Thứ Ba, 8 tháng 2, 2022

Thư của Bí thư thứ Nhất Trung ương Đoàn gửi Thanh niên Quân đội nhân kỷ niệm 70 năm Ngày Truyền thống

Nhân dịp kỷ niệm 70 năm Ngày Truyền thống Thanh niên Quân đội, đồng chí Nguyễn Anh Tuấn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư thứ Nhất Ban chấp hành Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh gửi thư chúc mừng.

Kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống Thanh niên Quân đội

Hôm nay, ngày 08/02/2022, tại Hà Nội, Ban Thanh niên Quân đội (TNQĐ) tổ chức Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống TNQĐ, Ban TNQĐ (8-2-1952 /8-2-2022) và đón nhận Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất. Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng tới dự và có bài phát biểu quan trọng.

CHÚNG TÔI SẼ THẮNG



Tháng 2 .1979, đại sứ nước CHXHCNVN tại Ý là ông Nguyễn Anh Vũ, đã mở một cuộc họp báo chí quốc tế để lên án Trung Quốc tấn công 6 tỉnh biên giới nước ta. Tại họp báo có một phóng viên hỏi ông :

GIÁM MỤC KON TUM BỊ CÔNG KÍCH VÌ ĐƯA THÔNG TIN KHÁCH QUAN


Giám mục Kon Tum bị công kích chỉ vì đưa thông tin khách quan đã lộ rõ bộ mặt xấu xa của những kẻ lợi dụng tôn giáo để chống phá!


Ngày 29/1, ngay thời điểm trước Tết nguyên đán, một sự việc đau lòng xảy ra tại xã Saloong, huyện Ngọc Hồi, Kon Tum. Linh mục Trần Ngọc Thanh trong khi làm lễ đã bị một người sát hại. Kẻ thủ ác là Nguyễn Văn Kiên (sinh sống tại xã  Saloong) nhanh chóng bị giáo dân bắt, giao nộp cho cơ quan công an. Lực lượng công an đã khởi tố đối tượng tội Giết người.

CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT:SỐ PHẬN NGƯỜI ĐÓNG THẾ STALIN!

         Những truyền thuyết đáng kinh ngạc nhất vẫn còn lưu truyền về những người đóng thế của Stalin. Đúng vậy, tên của nhiều người trong số họ vẫn chưa được biết đến cho đến tận ngày nay. Tuy nhiên, nữ nhà báo Irina Sergievskaya trong cuốn sách “Đền Pantheons của Điện Kremlin” đã đề cập đến ít nhất 5 người từng đảm nhận vai trò đóng thế Stalin, trong đó có một nhân viên kế toán bình thường, Yevsey Lubnitsky.


MỘT LOẠT VỤ MƯU SÁT

Được biết, nhiều âm mưu ám sát Stalin đã được liên tục tổ chức, đặc biệt là trong thập niên 1930. Chỉ trong năm 1933, Stalin đã hai lần đứng trước bờ vực của cái chết. Chẳng hạn, trong chuyến đi nghỉ dưỡng đến hồ Ritsa, dọc đường sếp an ninh Beria đã yêu cầu lãnh tụ chuyển sang một chiếc xe khác, vì linh cảm nghề nghiệp đã báo cho ông ta biết có thẻ sẽ xảy ra tai họa với Stalin.

Stalin đã làm theo lời khuyên của Beria. Ngay sau đó, khi đi qua sông Lashupse, cầu bắc qua sông bất ngờ bị sập, chiếc ô tô mà Stalin ngồi trước đó lao xuống nước. Vài ngày sau, Beria lại nổi bật với một hành động anh hùng: dùng thân mình che chắn cho Stalin khỏi những phát súng bắn từ bờ khi hai người đang ngồi thuyền dạo chơi trên hồ. Số là các chiến sĩ biên phòng đã bắn do nhầm lẫn. Tuy nhiên, có một phiên bản cho rằng Lavrenty Beria đã sắp xếp cả hai "âm mưu ám sát" để lấy lòng Stalin.

Trong khi đó, câu chuyện xảy ra với nhà lãnh đạo năm 1935 đóng vai trò quyết định trong việc Stalin quyết định phải có người đóng thế. Ít nhất, đây là những gì Andrei Sudoplatov, con trai của viên tướng tình báo nổi tiếng Pavel Sudoplatov, đề cập trong cuốn sách Cuộc đời bí mật của tướng Sudoplatov. Theo Andrei Sudoplatov, vào mùa thu năm đó, Stalin đến Gruzia để gặp mẹ mình, bà Ekaterina Dzhugashvili.

Tuy nhiên, chuyến thăm trở nên ngắn ngủi: đội bảo vệ của nhà lãnh đạo đã phát hiện một âm mưu trong hàng ngũ những người cộng sản cũ của Gruzia, vốn tin chắc rằng Stalin đã phản bội sự nghiệp của Lenin. Những kẻ dự mưu đã thất bại trong âm mưu sát hại "lãnh tụ của các dân tộc", nhưng chính sau vụ việc này, Stalin đã được bố trí một nhân viên đóng thế - Yevsey Lubnitsky.


KẾ TOÁN VIÊN TRONG VAI STALIN

Theo Maria Pankova và các tác giả khác của ấn phẩm "100 bí mật nổi tiếng trong lịch sử", các nhân viên an ninh đã phát hiện ra “bản sao” của Stalin vào năm 1935 tại thành phố Vinnitsa ở miền Trung Ukraina. Khi đó, Yevsey Lubnitsky (theo cách gọi khác là Lubitsky), người giống Stalin một cách bất thường, đang là một nhân viên kế toán bình thường. Ngay lập tức, Lubnitsky được đưa đến Moskva, sống trong một căn nhà gỗ nằm ở ngoại ô, nơi người ta bắt đầu công việc chuẩn bị cho kế toán viên đảm nhiệm một trọng trách vô cùng to lớn.

Các chuyên gia thẩm mỹ, thợ làm tóc, thợ may, cũng như các nhà tâm lý học đã tham gia vào hoạt động bí mật này. Theo các tác giả của cuốn sách đã được đề cập, những người này sau đó đã bị loại bỏ. Ngoài ra, trong sáu tháng, Yevsey Lubnitsky đã được dạy về dáng đi, nét mặt và cử chỉ của nhà lãnh đạo. Theo lời Lubnitsky, chính Stalin đã chấp thuận và rất hài lòng về kẻ đóng thế. Nhân dịp này, "hai Stalin" thậm chí còn uống với nhau một chai rượu cognac.

Buổi "biểu diễn" đầu tay của anh chàng kế toán cũ thành công vượt cả lên trên mong đợi. Còn phải nói: ngay cả người đứng đầu Dân ủy Nội vụ, Nikolai Yezhov, cánh tay phải, nhân vật cận kề như hình với bóng của Stalin, mà còn không nhận ra (khi chưa được nghe giọng nói), huống chi các thành viên của phái đoàn thợ mỏ Scotland, những người chưa bao giờ nhìn thấy nhà lãnh đạo Liên Xô ở ngoài đời. Sau khi vượt qua "thử thách" ban đầu thành công như vậy, Yevsey Lubnitsky bắt đầu tham gia vào các sự kiện khác, quan trọng hơn.

Ông thậm chí còn đứng trên ban công lăng Lenin bên cạnh các “đại thần” Kaganovich, Molotov, Malenkov và các quan chức cao cấp khác. Trong lần trả lời phỏng vấn tờ Montreal Gazette, Lubnitsky cho biết tất cả các quan chức lớn đều đã biết rằng trước mặt họ chỉ là Stalin giả, và không che giấu sự ganh tị. Lubnitsky cho rằng sở dĩ có thái độ này là do hầu hết các quan chức cao sấp của đảng đều mơ ước có được người đóng thế.

BỊ BẮT GIỮ VÀ ĐÀY ĐẾN TRUNG Á

Tuy nhiên, vài năm sau, Yevsey Lubnitsky cảm nhận được sự căm ghét của giới quan chức đảng cao cấp không chỉ trong ánh mắt của họ. Vào năm 1952, người đóng thế của Stalin đã bị bắt. Các tác giả của ấn bản "100 bí mật nổi tiếng trong lịch sử" nói trên cho rằng sở dĩ Lubnitsky bị bắt giữ là do ông "không còn phù hợp vơi vai diễn vô cùng quan trọng" này. Thực tế là vào thời điểm đó, 17 năm đã trôi qua, khác với người đóng thế của mình, Stalin đã già đi rất nhiều do phải lao tâm khổ tứ với trăm nghìn công việc quốc gia đại sự, đặc biệt phải lãnh đạo cuộc Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại trường kỳ, vì thế sự khác biệt giữa hai người trở nên quá rõ ràng. Gần như chắc chắn rằng Lubnitsky sẽ bị thủ tiêu như một nhân chứng không cần thiết. Nhưng số phận đã hé mở một cánh cửa khác.

Ban đầu, Yevsey Lubnitsky được đưa đến trại giam đặc biệt ở Viễn Đông, và sau khi Stalin qua đời thì được chuyển đến Trung Á. Cũng trong năm 1953, Lubnitsky mới biết rằng, cùng với các chuyên gia đã từng hóa trang và dạy ông cách cư xử của lãnh tụ, những người thân của ông cũng bị Nikolai Yezhov ra lệnh thủ tiêu. Bản thân người kế toán khốn khổ, ngay trước khi được trả tự do cũng đã phải ký cam đoan sẽ không đi đâu ra khỏi phần lãnh thổ châu Á của Liên Xô. Do đó, “bản sao của nhà lãnh đạo” đã không thể trở về quê hương Vinnitsa của mình: ông qua đời ở Dushanbe (thủ đô nước cộng hòa Trung Á Tajikistan của Liên Xô) vào năm 1981./.

Yêu nước ST.

LOẠT ĐIỂM MẤU CHỐT CUỘC HỘI ĐÀM GIỮA PUTIN-MACRON VỀ UKRAINE!

         Trong nỗ lực hóa giải cuộc khủng hoảng Ukraina, hai nhà lãnh đạo Nga và Pháp đã có cuộc thảo luận kéo dài 6 giờ về một loạt vấn đề quan trọng.

Theo tin tức từ RT, Tổng thống Nga Vladimir Putin và người đồng cấp Pháp Emmanuel Macron đã gặp nhau ở Moscow ngày 7/2 và hội đàm về khủng hoảng Ukraina, an ninh châu Âu và các vấn đề song phương. Sau đó, họ tổ chức cuộc họp báo để công bố các kết quả cuộc gặp và người đứng đầu nước Pháp sẽ bay sang Ukraina để gặp lãnh đạo nước chủ nhà, ông Volodymyr Zelensky.


