Thứ Năm, 18 tháng 11, 2021

Philippines lên án hành động của Trung Quốc ở Biển Đông

 

Philippines lên án hành động của Trung Quốc ở Biển Đông

Ngoại trưởng Philippines tố hải cảnh Trung Quốc ngăn tàu nước này tiếp tế cho lính đồn trú trái phép ở Bãi Cỏ Mây thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

 “Philippines lên án mạnh mẽ hành động của ba tàu hải cảnh Trung Quốc hôm 16/11 đã chặn đường và xịt vòi rồng vào hai tàu tiếp tế của chúng tôi đang đi đến Bãi Cỏ Mây. Những hành động của các tàu hải cảnh Trung Quốc là phi pháp”, tờ Strait Times dẫn thông cáo của Ngoại trưởng Philippines Teodoro Locsin đưa ra hôm nay (18/11), nêu rõ.

Theo Ngoại trưởng Locsin, ông đã đối thoại với Đại sứ Trung Quốc tại Manila và “chuyển tải sự phẫn nộ, lên án và phản đối” của Philippines. Dù không có ai bị thương trong vụ việc này, nhưng các tàu vận tải của Philippines đã buộc phải hủy bỏ nhiệm vụ tiếp tế. “Việc không tự kiềm chế của phía Bắc Kinh đe dọa tới quan hệ đặc biệt giữa hai nước”, ông Locsin nói thêm.

Hiện Đại sứ quán Trung Quốc tại Manila chưa đưa ra phản ứng về tuyên bố của Ngoại trưởng Philippines.

Phó phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng hôm 4/11 cho biết, như đã nhiều lần khẳng định, Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý và chứng cứ lịch sử để khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa phù hợp với luật pháp quốc tế; được hưởng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển của mình được xác lập phù hợp với Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982.

Việt Nam kiên quyết, kiên trì thực hiện các biện pháp phù hợp với luật pháp quốc tế để bảo vệ các quyền hợp pháp và chính đáng đó.

 

Đội ngũ cán bộ Quân đội nhân dân Việt Nam tích cực hơn nữa trong nghiên cứu, nắm vững quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước về tôn giáo

 


Đường lối quan điểm, chính sách, pháp luật về tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta nằm trong tổng thể đường lối, quan điểm, chính sách, luật pháp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhằm đưa nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đồng thời, đường lối, quan điểm tôn giáo của Đảng và Nhà nước thể hiện rõ tính nhân văn, nhân đạo cao cả, tôn trọng quyền tự do chính đáng của con người, vì sự tiến bộ của con người và xã hội.

Đường lối quan điểm, chính sách, pháp luật về tôn giáo của Đảng, Nhà nước trong tập hợp lực lượng nhằm xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo động lực cơ bản để thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN trong tình hình mới. Tuy nhiên đây là một vấn đề phức tạp, bởi nó gắn liền với các lĩnh vực khác trong đời sống xã hội, đòi hỏi chúng ta phải giải quyết thấu đáo nhiều vấn đề liên quan như vấn đề dân tộc, dân chủ, nhân quyền và cả về lý luận và thực tiễn.

Để thực hiện tốt đường lối, quan điểm, chính sách, pháp luật về tôn giáo, đòi hỏi sự nỗ lực chung của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; trong đó đặc biệt là cán bộ trong Quân đội Nhân dân Việt Nam. Chính vì vậy, hơn lúc nào hết, đội ngũ cán bộ này cần tiếp tục nghiên cứu, tham mưu, đề xuất chủ trương, giải pháp, tổ chức thực hiện hiệu quả, biến đường lối, quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước  thành hiện thực sinh động trong cuộc sống, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN ở thời kỳ cách mạng mới.

 

 

 

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong thực hiện đường lối, quan điểm, chính sách, pháp luật về tôn giáo, tín ngưỡng

 


 Đảng phải luôn đổi mới tư duy, nâng cao năng lực trí tuệ đề ra đường lối, chính sách tôn giáo gắn với quốc phòng, an ninh đúng đắn, phù hợp với diễn biến phức tạp của tình hình tôn giáo và âm mưu thủ đoạn lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta.

 Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở, cán bộ chuyên trách làm công tác tôn giáo có đủ phẩm chất, năng lực theo yêu cầu phát triển của công tác tôn giáo ở thời kỳ mới.

 Quan tâm lãnh đạo việc điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước đối với tôn giáo trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay.

 Củng cố, kiện toàn tổ chức làm công tác tôn giáo của Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể các cấp; xác định rõ chức năng nhiệm vụ, quyền hạn, mô hình tổ chức quản lý nhà nước về tôn giáo ở các cấp; xây dựng quy chế phối hợp hoạt động một cách cụ thể và hiệu quả giữa các tổ chức, cá nhân làm công tác tôn giáo ở các cấp.

 Tăng cường kiểm tra, giám sát để kịp thời trấn chỉnh, bổ sung phát triển về chủ trương, chính sách nhất là giải pháp bảo đảm việc thực hiện tốt đường lối, chính sách tôn giáo gắn với quốc phòng, an ninh.

- Nhà nước tăng cường đầu tư và thực hiện có hiệu quả các dự án, chương trình mục tiêu quốc gia, đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, đặc biệt quan tâm tới các vùng, địa bàn tôn giáo; các vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn.

 Hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách về tôn giáo, gắn tôn giáo với quốc phòng, an ninh nhằm tạo cơ sở chính trị - pháp lý cho quản lý và thực hiện hiệu quả gắn tôn giáo với quốc phòng và an ninh trong thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

 Tổ chức thực hiện tốt Luật tín ngưỡng, tôn giáo; chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, hướng dẫn các tín đồ đấu tranh, chống lại âm mưu lợi dụng vấn đề tôn giáo để kịch động gây rối xâm phạm an ninh quốc gia.

 Chủ động nắm chắc tình hình diễn biến của tôn giáo, kịp thời phát hiện và giải quyết hậu quả những mâu thuẫn phát sinh trong nội bộ tín đồ, trong quan hệ giữa tín đồ với các chức sắc và quan hệ giữa các tôn giáo.

 Khuyến khích tín đồ, chức sắc các tôn giáo đã được Nhà nước thừa nhận tham gia thực hiện xã hội hóa các hoạt động y tế, văn hóa, giáo dục… phù hợp với nguyên tắc tổ chức của mỗi tôn giáo và quy định của pháp luật.

 Nhà nước thống nhất chủ trương xử lý vấn đề tranh chấp nhà, đất sử dụng vào mục đích tôn giáo hoặc liên quan đến tôn giáo trên cơ sở pháp luật để tạo sự đồng thuận xã hội; hướng dẫn các tôn giáo thực hiện quan hệ đối ngoại phù hợp với đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước.

Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống đồng bào tôn giáo hiện nay.


Nhà nước cần quan tâm đầu tư phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng sâu, vùng xa, vùng có đồng bào tôn giáo còn gặp nhiều khó khăn; có chính sách ưu tiên về vốn để xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng kinh tế, nâng cao kỹ thuật, áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ sinh học; hướng dẫn đồng bào tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa phát triển sản xuất hàng hóa… để đồng bào nâng cao dần mức sống, tạo cơ sở kinh tế để nâng cao sức mạnh nội sinh từ cơ sở, địa bàn. Đồng thời làm tốt công tác quy hoạch và thực hiện tốt chính sách định canh, định cư, có giải pháp phù hợp trong nâng cao hiệu quả thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội như chương trình 135, các chương trình xóa đói giảm nghèo, phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, giao thông miền núi…, hạn chế và dần chấm dứt di dân tự do, gắn kết chặt chẽ giữa quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh trong chương trình, kế hoạch, dự án cụ thể ở từng cơ sở, địa bàn.

