Thứ Năm, 18 tháng 11, 2021

ÔNG TRẦN ĐÌNH SỬ, CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG THẨM ĐỊNH SGK TIẾNG VIỆT LỚP 1 - ĐANG SUY THOÁI TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ RẤT NGHIÊM TRỌNG!

      Cùng với GS.TS Nguyễn Minh Thuyết là Tổng Chủ biên và Chủ biên SGK lớp 1 năm học 2020 - 2021 của NXB "Cánh diều" đang gây ồn ào dư luận xã hội thì GS.TS, NGND Trần Đình Sử cũng là một trong 72 kẻ nhân sĩ trí thức thoái hóa đòi sửa đổi HP 1992, trong đó, đòi đổi tên Đảng CSVN, đòi đổi tên nước CHXHCN Việt Nam, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng CSVN, đòi phi chính trị hóa các LLVTND.

Để hiểu về Trần Đình Sử là con người thế nào thì không khó khăn gì trong thời đại công nghệ 4.0 ngày nay và mạng xã hội.

Chỉ cần vào trang Facebook cá nhân của Trần Đình Sử chúng ta có thể dễ dàng nhận ra ông Sử là ai và qua đây chúng ta sẽ hiểu được tại sao hai ông Sử và Thuyết lại ngoan cố bao che cho nhau để bảo vệ bộ SGK đầy sạn do ông Thuyết làm Tổng Chủ biên.

Trong trang Facebook cá nhân của Trần Đình Sử chúng ta phát hiện ra vài điều chính như sau:

1. Trần Đình Sử tỏ ra bất kính với Chủ tịch Hồ Chí Minh nên Sử luôn luôn gọi là "ông Hồ".

2. Trần Đình Sử mượn tác phẩm "Nhật ký trong tù" của Chủ tịch Hồ Chí Minh để hạ bệ chế độ ta và nền tư pháp của ta ngày nay.

3. Trần Đình Sử ủng hộ bọn giặc cỏ Đồng Tâm và lũ "lật sư" bào chữa cho lũ giặc cỏ này.

4. Trần Đình Sử cùng phe nhóm của mình cũng bon chen, đố kỵ, giành giật, chửi bới, lăng mạ với phe nhóm khác để kiếm chác "miếng bánh" SGK. Tóm lại, tất cả chúng đều chỉ là đang làm kinh doanh giáo dục chứ dạy dỗ, truyền trao kiến thức gì cái ngữ chúng.

5. Toàn là các GS.TS, trí thức với nhau và đều là các bậc cao niên nhưng họ xưng hô với nhau, nhục mạ nhau cũng chả khác gì phường vô học và đám trẻ trâu.

6. Trần Đình Sử là một kẻ bất mãn chế độ và đang phá hoại chế độ XHCN.

Với nhân cách, tư cách đạo đức như vậy chả hiểu tại sao Trần Đình Sử lại được phong tặng Nhà giáo nhân dân? Lại được giao nhiệm vụ Chủ tịch hội đồng thẩm định SGK Tiếng Việt1 ????































Yêu nước ST.

“… ĐÃ TỰ KIÊU, TỰ ÁI THÌ KHÔNG THỂ ĐOÀN KẾT. KHÔNG ĐOÀN KẾT TỨC LÀ CÔ ĐỘC. ĐÃ CÔ ĐỘC THÌ CHẲNG VIỆC GÌ THÀNH CÔNG”!

     Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài viết “Bệnh tự kiêu, tự ái”, dưới bút danh X.Y.Z, đăng trên báo Sự Thật, số 102, ra ngày 15 tháng 11 năm 1948.

Đây là thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của quân và dân ta mới được hai năm, trong xã hội đã có một số cán bộ có biểu hiện cá nhân chủ nghĩa, công thần, hẹp hòi, kèn cựa địa vị, cục bộ bè phái, mất đoàn kết, chủ quan khinh địch; thiếu cố gắng vươn lên, tự cho mình việc gì cũng thạo, cũng làm được, việc gì mình cũng giỏi hơn người, mình là thần thánh, không cần học ai, hỏi ai; không can đảm tự phê bình, không ưa những lời phê bình thật thà ngay thẳng... nói tóm lại là đã mắc bệnh tự kiêu, tự ái. Trước tình hình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Bệnh tự kiêu, tự ái”, vạch rõ thực chất của căn bệnh này và khẳng định: “... Đã tự kiêu tự ái, thì không thể đoàn kết. Không đoàn kết tức là cô độc. Ðã cô độc, thì chẳng việc gì thành công”.

Giá trị, ý nghĩa sâu sắc câu nói của Bác vẫn còn tính thời sự, là lời răn dạy đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và quần chúng nhân dân phải luôn toàn tâm, toàn ý phục sựu Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân; chống mọi biểu hiện vô cảm, quan liêu, mệnh lệnh, hách dịch, nhũng nhiễu, gây phiền hà cho nhân dân. Phải ra sức thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; luôn khiêm tốn, trung thực, dũng cảm, mạnh dạn tự phê bình và hoan nghênh người khác phê bình mình; kiên quyết sửa chữa sai lầm, khuyết điểm và phát triển ưu điểm. Luôn gương mẫu đi đầu, nói đi đôi với làm; không ngừng học tập nâng cao trình độ, cố gắng học hỏi để luôn luôn tiến bộ. Phải ra sức thực hành đoàn kết, chống mọi biểu hiện chia rẽ, bè phái, cục bộ địa phương, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi.

