Thứ Tư, 9 tháng 2, 2022

KHÔNG ĐỂ XẢY RA TÌNH TRẠNG ĂN TẾT KÉO DÀI, LƠ LÀ CÔNG VIỆC


Sáng 8-2, tại trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì cuộc họp của Ban Bí thư Trung ương Đảng đánh giá tình hình thực hiện Chỉ thị số 11-CT/TW ngày 8/12/2021 của Ban Bí thư về việc tổ chức Tết Nhâm Dần năm 2022 và Chỉ thị số 35/CT-TTg ngày 31-12-2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường các biện pháp bảo đảm đón Tết Nguyên đán Nhâm Dần vui tươi, lành mạnh, an toàn, tiết kiệm.

Kết luận Hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng hoan nghênh cấp ủy, chính quyền các cấp đã nghiêm túc triển khai Chỉ thị 11-CT/TW của Ban Bí thư và Chỉ thị số 35/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường các biện pháp bảo đảm đón Tết Nguyên đán Nhâm Dần, nhân dân vui Xuân đón Tết, vừa phát triển sản xuất, vừa phòng, chống dịch bệnh, đảm bảo an toàn, tạo không khí vui tươi, phấn khởi.

Ban Bí thư Trung ương Đảng chỉ đạo ngay sau kỳ nghỉ Tết, các cơ quan, đơn vị tập trung thực hiện nhiệm vụ chính trị, nhanh chóng đưa các hoạt động trở lại bình thường, đảm bảo hoạt động công vụ diễn ra thông suốt, phục vụ tốt nhu cầu của nhân dân; không để xảy ra tình trạng ăn Tết kéo dài, lơ là công việc, làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của người dân và doanh nghiệp.

Các cấp, ngành tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong sản xuất, kinh doanh; hỗ trợ kịp thời cho người dân, doanh nghiệp theo đúng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Tổ chức thực hiện hiệu quả Kết luận số 20-KL/TW, ngày 16-10-2021 của Trung ương về kinh tế - xã hội năm 2021-2022, các nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dự toán ngân sách năm 2022.

Các cấp ủy, chính quyền tập trung triển khai thực hiện quyết liệt, hiệu quả chương trình phòng, chống dịch Covid-19 (năm 2022-2023) theo Kết luận số 25-KL/TW, ngày 30-12-2021 của Bộ Chính trị; trọng tâm là tiếp tục thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 128/NQ-CP ngày 11-10-2021 của Chính phủ “Quy định tạm thời thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19”; chuẩn bị các điều kiện cần thiết, phương án cụ thể để tổ chức cho trẻ mầm non, học sinh tiểu học, THCS, THPT, học sinh, sinh viên trở lại trường học, bảo đảm an toàn phòng, chống dịch Covid-19; tăng cường công tác bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; đẩy mạnh công tác phòng, chống tội phạm, nhất là tội phạm ma túy, đánh bạc và các tệ nạn xã hội khác.

Về nhiệm vụ sắp tới, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lưu ý phải tiếp tục dự báo tình hình, nắm chắc các khả năng tình huống có thể xảy ra để có biện pháp đối phó, không chủ quan. Sau khi ăn Tết xong, tiếp tục triển khai chỉ đạo thực hiện Chỉ thị 11 của Ban Bí thư và Chỉ thị số 35/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, phòng, chống không để dịch tái phát; tổ chức cho học sinh đến trường phải tuyệt đối an toàn. Các nhiệm vụ trọng tâm đã nêu ra phải triển khai thực hiện. Từng cơ quan, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, phải lập kế hoạch cụ thể của năm 2022 một cách bài bản, có chương trình, lộ trình, phân công, kiểm tra và yêu cầu thời hạn.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ phải phát huy vai trò của các cơ quan tham mưu, nắm được việc, tổ chức phối hợp chặt chẽ; đồng thời cần quan tâm đến công tác mặt trận, tư tưởng, văn hóa, báo chí; tăng cường đi cơ sở phải có kết quả thiết thực, giải quyết, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc.

THANH CAO HỒ CHÍ MINH


Phong cách sống thanh cao của Hồ Chí Minh là một nét đẹp riêng biệt bắt nguồn từ truyền thống văn hóa của dân tộc, từ quê hương, gia đình Hồ Chí Minh và chính những phẩm chất riêng có của Người. Từ điển tiếng Việt định nghĩa thanh cao là trong sạch và cao thượng. Chúng tôi cho rằng định nghĩa này rất phù hợp để đánh giá về Hồ Chí Minh.

Suốt đời sống vì mọi người

Trong những bài giảng tại lớp huấn luyện ở Quảng Châu, sau được in trong cuốn Đường Kách mệnh, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã nhắc nhở mỗi người cách mạng phải giải quyết hài hòa 3 mối quan hệ: Với mình, với người và với công việc. Trong đó, Người xác định tự mình phải: "Cần, kiệm, liêm, chính" và cả cuộc đời Người đã sống như thế.

Đã từng phải làm tới gần 20 nghề, miễn là nghề lương thiện để sống và để hoạt động, đến khi đã trở thành một vị lãnh đạo có quyền lực và uy tín, Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh vẫn vẹn nguyên chất người lao động cần cù, có kỷ luật, có trách nhiệm, tiết kiệm, liêm chính. Từ chuyện gói lại đồ ăn thừa để chuyển cho người nghèo khi làm phụ bếp ở nước Anh xa xôi, đến khi làm Chủ tịch nước ăn cơm nắm muối vừng đi công tác, hay dự bữa tiệc chiêu đãi sang trọng của lãnh đạo nước bạn, Người vẫn trân trọng từng người lao động và nâng niu từng sản phẩm do con người làm ra.

Người dành cả cuộc đời để lo giải phóng dân tộc, đấu tranh cho con người thoát khỏi áp bức, bất công. Người tâm sự: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo-là vì mục đích đó". Là một lãnh tụ mà “lời nói luôn đi đôi với việc làm”, Người là tấm gương sáng về lòng “tận trung với nước, tận hiếu với dân” nhất quán, trước sau như một.

Ngay từ những ngày đầu ra đi tìm đường cứu nước, hướng tới mục tiêu độc lập cho Tổ quốc, cơm no áo ấm cho đồng bào, Người đã vượt qua bao khó khăn, thử thách. Sự truy sát ráo riết và đe dọa của kẻ thù không làm Người nhụt chí. Trong lao tù của kẻ thù, lòng kiên trung bất khuất của Người, quyết tâm giải phóng dân tộc, mong muốn mang lại cơm no áo ấm cho đồng bào càng được bồi đắp thêm. Ngay cả khi bị cấp trên (Quốc tế Cộng sản) và cấp dưới chưa hiểu, Người vẫn trung trinh một niềm tin để đặt sự nghiệp của Đảng cao hơn cuộc sống cá nhân, để luôn sống và làm việc vì Đảng, như nhận xét của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương Lê Hồng Phong.

Khi Tổ quốc được độc lập, Người “tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào” không muốn “dính líu gì với vòng danh lợi” mà “chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”...

Trong suốt những năm “phải gánh chức Chủ tịch vì đồng bào ủy thác”, tình yêu thương Tổ quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh hiện hữu trong từng công việc. Dù ở đâu, làm gì, Người cũng chỉ nhằm một mục đích là “phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc”... để rồi trước lúc đi xa, về với "thế giới người hiền", trong Di chúc thiêng liêng, Người tự vấn lòng mình và thấy rằng: “Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”...  

Suốt đời yêu thương, quý trọng con người

Trong quá trình tìm đường cứu nước, nghiên cứu Chủ nghĩa Mác-Lênin và thực tiễn đấu tranh của các dân tộc, Hồ Chí Minh đã rút ra kết luận quan trọng: Trên đời này có hai hạng người: Người thiện và người ác; hai thứ việc: Việc chính và việc tà. Theo đó, tình yêu thương con người không thể chung chung, trừu tượng, mà thiết thực, cụ thể, trước hết dành cho người mất nước, người cùng khổ. Chính vì vậy, với Chủ tịch Hồ Chí Minh, tình yêu thương con người là không biên giới. Người lo cho dân tộc mình và lo cho tất cả những kiếp người trên hành tinh còn bị đày đọa, đau khổ, bởi vì: “Lọ là thân thích ruột rà/ Công nông thế giới đều là anh em". 

