Thứ Ba, 8 tháng 2, 2022

NÂNG CAO CẢNH GIÁC TRƯỚC ÂM MƯU “PHI CHÍNH TRỊ HÓA” QUÂN ĐỘI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH HIỆN NAY

 

NÂNG CAO CẢNH GIÁC TRƯỚC ÂM MƯU “PHI CHÍNH TRỊ HÓA” QUÂN ĐỘI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH HIỆN NAY

          “Phi chính trị hóa” Quân đội là một âm mưu, thủ đoạn hết sức nham hiểm trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam hiện nay, với mục đích tách Quân đội nhân dân Việt Nam ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm cho Quân đội mất phương hướng chính trị, không còn là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tin cậy của Đảng và Nhà nước. Qua đó, chúng dễ bề chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Bởi vậy, đấu tranh làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội là một nhiệm vụ cấp thiết hiện nay.

          … “Trước những biến phức tạp của tình hình thế giới, khu vực hiện nay; các nước nước tăng cường điều chỉnh chiến lược theo hướng “hợp tác, cạnh tranh, thỏa hiệp”. Khối ASEAN có sự phân hóa trong giải quyết một số vấn đề; tranh chấp chủ quyền Biển Đông. Nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu của Quân đội đòi hỏi ngày càng cao. Đặc biệt là vấn đề môi trường sinh thái, lợi ích quốc gia, dân tộc đang có những diễn biến phức tạp, tiền ẩn nguy cơ khó lường… “Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng những khó khăn hạn chế của ta về kinh tế, trật tự an toàn xã hội, thiên tai, ô nhiễm môi trường biển tại khu vực Miền Trung, lợi dụng sự bùng phát của dịch Covid, chúng đẩy mạnh chống phá, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cán bộ đảng viên và nhân dân, “phi chính trị hóa” Quân đội…” để thực hiện mục đích của mình mà vấn đề đầu tiên là tìm mọi cách xóa nhòa bản chất giai cấp, tính chất chính trị của quân đội, muốn quân đội đứng ngoài cuộc đấu tranh chính trị của Đảng. Chúng ra sức tìm mọi cách tuyên truyền, phủ nhận học thuyết Mác -Lê-nin về giai cấp và đấu tranh giai cấp; xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh về quân sự, an ninh; đường lối, quan điểm quân sự của Đảng; phát tán tài liệu, tung ra các luận điệu xuyên tạc bản chất, truyền thống của Quân đội, và cho rằng Quân đội “không cần đặt dưới sự lãnh đạo của đảng phái nào cả”, “không cần trung thành với Đảng Cộng sản”, v.v. Bằng nhiều giọng điệu khác nhau, chúng còn bịa đặt rằng: “do phải trung thành với Đảng Cộng sản, nên Quân đội chỉ tập trung lo chống “diễn biến hòa bình”, mà lơ là nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc”.

Thực chất mục tiêu của chúng là nhằm làm lu mờ bản chất giai cấp, chức năng chính trị, xã hội của Quân đội; phủ nhận nguyên tắc Đảng lãnh đạo “tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” đối với Quân đội, hướng tới làm tê liệt, vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội. Bên cạnh đó, lợi dụng những mâu thuẫn trong thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước để chúng xuyên tạc các sự kiện lịch sử có Quân đội tham gia; thổi phồng, khoét sâu khuyết điểm của một vài cá nhân, đơn vị, những khó khăn về đời sống của Quân đội, làm cho Quân đội suy giảm uy tín trong nhân dân. Nguy hiểm hơn là chúng gây mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ, tạo nên sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, mất tính kỷ luật trong Quân đội, từ đó, làm cho Đảng và Nhà nước ta mất chỗ dựa vững chắc trong quá trình lãnh đạo, quản lý đất nước, điều đó cũng có nghĩa mở đường cho việc chuyển hóa Việt Nam theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa.