Học tập và làm theo lời Bác dạy, cán bộ, chiến sĩ Quân đội thực hiện tốt Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, quán triệt sâu sắc các tiêu chí phẩm chất đạo đức cách mạng của quân nhân. Không ngừng học tập, phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện với tinh thần cầu thị, gắn với thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, học tập và công tác hàng ngày; thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, đề cao tự phê bình và phê bình, kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân. Mỗi cán bộ, chiến sĩ tự lập kế hoạch, xác định nội dung và phương pháp tự học tập, rèn luyện cụ thể phù hợp với chức trách, nhiệm vụ của bản thân và điều kiện thực tế của đơn vị. Tự nghiên cứu, tự đọc tài liệu, sách, báo, cập nhật và xử lý thông tin hằng ngày để bổ sung tri thức, nâng cao hiểu biết, vận dụng sáng tạo những kinh nghiệm hay vào tổ chức thực hiện nhiệm vụ./.

Yêu nước ST.

VÌ SAO ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VÀ NHÂN DÁN TA TRƯỚC SAU NHƯ MỘT KHÔNG CÔNG NHẬN CHẾ ĐỘ BÙ NHÌN TAY SAI "VNCH"?

Vì 4 lý do sau đây:

1. Từ quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước về quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam:

Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là CHXHCN Việt Nam) là quốc gia Hòa bình, độc lập, thống nhất, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ.

"Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi".


2. Cái gọi là "chính quyền VNCH" ở Nam Việt Nam, chỉ là bù nhìn, tay sai của Mỹ:

Để ngăn chăn hệ tư tưởng cộng sản ở Đông dương mà trọng tâm là ở Việt Nam, phục vụ cho lợi ích của nước Mỹ, Chính phủ Mỹ đã nặn ra ở Nam Việt Nam "chính quyền Việt Nam Cộng hòa" ("VNCH") chi viện, bảo hộ, hợp lý hóa cho họ, nhằm xây dựng ý thức hệ theo quĩ đạo của Mỹ, chống lại những người cộng sản, chia cắt lâu dài đất nước ta...điều đó đã xâm phạm quyền dân tộc cơ bản, nguyên tắc Hòa bình, độc lập, thống nhất, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Nước Việt Nam.

Vì thế Chính Phủ và nhân dân Việt Nam kiên quyết bác bỏ, tiến hành cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước đã gọi đúng bản chất chính quyền đó là tay sai, bù nhìn và đặt cho chính quyền ấy cái tên Ngụy quyền, quân đội của chúng là Ngụy quân, xuyên suốt từ đó đến nay.


3. Nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc chiến tranh chính nghĩa, đó là cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược để giải phóng Muền Nam, thống nhất đất nước:

Năm 1965 Mỹ ồ ạt đưa quân vào xâm lược Miền Nam Việt Nam với qui mô một cuộc chiến tranh cục bộ và tiến hành chiến tranh phá hoại Miền Bắc. Theo lời kêu gọi của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đưa quân đội từ miền Bắc chi viện cho quân giải phóng Miền Nam, đánh cho Mỹ phải rút quân về nước, xóa bỏ chế độ ngụy quyền tay sai, giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước. 

Nếu thời kỳ đó cũng như hiện nay ta công nhận chính quyền bù nhìn "VNCH" là một quốc gia độc lập, thì bản chất cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước sẽ bị thay đổi từ chính nghĩa trở thành một cuộc nội chiến, tranh giành lãnh thổ, trong đó Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ Miền Bắc đưa quân Xâm lược Nam Việt Nam và việc Mỹ đưa quân vào Nam Việt Nam chỉ là đồng minh của "VNCH", chứ không phải xâm lược Việt Nam. Kéo theo hàng loạt hệ lụy: những người đi chiến đấu giải phóng dân tộc trở thành những kẻ xâm lược; những kẻ làm tay sai, bán nước trở thành người bị xâm lược và hàng loạt các hệ lụy khác về chiến tranh, khăc phục hậu quả chiến tranh, cũng như quan hệ quốc tế.


4. Lịch sử đã diễn ra như vậy, không thể nói và viêt khác:

Đặc biệt, nếu công nhận ngụy quyền "VNCH" là một quốc gia, thì sẽ phải viết lại toàn bộ lịch sử cuộc chiến tranh giai đoạn 1954 - 1975 và sẽ xuất hiên trở lại chính phủ lưu vong "VNCH" trên trường quốc tế với bản chất là chính quyền tay sai bán nước mà nhân dân ta đã kiên trì đấu tranh, đổi bằng xương máu để xóa bỏ từ năm 1975, nay nó không còn tồn tại đã là 46 năm.

Vì vậy, việc dùng cụm từ "Chính quyền VNCH", "quân đội VNCH" trong viết sử, nói và làm phim sử không chỉ đơn thuần thay đổi từ, ngữ thông thường, không phải "để hòa hợp dân tộc", hoặc "thay đổi cách gọi không làm thay đổi bản chất" vv.. mà mục đích đen tối là một bước làm thay đổi lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta, tạo điều kiện cho các thế lực thù địch trong và ngoài nước lợi dụng dựng lại thây ma, đấu tranh đòi công nhận "chế độ VNCH" là điều mà nhân dân Việt Nam không thể chấp nhận./.