Trước lúc đi xa, trong Di chúc, Người để lại “muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng” và “gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế”.

Người ân cần nhắc nhở toàn Đảng phải tiếp tục chăm lo cho con người, trước hết là những người đã hy sinh một phần xương máu cho công cuộc kháng chiến, tiếp đến là cha mẹ, vợ con thương binh, liệt sĩ, là bà con nông dân, là thanh niên, phụ nữ... lo cho hiện tại, lo đào tạo cho tương lai. Ngay cả “với những nạn nhân của chế độ xã hội cũ như trộm cắp, gái điếm, cờ bạc, buôn lậu... thì Nhà nước phải dùng vừa giáo dục, vừa phải dùng pháp luật để cải tạo họ, giúp họ trở nên những người lao động lương thiện”.

Tình yêu thương con người được thể hiện rất cụ thể, từ việc lớn như lo giải phóng cho con người, khuyến khích: "Phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân, và phần xấu bị mất dần đi", đến việc chăm lo từng con người cụ thể, không chỉ: Lụa tặng cụ già, sữa tặng bà mẹ sinh ba, mà là từng bát cơm, manh áo, từ chỗ ở, việc làm để an cư lạc nghiệp đến chuyện tương cà mắm muối hằng ngày cho nhân dân.

Người lo cho toàn dân tộc và chăm lo cho từng chiến sĩ bảo vệ, phục vụ quanh Người. Vai trò của nhân dân được vô cùng trân trọng: "Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân". Người tôn trọng từ các nhà khoa học, các bậc hiền tài cho tới những người lao công, bởi theo Người, từ Chủ tịch nước tới người lao động bình thường, nếu hoàn thành tốt nhiệm vụ, đều được coi trọng, đều vẻ vang như nhau. 

Suốt đời sống trong sạch

24 năm liên tục nắm giữ đỉnh cao quyền lực: Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước, có thời kỳ dài là Chủ tịch Chính phủ, có thời kỳ kiêm chức Tổng Bí thư Đảng Lao động Việt Nam, Người luôn luôn giữ cho mình trong sạch, luôn giữ vững tư cách đạo đức. 

Người suốt đời tránh xa những biểu hiện của đầu óc lãnh tụ, lúc nào cũng chỉ tâm niệm làm một người lính vâng lệnh quốc dân đồng bào, làm tròn trọng trách nhân dân ủy thác, không chấp nhận sự đề cao, tung hô. Tháng 7-1969, Bộ Chính trị họp ra nghị quyết về việc tổ chức 4 ngày kỷ niệm lớn của năm: Ngày thành lập Đảng, ngày Quốc khánh, ngày sinh Lênin và ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Khi biết tin này, Người đề nghị: “Bác chỉ đồng ý ba phần tư nghị quyết. Bác không đồng ý đưa ngày 19-5 là ngày kỷ niệm lớn trong năm sau. Hiện nay, các cháu học sinh đã sắp bước vào năm học mới, giấy mực, tiền bạc dùng để tuyên truyền về ngày sinh của Bác thì các chú nên dành để in sách giáo khoa và mua dụng cụ học tập cho các cháu, khỏi lãng phí”.

Đoàn đại biểu các nước đến thăm Việt Nam hay khi Bác đi công tác nước ngoài, Người thường được biếu các đồ lưu niệm. Những tặng phẩm đó, Bác đều chuyển cho Văn phòng vào sổ và bảo quản. Chính vì vậy, sau ngày Người qua đời, Văn phòng Phủ Chủ tịch đã bàn giao cho Bảo tàng Cách mạng, Bảo tàng Hồ Chí Minh hàng nghìn hiện vật là đồ tặng phẩm của Bác Hồ. Đi công tác các địa phương, Người thường từ chối nhận quà, cho dù đấy chỉ là yến gạo, bộ quần áo. 

Năm 1959, đi công tác Liên Xô, trước ngày về nước, Bác đã viết thư và gửi trả lại 5.000 rúp do Đảng bạn tặng Bác và Thư ký Vũ Kỳ. Thực ra, đây không phải đặc quyền của riêng Bác Hồ, mà theo thông lệ hợp tác giữa các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa, khi đón đoàn nước bạn đến thăm, nước chủ nhà ngoài việc lo phương tiện đi lại, kinh phí ăn ở, lễ tân, thường có thêm một khoản gọi là “tiền tiêu vặt” cho các vị khách. Tất nhiên, mức tiền khác nhau theo từng chức vụ và thời gian lưu trú. Song ngay cả với số tiền thông lệ này, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từ chối nhận. Bởi với Người, việc không nhận quà biếu đã trở thành một nguyên tắc sống.

NGƯỜI ĐẢNG VIÊN TỪ TRONG TƯ TƯỞNG


Trước những diễn biến mới của tình hình và nhiệm vụ cách mạng, cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, phản bác những luận điệu xuyên tạc, những quan điểm sai trái, thù địch ngày càng diễn biến phức tạp. Nhưng bằng sự chủ động, tích cực của toàn Đảng, toàn dân, công tác đấu tranh phản bác thời gian qua đã đạt được những kết quả tích cực. Tuy nhiên, thẳng thắn nhìn lại trong cuộc đấu tranh này vẫn còn không ít những hạn chế, bất cập. Điều này được Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, chỉ rõ: “Nhiều tổ chức đảng, đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; việc đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị còn bị động, thiếu sắc bén và hiệu quả chưa cao”. Ngoài những yếu tố khách quan từ những tác động tiêu cực của tình hình thế giới và trong nước, một nguyên nhân mà mỗi chúng ta cần nhận rõ, đó là sự chống phá ngày càng quyết liệt của các thế lực thù địch thông qua đẩy mạnh thực hiện “diễn biến hòa bình”. 


Chúng thường lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” và khoét sâu những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để bóp méo, xuyên tạc tình hình; tung ra những quan điểm sai trái hòng gây ra sự hoài nghi, lung lay trong tư tưởng cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trong khi đó, có lúc, có nơi việc nhận thức chưa đầy đủ, chưa chủ động, nhạy bén và thiếu các giải pháp phù hợp để định hướng thông tin, trên cơ sở đó tổ chức đấu tranh có hiệu quả với các thông tin sai lệch, phản bác lại những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị. 


Có thể thấy các thế lực thù địch không từ bất cứ âm mưu, thủ đoạn nào nhằm chống phá Việt Nam trên mọi lĩnh vực. Trước tình hình ấy, Ðảng ta đã xác định đấu tranh, phản bác có hiệu quả với luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên của toàn bộ hệ thống chính trị, của mỗi cán bộ, đảng viên và của mọi công dân. Chúng ta phải tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp, trong đó cần đặc biệt nhấn mạnh tính chủ động. Chủ động đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục của các tổ chức, đoàn thể là rất cần thiết nhưng quan trọng và quyết định hơn vẫn là sự chủ động trong rèn luyện bản lĩnh chính trị, tích cực học tập nâng cao trình độ, tu dưỡng phẩm chất đạo đức của mỗi cá nhân. 


Bởi đó chính là yếu tố cơ sở nền tảng để mỗi cán bộ, đảng viên và từng người dân chủ động, tích cực, tự giác tham gia có hiệu quả vào cuộc đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái, thù địch vốn ngày càng phức tạp, khó khăn, lâu dài và cam go.

Nhận diện sự chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa

 

Thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là tổng hợp các phương thức, biện pháp được tiến hành trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng - văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, ngoại giao... Trong đó, các thế lực thù địch xác định tấn công trên mặt trận tư tưởng - văn hóa là “mũi đột phá”, “thọc sâu” làm tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về lý luận và tư tưởng, tạo ra “khoảng trống” để dần dần đưa hệ tư tưởng tư sản vào và tiến tới xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa.