            Thuật ngữ “phi chính trị hóa” quân đội của chúng xuất hiện vào cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX. Nội dung cơ bản của luận điệu đó là: “quân đội trung lập, đứng ngoài chính trị, không chịu sự lãnh đạo, chi phối của bất cứ chính đảng, lực lượng chính trị nào; quân đội chỉ làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ lợi ích của nhân dân…”. Mới nghe, những người nhẹ dạ cả tin dễ lầm tưởng và suy nghĩ giản đơn là quân đội “đứng giữa”, không phụ thuộc vào bất kỳ ai nên hành động sẽ công tâm, khách quan, phù hợp với lợi ích của nhân dân. Nhưng khi nghiên cứu những gì diễn ra trong thực tiễn chúng ta lại càng nhận ra luận điệu phản khoa học và phản động này đối với một quân đội cách mạng.

          Thực tế những năm 90 của thế kỷ XX, các thế lực thù địch đã từng thành công với âm mưu, thủ đoạn này. Đó là làm cho Quân đội Liên Xô và các nước Đông Âu - một lực lượng hùng mạnh, trung thành với mục tiêu, lý tưởng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động đã bị “phi chính trị hóa”, tự xóa bỏ nguyên tắc xây dựng quân đội về chính trị, từ bỏ cơ chế Đảng Cộng sản lãnh đạo quân đội, không còn là lực lượng chính trị, công cụ bạo lực sắc bén, tin cậy của Đảng Cộng sản và Nhà nước. Vì thế, khi đất nước Xô-Viết và các nước Đông Âu xảy ra biến cố chính trị, Quân đội đã đứng ngoài cuộc, chế độ xã hội chủ nghĩa sụp đổ. 

Rõ ràng đây là những luận điệu sai trái, những âm mưu, hành vi, thủ đoạn hết sức thâm độc, nguy hiểm của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam và với Quân đội ta.

Trước hết, cần khẳng định rằng, trên thế giới không có và không thể có một quân đội nào “trung lập về chính trị” hay “đứng ngoài chính trị”. Lịch sử nhân loại chứng minh, mọi quốc gia và ở mọi thời điểm, sự xuất hiện của quân đội luôn gắn liền với chính trị, sự ra đời của nhà nước và chiến tranh. Về bản chất, quân đội bao giờ cũng là công cụ bạo lực của một giai cấp, nhà nước và do nhà nước, giai cấp đó thành lập, nuôi dưỡng, sử dụng để tiến hành đấu tranh vũ trang, thực hiện mục đích chính trị của giai cấp, nhà nước đã tổ chức và nuôi dưỡng nó. Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam, chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, lại được trải qua thực tiễn đấu tranh cách mạng, bảo vệ Tổ quốc, nên luôn mang trong mình bản chất giai cấp công nhân, đồng thời có tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc. Trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, Quân đội nhân dân luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự thống nhất quản lý của Nhà nước. Đó là vấn đề mang tính nguyên tắc, là yêu cầu khách quan. Qua đó, bản chất giai cấp của Quân đội không những được bồi đắp thêm mà còn khẳng định hơn chức năng nhiệm vụ của mình. Vì vậy, để xây dựng Quân đội theo hướng “Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, hơn lúc nào hết, chúng ta phải đề cao cảnh giác, tích cực và chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của chúng; tập trung xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu, hoàn thành tốt nhiệm vụ trong mọi tình huống. Không ngộ nhận, ngăn chặn kịp thời những biểu hiện suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong các cơ quan, đơn vị. Luôn giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội. Tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, chú trọng khắc phục khuyết điểm theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chính đốn Đảng. Nghị quyết 513-NQ/ĐUQSTW của Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương) về “Tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam”. Tiếp tục đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao bản lĩnh chính trị, xây dựng ý chí quyết tâm, rèn luyện và trau dồi phẩm chất đạo đức cách mạng cho mọi quân nhân, tạo sự “miễn dịch” và tăng cường sức “đề kháng” để ngăn chặn mọi sự xâm nhập và phá hoại của các luận điệu thù địch, nhất là luận điệu: quân đội “trung lập về chính trị”. Đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc, Nhà nước và nhân dân; có đủ sức mạnh hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Đẩy mạnh hơn nữa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện thắng lợi Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”.

          Đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trước hết và trực tiếp nhất là Quân đội nhân dân Việt nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng mà trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và cấp ủy, chỉ huy, chính ủy, chính trị viên các cấp, với trách nhiệm chính trị và sự đoàn kết, thống nhất của mọi cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân, chúng ta tự hào và tin tưởng rằng, Quân đội sẽ ngày càng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu không ngừng được nâng cao, hoàn thành tốt nhiệm vụ giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và Hội nhập Quốc tế./.

ĐẤU TRANH BẢO VỆ ĐƯỜNG LỐI, QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG – NHIỆM VỤ CHÍNH TRỊ QUAN TRỌNG CỦA QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

 

ĐẤU TRANH BẢO VỆ ĐƯỜNG LỐI, QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG – NHIỆM VỤ CHÍNH TRỊ QUAN TRỌNG CỦA QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

                                                     

           Đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng là một nội dung quan trọng của công tác tư tưởng trong quân đội; cùng với các mặt khác của công tác tư tưởng góp phần bồi dưỡng bản lĩnh chính trị, phẩm chất « bộ đội cụ Hồ », xây dựng phẩm chất đạo đức cách mạng cho cán bộ, chiến sỹ trong quân đội, bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, tạo nên sự thống nhất trong toàn quân về tư tưởng và hành động.

Nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, trong thời gian qua, cấp uỷ, lãnh đạo, chỉ huy các cấp trong quân đội luôn coi trọng, lãnh đạo, chỉ đạo tăng cường đấu tranh chống lại các luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, góp phần xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch vững mạnh, quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu; khẳng định và bảo vệ đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, giữ gìn, củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, trong quân đội và sự đồng thuận trong xã hội. Song, đứng trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, khu vực và trong nước, đặc biệt là sự chống phá quyết liệt bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng chính trị đối với cách mạng Việt Nam nói chung và đối với quân đội nói riêng, lợi dụng những sơ hở, yếu kém trong quá trình thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta để bóp méo, thổi phồng, bịa đặt, kích động các phần tử xấu chống đối lại Đảng, Nhà nước, đặc biệt là trong các dịp tổ chức các sự kiện lớn của đất nước, của Quân đội, chuẩn bị đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII...các thế lực thù địch đưa ra các quan điểm đối nghịch nhằm phủ nhận nền tảng tư tưởng, quan điểm đường lối và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, đòi “phi chính trị hóa” quân đội. Thực chất, các quan điểm phản động này nhằm tuyên truyền cho tư tưởng đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, lôi kéo quân đội xa rời hệ tư tưởng XHCN và lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm cho quân đội bị tha hóa, biến chất về chính trị và bị vô hiệu hóa, mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN của nước ta.

Từ tình hình trên, để nâng cao chất lượng, hiệu quả cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận của quân đội, bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng cần tập trung vào một số nội dung, biện pháp chủ yếu:

Một là, tăng c­ường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, phát huy vai trò trách nhiệm của chính ủy (chính trị viên), ng­ười chỉ huy, cơ quan chính trị, cán bộ chính trị, đội ngũ cán bộ đảng viên các cấp.

Hai là, tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức, ph­ương pháp, ph­ương tiện tiến hành công tác t­ư tư­ởng trong đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng.

Ba là, nắm vững nguyên tắc, chủ động đấu tranh với những quan điểm tư tưởng sai trái, phản động, bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng.

 Bốn là, thường xuyên củng cố, kiện, toàn nâng cao năng lực của cơ quan và đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác t­ư t­ưởng.

Năm là, phát huy sức mạnh tổng hợp để nâng cao chất l­ượng, hiệu quả công tác t­ư t­ưởng trong đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng./.