Yêu nước ST.

XIN CHÀO CÁC BẠN, XIN CHÀO NƯỚC MỸ, XIN CHÀO "BIỂN LỚN"!

      06h30 sáng ngày 18/11 (giờ Việt Nam), bộ đôi xe điện VinFast VF e35 và VF e36 sẽ cùng lúc “chiếm lĩnh” sân khấu danh giá tại LA Auto Show và phủ sóng trên Quảng trường Thời đại (New York, Mỹ), nơi được mệnh danh là “Giao lộ của thế giới”.

Khoảnh khắc lịch sử của hãng xe Việt nói riêng và triển lãm ô tô 114 năm tuổi nói chung sẽ được phát sóng trực tiếp cho hàng chục nghìn người dân và du khách theo dõi qua màn hình LED khổng lồ gần trên tòa nhà NASDAQ tại trung tâm Quảng trường Thời đại (Times Square) ở thành phố New York, Mỹ. Đây không chỉ là màn ra mắt ấn tượng của một hãng xe với tầm nhìn và khát vọng toàn cầu mà còn được xem như lời tuyên bố đầy quyết tâm và bản lĩnh của VinFast trên hành trình bước ra thế giới.

Là một trong số 33 thương hiệu toàn cầu tranh tài tại triển lãm ô tô lâu đời nhất thế giới và là hãng xe duy nhất đến từ Việt Nam, VinFast không chỉ mang đến “thành phố thiên thần” 2 mẫu SUV điện cao cấp mà còn mang đến cả tầm nhìn về “Tương lai của di chuyển” cho toàn cầu. Đó là một tương lai bền vững khi mọi người đều có thể tận hưởng việc di chuyển bằng phương tiện thông minh, an toàn, thú vị và thân thiện với môi trường. Hãng dự kiến mở bán toàn cầu 2 mẫu SUV điện cao cấp VF e35, VF e36 vào nửa đầu năm 2022./.





Yêu nước ST.

Chiến dịch “truyền thông thảm họa”, phát tán nội dung “ba sạch”

 

          Theo Bộ Công an, các nhóm phản động triệt để lợi dụng không gian mạng ráo riết triển khai “chiến dịch truyền thông về thảm họa dịch Covid-19 tại Việt Nam” tác động đến tâm lý lo sợ của người dân.

          Các đối tượng liên tục soạn thảo, tán phát hơn 30.000 đầu tài liệu, video clip, phát động 11 chiến dịch, kế hoạch xuyên tạc tình hình cũng như công tác phòng chống dịch của Đảng, Nhà nước; đề ra cái gọi là “kế hoạch hành động khẩn cấp”, khoét sâu, tô vẽ về những khó khăn, phức tạp do dịch Covid-19 ở Việt Nam; kêu gọi, kích động dư luận trái chiều, “phản kháng” của người dân về chủ trương, biện pháp phòng, chống dịch; xuyên tạc các chính sách hỗ trợ người lao động, kích động người dân “lên tiếng” đòi hỏi quyền lợi, “xuống đường”, tụ tập gây rối an ninh, trật tự, biểu tình, gây bất ổn xã hội, ý đồ tạo các “đốm lửa nhỏ” có ý nghĩa “ngòi nổ” để tập hợp lực lượng, tập dượt biểu tình chống phá Đảng, Nhà nước khi có thời cơ.

Bị can Phan Hũu Điệp Anh (ngụ phường 19, quận Bình Thạnh) đã có hành vi đăng tin xuyên tạc, sai sự thật liên quan đến dịch COVID-19 và phát tán nhiều bài viết xuyên tạc, bôi nhọ Đảng, Nhà nước

          Nhiều cá nhân và tổ chức phản động trong và ngoài nước triệt để lợi dụng “chiêu bài” hỗ trợ nhân đạo, từ thiện để tiếp cận, lôi kéo, kích động công nhân, người lao động tham gia các tổ chức phản động lưu vong, dự các khóa huấn luyện và tham gia các hoạt động gây rối an ninh, trật tự.

          Nguy hiểm hơn, tổ chức khủng bố “Việt tân” âm mưu thực hiện kế hoạch “Bùng nổ vì dịch Covid-19” hòng đẩy cao sự “phẫn uất” của nhân dân, kích động biểu tình; đưa thành viên cốt cán bên ngoài xâm nhập về nước chỉ đạo, kích động số công nhân ở các khu công nghiệp gây rối an ninh, trật tự, ghi âm, ghi hình phát tán lên không gian mạng, thổi phồng sự phức tạp của tình hình, ý đồ tạo hiệu ứng “Domino” để gây biểu tình, bạo loạn quy mô lớn.

          Tổ chức khủng bố “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” và một số hội, nhóm phản động trên không gian mạng (“Cờ vàng”, “Bạn phải lên tiếng”…) tán phát lời kêu gọi “ba sạch” (đốt sạch, phá sạch, giết sạch) tại các khu cách ly ở các tỉnh phía nam; hứa hẹn sẽ cung cấp vũ khí (súng, lựu đạn) cho người dân để chống lại lực lượng chức năng.

