắn với thực tiễn, chống lý thuyết suông. Vì vậy, cần tăng cường tổ chức cho đội ngũ giảng viên dạy lý luận chính trị đi thực tế cơ sở, luân chuyển làm cán bộ, nhân viên ở các cấp; cử đi công tác, tìm hiểu ở nước ngoài để phục vụ giảng dạy những nội dung liên quan... Bên cạnh đó, các học viện, nhà trường cần tăng cường mời chuyên viên, chuyên gia, nhà lãnh đạo có trình độ lý luận gắn với kiến thức thực tiễn tham gia giảng dạy một số nội dung cho phong phú, sinh động, hấp dẫn người học...

Bất cập thứ ba là nội dung giảng dạy lý luận chính trị có sự trùng lặp ở các cấp học (sơ cấp, trung cấp, cao cấp) và một số nội dung trùng giữa các bộ môn, khiến người học ở các cấp học sau, môn học sau có cảm giác phải học lại, giảm hứng thú. Bên cạnh đó, khá nhiều giảng viên kết cấu bài giảng nặng về giải thích các khái niệm, các quan điểm liên quan và những nội dung có tính hàn lâm; trong khi thời gian dành cho bài giảng có hạn nên đến phần trọng tâm của bài mà người học rất cần (gồm những quan điểm, vấn đề cốt lõi và liên hệ, vận dụng vào thực tiễn công tác) thì thầy lại giảng lướt hoặc nhắc học viên tự nghiên cứu tài liệu vì đã hết giờ lên lớp. Để khắc phục tình trạng này, Hội đồng Lý luận Trung ương, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần chỉ đạo rà soát lại các giáo trình lý luận chính trị để hạn chế sự trùng lặp giữa các cấp học, môn học. Các học viện, nhà trường cần rà soát nội dung bài giảng, giáo án theo hướng tăng cường phần liên hệ, vận dụng lý luận vào thực tiễn; giảm những khái niệm không cần thiết (nhất là khi giảng dạy cho học viên trung cấp, cao cấp lý luận chính trị. Vì những khái niệm đơn giản thì cơ bản đối tượng này đã nắm được) và giảm những nội dung nặng tính hàn lâm (chỉ những người nghiên cứu chuyên sâu về lý luận mới cần học kỹ nội dung này).

Bất cập thứ tư là không ít giảng viên lý luận chính trị thiếu nghiệp vụ sư phạm, giảng với giọng đều đều, động tác và lời giảng không có điểm nhấn, thiếu sinh động dẫn đến người học dễ... buồn ngủ! Nội dung lý luận chính trị vốn khô khan mà người giảng không có phương pháp sư phạm tốt thì không thể tạo hứng thú cho học viên, người học rất khó tiếp thu. Vì thế, bên cạnh việc tăng cường bồi dưỡng, rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên lý luận chính trị, các học viện, nhà trường cần xem xét chuyển những giảng viên không thể có phương pháp sư phạm tốt (do cố tật, sở đoản) sang làm việc khác phù hợp hơn. Bên cạnh đó, một giải pháp hiệu quả các trường cần vận dụng là tổ chức ghi hình những bài giảng mẫu của giảng viên giỏi rồi trình chiếu cho học viên xem, sau đó tổ chức nghiên cứu, thảo luận... 

Bất cập thứ năm cần sớm khắc phục là tình trạng chưa coi trọng phát huy sự chủ động, tính tích cực, tự giác, sáng tạo của người học; quá trình giảng dạy lý luận thường thông tin một chiều kiểu thầy nói-trò nghe và thầy đọc-trò chép; giảng viên ít gợi mở để người học suy nghĩ, phát biểu ý kiến của mình dẫn đến người học thụ động, không hưng phấn. Cùng với đó, thời gian dành cho thảo luận còn ít nên số học viên được phát biểu không nhiều, những ý kiến phản biện chưa có điều kiện làm rõ, phần vì hết thời gian, phần vì không phải giảng viên nào cũng có khả năng giải thích, kết luận rõ ràng, thuyết phục. Thực tế, sau giờ thảo luận vẫn có những học viên băn khoăn, thắc mắc vì chưa được giảng viên giải đáp thỏa đáng, nhất là với những vấn đề thực tế đang diễn ra đã có những điểm khác so với nội dung giáo trình, giáo án. Vì vậy, việc giảm thời gian giảng dạy, tăng thời gian cho học viên nghiên cứu, trao đổi, thảo luận và người dạy kết luận rõ ràng, thuyết phục đối với từng nội dung là rất cần thiết để tránh hiện tượng sau khi học xong mà học viên vẫn còn băn khoăn, chưa “tâm phục, khẩu phục”.

Cuối cùng là thời gian học lý luận chính trị cũng cần nghiên cứu điều chỉnh cho hợp lý, không nên tổ chức học tập trung kéo dài và học theo kiểu “nhồi nhét” dẫn đến người học căng thẳng, hiệu quả không cao. Việc đào tạo lý luận chính trị ở bậc trung, cao cấp cần theo hướng gợi ý, nêu vấn đề và gửi các tài liệu cần thiết để người học tự nghiên cứu trước; các buổi học tập trung chủ yếu dành cho thảo luận, giải đáp những nội dung khó mà người học chưa hiểu rõ. Việc tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả học lý luận chính trị nên theo hướng đề mở, đưa ra các tình huống thường gặp, người học vận dụng kiến thức đã tích lũy được để giải quyết; hạn chế tối đa kiểu kiểm tra học thuộc lòng lý thuyết và không nên yêu cầu viết bài kiểm tra quá dài (kể cả viết bài thu hoạch, tiểu luận, luận văn); cần khuyến khích học viên hiểu bản chất vấn đề lý luận và biết vận dụng hiệu quả vào thực tiễn công tác. 

Không ai có thể phủ nhận sự cần thiết phải học lý luận chính trị, vì như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”; “Làm mà không có lý luận thì không khác gì đi mò trong đêm tối, vừa chậm chạp vừa hay vấp váp”. Lý luận chính trị có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, bảo đảm cho cán bộ, đảng viên thấu suốt quan điểm, đường lối và tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng. Tuy nhiên, để cán bộ, đảng viên nói riêng và người học nói chung không ngại học lý luận chính trị thì rõ ràng những bất cập trong công tác giảng dạy lý luận chính trị cần phải được khắc phục. Đặc biệt, việc quan trọng nhất là cần quan tâm chăm lo, có chính sách thỏa đáng để tạo động lực cho đội ngũ giảng viên luôn tâm huyết với nghề, đồng thời thu hút người giỏi làm công tác nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị, vì người “truyền lửa” có làm tốt vai trò “tiếp lửa” thì người học mới nắm chắc, thấm nhuần lý luận và biết vận dụng lý luận vào thực tiễn công tác. Đó cũng là một trong những giải pháp hàng đầu phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và đấu tranh hiệu quả với các quan điểm sai trái, phản động để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.