 

 

Bộ Tiêu chí ứng xử trong gia đình: Vợ chồng phải chung thủy, cùng làm việc nhà và đóng góp tài chính

 

Bộ Tiêu chí ứng xử trong gia đình: Vợ chồng phải chung thủy, cùng làm việc nhà và đóng góp tài chính

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có Quyết định số 224/QĐ-BVHTTDL, ban hành bộ Tiêu chí ứng xử trong gia đình. Theo đó, vợ chồng phải chung thủy, nghĩa tình, cùng làm việc nhà và đóng góp tài chính.

Bộ Tiêu chí ứng xử trong gia đình xác định và từng bước đưa vào cuộc sống các chuẩn mực giá trị đạo đức, văn hóa con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Đồng thời củng cố ý thức pháp luật, đề cao đạo đức, lương tâm, trách nhiệm của mỗi người với bản thân, gia đình, cộng đồng, xã hội và đất nước; ngăn chặn sự xuống cấp về đạo đức trong gia đình và xã hội.

Và nâng cao nhận thức về xây dựng, giữ gìn hạnh phúc bền vững của mỗi gia đình, khơi gợi tình yêu thương, chia sẻ trách nhiệm giữa các thành viên gia đình trong xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh, làm nền tảng xây dựng cộng đồng hạnh phúc, quốc gia phồn thịnh, hạnh phúc.

Bộ tiêu chí này được phổ biến và áp dụng với mọi gia đình và các thành viên gia đình Việt Nam.

Cụ thể, tiêu chí ứng xử của vợ, chồng là chung thủy, nghĩa tình. Vợ chồng cùng nhau xây dựng hôn nhân bền vững, không vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng; yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ công việc trong gia đình, cùng có trách nhiệm nuôi dạy con, làm việc nhà, đóng góp tài chính gia đình.

Vợ chồng cũng phải tạo điều kiện giúp đỡ nhau lựa chọn nghề nghiệp, học tập, nâng cao trình độ, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, phải lắng nghe, thảo luận, cùng quyết định những vấn đề chung của gia đình, hòa nhã với nhau.

Tiêu chí ứng xử giữa cha mẹ với con, ông bà với các cháu là gương mẫu, yêu thương. Cha mẹ, ông bà phải làm gương tốt cho con, cháu trong cử chỉ, hành động, lời nói, có tình cảm gắn bó gần gũi với con cháu; quan tâm, nuôi dưỡng, chăm sóc, dạy bảo con cháu khi con cháu còn nhỏ, khi con, cháu không có khả năng tự nuôi sống, chăm sóc bản thân.

Ông bà, bố mẹ cũng phải có trách nhiệm trao truyền các giá trị truyền thống, kinh nghiệm sống cho con cháu, giữ gìn nền nếp, gia phong…

Còn tiêu chí ứng xử của con cái với cha mẹ, cháu với ông bà là hiếu thảo, lễ phép, yêu thương, quan tâm, chia sẻ tình cảm, nguyện vọng với cha mẹ và các thành viên trong gia đình, giữ gìn nền nếp gia đình, phụ giúp cha mẹ và các thành viên trong gia đình những công việc phù hợp với độ tuổi, giới tính.

Con cháu cũng phải có trách nhiệm thăm hỏi, chăm sóc động viên, nuôi dưỡng cha mẹ, ông bà khi cha mẹ, ông bà ốm đau, già yếu, gặp khó khăn trong cuộc sống.

Tiêu chí ứng xử của các anh, chị, em trong nhà là hòa thuận, chia sẻ, tôn trọng, bảo nhau điều hay, lẽ phải, cùng chia sẻ với nhau công việc chung trong gia đình, giúp đỡ nhau khi khó khăn, hoạn nạn.

Tới đây, các gia đình sẽ đăng ký thực hiện bộ Tiêu chí ứng xử này theo hướng dẫn của Vụ Gia đình và cơ quan chức năng, chính quyền địa phương nơi cư trú.

 

Chặng đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

 

Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội tuy không còn có sự giúp đỡ của Liên Xô và các nước XHCN như trước nhưng trong giai đoạn mới của thời đại, khi cách mạng khoa học-công nghệ và toàn cầu hóa đời sống thế giới, tất cả các nước đều ở trong mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, không một nước nào sống biệt lập mà có thể phát triển được.