Putin tố NATO phớt lờ đề xuất an ninh của Nga

Có 3 điểm chính trong đề xuất an ninh mà Moscow đưa ra hồi tháng 12: Không tiếp tục mở rộng NATO, không triển khai các hệ thống tấn công dọc biên giới Nga, và rút các đội quân mà NATO triển khai mới đây tới các ranh giới 1997.

Hồi đáp của NATO và Mỹ không đề cập đến những điểm này.


Macron nêu "các cơ chế an ninh" mới cho bế tắc Ukraina

Tổng thống Pháp khẳng định, đối thoại với Nga "là cách duy nhất để đảm bảo an ninh và ổn định ở châu Âu".

Ông đề xuất, nếu các cơ chế và hiệp ước hiện tại không đủ để giải quyết tình hình an ninh, những hiệp ước mới nên được đề ra và thực thi.

Người đứng đầu điện Elysee đặc biệt lưu ý, Pháp và Nga "không có cùng cách hiểu" về ý nghĩa của các văn bản, chẳng hạn như Đạo luật cuối cùng Helsinki năm 1975 thiết lập tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu (OSCE), đặc biệt là khi nhắc đến các vấn đề nhân quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia.


Putin đồng ý làm việc về các đề xuất giảm leo thang của Macron

Tổng thống Nga cho biết "có thể" tiếp tục đối với "một số" đề xuất của người đồng cấp Pháp mà có thể dẫn đến giảm leo thang tình hình ở Ukraina.

Cả hai nhà lãnh đạo không tiết lộ thêm bất kỳ chi tiết nào, và ông Putin thông báo sẽ thảo luận thêm với ông Macron sau khi nhà lãnh đạo Pháp gặp Tổng thống Ukraina trong hôm nay (8/2)./.

Tổng thống Nga Vladimir Putin (phải) và người đồng cấp Pháp Emmanuel Macron.

Môi Trường ST.


Công tác đối ngoại trong đấu tranh phòng ngừa các hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá Việt Nam hiện nay

 

Ở Việt Nam, trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, quan hệ dân tộc xuyên biên giới phát triển mạnh mẽ, tác động đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của đất nước. Vì vậy, đấu tranh phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới được xem là một trong những nhiệm vụ phức tạp, đòi hỏi sự tham gia của các cấp, các ngành trên địa bàn biên giới, trong đó công tác đối ngoại giữ vai trò tiên phong, nòng cốt.

Nhận diện âm mưu, thủ đoạn lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới để chống phá nước ta

Quan hệ dân tộc xuyên biên giới là mối quan hệ của một tộc người trong nước với đồng tộc hoặc khác tộc ở các quốc gia có chung đường biên giới. Quan hệ dân tộc xuyên biên giới ở Việt Nam là mối quan hệ diễn ra từ lâu đời trong lịch sử. Hiện nay, quan hệ dân tộc xuyên biên giới không chỉ bó hẹp trong phạm vi Việt Nam với quốc gia có chung đường biên giới mà còn với nhiều quốc gia khác có người đồng tộc, đồng tôn giáo. Quan hệ dân tộc xuyên biên giới ở Việt Nam biểu hiện phong phú và đa dạng, từ quan hệ về nguồn gốc lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội đến tín ngưỡng, tôn giáo. Các mối quan hệ này tác động đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội trong nước theo cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực. Bên cạnh những tác động tích cực (tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau về văn hóa giữa nhân dân hai bên biên giới, nâng cao tình đoàn kết và tương trợ thông qua các mối quan hệ kinh tế; thắt chặt và làm giàu thêm sự gắn kết tình cảm, giảm thiểu các xung đột giữa nhân dân hai bên biên giới, góp phần phát triển bền vững kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi...), quan hệ dân tộc xuyên biên giới cũng đặt ra nhiều vấn đề phức tạp, tiềm ẩn những nguy cơ gây bất ổn ở khu vực đa tộc người, đa tôn giáo vùng biên giới (di cư tự do, kết hôn không giá thú, lao động Việt Nam sang các nước láng giềng tìm việc làm, buôn lậu, buôn bán người, truyền đạo trái phép...). Các vấn đề này gây khó khăn trực tiếp đến công tác quản lý nhà nước, làm ảnh hưởng đến mối quan hệ đoàn kết giữa các dân tộc - tộc người hai bên biên giới nói riêng và quan hệ giữa Việt Nam với các quốc gia láng giềng nói chung, dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá nước ta.

Âm mưu xuyên suốt của các thế lực thù địch là lợi dụng vấn đề dân tộc nói chung, quan hệ dân tộc xuyên biên giới nói riêng để chống phá Việt Nam, nhằm chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc; kích động đồng bào các dân tộc, các tôn giáo chống phá đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta; mưu toan gây mất ổn định chính trị - xã hội, tạo cớ can thiệp, kích động bạo loạn lật đổ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Âm mưu đó được các thế lực thù địch thực hiện ráo riết với những thủ đoạn chủ yếu sau:

Một là, lợi dụng chính sách thông thoáng đối với việc đi lại, thăm thân; lợi dụng tình trạng kết hôn không giá thú, hoạt động tội phạm xuyên biên giới, để tuyên truyền, kích động đồng bào dân tộc thiểu số khu vực biên giới di cư tự do, vượt biên, xâm nhập trái phép, gây bất ổn về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, tạo cớ để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Trong những năm qua, cùng với hiện tượng di cư tự do nội địa của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số, tình trạng di cư tự do và hôn nhân không giá thú xuyên biên giới, vượt biên, xâm nhập trái phép ở biên giới Việt Nam có xu hướng gia tăng. Lợi dụng tình hình này, một mặt, các thế lực thù địch đã tìm cách hỗ trợ, chỉ đạo lực lượng phản động là người dân tộc thiểu số cư trú ở khu vực biên giới thúc đẩy, tạo “làn sóng” di cư trái phép đến một số địa bàn “trọng điểm”(1); mặt khác, ra sức tuyên truyền, kích động, mua chuộc, lôi kéo người dân tộc thiểu số vượt biên trái phép, “đưa người dân tộc thiểu số” về từng khu vực theo ý đồ chính trị để có điều kiện xây dựng căn cứ phản cách mạng, khiến vấn đề dân tộc trở thành “ngòi nổ”, tạo cớ để nước ngoài có thể can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Hai là, lợi dụng những vấn đề phức tạp trong lịch sử quan hệ tộc người, nhất là các tộc người cư trú ở khu vực biên giới, tuyên truyền, kích động đòi “ly khai”, “tự trị” và tìm cách “luật pháp hóa”, “quốc tế hóa” vấn đề dân tộc để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Bên cạnh việc tổ chức các cuộc hội thảo, thu thập, phát tán nhiều tài liệu trái phép, các thế lực thù địch với sự trợ giúp của nước ngoài còn đưa ra nhiều “luật” với chế tài mang tính áp đặt vô lý nhằm hỗ trợ, khích lệ tinh thần cho các lực lượng phản động là người dân tộc thiểu số đẩy mạnh các hoạt động chống phá Đảng và Nhà nước ta; hỗ trợ, chỉ đạo lực lượng phản động là người dân tộc thiểu số sống lưu vong ở nước ngoài thành lập nhiều tổ chức dưới danh nghĩa nghiên cứu lịch sử, văn hóa các dân tộc thiểu số nhằm khơi dậy những tồn tại trong quá khứ để kích động tư tưởng “ly khai”, “tự trị” của các dân tộc thiểu số trên một số địa bàn chiến lược của nước ta.

Ba là, núp dưới chiêu bài hoạt động “nhân đạo”, “từ thiện” của các tổ chức phi chính phủ để lôi kéo đồng bào là người dân tộc thiểu số, đồng bào theo tôn giáo chống phá chính quyền Việt Nam. Đây là một trong những thủ đoạn mới hết sức tinh vi, khó nhận biết mà các thế lực thù địch đã và đang công khai sử dụng để hỗ trợ các lực lượng phản động, cực đoan trên địa bàn biên giới hình thành các nhóm tổ chức, tập hợp lực lượng và tiến hành các hoạt động chống phá nước ta. Đáng chú ý, các thế lực thù địch sử dụng những tổ chức này để thâm nhập vào các địa bàn chiến lược của Việt Nam thu thập tình hình, báo cáo xuyên tạc chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam; tiếp cận, chỉ đạo lực lượng phản động, cực đoan tiến hành những hoạt động tuyên truyền, kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, đòi “ly khai”, “tự trị” nhằm gây mất ổn định chính trị - xã hội và tạo cớ can thiệp.

Bốn là, lợi dụng địa bàn biên giới của các nước láng giềng để hỗ trợ, chỉ đạo các lực lượng phản động là người dân tộc thiểu số sống lưu vong ở nước ngoài lôi kéo một bộ phận người dân tộc thiểu số từ Việt Nam tham gia thực tập vũ trang cướp chính quyền, xâm nhập, phá hoại các địa bàn chiến lược ở nước ta. Các tổ chức, đứng đầu là những phần tử cực đoan, đã và đang liên kết chặt chẽ với lực lượng phản động trong nước để tiến hành các hoạt động chống phá cách mạng nước ta trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Lực lượng phản động không chỉ tìm mọi cách hỗ trợ, khuyến khích xây dựng các tổ chức phản động sử dụng danh nghĩa tôn giáo ở nước ngoài chuyển hướng hoạt động vào trong nước; ra sức cổ xúy, hỗ trợ các tổ chức phản động mang danh nghĩa tôn giáo ở trong nước để chống phá, mà còn lợi dụng những sơ hở, thiếu sót của các cấp, các ngành trong thực hiện chính sách dân tộc để mưu toan kích động tư tưởng chống đối, khoét sâu mâu thuẫn nội bộ, tạo ra những nhân tố gây mất ổn định, bạo loạn, biến vấn đề dân tộc, tôn giáo thành vấn đề chính trị...

Có thể thấy, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc nói chung, quan hệ dân tộc xuyên biên giới nói riêng nhằm chống phá cách mạng Việt Nam hiện nay vô cùng đa dạng, với tính chất vô cùng nguy hiểm, vừa công khai, vừa bí mật, diễn ra cả trong nước và ngoài nước, trên tất cả các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, xã hội, nhằm gây mất ổn định, phá hoại mối quan hệ tốt đẹp của Việt Nam với các nước láng giềng, chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Những thủ đoạn chống phá đó của các thế lực thù địch đã làm cho đời sống kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi Việt Nam vốn khó khăn lại càng khó khăn hơn; ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ đối ngoại giữa Việt Nam với các nước, nhất là các nước láng giềng.

