Thứ Ba, 8 tháng 2, 2022

KHÔNG THỂ BUÔNG LỎNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG


          Đảng lãnh đạo Đoàn nói chung, lãnh đạo đại hội đoàn các cấp và Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XII là vấn đề có tính nguyên tắc “bất di, bất dịch”.Việc tổ chức và lãnh đạo Đoàn Thanh niên được Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh và Đảng ta đặt ra từ rất sớm. Trong Bài nói tại Lễ kỷ niệm lần thứ 35 ngày thành lập Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam (nay là Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh) ngày 25/3/1966, đăng Báo Nhân dân, số 4372, ngày 26/3/1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Năm 1925, Hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí thành lập, nhằm chuẩn bị điều kiện để tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngay sau khi thành lập, Hội đã lo đến việc tổ chức và lãnh đạo đoàn thể riêng của thanh niên cách mạng. Hội đã chọn tám em Việt kiều ở Xiêm đưa sang Quảng Châu để bồi dưỡng thành hạt nhân của Đoàn Thanh niên sau này. Trong số các em đó có Lý Tự Trọng, về sau là đoàn viên đầu tiên của Đoàn Thanh niên Cộng sản nước ta, cũng là người cộng sản đã oanh liệt đấu tranh đến hơi thở cuối cùng cho Đảng, cho sự nghiệp cách mạng”. Vì vậy, nhiệm vụ cần kíp của cách mạng, ngay sau khi Đảng ta ra đời, từ ngày 20 đến ngày 26 tháng 3 năm 1931, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 2, Trung ương Đảng đã giành một phần quan trọng trong chương trình làm việc để bàn về công tác thanh niên và đi đến những quyết định có ý nghĩa đặc biệt, như các cấp ủy Đảng từ Trung ương đến địa phương phải cử ngay các ủy viên của Đảng phụ trách công tác Đoàn, với ý nghĩa đó, ngày 26 tháng 3 là ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.

          Thấu triệt và vận dụng đúng đắn tư tưởng Hồ Chí Minh, trong các văn kiện của Đảng, Đảng ta luôn nhất quán nguyên tắc Đảng lãnh đạo trực tiếp và bảo đảm cho sự vững mạnh của Đoàn. Quyết nghị của Ban Bí thư số 25-QN/TW, ngày 19/10/1955 về việc đổi tên Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam thành Đoàn Thanh niên Lao động và kế hoạch xây dựng Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam đã chỉ rõ nguyên tắc: “Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam công tác dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng và Đảng cần coi trọng việc lãnh đạo Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam. Sự lãnh đạo của Đảng là bảo đảm vững chắc nhất để Đoàn Thanh niên Lao động phát triển tổ chức được vững mạnh và công tác được thắng lợi”. Chấp hành vô điều kiện sự lãnh đạo đó là trách nhiệm Đoàn là nguyên tắc “bất di bất dịch”: “Đoàn Thanh niên Lao động phải là người chấp hành trung thành và kiên quyết những chỉ thị, nghị quyết của Đảng, đoàn kết, lôi cuốn đông đảo thanh niên để thực hiện nhiệm vụ của Đảng đề ra, Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam là trường học đào tạo, giáo dục thanh niên trở thành nguồn bổ sung lực lượng mới trẻ cho Đảng, cho các tổ chức của giai cấp công nhân và của Nhà nước”.

          Bước sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng ta có sự phát triển và hoàn thiện tư duy về công tác thanh niên, về công tác xây dựng Đoàn. Phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ Bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X), ngày 17/7/2008, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh khẳng định: “Đảng lãnh đạo công tác thanh niên và trực tiếp lãnh đạo Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, coi nhiệm vụ xây dựng Đoàn vững mạnh là bộ phận quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, là xây dựng Đảng trước một bước”(4). Việc Đảng lãnh đạo Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh tiếp tục được quy định tại Điều 44, Chương X, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam như sau: “1. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là đội dự bị tin cậy của Đảng, thường xuyên bổ sung lực lượng trẻ cho Đảng, kế tục sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; là lực lượng nòng cốt trong phong trào thanh niên; là trường học xã hội chủ nghĩa; đại diện quyền lợi của thanh niên; phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh. 2. Cấp ủy đảng lãnh đạo trực tiếp tổ chức đoàn cùng cấp về phương hướng, nhiệm vụ, tư tưởng, tổ chức, cán bộ”. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Đoàn còn được hiến định ở Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2013).

          Đặc biệt, trước thềm đại hội đại hội đoàn các cấp và Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh toàn quốc lần thứ XII, nhiệm kỳ 2022-2027, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 08-CT/TW ngày 20/8/2021 về lãnh đạo đại hội đoàn các cấp và Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh toàn quốc lần thứ XII, nhiệm kỳ 2022-2027, một lần nữa khẳng định không khi nào, chưa bao giờ Đảng ta buông lỏng sự lãnh đạo đối với Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh nói chung, lãnh đạo đại hội đoàn các cấp và Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh toàn quốc lần thứ XII, nhiệm kỳ 2022-2027 nói riêng.

Lịch sử ra đời, cống hiến, trưởng thành và chiến đấu vì mục tiêu lý tưởng của Đảng trong hơn 90 năm qua, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh luôn chấp hành sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng - đây là vấn đề có tính nguyên tắc, là quy luật “sống còn” đối với sự tồn tại và trưởng thành của Đoàn. Theo đó, hơn bao giờ hết và không thể khác, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với đại hội đoàn các cấp và Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XII theo tinh thần Chỉ thị số 08-CT/TW ngày 20/8/2021 của Ban Bí thư không chỉ là vấn đề cấp bách trước mắt, còn là vấn đề chiến lược lâu dài.

 

Lạc quan nhìn về phía trước


          Trong gần 2 năm vừa qua, bất chấp mọi tai họa của dịch bệnh và những hệ quả/hậu quả do những lúng túng, yếu kém trong xử lý dịch bệnh đợt 4, chúng ta vẫn kiên cường chịu đựng, rồi vươn lên vượt qua mọi khó khăn, để tự cứu mình, cứu kinh tế và qua đó trực tiếp cứu nước.

          Trong chống đỡ mọi hệ quả của đại dịch, kinh tế gia đình (tạm gọi là hậu phương của hàng chục triệu lao động rời quê hương đi làm ăn trong các khu công nghiệp và các đô thị...) và sự đùm bọc "lá lành đùm lá rách" của nhân dân trong cả nước đã trở thành thành trì cuối cùng bảo vệ vững chắc sơn hà xã tắc không gì phá vỡ được, nhờ đó đã từng bước có sức đẩy lùi dịch; nhờ đó mới có lực dám chung sống với Covid-19 để tiếp tục sống; nhờ đó mới có sức đang từng bước phục hồi kinh tế như đang diễn ra hôm nay. Và xin đừng bao giờ quên đội quân chủ lực của kinh tế gia đình này là nông dân hay xuất thân từ nông dân. Từ Cách mạng Tháng Tám (1945) đến nay, nông dân ta luôn luôn là quân chủ lực trên mọi mặt trận sống còn của đất nước.