Nội dung chủ yếu của cuộc chiến tranh ý thức hệ do chủ nghĩa đế quốc phát động là tấn công vào lòng người, đánh vào trận địa chính trị, tư tưởng - văn hóa của các nước xã hội chủ nghĩa. Các nhà tư tưởng của chủ nghĩa đế quốc đã tổng kết: “một đài phát thanh cũng có thể bình định xong một đất nước”, “một đô-la chi cho tuyên truyền có tác dụng ngang với 5 đô-la chi cho quốc phòng”; “kích động vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo là bốn đòn đột phá khẩu, bốn mũi xung kích để chọc thủng mặt trận tư tưởng chính trị”. Trong cuốn sách “Năm 1999 - chiến thắng không cần chiến tranh”, nguyên Tổng thống Mỹ R. Ních-xơn đã tuyên bố: “Mặt trận tư tưởng là mặt trận quyết định nhất”, “toàn bộ vũ khí của Mỹ, các hoạt động mậu dịch, viện trợ, quan hệ kinh tế sẽ không đi đến đâu nếu chúng ta thất bại trên mặt trận tư tưởng”, “Cái sẽ có tác dụng quyết định đối với lịch sử là tư tưởng, chứ không phải là vũ khí”,...

Các thế lực thù địch cho rằng, để lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam, cần phải điều chỉnh các biện pháp và phương thức, thay đổi các thủ đoạn tiến hành “diễn biến hòa bình” cho thích hợp, vì tình hình Việt Nam không giống như bối cảnh các nước Đông Âu hay Liên Xô trước đây. Chúng chủ trương phá hoại trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, tư tưởng, văn hóa, xã hội, ngoại giao, quốc phòng - an ninh, khoa học, giáo dục... Và, khi cần thì dùng cả biện pháp quân sự. Song, trọng tâm then chốt vẫn là phá hoại về tư tưởng - văn hóa. Chúng xác định rằng, tước bỏ vũ khí tư tưởng của nhân dân là khâu đột phá quan trọng trong “diễn biến hòa bình”.

“Diễn biến hòa bình” là một thủ đoạn phi quân sự, chú trọng chiến tranh tâm lý, đặc biệt nhấn mạnh sức mạnh của tư tưởng - ý thức hệ. Trong đó, chủ yếu là “mặt trận tư tưởng - văn hóa”. Các thế lực thù địch xác định, xâm nhập được tư tưởng - văn hóa của đối phương sẽ thu được hiệu quả phi thường. Xâm nhập tư tưởng - văn hóa, trên thực tế, là mở cuộc tấn công ý thức hệ vào nước Việt Nam XHCN. Chúng gọi đó là “tiến công vào lòng người” để làm sụp đổ tinh thần chiến đấu của đối phương; làm tan rã đối phương về nội tâm, tinh thần và tư tưởng; gây hỗn loạn về tư tưởng, gây tâm lý sợ hãi; kích động tâm trạng bất mãn, thù địch với chủ nghĩa xã hội (CNXH) và chủ nghĩa cộng sản; truyền bá mô thức chính trị, mô thức kinh tế, quan niệm giá trị và lối sống của chủ nghĩa tư bản, đòi đa nguyên hóa và thị trường hóa nền kinh tế.

Có nhà nghiên cứu cho rằng, chiến lược của chủ nghĩa đế quốc được tiến hành chủ yếu trên hai phương diện: Một là, xâm lược nước khác bằng quân sự và kinh tế. Hai là, làm tan rã nước khác bằng tư tưởng và văn hóa. Nếu phương diện thứ nhất dựa vào sức mạnh của kẻ xâm lược, thì phương diện thứ hai dựa trên chiến lược làm tan rã nội bộ đối phương, hết sức xảo quyệt. Chính các nhà tư tưởng của chủ nghĩa đế quốc đã tổng kết: “có những việc 100 máy bay chiến đấu không thực hiện nổi, nhưng chỉ cần 10 sứ giả lại có thể thành công”. Ngày nay “làn sóng điện đang thay thế thanh gươm; cây bút là phương tiện đi vào trái tim, khối óc con người”.

Từ khi nước ta tiến hành công cuộc đổi mới, các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, nhưng có sự thay đổi về thủ đoạn và sách lược. Chúng tiến công ta mạnh mẽ hơn về tư tưởng - văn hóa, coi đây là mặt trận hàng đầu, là mũi nhọn đột phá, thọc sâu, vừa dùng các lực lượng, phương tiện từ bên ngoài, vừa tận dụng phát triển các lực lượng và phương tiện ở trong nước ta, tạo ra sự chống đối mạnh mẽ từ nội bộ Đảng, nội bộ xã hội ta, từng bước làm cho nhân tố chống đối bên trong phát triển để phá ta từ trong nước, trong lòng chế độ. Chiến lược “Vượt trên ngăn chặn” và “Bao vây cấm vận” được thay bằng chiến lược “Triệt tiêu kẻ thù”. Tư tưởng chỉ đạo của chiến lược này là áp dụng các biện pháp “can dự”, “tiếp cận”, lôi kéo đối phương từ đối đầu sang đối thoại, tăng cường hợp tác hoặc hoà nhập với phương Tây, theo sự chỉ huy hoặc khống chế của một trung tâm quyền lực cụ thể. Tức là, chúng không đứng ngoài hò hét chống phá mà xâm nhập vào ta để đánh ta từ trong đánh ra, làm cho ta “tự diễn biến”, “tự sụp đổ”, “Cộng sản tự diệt cộng sản”. Các thế lực thù địch thực hiện chính sách lôi kéo, thông qua các nước đồng minh, các tổ chức phi chính phủ, qua các hình thức giao lưu, hợp tác về văn hóa, khoa học, giáo dục... để thâm nhập, thu thập tin tức tình báo, làm chuyển hóa tư tưởng, chuyển hóa chính trị, mua chuộc cán bộ, cài cắm nội gián; móc nối với những người bất mãn, cơ hội chính trị, những người nắm được bí mật quốc gia, những người đi công tác, học tập ở nước ngoài; tìm cách can thiệp cho một số văn nghệ sĩ, những người mà họ cho là có quan điểm “cấp tiến” ra nước ngoài dự hội thảo, học tập; đưa giáo viên và lưu học sinh vào Việt Nam học tập, nghiên cứu, tiếp xúc, giao lưu. Đại sứ quán của một số nước phương Tây đã có những hoạt động can thiệp sâu vào công việc nội bộ nước ta, như gửi phiếu đăng ký cung cấp thông tin cho nhiều tổ chức và cá nhân trong nước để nắm nội bộ ta, gây nhiễu thông tin; cử nhân viên sứ quán đến một số trường đại học tìm hiểu tư tưởng, thái độ của giáo viên, sinh viên; quan hệ với một số nhà xuất bản và một số tờ báo với ý đồ lôi kéo. Họ lợi dụng các diễn đàn công khai để tuyên truyền “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền” theo kiểu tư sản; tuyên truyền quan điểm cá nhân ích kỷ cực đoan, xuyên tạc chúng ta vi phạm dân chủ, nhân quyền, tung ra luận điểm “nhân quyền cao hơn chủ quyền” để tạo cớ can thiệp vào nước khác có xu hướng độc lập, không chịu lệ thuộc.

Các trung tâm phá hoại tư tưởng, văn hóa tăng cường hoạt động tuyên truyền thù địch chống phá Việt Nam. Chúng rất coi trọng các phương tiện truyền thông đại chúng và tuyên truyền kiểu “rỉ tai”, kích động; sử dụng trên 40 đài phát thanh và truyền hình, gần 400 tờ báo và tạp chí tiếng Việt (trong đó có 10 tờ rất phản động), 66 nhà xuất bản để tuyên truyền chống Việt Nam; đưa một số lượng lớn tài liệu, sách báo, truyền đơn, băng hình, băng nhạc,... có nội dung phản động, đồi trụy vào Việt Nam; chỉ đạo bọn “bồi bút”, cơ hội viết nhiều bài xuyên tạc, bôi nhọ tình hình Việt Nam.

Hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch thông qua “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa đối với nước ta trong những năm vừa qua được thể hiện qua các thủ đoạn và nội dung chủ yếu sau: Xuyên tạc, bôi nhọ, đả kích bản sắc văn hóa dân tộc; đặc biệt là truyền thống văn hóa, văn nghệ cách mạng, lối sống XHCN - những giá trị tinh thần của chế độ XHCN; truyền bá văn hóa, lối sống tư sản phương Tây vào nước ta - lối sống thực dụng, vụ lợi cá nhân, sùng bái đồng tiền, dâm ô, trụy lạc phi nhân tính...; kích thích sự phục hồi, phát triển lối sống mê tín dị đoan, tôn thờ chủ nghĩa hữu thần; tìm hiểu, móc nối, mua chuộc, lôi kéo, kích động trí thức, văn nghệ sĩ có tư tưởng bất mãn, thù địch, cơ hội, hữu khuynh cực đoan, sa đọa về phẩm chất đạo đức,... vào con đường phản bội, chống lại Đảng, Nhà nước và nhân dân; tìm cách thao túng, lũng đoạn, chi phối các cơ quan, tổ chức văn hóa, văn nghệ làm cho văn hóa, văn nghệ đi chệch định hướng XHCN.

Tác động của “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa ở nước ta trong những năm qua được thể hiện trên những phương diện chủ yếu sau:

Phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng và Nhà nước ta, làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với chế độ XHCN ở Việt Nam

Lợi dụng sự sụp đổ của chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu, các thế lực thù địch đã tấn công quyết liệt vào nền tảng tư tưởng của Đảng, Nhà nước ta là chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh; đả kích đường lối cách mạng của Đảng, bài xích định hướng XHCN. Chúng phát hiện những người bất mãn trong nội bộ Đảng, Quân đội, bộ máy nhà nước để tìm cách lôi kéo, lái những người này đi theo quan điểm của chúng làm nòng cốt để chuyển hóa từ bên trong; kích động tâm lý hoài nghi dẫn tới phủ định CNXH. 

Thực tế đã có một bộ phận nhân dân, trong đó có một số cán bộ, đảng viên đã dao động, giảm lòng tin đối với chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và dân tộc ta đã lựa chọn. Một số kẻ cơ hội, xét lại, phản bội đã tung ra những bài viết xuyên tạc, vu khống, bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Những việc làm ấy đã gieo hoang mang, hoài nghi cho không ít người. Bằng cách đó, họ muốn tạo nên một sự “tự diễn biến” từ bên trong xã hội ta, trước hết là “tự diễn biến” về nhận thức, tư tưởng, từ đó dẫn đến những “tự diễn biến” về các mặt khác. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, sinh viên, học sinh phai nhạt lý tưởng cách mạng, thờ ơ chính trị, giảm sút và mất lòng tin vào thắng lợi của CNXH, vào khả năng lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới, vào thắng lợi của công cuộc đổi mới, dẫn tới những nhận thức lệch lạc, ngả nghiêng về bản lĩnh chính trị, lập trường quan điểm, đã phụ họa với những quan điểm sai trái, phát ngôn theo luận điệu của các thế lực thù địch, phủ định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. 

Bên cạnh đó, các thế lực thù địch sử dụng “vấn đề nhân quyền” để phá hoại về tư tưởng đối với Việt Nam, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của chúng ta, đặt điều kiện hòng ép ta thoả hiệp, nhượng bộ về chính trị, thay đổi đường lối của ta, đi theo quỹ đạo của chúng, núp dưới chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” để tuyên truyền, kích động dư luận thế giới cô lập Việt Nam, gieo rắc sự nghi ngờ trong các công dân Việt Nam đối với Nhà nước, kích động và khơi dậy sự phản kháng của những kẻ bất mãn, những phần tử cơ hội, thoái hóa biến chất, những người trước đây cộng tác với chế độ cũ, hiện đang còn ở lại Việt Nam. Các thế lực thù địch còn vu khống, xuyên tạc chính sách của Nhà nước ta về tôn giáo, dân tộc, chính sách đối với văn nghệ sĩ.

Đó là những đòn tấn công của các thế lực thù địch để tạo ra những lực lượng chống đối ngầm trong nội bộ nhân dân ta. Nếu không được vạch trần, ngăn chặn, nó có khả năng làm rối loạn xã hội, tạo cơ hội cho “diễn biến hoà bình” phát triển thành công ở Việt Nam.

Tác động chống phá về văn hóa

Trong tác động phá hoại về văn hóa, các thế lực thù địch tập trung phá hoại truyền thống văn hóa dân tộc, văn hóa cách mạng, các chuẩn mực đạo đức, lối sống XHCN. Các thế lực thù địch rất coi trọng tác dụng “diễn biến hòa bình” của các loại “chất độc tinh thần” tư sản. Do vậy, chúng tìm mọi phương thức để các sản phẩm văn hóa độc hại xâm nhập vào nước ta. Chúng sử dụng các sản phẩm văn hóa đồi trụy, phản động để đầu độc quần chúng nói chung, đặc biệt là thế hệ thanh niên ở nước ta nói riêng, làm chuyển đổi giá trị thẩm mỹ, thị hiếu nghệ thuật, chuyển đổi các thang bậc giá trị của xã hội theo chiều hướng xấu; âm mưu biến thế hệ trẻ thành công cụ và lực lượng xã hội chủ yếu của “diễn biến hòa bình”. 

Tác động phá hoại về đạo đức, lối sống

Đó là tệ sùng ngoại, coi thường những giá trị văn hóa của dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân vị kỷ, ham muốn làm giàu, ham muốn quyền lực cực đoan... đã và đang làm băng hoại thuần phong mỹ tục của dân tộc. Khuynh hướng này hết sức nguy hiểm, có sức phá hoại mạnh, tác động trực tiếp đến tư tưởng, đạo đức, lối sống của các tầng lớp xã hội. Đáng lưu ý là lối sống thực dụng đang có chiều hướng gia tăng. Điều đó được biểu hiện ở chỗ: từ chạy theo lợi ích vật chất dẫn đến sự lạm dụng địa vị, quyền lực đang đảm nhiệm để mưu cầu lợi ích cá nhân; đặt giá trị vật chất ở vị trí cao trong thang giá trị cuộc sống. Đó là một nguyên nhân dẫn đến suy thoái về đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ có chức, có quyền. Đó là tệ tham nhũng, lãng phí; nạn quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu nhân dân, kèn cựa, địa phương chủ nghĩa, bè phái, mất đoàn kết. Đây là những vấn đề bức xúc làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng khiếu kiện đông người ngày một tăng. Đó là “giặc nội xâm”, có nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ mà chúng ta phải kiên quyết ngăn chặn và quét sạch.