Vai trò của công tác đối ngoại trong đấu tranh phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá nước ta

Đại hội XIII (tháng 1-2021) của Đảng xác định, trong những năm tới, cần “tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước”(2). Điều đó khẳng định, công tác đối ngoại có vai trò hết sức quan trọng trong việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và sự phát triển của đất nước nói chung, trong đấu tranh phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới nói riêng.

Vai trò của công tác đối ngoại trong đấu tranh phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới thể hiện ở các cấp độ, mức độ và phạm vi khác nhau tùy theo chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức, lực lượng trong thực hiện công tác đối ngoại. Xét trong tổng thể công tác đối ngoại của các cấp, các ngành, các lực lượng liên quan, gắn với thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới, công tác đối ngoại giữ vai trò “tiên phong”, là lực lượng nòng cốt góp phần quan trọng ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động. Vai trò của công tác đối ngoại trong đấu tranh phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới thể hiện cụ thể trên những nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, trực tiếp góp phần nhận diện, phát hiện “từ sớm, từ xa” âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đây là vai trò quan trọng, đồng thời là thế mạnh của công tác đối ngoại trong đấu tranh, phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới. Do tính chất phức tạp, nhạy cảm và liên quốc gia trong quan hệ dân tộc xuyên biên giới mà các tổ chức, lực lượng hoạt động trong phạm vi nội địa khó nắm bắt kịp thời âm mưu, thủ đoạn, hoạt động của các thế lực thù địch, dẫn tới bị động trong giải quyết những vấn đề nảy sinh. Thực tế những năm qua, công tác đối ngoại đã “phát huy được thế mạnh để hóa giải, xử lý từ sớm, từ xa các nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia, nhất là thông qua thúc đẩy đối thoại, xây dựng lòng tin, ngoại giao phòng ngừa, tận dụng hiệu quả các biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế”(3). Trên cơ sở đó, kịp thời thông tin đến các tổ chức, lực lượng và quần chúng nhân dân nâng cao nhận thức, ý thức cảnh giác, chủ động xây dựng phương án và tổ chức đấu tranh hiệu quả, không bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Thứ hai, thông qua hoạt động đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân của các cấp, các ngành, công tác đối ngoại đã trực tiếp tham gia đấu tranh, làm thất bại các hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới trên tất cả các bình diện, ở mọi phạm vi và quy mô. Những năm qua, công tác đối ngoại đã phát huy tốt vai trò trong đấu tranh, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch nói chung, hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá nước ta nói riêng, qua đó vừa giữ vững được ổn định chính trị - xã hội trong nước, vừa giải tỏa thành công sức ép của các nước phương Tây trong một số vấn đề; “ngăn chặn, vô hiệu hóa những âm mưu, thủ đoạn móc nối, lôi kéo, phá hoại nội bộ Đảng và Nhà nước Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động”(4), góp phần tạo môi trường hòa bình, ổn định đất nước, phát triển bền vững khu vực biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi ở nước ta.

Thứ ba, phối hợp hiệu quả với các cấp, các ngành, các tổ chức, lực lượng, nhất là lực lượng chuyên trách quản lý và bảo vệ vùng biên giới, tạo sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh với các hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam. Trên cơ sở phối hợp triển khai công tác dân tộc của Đảng và Nhà nước, thực hiện quản lý biên giới và cửa khẩu theo các văn kiện pháp lý, thỏa thuận về biên giới đã ký kết với các nước; thống nhất quản lý các hoạt động đối ngoại theo Quyết định số 272-QĐ/TW, ngày 21-1-2015, của Bộ Chính trị khóa XI, “Về việc ban hành Quy chế quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại”, công tác đối ngoại phối hợp chặt chẽ giữa đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân; giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh; giữa các cơ quan, bộ, ngành liên quan; chủ động phối hợp tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương các biện pháp trong giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bổ sung, kiện toàn các phương án xử lý những tình huống nảy sinh từ quan hệ dân tộc xuyên biên giới.

Thứ tư, công tác đối ngoại góp phần quan trọng trong quản lý biên giới quốc gia, tạo môi trường hòa bình, ổn định khu vực biên giới, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trên địa bàn; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc vùng biên giới; tham gia xây dựng, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, tạo “sức đề kháng” cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trước âm mưu, thủ đoạn và hành động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới của các thế lực thù địch, phản động. Trong những năm qua, cùng với những hoạt động khác, các cấp, các ngành luôn phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại; chủ động tham mưu cho Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền địa phương huy động nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân khu vực biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi vững mạnh; tạo thế chủ động trong phòng ngừa, đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hành động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động. 

Có thể nói, vai trò của công tác đối ngoại trong đấu tranh phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới nhằm chống phá Việt Nam, đã được khẳng định và phát huy mạnh mẽ trong thực tiễn thời gian qua. Tuy nhiên, có những thời điểm nhất định, vai trò của công tác đối ngoại ở một số tổ chức, lực lượng chưa thực sự được phát huy đầy đủ. Đặc biệt, “nhận thức của một số sở, ngành địa phương và một số cán bộ, đảng viên về vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc, công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số chưa sâu sắc, toàn diện. Sự phối hợp giữa các ngành, các cấp trong việc triển khai thực hiện các chương trình, dự án, chính sách dân tộc thiếu đồng bộ, việc nắm bắt thông tin từ cơ sở chưa đầy đủ, còn chậm, thiếu và chưa sát với tình hình thực tiễn”(5). Hơn nữa, trong thời gian tới, bên cạnh những thuận lợi, vấn đề dân tộc ở Việt Nam được dự báo tiếp tục gặp nhiều khó khăn, thách thức. Các thế lực thù địch không từ bỏ âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá nước ta, đòi hỏi các cấp, các ngành cần tiếp tục phát huy tốt vai trò của công tác đối ngoại nhằm đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá Việt Nam.

Một số giải pháp pháp phát huy vai trò của công tác đối ngoại trong đấu tranh, phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá nước ta

Một là, quán triệt, nâng cao nhận thức cho các tổ chức, lực lượng làm công tác đối ngoại, lực lượng chuyên trách quản lý, bảo vệ biên giới và cấp ủy, chính quyền địa phương trên địa bàn khu vực nắm chắc quan điểm, đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, nhất là đối với các nước láng giềng. Mỗi tổ chức, lực lượng cần bám sát chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trên cơ sở đó triển khai phối hợp, hiệp đồng hiệu quả. Tập trung quán triệt các quy định của luật pháp quốc tế về vấn đề biên giới lãnh thổ, các văn kiện pháp lý đã ký kết giữa Việt Nam với các quốc gia láng giềng, trong đó trọng tâm là ba văn kiện biên giới trên đất liền với Trung Quốc; Hiệp định về quy chế biên giới quốc gia và Thỏa thuận về việc giải quyết vấn đề người di cư tự do, kết hôn không giá thú trong vùng biên giới với Lào; Hiệp ước bổ sung năm 2019 và Nghị định thư phân giới, cắm mốc biên giới trên đất liền với Cam-pu-chia. Nắm chắc tình hình dân tộc, quan hệ dân tộc, tình hình hoạt động, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới nhằm chống phá Việt Nam ở cả trong và ngoài nước. 

Hai là, hoàn thiện cơ chế phối hợp, hiệp đồng giữa các tổ chức, lực lượng, tạo sức mạnh tổng hợp đấu tranh hiệu quả với các hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới. Huy động sự tham gia của các tổ chức và các tầng lớp nhân dân vào các hoạt động đấu tranh chống lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ đất nước(6). Để thực hiện được điều đó, việc đẩy mạnh cơ chế phối hợp, hiệp đồng hiệu quả giữa lực lượng chuyên trách làm công tác đối ngoại với các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương, với lực lượng vũ trang trên địa bàn đóng vai trò hết sức quan trọng. Trên cơ sở thực hiện Quy chế số 272 về quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại, cần chú trọng hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa công tác đối ngoại với quốc phòng - an ninh, tạo thế “chân kiềng” vững chắc ở khu vực biên giới. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, Bộ Ngoại giao chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, cơ quan có liên quan và chính quyền địa phương đề xuất chủ trương, chính sách và các biện pháp quản lý về biên giới quốc gia; thực hiện quản lý nhà nước, hướng dẫn lực lượng nòng cốt, chuyên trách về nghiệp vụ đối ngoại biên phòng, qua đó, nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Ba là, tăng cường hợp tác quốc tế, cụ thể hóa các khung khổ pháp lý đã ký kết giữa Việt Nam với các nước, nhất là các nước láng giềng, làm cơ sở pháp lý quốc tế để xử lý, đấu tranh hiệu quả với các hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá Đảng, Nhà nước và cách mạng Việt Nam. Vận dụng nhuần nhuyễn các quy định có liên quan của luật pháp quốc tế vào những trường hợp cụ thể. Nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại nhân dân khu vực biên giới, góp phần giúp nhân dân thế giới hiểu rõ hơn về đất nước, truyền thống và con người Việt Nam; chính sách đối nội, đối ngoại; chính sách dân tộc, tôn giáo... của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Tăng cường giao lưu, kết nghĩa giữa các địa phương, cơ quan chức năng của nước ta với các nước láng giềng, góp phần thắt chặt tình đoàn kết, hữu nghị, hợp tác, hiểu biết, tôn trọng lẫn nhau, qua đó tạo nền tảng sâu rộng, bền chặt giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước.

Bốn là, kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng - an ninh, xây dựng thế trận lòng dân khu vực biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi vững chắc. Thực tế cho thấy, những vấn đề phức tạp nảy sinh từ quan hệ dân tộc xuyên biên giới thường xuất phát từ thực trạng kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, khu vực biên giới nước ta còn nhiều khó khăn. Mặc dù trong giai đoạn 2013 - 2018, bình quân mỗi năm, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo giảm 0,7%, nhưng tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo ở các hộ vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn khá cao, nhất là ở khu vực biên giới. Thực trạng này đòi hỏi cần tập trung phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố quốc phòng - an ninh, xây dựng thế trận lòng dân khu vực biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi vững chắc, tạo nền tảng, điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội để các lực lượng làm công tác đối ngoại phát huy tốt vai trò trong đấu tranh hiệu quả với các hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá Việt Nam.