          Nhân dân ta vô cùng đại lượng và khoan dung, ngay cả sau khi xảy ra vụ đại án test kit Việt Á và lộ ra chuyện "hàng không giải cứu", người dân vẫn kiên trì chịu đựng mọi hậu quả và hệ quả, trước sau chỉ kiên quyết đòi hỏi chế độ chính trị và chính quyền phải làm rõ trái/phải và xử phạt nghiêm minh.

          Về phía nhà nước, đã kịp thời ban hành các chính sách tài khóa hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội tại Nghị quyết số 43/2022/QH15 ngày 11-1-2022 của Quốc hội; ngày 28-1-2022, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 15/2022/NĐ-CP quy định chính sách miễn, giảm thuế theo Nghị quyết 43/2022/QH15 của Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội.

          Việc giảm thuế giá trị gia tăng (VAT) sẽ kích cầu, người dân tiêu dùng nhiều hơn nhờ giá hàng hóa, dịch vụ giảm tương ứng. Điều này sẽ góp phần hỗ trợ hoạt động sản xuất - kinh doanh, giúp doanh nghiệp và nền kinh tế sớm phục hồi.

          Lần đầu tiên ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn trình Chiến lược phát triển nông nghiệp, một trong những đột phá chiến lược về hoàn thiện thể chế trọng tâm hàng đầu được nêu ra là dự án Luật Đất đai (sửa đổi) với thời gian hoàn thành ngay trong năm 2022.

          Nhận định về tình hình Covid-19 năm 2022, theo các chuyên gia, dịch bệnh sẽ còn tiếp diễn nhưng sẽ không nghiêm trọng như năm 2021. Sau Omicron, chắc chắn sẽ có biến thể khác xuất hiện nhưng theo quy luật tiến hóa thì độc lực của chúng sẽ giảm. Đứng trên phương diện y tế công cộng, sự thành công của một chiến lược chống dịch tùy thuộc vào 2 yếu tố: Quản lý của nhà nước và công dân. Nhà nước phải minh bạch về chủ trương, dữ liệu và nhất quán. Người dân phải nhận thức được tầm quan trọng của bệnh truyền nhiễm và có biện pháp cá nhân, kể cả tiêm chủng vắc-xin, nhằm giảm lây nhiễm cấp cộng đồng.

          Chúng ta có thể lạc quan tin rằng xuân Nhâm Dần, công chúng đã khá quen với chống dịch (tiêm phủ vắc-xin, 5K kết hợp chủ động phòng vệ bản thân) và nhờ các chính sách khôi phục kinh tế của nhà nước, cuộc sống của người dân sớm trở lại bình thường.

NHẬN DIỆN NHỮNG “LUỒNG GIÓ ĐỘC”


          Không khó để nhận diện âm mưu, thủ đoạn phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng đối với đại hội đoàn các cấp và Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XII. Âm mưu thâm độc của những kẻ cơ hội chính trị và các thế lực thù địch không ngoài mục đích xấu xa là nhằm tách sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, làm cho Đoàn không còn là đội dự bị tin cậy của Đảng, thường xuyên bổ sung lực lượng trẻ cho Đảng, kế tục sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; trước mắt, là làm cho đại hội đoàn các cấp và Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XII mất phương hướng chính trị khi chuẩn bị và tiến hành thảo luận các Báo cáo chính trị trình đại hội các cấp cũng như công tác chuẩn bị nhân sự cơ quan lãnh đạo các cấp của Đoàn… Đây là những “luồng gió độc” với âm mưu làm cho Đoàn là tổ chức chính trị dần dần xa rời sự lãnh đạo của Đảng, độc lập, thậm chí đối lập với Đảng.

          Thủ đoạn quen thuộc của chúng là liên tục tung ra các luận điệu xuyên tạc khi đưa ra “cái gọi là”: Đảng Cộng sản Việt Nam và Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là một trong 44 thành viên trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nên chỉ chịu sự “lãnh đạo” chung của Mặt trận và thực hiện vai trò, chức năng do điều 9 Hiến pháp đã hiến định, nhất là chức năng phản biện xã hội; hay Đảng lãnh đạo Đoàn làm mất đi tính năng động, sáng tạo, trẻ trung của tổ chức Đoàn; hoặc Đại hội Đoàn các cấp phải tự do lựa chọn “khẩu vị riêng”, tự do lựa chọn con đường, không bị dẫn dắt, phụ thuộc bởi lực lượng chính trị nào. Nguy hiểm hơn, chúng tung ra khẩu hiệu “Đại hội Đoàn để Đoàn cử, Đoàn bầu” nhân sự cơ quan lãnh đạo các cấp của Đoàn giữa hai kỳ Đại hội…

Bận tâm chuyện "trốn" Tết

 

Dù Tết mới qua, nhưng mấy ngày nay, ông Phương cứ buồn rười rượi. Nguyên nhân chính không phải bởi con gái duy nhất và các cháu của ông không về ăn Tết mà là những chuyện ông được nghe về con gái.

Ban đầu, khi biết vợ chồng con gái có ý định dành thời gian nghỉ Tết để đi du lịch nước ngoài, tranh thủ gặp đối tác bàn kế hoạch làm ăn, ông cũng thoáng buồn. Nhưng rồi ông tự an ủi, vậy là đời sống của các con đã khấm khá hơn. Từ bé đến giờ vất vả, nay có điều kiện, nghỉ Tết dài, con được đi du lịch nước ngoài, ông cũng thấy tự hào với chòm xóm.

Thế nhưng, khi đi chúc Tết, ông được bạn học của con gái kể rằng, con gái ông tâm sự không muốn về quê ăn Tết vì phải ngược xuôi đi chúc Tết nội, ngoại; tốn nhiều thời gian, tiền bạc... Thậm chí, con ông còn cổ xúy cho việc bỏ Tết cổ truyền và rủ cô bạn học “trốn Tết” để đi du lịch. Ban đầu, ông bị sốc, chưa tin.