Tính chất nguy hiểm của “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa thể hiện ở chỗ: Một là, các thế lực thù địch đánh phá nền tảng tư tưởng, xuyên tạc quá khứ, bôi đen lãnh đạo để phá rã niềm tin của quần chúng vào Đảng và chế độ, làm cho toàn xã hội hỗn loạn về lý luận và tư tưởng, mất định hướng chính trị, tạo thế đứng cho các lực lượng phản động trong nước, gây áp lực chính trị của quần chúng đòi thay đổi chế độ XHCN. Hai là,với chiến thuật “mưa dầm thấm lâu” thông qua tác động trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa bằng những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, với những luận điểm mị dân, lừa bịp, dễ làm cho đối phương mất cảnh giác, dễ bị cám dỗ, mất phương hướng chính trị, không phân biệt đúng sai, thật giả, tạo ra “khoảng trống” về chính trị, tinh thần để dễ dàng truyền bá các quan điểm tư sản và đánh thẳng vào nội bộ ta, gây chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kích động lật đổ và bạo loạn chính trị. Ba là, với nhiều thủ đoạn khác nhau, các thế lực thù địch làm mê muội con người, đặc biệt là thế hệ trẻ, học sinh, sinh viên Việt Nam bằng các loại văn hóa phẩm độc hại, cổ xúy lối sống hưởng lạc, thực dụng, quên quá khứ, bàng quan chính trị, xa rời lý tưởng; tạo ra được một tầng lớp đông đảo “phi chính trị hóa”, để khi có điều kiện thì tập hợp lực lượng xấu, gây áp lực chính trị, dùng bạo loạn lật đổ và cướp chính quyền. Bốn là, thực hiện chính sách lôi kéo, thông qua các nước đồng minh, các tổ chức phi chính phủ, qua giao lưu hợp tác về văn hóa, giáo dục, khoa học, nghệ thuật, báo chí... để thâm nhập, thu thập tin tức tình báo, mua chuộc cán bộ, chuyển hóa tư tưởng, cài cắm người vào các tổ chức của ta, móc nối với các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị để chống phá Đảng và Nhà nước ta. Năm là, với hình thức tung tin đồn nhảm, tạo dư luận và áp lực xã hội, dưới chiêu bài “chống tham nhũng”, “bảo vệ tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền”, chúng đưa ra những lời hứa mị dân để gây tâm trạng mơ hồ, mất cảnh giác, cả tin của một số người; từ đó cô lập các lực lượng cách mạng trung kiên, phân hóa những người dao động, thiếu chính kiến, thiếu thông tin; lôi kéo, kích động những người có tâm trạng bất mãn, những lực lượng xấu trong xã hội để gây bạo loạn lật đổ chính quyền.

Cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa là cuộc đấu tranh giữa hệ tư tưởng XHCN và hệ tư tưởng tư sản. Cuộc đấu tranh này ở nước ta hiện nay đang diễn ra rất phức tạp, gay go và quyết liệt. Các thế lực thù địch đã, đang và sẽ dùng mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng nước ta trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó chống phá trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa ngày càng quyết liệt. Đó là một nguy cơ đối với sự tồn vong của Đảng, của chế độ ta, không thể xem thường. Do đó, nếu chúng ta chủ quan, mất cảnh giác hoặc nhận thức không đầy đủ về những tác động phá hoại của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa, thì các thế lực thù địch, phản động, cơ hội càng có nhiều cơ hội để tiến hành âm mưu, hoạt động “diễn biến hoà bình” nhằm chống Đảng, Nhà nước ta. Kiên quyết đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, phê phán, vạch trần, bác bỏ các quan điểm thù địch, sai trái là một nhiệm vụ hàng đầu trong tình hình mới./.

Phát huy vai trò của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, góp phần đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong giai đoạn mới

 Tham nhũng, tiêu cực luôn là nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ. Vì vậy, Đảng ta luôn kiên quyết đấu tranh phòng, chống những mối nguy cơ đó. Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ chính trị trong thời gian tới, đòi hỏi các cấp, các ngành, trong đó có đội ngũ những người làm công tác kiểm tra, giám sát phải nỗ lực hơn nữa, quyết tâm cao hơn nữa trong thực hiện nhiệm vụ quan trọng này.

Nỗ lực của Đảng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

Sau khi thành lập chính quyền non trẻ, Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành đảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm cảnh báo nguy cơ xa rời quần chúng và tệ thoái hóa, biến chất của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Người đã luôn chú trọng giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên về đạo đức cách mạng, quyết tâm phòng, chống những nguy cơ làm tha hóa đội ngũ cán bộ, đảng viên. Thấm nhuần tư tưởng của Người, Đảng ta thường xuyên chăm lo tới công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đặc biệt, bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước, tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (tháng 1-1994), Đảng đã xác định 4 nguy cơ đối với sự nghiệp cách mạng của đất nước là: Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa; nạn tham nhũng và các tệ nạn xã hội; âm mưu và hành động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Trong đó, sự suy thoái, biến chất của đội ngũ cán bộ, đảng viên và tệ nạn quan liêu, tham nhũng, lãng phí được coi là “giặc nội xâm”; làm ảnh hưởng xấu đến niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và đe dọa sự tồn vong của chế độ. Hiện nay, một bộ phận cán bộ, đảng viên có chức, có quyền bị tác động bởi mặt trái của cơ chế thị trường, kém tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất người đảng viên sẽ dẫn tới thoái hóa, biến chất, phai nhạt lý tưởng, xa rời nhân dân, sa vào tham nhũng, lãng phí. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đang diễn ra theo chiều hướng ngày càng tinh vi, phức tạp, nếu không kịp thời đấu tranh, ngăn chặn sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới vai trò lãnh đạo của Đảng, làm mất niềm tin của nhân dân.

Từ sau Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII, Ðảng và Nhà nước ta đã tăng cường công tác đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và đã đạt được một số kết quả nhất định, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, cuộc đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí còn nhiều hạn chế, khuyết điểm, hiệu quả thấp. Tham nhũng, lãng phí vẫn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực với phạm vi rộng, tính chất phức tạp, gây hậu quả xấu về nhiều mặt, làm giảm sút lòng tin của nhân dân, là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự tồn vong của Ðảng và chế độ ta.

Trước tình hình trên, Hội nghị Trung ương 3 khóa X đã ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 21-8-2006, “Về tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”. Một trong những chủ trương, giải pháp được Nghị quyết nêu ra là: Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử hành vi tham nhũng. Tập trung kiểm tra, thanh tra, kiểm toán một số lĩnh vực trọng điểm, như: Đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý đất đai, thu - chi ngân sách, quản lý tài sản công và hệ thống ngân hàng thương mại. Thành lập các đoàn công tác liên ngành giữa ủy ban kiểm tra của Đảng với thanh tra, kiểm toán, công an, kiểm sát để phối hợp xử lý các vụ tham nhũng, lãng phí nghiêm trọng. Công khai kết quả xử lý của các đoàn công tác này”(1). Tiếp đó, Hội nghị Trung ương 5 khóa XI đã ban hành Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-5-2012, “Về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí””. Kết luận số 21-KL/TW cũng đã nhấn mạnh một trong các nhiệm vụ, giải pháp về công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí là: “Tiếp tục hoàn thiện thể chế và tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”(2). Sau đó, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đều đánh giá vai trò quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng trong công tác phòng, chống tham nhũng.

Ngày 12-12-2020, phát biểu tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc, tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2013 - 2020, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã đánh giá công tác kiểm tra của Đảng chính là bước “đột phá” trong công tác phòng, chống tham nhũng hiện nay: “Công tác phát hiện và xử lý tham nhũng được chỉ đạo đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả, tạo bước đột phá trong công tác phòng, chống tham nhũng, khẳng định quyết tâm rất cao của Đảng, Nhà nước trong chống tham nhũng, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai, không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào”. Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, thanh tra, kiểm toán của Nhà nước được tăng cường, phát hiện và xử lý nghiêm minh các sai phạm, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và bộ máy nhà nước, góp phần đắc lực nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng”(3).

Thời gian qua, cấp ủy, ủy ban kiểm tra (UBKT) các cấp đã chủ động, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo kiểm tra, giám sát phục vụ cho việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy các cấp hằng năm đã ban hành các chương trình kiểm tra, giám sát, thành lập các đoàn kiểm tra, giám sát. Nội dung kiểm tra, giám sát tập trung vào việc chấp hành các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, trong đó có việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị, “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và các quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa X về tăng cường công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

Ủy ban Kiểm tra Trung ương và UBKT các cấp rất tích cực, chủ động, quyết tâm, quyết liệt trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với tổ chức đảng và đảng viên (trong đó trên 1/2 đảng viên là cấp ủy viên các cấp), giám sát thường xuyên và giám sát chuyên đề đối với tổ chức đảng và đảng viên; tập trung nhiều vào những điểm “nóng”, những lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh tiêu cực, những vấn đề bức xúc mà dư luận quan tâm, như việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc; công tác cán bộ; biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; trách nhiệm nêu gương; quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên, tài chính, ngân hàng; bảo vệ môi trường, cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp; thực hiện dự án đầu tư, xây dựng cơ bản, mua sắm tài sản công... Trong đó, vừa có nhiều vụ việc mới, lại có những vụ việc tồn tại đã lâu, việc giải quyết rất khó khăn, phức tạp, nhạy cảm, liên quan nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều địa phương, gây bức xúc trong xã hội... đã được phát hiện, làm rõ, kết luận và kỷ luật; đề nghị các cấp có thẩm quyền kỷ luật nhiều tổ chức đảng và đảng viên vi phạm, trong số đó có cả những người giữ cương vị cao của Đảng, Nhà nước, lãnh đạo chủ chốt các địa phương, đơn vị, sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang, đương chức hoặc đã nghỉ hưu.