          Tính riêng trong quý III/2021 (thời điểm dịch bệnh diễn biến rất phức tạp tại TP.HCM và các tỉnh phía nam), cơ quan chức năng đã phát hiện hơn 28.000 thông tin gốc có nội dung xấu, độc trên mạng xã hội, tăng 200% so với 6 tháng đầu năm. Phát hiện hàng trăm hội, nhóm kín trên không gian mạng liên quan công nhân tại các khu công nghiệp, người dân tại các khu cách ly, phong tỏa chia sẻ nhiều nội dung xấu độc, chưa được kiểm chứng kích động biểu tình, gây rối.


Việt Nam yêu cầu Đài Loan chấm dứt các hoạt động trái phép ở đảo Ba Bình


          Việt Nam kiên quyết phản đối, yêu cầu Đài Loan chấm dứt các hoạt động trái phép, đưa tàu ngầm tập trận tại đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

          Ngày 18/11, trả lời câu hỏi của phóng viên yêu cầu bình luận về thông tin tàu ngầm Đài Loan tập trận tại đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, đại diện Bộ Ngoại giao khẳng định nêu rõ: "Như đã nhiều lần khẳng định, Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa phù hợp với luật pháp quốc tế".

          Bà Hằng khẳng định mọi hoạt động tuần tra và diễn tập quân sự của Đài Loan tại vùng biển xung quanh Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa là xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này, đe dọa hòa bình, ổn định, an toàn, an ninh hàng hải, gây căng thẳng và làm phức tạp tình hình ở Biển Đông.

          "Việt Nam kiên quyết phản đối, yêu cầu Đài Loan chấm dứt các hoạt động trái phép nêu trên và không tái diễn trong tương lai", người phát ngôn nói thêm.

          Đảo Ba Bình là đảo san hô thuộc cụm đảo Nam Yết, quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Đây là đảo có diện tích lớn nhất quần đảo Trường Sa và hiện đang bị Đài Loan chiếm đóng phi pháp từ 1946.

          Cùng ngày, Philippines lên án hành động của Trung Quốc ngăn tàu tiếp tế lương thực cho lực lượng đồn trú trái phép của Manila ở Bãi Cỏ Mây thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Về vấn đề này, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng cho biết:

          "Lập trường của Việt Nam về chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa, quần đảo Hoàng Sa và vấn đề Biển Đông là rõ ràng và nhất quán. Việt Nam đề nghị các bên tuân thủ luật pháp quốc tế, Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (UNCLOS) 1982 trong mọi hoạt động trên Biển Đông, không có hành động làm phức tạp tình hình, góp phần duy trì hòa bình, an ninh, ổn định và trật tự pháp lý trên biển".

Lực lượng tuần duyên Philippines theo dõi hoạt động tàu Trung Quốc. 

(Ảnh: EPA-EFE)

          Reuters đưa tin, vụ việc xảy ra hôm 16/11 khi 3 tàu hải cảnh Trung Quốc chặn đường, phun vòi rồng vào 2 tàu tiếp tế của Philippines đang trên đường tới bãi Cỏ Mây.

          Ngoại trưởng Philippines Teodoro Locsin cho biết, không ai bị thương trong sự việc. Các tàu Philippines phải hủy nhiệm vụ và quay về bờ.

          Phản ứng trước hành động của Trung Quốc, Ngoại trưởng Locsin cho biết: "Hành động của hải cảnh Trung Quốc là phi pháp. Trung Quốc không có quyền thực thi pháp luật trong và xung quanh những khu vực này”.

          Đồng thời ông Teodoro Locsin cho biết đã chuyển "những lời lẽ phẫn nộ, lên án và phản đối mạnh mẽ nhất về vụ việc" tới Đại sứ Trung Quốc tại Manila.

LỜI DẠY CỦA BÁC HỒ VỚI NGHỀ THẦY GIÁO

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một vị lãnh tụ thiên tài của cách mạng Việt Nam mà Người còn là một người thầy mẫu mực, đầy tâm huyết của dân tộc Việt Nam. Tư tưởng, lời huấn thị của Người vẫn mang giá trị thời sự trong giai đoạn hiện nay.

Người luôn luôn đánh giá cao vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của người thầy đối với xã hội, đối với sự nghiệp trồng người cho tương lai.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mối quan hệ giữa người thầy với giáo dục và sự phát triển kinh tế, văn hóa của đất nước là một quá trình thống nhất. Trong  đó, người thầy giáo là chủ thể có vị trí cực kỳ quan trọng và rất vẻ vang. Người nói: “Nhiệm vụ thầy giáo rất vẻ vang, vì nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục,…Không có giáo dục thì nói gì đến kinh tế, văn hóa”. Bác xem việc dạy học là một nghề đào luyện những thế hệ con người để xây dựng xã hội ngày càng phát triển. Tuy sự cống hiến của thầy giáo là rất thầm lặng nhưng nếu trở thành một người thầy giáo tốt là điều vô cùng hữu ích và rất mực vẻ vang.

Bác dạy: “…Người thầy giáo tốt là người vẻ vang nhất. Dù tên tuổi không có trên báo, không được thưởng huân chương, song những người thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh…”.