Năm là, nâng cao năng lực đấu tranh ngoại giao của các lực lượng, nhất là lực lượng chuyên trách đối ngoại, bộ đội biên phòng và cấp ủy, chính quyền các địa phương khu vực biên giới. Đây là biện pháp quan trọng, trực tiếp quyết định việc phát huy vai trò của công tác đối ngoại trong đấu tranh phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới hiện nay. Bởi lẽ, vai trò của công tác đối ngoại nói chung, trong đấu tranh phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới nói riêng, phụ thuộc không nhỏ vào năng lực tiến hành và đấu tranh ngoại giao của các chủ thể, trong đó nòng cốt thường xuyên là các lực lượng trên địa bàn biên giới. Mặt khác, các yếu tố quốc tế cũng là một trong những nguyên nhân để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá Việt Nam. Do vậy, cần nâng cao năng lực đấu tranh ngoại giao của đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại, nhất là cán bộ, nhân viên bộ phận lãnh sự - quản lý biên giới, để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh ngay từ bên ngoài; tập trung vào những đối tượng phản động cốt cán, cầm đầu trong các tổ chức tôn giáo hải ngoại và người dân tộc thiểu số lưu vong. Nâng cao năng lực dự báo, nắm tình hình hoạt động của các đối tượng, kịp thời phát hiện âm mưu, thủ đoạn, hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới “từ sớm, từ xa”; xác định nội dung, phương thức đấu tranh phù hợp với từng đối tượng, từng địa bàn, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống./.

LƯƠNG THANH DUY

Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

----------------

(1) Như khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cũ của địch, các địa bàn chiến lược...
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, t. I, tr. 162
(3) Bùi Thanh Sơn: “Công tác đối ngoại nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng và những định hướng đối ngoại Việt Nam trong giai đoạn mới”, Tạp chí Cộng sản, số 959, tháng 2-2021
(4) Xem: Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam: Tài liệu nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020 - 2025, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2020, tr. 15
(5) Ủy ban Dân tộc: Báo cáo sơ kết tình hình triển khai Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020 và một năm thực hiện Chỉ thị số 28/CT-TTg, ngày 9-10-2014, của Thủ tướng Chính phủ, số 13/BC-UBDT, ngày 20-1-2016
(6) Xem: Chỉ thị số 04-CT/TW, ngày 6-7-2011, của Ban Bí thư Trung ương Đảng, “Về tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại nhân dân trong tình hình mới”

Tapchicongsan.org.vn

Vạch trần thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc tôn giáo để hình thành “Nhà nước Mông”

 

Để thực hiện âm mưu chia rẽ đoàn kết dân tộc, các thế lực thù địch, phản động không ngừng gieo rắc niềm tin tín ngưỡng đối với đồng bào các dân tộc thiểu số. Nhiều người Mông tại các tỉnh miền núi phía Bắc bị xúi giục, ép buộc, lừa mị tin theo cái gọi là đạo “Giê Sùa” với những luận điệu viển vông…

Trên thực tế, bản chất của các đối tượng này lập ra là nhằm lừa phỉnh, dụ dỗ, lôi kéo, tập hợp lực lượng phục vụ mưu đồ ly khai, tự trị, hình thành “Nhà nước” riêng, tách ra khỏi cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Vậy tổ chức “Giê Sùa là gì”?

Có nguồn gốc ngoại sinh từ một người có quốc tịch Mỹ sáng lập và đưa vào Việt Nam; dựa vào Kinh thánh của Tin lành, lấy cơ sở để phát triển tổ chức “Giê Sùa”. Người sáng lập “Giê Sùa” là David Her tên thật là Hờ Chá Sùng, người Mông, gốc huyện Phon Xa Vẳn Xiêng Khoảng, Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào. Hiện đang sinh sống tại Bang California, có quốc tịch Mỹ sáng lập ra.

 “Hội thánh Giê Sùa” không có giáo lý rõ ràng mà dựa vào một số câu trong Kinh thánh để tuyên truyền, cho rằng Tên Chúa Giê Su phải gọi là “Giê Sùa” và giải thích Giê Su là tên nhà cầm quyền La Mã cố tình viết sai để lừa mọi người. Tổ chức này đả kích, không thừa nhận các tôn giáo khác, cho rằng chỉ có “Giê Sùa” mới là tôn giáo có thật, chính thống, tôn giáo của tất cả người Mông. Hội thánh “Giê Sùa” không thừa nhận A-đam và E-Va trong Kinh thánh, thay vào đó là nhân vật chàng Ong và cô Ía theo truyền thuyết người Mông; không tổ chức lễ Giáng sinh, Phục sinh và coi đây là trò bịp bợm, vì lợi ích của nhà cầm quyền La Mã; không bắt buộc dâng hiến 10% thu nhập; kiêng ăn hịt lọn và một số loại cá không có vảy, cua, ốc…

 “Giê Sùa” chưa có giáo lý, giáo luật, hiến chương; tài liệu, kinh sách sử dụng là một số điều trong Kinh thánh (Tân ước và Cựu ước) và một số tài liệu do David Her tự soạn thảo, tán phát trên mạng Internet. 

Thường sinh hoạt vào thứ 7 hàng tuần, sinh hoạt với nội dung, hình thức gần giống với điểm nhóm Tin lành (hát thánh ca, chia sẻ lời Chúa, cầu nguyện). Tuy nhiên, một số nội dung giảng dạy trong kinh thánh khác với điểm nhóm Tin lành, tin vào việc Chúa tái lâm, không thừa nhận tên Chúa là Giê Su mà gọi là Giê Sùa. Bác bỏ ngày lễ trọng trong năm như lễ Noel, Lễ Phục sinh         

David Her đã thông qua mạng Internet để tán phát các video clip có nội dung tuyên truyền đạo “Giê Sùa” trên Wedsite WAVw… Trong thời gian hoạt động tại một số địa phương Tây Bắc, “Giê Sùa” đã có những hoạt động gây mất tình hình an ninh trật tự (ANTT) nơi nó du nhập vào. Các đối tượng lợi dụng, xuyên tạc một số câu trong Kinh thánh để tuvên truyền, lôi kéo người khác tin theo như “Không thừa nhận tên Chúa Giê Su như các tổ chức Tin lành khác như Giê Sùa và giải thích rõ ràng là do nhà cầm quyền La Mã cố tình viết sai để lừa gạt và đả kích mọi người. Trong một số bài tuyên truyền, đối tượng David Her còn cho rằng, Chúa trời Giê Hô Va đã chia đất cho người Mông nhưng do người Mông không đoàn kết không biết bảo vệ nhau nên đất đai bị các dân tộc khác xâm chiếm, cho nên người Mông mới không có lãnh thổ, đất nước riêng, suốt đời phải đi làm thuê cho dân tộc khác.

David Her nhận mình là người đưa tin của “Chúa Giê Sùa”; “Chúa Giê Sùa” tái lâm để bảo vệ người Mông, kêu gọi người Mông đi theo “Chúa Giê Sùa”, đồng thời kích động người Mông ở các nước vê Lào chiến đấu xây dựng “Nhà nước Mông”. Các nhóm tà đạo “Giê Sùa” trên địa bàn đã hình thành tổ chức, phân công vai trò, vị trí đối tượng trong nhóm và đang ráo riết tuyên truyên, lôi kéo người khác tin theo. Tuy nhiên, giữa các điểm nhóm bị ảnh hưởng chưa có sự liên kết, thống nhất với nhau hoạt động. Một số đối tượng lợi dụng giáo lý danh nghĩa của các hệ phái để che giấu việc tin theo tà đạo “Giê Sùa”.

“Giê Sùa” xuất hiện khoảng tầm 5 năm trở lai đây ở các địa phương vùng núi phía Bắc như: Điện Biên, Lai Châu, Thanh Hóa, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái. Chỉ xuất hiện trong một thời gian ngắn nhưng mức độ ảnh hưởng của “Giê Sùa” khá nhanh, mức độ ảnh hưởng rộng đến đồng bào dân tộc Mông; lôi kéo người dân tin theo nhằm mục đích xây dựng nhà nước riêng, kêu gọi người Mông đi theo “Chúa Giê Sùa”, đồng thời kích động người Mông ờ các nước về Lào chiến đấu để xây dựng “Nhà nước Mông” tại tỉnh Xiêng Khoảng. Theo con số thống kê các địa phương gửi báo cáo, hiện “Giê Sùa” hoạt động tại các tỉnh: Điện Biên, Lai Châu, Thanh Hóa, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái. Mức độ lan nhanh ảnh hưởng đến vùng đồng bào dân tộc thiểu số như đồng bào dân tộc Mông. Hiện nay, theo con số thống kê được của các địa phương có khoảng 1.297 người tin theo.

Xuân Mai

Cand.com.vn

Đấu tranh phòng, chống suy thoái về đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ trong Quân đội

 

Đấu tranh phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ Quân đội nói chung, đội ngũ sĩ quan trẻ nói riêng là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh. Điều đó đòi hỏi cấp ủy, tổ chức đảng các cấp toàn quân, cần có nhiều giải pháp quyết liệt, đồng bộ, nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quan trọng này.

Đội ngũ sĩ quan trẻ là lực lượng “rường cột” kế tục sự nghiệp cách mạng trong Quân đội, hay nói cách khác, sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc phụ thuộc phần lớn vào đội ngũ này. Đảng ta đã chỉ rõ, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là “giặc nội xâm” đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Trong đội ngũ sĩ quan trẻ, ít nhiều cũng có những biểu hiện suy thoái như Đảng ta đã chỉ ra. Tuy nhiên, sự suy thoái về đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ thường hay biểu hiện trước và có khả năng làm trầm trọng suy thoái về tư tưởng chính trị và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Bởi, họ là thế hệ trẻ, đang cần tiếp tục được rèn luyện về nhân cách. Đạo đức, lối sống là điều căn bản, gốc của nhân cách mà bị suy thoái, thì khi đó con người cũng dễ đánh mất mình. Khi giá trị làm người đã không giữ được thì sĩ quan trẻ rất dễ ngả nghiêng, dao động về lập trường tư tưởng và bị dụ dỗ, mua chuộc, từ đó suy thoái, biến chất là điều khó tránh khỏi.

Suy thoái về đạo đức, lối sống của sĩ quan trẻ là trạng thái suy giảm và sa sút dần về phẩm chất đạo đức, xuống cấp về lối sống, lệch lạc trong nhận thức và thực hành các giá trị chuẩn mực đạo đức, lối sống, không tương xứng với chuẩn mực, yêu cầu nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ”. Biểu hiện sự suy thoái của đội ngũ cán bộ này cũng là những biểu hiện suy thoái mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng đã chỉ ra, nhưng thường biểu hiện và có nguy cơ trầm trọng hơn ở những mặt, như: sống thực dụng, ích kỷ, thờ ơ, vô cảm trước khó khăn của đồng đội, háo danh, thổi phồng thành tích, che dấu khuyết điểm, “chạy chức”, “chạy thành tích”, “chạy khen thưởng”, quân phiệt, quan liêu, thiếu sâu sát đơn vị, lười biếng, ngại khổ, ngại khó, ngại rèn luyện, v.v.