Đi đôi với đẩy mạnh phát triển kinh tế, phải tích cực xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, nhất là ở các làng bản…đồng bào dân tộc thiểu số có tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa và bảo đảm an sinh xã hội. Do vậy cần quan tâm đầu tư, phát triển kết cấu hạ tầng văn hóa, giáo dục, y tế như trường học, trạm xá, nhà văn hóa thôn bản…để nâng cao dân trí, phòng chống dịch bệnh, chăm sóc sức khỏe cho đồng bào. Đổi mới hoàn thiện chính sách về định canh, định cư, chính sách đào tạo nguồn nhân lực, tạo việc làm, chính sách chăm lo cho những người có công, người có hoàn cảnh éo le, cơ nhỡ là tín đồ các tôn giáo. Mặt khác, để đồng bào tôn giáo phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức của tôn giáo mình trong xây dựng phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, chúng ta cần tích cực phát động các cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa phù hợp với đức tin, tâm lý, tập quán của đồng bào theo từng tôn giáo cụ thể phù hợp với đặc điểm vùng, miền khác nhau; qua đó, hạn chế đẩy lùi các tiêu cực, lạc hậu như mê tín dị đoan, cả tin đi theo các tà dạo, theo những kẻ xấu xúi giục thực hiện những hành vi phá rối an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội… 

Cần nhận diện những âm mưu, thủ đoạn mới của địch lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng

 


Những âm mưu, thủ đoạn mới lợi dụng vấn đề tôn giáo của địch, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân cần nhận diện rõ ràng, để luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, xây dựng ý chí kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của địch lợi dụng tôn giáo phá hoại sự nghiệp cách mạng, để thực hiện tốt cần thực hiện tốt các kinh nghiệm chủ yếu sau:

Một là, coi trọng tuyên truyền giáo dục làm cho đồng bào tôn giáo thấu suốt quan điểm, chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo nhằm nâng cao nhận thức, lòng tin của đồng bào đối với Đảng, Nhà nước, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời đấu tranh vạch trần âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch bên ngoài cấu kết với lực lượng phản động bên trong lợi dụng tôn giáo phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc; kích động đồng bào tôn giáo, đi ngược lại đạo pháp và chủ nghĩa xã hội.

Hai là, phương pháp công tác tôn giáo cần tuân theo bốn quy cách: có lý, đúng luật, được đông đảo quần chúng nhân dân đồng tình ủng hộ; thống nhất đồng bộ giữa ba bộ phận (Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, quần chúng là các tín đồ, chức sắc và tổ chức giáo hội)

Ba là, trong xử lý vấn đề lợi dụng tôn giáo hoạt động trái pháp luật, phải bình tĩnh, nắm chắc tình hình, không định kiến, nóng vội, cần tiến hành đồng bộ các biện pháp hành chính, kinh tế, giáo dục; cần tránh hai khuynh hướng: hữu khuynh lừng chừng để kẻ địch có cơ hội lôi kéo, lừa gạt quần chúng hoặc tả khuynh tuyên chiến với tôn giáo, đánh nhầm vào quần chúng tín đồ tốt. Ở những nơi thường xảy ra diễn biến phức tạp cần thành lập các tổ công tác hoặc ban chỉ đạo, những nơi chưa xảy ra phức tạp, phải chủ động ngăn ngừa, ngăn chặn, giải quyết ngay từ cơ sở không để lây lan, kéo dài.

Bốn là, chủ động sâu sát cơ sở địa bàn có tôn giáo để nắm chắc tình hình, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa; thực hiện tốt ba cùng: cùng ở, cùng làm, cùng sinh hoạt với dân; phải thường xuyên nắm chắc âm mưu, hoạt động của kẻ xấu để kịp thời đấu tranh, ngăn chặn. Khi xảy ra “điểm nóng” cần phối hợp chặt chẽ giữa các cấp ủy, chính quyền địa phương với Ban Chỉ đạo Trung ương ở ttừng khu vực để giải quyêt dứt điểm, không để lan sang các vùng khác và phải tuyệt đối tránh tiếp xúc với người nước ngoài.

Năm là, giải quyết vấn đề tôn giáo phải gắn liền với vấn đề dân tộc. Đó là, phải chăm lo giải quyết vấn đề đời sống, xã hội ở vùng đồng bào dân tộc ít người. Công tác tôn giáo phải gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược quốc phòng an ninh, thực hiện chính sách định canh, định cư, chống di dịch cư tự do trong đồng bào các dân tộc ít người, theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau. Vì vừa qua, kẻ địch đã triệt để lợi dụng tập quán này để truyền đạo trái phép rất phức tạp.

Đấu tranh chống địch lợi dụng dân tộc, tôn giáo trên các lĩnh vực của đời sống xã hội

 


Trên lĩnh vực chính trị tư tưởng: thực hiện tuyên truyền vạch trần âm mưu, thủ đoạn của địch lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạng, đồng thời làm cho các tín đồ hiểu rõ chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo. Trong tuyên truyền cần nhận thức rõ tôn giáo là một vấn đề tâm linh đã ăn sâu, bén rễ trong đời sống của không ít người trong nhiều dân tộc qua nhiều thế hệ. Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là tôn trọng niềm tin, nghi thức thờ phụng, những sinh hoạt tôn giáo phù hợp với giáo lý, với truyền thống của dân tộc; nâng cao đạo đức, nhân cách con người, sống “tốt đời, đẹp đạo” chủ động đấu tranh chống lại những luận điệu xuyên tạc bóp méo sự thật, thay trắng, đổi đen lừa mị tín đồ của các thế lực thù địch, phản động.

Trên lĩnh vực kinh tế - xã hội: phải gắn đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo với cuộc đấu tranh chống nghèo nàn, lạc hậu. Một trong những thủ đoạn mà kẻ địch lợi dụng là dựa vào đời sống còn khó khăn của các tín đồ để dụ dỗ, kích động họ chống lại chính quyền. Vì vậy, đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo phải gắn với động viên các tín đồ tích cực lao động sản xuất, phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần. Đồng thời phải kết hợp chặt chẽ với cuộc đấu tranh chống địch lợi dụng vấn đề dân tộc, dân chủ, nhân quyền, bởi các vấn đeè đó có mối quan heẹ chặt chẽ, đa xen với nhau.

Trên lĩnh vực đối ngoại: đây là lĩnh vực hết sức phức tạp và nhạy cảm mà các thế lực thù địch lợi dụng để can thiệp, chống phá nước ta. Chúng dựng lên cái gọi là “tự do tôn giáo ở Việt nam”, “nhân quyền ở Việt Nam” để lừa bịp dư luận thế giới, trắng trợn, vu cáo Nhà nước ta “đàn áp tôn giáo”… Do đó chúng ta cần quán triệt phương châm tích cực, chủ động, mềm dẻo, linh hoạt bác bỏ mọi luận điệu vu cáo, xuyên tạc, bóp méo sự thật về tình hình tôn giáo ở Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế.

Trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh: đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo trên lĩnh vực quốc phòng an ninh được biểu hiện trực tiếp ở việc làm thất bại mọi mưu đồ chính trị, khuấy lên những khác biệt, mâu thuẫn dân tộc, tôn giáo trong cộng đồng người Việt; mưu đồ hỗ trợ chủ nghĩa cực đoan, cuồng tín, làm bùng lên những vụ gây rối, bạo loạn ly khai, mưu đồ tạo dựng, hình thành những nhân tố chống đối từ bên trong, xây dựng phát triển lực lượng đối lập để lật đổ chính quyền của các thế lực thù địch, phản động. Thực tế cho thấy, có lúc vấn đề tôn giáo đã tạo nên những “điểm nóng” như: vấn đề dân tộc và tôn giáo ở Tây Nguyên tháng 2 năm 2001 và tháng 4 năm 2004 với cái gọi là “Nhà nước Đề ga” “Hội thánh Tin lành Đề ga”, việc truyền đạo trái phép và “xưng vua” ở Mường Nhé, tỉnh Điện Biên tháng 5 năm 2001 và tình hình truyền đạo trái phép ở Nghệ An, Thái Bình, Hải Phòng… Những vụ việc đó đã ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đến xây dựng thế trận lòng dân, thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân. Từ thực tiễn xử lý các vụ việc này cho thấy, trong đấu tranh chống dịch lợi dụng vấn đề tôn giáo phải kiên quyết và khôn khéo, dứt điểm, không để lây lan kéo dài; phải phát huy được sức mạnh tổng hợp đấu tranh trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh phải kết hợp chặt chẽ với các lĩnh vực khác, trong đó đặc biệt là công tác tuyên truyền, vận động, giúp đỡ đồng bào tín đồ tích cực phát triển kinh tế - xã hội…nhằm tạo sức đề kháng từ bên trong của mỗi tín đồ tôn giáo, của mỗi địa phương và cả nước.

Kiên quyết đấu tranh và sử lý nghiêm minh những đối tượng lợi dụng tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; chia rẽ phá hoại đoàn kết tôn giáo và khối dại đoàn kết toàn dân tộc

 


Lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng là âm mưu cố hữu không thay đổi của các thế lực thù địch. Đối với nước ta hiện nay, các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo để nhằm mục tiêu cơ bản là xóa bỏ thành quả cách mạng của nhân dân, xóa bỏ CNXH. Hiện nay âm mưu của các thế lực lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng nước ta tập trung vào các vấn đề cơ bản là: phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kích động đồng bào tôn giáo chống lại đường lối quan điểm tôn giáo của Đảng và Nhà nước, đối lập quần chúng tôn giáo với Đảng; làm mất hiệu lực và tính hiệu quả trong hoạt động quản lý của Nhà nước trong các lĩnh vực của đời sống xã hội; làm chệch hướng XHCN của sự phát triển đất nước. Thực hiện âm mưu trên, các thế lực thù địch đã áp dụng nhiều thủ đoạn nham hiểm và xảo quyệt, đó là: ra sức tuyên truyền cho cái khẩu hiệu “nhân quyền cao hơn chủ quyền” nhân danh các công ước quốc tế để pháp lý hóa nhằm can thiệp vào nội bộ các tôn giáo, như: dự luật “Quyền tự do tôn giáo không bị đàn áp”, “Luật tự do tôn giáo quốc tế” ký hiệu HR2431. Chúng kích động tín đồ các tôn giáo, tìm mọi cách cho ra đời các “Giáo hội độc lập, ly khai” theo kiểu “Tin lành Đề ga” với sự tiếp tay hậu thuẫn từ bên ngoài. Đồng thời chúng tìm cách khai thác mọi sơ hở của ta để lôi kéo quần chúng lạc hậu gây rối loạn trật tự xã hội để tạo cớ can thiệp vào nước ta. Chúng ra sức tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; kích động dùng vật chất để lừa mị, xúi dục các tín đồ đòi “tự do tôn giáo”, lợi dụng sinh hoạt tôn giáo để biểu dương lực lượng, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân hoặc xúi dục tín đồ đòi đất, khiếu kiện,,,, gắn vấn đề tôn giáo với vấn đề dân tộc như một thủ đoạn chiến lược lâu dài để chống phá cách mạng. Các thế lực thù địch đã rất kiên trì tuyên truyền, vu cáo chính quyền Việt Nam đàn áp “dân tộc thiểu số” “đàn áp tôn giáo” để mê hoặc dư luận thế giới, mê hoặc tín đồ, kéo đồng bào vào các hoạt động chia rẽ, ly khai tạo cớ để can thiệp vào nội bộ nước ta.

Đấu tranh chống địch lợi dụng vấn đề tôn giáo là một bộ phận nằm trong cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch nhằm xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Đây là cuộc đấu tranh gay go, phức tạp và lâu dài, phải được tiến hành thường xuyên, đạt hiệu quả

Thứ Tư, 17 tháng 11, 2021

Cảnh giác với việc lợi dụng internet, mạng xã hội chống phá sự nghiệp cách mạng Việt Nam

 Những năm gần đây, sự phát triển của công nghệ thông tin và các ứng dụng trên không gian mạng đã làm thay đổi bộ mặt của xã hội; chúng ta không khó bắt gặp những hình ảnh từ trẻ cho đến người lớn tuổi ở đâu, ngồi đâu, trên tay cũng cầm chiếc điện thoại thông minh lướt website, nắm tình hình trong nước và thế giới, nếu chúng ta không có sự lựa chọn để rồi có thể vào những trang website “đen” rồi phải thốt lên rằng chế độ này sao nhiều tiêu cực thế?… Internet và mạng xã hội có tầm ảnh hưởng lớn đến người dân Việt Nam, trong đó có cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Lợi dụng sự phát triển nhanh chóng này mà các thế lực thù địch đã tăng cường các hoạt động tuyên truyền, phát tán nhiều thông tin sai trái, xấu, độc trên mạng xã hội nhằm chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Vì thế, một trong những vấn đề quan trọng đặt ra với mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và Nhân dân hiện nay là cần phải tỉnh táo, nhận thức đúng trách nhiệm của mình trong việc chuyển tải thông tin.

Hiện nay, internet và các trang mạng xã hội rất khó quản lý, giám sát và kiểm duyệt. Việt Nam đứng trong nhóm 20 quốc gia có số người sử dụng internet, đặc biệt là các trang mạng xã hội như: Facebook, Zalo,… lớn nhất thế giới. Vì vậy, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng các công cụ này để đẩy mạnh các hoạt động chống phá từ bên ngoài, tạo dựng lực lượng chống đối từ bên trong, hòng gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội đối với nước ta. Tác hại của những thông tin xấu, độc trên mạng xã hội Facebook có tác động tiêu cực đến tình hình tư tưởng, dư luận xã hội, tạo ra sự nghi ngờ, hoang mang, dao động dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Hệ lụy của nó ảnh hưởng rất lớn đến đạo đức, lối sống, nhân cách của cá nhân và cộng đồng xã hội.

Các thế lực thù địch lợi dụng internet, website và mạng xã hội để xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; xuyên tạc, thổi phồng những hạn chế, yếu kém trong quản lý, những sơ hở, thiếu sót trong thực hiện chính sách, pháp luật hoặc những vụ việc phức tạp nảy sinh trong lĩnh vực dân tộc, tôn giáo. Thông qua internet, mạng xã hội, chúng đẩy mạnh tấn công tư tưởng cán bộ, đảng viên và Nhân dân khi đất nước tổ chức các sự kiện chính trị quan trọng như: Đại hội, bầu cử ở các cấp; ban hành các luật, Việt Nam tham gia các hội nghị quan trọng của LHQ,... từ đó chúng kích động, lôi kéo Nhân dân tham gia biểu tình, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, hạ thấp uy tín Việt Nam trên trường quốc tế.