Hồ Chí Minh xác định rõ chức năng của người thầy giáo là dạy học theo mục tiêu giáo dục của nước nhà trong từng giai đoạn phát triển của xã hội. Trong Lá thư gửi Hội nghị Giáo dục toàn quốc tháng 3/1955, Bác Hồ đã viết: “Trách nhiệm nặng nề và vẻ vang của người thầy là chăm lo cho con em của nhân dân thành người công dân tốt, người lao động tốt, người chiến sĩ tốt, người cán bộ tốt của nước nhà”. Bác cũng nhấn mạnh rằng: Nhiệm vụ của người thầy giáo không chỉ là sự truyền bá tri thức, phương pháp, tay nghề cho người học, mà thầy giáo cũng như học trò, tất cả đều phải tham gia vào các công việc xã hội một cách thật tích cực. Nhà trường phải gắn liền với thực tiễn xã hội, gắn liền với đời sống của nhân dân. Đồng thời, Bác Hồ còn chỉ ra bản chất ưu việt của nền giáo dục trong xã hội mới là hoàn toàn khác với giáo dục trong xã hội cũ: động cơ của người làm nghề thầy giáo không phải là mục đích kinh tế thuần túy mà động cơ giáo dục của người thầy giáo phải gắn liền với mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể theo nhu cầu của xã hội, phải đáp ứng được lợi ích của nhân dân, vì sự  mưu cầu hạnh phúc cho con người.

Ngoài ra, Hồ Chí Minh còn chỉ rõ, người làm thầy giáo phải luôn là tấm gương không ngừng học tập để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức để làm tấm gương sáng cho học trò noi theo, để đáp ứng yêu cầu của thời đại mới trên mọi phương diện.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề vai trò, vị trí và chức năng của người thầy giáo luôn được quan tâm đúng mức và đánh giá cao. Sự đánh giá cũng như những nhận định của Bác về người thầy giáo là hoàn toàn có cơ sở và được Bác luận giải trên nhiều phương diện:

Thứ nhất, người thầy giáo là hạt nhân của sự nghiệp giáo dục, mà giáo dục có mối liên hệ mật thiết với tất cả các lĩnh vực khác bởi nó là nơi đào tạo ra nguồn nhân lực cho mọi ngành nghề trong xã hội. Thấm nhuần được quan điểm này, Đảng và Nhà nước ta đã xác định: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” và nhiệm vụ thiêng liêng, cao quý của giáo dục là phải tập trung thực hiện mục tiêu: “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài”.

 Thứ hai, người thầy giáo luôn phải gương mẫu trong học tập, trau dồi trình độ chuyên môn, tri thức khoa học, phải là tấm gương tự học với quan niệm “Sự học không bao giờ cùng” để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thời đại trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước trước tình hình mới. Đặc biệt là trong bối cảnh khoa học - kỹ thuật phát triển như vũ bão hiện nay thì tấm gương tự học của người thầy càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết đối với người học.

Thứ ba, người thầy giáo phải luôn tự rèn luyện và trở thành tấm gương sáng về đạo đức cách mạng cho học trò nói riêng và mọi người nói chung noi theo. Hình ảnh người thầy giáo luôn được xã hội xem là biểu tượng của văn hóa, là đại diện cho văn minh thời đại.

Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, người thầy giáo phải có đức hy sinh cao cả, sự cống hiến thầm lặng như những người lái đò, đưa từng thế hệ học trò đến bến bờ của thành đạt và vinh quang, giúp họ trở thành những con người có ích cho xã hội, mà về phần mình, người thầy giáo không đòi hỏi gì. Niềm vui của người thầy chính là sự tiến bộ của học trò, sự thành đạt của người mà họ dạy dỗ và truyền thụ tri thức.

Quả thật vậy, nghề thầy giáo là một nghề vô cùng cao quý, đào tạo nên nguồn nhân lực quyết định tới sự phát triển của đất nước. Không gì có thể sánh bằng công lao vất vả của những người thầy trong sự nghiệp trồng người. Bao nhiêu thế hệ học sinh đi qua, cùng với phấn trắng, bảng đen, mái tóc thầy càng trở nên bạc trắng theo năm tháng, nhưng sự tâm huyết mong muốn đem tri thức và những bài học quý giá đến với các học trò của mình thì mãi sẽ không thay đổi trong mỗi người thầy.


TIA CHỚP

“NẾU LÀ NGƯỜI VIỆT NAM, TÔI SẼ LÀM VIỆT CỘNG”!

     Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, rất nhiều nhà báo nước ngoài đã đến Việt Nam. Nhiều tác phẩm báo chí của họ về những điều “mắt thấy tai nghe” tại chiến trường Việt Nam đã gây hiệu ứng lớn trong dư luận quốc tế, góp phần vào làn sóng phản đối chiến tranh xâm lược Việt Nam và ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta.

Trong số đó có nữ ký giả Pháp Michèle Ray của tờ Le Nouvel Observateur (Người Quan sát mới). Bà sang Việt Nam từ đầu năm 1966, chỉ vài tháng sau khi Mỹ ồ ạt đổ quân vào Việt Nam. Sau này bà cho biết, ngoài công việc làm báo, bà còn muốn tìm tung tích cha mình cũng là một nhà báo đã mất ở cao nguyên Trung phần trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp trước đó.