Đấu tranh phòng, chống suy thoái về đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ là vấn đề vừa cấp bách, vừa lâu dài. Cấp bách bởi vì sự suy thoái này làm hư hỏng đội ngũ sĩ quan trẻ, từ đó làm cho hoạt động của bộ máy chỉ huy, tổ chức đảng trong Quân đội suy yếu: “Từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”1. Đây cũng là vấn đề lâu dài, bởi vì không phải làm một lần là xong. Và sự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của sĩ quan trẻ là việc làm thường xuyên, như “rửa mặt” hàng ngày. Hơn nữa, đấu tranh với những hư hỏng, suy thoái trong mỗi con người có lúc còn khó hơn chống giặc ngoại xâm, vì nó là kẻ thù vô hình ở trong chính bản thân mỗi chúng ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh tỉnh: “Có thể những người khi kháng chiến thì rất anh dũng, trước bom đạn địch không chịu khuất phục, nhưng đến khi về thành thị lại bị tiền bạc, gái đẹp quyến rũ, mất lập trường, sa vào tội lỗi. Cho nên bom đạn của địch không nguy hiểm bằng “đạn bọc đường” vì nó làm hại mình mà mình không trông thấy”2. Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường, đối với nhiều người, đặc biệt là thế hệ trẻ những giá trị gần gũi, như: việc làm, nghề nghiệp, thu nhập, tiền bạc, lợi ích kinh tế có sức thu hút và quan tâm hàng đầu, đôi khi còn trên cả các giá trị tinh thần. Những mặt trái của nó đã, đang làm giới trẻ, trong đó có đội ngũ sĩ quan trẻ có xu hướng quá đề cao giá trị vật chất và xem nhẹ giá trị đạo đức, tinh thần. Những tiêu cực đó làm cho lối sống tự do cá nhân cực đoan, thực dụng, thích hưởng thụ vượt quá khả năng bảo đảm của gia đình, xã hội ngày càng nảy nở. Đội ngũ sĩ quan trẻ, nếu không nghiêm túc rèn luyện đạo đức, lối sống sẽ rất dễ bị những tác động tiêu cực trên chi phối. Để chủ động đấu tranh phòng, chống suy thoái về đạo đức, lối sống trong đội ngũ sĩ quan trẻ, cần thực hiện đồng bộ những giải pháp cơ bản sau:

Một là, tăng cường công tác giáo dục đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ. Đây là một trong những nội dung cơ bản của công tác bồi dưỡng cán bộ. Tuy nhiên, trong thực tế đôi khi vì quá nhấn mạnh yêu cầu về năng lực chuyên môn của đội ngũ sĩ quan trẻ mà công tác giáo dục đạo đức, lối sống chưa được coi trọng đúng mức, đặc biệt là lĩnh vực thực hành đạo đức. Việc thực hành đạo đức, lối sống chuẩn mực đòi hỏi đội ngũ sĩ quan trẻ phải tự nguyện, tự giác chứ không chỉ xuất phát bằng mệnh lệnh. Khi đạo đức, lối sống của sĩ quan trẻ đạt tới chuẩn mực, thì suy nghĩ, lời nói và hành động luôn thống nhất với nhau; luôn đặt lợi ích của Đảng, Tổ quốc, Nhân dân, tập thể lên trên lợi ích cá nhân; hết lòng, hết sức thực hiện nhiệm vụ được giao. Trong khi đó, những phẩm chất này không phải lúc nào cũng tự nhiên, có sẵn mà phải thông qua giáo dục, rèn luyện; do đó, thực hiện tốt giải pháp này càng có ý nghĩa quan trọng. Để đạt hiệu quả trong giáo dục, lãnh đạo, chỉ huy mỗi đơn vị phải xây dựng được môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh để tạo dư luận tích cực trong đấu tranh, phê phán những hành vi đạo đức, lối sống thiếu chuẩn mực của đội ngũ sĩ quan trẻ. Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân; bởi, nó là kẻ thù của đạo đức cách mạng, là căn nguyên của sự suy thoái đạo đức, lối sống trong đội ngũ sĩ quan trẻ. Do đó, cần phải thường xuyên, kiên trì lấy cái đẹp dẹp cái xấu, lấy tấm gương tích cực để cổ vũ, lan tỏa những hành vi đạo đức, lối sống chuẩn mực.

Hai là, thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình. Đây là vũ khí sắc bén, nguyên tắc quan trọng trong công tác xây dựng Đảng. Khéo sử dụng tự phê bình và phê bình là phương cách tốt nhất để rèn luyện đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ. Tuy nhiên, đó là vấn đề liên quan đến phẩm chất, nhân cách và lợi ích của con người nên rất nhạy cảm, dễ làm tổn thương đồng chí, đồng đội. Thậm chí, trong thực tiễn, có một số người còn bao biện, cho rằng, tự phê bình và phê bình là cần thiết, nhưng nên “nhẹ nhàng”, “nhân văn”, thông cảm, “vuốt ve nhau”, bởi ai chẳng có lúc va vấp,… nên dễ dàng cho qua những sai lầm, vi phạm đạo đức, lối sống của đồng đội. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nếu không kiên quyết sửa chữa khuyết điểm của ta, thì cũng như giấu giếm tật bệnh trong mình, không dám uống thuốc, để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy đến tính mệnh”3. Đại đa số sĩ quan trẻ được sinh hoạt, rèn luyện trong các tổ chức đảng. Vì vậy, thường xuyên, kiên trì thông qua tự phê bình và phê bình thẳng thắn, trung thực là phương cách tốt nhất để đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống của đội ngũ này. Tự phê bình và phê bình trong đấu tranh phòng, chống suy thoái đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ chỉ có hiệu lực, hiệu quả khi cấp trên, người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên và cấp ủy các cấp tự giác nêu gương về đạo đức, lối sống. Nếu người đứng đầu và cấp ủy không gương mẫu, không đặt lợi ích của tập thể lên trên hết, trước hết thì tự phê bình và phê bình dễ bị biến tướng trở thành nơi nịnh bợ cấp trên, “dĩ hòa vi quý”, nể nang, né tránh hoặc lợi dụng phê bình để trù dập, hạ bệ lẫn nhau.

Ba là, làm tốt công tác đào tạo, quy hoạch, bố trí, sử dụng đội ngũ sĩ quan trẻ. Với ưu điểm được đào tạo cơ bản, nhanh nhạy với sự phát triển khoa học, kỹ thuật và trong tương lai nhiều sĩ quan trẻ sẽ tiếp tục trưởng thành, nắm giữ các cương vị lãnh đạo, chỉ huy cao cấp trong Quân đội. Do đó, thông qua thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần thường xuyên bồi dưỡng đạo đức, lối sống cho đội ngũ sĩ quan trẻ. Cương quyết không bổ nhiệm sĩ quan trẻ có biểu hiện suy thoái và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, đặc biệt là suy thoái về đạo đức, lối sống lên vị trí cao hơn.

Về cơ bản, đội ngũ sĩ quan trẻ có khát vọng cống hiến, năng nổ, nhiệt tình công tác. Thực hiện tốt công tác đào tạo, quy hoạch, bố trí, sử dụng đội ngũ sĩ quan trẻ chính là động lực cơ bản, quan trọng để họ phấn đấu, cống hiến và tự rèn luyện đạo đức, lối sống. Tuy nhiên, do tuổi đời còn trẻ, chưa trải qua nhiều gian khổ, nên khi gặp khó khăn, một bộ phận dễ nản chí. Do đó, cần phải tiếp tục rèn luyện, thử thách đạo đức, lối sống của đội ngũ này. Kịp thời đề xuất quy hoạch, tạo điều kiện phát triển cho sĩ quan trẻ hoàn thành tốt nhiệm vụ. Đồng thời, có cơ chế, biện pháp bảo vệ sĩ quan trẻ dám nghĩ, dám làm, tiên phong trong công tác.

Bốn là, thực hiện tốt hoạt động kiểm tra, giám sát đội ngũ sĩ quan trẻ. Đây là nội dung rất quan trọng, xuyên suốt trong ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái đạo đức, lối sống đối với đội ngũ sĩ quan trẻ; bởi nó thể hiện sự chủ động của cấp ủy, chỉ huy các cấp, lấy phòng ngừa là chính. Khi chủ động phát hiện, ngăn ngừa hành vi suy thoái đạo đức, lối sống sẽ góp phần hạn chế tổn thất, ngăn ngừa sự suy thoái của đội ngũ sĩ quan trẻ khi sự vi phạm còn nhỏ, mới hình thành. Quá trình kiểm tra, giám sát cần gắn việc thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ sĩ quan trẻ với cam kết của bản thân trong chấp hành kỷ luật, quy định về cán bộ, đảng viên của Đảng, cũng như thực hiện chỉ tiêu các phong trào thi đua của Quân đội và đơn vị. Khi phát hiện, sĩ quan trẻ có biểu hiện suy thoái và vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội cần xử lý nghiêm minh, đúng người, đúng tội, tuyệt đối không bao che, dung túng cho hành vi vi phạm. Đó cũng là biện pháp để chủ động ngăn ngừa đẩy lùi sự suy thoái từ sớm, từ xa, đưa hoạt động xây dựng chỉnh đốn Đảng ngày càng đi vào thực chất, đạt chất lượng, hiệu quả cao.

Đấu tranh phòng, chống suy thoái về đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ, tổng hợp nhiều biện pháp. Quá trình đó, đòi hỏi đội ngũ sĩ quan trẻ và cấp ủy, chỉ huy các cấp phải nhận thức sâu sắc ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, đặc biệt là phòng, chống sự suy thoái đạo đức, lối sống. Khi giữ được đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh thì những khuyết điểm, sự suy thoái khác sẽ ít dần đi.

Thiếu tướng, PGS, TS. KIM NGỌC ĐẠI, Phó Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Chính trị
__________________        

1 - Văn phòng Trung ương Đảng – Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII), H. 2016, tr. 144.

2 - Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 9, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 46 - 47.

3 - Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 5, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 273.