Qua kiểm tra, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy và UBKT các cấp đã xử lý nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm; làm một cách bài bản, từ trên xuống dưới, có trọng tâm, trọng điểm. Quan điểm về xử lý kỷ luật là “không có vùng cấm, không có vùng trống, không có ngoại lệ, không có đặc quyền, không có hạ cánh an toàn”, dù là cán bộ đương chức hay đã nghỉ hưu, cán bộ cấp cao, cả dân sự và cả trong lực lượng vũ trang, thì mọi đảng viên đều bình đẳng khi xử lý kỷ luật và làm nghiêm từ trên xuống.  Trong giai đoạn 2013 - 2020, cấp ủy, UBKT các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 131 nghìn đảng viên, trong đó có nhiều trường hợp tham nhũng(4). Riêng từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII đến nay, đã thi hành kỷ luật hơn 87 nghìn cán bộ, đảng viên; trong đó, có hơn 3.200 đảng viên bị kỷ luật liên quan đến tham nhũng; đã thi hành kỷ luật hơn 110 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý (4 Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, 27 Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, hơn 30 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang,...).

Thực hiện nghiêm túc quan điểm “Kỷ luật đảng đi trước, tạo tiền đề, mở đường cho thanh tra, điều tra, xử lý hình sự theo pháp luật”, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã tập trung kiểm tra các tổ chức đảng, đảng viên có dấu hiệu vi phạm trong các vụ án, vụ việc nổi cộm, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Trong năm 2021, qua kiểm tra, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã xử lý và đề nghị Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư xử lý nghiêm 12 tổ chức đảng và 20 đảng viên thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý (gồm 3 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương; 2 thứ trưởng, 1 đồng chí nguyên chủ tịch; 1 đồng chí nguyên phó bí thư tỉnh ủy; 13 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang). Đã kiểm tra, làm rõ các sai phạm, xử lý và yêu cầu xử lý trách nhiệm đối với nhiều tập thể, cá nhân sai phạm liên quan đến việc giảm chấp hành hình phạt tù trước thời hạn cho Phan Sào Nam (trong đó, đã thi hành kỷ luật đối với Ban cán sự đảng Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh và 5 cán bộ gồm Chánh án, 2 Phó Chánh án, Chánh Tòa dân sự, Phó Trưởng phòng Kiểm tra nghiệp vụ và thi hành án; hiện đang yêu cầu cấp ủy, tổ chức đảng xem xét, xử lý trách nhiệm đối với các tập thể và cá nhân khác); một số tập thể và cá nhân sai phạm liên quan đến vụ án xảy ra tại Cục Quản lý Dược, Bộ Y tế; 1 tập thể và nhiều cá nhân sai phạm xảy ra tại Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam và các đơn vị trực thuộc(5)...

Các tổ chức đảng và đảng viên sau khi được kiểm tra, giám sát đã nghiêm túc khắc phục, sửa chữa vi phạm, khuyết điểm và hậu quả gây ra, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương của Đảng. Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng đã góp phần đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; qua đó, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Như vậy, có thể thấy rõ rằng, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng ta được tiến hành rất quyết liệt, trong đó, ngày càng xác định rõ hơn vai trò, trách nhiệm của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng.

Bước sang nhiệm kỳ Đại hội XIII, đất nước ta tiếp tục phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, bốn nguy cơ mà Đảng đã chỉ ra vẫn đang hiện hữu, có mặt còn gay gắt hơn; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ còn diễn biến phức tạp. Khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên có nguy cơ gia tăng về số lượng, mức độ, với tính chất, quy mô tinh vi hơn trước. Thực tế đó đặt ra yêu cầu, đòi hỏi phải đặc biệt coi trọng và đưa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng lên tầm cao mới, gắn liền với xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đây là nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn vong của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Ban Chấp hành Trung ương quyết định đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đồng bộ các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đã đề ra. Trong đó, Ban Chấp hành Trung ương đặc biệt nhấn mạnh đến giải pháp về: Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm(6).

Những nhiệm vụ của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng cần thực hiện tốt trong thời gian tới

Để đáp ứng yêu cầu và thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới, trong đó, có đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng cần được nhận thức đúng, đầy đủ hơn và tập trung vào một số nội dung chủ yếu sau đây:

Một là, tiếp tục tạo sự chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa về nhận thức của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, ngành và đội ngũ cán bộ, đảng viên về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng.

Đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nhằm nâng cao hơn nữa nhận thức và trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng và các cấp, các ngành, cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu về vị trí, vai trò, mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Mọi cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu, phải gương mẫu, đi đầu, nêu cao tinh thần tự giác, thống nhất cao về ý chí và hành động trong công tác kiểm tra, giám sát để giữ gìn uy tín, củng cố niềm tin của nhân dân và phải công khai những điều cần thiết để nhân dân biết, ủng hộ và giám sát. Tiếp tục khẳng định kiểm tra, giám sát là một phương thức lãnh đạo của Đảng, một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng, là nhiệm vụ của toàn Đảng, trước hết là trách nhiệm của cấp ủy và của người đứng đầu cấp ủy. Công tác kiểm tra, giám sát, như đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “là thanh bảo kiếm của Đảng”. Những nỗ lực đó nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, hành động của các cấp ủy, tổ chức đảng và UBKT các cấp.

Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng trên các phương tiện thông tin đại chúng bằng nhiều hình thức, biện pháp thích hợp; chú trọng nhân rộng các nhân tố điển hình, kinh nghiệm hay, cách làm sáng tạo, hiệu quả; rà soát, tiếp tục mở các chuyên trang, chuyên mục, xuất bản, phát hành sách, báo, tạp chí, các tác phẩm văn học, nghệ thuật về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng. Công khai kết quả xử lý các vụ việc đến cán bộ, đảng viên và nhân dân để phát huy tối đa hiệu quả tác dụng trong phòng ngừa, giáo dục, răn đe, cảnh tỉnh vi phạm; không để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, chia rẽ nội bộ, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ; tạo đồng thuận và hiệu ứng tốt trong xã hội, góp phần quan trọng cho công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Hai là, tiếp tục chỉ đạo nghiên cứu xây dựng, hoàn thiện các quy định của pháp luật và hệ thống các quy định về công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng có liên quan đến việc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và cấp ủy các cấp tăng cường chỉ đạo nghiên cứu xây dựng hoàn chỉnh các nghị quyết, chỉ thị, quy chế, quy định về công tác xây dựng Đảng, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng đồng bộ, thống nhất; đổi mới phương pháp, kỹ năng, quy trình công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng bảo đảm khoa học, dân chủ, đồng bộ, thống nhất, khả thi; trong đó, tập trung vào các cơ chế, biện pháp chủ động phát hiện sớm để phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm, khuyết điểm của tổ chức đảng, đảng viên. Đồng thời, chỉ đạo xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và các quy định về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực gắn với cơ chế kiểm soát quyền lực; tạo sự đồng bộ, thống nhất trong thực hiện quy định xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức với kỷ luật đảng viên; có cơ chế, chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức, viên chức để cán bộ, đảng viên “không thể tham nhũng”, “không dám tham nhũng”, “không cần tham nhũng”...

