Thứ Tư, 9 tháng 2, 2022

Hiệu quả từ chính sách hỗ trợ người dân đi xuất khẩu lao động

 

Từ chính sách khuyến khích hỗ trợ người lao động (NLĐ) đi làm việc ở nước ngoài của tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn năm 2016-2021, nhiều NLĐ nghèo trong tỉnh đã có cơ hội xuất khẩu lao động (XKLĐ), tạo đà cho việc xóa nghèo bền vững của địa phương.

Theo Nghị quyết số 45/2016/NQ-HĐND ngày 8-12-2016 của HĐND tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn năm 2017-2021, NLĐ có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Thanh Hóa đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng sẽ được hỗ trợ 3.000.000 đồng/người. Ngoài ra, NLĐ thuộc hộ nghèo, hộ mới thoát nghèo (trong vòng 24 tháng, tính từ ngày thoát nghèo), hộ cận nghèo và hộ bị thu hồi đất nông nghiệp; NLĐ là thân nhân của người có công với cách mạng, người dân tộc thiểu số khi đi lao động xuất khẩu sẽ được hỗ trợ 100% lãi suất tiền vay trong vòng 24 tháng.

Là một trong người được hưởng thụ chính sách trên của tỉnh, anh Lương Bá Thoa (sinh năm 1984) ở xã Na Mèo, huyện Quan Sơn cho biết: “Nắm được chính sách hỗ trợ của tỉnh, tôi bàn bạc với gia đình và quyết định đi làm việc tại Rumani. Nếu không có các chính sách này, tôi không thể thực hiện được. Sau 3 năm sang lao động tại Rumani, với số vốn tích góp gần 700 triệu đồng, tôi đã mở được một xưởng chế biến gỗ tại địa phương, cuộc sống của gia đình 5 nhân khẩu đến nay đã ổn định hơn”.

Hiệu quả từ chính sách hỗ trợ người dân đi xuất khẩu lao động
Người lao động tỉnh Thanh Hóa chụp ảnh khi làm thủ tục nhập cảnh tại sân bay Incheon, Hàn Quốc. 

 

Tại huyện miền núi Mường Lát, qua thực hiện Nghị quyết số 45/2016/NQ-HĐND của HĐND tỉnh, số lượng người dân đi XKLĐ tăng lên theo từng năm. Cụ thể, năm 2016 mới có 21 người đi làm việc tại nước ngoài thì đến năm 2019, con số này đã tăng lên 50 người; năm 2020 là 110 và năm 2021 có gần 200 NLĐ.

Ông Bùi Thanh Lĩnh, Phó trưởng phòng Lao động-Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH) huyện Mường Lát thông tin: “Người dân địa phương chủ yếu thuộc hộ nghèo, cận nghèo, hoàn cảnh khó khăn nên chính sách hỗ trợ 100% lãi suất trong 24 tháng của tỉnh đã tạo động lực để bà con đi XKLĐ nhiều hơn. Trước đây, không có cơ chế hỗ trợ, nhiều bà con muốn đi làm việc tại nước ngoài cũng khó”.

Theo thống kê của Sở LĐ-TB&XH tỉnh Thanh Hóa, từ năm 2017 đến nay, tỉnh Thanh Hóa đã hỗ trợ hơn 23.000 người đi XKLĐ với số tiền hơn 69 tỷ đồng (mức hỗ trợ 3 triệu đồng/người); hỗ trợ lãi suất tiền vay cho hơn 1.000 lao động là hộ nghèo, cận nghèo, gia đình chính sách, người dân tộc thiểu số gần 4,5 tỷ đồng. Thị trường XKLĐ chính là Đài Loan (Trung Quốc), Nhật Bản, Hàn Quốc...