Tapchiqptd.vn

Bác bỏ luận điệu sai trái, khẳng định vị thế Việt Nam trên trường quốc tế

 

Thực tế cho thấy, hoạt động lợi dụng vấn đề nhân quyền chống Việt Nam đang được các thế lực thù địch cả trong và ngoài nước không ngừng đẩy mạnh với quy mô ngày càng mở rộng, tính chất ngày càng gay gắt, quyết liệt, theo kiểu “mềm, ngầm, sâu, hiểm”, vô cùng tinh vi, xảo quyệt.

Nhận diện chiêu trò chống phá nhân quyền trên một số lĩnh vực

Trong lĩnh vực pháp lý: Các thế lực thù địch không những đưa ra các luận điệu vô lý để phê phán một số điều luật hay văn bản pháp lý cụ thể của Việt Nam, nhất là họ tập trung đả phá Hiến pháp năm 2013 rồi cho đó là lạc hậu, trái với quy định và luật pháp, thông lệ quốc tế, từ đó lên giọng chỉ trích toàn bộ hệ thống pháp luật của Việt Nam, cho là thiếu hụt, khập khiễng, chưa phù hợp. Đồng thời, họ vin vào việc một số cán bộ, nhân viên Nhà nước vi phạm pháp luật để rêu rao cán bộ, nhân viên Nhà nước đứng ngoài pháp luật, kích động, kêu gọi mọi người không tuân thủ và không thi hành pháp luật. Họ lấy cớ số cá nhân lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí để chống phá Nhà nước và chế độ bị cơ quan chức năng bắt giữ, khởi tố, xử lý theo pháp luật để vu khống Việt Nam vi phạm nhân quyền trong khi giải quyết các vấn đề cụ thể liên quan đến tự do cá nhân. 

Trong lĩnh vực văn hóa: Họ cố tình cắt xén, diễn giải một chiều theo ý đồ xấu, dựng chuyện Việt Nam không thực hiện đúng tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền như đã cam kết, đặc biệt là Điều 19 về quyền tự do ngôn luận, tự do bày tỏ chính kiến; vu cáo, xuyên tạc Nhà nước ta rẻ rúng, nghi kỵ trí thức, đàn áp văn nghệ sỹ, bóp nghẹt tự do báo chí, tự do văn học nghệ thuật… Thổi phồng, đề cao, cổ súy cho số phần tử lợi dụng văn học nghệ thuật để bôi đen bức tranh hiện thực đất nước, hà hơi, tiếp sức cho những phần tử mà họ gọi là “dũng cảm lột xác” dám nhìn nhận lại bản chất đích thực của cuộc chiến tranh giải phóng của Việt Nam, xóa nhòa ranh giới giữa kẻ xâm lược và bọn tay sai với quân đội và quần chúng cách mạng, biến cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ thành cuộc “nội chiến” do “tham vọng của cộng sản” gây ra; ca ngợi chính quyền Sài Gòn theo kiểu hoài niệm, nhớ lại; cố tình gây chia rẽ, tạo ra tâm lý phân biệt vùng miền, làm giảm sự quyết tâm, đồng lòng của nhân dân cả nước trước những thách thức của thiên tai, dịch bệnh.

Thậm chí, họ còn phô trương bản chất “đạo đức giả” khi dựng lên các chương trình mang tính nhân văn, nhân đạo kêu gọi mọi người chung tay giúp đỡ nhau nhưng kỳ thực là trò lừa bịp. Các thế lực thù địch còn tuyên truyền, vận động dựng lên những “nhân vật tiêu biểu”, những màn kịch “trao giải thưởng quốc tế” cho những người “tiên phong trong cuộc đấu tranh vì tự do, vì dân chủ”, thực ra đó là những đối tượng chống đối, bất mãn; lợi dụng tình hình dịch COVID -19 đăng bài phỏng vấn liên tục các cá nhân “bất đồng chính kiến”, người lao động nghèo, yếu thế để chống phá.

Trong lĩnh vực dân tộc, tôn giáo: Lợi dụng sự việc các cơ quan chức năng bắt, điều tra, xử lý những đối tượng lợi dụng dân tộc và tôn giáo có hành vi chống đối, vi phạm pháp luật… để xuyên tạc và vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền. Một số cá nhân mượn danh nghĩa chức sắc, tín đồ tôn giáo được sự tiếp tay của các thế lực thù địch đã lợi dụng nhân quyền trong lĩnh vực dân tộc, tôn giáo để chống phá chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta. Các thế lực thù địch vừa tích cực rêu rao, vừa vu cáo Việt Nam không có tự do tín ngưỡng, không cho tự do hành đạo và đàn áp tôn giáo, chia rẽ các tôn giáo, đồng bào lương, giáo để chống lại chính sách đoàn kết, ổn định phát triển kinh tế…

Trong lĩnh vực thực hiện chính sách với tù nhân: Tù nhân là những cá nhân vi phạm pháp luật Việt Nam, phải chấp hành các chế tài theo luật định. Trong số các tù nhân này có người lợi dụng nhân quyền để chống phá lại chế độ, nhà nước ta. Thời gian qua, đây là một trong những điểm nóng, một mối quan tâm thường xuyên và cũng là một “mảnh đất” của các thế lực thù địch nhằm vào để can thiệp, vu cáo Nhà nước Việt Nam. Thông qua cơ chế của Liên hiệp quốc, qua nghị viện một số nước hoặc tổ chức phi chính phủ hoạt động về lĩnh vực này, số tổ chức, cá nhân phản động lưu vong cung cấp những thông tin sai lệch, xuyên tạc, mang tính quy chụp, dựng chuyện gửi các “kiến nghị”, “thư ngỏ” lên các tổ chức quốc tế thiếu thiện chí với Việt Nam để chống phá; đồng thời, cố tình đánh tráo bản chất, gieo rắc tâm lý bất an, gây hiểu nhầm, hiểu sai trong dư luận.

Không ngừng nỗ lực để bảo đảm nhân quyền

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân là mục tiêu phấn đấu”; “Phát triển con người toàn diện và xây dựng văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”; “…con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng của đất nước”.

Quyền con người được khẳng định trong bản Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1992 và 2013. Hiến pháp năm 2013 có 11 chương, 120 Điều. Trong đó, chương về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là chương có điều luật nhiều nhất, gồm 36 điều (từ Điều 14 đến Điều 49).

Để có cơ sở pháp lý thúc đẩy và bảo vệ, bảo đảm quyền con người, Nhà nước Việt Nam đã có những nỗ lực không ngừng cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người. Tính từ năm 2014 đến nay, Quốc hội nước ta đã sửa đổi, bổ sung, ban hành mới hơn 100 văn bản luật, pháp lệnh liên quan đến việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong số đó có những luật cơ bản, quan trọng như: Bộ luật Hình sự 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Bộ luật Dân sự 2015, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015, Luật Trưng cầu dân ý 2015, Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2016, Luật Trẻ em 2016, Luật Báo chí 2016, Luật Tiếp cận thông tin 2016, Luật An ninh mạng 2018, Luật Đặc xá 2018… Việc hoàn thiện khung pháp luật về quyền con người, quyền công dân nói trên đã phản ánh đúng bản chất của chế độ ta, đó là xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tăng cường cơ chế dân chủ, công khai để mọi cá nhân trong xã hội đều có thể tham gia xây dựng, quản lý xã hội, giám sát các hoạt động của cơ quan nhà nước, cũng như tạo ra khuôn khổ pháp lý để các cơ quan nhà nước hoạt động tốt hơn, phục vụ tốt hơn nhu cầu của mọi tầng lớp nhân dân.

Hiện nay, Việt Nam là một trong những nước tích cực, chủ động tham gia vào hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người do Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác ban hành. So với nhiều nước trong khu vực và các nước phát triển, Việt Nam không thua kém về số lượng là thành viên các công ước quốc tế về quyền con người. Tính đến năm 2021, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của Liên hợp quốc về quyền con người; phê chuẩn, gia nhập 25 công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), trong đó có 7/8 công ước cơ bản. Việt Nam đã phê chuẩn hoặc tham gia nhiều điều ước quốc tế về nhân quyền. Việt Nam luôn khẳng định trên thực tế là thành viên nỗ lực tham gia các công ước quốc tế với tinh thần, trách nhiệm cao nhất, được nhiều tổ chức quốc tế, các quốc gia đánh giá cao.

Mặc dù nước ta đang gặp không ít những trở ngại, thách thức do thiên tai, dịch bệnh và từ sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị nhưng vấn đề nhân quyền của Việt Nam luôn được thực thi trên thực tế. Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và vững chắc về nhân quyền. Điều đó không chỉ thể hiện ở những nỗ lực của chúng ta trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, mà còn được thể hiện ở việc bảo đảm quyền còn người, quyền công dân trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Điển hình như, Việt Nam là một trong sáu quốc gia thành viên Liên hợp quốc đã hoàn thành phần lớn các Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ trước thời hạn năm 2015 và được xem là tấm gương điển hình của cộng đồng quốc tế trong thực hiện mục tiêu phát triển bao trùm, không ai bị bỏ lại phía sau của Liên hợp quốc. Theo Báo cáo “Phát triển con người năm 2019” được Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) công bố ngày 9/12/2019, với chỉ số HDI là 0,63, Việt Nam xếp thứ 118 trong tổng số 189 nước… Với những thành tựu trong việc tôn trọng, bảo đảm về quyền của con người, Việt Nam được tín nhiệm là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2014 - 2016). Tại khóa họp lần thứ 73, tại trụ sở Liên hợp quốc vào ngày 7/6/2019, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã bầu Việt Nam làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021 với số phiếu gần như tuyệt đối (192/193 phiếu). Gần đây, Việt Nam đã thực hiện tốt vai trò Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc với nhiều dấu ấn, đóng góp sáng tạo, thiết thực, trong đó có vấn đề bảo đảm quyền con người trước những thách thức do đại dịch COVID-19 gây ra, được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao và làm cho vị thế và uy tín của Việt Nam ngày càng tăng trên trường quốc tế.

Thành tựu đảm bảo nhân quyền tại Việt Nam trên các lĩnh vực đời sống văn hóa, kinh tế, xã hội, đặc biệt là những thành tựu của Việt Nam trong việc phòng, chống dịch COVID-19 và bảo đảm quyền sống là quyền cao nhất trong đại dịch COVID-19 là những minh chứng rõ nét nhất trong bảo đảm quyền của con người trước những biến cố, đại dịch mà người dân trên toàn thế giới phải trải qua.