Sự hợp tác kinh tế với các nước bằng nhiều hình thức sinh động trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau dưới bất kỳ hình thức nào, sẽ tranh thủ vốn, kỹ thuật, công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý, phục vụ cho việc phát triển kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Đó cũng là một khả năng thực tế mà chúng ta đã và đang cố gắng tận dụng, đưa nước ta hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới.

Như vậy, từ một nước kinh tế kém phát triển, nếu chúng ta biết tranh thủ những thời cơ, thuận lợi và biết vượt qua những thách thức, nguy cơ, chúng ta có thể “phát triển rút ngắn” lên XHCN bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa theo quan điểm của V.I.Lenin-người đã có đóng góp to lớn vào lý luận về sự “phát triển rút ngắn” và Chính sách kinh tế mới (NEP). Nó đã được thực tiễn khảo nghiệm mà ngày nay Đảng ta đang vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tiễn cách mạng nước ta.

Xuất phát từ tình hình như thế, chúng ta có thể tin tưởng vững chắc rằng Việt Nam đang trong tư thế vươn tầm, kiên định con đường đã lựa chọn, đã có đủ sức lực và trí tuệ để tiến bước cùng thế giới, tiến cùng thời đại; phấn đấu hiện thực hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

 


Thế giới có nhiều biến động nhưng khuynh hướng phát triển thời đại không thay đổi

 

Xem xét trên cơ sở lý luận và thực tiễn lịch sử xã hội loài người đều cho thấy, mỗi bước chuyển từ một hình thái kinh tế-xã hội này đến hình thái cao hơn đều diễn biến trong thời gian rất dài, có khi vài trăm năm hoặc vài nghìn năm. Vậy nên việc Đảng ta phân định giai đoạn hiện nay của thời đại “quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới” là tư duy sáng tạo, có tính khoa học xác thực và cần thiết. Theo đó, việc nghiên cứu đặc điểm và xu hướng phát triển của thời đại cũng được thực hiện trong khung khổ giai đoạn hiện nay của thời đại.

Khi đã xác định thời đại ngày nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mở đầu bằng Cách mạng XHCN Tháng Mười vĩ đại ở nước Nga, thì rõ ràng nội dung của thời đại ngày nay có hai vấn đề chính: Một là, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội; hai là, mở đầu bằng Cách mạng XHCN Tháng Mười vĩ đại ở nước Nga. Nhận định về nội dung thời đại như vậy là sự khái quát mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc, đầy tính thuyết phục.

Tuy nhiên, sau khi chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch lợi dụng sự kiện này để công kích, xuyên tạc Chủ nghĩa Mác-Lênin, bài bác những luận điểm cơ bản nhất về thời đại. Lập luận của luận điệu sai trái là, nếu nói thời đại hiện nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội thì nay chủ nghĩa xã hội sụp đổ rồi, thời đại này đương nhiên là của chủ nghĩa tư bản; rằng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản đã tàn lụi thì dù có trăm năm sau cũng không thể gượng dậy được nữa.

Cách nhìn nhận như vậy rõ ràng là thiếu kiến thức lịch sử và thiển cận. Quá trình chuyển biến và thay thế một thời đại này bằng thời đại khác không thể diễn ra nhanh chóng được mà phải qua một chặng đường dài. Quá trình đó là một xu thế tất yếu của xã hội loài người, nhưng diễn ra quanh co, phức tạp, chứa đựng nhiều biến cố, có cả bước tiến mạnh mẽ và cũng có cả những bước thụt lùi.

Sự đổ vỡ của XHCN ở Đông Âu và Liên Xô đương nhiên là tổn thất nặng nề đối với phong trào cộng sản. Sự sụp đổ ấy có nhiều nguyên nhân, nhưng nó không thuộc về bản chất của chế độ XHCN, càng không phải vì thế mà làm mất đi nội dung thời đại. Lịch sử đã cho thấy thời đại tư bản chủ nghĩa thay thế thời đại phong kiến đâu phải dễ dàng.