Trong đó, mức thu nhập trung bình ở thị trường Đài Loan (Trung Quốc) từ 15 triệu đồng đến 20 triệu đồng/tháng; Nhật Bản từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng/tháng; Hàn Quốc từ 36 triệu đồng đến 40 triệu đồng/tháng. NLĐ đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đều tích lũy được tiền và gửi về gia đình thanh toán các khoản nợ ngân hàng, trang trải chi phí, như: Xây dựng nhà, phát triển sản xuất, chăn nuôi...

Các gia đình có người đi XKLĐ cơ bản thoát nghèo, vươn lên làm giàu. Nhiều người sau khi về nước đã mở trang trại, thành lập doanh nghiệp, tổ sản xuất tạo việc làm cho nhiều lao động địa phương... Quan trọng hơn, nhận thức về việc đi XKLĐ của người dân có sự thay đổi lớn, giải quyết được nhiều việc làm, xóa đói giảm nghèo và hạn chế các tệ nạn xã hội, nâng cao đời sống vật chất của người dân ở các huyện miền núi, tỷ lệ thoát nghèo tăng.

Ông Lê Đình Tùng, Phó giám đốc Sở LĐ-TB&XH tỉnh Thanh Hóa đánh giá: “Nghị quyết số 45/2016/NQ-HĐND của HĐND tỉnh đã tạo động lực cho người nghèo, cận nghèo, gia đình chính sách... có cơ hội tham gia làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Từ đó, giải quyết việc làm cho người dân, ổn định cuộc sống, hạn chế được tệ nạn xã hội. Thời gian tới, chúng tôi tiếp tục nghiên cứu, tham mưu cho UBND tỉnh có chính sách khuyến khích, hỗ trợ người lao động vay vốn từ ngân hàng chính sách để tổ chức hoạt động XKLĐ đi các nước hiệu quả hơn...”.

Bài và ảnh: KHÁNH TRÌNH

Cuốn tài liệu quý có giá trị tham khảo đặc biệt

 

Tại Lễ ra mắt cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, các đại biểu đã trao đổi, khẳng định ý nghĩa, giá trị nội dung của cuốn sách. Báo Quân đội nhân dân trích lược, giới thiệu các ý kiến này.

Đồng chí LÂM QUỐC TUẤN, Viện trưởng Viện Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh:

Kế tục sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tôi có niềm vinh dự khi được làm học trò của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Tôi đã đọc, nghiên cứu nhiều bài phát biểu, bài nói của đồng chí về vấn đề xây dựng Đảng. Nhưng thấy rằng, nội dung cuốn sách này bao quát những vấn đề lý luận chính trị, lý luận cách mạng liên quan cương lĩnh xây dựng đất nước, đường lối đổi mới của Đảng ta. Đọc cuốn sách, tôi cảm nhận được một niềm tin yêu mãnh liệt của đồng chí Tổng Bí thư về con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ đã lựa chọn.

Cuốn tài liệu quý có giá trị tham khảo đặc biệt
Các đại biểu tại lễ ra mắt sách. Ảnh: Phạm Kiên 

Trong 29 bài viết của Tổng Bí thư có hai bài viết rất quan trọng liên quan đến kế tục trung thành sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh vững bước đi lên CNXH và Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh soi sáng con đường đi đến tương lai của dân tộc Việt Nam. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói, đi lên CNXH là sự nghiệp khổng lồ, khó khăn, phức tạp dễ rơi vào bị động, vấp váp, sai lầm nên cần phải chuẩn bị rõ ràng, kỹ càng và chu đáo. Vậy ai sẽ làm việc này và kế sách hàng đầu như thế nào? Không ai khác đó chính là Đảng ta, và trong cuốn sách này đồng chí Tổng Bí thư đã thấu hiểu, quán triệt và phát triển sáng tạo tư tưởng, đạo đức, phong cách Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề xây dựng Đảng trong tình hình hiện nay của đất nước ta. Bên cạnh đó, theo tôi, cuốn sách này còn là một cơ sở lý luận rất quan trọng, là tiền đề để chúng ta nhận thức và quán triệt quan điểm của Đảng về các nhiệm vụ xây dựng Đảng về đạo đức; về tổ chức cơ sở đảng viên; về cán bộ cấp chiến lược; về kiểm tra giám sát; về mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân; về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; về đấu tranh phòng, chống tham nhũng... trong thời đại hiện nay.