Sau ngày về nước, Michèle Ray đã viết cuốn sách “Từ hai bờ địa ngục” (Des deux rives de l’enfer) và một thiên phóng sự “Nếu là người Việt Nam, tôi sẽ làm Việt cộng”. Cuốn “Từ hai bờ địa ngục” đã được dịch sang tiếng Anh và phát hành khắp thế giới, kể lại cuộc hành trình mạo hiểm của bà một mình một xe ô tô, khi thì có mặt ở những vùng chiến sự, khi lọt vào vùng giải phóng và tất nhiên, nhiều phen thoát chết trong gang tấc. Thiên phóng sự “Nếu là người Việt Nam, tôi sẽ làm Việt cộng” kể về những người cách mạng, từ anh cán bộ phong trào, anh bộ đội, anh du kích… đến người dân bình thường và các cháu học sinh ở vùng giải phóng. Thú vị nhất là việc có lần, bà đã bị họ bắt làm “tù binh” một thời gian và nhờ đó mà bà hiểu kỹ hơn về những người “Việt cộng”.

Michèle Ray kể rằng, sau khi sang Việt Nam, bà đã chọn Bình Định vì hồi đó, đây là một trong những chiến trường nóng bỏng. Đây cũng là nơi đã bẻ gãy 1 trong “5 mũi tên” của Mỹ ở chiến trường miền Nam. Báo chí Sài Gòn thời ấy bình luận: “Bình Định là tỉnh đứng đầu trong 44 tỉnh, thành phố về mất an ninh trật tự nhất ở miền Nam Việt Nam” (vì có phong trào đấu tranh chống Mỹ-ngụy phát triển mạnh mẽ). Vì thế, phần lớn những địa danh và nhân vật trong hai tác phẩm trên đây của Michèle Ray là ở Bình Định, nhiều người trong số đó hiện nay vẫn còn sống. Một trong số đó là nữ nhà báo Lê Thu, người đã từng được tiếp xúc với Michèle Ray hồi bà “bị bắt” ở Bình Định.

Lê Thu quê ở thôn Mỹ An, xã Hoài Thanh, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Gia đình chị từng là một cơ sở cách mạng ở Hoài Nhơn. 14 tuổi, chị tham gia hoạt động hợp pháp trong phong trào đô thị miền Nam, từng bị địch bắt biệt giam ở các nhà lao Quy Nhơn, Nha Trang và giải qua các nhà tù ở Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận… Ra tù, chị lại tiếp tục hoạt động và được kết nạp Đảng năm 18 tuổi. Sau ngày đất nước thống nhất, chị đi học sư phạm, làm giáo viên Trường Cao đẳng Sư phạm Quy Nhơn, giảng dạy ở Trường Hành chính tỉnh Nghĩa Bình rồi làm cán bộ Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Phú Khánh… Duyên nghiệp thế nào, cuối cùng chị lại làm nhà báo công tác tại Văn phòng đại diện báo chí khu vực miền Trung và Tây Nguyên của nhiều tờ báo ở Hà Nội. Lê Thu nói rằng, từ hồi làm du kích và tiếp xúc với Michèle Ray, chị đã mơ ước được làm nhà báo như bà ấy.

Lê Thu kể: Tháng Chạp năm 1966, một hôm nghe xôn xao là du kích vừa bắt được một nữ biệt kích Mỹ lái ô tô đột nhập vùng giải phóng, chị cùng mấy người tò mò đến xem, thấy một cô gái ngoại quốc chừng 26-27 tuổi, tuy bị bắt nhưng không tỏ ra lo lắng, sợ sệt gì. Thầy Tri là giáo viên Pháp văn trao đổi với tù binh, xem giấy tờ rồi quay sang nói với mọi người: Đây là nhà báo Pháp, tên là Michèle Ray, 28 tuổi, phóng viên Báo Người Quan sát mới…

Mọi người vẫn quyết định dẫn Michèle Ray lên cấp trên. Chiếc xe con của bà ấy thì được khiêng giấu vào đám mía tại thôn Tài Lương, xã Hoài Thanh. Thầy Nguyễn Đức Nghĩa, vốn là Hiệu trưởng Trường Trung học Quy Nhơn, được cử đi theo làm phiên dịch viên. Mấy ngày sau, địch có trận càn lớn ở Hoài Thanh, chiếc xe con giấu trong vạt mía bị đốt cháy. Sau này, khi biết chắc chắn Michèle Ray là nhà báo Pháp có thiện chí với cách mạng, bà ấy được đi lại trong vùng tự do. Biết tin chiếc xe đã bị đốt cháy, bà nói: “Tôi đã từng lái loại Renault này từ Nam Mỹ đến Bắc Mỹ, chạy liên tục mấy ngàn cây số vẫn không hỏng. Tới Sài Gòn, tôi đến chi nhánh hãng Renault thuê chiếc xe này để có thể ra Hà Nội. Xe đã được bảo hiểm, nên dù mất tôi vẫn không phải bồi thường”.

Mặc dù đã được “giải oan” nhưng Michèle Ray vẫn luôn ý tứ, dè dặt, muốn làm gì cũng phải xin phép, kể cả chụp ảnh, quay phim. Gặp hôm địch đổ quân càn quét, bà ấy cũng theo mọi người xuống hầm bí mật. Ông Trần Hoài Thu hồi 1965-1967 cũng là giáo viên Pháp văn ở vùng giải phóng huyện Hoài Nhơn, sau này là Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Định, kể thêm: “Hôm nằm dưới hầm bí mật tại thôn Hội An, xã Hoài Châu, Michèle Ray nghe tiếng giày đinh lính Mỹ nện trên đầu, bà ta cứ nằng nặc đòi đội hầm lên: “Cho tôi được gặp lính Mỹ. Tôi sẽ phỏng vấn họ”. Bà nói đi nói lại nhiều lần, mọi người can ngăn mãi…”.