Ba là, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng, góp phần quan trọng cho công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Cấp ủy, tổ chức đảng, UBKT các cấp cần nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu lực, hiệu quả và tạo bước tiến mới trong công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng. Tập trung kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, người đứng đầu, cán bộ chủ chốt ở những lĩnh vực, địa bàn, vị trí công tác dễ xảy ra tiêu cực. Cấp ủy các cấp phải thường xuyên tự kiểm tra, nhất là đối với cấp ủy viên và cán bộ diện cấp ủy cấp mình quản lý, kịp thời chỉ ra những ưu điểm để phát huy, phát hiện những hạn chế, khuyết điểm để chủ động khắc phục, chấn chỉnh. Tăng cường giám sát để giúp cho tổ chức đảng, đảng viên kịp thời chấn chỉnh, khắc phục, sửa chữa khuyết điểm, vi phạm, không để khuyết điểm kéo dài trở thành vi phạm, vi phạm nhỏ trở thành vi phạm lớn, vi phạm của một người trở thành vi phạm của cả tập thể. Thực hiện giám sát trên tất cả các địa bàn, lĩnh vực; tập trung giám sát việc tham mưu, ban hành thể chế, nhất là những nơi nội bộ có biểu hiện mất đoàn kết, có vấn đề phức tạp mới nảy sinh, dư luận xã hội quan tâm để chủ động nhắc nhở, cảnh báo, phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm từ sớm. Việc thực hiện kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm cần có tinh thần chủ động hơn, nỗ lực quyết tâm cao hơn, hành động quyết liệt hơn, tập trung vào những nơi có vấn đề phức tạp, điểm “nóng”, những địa bàn, lĩnh vực dễ nảy sinh vi phạm, những vấn đề nổi cộm, gây bức xúc trong xã hội, như các lĩnh vực kinh tế - tài chính, hành chính, tư pháp, y tế, giáo dục, quản lý báo chí, sử dụng nguồn viện trợ của nước ngoài,... Việc xử lý kỷ luật phải nghiêm minh, kịp thời, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, song, phải trên tinh thần nhân văn, “trị bệnh cứu người”, mục đích là làm cho tổ chức đảng, đảng viên tiến bộ hơn, để thực hiện tốt hơn nhiệm vụ chính trị được giao.

Bên cạnh đó, cấp ủy, tổ chức đảng, UBKT các cấp cần nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng cường kiểm tra, giám sát và kiên quyết xử lý, kỷ luật nghiêm minh đối với cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, góp phần quan trọng cho đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống tất yếu dẫn đến tham nhũng và đây mới là cái gốc của tệ nạn, là cái cơ bản cần phải phòng, chống. Do đó, công tác phòng, chống tham nhũng phải gắn liền, đồng bộ với công tác phòng, chống tiêu cực, nhất là chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Không chỉ đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực kinh tế, mà quan trọng hơn là phải chống tiêu cực trong cả lĩnh vực tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Bốn là, tăng cường sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các cơ quan kiểm tra với các cơ quan thanh tra, điều tra, kiểm toán và các cơ quan quản lý nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, tạo sự chuyển biến rõ nét trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực từ Trung ương đến cơ sở.

Thực hiện tốt quy chế phối hợp giữa UBKT với các đảng ủy, ban cán sự đảng, đảng đoàn liên quan. Ủy ban kiểm tra các cấp tiếp tục tham mưu cho Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy cùng cấp sửa đổi, bổ sung, xây dựng ban hành mới quy chế phối hợp giữa UBKT với cơ quan điều tra, thanh tra, kiểm toán, viện kiểm sát nhân dân, tòa án nhân dân và tổ chức thực hiện có chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan theo cơ chế chỉ đạo phối hợp xử lý sai phạm được phát hiện trong quá trình thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Ủy ban kiểm tra các cấp cần phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng nhà nước để kiểm soát thu nhập của cán bộ, nhất là cán bộ thuộc diện cấp ủy quản lý theo chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền.

Tiếp tục thực hiện nghiêm túc quan điểm “Kỷ luật đảng đi trước, tạo tiền đề, mở đường cho thanh tra, điều tra, xử lý hình sự theo pháp luật”. Ủy ban kiểm tra các cấp tập trung kiểm tra các tổ chức đảng, đảng viên có dấu hiệu vi phạm trong các vụ án, vụ việc nổi cộm, gây bức xúc trong dư luận xã hội; qua kiểm tra, giám sát phát hiện thấy có các cán bộ, đảng viên có dấu hiệu tội phạm về tham nhũng, tiêu cực thì chuyển cho các cơ quan pháp luật xem xét, xử lý theo thẩm quyền, không chờ đến khi kết thúc kiểm tra, giám sát mới chuyển. Các cơ quan chức năng trong quá trình thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đối với các vụ việc, vụ án về tham nhũng, tiêu cực, nếu phát hiện vi phạm liên quan đến cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy các cấp quản lý thì báo cáo ngay cho Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, cấp ủy quản lý cán bộ để kịp thời chỉ đạo xử lý. Đồng thời, chuyển hồ sơ, tài liệu liên quan đến Ủy ban Kiểm tra Trung ương, UBKT thuộc cấp ủy quản lý cán bộ để kiểm tra, xử lý theo quy định của Đảng, không chờ khi có kết luận, kết thúc vụ việc, vụ án mới chuyển.

Năm là, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ kiểm tra các cấp theo hướng chuyên nghiệp hóa, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, phục vụ cho công tác đấu tranh, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Cán bộ kiểm tra phải có phẩm chất đạo đức cách mạng, có bản lĩnh chính trị, tính chiến đấu cao, có kinh nghiệm về công tác xây dựng Đảng, kỹ năng nghiệp vụ thuần thục, phương pháp công tác khoa học, dân chủ, thận trọng, chặt chẽ; nắm vững và thực hiện đúng các nguyên tắc, thẩm quyền, quy trình, thủ tục, cơ chế, chính sách, quy định của Đảng và Nhà nước về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; không lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để trục lợi. Đổi mới công tác tuyển dụng, bố trí, phân công, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng đối với cán bộ kiểm tra. Có chế độ, chính sách đãi ngộ phù hợp đối với cán bộ kiểm tra và chế độ, chính sách thu hút cán bộ chuyên môn giỏi, phẩm chất chính trị tốt về làm công tác kiểm tra. Tiếp tục đổi mới nội dung chương trình, hình thức, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kiểm tra theo hướng chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng bằng giáo trình đào tạo, bồi dưỡng theo chức danh, ngạch bậc và với đội ngũ giảng viên, báo cáo viên bảo đảm điều kiện, tiêu chuẩn.

Để góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””, các cấp ủy, tổ chức đảng, UBKT các cấp cần đặc biệt coi trọng công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, làm hết trách nhiệm và lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện có chất lượng, hiệu lực, hiệu quả các văn kiện trên./.

Cảnh giác với chiêu trò cổ vũ cho sự ra đời, hoạt động của tổ chức xã hội dân sự độc lập

 

Cho đến nay, khái niệm xã hội dân sự (XHDS) thường được hiểu theo hai nghĩa, đó là: (1) Một chế độ xã hội và (2) là tổ chức XHDS độc lập. Vậy, XHDS là gì? Tổ chức XHDS độc lập là gì? Vì sao các thế lực thù địch, những kẻ tự xưng là “người bất đồng chính kiến” lại đang cổ vũ cho sự ra đời, hoạt động của tổ chức XHDS độc lập; cho rằng “chỉ có XHDS độc lập mới bảo đảm được dân chủ và quyền con người”?

Xã hội là quan hệ giữa người với người. Trong các chế độ nô lệ, phong kiến, quan hệ giữa người với người là quan hệ đẳng cấp, về chính trị, kinh tế luôn luôn bất bình đẳng. Xã hội dân sự (Civil society) chỉ ra đời sau khi có các cuộc cách mạng dân chủ tư sản. Những cuộc cách mạng này đã lật đổ chế độ đẳng cấp đó, tuyên bố về quyền bình đẳng, về “quyền công dân” (tất nhiên đây chỉ là về mặt pháp lý, còn trên thực tế thì quyền bình đẳng thực sự chưa được bảo đảm). Giai cấp tư sản thống trị xã hội bằng quan hệ kinh tế, quan hệ giữa chủ với thợ và bằng thể chế chính trị của mình.