Đồng chí NGUYỄN PHƯƠNG NGA, Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam:

Củng cố niềm tin của bạn bè quốc tế về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội

Tôi cho rằng, các bài viết của đồng chí Tổng Bí thư trong cuốn sách đã được tổng hợp, đúc kết rất khoa học về cả lý luận và thực tiễn trên tất cả các lĩnh vực. Các bài viết thực sự là sự kết tinh quan điểm của Đảng ta cả về lý luận và thực tiễn, đi vào trả lời những vấn đề cốt lõi về sự phát triển của CNXH khoa học và định hướng của Việt Nam đi trên con đường CNXH. Cuốn sách được thể hiện bởi một trí tuệ, nhân cách trong sáng của người đứng đầu Đảng ta, bằng ngôn ngữ, phong cách dung dị, dễ hiểu, lôi cuốn, thuyết phục, vì thế đã và sẽ chinh phục trái tim của cả người dân Việt Nam, cùng bạn bè quốc tế, các nhà khoa học, nghiên cứu trên thế giới.

Ở đây, tôi muốn nhấn mạnh thêm, cuốn sách đã tác động rất tích cực đến bạn bè quốc tế, thể hiện trên hai khía cạnh. Thứ nhất, bạn bè quốc tế đánh giá, cuốn sách là một đóng góp to lớn vào kho tàng lý luận và thực tiễn về nghiên cứu CNXH khoa học. Có thể nói, con đường mà chúng ta đi chưa có tiền lệ, những vấn đề đề cập đến trong cuốn sách đã tạo niềm tin cho bạn bè quốc tế về sự lựa chọn mô hình XHCN, về mục đích mà chúng ta đang tiến đến, đó là nhân văn, nhân ái, hòa bình, về đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hòa hiếu. Chúng ta phấn đấu đạt mục tiêu lợi ích quốc gia, dân tộc nhưng chúng ta khẳng định là thành viên có trách nhiệm với quốc tế, cùng xây dựng một xã hội tiến bộ, phát triển. Những luận điểm này nhận được sự ủng hộ, đồng tình của bạn bè quốc tế. Bạn bè nhiều nơi coi những quan điểm của chúng ta, thành tựu của chúng ta đạt được là những đóng góp quan trọng vào sự phát triển của CNXH. Nhiều chính đảng và nhiều tờ báo lớn đã cho đăng toàn văn phổ biến các bài viết của Tổng Bí thư và coi đây là tư liệu có giá trị tham khảo lớn, cung cấp câu trả lời cho nhiều nhà nghiên cứu thế giới đang trăn trở.

Thứ hai, tôi muốn nhấn mạnh thêm là, bạn bè quốc tế đã có thêm cơ sở củng cố niềm tin vào thành công của Việt Nam, tăng thêm sự ủng hộ công cuộc xây dựng đất nước, tăng thêm sự ngưỡng mộ đối với Việt Nam và đối với riêng đồng chí Tổng Bí thư, như hình ảnh một dân tộc Việt Nam đang bước vào thời kỳ mới, nỗ lực xây dựng hùng cường, phồn vinh, nhân dân hạnh phúc, đóng góp vào hòa bình, thịnh vượng thế giới.