Trong thời gian qua, các thế lực phản động tăng cường sử dụng internet, mạng xã hội để móc nối, cấu kết với những cán bộ, đảng viên có biểu hiện tha hóa, biến chất nhằm lôi kéo, mua chuộc, tạo lực lượng chống phá từ bên trong. Trong đó, số bên ngoài chỉ đạo, hỗ trợ kinh phí hoạt động; các đối tượng trong nước tích cực tập hợp lực lượng, thu thập tin tức để cung cấp cho bên ngoài vu cáo, xuyên tạc tình hình đất nước. Đặc biệt, chúng lợi dụng internet, mạng xã hội để lan truyền các clip, tài liệu xuyên tạc, bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo đất nước,... nhằm phá hoại nội bộ, tác động tiêu cực tới nhận thức, quan điểm, tư tưởng của cán bộ, đảng viên và Nhân dân, dẫn đến hoang mang, hoài nghi, suy giảm lòng tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành, quản lý của Nhà nước.

Những năm qua, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách chỉ đạo công tác bảo vệ an ninh mạng và phòng, chống hoạt động lợi dụng internet, mạng xã hội chống phá nước ta, đặc biệt là Luật An toàn thông tin mạng năm 2016 và mới đây nhất là Luật An ninh mạng. Tuy nhiên, công tác này vẫn còn những hạn chế như: thông tin nội bộ của nhiều tổ chức và cá nhân chưa được bảo mật tốt; công tác tuyên truyền, định hướng và đấu tranh phản bác các thông tin xấu, độc, quan điểm sai trái, thù địch chưa kịp thời. Năng lực đội ngũ cán bộ còn hạn chế; trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật để phát hiện, thu thập chứng cứ và thực hiện công tác phòng ngừa, đấu tranh còn gặp nhiều khó khăn.

Để làm tốt nhiệm vụ đấu tranh chống lại các luận điệu sai trái, các quan điểm xuyên tạc, chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta, của các thế lực phản động trong và ngoài nước trên mạng xã hội, thiết nghĩ, mỗi đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức cần thực hiện tốt một số nội dung sau:

Một là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ và Nhân dân về tầm quan trọng của công tác phòng ngừa, đấu tranh chống hoạt động lợi dụng internet, mạng xã hội để chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta. Từ đó, làm cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân thấy rõ những tác động tích cực và tiêu cực của internet và mạng xã hội; nâng cao khả năng nhận diện với các thông tin xấu, độc, nguy hại đối với bản thân và xã hội. Đồng thời, xây dựng phong cách văn hóa khi tham gia trên không gian mạng; có ý thức cảnh giác, không đăng tải hoặc để lộ, lọt thông tin, tài liệu liên quan đến bí mật quốc gia….

Hai là, nắm tình hình, tâm tư, tình cảm, những vấn đề bức xúc của cán bộ và Nhân dân trước các vấn đề được đăng tải trên mạng xã hội có liên quan đến tình hình đất nước; phát hiện kịp thời âm mưu, thủ đoạn, phương thức hoạt động của các thế lực thù địch trên không gian mạng, chỉ cập nhật những thông tin chính thống, không xem và chia sẻ những thông tin chưa được kiểm chứng.

Ba là, cán bộ, đảng viên thường xuyên học tập theo phong cách Hồ Chí Minh; công tác tuyên truyền cần thường xuyên trao đổi, làm rõ, vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn từ những thông tin xấu, độc của các thế lực thù địch, phản động. Cần dựa vào những tài liệu, thông tin chính thống, hướng dẫn của cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể cấp trên để tổ chức cung cấp kịp thời cho cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức để từ đó đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, thông tin xấu, độc trên mạng intrenet, mạng xã hội.

Bốn là, mỗi cán bộ, đảng viên khi tham gia mạng xã hội phải thường xuyên nắm bắt tình hình tư tưởng, dư luận xã hội trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân tại địa phương, cơ quan, đơn vị công tác. Qua đó, kịp thời phát hiện, góp ý, phê bình,… không để đồng nghiệp của mình bị lôi kéo, dụ dỗ mà cố ý hoặc vô tình ủng hộ, chia sẻ, lan truyền những thông tin phản động, độc hại trên mạng xã hội.

Năm là, trên cơ sở nắm vững và tuân thủ các quy định của Luật An ninh mạng, mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức cần sử dụng trang mạng xã hội như một kênh thông tin, tuyên truyền những thông tin chính thống về chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Đồng thời, chủ động và thường xuyên tham gia bình luận, chia sẻ các bài viết về những điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt, những mô hình mới, cách làm hay của các cơ quan, đơn vị, địa phương và cá nhân trong tham gia thực hiện các phong trào thi đua yêu nước.

Đấu tranh phòng, chống hoạt động lợi dụng internet, mạng xã hội để chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta là công việc khó khăn, phức tạp, lâu dài. Lợi dụng các ưu thế của mạng xã hội, chúng càng ráo riết, quyết liệt hơn trong việc chống phá chế độ ta, với mức độ ngày càng nghiêm trọng, phạm vi ngày càng mở rộng, tính chất ngày càng phức tạp hơn. Vì vậy, hơn bao giờ hết, mỗi đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức cần phải tỉnh táo, sáng suốt trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình; phải luôn xây dựng khối đại đoàn kết ngày càng vững mạnh. Mỗi đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức cần nhận thức đúng đắn về trách nhiệm của mình khi tham gia mạng xã hội, nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp để ngăn chặn, đẩy lùi những thông tin sai lệch trên không gian mạng.

Đặc biệt, cần tăng cường quán triệt và thực hiện nghiêm túc Quy định số 47 về những điều đảng viên không được làm; giữ nghiêm kỷ luật phát ngôn, phải thể hiện chính kiến của mình trước những thông tin trái chiều. Đồng thời, giáo dục cho cán bộ nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, chủ động đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái, phản động trên các trang mạng xã hội. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và tự sàng lọc thông tin, không sử dụng các trang mạng có nội dung xấu, độc./.

Một số chiêu thức chống phá mới của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa

 Những năm qua, bằng nhiều thủ đoạn, vừa công khai, trắng trợn, vừa ngấm ngầm hòng phá hoại, bôi nhọ, công kích chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, nền văn hóa mới của dân tộc nhưng không mang lại kết quả, các thế lực thù địch đang có sự điều chỉnh thủ đoạn chống phá hòng chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam.

Chúng cho rằng, vấn đề trước tiên, cốt yếu nhất là phải xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN. Đồng thời, xây dựng hệ thống lý luận khác, có khả năng triệt tiêu chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và lấy đó làm nền tảng tư tưởng cho việc xây dựng một xã hội mới, theo mong ước của chúng.

Như vậy, mục tiêu tiến công trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa của các thế lực thù địch không hề thay đổi. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu đó, chúng đã và đang sử dụng những chiêu thức mới, tiếp cận theo hướng quan hệ “mềm dẻo”, thân thiện hơn, hợp tác toàn diện, thâm nhập sâu vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ đó tác động, phá hoại nền tảng tư tưởng, bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta.

Trước hết, cần nhận rõ chiêu thức mới của các thế lực thù địch là, chủ động thâm nhập, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng thông qua con đường quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực, nhất là kinh tế, đối ngoại, giáo dục và đào tạo. Đây là những lĩnh vực được Đảng, Nhà nước ta quan tâm, mở rộng trong quá trình hội nhập quốc tế.

Trên lĩnh vực kinh tế, chúng âm mưu thông qua hoạt động hợp tác, đầu tư để làm cho nền kinh tế phát triển chệch hướng XHCN, thiết lập hệ thống và cơ cấu kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa tại Việt Nam; từ đó, tạo ra nền tảng vật chất, xã hội thuận lợi, hình thành nền “chính trị dân chủ” và “xã hội dân sự” kiểu phương Tây.