Ông chợt nhớ, có lần, ông nghe Đài Tiếng nói Việt Nam phản ánh việc các thế lực thù địch đang nhắm vào giới trẻ, kích động phủ nhận văn hóa cổ truyền thay bằng văn hóa ngoại lai; cổ xúy lối sống xa hoa, thực dụng, ích kỷ; dẫn dắt những người trẻ xa rời văn hóa truyền thống và thậm chí quay lưng, chống phá chế độ. Việc lôi kéo người Việt bài trừ Tết cổ truyền của dân tộc cũng là một trong những âm mưu mà chúng đang làm. Ông Phương đau lòng bởi có thể con gái ông đã bị "nhiễm" văn hóa xấu độc này.Nhưng khi được xem những dòng trạng thái trên mạng xã hội của con gái thì ông rất lo lắng. Ở đó, con gái ông chia sẻ cả những quan điểm của một số người về việc nên bỏ Tết Nguyên đán cổ truyền, nên nhập Tết Nguyên đán với Tết dương lịch... Dưới chia sẻ của con gái ông còn có các bình luận của một số người cổ xúy, kích động cho việc đó.

Vậy là năm nay, dù đã hết nồi bánh chưng, nhưng với ông Phương, chưa phải câu chuyện của Tết đã hết. Ông quyết định sắp tới sẽ đến tận nhà con gái để giải thích cho con và các cháu ngoại hiểu thêm về ý nghĩa của ngày Tết cổ truyền, về những giá trị văn hóa truyền thống dân tộc để các con, cháu ông không mắc bẫy của những người xấu.

MỘT TỪ ĐẢNG "NÓI GỌN, VIẾT HOA"


Viết hoa là một vấn đề của chính tả. Chính tả (cách viết đúng) là những quy tắc thể hiện văn tự của mỗi ngôn ngữ. Trên thế giới đang tồn tại khá nhiều mẫu tự. Nhưng đã dùng mẫu tự nào thì các ngôn ngữ đều có những quy ước phổ quát: viết hoa (chữ cái đầu) khi mở đầu câu, các danh từ riêng (tên người, tên đất, tên tổ chức cụ thể…).


Nếu đứng riêng rẽ, đảng chỉ là một danh từ chung, chỉ “nhóm người kết hợp với nhau để cùng thực hiện một mục đích chung nào đó, trong sự đối lập với những nhóm người khác” (Theo Từ điển tiếng Việt, Trung tâm Từ điển học, nhà xuất bản Đà Nẵng, năm 2020). Chính đảng là chỉ một đảng cụ thể. Ở Việt Nam hiện nay, khi nói tới từ “Đảng”, mặc nhiên, dùng để chỉ “Đảng Cộng sản Việt Nam” (tiền thân là Đảng Cộng sản Đông Dương, sau đó đổi tên là Đảng Lao động Việt Nam).


Từ Đảng nói rút gọn như thế không hề chịu một “áp lực” nào hết. Không có văn bản nào quy định, bắt buộc phải làm thế. Đó là một nhu cầu biểu hiện tự thân. Khi một từ cụ thể được xuất hiện với tần số cao, được nhắc đi nhắc lại nhiều lần thì nó sẽ có khả năng “tỉnh lược và rút gọn” trong giao tiếp. Điều này không chỉ có giá trị tiết kiệm mà còn làm cho việc diễn giải rõ ràng, mạch lạc hơn. Nếu là 2 người dạy (hay học) cùng khoa, cùng trường… thì câu hỏi đại loại như: “Hôm nay cậu có vào Khoa không? Mai nhớ lên Trường họp tổng kết nhé!”… hoàn toàn được hiểu bình thường; vì cả hai đều xác định rõ các đối tượng vừa được nhắc đến là khoa của mình, trường của mình. Trừ trường hợp chuyển sang một đối tượng khác “lệch quy chiếu” thì lập tức người nói phải điều chỉnh, ví dụ: Văn phòng Khoa nhắc cậu nhớ sang khoa Toán, trường đại học Sư phạm lấy tài liệu nhé. Trong giao tiếp tiếng Việt hiện nay, có biết bao nhiêu từ được nói gọn như thế: đoàn (viên) (tức đoàn (viên) Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, bách hóa (cửa hàng bách hóa tổng hợp), (trường) Kiến trúc, Bách khoa, Y… (trường đại học Kiến trúc, trường đại học Bách khoa, trường đại học Y…), v.v.


Do ưu thế về tần số xuất hiện mà khi rút gọn, Đảng hoàn toàn đại diện cho cả tổ hợp “Đảng Cộng sản Việt Nam” theo quy tắc “một thành tố có thể đại diện và có giá trị định danh cho cả nhóm”. Vì vậy, việc nhà thơ Tố Hữu đã sáng tác bài thơ “Ba mươi năm đời ta có Đảng” (Đảng ta đó trăm tay nghìn mắt/ Đảng ta đây xương sắt, da đồng) và nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn cũng nói gọn từ này trong toàn bộ bài hát “Đảng là cuộc sống của tôi” (Đảng của tôi ơi, đời tôi chưa quen sóng gió/ Đảng đã cho tôi lẽ sống, niềm tin/ Giữa biển khơi biết đâu là bờ…) là hoàn toàn hợp lý và ai cũng hiểu hai tác giả đang nói về đảng nào.


Còn việc viết hoa từ Đảng (riêng chữ cái Đ hay toàn bộ chữ ĐẢNG) là một cách thức viết hoa tu từ học. Khi một danh từ chung được riêng hóa, được nhấn mạnh hay thể hiện một sự kính trọng thì người ta có thể viết hoa để biểu thị thái độ ấy. Từ Đảng như trên đã nói, có quyền đại diện cho cả tổ hợp danh ngữ Đảng Cộng sản Việt Nam, một danh từ riêng, vì vậy, việc viết hoa là đương nhiên. Trong tâm khảm người Việt, đây là một từ rất đỗi quen thuộc và thiêng liêng. Viết hoa chữ Đảng, chúng ta gửi vào đó sự trân trọng, niềm tự hào và niềm tin sâu sắc. Đó là cả một quá trình. Nói như PGS.TS Đào Thản (Viện Ngôn ngữ học): “Để có thể đưa từ Đảng vào “phạm trù viết hoa”, Bác Hồ của chúng ta đã phải đi gần khắp thế gian và cống hiến trọn cuộc đời, đã có hàng triệu người ngã xuống, cả dân tộc đã phải vượt qua những chặng đường lịch sử đầy thử thách quyết liệt”. Đảng trở thành một từ biểu tượng, có ý nghĩa kính trọng và thiêng liêng, làm nên tinh thần dân tộc của nước Việt Nam mới.


Vậy là, có một từ Đảng “nói gọn, viết hoa” như hôm nay, không phải chúng ta muốn là được. Từ ngữ nào cũng có cuộc sống riêng, cũng có tính lịch sử của nó. Từ Đảng đã đi vào kho tàng Tiếng Việt như một minh chứng giản dị: Chính cuộc sống quyết định và làm nên giá trị của từ ngữ.