Thiếu tướng ĐẶNG SỸ LỘC, Phó giám đốc Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng:

Nguồn tư liệu quan trọng phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy

Đối với Học viện Chính trị, trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chính trị, đào tạo chính ủy, cán bộ giảng dạy khoa học xã hội nhân văn (KHXHNV) quân sự hàng đầu trong quân đội, cuốn sách này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. 29 bài viết tiêu biểu của Tổng Bí thư đã đề cập rất toàn diện về tầm nhìn chiến lược trên các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh nhưng được trình bày dung dị, dễ hiểu, có sức thuyết phục. Theo tôi, cuốn sách không chỉ hấp dẫn ở tính khoa học, tính thực tiễn, kết tinh trí tuệ mà chính là ở tâm huyết, nhân cách, lẽ sống cao đẹp, lối sống mẫu mực, nói đi đôi với làm của đồng chí Tổng Bí thư.

Chúng tôi đánh giá, trước hết, cuốn sách của Tổng Bí thư là một tài liệu quý về cơ sở lý luận và thực tiễn để học viện nâng cao chất lượng giảng dạy các môn KHXHNV cho các đối tượng học viên, đặc biệt là đối tượng đào tạo hoàn chỉnh cao cấp lý luận chính trị và đào tạo chính ủy. Bởi đây là những cán bộ tiếp tục lan tỏa, tuyên truyền những kiến thức, kinh nghiệm về vấn đề xây dựng Đảng. Thứ hai, cuốn sách là tài liệu quý phục vụ nâng cao chất lượng nghiên cứu KHXHNV quân sự ở Học viện Chính trị. Trên cơ sở đó, chúng tôi sẽ đẩy mạnh nghiên cứu, tiếp tục cung cấp những luận cứ để tổng kết thực tiễn, cung cấp những luận cứ khoa học cho Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng hoạch định đường lối quân sự, quốc phòng nói chung, đặc biệt là xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, mẫu mực, tiêu biểu, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, phát huy phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới. Thứ ba, cuốn sách là cơ sở củng cố trận địa tư tưởng của Đảng trong quân đội, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, làm thất bại âm mưu "diễn biến hòa bình", "phi chính trị hóa quân đội" của các thế lực thù địch. Những lập luận của cuốn sách là những luận cứ sắc bén, bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng ta.

Ra mắt cuốn sách đúng dịp kỷ niệm 92 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và đầu Xuân Nhâm Dần 2022, sẽ truyền đi thông điệp mạnh mẽ của người đứng đầu Đảng ta tạo nguồn cảm hứng để Đảng ta thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc như Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đặt ra.

SỨC SỐNG TRƯỜNG TỒN BỘ "TƯ BẢN" CỦA C.MÁC

  C. Mác (1818 - 1883) là một trong những nhà tư tưởng vĩ đại nhất của nhân loại, một nhà bác học uyên bác trên nhiều lĩnh vực, lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới.

Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn phát triển nền sản xuất Tư bản chủ nghĩa, cụ thể là quan sát ngành công nghiệp hiện đại nước Anh, điều kiện làm việc của ngành và các phân tích của nhng nhà học thuyết đi trước ông về nền kinh tế chính trị (như David Ricardo hoặc Adam Smith). C. Mác đã chỉ ra bản chất thật sự của chủ nghĩa tư bản bằng việc nhấn mạnh vào những mâu thuẫn nội tại của hệ thống này. Với Tư bản luận (Das Kapital) vào năm 1867 - Đây là một công trình khoa học vĩ đại của ông, đã được xuất bản ra nhiều thứ tiếng khác nhau. Ở Việt Nam, bộ sách đã được xuất bản nhiều lần. Trong tác phẩm của mình, C. Mác đã phân tích một cách toàn diện và sâu sắc về chủ nghĩa tư bản với tính cách là một hình thái kinh tế – xã hội, vạch ra các quy luật ra đời, phát triển và suy vong của nó, đồng thời luận chứng các luận điểm và khái niệm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử. Không chỉ đề cập đến những vấn đề như: tư bản, hàng hóa, tiền tệ, gía trị thặng dư, tích lũy tư bản, tiền lương…, tác phẩm còn chứa đựng những quan điểm triết học của C. Mác và những kiến thức về lịch sử các nước Tây Âu đương thời.