Quá trình chuyển biến đó diễn ra hàng mấy trăm năm, trải qua biết bao phức tạp bởi sự chống trả quyết liệt của các thế lực phong kiến. Tình hình hiện nay cũng tương tự như vậy. Thế lực đế quốc không từ một thủ đoạn nào để mưu toan chặn đứng phong trào cộng sản. Điều đó càng thể hiện tính chất phức tạp của thời đại ngày nay.

Kẻ thù tư tưởng của chúng ta công khai tuyên bố rằng, chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô đã sụp đổ thì giá trị của Cách mạng Tháng Mười Nga cũng chấm hết. Đây là kết luận vội vã và hồ đồ. Đành rằng thành quả mà Cách mạng Tháng Mười Nga đem lại đã bị đổ vỡ tại ngay quê hương của nó, nhưng đó không phải là sự chấm dứt lý tưởng cao đẹp của Cách mạng Tháng Mười Nga.

Vả chăng, lịch sử đã chứng minh, không có một cuộc cách mạng nào, kể cả các cuộc cách mạng vĩ đại nhất, lại đủ khả năng kết thúc ngay công việc xóa bỏ xã hội cũ và xây dựng xong ngay xã hội mới. Quá trình chuyển từ xã hội phong kiến lên xã hội tư bản chủ nghĩa đã phải trải qua hàng trăm năm với nhiều cuộc cách mạng tư sản: Cách mạng Anh năm 1688, các cuộc cách mạng tư sản Pháp vào các năm 1830, 1848, 1871.

Sự đột phá của Cách mạng Tháng Mười Nga làm cho chủ nghĩa tư bản bị đổ vỡ một mảng lớn. Thế giới bừng tỉnh, bung ra với sức mạnh mới của sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa xã hội làm sụp đổ hoàn toàn hệ thống thuộc địa, giải phóng xã hội, giải phóng con người.

Thành quả của Cách mạng Tháng Mười Nga đã tạo cho loài người có khả năng kìm giữ sự lộng hành của chủ nghĩa tư bản, làm thay đổi cả những yếu tố bên trong của chủ nghĩa tư bản. Những thay đổi trong chiến lược kinh tế, chính trị để thích nghi, những thay đổi trong các chính sách phúc lợi xã hội ở các nước tư bản phát triển hiện nay đều bắt nguồn từ kết quả của xã hội đấu tranh của những người lao động và sâu xa hơn là được ảnh hưởng những yếu tố tích cực của Cách mạng Tháng Mười Nga.

Từ những phân tích trên đây, chúng ta càng thống nhất với nhận định của Đảng ta rằng, tình hình cụ thể trong từng thời kỳ của thế giới có những biến động nhưng điều đó không làm thay đổi nội dung của thời đại; loài người vẫn đang trong thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới vẫn tồn tại và phát triển, có mặt sâu sắc hơn, nội dung và hình thức biểu hiện có nhiều nét mới.


Thời đại mới do Cách mạng Tháng Mười Nga khai sáng

 

Theo nghĩa chung nhất, thời đại lịch sử được hiểu là toàn bộ thời kỳ phát triển của một hình thái kinh tế-xã hội hoặc những giai đoạn chủ yếu trong hình thái ấy.

Tuyên bố tại Hội nghị đại biểu các đảng cộng sản và công nhân các nước XHCN tháng 11-1957 tại Moscow (Liên Xô) đã khẳng định: “Nội dung cơ bản của thời đại chúng ta là sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mở đầu bằng Cách mạng Tháng Mười vĩ đại ở nước Nga”.