Đảng ta, muôn vạn công nông

Đảng ta, muôn vạn tấm lòng, niềm tin.

(Tố Hữu)

Chủ nghĩa cá nhân, hiểu đúng để chống hiệu quả


          Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương (sau đây gọi là Nghị quyết 847) đề cập đến hai thành tố quan trọng, có mối quan hệ biện chứng là 'phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ' và 'kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân' trong tình hình mới.

          Trong đó, việc chống chủ nghĩa cá nhân (CNCN) được xác định là vấn đề cần kíp, có tính thời sự đối với mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, cá nhân. Vậy CNCN cần được hiểu như thế nào cho đúng?

          Vấn đề chống CNCN được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo từ rất sớm. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “CNCN là việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích riêng của mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể. Miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy...”. Người đưa ra kết luận: "CNCN đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: Quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí... Nó trói buộc, nó bịt mắt những nạn nhân của nó, những người này bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng ham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân".

          Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, CNCN không chỉ làm hỏng cán bộ, mà còn là nguyên nhân dẫn đến suy thoái, biến chất, giảm năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, bởi vì, “do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân”. Do đó, Người khẳng định “thắng lợi của chủ nghĩa xã hội (CNXH) không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ CNCN”. Và chỉ khi giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống CNCN, mới xây dựng được cơ sở vật chất của CNXH, không thể đi lên CNXH khi CNCN vẫn còn tồn tại và phát triển.

          Quán triệt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí lãnh đạo Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị qua các thế hệ, các thời kỳ cách mạng đều thể hiện rõ quan điểm, thái độ đấu tranh, đẩy lùi CNCN trong Quân đội ta. Trong đó, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị là người có nhiều tư tưởng, quan điểm toàn diện và cụ thể về CNCN và chống CNCN. Đồng chí đã làm rõ nguồn gốc, hoàn cảnh phát sinh CNCN trong Đảng và trong quân đội; biểu hiện của CNCN, hình thái và sự phát triển của nó; phương hướng khắc phục CNCN. Theo Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, CNCN là sản phẩm của chế độ tư hữu và chủ yếu là của giai cấp bóc lột; đồng thời biểu hiện của CNCN là vấn đề tham ô, lãng phí, công thần, kiêu ngạo, địa vị, đòi hỏi hưởng thụ...

          Từ những quan điểm trên cho thấy, Nghị quyết 847 của Quân ủy Trung ương xác định việc chống CNCN trong điều kiện hiện nay là hoàn toàn đúng đắn, có tính kế thừa, phát triển, đáp ứng yêu cầu thực tiễn mới. Thể hiện rõ tư tưởng đấu tranh triệt để, vì chống được CNCN tất yếu sẽ ngăn ngừa được tất cả các căn bệnh nảy sinh, phòng, chống hiệu quả mọi biểu hiện suy thoái, biến chất về đạo đức, lối sống và các dấu hiệu của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Qua đó, xây dựng con người, tổ chức trong quân đội ngày càng vững mạnh, hoàn thành thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây cũng chính là giải pháp căn cơ, gốc rễ, tạo nền tảng cho việc phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ.

          Thực tế cho thấy, cán bộ, chiến sĩ khi đối mặt với kẻ thù ngoài mặt trận, nơi chiến tuyến, tuy gian khổ, hy sinh, mất mát, song vẫn có thể giành thắng lợi, còn đối mặt với CNCN vô cùng phức tạp trong nhận diện, khó khăn và đau đớn trong đấu tranh, vì đó là những thói hư, tật xấu tồn tại ngay trong chính bản thân mỗi người, trong đồng đội, đồng chí, anh em, cấp trên-cấp dưới... ở chính tập thể, cơ quan, đơn vị mình.

          Những năm gần đây, một số cán bộ, đảng viên trong quân đội đã ít nhiều có biểu hiện sa vào CNCN. Tuy số lượng nhỏ lẻ, chỉ là những “con sâu bỏ rầu nồi canh” nhưng gây nhiều ảnh hưởng đến hình ảnh, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ; gây mất đoàn kết và làm giảm sức mạnh của tổ chức đảng trong Đảng bộ Quân đội. Trước thực tế đó, với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, Nghị quyết 847 chỉ rõ: “Còn một số cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức chưa sâu sắc, trách nhiệm trong giữ gìn, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ chưa cao; thiếu tự giác, gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí, sa vào CNCN, sống thực dụng, băn khoăn dao động trước diễn biến phức tạp của tình hình, phát ngôn thiếu tính xây dựng, nể nang né tránh, ngại va chạm, làm việc cầm chừng, tính toán thiệt hơn, xa rời thực tiễn; trong đó có cả cán bộ cao cấp, cán bộ chủ trì cơ quan, đơn vị lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm kỷ luật, pháp luật, quy định về những điều đảng viên không được làm, gây thiệt hại về tài sản của Nhà nước, quân đội, làm ảnh hưởng đến truyền thống, uy tín của quân đội, phẩm chất và hình ảnh cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ”. Trong khi đó, yêu cầu của việc gìn giữ, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong điều kiện mới ngày càng cao. Mặt khác, trước tác động của mặt trái kinh tế thị trường; trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch ngày càng quyết liệt hòng kích hoạt, làm nảy nở CNCN trong quân đội, thì yêu cầu đẩy mạnh cuộc chiến chống CNCN trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

          Để giúp các cấp ủy, đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ Quân đội dễ nhận diện, đấu tranh với CNCN, Nghị quyết 847 chỉ rõ 10 dấu hiệu của CNCN. Trong đó, với từng biểu hiện, Quân ủy Trung ương còn “chỉ mặt, điểm tên” các dấu hiệu cụ thể trên thực tế. Đây sẽ là căn cứ quan trọng để các cấp ủy, cơ quan, đơn vị nhận biết, tập trung phòng ngừa, ngăn chặn, đẩy lùi CNCN.

          Tất nhiên, việc nhận diện, phát hiện các biểu hiệu của CNCN là công việc rất khó, do đó, cần sự vào cuộc của tất cả các cấp, các cơ quan chức năng liên quan. Ở mỗi cấp cần quan tâm chọn đúng các dấu hiệu cụ thể đang nảy sinh ở cơ quan, đơn vị mình để vận dụng, cụ thể hóa, đưa Nghị quyết 847 vào cuộc sống. Phần việc này cần làm thận trọng, tránh nóng vội; cũng tuyệt đối không áp dụng một cách rập khuôn, máy móc, không sát với thực tiễn cơ sở.