Cuốn sách này có tác động rất lớn tới sự phát triển của các hệ thống kinh tế toàn cầu. Ở đây, người ta tiếp thu được cả ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác: triết học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học, trong đó, kinh tế chính trị là phần chủ yếu nhất, trực tiếp nhất, qua đó thể hiện rõ nhất nội dung và sức sống của các quan điểm triết học và chủ nghĩa xã hội khoa học. Nói cách khác, bộ Tư bản là một tác phẩm nòng cốt, trung tâm của chủ nghĩa Mác nói chung và kinh tế chính trị Mác - Lênin nói riêng.

Cuối năm 2008 cuốn sách này bán chạy vì góp một phần luận giải cuộc khủng hoàng tài chính suy thoái kinh tế toàn cầu đã phơi bày sự thật về bất công trong các nước tư bản phát triển. Nhân dịp kỷ niệm 200 năm ngày sinh của C.Mác (05/5/1818 - 05/5/2018) hàng vạn cuốn Tư bản đã được phát hành và đón nhận tại các nước tư bản phát triển ở Đức và Châu Âu. Ngày nay, chủ nghĩa tư bản luôn theo đuổi tăng trưởng kinh tế bằng cách đặt gánh nặng lên môi trường, những vấn đề như trái đất nóng lên, biến đổi khí hậu và bất bình đẳng kinh tế, xã hội, đại dịch Covd-19, tạo ra những bất ổn mang tính toàn cầu....đã chứng minh các nước tư bản không thể tự mình giải quyết được bởi nền sản xuất tư bản chủ nghĩa.

Bộ Tư bản được đón nhận trên khắp thế giới cho chúng ta nhiều suy nghĩ. Đó là cơ sở khẳng định sức sống Chủ nghĩa Mác vẫn trường tồn, sự kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng ta là đúng đắn. Nhưng bên cạnh đó chúng ta cũng cần học hỏi cách tuyên truyền, lan tỏa Chủ nghĩa Mác - Lênin của nước ngoài để cho tổ chức tuyên truyền, vận động, lan tỏa tư tưởng khoa học,vĩ đại của C. Mác được trường tồn mãi mãi.

 

 

 

CHỐNG PHÁ, PHỦ NHẬN MỤC TIÊU, LÝ TƯỞNG, CON ĐƯỜNG
ĐI LÊN CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM, VAI TRÒ LÃNH ĐẠO
ĐẤT NƯỚC CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM – LÀ NỘI DUNG CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH HIỆN NAY

 

Để thực hiện mục tiêu xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, chủ nghĩa đế quốc với ý chí phục thù và tham vọng của kẻ xâm lược, đã không từ một thủ đoạn phá hoại nào nhằm làm cho ta suy yếu, từng bước xa rời mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chuyển hoá chế độ xã hội chủ nghĩa dần ngả theo xu hướng thân phương Tây, đi theo con đường phát triển tư bản chủ nghĩa. Trên lĩnh vực chính trị, chủ nghĩa đế quốc thực hiện chiến lược "diễn biến hoà bình". Chống phá, phủ nhận mục tiêu, lý tưởng, con đường đi lên của cách mạng Việt Nam, vai trò lãnh đạo đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam  - là trong những nội dung chúng đang thường xuyên điên cuồng thực hiện hiện nay.

Lợi dụng sự kiện các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, các thế lực đế quốc chủ nghĩa càng lớn tiếng tuyên truyền xuyên tạc bôi nhọ chủ nghĩa xã hội. Chúng rêu rao rằng, phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa là sai lầm, trái với quy luật khách quan của lịch sử xã hội, chủ nghĩa xã hội là sản phẩm chủ quan, mộng tưởng cho nên nó tất yếu phải sụp đổ; các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô sau một thời gian phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa không đem lại kết quả mong muốn đã sớm nhận ra sai lầm của mình và từ bỏ nó, Việt Nam cũng cần phải học theo họ mà nhanh chóng từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa không có tương lai để hoà nhập vào thế giới tư bản văn minh.