Khi đã hiểu rõ Michèle Ray, mọi người đều dành cho bà những tình cảm đặc biệt, ngày nào cũng mang cho thịt gà, bia, nước ngọt, trái cây… Nhưng Michèle Ray vẫn thích các món dân dã như rau rừng chấm mắm nêm, canh cua đồng và nhất là khoai luộc nóng. Michèle Ray còn tập chơi bài tú-lơ-khơ với anh em du kích, rồi tự đệm đàn ghi-ta hát bài “Giải phóng miền Nam” bằng tiếng Việt ngọng nghịu. Khi tiếp xúc với mọi người, bà tránh hỏi tên tuổi cụ thể mà chỉ gọi tên theo đặc điểm riêng từng người. Sau này đọc thiên phóng sự “Nếu là người Việt Nam, tôi sẽ làm Việt cộng” của Michèle Ray, mọi người cứ cười hoài khi bà ấy gọi anh công an là “anh răng trắng”; anh công vụ mang khẩu súng cạc-bin là “anh mắt chồn” (ý nói mắt sáng tinh tường); còn thầy Nghĩa phiên dịch thì được gọi là “Giáo sư đỏ” (Professeur rouge)…

Những ngày thâm nhập ở Hoài Nhơn, Michèle Ray đề nghị du kích trang bị cho mình các thứ đồ dùng giống như mọi người: Quần áo bà ba đen, võng ni-lông, bát ăn cơm bằng đuya-ra Mỹ, dù hoa, nón lá, dép cao su… Có lần, Michèle Ray còn đề nghị “móc nối” cho bà được theo đường mòn Trường Sơn đi bộ ra Hà Nội. Nhưng điều kiện lúc đó chưa cho phép. Michèle Ray quyết định quay trở lại Sài Gòn để ra Hà Nội bằng cách khác. Hôm chia tay, tất cả hành lý, tư trang của bà được mọi người chuẩn bị đầy đủ và cho vào ba lô con cóc, mang gọn sau lưng, trông như một chiến sĩ du kích thực thụ… Nhưng, khi ngồi lên xe máy chuẩn bị phóng đi, sực nhớ ra điều gì, Michèle Ray liền đấm vào lưng bác lái xe ra hiệu dừng lại. Thầy Nguyễn Đức Nghĩa hỏi: “Michèle Ray còn cần gì nữa?”. Bà ấy chỉ tay lên lá cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng đang tung bay trước trụ sở, nói: “Tôi muốn xin lá cờ này…”.

Thầy Nghĩa giải thích rằng, nếu mang theo cờ Giải phóng, sẽ rất nguy hiểm cho tính mạng của Michèle Ray, ít nhất cũng sẽ bị làm khó dễ. Nhưng bà ấy mở nút áo, chỉ vào ngực mình, nói: “Tôi sẽ xếp thật gọn, giấu kín vào đây. Khi lên máy bay rời Việt Nam, tôi nhờ các đồng nghiệp Mỹ xách hộ qua cửa, sẽ an toàn thôi mà…”.

Không biết kế hoạch ấy của Michèle Ray có trót lọt? Và sau gần 50 năm, Michèle Ray còn giữ được kỷ vật ấy?

Môi Trường ST.

Việt Nam phản đối tàu ngầm Đài Loan diễn tập gần Trường Sa

 

Việt Nam phản đối tàu ngầm Đài Loan diễn tập gần Trường Sa

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao khẳng định tàu ngầm Đài Loan diễn tập ở Trường Sa là xâm phạm chủ quyền Việt Nam, yêu cầu không tái diễn.

"Mọi hoạt động tuần tra, diễn tập quân sự của Đài Loan tại vùng biển xung quanh đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa là xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam với quần đảo này, đe dọa hòa bình, ổn định, an toàn, an ninh hàng hải, gây căng thẳng và làm phức tạp tình hình ở Biển Đông", người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng cho biết trong cuộc họp báo thường kỳ hôm nay.

Tuyên bố được bà Hằng đưa ra khi đề cập thông tin Đài Loan triển khai tàu ngầm và tàu cảnh sát biển tuần tra, diễn tập gần đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

"Việt Nam kiên quyết phản đối, yêu cầu Đài Loan chấm dứt các hoạt động trái phép trên và không tái diễn trong tương lai", người phát ngôn nhấn mạnh, đồng thời cho biết Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, phù hợp luật pháp quốc tế.

Cơ quan phòng vệ Đài Loan hôm 9/11 công bố báo cáo về hoạt động phòng thủ trong năm 2021, xác nhận tàu ngầm Hải Long của phòng vệ Đài Loan đã tham gia các đợt diễn tập gần đảo Ba Bình.

Giới chức Đài Loan không cho biết cụ thể về thời gian và nội dung diễn tập, nhưng nói rằng tàu ngầm Hải Long có nhiệm vụ "bảo vệ các tuyến hàng hải trong thời bình", cũng như "tham gia tác chiến, rải thủy lôi khi xung đột nổ ra".