          Một vấn đề quan trọng nữa là cần thống nhất nhận thức, phân biệt rạch ròi giữa lợi ích cá nhân với CNCN. Chúng ta luôn nhất quán chủ trương đề cao vai trò lợi ích chính đáng của cá nhân, coi đây là nguyên nhân quyết định chủ yếu cho sự tiến bộ, phát triển của mỗi quân nhân; là động lực cho mọi sự nỗ lực, cống hiến của cá nhân, góp phần xây dựng quân đội và đất nước; bởi lẽ, lợi ích chính đáng của cá nhân vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng Việt Nam. Vì vậy, cuộc đấu tranh chống CNCN trong Đảng là tất yếu khách quan, rất quan trọng, nhưng đấu tranh chống CNCN hoàn toàn không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”. Chống CNCN để bảo đảm cho lợi ích cá nhân được công bằng và ngày càng được bảo đảm tốt hơn. Lợi ích chính đáng của cá nhân là bộ phận cấu thành hài hòa trong lợi ích của tập thể, của xã hội.

          Quán triệt Nghị quyết 847, chúng ta càng thấm thía lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “CNCN là một kẻ địch hung ác của CNXH. Người cách mạng phải tiêu diệt nó” và những phân tích của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh lúc sinh thời rằng: Cuộc đấu tranh giữa CNCN và chủ nghĩa tập thể luôn diễn ra hằng ngày, hằng giờ. CNCN tuy rất nguy hiểm và ngoan cố, nhưng nó kỵ chủ nghĩa tập thể như lửa kỵ nước. Chỉ cần mỗi cán bộ, đảng viên có dũng khí đứng lên phất cao ngọn cờ chủ nghĩa tập thể, nói nhiều về chủ nghĩa tập thể, nghĩ nhiều đến chủ nghĩa tập thể, gây một phong trào làm việc nhiều cho tập thể, tổ chức đông đảo quần chúng hành động theo khẩu hiệu “ta vì mọi người, mọi người vì ta”, nhất định chúng ta sẽ thắng lợi.

Nuôi dưỡng văn hóa Bộ đội Cụ Hồ: Chủ nghĩa cá nhân, hiểu đúng để chống hiệu quả

 

Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương (sau đây gọi là Nghị quyết 847) đề cập đến hai thành tố quan trọng, có mối quan hệ biện chứng là “phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ” và “kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân” trong tình hình mới.

Trong đó, việc chống chủ nghĩa cá nhân (CNCN) được xác định là vấn đề cần kíp, có tính thời sự đối với mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, cá nhân. Vậy CNCN cần được hiểu như thế nào cho đúng?

Vấn đề chống CNCN được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo từ rất sớm. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “CNCN là việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích riêng của mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể. Miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy...”. Người đưa ra kết luận: "CNCN đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: Quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí... Nó trói buộc, nó bịt mắt những nạn nhân của nó, những người này bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng ham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân".

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, CNCN không chỉ làm hỏng cán bộ, mà còn là nguyên nhân dẫn đến suy thoái, biến chất, giảm năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, bởi vì, “do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân”. Do đó, Người khẳng định “thắng lợi của chủ nghĩa xã hội (CNXH) không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ CNCN”. Và chỉ khi giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống CNCN, mới xây dựng được cơ sở vật chất của CNXH, không thể đi lên CNXH khi CNCN vẫn còn tồn tại và phát triển.

Nuôi dưỡng văn hóa Bộ đội Cụ Hồ: Chủ nghĩa cá nhân, hiểu đúng để chống hiệu quả
Cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Ga Ry (Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Nam) giúp nhân dân huyện Tây Giang dựng lại nhà sau bão số 9. Ảnh: PHAN TIẾN DŨNG.

Quán triệt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí lãnh đạo Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị qua các thế hệ, các thời kỳ cách mạng đều thể hiện rõ quan điểm, thái độ đấu tranh, đẩy lùi CNCN trong Quân đội ta. Trong đó, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị là người có nhiều tư tưởng, quan điểm toàn diện và cụ thể về CNCN và chống CNCN. Đồng chí đã làm rõ nguồn gốc, hoàn cảnh phát sinh CNCN trong Đảng và trong quân đội; biểu hiện của CNCN, hình thái và sự phát triển của nó; phương hướng khắc phục CNCN. Theo Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, CNCN là sản phẩm của chế độ tư hữu và chủ yếu là của giai cấp bóc lột; đồng thời biểu hiện của CNCN là vấn đề tham ô, lãng phí, công thần, kiêu ngạo, địa vị, đòi hỏi hưởng thụ...

Từ những quan điểm trên cho thấy, Nghị quyết 847 của Quân ủy Trung ương xác định việc chống CNCN trong điều kiện hiện nay là hoàn toàn đúng đắn, có tính kế thừa, phát triển, đáp ứng yêu cầu thực tiễn mới. Thể hiện rõ tư tưởng đấu tranh triệt để, vì chống được CNCN tất yếu sẽ ngăn ngừa được tất cả các căn bệnh nảy sinh, phòng, chống hiệu quả mọi biểu hiện suy thoái, biến chất về đạo đức, lối sống và các dấu hiệu của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Qua đó, xây dựng con người, tổ chức trong quân đội ngày càng vững mạnh, hoàn thành thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây cũng chính là giải pháp căn cơ, gốc rễ, tạo nền tảng cho việc phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ.

Thực tế cho thấy, cán bộ, chiến sĩ khi đối mặt với kẻ thù ngoài mặt trận, nơi chiến tuyến, tuy gian khổ, hy sinh, mất mát, song vẫn có thể giành thắng lợi, còn đối mặt với CNCN vô cùng phức tạp trong nhận diện, khó khăn và đau đớn trong đấu tranh, vì đó là những thói hư, tật xấu tồn tại ngay trong chính bản thân mỗi người, trong đồng đội, đồng chí, anh em, cấp trên-cấp dưới... ở chính tập thể, cơ quan, đơn vị mình.