Thực tế cho thấy, Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi và nhà nước XHCN đầu tiên ra đời năm 1917 đã đánh dấu chấm hết thời đại độc tôn của chủ nghĩa tư bản, mở ra thời đại mới, thời đại của sự quá độ lớn lao nhất trong lịch sử loài người, tiến tới một xã hội hiện thực không còn người bóc lột người, không còn nô dịch giữa người và người. Chế độ XHCN non trẻ đã vượt qua hàng loạt thử thách khắc nghiệt nhất của lịch sử, hiện diện cả ở châu Âu, châu Á, châu Mỹ, phát triển mạnh mẽ với nhiều ưu việt về chính trị, kinh tế, xã hội.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định nhận thức rõ bản chất, nội dung của thời đại cũng như cục diện và tình hình thế giới là một nhiệm vụ hết sức quan trọng. Trong khi khẳng định thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta nhận rõ tình hình phức tạp, quanh co và rất lâu dài của quá trình chuyển biến xã hội nên đã hướng vào đánh giá trực tiếp những động thái, đặc trưng, xu hướng và tính chất trong giai đoạn hiện nay của thời đại.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng năm 1991 đã nêu rõ: “Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc gay go, phức tạp của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Chủ nghĩa xã hội hiện đứng trước nhiều khó khăn, thử thách. Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co, song loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”.

Tiếp đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nêu rõ: “Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là các nước với các chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thách thức nhưng sẽ có những bước tiến mới. Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”.


Phê phán, loại bỏ luận điệu sai trái về thời đại ngày nay


Nhận thức rõ đặc điểm và xu hướng phát triển của thời đại cũng như cục diện và tình hình thế giới là một việc rất cần thiết. Hiểu biết sâu sắc về thời đại giúp ta tìm thấy xu hướng tất yếu trong vô vàn những hiện tượng phức tạp, mang tính ngẫu nhiên của đời sống xã hội, giúp ta nhìn xa trông rộng, nắm bắt khuynh hướng và quy luật phát triển của nhân loại để vừa có thể lựa chọn được hướng đi phù hợp với sự phát triển của lịch sử; lường trước được những thách thức phức tạp, tránh được những vấp váp sai lệch trên đường đi; từ đó sẽ không bị chao đảo hoặc bị cuốn trôi trước phong ba bão táp của thời cuộc và đời sống chính trị quốc tế.

V.I.Lenin từng chỉ rõ: Khi phân tích bất cứ vấn đề xã hội nào, phải đặt trong bối cảnh lịch sử nhất định, vì chỉ có dựa trên cơ sở hiểu biết những đặc điểm cơ bản của một thời đại, người ta mới có thể tính đến những đặc điểm chi tiết của nước này hay nước khác. Nói cách khác, vấn đề thời đại là căn cứ khách quan và tiền đề cần thiết để các chính đảng đi theo Chủ nghĩa Mác phân tích tình hình, xác định nhiệm vụ, phân chia trận tuyến, xây dựng chiến lược, hoạch định chính sách, triển khai thực hiện một cách khoa học.

Chính vì lẽ đó, khi bàn về những vấn đề lớn của cách mạng, trước đây cũng như hiện nay, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta bao giờ cũng bắt đầu bằng việc phân tích đặc điểm, nội dung, xu thế phát triển của thời đại và nhận định các mặt của tình hình thế giới để xác định đúng con đường đi của cách mạng Việt Nam và đề ra đường lối đối nội, đối ngoại đúng đắn, sáng tạo.

Cả trên phương diện lý luận và thực tiễn là như vậy, nhưng hiện nay, một số luận điệu sai trái cho rằng: Thật không tưởng khi nói thời đại ngày nay là quá độ lên chủ nghĩa xã hội, vì vậy, từ Đại hội XIII trở đi, không nên nói đến chủ nghĩa xã hội nữa. Cụ thể hơn, họ cho rằng làm gì có thời đại quá độ; nội hàm, đặc điểm, xu thế của thời đại là sự mơ hồ; hai nội dung cốt yếu của thời đại đã bị lịch sử phủ định. Bởi thế, khi không còn Liên Xô và hệ thống XHCN nữa thì Việt Nam làm sao có thể đi lên chủ nghĩa xã hội được. Đây là luận điệu sai trái cần phải phê phán, loại bỏ./.