Đây chính là môi trường, điều kiện thuận lợi cho các tổ chức chính trị đối lập xuất hiện, công khai chống Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Đặc biệt, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những tồn tại, vướng mắc trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN để xuyên tạc, phủ nhận đường lối lãnh đạo, thành tựu phát triển kinh tế của Đảng, Nhà nước, kích động tâm lý hoài nghi trong xã hội; cổ súy, tung hô việc phát triển nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, làm mất phương hướng, niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN, gây bất ổn về tư tưởng, xuất hiện tình thế mới về chính trị.

Lợi dụng tình thế đó, chúng sẽ kích động đòi “dân chủ kinh tế”, yêu cầu Đảng, Nhà nước phát triển kinh tế thị trường theo kiểu phương Tây.

Đồng thời, kêu gọi “dân chủ hóa chính quyền”, từng bước cô lập, tách các tổ chức đảng, đảng viên ra khỏi quần chúng, tạo áp lực về chính trị - xã hội, thậm chí gây bạo loạn, lật đổ, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội.

Chúng thực hiện chính sách “thân thiện giả hiệu”, thâm nhập sâu vào hoạt động của nền kinh tế, tạo điều kiện, cơ hội tiếp cận rộng rãi với các đối tượng, tầng lớp nhân dân để xây dựng lực lượng, kích động, phá hoại nền tảng tư tưởng, thúc đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta.

Cùng với âm mưu, thủ đoạn thâm nhập vào lĩnh vực kinh tế, các thế lực thù địch đẩy mạnh “tiến công” trên lĩnh vực đối ngoại.

Chúng chủ trương, một mặt, thông qua hoạt động ngoại giao chính thức, “ngoại giao thân thiện”, tăng cường giao lưu, trao đổi, đối thoại với Việt Nam trên nhiều lĩnh vực nhằm quảng bá hình ảnh, giá trị tư bản chủ nghĩa; chủ động tiếp cận móc nối, hỗ trợ, mua chuộc, lôi kéo các đối tượng, nhất là những phần tử có tư tưởng bất mãn, thù địch, cơ hội, thoái hóa, biến chất, hữu khuynh, cực đoan, thân phương Tây, tạo lực lượng nòng cốt cho “chuyển hóa” và “tự chuyển hóa” tư tưởng ngay từ bên trên, bên trong.

Mặt khác, chúng đa dạng các kênh quan hệ để tìm kiếm cơ hội, tiếp cận sâu hơn, dùng vật chất, tiền bạc mua chuộc, làm suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên.

Trong đó, vấn đề hợp tác, giao lưu về giáo dục và đào tạo, nhất là việc đi học tập, đào tạo tại các nước tư bản của thế hệ trẻ được chúng hết sức quan tâm, bởi đây là “con đường” ngắn nhất, thuận lợi nhất để xâm nhập, tác động, chuyển hóa tư tưởng ở Việt Nam hiện nay.

Thông qua việc học tập ở nước ngoài, chúng truyền bá các quan điểm, giá trị dân chủ tư sản, làm cho thế hệ trẻ có tư tưởng sùng ngoại, coi thường những giá trị văn hóa dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, chỉ coi trọng giá trị vật chất, bàng quan về chính trị,... tạo mầm mống thúc đẩy dân chủ, nhân quyền tư sản, tiến tới xóa bỏ nền dân chủ và chế độ XHCN ở nước ta.

Một trong những chiêu thức vô cùng nguy hiểm mà các thế lực thù địch sử dụng hòng làm chuyển hóa, tiến tới xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là, thúc đẩy hình thành “xã hội dân sự” theo mô thức phương Tây.

Chúng núp dưới chiêu bài “dân chủ hóa”, hình thành “kênh phản biện” để cho ra đời các tổ chức đối trọng với các cơ quan, tổ chức trong bộ máy của Đảng, Nhà nước, đòi giám sát hoạt động của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội.

Đồng thời, lợi dụng các diễn đàn tư tưởng, thông qua hoạt động hợp tác, nghiên cứu khoa học,... để tuyên truyền về “xã hội dân sự”, đề cao dân chủ tư sản, nhằm chuyển hóa lập trường, tư tưởng của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Trên cơ sở đề cao “xã hội dân sự”, các thế lực thù địch âm mưu phủ nhận học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng XHCN, về đấu tranh giai cấp trong điều kiện mới; làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, từng bước hạn chế, tiến tới loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, xây dựng xã hội “dân chủ”, “tự do” theo kiểu phương Tây.

Để thúc đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền tác động hướng lái truyền thông. Đây là những vấn đề rất “nhạy cảm”, luôn được chúng triệt để lợi dụng để xuyên tạc, vu cáo, chống phá ta. Một số nước phương Tây còn áp đặt “dân chủ và bảo vệ nhân quyền” là yếu tố không thể thiếu trong chính sách ngoại giao và quan hệ quốc tế.

Những năm qua, các thế lực thù địch đã dùng nhiều hình thức, biện pháp, huy động tối đa các phương tiện truyền thông để tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo trắng trợn tình hình dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo và vấn đề dân tộc ở Việt Nam.

Chúng đưa ra yêu sách đòi mở rộng dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, tự do lập hội để tập hợp lực lượng, kích động gây bạo loạn, dẫn đến mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Đặc biệt, chúng luôn tìm mọi cách hướng lái truyền thông nhằm tác động vào quá trình xây dựng hệ thống pháp luật, nhất là thời điểm sửa đổi các văn bản pháp luật về dân chủ, nhân quyền, tôn giáo hoặc ban hành các chỉ thị, nghị quyết, quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng,… để bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước; kích động, lôi kéo, chia rẽ nội bộ, nhằm gây áp lực với Đảng, Nhà nước ta.

Đồng thời, thành lập nhiều tổ chức và đưa người vào Việt Nam để theo dõi, tìm hiểu, thu thập thông tin về vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, tiến hành móc nối, cài cắm, truyền bá tư tưởng sai trái, vu cáo, xuyên tạc tình hình thực tế ở Việt Nam.

Để đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, âm mưu các thế lực thù địch là nhất thiết phải thực hiện “dân chủ” trong đời sống xã hội. Trước hết là thúc đẩy “dân chủ hóa” trong nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam, tiếp đó thực hiện “dân chủ hóa” trong truyền thông và xã hội.

Hai yếu tố này có quan hệ mật thiết với nhau, yếu tố thứ nhất mang tính quyết định đến tiến trình “dân chủ hóa” từ bên trên, bên trong nội bộ ta; yếu tố thứ hai sẽ đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của toàn xã hội.

Quá trình “dân chủ hóa” truyền thông là đưa dân chủ vào mạng truyền thông quốc gia và đội ngũ cán bộ, phóng viên báo chí, truyền thông. Con đường xâm nhập để hướng lái truyền thông của các thế lực thù địch là tác động thông qua các hoạt động hợp tác giáo dục, hội thảo, giao lưu, “mượn” các phương tiện truyền thông của Nhà nước, các địa phương, cơ quan, đơn vị để tuyên truyền cho chúng.

Lợi dụng sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0), các thế lực thù địch sẵn sàng mạnh tay đầu tư tài chính cho quảng cáo, đầu tư, tài trợ các chương trình nhằm tác động, dẫn dắt giới truyền thông hoạt động theo ý đồ của chúng, đưa truyền thông tách khỏi sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.

Mặt khác, chúng còn lợi dụng các trang mạng xã hội, Facebook, blogger và một số báo, đài phương Tây, hệ thống phương tiện truyền thông của lực lượng phản động người Việt lưu vong,… để tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo, kêu gọi dân chủ, nhân quyền, tự do ngôn luận, tự do báo chí và cạnh tranh trên lĩnh vực truyền thông, gây nhiễu loạn tư tưởng, mất phương hướng trong đời sống xã hội.