 Những năm gần đây, một số cán bộ, đảng viên trong quân đội đã ít nhiều có biểu hiện sa vào CNCN. Tuy số lượng nhỏ lẻ, chỉ là những “con sâu bỏ rầu nồi canh” nhưng gây nhiều ảnh hưởng đến hình ảnh, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ; gây mất đoàn kết và làm giảm sức mạnh của tổ chức đảng trong Đảng bộ Quân đội. Trước thực tế đó, với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, Nghị quyết 847 chỉ rõ: “Còn một số cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức chưa sâu sắc, trách nhiệm trong giữ gìn, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ chưa cao; thiếu tự giác, gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí, sa vào CNCN, sống thực dụng, băn khoăn dao động trước diễn biến phức tạp của tình hình, phát ngôn thiếu tính xây dựng, nể nang né tránh, ngại va chạm, làm việc cầm chừng, tính toán thiệt hơn, xa rời thực tiễn; trong đó có cả cán bộ cao cấp, cán bộ chủ trì cơ quan, đơn vị lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm kỷ luật, pháp luật, quy định về những điều đảng viên không được làm, gây thiệt hại về tài sản của Nhà nước, quân đội, làm ảnh hưởng đến truyền thống, uy tín của quân đội, phẩm chất và hình ảnh cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ”. Trong khi đó, yêu cầu của việc gìn giữ, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong điều kiện mới ngày càng cao. Mặt khác, trước tác động của mặt trái kinh tế thị trường; trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch ngày càng quyết liệt hòng kích hoạt, làm nảy nở CNCN trong quân đội, thì yêu cầu đẩy mạnh cuộc chiến chống CNCN trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

Để giúp các cấp ủy, đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ Quân đội dễ nhận diện, đấu tranh với CNCN, Nghị quyết 847 chỉ rõ 10 dấu hiệu của CNCN. Trong đó, với từng biểu hiện, Quân ủy Trung ương còn “chỉ mặt, điểm tên” các dấu hiệu cụ thể trên thực tế. Đây sẽ là căn cứ quan trọng để các cấp ủy, cơ quan, đơn vị nhận biết, tập trung phòng ngừa, ngăn chặn, đẩy lùi CNCN.

Tất nhiên, việc nhận diện, phát hiện các biểu hiệu của CNCN là công việc rất khó, do đó, cần sự vào cuộc của tất cả các cấp, các cơ quan chức năng liên quan. Ở mỗi cấp cần quan tâm chọn đúng các dấu hiệu cụ thể đang nảy sinh ở cơ quan, đơn vị mình để vận dụng, cụ thể hóa, đưa Nghị quyết 847 vào cuộc sống. Phần việc này cần làm thận trọng, tránh nóng vội; cũng tuyệt đối không áp dụng một cách rập khuôn, máy móc, không sát với thực tiễn cơ sở.

Một vấn đề quan trọng nữa là cần thống nhất nhận thức, phân biệt rạch ròi giữa lợi ích cá nhân với CNCN. Chúng ta luôn nhất quán chủ trương đề cao vai trò lợi ích chính đáng của cá nhân, coi đây là nguyên nhân quyết định chủ yếu cho sự tiến bộ, phát triển của mỗi quân nhân; là động lực cho mọi sự nỗ lực, cống hiến của cá nhân, góp phần xây dựng quân đội và đất nước; bởi lẽ, lợi ích chính đáng của cá nhân vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng Việt Nam. Vì vậy, cuộc đấu tranh chống CNCN trong Đảng là tất yếu khách quan, rất quan trọng, nhưng đấu tranh chống CNCN hoàn toàn không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”. Chống CNCN để  bảo đảm cho lợi ích cá nhân được công bằng và ngày càng được bảo đảm tốt hơn. Lợi ích chính đáng của cá nhân là bộ phận cấu thành hài hòa trong lợi ích của tập thể, của xã hội.

Quán triệt Nghị quyết 847, chúng ta càng thấm thía lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “CNCN là một kẻ địch hung ác của CNXH. Người cách mạng phải tiêu diệt nó” và những phân tích của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh lúc sinh thời rằng: Cuộc đấu tranh giữa CNCN và chủ nghĩa tập thể luôn diễn ra hằng ngày, hằng giờ. CNCN tuy rất nguy hiểm và ngoan cố, nhưng nó kỵ chủ nghĩa tập thể như lửa kỵ nước. Chỉ cần mỗi cán bộ, đảng viên có dũng khí đứng lên phất cao ngọn cờ chủ nghĩa tập thể, nói nhiều về chủ nghĩa tập thể, nghĩ nhiều đến chủ nghĩa tập thể, gây một phong trào làm việc nhiều cho tập thể, tổ chức đông đảo quần chúng hành động theo khẩu hiệu “ta vì mọi người, mọi người vì ta”, nhất định chúng ta sẽ thắng lợi.

Xây dựng, chỉnh đốn Đảng để nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng


          Từ 95 năm trước (1927) trong tác phẩm Đường Cách mệnh, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã nêu rõ 'Cách mệnh trước hết phải có Đảng cách mệnh'. Theo đó, để Đảng thực hiện tốt trọng trách lãnh đạo sự nghiệp cách mạng thì công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải được thực hiện thường xuyên, thực chất, gắn liền với hoàn thiện hệ thống chính trị.

          Từ khi thành lập vào mùa Xuân năm 1930 và suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn chú trọng công tác xây dựng Đảng theo những nội dung mà người sáng lập Đảng đã nhấn mạnh, đó là Đảng phải có mục tiêu chính trị rõ ràng giành lại độc lập cho dân tộc, xây dựng một xã hội mới vì tự do, hạnh phúc của đồng bào; Đảng phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu và phải theo chủ nghĩa ấy; Đảng được tổ chức chặt chẽ, có kỷ luật nghiêm minh và những cán bộ trung kiên; phải giáo dục đạo đức, tư cách của người cách mệnh.... Những điều đó quyết định bản chất cách mạng và khoa học của một Đảng chân chính cách mạng.

          Quá trình lãnh đạo cách mạng cũng có lúc một bộ phận, một số đồng chí phạm sai lầm khuyết điểm (như sai lầm “tả” khuynh của Xứ ủy Trung Kỳ trong chủ trương thanh đảng 1931 đã được Trung ương phê phán và sửa chữa kịp thời. Sai lầm của một số đồng chí trong tham gia bầu cử ở Nam Kỳ 1939 đã được Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đề cập trong tác phẩm Tự chỉ trích). Điều đó đặt ra yêu cầu phải hết sức coi trọng xây dựng Đảng về mọi mặt mới bảo đảm sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng.

          Cũng như thời kỳ Đảng lãnh đạo đấu tranh giành độc lập, giành chính quyền, sau Cách mạng Tháng Tám 1945, phần đông cán bộ, đảng viên hăng hái đi đầu lãnh đạo sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, nhưng cũng có một số cán bộ nắm chính quyền hư hỏng, mắc các căn bệnh như trái phép, cậy thế, tư túng, hủ hóa, chia rẽ, kiêu ngạo. Tháng 10/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm Sửa đổi lối làm việc đề cập đầy đủ, sâu sắc những vấn đề căn bản về xây dựng Đảng. Người còn chỉ ra nhiều căn bệnh đều bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân như tham lam, lười biếng, hiếu danh, thiếu kỷ luật, hẹp hòi, địa phương, bè cánh... “Những tật bệnh đó khiến cho Đảng xệch xoạc, ý kiến lung tung, kỷ luật lỏng lẻo, công việc bê trễ. Chính sách không thi hành được triệt để. Đảng xa rời dân chúng”. Lần đầu tiên Hồ Chí Minh viết về Công việc chỉnh đốn Đảng - một việc rất cần thiết khi trong Đảng có những biểu hiện suy thoái, tiêu cực. Theo đó, phải chỉnh đốn từ tư tưởng, nhận thức chính trị, tổ chức, kỷ luật đến đạo đức, phong cách, lối sống.