Ba Bình là đảo có diện tích tự nhiên lớn nhất thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Đài Loan chiếm giữ trái phép đảo này và từng triển khai lực lượng thủy quân lục chiến đồn trú. Tuy nhiên, từ năm 2000, Đài Loan thay lực lượng đồn trú trên đảo Ba Bình bằng một đơn vị cảnh sát biển, được trang bị các loại vũ khí như súng máy, cối tầm xa.

 

LẦN CHIẾN THẮNG THỨ HAI TRƯỚC QUÂN MÔNG NGUYÊN CỦA NHÀ TRẦN LÀ LẦN KHÓ KHĂN NHẤT

 Trong 3 lần đại chiến với quân Nguyên Mông thì lần giáp chiến thứ hai là lần quân đội nhà Trần gần như đi đến bờ vực bị hủy diệt nhất.

Về quy mô của chiến dịch này ngay từ hàng ngũ tướng quân đã cho thấy quân Mông Cổ nghiêm túc với lần nam hạ này như thế nào.

Ngoài Thoát Hoan con trai của Hốt Tấn Liệt ra, các vị tướng đi cùng đều là danh tướng có bề dày kinh nghiệm chiến tranh từ âu sang á như Ariq Qaya, viên tướng xuất sắc người Uigur của nhà Nguyên, được chọn làm phó cho Thoát Hoan, và được phong làm An Nam hành trung thư tỉnh tả thừa tướng.

Các tướng lĩnh đáng chú ý khác của đội quân Nguyên là Lý Hằng - viên tướng xuất sắc người Tây Hạ của nhà Nguyên, Koncak (Khoan Triệt, người Uzbek), Bolqadar (Bột La Hợp Đáp Nhĩ), Satartai (Sát Tháp Nhi Đài), Mangqudai (Mãng Cổ Đái), Naqai (Nạp Hải), các tướng người Hán là Lý Bang Hiến, Tôn Hựu, Tôn Đức Lâm, Lưu Thế Anh, Lưu Khuê, Nghê Nhuận.

Tổng cộng nhà Nguyên huy động tới 50 vạn (một số nguồn khác cho rằng quân Nguyên đông khoảng 30 vạn sau khi trừ đi số dân phu ). Đây là lần xuất chinh với quân số lớn nhất mà nhà Nguyên từng thực hiện, so với dân số thời đó thì đoàn quân này có quy mô cực lớn. Để so sánh, khi nhà Nguyên tấn công Nhật Bản vào năm 1281, họ cũng chỉ huy động 14 vạn người, dù dân số và diện tích Nhật Bản lớn gấp đôi Đại Việt thời nhà Trần.

Thế nên khỏi phải nói sức mạnh của đội quân khổng lồ này nhanh chóng phá tan phòng tuyến của quân nhà Trần, chiếm đóng toàn bộ từ Quảng Ninh xuống Hoa Lư (Ninh Bình), chưa kể cánh quân Toa Đô đánh lên từ Quảng Bình đến Thanh Hoá, chuẩn bị đánh Thiên Trường (Nam Định).

Rất nhiều tướng nhà Trần bị bắt và tử trận, các cánh quân chính bị tan vỡ thậm chí chính Hưng Đạo Vương cũng suýt bị bắt nếu không được Yết Kiêu cứu kịp. Chưa kể nội bộ tướng lĩnh cũng có nội phản như tướng Trần Kiện (con rể Trần Quang Khải - là tướng trấn thủ biên giới phía Nam) đầu hàng quân Nguyên, dẫn quân địch đánh úp khiến quân Trần Quang Khải thảm bại, hai tướng quân trấn giữ ải thân vong vì sự phản bội này.

Các tướng lẫn hoàng tộc như Phạm Cự Địa, Lê Diễn, Trịnh Long theo cha con Chiêu Quốc Vương Trần Ích Tắc đem gia đình ra hàng quân Nguyên.

Quan trọng nhất là mặt trận Thanh-Nghệ bị tan vỡ, đại quân do vua Trần chỉ huy ở Thiên Trường và Trường Yên lâm vào thế bị ép từ 2 mặt Bắc-Nam số quân sỹ trong tay chỉ còn hơn 5 vạn để đối đầu với 30 vạn quân hùng mạnh của Nguyên Mông, triều Trần đứng trước nguy cơ diệt vong hoàn toàn.

Vậy mà với sự lãnh đạo tài tình của Hưng Đạo Vương, quân Đại Việt từ thế bị dồn vào chân tường đã làm nên những chiến thắng ở các mặt trận Hàm Tử - Tây Kết- Chương Dương Độ lật ngược lại thế trận tái chiếm thành Thăng Long và kết thúc bằng trận trận sông Thiên Mạc lấy thủ cấp Toa Đô truy kích Thoát Hoan đến tận biên giới.

Theo Nguyên sử và các nguồn sử khác thì quân Nguyên tổn thất cho trận đánh này là 10-20 vạn cả thương vong và bị bắt, hao tài tốn lực không đếm được.

Và quan trọng, chiến thắng này không đến từ may mắn như đám hậu thế xét lại mà đến từ chiến thuật và tinh thần Đông A đỉnh cao của Đại Việt./.


Môi Trường ST.