Ngoài ra, các thế lực thù địch còn tăng cường hoạt động xâm nhập, móc nối, xây dựng nhân tố bên trong để tác động tư tưởng, phá hoại bản sắc văn hóa dân tộc, thực hiện xâm lăng văn hóa để thúc đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta...

Đây là những con đường mà các thế lực thù địch đang tìm mọi cách, bằng nhiều biện pháp tiến hành thường xuyên hòng chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam. Vì vậy, chúng ta cần không ngừng nâng cao cảnh giác để giữ vững môi trường hòa bình phát triển đất nước, không để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá.

'Giam lỏng' khách hàng vì không dùng dịch vụ thẩm mỹ

HÀ NỘI Nguyễn Thị Thuý Quỳnh và Lê Văn Đức không cho nữ khách hàng ra về, yêu cầu trả tiền đưa đón do không sử dụng dịch vụ của thẩm mỹ viện. Ngày 18/11, Công an quận Cầu Giấy cho biết đã ra quyết định khởi tố Quỳnh, 24 tuổi và Đức, 25 tuổi, để điều tra tội Bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật. Theo nhà chức trách, ngày 25/9, thẩm mỹ viện, nơi hai người này làm việc, cho ôtô đến đón một khách hàng nữ 47 tuổi từ nhà đến cơ sở ở đường Nguyễn Khang, phường Trung Hoà. Các nhân viên sau đó tư vấn cho khách về gói sản phẩm chăm sóc, làm đẹp da. Trước việc khách hàng không dùng bất cứ gói sản phẩm nào và đòi về, Quỳnh và Đức đã yêu cầu trả tiền xe đón, giải thích nếu tham gia gói dịch vụ mới được miễn phí. Khách hàng không đồng ý liền bị Quỳnh và Đức giữ lại thẩm mỹ viện, không cho về, công an cáo buộc. Khoảng 18h30 cùng ngày, Cảnh sát 113 Công an quận Cầu Giấy nhận được thông tin đã đến kiểm tra.

Người phù hợp

Ngày bình thường bạn chỉ thấy tính cách, ngày bất thường bạn mới có thể thấy phẩm chất của một người. Hồi mới ra trường 23 năm trước, gặp mấy ông hay lý luận phức tạp, tôi nghĩ ngay trong đầu, "ông này với mình không hợp nhau". Gặp những người mà chuyện vui như Tết, bên nói, bên khen, tôi rất phấn chấn, thầm quả quyết, "đó là sự phù hợp, chắn chắn rồi". Đến khi một đứa khá thân trong số "phù hợp" rủ khởi nghiệp chung, tôi góp 20 triệu thành lập công ty, số tiền không nhỏ với tôi lúc bấy giờ. Tôi nằm trong hội đồng quản trị không điều hành, hàng ngày vẫn làm thuê cho một công ty Mỹ. Người bạn điều hành công ty. Gần hai thập kỷ nay, công ty luôn báo cáo lỗ hoặc không có lãi bao giờ với cổ đông, dù quân số tăng lên hàng trăm người. Tôi nhận ra, định nghĩa ngây thơ của mình về sự phù hợp sai toét. Năm 2005, đi học sau đại học ở Canada, lớp tôi có 30 người đến từ 14 nước. Học viên dành gần như cả ngày với nhau từ thứ hai đến thứ sáu, thứ bảy thường hội thảo và chủ nhật họp nhóm hoặc tiệc tùng. Lúc đầu, tôi không thoải mái vì mọi thành viên khác nhau nhiều thứ, từ giọng nói, sở thích, cách đưa ra vấn đề khi thảo luận, món ăn, đến phong cách giao tiếp. Mất vài tháng nản lòng, nhớ nhà vì cảm giác cô độc, dần dần tôi nhận ra, môi trường mỗi người một kiểu là môi trường rất thú vị. Nó kích thích sáng tạo thể hiện qua các bài tập nhóm, dự án nhóm và cả khi đi chơi. Sau này, làm việc cho các công ty đa quốc gia, tôi càng cảm nhận rõ điều này. Vậy, người phù hợp để làm việc hiệu quả phải khác nhau. Sáng tạo cần sự va đập của những ý tưởng, góc nhìn khác biệt để bật ra ý tưởng mới. Nôm na là phải có cãi nhau, tranh luận, chứ cả nhóm đều nghĩ giống nhau, người này nói, người kia gật đầu vỗ tay thì ra khỏi phòng họp vẫn chỉ có những ý tưởng như trước lúc bước vào. Rồi tôi gặp một sếp, anh làm CEO, tôi phụ trách chiến lược. Họp với nhau lần đầu, thấy suy nghĩ rất khác nhau, tôi đã nghĩ, chuẩn luôn quan niệm về sự phù hợp của mình. Chỉ sau hai tháng, tổng kết được sáu chương trình kinh doanh, thì cả sáu sếp và tôi đều có quan điểm khác hẳn nhau. "Hợp quá" thế này thì căng. Tôi cũng muốn sếp vui, nhưng oái oăm là tôi không hứng thú nổi với ý tưởng của sếp, cứ có cái gì đó khiến tôi cảm thấy nuốt không trôi nên không muốn nói ngược mà vẫn phải nói. Tôi tôn trọng sếp nhưng tôn trọng niềm tin của mình hơn, vì niềm tin là sự thật, thật với chính mình. Tôi không chỉnh được, cũng không "cố" được. Sau đó là tình trạng "tan chảy" - tức gặp nhau không có gì để nói. Nó không phải là sự tranh luận bất nhất mà đó là sự không muốn cất lời. Nhưng cũng chính thời gian đó, tôi ngộ được một số điều thú vị về văn hoá tổ chức và cách nó vận hành. Định nghĩa "người phù hợp phải khác nhau" của tôi lại sai lần nữa. Vậy, thế nào mới là phù hợp đây? Ngẫm lại thời gian học với bạn bè từ 14 quốc tịch, va đập ý tưởng với những người rất khác nhưng rồi sau chúng tôi lại thành ekip tốt. Ngay cả ban đầu, có người nói cả nhóm không hiểu lắm, có người trình bày tôi không nghe được nhiều mà vẫn hiểu. Ngôn ngữ, trong nhiều tình huống, không phải công cụ quan trọng nhất để con người hiểu nhau. Như nhiều bằng chứng khoa học, giữa người với người có cái gì khác hơn để kết nối trong công việc, đó là hệ giá trị mà hai bên theo đuổi, cả văn hóa, là "gu" - là cách mà trí tuệ và trái tim cả hai phía vận hành. Tôi cũng từng tranh luận, thậm chí tranh cãi với các sếp ở các công ty cũ, nhưng hầu hết đều dẫn đến sự đồng cảm, thống nhất và tốt đẹp hơn. Giữa những lần tranh cãi để hiểu nhau hơn và những lần im lặng không thể "cất lời", cuối cùng tôi tìm ra điều khác biệt của những người phù hợp trong các tổ chức, doanh nghiệp, đồng nghiệp. Đó là điều bao trùm mọi tiêu chí cụ thể về sản phẩm, dự án hay chính sách kinh doanh: là niềm tin và giá trị. Điều này càng trở nên tỏ tường trong những năm tháng làm việc sau này của tôi. Những người tôi gặp mà tương đồng, chúng tôi có thể họp quên thời gian, càng làm việc, chúng tôi càng có nhiều ý tưởng mới. Chung niềm tin và giá trị thì mọi sự tranh cãi chỉ là nhỏ, và cuối cùng sẽ đến một điểm thống nhất. Do đó, người phù hợp, hoặc vừa vặn, để đồng hành với một cá nhân cũng như một tổ chức là người nên khác ta nhiều thứ nhưng phải cùng niềm tin, giá trị và tầm nhìn. Người phù hợp với bạn và tổ chức của bạn thì sao?