          Công cuộc đổi mới từ năm 1986 do Đảng khởi xướng và lãnh đạo trải qua hơn 35 năm đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Nguyên nhân hàng đầu là do sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng. Sự lãnh đạo đúng đắn lại phụ thuộc kết quả của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Suốt quá trình đổi mới, xây dựng, chỉnh đốn Đảng có nhiều thành công, kết quả rõ rệt. Đại hội XIII của Đảng cho rằng kết quả của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhờ “Kết hợp chặt chẽ, hài hòa, hiệu quả giữa xây dựng và chỉnh đốn Đảng, trong đó xây dựng Đảng được tập trung đẩy mạnh, chỉnh đốn Đảng được chú trọng, tăng cường. Đề cao trách nhiệm của cấp ủy, sự gương mẫu của cấp trên và người đứng đầu các cấp; phát huy dân chủ; tăng cường đoàn kết, thống nhất trong Đảng; huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân. Nhiều vấn đề khó, phức tạp đặt ra và thực hiện từ nhiều năm trước nhưng hiệu quả thấp, đến nay đã đạt được kết quả quan trọng”.

          Từ kết quả đã đạt được, Đại hội XIII đã làm rõ một số kinh nghiệm trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đó là, nâng cao bản lĩnh chính trị, kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện nghiêm các nguyên tắc của Đảng; phải đặc biệt coi trọng sự đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng; thấm nhuần sâu sắc quan điểm công tác cán bộ là nhiệm vụ “then chốt” của công tác xây dựng Đảng; xây dựng Đảng phải gắn kết chặt chẽ với lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. “Kết hợp chặt chẽ, đồng bộ, toàn diện, hiệu quả giữa xây dựng và chỉnh đốn Đảng, trong đó xây dựng Đảng là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, cấp bách; đồng thời, xác định đúng trọng tâm, trọng điểm, khâu đột phá”. Trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải có quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, cách làm bài bản, dân chủ, chắc chắn và có bước đi phù hợp.

          Những kết quả và kinh nghiệm xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong công cuộc đổi mới, nhất là trong nhiệm kỳ khóa XII, là cơ sở và động lực rất quan trọng để thực hiện phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp của công tác xây dựng Đảng nhiệm kỳ Đại hội XIII, với phương hướng căn bản là: “Tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước”.

          Văn kiện Đại hội XIII đã xác định đầy đủ, có hệ thống nội dung xây dựng Đảng, cần được nghiên cứu kỹ và nghiêm túc thực hiện. Cần nhấn mạnh những điểm cơ bản và cốt yếu.

          Cốt lõi của nhiệm vụ xây dựng Đảng về chính trị là kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng vận dụng và phát triển sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (CNXH), kiên định đường lối đổi mới. Đấu tranh, phản bác có hiệu quả quan điểm sai trái của các thế lực thù địch. Phát huy tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Chống chủ nghĩa cơ hội, xét lại, giáo điều, bảo thủ, bè phái. Đổi mới và nâng cao chất lượng hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng. Nâng cao năng lực thể chế hóa, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng. Khắc phục những yếu kém, trì trệ, tình trạng né tránh trách nhiệm trong lãnh đạo, điều hành.

          Xây dựng Đảng về tư tưởng. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức công tác tư tưởng, bảo đảm tính đảng, tính khoa học, tính chiến đấu, tính thực tiễn, kịp thời và hiệu quả; nâng cao chất lượng tuyên truyền, giáo dục, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Công tác tư tưởng phải kết hợp giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài, làm cho tư tưởng tiến bộ, tích cực thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, có tác dụng uốn nắn những biểu hiện lệch lạc, cải tạo những tư tưởng lạc hậu, đẩy lùi những sai trái. Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Tăng cường giáo dục truyền thống vẻ vang của Đảng, học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thiết thực, có hiệu quả. Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Nâng tầm tư duy lý luận của Đảng, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn.

          Tập trung xây dựng Đảng về đạo đức. Kiên quyết, kiên trì thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII, XIII, triển khai đồng bộ, quyết liệt những kết luận của Hội nghị xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn quốc (9/12/2021) và chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị này. “Nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các chuẩn mực đạo đức cách mạng phù hợp với điều kiện mới và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc để làm cơ sở cho cán bộ, đảng viên tự giác tu dưỡng, rèn luyện, tự điều chỉnh hành vi ứng xử trong công việc hằng ngày. Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thấy rõ bổn phận và trách nhiệm của mình, luôn luôn vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức và không bị cám dỗ bởi vật chất, tiền tài, danh vọng; đấu tranh có hiệu quả với mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, bệnh quan liêu, cơ hội, cục bộ, bè phái, mất đoàn kết nội bộ”.

          Chú trọng xây dựng Đảng về tổ chức và cán bộ. Điểm mới của Đại hội XIII là Đảng nhấn mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn liền với xây dựng hoàn thiện hệ thống chính trị. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, để nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, cần thiết phải xây dựng cả hệ thống chính trị vững mạnh. Đảng mạnh cần phải có Nhà nước mạnh, Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội vững mạnh và ngược lại. Cần phải xử lý tốt hơn mối quan hệ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Đại hội XIII nhấn mạnh nhiệm vụ: Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị.

          Là Đảng cầm quyền, vì vậy yêu cầu khách quan đặt ra ở mọi thời kỳ cách mạng là Đảng phải thật sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, lý luận, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Đảng vững mạnh mới hoàn thành sứ mệnh lịch sử của Đảng cầm quyền giải phóng dân tộc, bảo vệ nền độc lập và xây dựng thành công CNXH vì đất nước hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc. Đảng cầm quyền bằng Nhà nước và cả hệ thống chính trị, nên Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội phải vững mạnh thật sự.