Đánh giá về nhân quyền cần phải đảm bảo cách nhìn khách quan, toàn diện, không thể phán theo kiểu “thầy bói xem voi”, không thể lấy một số vụ việc tiêu cực, những hiện tượng sai lệch mà quy chụp thành bản chất. Những thông tin để làm căn cứ đánh giá, báo cáo, xếp loại nhân quyền Việt Nam của một số tổ chức quốc tế thiếu thiện chí đều khai thác từ số đối tượng thù địch, phản động, bất mãn, cơ hội chính trị, số này luôn có những hành động hủy hoại mọi nỗ lực, thành tựu của Việt Nam trong vấn đề nhân quyền. Khi không có bất kỳ các hoạt động khảo sát, trải nghiệm vấn đề nhân quyền của một quốc gia thì mọi đánh giá về nhân quyền của quốc gia đó đều mang tính chủ quan, thiếu tính thực tiễn, sai lệch. Mặt khác, không thể mượn danh nhân quyền để tung hô cho lối sống tự do “vô pháp” để biện minh việc làm sai trái, quay lưng lại Tổ quốc, dân tộc.

Chu Xuân Đại Thắng

Cand.com.vn

Thứ Hai, 7 tháng 2, 2022

TÀI THẬT!!!

 

Người Mỹ dựng Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống tay sai, phục vụ mục đích xâm lược, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới. Ngô Đình Diệm làm trái lệnh người "đẻ ra" mình nên bị Mỹ sai đàn em khai tử bằng cuộc đảo chính 1/1/1963 cho hai anh em Ngô Đình Diệm về với âm tào địa phủ. Những kẻ cầm đầu trong vụ tạo phản, giết Diệm, Nhu là Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Thiệu... bằng lưỡi lê và súng lục trong chiếc xe bọc thép M-113.

Thế nhưng, giờ đây những kẻ tàn dư của sọc lại thờ chung Diệm với Thiệu vào một mâm. Một điều khiến người ta cười rụng hết cả răng nữa là, Diệm, Thiệu theo Thiên Chúa giáo nhưng đám 3/ lại dẫn theo sư hổ mang để "cầu siêu". Đúng là tài thật!!! Diệm, Thiệu dưới âm phủ chắc phải thuê người phiên dịch từ “cầu siêu” sang “cầu nguyện”.

Lão chăn bò



CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 70 NĂM, NGÀY TRUYỀN THỐNG CỦA THANH NIÊN QUÂN ĐỘI (08/02/1952 - 08/02/2022)

 


=====

Cách đây đúng 70 năm vào ngày 08/02/1952, lễ thành lập Chi đoàn Thanh niên cứu quốc đầu tiên trong Quân đội đã được tổ chức tại xóm Văn Minh, xã Na Mao, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Sau sự kiện lịch sử quan trọng này ngày 08/02 hằng năm đã trở thành ngày truyền thống vẻ vang của Thanh niên quân đội và Ban Thanh niên Quân đội.

70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành dưới ngọn cờ của Đảng... đi qua những cuộc trường chinh gian khổ, tuổi trẻ quân đội đã hiến dâng hàng triệu đoàn viên, thanh niên ưu tú cho nền độc lập tự do của dân tộc. Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay, đoàn viên thanh niên trong quân đội tiếp tục phát huy tinh thần dấn thân sẵn sàng tới những nơi khó khăn, gian khổ, hiểm nguy, với tinh thần “đâu cần thanh niên có, việc gì khó có thanh niên”.

QPVN

TƯ TƯỞNG "TƯỚNG QUÂN TẠI NGOẠI" CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH CÒN NGUYÊN GIÁ TRỊ!

         Khi Quân ủy Trung ương giao toàn quyền cho Thượng tướng Phan Văn Giang vào chỉ huy Quân đội trên địa bàn Quân khu 4 trước tình hình ảnh hưởng nghiêm trọng của Thiên tai tại miền Trung, phát biểu chia buồn và gặp gỡ cán bộ, chiến sĩ, thân nhân các liệt sỹ tại Huế, ông vẫn xin phép khán phòng cho ông để điện thoại ở chế độ có chuông vì ông còn phải chỉ huy Quân đội trong tình huống khó khăn nhất và vị tướng Tổng Tham mưu trưởng của Quân đội đã có những quyết sách đầy tâm, tầm, tình, nghĩa, thể hiện sâu sắc đạo làm tướng trước lúc nan nguy của chiến sĩ, đồng bào.

Việc đầu tiên ông đặt lời hứa trước nhân dân: "Quân đội sẽ làm hết sức mình vì nhân dân, vì Tổ quốc, vì sự trường tồn của đất nước".

Việc tiếp theo ông thể hiện trực tiếp chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước với thân nhân các liệt sỹ: "Tôi đồng ý tuyển những đồng chí là vợ của các đồng chí liệt sĩ này, sẽ là quân nhân chuyên nghiệp của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Yêu cầu Quân khu 4 làm ngay các thủ tục báo cáo ra Bộ, tôi sẽ ký ngay".

Và sau khi chia sẻ những mất mát đau thương đối với thân nhân trước giờ tiễn đưa các liệt sỹ về với đất mẹ, ông đã đưa ra phương án chỉ đạo khắc phục sự cố tại Đoàn KTQP 337 và không quên dặn dò cán bộ, chiến sỹ LLVTQK4: "Ngoài trời bắt đầu mưa lớn hơn rồi. Nhanh đưa đồng chí, đồng đội mình về các đồng chí nhé” và những giọt nước mắt của 1 vị tướng đã rơi giữa thời bình khi chứng kiến mất mát hy sinh của đồng đội mình.

Chấp hành mệnh lệnh của Tổng TMT, chỉ sau hơn 1 ngày các lực lượng chức năng của Quân đội, Công an và Chính quyền địa phương đã nỗ lực tìm kiếm khẩn trương đưa các anh về đất mẹ. Sau gần 1 tuần, các đơn vị Quân đội trên địa bàn Quân khu đã huy động tối đa lực lượng phương tiện cứu dân ra khỏi các vùng nguy hiểm, đưa nhân dân về khu vực an toàn trước những mối nguy hiểm của nước lũ dâng cao, hiện tượng sạt lở núi, đá xẩy ra trên địa bàn các tỉnh miền Trung.

Có thể nói, đến thời điểm này miền Trung đã làm chủ hoàn toàn trước thiên tai hoạn nạn, một phần không thể thiếu vai trò hết sức quan trọng của LLVT trong đó có vai trò chỉ đạo của Thượng tướng Phan Văn Giang (Tổng TMT, Thứ trưởng BQP tại thời điểm đó). Miền Trung đã lắng những cơn mưa và nguy cơ bão, lũ không thể lường trước, nhưng khi nhìn thấy những hình ảnh Thượng tướng Phan Văn Giang phát biểu chỉ đạo, quân dân miền Trung như tiếp thêm sức mạnh, đoàn kết đồng lòng vượt qua khó khăn hoạn nạn dù bất kể lúc nào.

Còn nhớ, trước thời khắc lịch sử Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đến chào Bác Hồ. Người đã căn dặn Đại tướng: “Tổng Tư lệnh ra mặt trận. Tướng quân tại ngoại. Trao cho chú toàn quyền quyết định. Trận này quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh”.

Vậy nên vị Tướng Phan Văn Giang đã kết hợp sâu sắc lời dạy của Bác với những chỉ đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương trước lúc lên đường nhận nhiệm vụ để đưa ra những quyết sách quyết đoán mang lại thành công ấy. Nếu vậy, chúng ta mới thấy những điều vi diệu về tư tưởng "tướng quân tại ngoại" của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đã trở thành bảo bối cho những vị tướng của Quân đội ta./.

Môi Trường ST.

ĐẠI TƯỚNG PHAN VĂN GIANG MONG THANH NIÊN QUÂN ĐỘI KHÔNG NGỪNG SÁNG TẠO VÀ CỐNG HIẾN


          Đại tướng Phan Văn Giang khẳng định, thanh niên Quân đội xứng đáng là lực lượng hậu bị tin cậy của Đảng, là bộ phận ưu tú, tiêu biểu cho ý chí, khát vọng của tuổi trẻ Việt Nam. Nhân dịp kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống Thanh niên Quân đội và Ban Thanh niên Quân đội (8/2/1952 - 8/2/2022), thay mặt Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã gửi tới cán bộ, đoàn viên, thanh niên Quân đội các thời kỳ và sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, chiến sĩ đã và đang công tác tại Ban Thanh niên Quân đội lời chúc mừng tốt đẹp nhất.

          Theo Đại tướng Phan Văn Giang, trải qua 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị và Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh; của cấp ủy, chỉ huy các cấp trong Quân đội; sự giúp đỡ, phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ, hiệu quả của các cơ quan, đơn vị, tổ chức trong và ngoài Quân đội; cán bộ, đoàn viên, thanh niên Quân đội các thời kỳ và các thế hệ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, chiến sĩ Ban Thanh niên Quân đội đã phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, bản chất tốt đẹp và truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Thanh niên Quân đội đã đoàn kết, sáng tạo, mưu trí, anh dũng trong chiến đấu; hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tham mưu, xung kích thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ Quân đội. Tuổi trẻ quân đội xứng đáng là lực lượng hậu bị tin cậy của Đảng, bộ phận ưu tú, tiêu biểu cho ý chí, khát vọng của tuổi trẻ Việt Nam, được Đảng, Nhà nước tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý; góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nhiệt liệt biểu dương, khen ngợi những thành tích và sự tiến bộ, trưởng thành của Thanh niên Quân đội và Ban Thanh niên Quân đội trong 70 năm qua, Đại tướng Phan Văn Giang mong rằng, trong giai đoạn cách mạng mới, các đồng chí tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang của Quân đội anh hùng, của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Cuộc vận động Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”.

          Tuổi trẻ Quân đội không ngừng sáng tạo, cống hiến nhiều hơn nữa, xây dựng các tổ chức đoàn vững mạnh xuất sắc, tham gia xây dựng các tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo.

NỖI KHIẾP SỢ CỦA KẺ THÙ VÀ ĐỈNH CAO CỦA NGHỆ THUẬT CHIẾN TRANH DU KÍCH MANG TÊN "MADE IN VIỆT NAM".


          Chỉ trong 01 đêm, một đồng chí Thượng sỹ đã đánh chìm 02 tàu vận tải quân sự trọng lượng 5000 tấn và 4.800 tấn. Táo bạo đánh chìm tàu địch. Đúng lúc đang đón Giao thừa chuẩn bị bước sang năm mới, Xuân Kỷ Dậu 1969, Thượng sĩ Hoàng Kim Nông, Tổ trưởng tổ chiến đấu thuộc Đại đội 1, Đoàn Đặc công 126 Hải quân (sau này là Đại tá, Anh hùng LLVT nhân dân) và chiến sĩ Nguyễn Văn Nhượng được cấp trên giao nhiệm vụ tiêu diệt tàu vận tải quân sự tại Cửa Việt, Quảng Trị.