Phát huy hơn nữa những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước

 


 Giữ gìn và phát huy truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh và nhớ ơn những người có công với Tổ quốc và dân tộc; tôn trọng tín ngưỡng truyền thống của đồng bào các dân tộc và đồng bào có đạo, tăng cường sự đồng thuận giữa người có và không có tín ngưỡng, tôn giáo; giữa các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau; nâng cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh chống các hoạt động tà đạo, mê tín dị đoan, lợi dụng tôn giáo làm phương hại lợi ích của Tổ quốc, dân tộc và nhân dân.

Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo làm cho các giá trị đạo đức tốt đẹp của tôn giáo đi sâu vào đời sống vật chất, tinh thần của xã hội, lấn át đi những mặt tiêu cực, sùng bái, mê tín dị đoan, mê hoặc con người, phi nhân tính có hại đối với cuộc sống.

 Phát huy nguồn lực của tôn giáo cho quá trình phát triển đất nước được biểu hiện trên những vấn đề chủ yếu sau:

+ Phát huy nguồn lực của tôn giáo, bằng việc không những phát huy các giá trị đạo đức tốt đẹp của tôn giáo mà còn cải tạo, phát triển, xây dựng hệ giá trị mới phù hợp với điều kiện mới để con người có niềm tin, sức mạnh tinh thần vượt qua mọi khó khăn trở ngại trong cuộc sống.

+ Phát huy nguồn lực của tôn giáo bằng việc phát huy vị trí, vai trò, chức năng tích cực của các chức sắc, chức việc, tín đồ có uy tín trong việc tuyên truyền vận động các tín đồ chấp hành và thực hiện tốt mọi chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, sống cuộc sống “tốt đời, đẹp đạo”, tích cực lao động sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân.

+ Phát huy nguồn lực của tôn giáo cũng đồng thời là phát huy sức mạnh vật chất, tinh thần của tín đồ tôn giáo, sống “tốt đời, đẹp đạo” để phát huy hết khẳ năng sẵn có của hơn 24 triệu tín đồ tôn giáo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc tín đồ sống “tốt đời đẹp đạo”,

 


 Phải đa dạng hóa các hình thức vận động để phù hơp với từng đối tượng; trước hết thực hiện tốt việc vận động các chức sắc, chức việc, các tín đồ có uy tín; sau đó là việc vận động các tín đồ tôn giáo yêu nước; đồng thời giáo dục, động viên những tín đồ lẫm lỡ quay về với cách mạng. Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức công tác vận động quần chúng, tín đồ các tôn giáo; biết vận dụng khai thác các điểm tốt trong các giáo lý, đạo đức tôn giáo; chỉ rõ âm mưu, thủ đoạn lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch để đồng bào các tôn giáo nhận diện và đấu tranh.

 Căn cứ vào đặc điểm của mỗi tôn giáo, tình hình cụ thể của mỗi địa phương, nhất là những nơi có đông đồng bào tôn giáo để có hình thức, biện pháp vận động, tuyên truyền. Thực hiện tốt phương châm: kiên trì, khéo léo, tế nhị, tự tin trong tuyên truyền vận động quần chúng tín đồ, phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, thành phần thích hợp trong tiến hành công tác vận động quần chúng, tranh thủ tối đa sự ủng hộ giúp đỡ của các chức sắc, nhà tu hành trong tuyên truyền vận động tín đồ các tôn giáo. Vì vậy, phải có cơ chế, phương thức phối hợp và kế hoạch cụ thể trong công tác vận động quần chúng.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác vận động các chức sắc và tín đồ tôn giáo vẫn giữ nguyên giá trị. Vì vậy, chúng ta cần nghiên cứu, học tập và vận dụng điều kiện mới. Phương pháp vận động quần chúng theo tư tưởng Hồ Chí Minh phải đạt được ba yêu cầu: “hợp thời, hợp lòng dân và chu đáo”[1] Muốn làm tốt công tác vận động các chức sắc và đồng bào tín đồ tôn giáo trong điều kiện hiện nay, theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta cần làm tốt các biện pháp sau:

Thực hiện tốt công tác tuyên truyền, giáo dục đối với đồng bào tín đồ tôn giáo:

Tích cực tuyên truyền, giáo dục cho đồng bào hiểu rõ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Muốn làm cho đồng bào tin thì cán bộ tuyên truyền nói phải đi đôi với làm, chính sách phải đem lại kết quả thiết thực. Chúng ta cần học tập các cha cố truyền đạo về tính kiên nhẫn, bền bỉ, không nóng vội. Điều quan trọng là không được mắc sai lầm dẫn đến mất lòng tin của đồng bào và để kẻ thù lợi dụng bôi xấu cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng: “Lực lượng của chúng (của kẻ thù) gồm có: một là, lực lượng của bản thân chúng; hai là: khuyết điểm của cán bộ ta. Những khuyết điểm mà cán bộ ta phạm phải là đồng minh đắc lực của địch”[2]. Để nâng cao hiệu quả vận động quần chúng tín đồ, đòi hỏi chúng ta khi tuyên truyền phải khéo léo, tinh tế, biết kết hợp giữa giá trị các tôn giáo với giá trị của cách mạng trong tuyên truyền, giáo dục; đồng thời cần làm cho đồng bào nhận rõ âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, nham hiểm của địch lợi dụng tôn giáo, làm phương hại đến sự đoàn kết dân tộc và đời sống đồng bào, để đồng bào tín đồ đứng lên đấu tranh vạch mặt kẻ địch.

Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, bảo đảm các quyền và nghĩa vụ của công dân theo đúng quy định của Hiến pháp, pháp luật; luôn đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức vận động đồng bào tín đồ phù hợp với đặc điểm sinh hoạt của từng tôn giáo cụ thể. Tổ chức tốt các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng cuộc sống “tốt đời, đẹp đạo”. Phát huy tinh thần của đồng bào có đạo trong tự giác, phối hợp đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo cùng với lợi dụng các vấn đề dân tộc, dân chủ, nhân quyền chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần giữ gìn, củng cố an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.

Bảo đảm cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo quy định của pháp luật và hiến chương, điều lệ được Nhà nước công nhận

 Bảo đảm các tổ chức tôn giáo và các tín đồ nhận thức sâu sắc về chính sách, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng, nhất là Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, để từ đó chấp hành nghiêm túc mọi chính sách, pháp luật của Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, từ đó thực hiện tốt phương châm sống “tốt đời, đẹp đạo”

Tiếp tục hoàn thiện chính sách pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo. Sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật có liên quan đến tôn giáo như: Đất đai, văn hóa, giáo dục, y tế…bảo đảm đồng bộ với pháp luật về tôn giáo và các công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia.

Tổ chức tuyên truyền và thực hiện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, kịp thời xây dựng mới cũng như bổ sung các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật. Triển khai thực hiện tốt Luật tín ngưỡng, tôn giáo, siết chặt kỷ cương, tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tôn giáo, đồng thời xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật.

Trong quá trình xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật tôn giáo, tín ngưỡng cần tiếp thu nghiêm túc những ý kiến phản ánh, những kết quả giám sát, phản biện xã hội của các tổ chức chính trị - xã hội và của cán bộ, nhân dân về những bất cập, hạn chế của công tác tôn giáo nói chung và của chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo nói riêng.