          Trong công cuộc đổi mới, Đảng đã đổi mới tư duy, chuyển từ xây dựng Nhà nước chuyên chính vô sản (trước đổi mới) sang xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Đó cũng là một trong 8 đặc trưng của mô hình CNXH Việt Nam do Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đề ra. Khái niệm Hệ thống chính trị thay cho khái niệm Hệ thống chuyên chính vô sản (1989). Đó là một nội dung căn bản trong đổi mới chính trị phù hợp với sự nghiệp đổi mới toàn diện, thay đổi cơ chế quản lý và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, hội nhập quốc tế.

          Đảng tập trung lãnh đạo xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN, từng bước làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn phù hợp với Việt Nam. Đã định hình những đặc trưng của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Đó là Nhà nước do nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Pháp luật chi phối, điều tiết mọi quan hệ, hoạt động của đời sống xã hội. Mọi người tuân thủ pháp luật, sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Nhà nước pháp quyền Việt Nam tôn trọng và tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Nhà nước pháp quyền Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

          Đại hội XIII của Đảng khẳng định rõ quan điểm và nhiệm vụ xây dựng Nhà nước. “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị. Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước. Xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở các nguyên tắc pháp quyền, bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước. Xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp làm trọng tâm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển nhanh, bền vững”. Có chiến lược xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đến năm 2030, định hướng năm 2045.

          Trong bộ máy nhà nước, Quốc hội là “cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất”. Đổi mới phương thức, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động, phát huy dân chủ, pháp quyền, tăng tính chuyên nghiệp trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội “trong thực hiện chức năng lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao”. Nâng cao chất lượng quy trình lập pháp, tập trung xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN; tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Gắn kết giám sát của Quốc hội với cơ chế giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Tăng hợp lý số đại biểu hoạt động chuyên trách và nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội.

          Xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, pháp quyền chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai, minh bạch. “Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả trên cơ sở tổ chức hợp lý các bộ đa ngành, đa lĩnh vực”. Phát huy vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ “là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thực hiện quyền lập pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội”. Tập trung quản lý vĩ mô, xây dựng thể chế, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, năng lực dự báo. Xây dựng chính sách dựa trên luận cứ khoa học và thực tiễn trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền. Nâng cao chất lượng dịch vụ công.

          Hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN cần phải “xây dựng nền tư pháp Việt Nam chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Hoạt động tư pháp phải có trọng trách bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của tổ chức, cá nhân”. Nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động và uy tín của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án và các cơ quan tham gia vào quá trình tố tụng tư pháp.

          Tiếp tục hoàn thiện tổ chức chính quyền địa phương phù hợp với địa bàn nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính, kinh tế đặc thù theo luật định. “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước”.

Trong hệ thống chính trị, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội có vai trò rất quan trọng. Đại hội XIII của Đảng nêu rõ chủ trương: “Tăng cường vai trò nòng cốt chính trị, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tập hợp, vận động nhân dân đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”; thực hành dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội. Đổi mới tổ chức bộ máy, nội dung và phương thức hoạt động, nâng cao trách nhiệm của đội ngũ cán bộ Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội hướng mạnh về cơ sở, địa bàn dân cư. Thực hiện tốt vai trò giám sát, phản biện xã hội, đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên, tích cực tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, tăng cường đối ngoại nhân dân. Xây dựng thế trận lòng dân, phát huy sức mạnh đoàn kết, đồng thuận của nhân dân trong và ngoài nước để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

          Trong lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng đã xử lý tốt các mối quan hệ lớn, trong đó có mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Lấy nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, trong xây dựng Đảng xác định công tác cán bộ là then chốt. Công tác cán bộ không chỉ là then chốt trong xây dựng Đảng mà cả với toàn bộ hệ thống chính trị. Đại hội XIII nhấn mạnh: “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Hoàn thiện thể chế quy định về công tác cán bộ, tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí, cơ chế đánh giá cán bộ. Xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hàng động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu, là hạt nhân đoàn kết”.

          Đảng đánh giá đúng cán bộ, quy hoạch và đào tạo, bồi dưỡng có bài bản, giáo dục và rèn luyện thường xuyên đồng thời bảo vệ, khuyến khích những cán bộ giỏi, tốt. Bác Hồ căn dặn phải đào tạo, chăm sóc cán bộ như người làm vườn vun trồng những cây quý. Trung ương Đảng vừa ban hành Quy định mới về những điều đảng viên không được làm. Đó không chỉ là kỷ luật cần thiết của Đảng mà còn ngăn chặn, phòng ngừa sai phạm của đảng viên, bảo vệ cán bộ. Trung ương cũng quy định về vấn đề từ chức, miễn nhiệm với cán bộ. Đó là sự lựa chọn, sàng lọc để ngày càng có nhiều cán bộ xứng đáng với sự tin cậy của Đảng và nhân dân.

          Đại hội XIII đã lưu ý về mối quan hệ giữa xây dựng và chỉnh đốn Đảng, giữa xây dựng và bảo vệ Đảng. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; bảo vệ Cương lĩnh, đường lối và lý tưởng, mục tiêu cao cả của Đảng là độc lập dân tộc và CNXH; bảo vệ những giá trị văn hóa, đạo đức cách mạng của Đảng; bảo vệ tổ chức đảng và những cán bộ ưu tú của Đảng; chú trọng bảo vệ chính trị nội bộ. Ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, là hết sức quan trọng trong chỉnh đốn và bảo vệ Đảng.

          Xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn liền với xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính trị đặt ra nhiệm vụ “tiếp tục hoàn thiện mô hình tổ chức của hệ thống chính trị, xác định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị”. Đại hội XIII còn lưu ý việc tổng kết mô hình thí điểm ở các địa phương sáp nhập một số cơ quan Đảng, chính quyền và Mặt trận, vấn đề sắp xếp tổ chức, bớt tổ chức trung gian, tinh giản biên chế. “Hoàn thiện thể chế, bảo đảm đồng bộ, liên thông giữa pháp luật của Nhà nước với quy định của Đảng về tổ chức bộ máy, biên chế của hệ thống chính trị”.

          Với kết quả và kinh nghiệm xây dựng, chỉnh đốn Đảng, những năm vừa qua Đảng, Nhà nước, Mặt trận, đoàn thể - hệ thống chính trị ngày càng vững mạnh, lãnh đạo, tổ chức thành công sự nghiệp đổi mới, xây dựng CNXH với những thắng lợi to lớn có ý nghĩa lịch sử - “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Điều đó bảo đảm cho đất nước vượt qua mọi khó khăn, thách thức, kể cả ảnh hưởng nặng nề do đại dịch COVID-19 gây ra, đưa nước ta phát triển nhanh, bền vững, phấn đấu đến năm 2025 “là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp”; đến năm 2030 “là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao” và đến năm 2045 “trở thành nước phát triển, thu nhập cao”.