Khi Đảng và nhân dân ta khẳng định quyết tâm kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa, thực hành đi ở mới toàn diễn đất nước thì các thế lực thù địch xuyên tạc rằng đó là cải lương, nửa vời, kết hợp khiên cưỡng chủ nghĩa tư bản với chủ nghĩa xã hội, kết cục nhận định không thể thành công. Chúng đòi thay đổi mô hình xã hội chủ nghĩa bằng mô hình "xã hội dân chủ với đặc trưng cơ bản là thực hành "chính trị đa nguyên", "đa đảng đối lập", coi đó là mở rộng tự do. dân chủ. Chúng đòi xoá bỏ chuyên chính vô sản, phủ nhận đấu tranh giai cấp, từ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ trong các tổ chức cách mạng, để cho các tổ chức phản động, các thế lực thù địch chống độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mặc sức hoạt động thể thủ tiêu thành quả cách mạng xã hội chủ nghĩa một cách "hoà bình", lái chế độ xã hội dần ngả theo chủ nghĩa tư bản.

Từ khi thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là đội tiền phong, lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân và toàn dân tộc Việt Nam, là người lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Chính vì lẽ đó mà Đảng trở thành mục tiêu quan trọng nhất để kẻ địch tập trung chống phá. Chúng tìm đủ mọi cách xuyên tạc, bôi nhọ thanh danh của Đảng. Chúng tung ra nhiều luận điệu tuyên truyền vu khống Đảng không chịu đổi mới về chính trị, "giữ độc quyền lãnh đạohạn chế dân chủ, không chịu đa nguyên chính trị”  và "độc tài, đảng trị là cái gốc sai chính của các nhà cầm quyền Việt Nam hiện đại". Từ đó, chúng đòi "Chấm dứt vai trò lịch sử, gạt Đảng Cộng sản Việt Nam ra khỏi tiến trình phát triển của dân tộc". Chúng ra súc tuyên truyền cho cái gọi là “đổi mới triệt để", tự do, dân chủ không giới hạn, thực hành “đa nguyên chính trị", "đa đảng đối lập" để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, từng bước dưa các đảng phái tư sản vào tranh quyền lãnh đạo xã hội với Đảng Cộng sản Việt Nam. Đặc biệt, từ đầu năm 2020 cho đến nay, lợi dụng sự diễn biến phức tạp khó lường của đại dịch Covid-19, những thiệt hại, ảnh hưởng và những mặt ứng phó chưa kịp thời của Đảng, Nhà nước; hạn chế về nguồn lực của đất nước và cách thức huy động toàn dân vào cuộc chống dịch…các thế lực thù địch được dịp vu khống, bôi nhọ và sử dụng truyền thông và dư luận xã hội ảo để tiếp tục thực hiện những nội dung theo mưu đồ trên. 

Nhưng với ý chí quyết tâm, tinh thần đại đoàn kết dân tộc, tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng, con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lực chọn…; với tinh thần chiến đấu lạc quan cộng sản, dám nhìn thẳng vào sự thật, kịp thời tiếp thu những ý kiến đóng góp đầy tính chất xây dựng và " tự soi, tự sửa" chúng ta đã từng bước giành được kết quả; được cộng đồng thế giới ghi nhận...và thực tiễn đã và đang minh chứng cho ai đúng? ai sai?