          Thời điểm ấy, Cửa Việt có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, vì là nơi tiếp nhận, chứa trữ vũ khí, trang bị địch chuyển từ biển vào. Theo tin trinh sát, Nông được biết, trên bờ, địch bố trí hơn 1.000 lính để tuần tra, bố phòng, canh gác; xung quanh chúng còn rào 3 hàng thép gai điện tử. Dưới sông, chúng dùng tàu tuần tiễu liên tục lùng sục, ném lựu đạn, bắn xả, ngăn không cho chiến sĩ người nhái của ta tiếp cận, đánh phá tàu. Nếu thoát được ba vòng thép gai điện tử thì cũng rất dễ dính phải lựu đạn thả rông dưới biển của địch. Mặc dù biết nhiệm vụ đặc biệt nguy hiểm, nhưng cả hai không hề run sợ. Đêm 20-2-1969, biển Cửa Việt tối đen như mực, trời rét căm căm, Nông và đồng đội bí mật ngụy trang, dễ dàng luồn qua ổ phục kích của địch và 3 lớp hàng rào, áp sát bờ sông Thạch Hãn. Mặc dù trời đêm, nhưng các chiến sĩ quan sát rõ tàu địch. Quanh tàu, địch liên tục ném lựu đạn xuống nước để ngăn chặn người nhái bám vào.       Sau một thời gian quan sát thấy địch chỉ ném lựu đạn mạn tàu phía ngoài, còn mạn tàu phía trong cảng chúng không để ý, Nông đưa ra một quyết định táo bạo, đầy bất ngờ đó là bơi đường vòng vào trong cảng rồi sau đó lại bơi ra tiếp cận mục tiêu. Đúng lúc cả hai bí mật bơi ra giữa sông thì một làn đạn từ tàu địch bắn xối xả. Chiến sĩ đi cùng bị thương vào chân không thể tiếp tục bơi được nữa, Nông phải dùng dây buộc đồng đội vào người cùng với 4 quả mìn rồi rướn mình bơi tiếp. Vào gầm cảng, anh mới cởi dây ra, để Nhượng bám lấy trụ cầu, rồi tiếp tục bí mật bơi ra một đoạn để xác định vị trí đặt mìn vào hai chiếc tàu to nhất. Sau khi lấy hơi, Nông lặn sâu xuống nước áp sát mạn tàu địch, rồi cài mìn hẹn giờ mỗi tàu hai quả. Xong xuôi, Nông bơi ngược ra gầm cảng, buộc Nhượng vào người rồi lại tiếp tục bơi về vùng an toàn. Sáng hôm sau, đơn vị được cơ sở báo: Một chiếc tàu trọng tải 5.000 tấn, một chiếc tàu trọng tải 4.800 tấn của địch đã bị nổ tung và chìm xuống biển. Cách đánh này sau đó đã được rút kinh nghiệm, nhân rộng, khiến địch không chống đỡ nổi. Sau chiến công này, Thượng sĩ Hoàng Kim Nông vinh dự được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất.

ĐOÀN BẢO CHÂU XUYÊN TẠC CÔNG CUỘC PHÒNG, CHỐNG TIÊU CỰC, THAM NHŨNG


          Vừa qua, Đoàn Bảo Châu có bài viết “Một cỗ máy tạo củi hoàn hảo”, lấy cớ việc xử lý các cá nhân vi phạm “thổi giá kit xét nghiệm Covid-19” đang diễn ra, để quy chụp, xuyên tạc công cuộc chống tiêu cực, tham nhũng, làm trong sạch hóa bộ máy chính quyền, lành mạnh hóa đời sống kinh tế-xã hội ở Việt Nam. Đoàn Bảo Châu không thấy được việc chống tham nhũng là của tất cả các quốc gia trên thế giới. Vấn đề tham nhũng và xử lý tham nhũng đã xuất hiện hàng ngàn năm nay trong lịch sử xã hội loài người. Hiện nay, tội phạm tham nhũng vẫn là vấn đề nhức nhối của các quốc gia trên thế giới. Đã có rất nhiều tổng thống, cựu tổng thống của các nước trên thế giới bị truy tố, xử tù, như tổng thống Hàn Quốc Park Geun-hye, cựu tổng thống Indonesia Suharto, cựu tổng thống Pháp N.Sarkogy, cựu tổng thống Argentina C.Fernandez,…

          Việc các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam đấu tranh phòng, chống tham nhũng là hoạt động diễn ra thường xuyên nhằm làm trong sạch bộ máy chính quyền nhà nước, được dư luận thế giới đồng tình ủng hộ. Không hề có chuyện vì đưa ra xét xử các quan chức tham nhũng mà làm cho hình ảnh đất nước bị hoen ố, mà việc làm đó càng thể hiện đó là quốc gia thượng tôn pháp luật, không che giấu, bỏ lọt tội phạm. Đoàn Bảo Châu đưa ra nhận định chủ quan rằng: Ở đất nước này, bộ máy chính quyền luôn luôn tạo ra củi, bởi không có sự nghiêm minh, công bằng của pháp luật, pháp luật chỉ phục vụ lợi ích của chính quyền. Điều này, thể hiện Đoàn Bảo Châu là kẻ tráo trở, lời lẽ của Y đầy mâu thuẫn khi Y nói pháp luật bảo vệ (người của) chính quyền song Y lại dẫn ra ví dụ người trong bộ máy chính quyền vi phạm pháp luật bị đưa ra xét xử. Đoàn Bảo Châu quy chụp là pháp luật ở nước ta không nghiêm minh, ngay cả trong lúc này, khi pháp luật đang xử lý những cá nhân vi phạm pháp luật, câu kết “thổi giá kít xét nghiệm”.

          Trong thời gian qua, đông đảo người dân Việt Nam và cộng đồng quốc tế đều thấy được sự kịp thời của pháp luật Việt Nam khi đã nhanh chóng điều tra xét xử các vụ việc tham nhũng liên quan đến mua sắm các thiết bị y tế nói riêng, và các vụ án tham nhũng khác nói chung. Kết quả nổi bật của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta thời gian qua cho thấy: “không có vùng cấm” trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng; nhân dân ta và dư luận quốc tế ngày càng tin tưởng vào hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng tại Việt Nam. Tổ chức Minh bạch quốc tế (TI) ghi nhận Chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) của Việt Nam có xu hướng cải thiện tích cực. Theo công bố đầu năm 2021, xếp hạng CPI của Việt Nam năm 2020 đứng thứ 104/180 nước. Điều này phản ánh kết quả các nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta trong việc đẩy mạnh công tác phòng, chống tiêu cực, tham nhũng, đặc biệt là việc truy tố, xét xử hàng loạt vụ án tham nhũng lớn.

          Trong bài viết, Đoàn Bảo Châu còn giả danh “phản biện xã hội”để tuyên truyền xuyên tạc chống phá đất nước. Sự nham hiểm trong xúi giục chống đối, phá hoại đất nước của Đoàn Bảo Châu được “ẩn mình” trong luận điệu giả danh “phản biện xã hội” để lừa phỉnh người đọc nhẹ dạ nhầm tưởng rằng những kẻ phản động như Y đang “hy sinh thân mình” để đấu tranh cho tự do, dân chủ. Song thực tế là Đoàn Bảo Châu và đồng bọn chỉ là những kẻ gây chia rẽ, phá hoại đất nước. Đến ngay như việc chống tham nhũng, tiêu cực là việc làm hết sức cấp bách hiện nay ở nước ta mà Y còn xuyên tạc, chống phá được thì thử hỏi có còn vấn đề gì mà Đoàn Bảo Châu không làm?

          Từ những vấn đề nêu trên đã cho thấy rõ bộ mặt phản động, xuyên tạc, phá hoại của Đoàn Bảo Châu đối với công cuộc phòng chống tiêu cực, tham nhũng nói riêng, công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung. Mỗi công dân Việt Nam chân chính cần cảnh giác kiên quyết vạch trần và đấu tranh bác bỏ.

Hãy trân trọng những gì chúng ta đang có ngày hôm nay


Để có thể giành được những gì như bạn, như tôi đang có hôm nay, thì ông cha chúng ta, và bao lớp người đi trước, người này ngã xuống người khác lại tiếp bước đứng lên, nắm chắc tay súng giữ gìn từng mét vuông của Tổ quốc, đất này, nước này thấm đẫm máu đào của bao thế hệ người Việt đã ra đi để giữ yên bờ cõi đấy.

CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI PHÍA BẮC 2/1979

  Trong lịch sử đấu tranh cách mạng, đặc biệt là trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược của nhân dân ta, Đảng, Nhà nước và nhân dân Trung Quốc đã dành sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn cho Việt Nam. Tuy nhiên, sau khi đất nước Việt Nam được thống nhất, Trung Quốc đã tăng cường các hoạt động tuyên truyền, kích động tâm lý thù hằn dân tộc, khiêu khích vũ trang, xâm lấn đất đai… gây nên tình hình căng thẳng, phức tạp giữa hai nước, mà đỉnh điểm là cuộc tiến công của quân Trung Quốc vào biên giới phía Bắc Việt Nam (tháng 2/1979). 

CẢNH GIÁC TIN GIẢ


Trên MXH đang lan truyền thông tin 01 bé gái đi chơi Tết bị lạc hỏi bé nhà ở đâu nhưng không biết chỉ biết tên mẹ là Lan, bố là Cường. Đồng thời cho số điện thoại liên hệ tên Trí.


Đây là thông tin giả , hoàn toàn sai sự thật nhé mọi người, add đã liên hệ số điện thoại tên Trí nhưng không được. Kiểm tra các thông tin trên MXH, mọi người dễ dàng phát hiện lúc thì bé gái ở Cần Thơ, lúc thì Đà Nẵng, lúc thì ở Vũng Tàu, lúc thì ở quận Bình Tân , lúc thì Đồng Xoài, lúc thì ở Bình Dương, lúc thì Trảng Bơm…


Đây là thông Tin Giả được những người bán hàng online đưa lên mxh hội nhằm tạo sự chú ý để tăng lượt view , nhiều linke tài khoản Facebook cá nhân và các Trang , nhóm bán hàng online. Thiết Nghĩ cần phải lên án mạnh mẽ và xử lý nghiêm các hành vi này để góp phần làm giảm thông tin tiêu cực trên MXH.