 



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8. Nxb CTQG, H. 1996, tr 77

[2] Hồ Chí Minh: Sđd, tr.77

Hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng vần tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định về an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội


Ổn định chính trị - xã hội là yêu cầu cao nhất để phát triển kinh tế - xã hội. Nhưng trên thực tế hoạt động lợi dụng tôn giáo chống đối chế độ của các thế lực thù địch vẫn chưa hề giảm. Chúng luôn coi “vấn đề tôn giáo – nhân quyền ở Việt Nam” là một lĩnh vực nhiều điểm nóng để thực hiện thủ đoạn lâu dài chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Vì vậy cần chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo dể mê hoặc, lôi kéo, kích động, chia rẽ, phá hoại khối doàn kết toàn dân tộc.

Mặt khác hoạt động tôn giáo ở nước ta cũng còn bị một số phần tử xấu lợi dụng vào các mục đích kinh tế - buôn thần bán thánh; nhằm trục lợi cá nhân, cục bộ; mê hoặc nhân dân… gây ra tình trạng mất trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng đến an ninh chính trị ở một số địa bàn.

Công tác vận động quần chúng, xây dựng lực lượng chính trị ở các vùng tôn giáo cần được quan tâm, tạo ra những chuyển biến tích cực

 


Đảng ta đã rất sáng suốt khi ngay từ năm 1990 đã đưa ra những quan diểm nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng. Vì thế công tác vận động quần chúng tín đồ các tôn giáo luôn có ý nghĩa quyết định sự thành công của công tác tôn giáo. Song ở các địa phương, công tác phát triển, xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng cốt cán, người tiêu biểu trong các vùng tôn giáo chưa được các cấp ủy đảng quan tâm thường xuyên. Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ vùng tôn giáo chưa có nhiều chuyển biến tích cực, đột phá, công tác vận động quần chúng tín đồ, chức sắc tôn giáo và công tác xây dựng các tổ chức yêu nước trong các tôn giáo chưa được quan tâm đúng mức, còn nhiều bất cập, yếu kém.

Những hạn chế của công tác xây dựng lực lượng chính trị trong các vùng tôn giáo là một trong những nguyên nhân căn bản làm nảy sinh các vụ việc phức tạp và điểm nóng tôn giáo ở nước ta trong thời gian qua. Những hạn chế, yếu kém ấy là cơ hội để các thế lực thù địch lôi kéo, kích động người dân gây mất trật tự an ninh xã hội, ảnh hưởng đến sự ỏn định chính trị để chống phá cheé độ ta. Vì thế công tác tôn giáo của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội luôn cần phải đề cao, dẩy mạnh công tác vận dộng quần chúng tín đồ, chức sắc các tôn giáo.

Công tác tôn giáo vẫn có yêu cầu phối kết hợp thống nhât, từ nhận thức đến hành động, của các tổ chức trong hệ thống chính trị

 


Quan điểm của Đảng luôn nhấn mạnh công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, nhưng thực tế cho thấy, có không ít vụ việc tôn giáo xảy ra do thiếu sự phối hợp và do chưa có sự phân công hợp lý giữa các tổ chức Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội của hệ thống chính trị nên chưa được phát hiện kịp thời, việc giải quyết chậm trễ, lúng túng, để kéo dài, làm tình hình phức tạp thêm.

Trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác tôn giáo, vẫn còn xảy ra tình trạng e ngại, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm công việc cho nhau; hoặc tổ chức này chặt chẽ, tổ chức kia lỏng lẻo; hoặc dành ưu ái với tôn giáo này, song lại chặt chẽ với tôn giáo khác,…tất cả đã làm hạn chế công tác tôn giáo, làm giảm hiệu quả thực thi chính sách pháp luật đối với tôn giáo, tín ngưỡng, gây ảnh hưởng xấu tới khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Hệ thống chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta vẫn có yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện phù hợp với quan điểm của Đảng

 


Cho đến nay Đảng, Nhà nước ta đã xây dựng được một hệ thống chính sách, pháp luật đối với tôn giáo, tín ngưỡng, song vấn đề tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật đó luôn đặt ra. Việc này xuất phát từ tính quy định của sự vận động, phát triển không ngừng của thực tiễn đời sống xã hội nước nhà, trong đó có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo. Chính sách pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo vẫn không tránh khỏi còn có những hạn chế, bất cập; chưa đáp ứng kịp thời sự thay đổi nhanh chóng của tình hình tôn giáo, tín ngưỡng, của thực tiễn dất nước và của thế giới; bên cạnh đó hiện trượng tôn giáo mới - đạo lạ đã và đang xuất hiện khá nhanh, mạnh và có diễn biến phức tạp  nhưng chủ thể công tác tôn giáo vẫn chưa có chủ trương, quy phạm pháp quy thích hợp, cụ thể để xử lý giải quyết.

Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo xã hội, vì thế trong việc hoàn thiện chính sách, pháp luật đối với tôn giáo, tín ngưỡng phải quán triệt yêu cầu mang tính nguyên tắc, đó là phải luôn phù hợp với quan điểm của Đảng.

Thành tựu của công tác tôn giáo trong việc thực hiện chính sách tôn giáo, tín ngưỡng

 


1) Công tác tôn giáo đã động viên được đồng bào có đạo, các tín đồ, chức sắc…hưởng ứng và tham gia các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc đạt được nhiều tiến bộ

2) Đồng bào các tôn giáo đã có những đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ đổi mới đất nước.

3) Các tổ chức tôn giáo ở nước ta đã xây dựng được đường hướng, phương châm hành đạo tiến bộ, hoạt động gắn bó với dân tộc theo Hiến pháp, pháp luật; các tôn giáo được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân đã tập hợp đông đảo tín đồ trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng cuộc sống tốt đời, đẹp đạo, góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước.

4) “Các ngành, các cấp đã chủ động tích cực thực hiện chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, phát triển kinh tế xã hội và giữ vững an ninh chính trị ở các vùng đồng bào tôn giáo, đồng thời đấu tranh ngăn chặn, làm thất bại những hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động chống phá Đảng và Nhà nước”[1]

* Nguyên nhân của các thành tựu trên

1)Do Đảng ta đã đề xướng đường lối đổi mới đúng đắn; dã lãnh đạo quá trình thực hiện đường lối đổi mới đạt được nhiều thành tựu quan trọng.

2)Đảng và Nhà nước ta hết sức nhạy bén đưa ra các chủ trương, chính sách tôn giáo theo tinh thần đổi mới và kịp thời, đã chủ động, sáng tạo trong quá trình lãnh đạo tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách

3)Công tác tôn giáo đã tích cực xây dựng, củng cố, kiện toàn bộ máy và đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo, tín ngưỡng theo yêu cầu của tình hình mới



[1] Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị ban chấp hành Trung ương 7, Khóa IX. Nxb CTQG,H.2003, tr46

Giám các quy định xin cho, bổ sung các quy định thông báo

 


Luật đã giám các quy định xin, cho, bổ sung các quy định thông báo như: thông báo người được phong phẩm hoặc suy cử làm chức sắc; thông báo thuyên chuyển chức sắc, chức việc, nhà tu hành; thông báo cách chức, bãi nhiệm chức sắc, chức việc; thông báo hoạt động của cơ sở đào tạo tôn giáo; thông báo kết quả đào tạo của từng khoa shọc của cơ sở đào tạo tôn giáo; thông báo mở lớp bồi dưỡng về tôn giáo cho những người không chuyên hoạt động tôn giáo; thông báo hội nghị thường niên.

Đây cũng là những quy định phù hợp với xu hướng hiện nay nhằm hạn chế sự can thiệp của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền vào công việc nội bộ của các tổ chức tôn giáo.