 

HIỆU QUẢ  CHỈ CÓ ĐƯỢC KHI VÀ CHỈ KHI CÓ NHẬN THỨC ĐÚNG

Lịch sử xã hội chủ nghĩa xã hội đã chỉ ra rằng, những người kế thừa chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã phạm nhiều sai lầm, cả về nhận thức lý luận và hoạt động thực tiễn. Mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu cũ, với việc phủ nhận kinh tế thị trường, thực hiện cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu… đã dẫn đến tình trạng xã hội trì trệ, sự thoái hoá về chính trị, tư tưởng, đạo đức trong bộ máy Đảng và Nhà nước. Đây là nguyên nhân cơ bản dẫn đến khủng hoảng, sụp đổ. Xét về phương diện lý luận, sai lầm đó bắt nguồn từ chủ nghĩa giáo điều về lý luận - đồng nhất lý luận với phương pháp luận; không kịp thời vận dụng, phát triển sáng tạo lý luận Mác – Lê-nin khi tình hình đã thay đổi.

 Có thể nói linh hồn của chủ nghĩa Mác – Lê-nin là phép biện chứng duy vật, là quan điểm phát triển, quan điểm giai cấp và quan điểm lịch sử, cụ thể… Về điều này, chính C. Mác đã có lần nói: Học thuyết của chúng tôi không phải là một giáo điều mà là kim chỉ nam cho cuộc sống. V.I. Lê-nin cũng đã nhiều lần nhắc nhở các Đảng Cộng sản và công nhân phải biết vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác vào thực tiễn của dân tộc mình và phải biết lắng nghe “sự mách bảo của cuộc sống”.

Nhìn lại những năm đầu thập niên 20 (thế kỷ XX) có thể nói, các Đảng Cộng sản ở các nước xã hội chủ nghĩa nói chung, đặc biệt là Đảng Cộng sản Liên Xô, đã bỏ lỡ cơ hội kế thừa và phát triển tư tưởng V.I. Lê-nin trong Chính sách kinh tế mới (NEP) để xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xa hội chủ nghĩa, phát triển các quan hệ quốc tế,… Nếu NEP được những người kế thừa V.I. Lê-nin tiếp tục thực hiện, thì chủ nghĩa xã hội không phải trả giá đắt như những gì đã xảy ra ở Liên Xô, Đông Âu.

Ngày nay, Cương lĩnh 2011 của Đảng ta xác định “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”[1] với tinh thần mới, bao hàm các kết quả nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn chủ nghĩa xã hội hiện thực trên phạm vi thế giới, cũng như từ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của chúng ta. Những nội dung sau đây của Cương lĩnh 2011 là một minh chứng:

Thay vì xây dựng nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp trong mô hình cũ của chủ nghĩa xã hội, Đảng ta xác định “phát triển nền kinh tế thị trường định hướng chủ nghĩa xã hội[2], kết hợp chặt chẽ, hợp lý giữa  phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; xây dựng nền dân chủ chủ nghĩa xã hội và “Nhà nước pháp quyền xã hội  chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”[3], bảo vệ quyền công dân và quyền con người… Ngoài ra, Cương lĩnh 2011 của Đảng còn xác định nhiều nội dung thể hiện tinh thần đổi mới, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào bối cảnh thời đại và đất nước, trên các lĩnh vực khác nhau, như: văn hoá, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, bảo vệ môi trường, chính sách dân tộc, tôn giáo; chức năng của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể xã hội; chính sách đối ngoại và xây dựng Đảng…

Ngày nay, để đấu tranh với các thế lực thù địch xuyên tạc và bôi nhọ Đảng, chúng ta phải đồng thời thực hiện có hiệu quả công tác xây dựng đảng, bao gồm vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phải thấy được những giới hạn lịch sử của các quan điểm lý luận, nhất là các chính sách cụ thể để không ngừng phát triển học thuyết cách mạng đó; phải nâng cao sức “đề kháng” cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, cán bộ, viên chức nhà nước; tích cực phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về mặt tư tưởng, lý luận; rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng. Chỉ có như vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam mới hoàn thành được sứ mệnh lịch sử của mình.


[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2011, tr. 88.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2011, tr. 73.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2011, tr. 85.