Tổ chức XHDS chính trị độc lập (còn gọi là các tổ chức “phi chính phủ”- non-governmental organization-NGOs) là những tổ chức tự nguyện, là liên minh, là sự tập hợp những người có chung những mục tiêu, lý tưởng, tự quản trong hoạt động và tự chịu trách nhiệm về tài chính.

Về mặt lịch sử, XHDS ra đời từ sau khi có Cách mạng Dân chủ tư sản Anh (1642-1689). Tuy nhiên, hai cuộc cách mạng dân chủ tư sản điển hình là Cách mạng Pháp năm 1789, Cách mạng giành độc lập của Mỹ năm 1776 và Hiến pháp Mỹ năm 1787 mới là cơ sở bền vững cho XHDS và tổ chức XHDS độc lập.

Ở Việt Nam, các quyền công dân và quyền con người là thành quả của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Trong Tuyên ngôn Độc lập công bố trước quốc dân đồng bào ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn văn kiện "Tuyên ngôn độc lập" của Mỹ và "Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền" của Pháp, như là một sự kế thừa, phát triển những giá trị chung của nhân loại trong điều kiện của một nước thuộc địa. Đó là độc lập dân tộc (đưa đất nước thoát khỏi sự thống trị của chủ nghĩa thực dân) và quyền con người, quyền công dân. Các Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013, tuy ngôn từ có khác nhau nhưng về bản chất xã hội Việt Nam là chế độ dân chủ, là chế độ tôn trọng và bảo đảm quyền công dân, quyền con người.

Trên phạm vi quốc tế, cơ sở chính trị, pháp lý của XHDS bắt nguồn từ những văn kiện quạn trọng nhất của cộng đồng quốc tế. Đó là Hiến chương Liên hợp quốc (United Nations Conference on International Organization, tại San Francisco, California,ngày 26-6-1945); tiếp đó là văn kiện “Tuyên ngôn thế giới về quyền con người”, ngày 10-12-1948. Trong "Tuyên ngôn thế giới về quyền con người", quyền tự do hội họp và lập hội đã được quy định như sau: “Mọi người đều có quyền tự do hội họp và lập hội, một cách ôn hòa; không một ai có thể bị cưỡng bức gia nhập vào một đoàn thể” (Ðiều 20).

Trong thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, những giá trị chung của nhân loại, trong đó có quyền con người với những giá trị nền tảng là tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết và trách nhiệm (bổ sung của tác giả) được chia sẻ giữa các quốc gia, dân tộc theo những phương thức khác nhau. Tuy nhiên, Hoa Kỳ và các quốc gia tư bản chủ nghĩa (TBCN) phương Tây đã dùng chiến lược “diễn biến hòa bình”, lợi dụng khái niệm dân chủ, nhân quyền, XHDS đưa các “giá trị dân chủ, nhân quyền” của họ “thẩm thấu” vào các quốc gia xã hội chủ nghĩa (XHCN), từng bước “mở tung bức màn sắt của chế độ cộng sản” (theo cách nói của họ).

Vào những năm từ 1985 đến 1991, các nước XHCN cải tổ. Ở Ba Lan, tổ chức “Công đoàn đoàn kết” giữ vai trò ngòi nổ và đột phá làm sụp đổ chế độ xã hội và nhà nước do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Ở Liên Xô, Mỹ và phương Tây sử dụng quan điểm về dân chủ, nhân quyền, XHDS độc lập để tấn công phá hủy ý thức hệ XHCN. Rốt cuộc, quốc gia hùng mạnh bậc nhất thế giới một thời đã tan rã, sụp đổ.

Tuy nhiên ở một số quốc gia khác, trong đó có Việt Nam, quá trình đổi mới đã tiếp thu có chọn lọc các giá trị quyền con người, kinh tế thị trường và nhà nước pháp quyền với sự vận dụng, phát triển sáng tạo phù hợp truyền thống dân tộc và chế độ xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đã vượt qua khủng hoảng, tồn tại và ngày càng phát triển.

Ở nước ta, các thế lực thù địch, tổ chức phản động lưu vong, trong đó có tổ chức FULRO do Ksor Kơk cầm đầu (ở Mỹ) đã lợi dụng internet, mạng xã hội tuyên truyền về “quyền tự do dân chủ” về “nhân quyền”… kích động đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên đòi thành lập “Nhà nước Tin Lành Đề Ga”. Vào năm 2001 và 2004, chúng đã lôi kéo được một số lượng lớn đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên gây ra hai cuộc bạo loạn là ví dụ. Gần đây, các thế lực thù địch đã chuyển sang dùng thủ đoạn đấu tranh “bất bạo động”, “bất tuân dân sự” để chống lại chính quyền nhân dân. Thủ đoạn này chủ yếu là dùng các tổ chức XHDS độc lập huy động lực lượng tạo ra “hội chứng đám đông” để chống chính quyền nhân dân. Ai cũng biết đằng sau những “đám đông” đó vẫn là những tổ chức XHDS độc lập phản động, chẳng hạn như tổ chức Việt Tân… Những sự kiện người dângây ách tắc giao thông trên Quốc lộ 1A ở Hà Tĩnh, Nghệ An các năm 2016-2017 sau vụ Công ty Fomosa Hà Tĩnh gây ra sự cố môi trường diện rộng là một ví dụ.

Như vậy có thể nói, sử dụng các tổ chức XHDS độc lập là thủ đoạn chính trị của các thế lực thù địch, nhằm “cài cấy” người của chúng chi phối hoạt động của nhân dân. Thông qua hoạt động của các tổ chức XHDS độc lập, chúng “rèn luyện” lực lượng chống phá chế độ và lựa chọn kẻ cầm đầu. Ngoài ra, dựa trên các tổ chức XHDS độc lập, chúng còn tính đến sẽ kêu gọi nước ngoài can thiệp vào công việc của đất nước khi có cơ hội.

 Để phòng, chống các thế lực thù địch lợi dụng tổ chức XHDS độc lập, mỗi người cần nhận thức đúng âm mưu chính trị của các thế lực lợi dụng khái niệm XHDS độc lập. Trên thế giới, cho đến nay không có mô hình “chuẩn” nào về chế độ xã hội, XHDS, tổ chức XHDS độc lập và quyền con người. Chế độ một đảng lãnh đạo, cầm quyền hay chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập đều là những hình thức chính trị nhằm duy trì chế độ xã hội do các đảng chính trị cầm quyền. Ở các nước TBCN, các cuộc cạnh tranh chính trị chỉ có thể dẫn đến những thay đổi nào đó về pháp luật, thay đổi nội các… nhưng chế độ TBCN vẫn không thay đổi.

Quan điểm cho rằng “chỉ có XHDS độc lập mới có dân chủ và quyền con người” hoàn toàn không có cơ sở lý luận và thực tiễn. Ở các nước TBCN hiện nay, điển hình là Hoa Kỳ, có rất nhiều NGOs, nhưng thử hỏi ở quốc gia giàu có nhất hành tinh này, quyền con người có được bảo vệ và bảo đảm không? Thực tế đã trả lời: Quyền sống của con người ở đây luôn luôn bị xâm phạm. Chẳng hạn, vụ xả súng ở Las Vegas ngày 2-10-2017 làm ít nhất 50 người chết, hơn 200 người bị thương. Truyền thông Mỹ nói “đây là vụ xả súng đẫm máu nhất trong lịch sử hiện đại nước Mỹ”[1]. Về các quyền kinh tế xã hội thì sao? Theo Reuters, Cơ quan Thống kê dân số Mỹ ngày 13-9-2011 cho biết, “tỷ lệ người nghèo nước này trong năm 2010 đã tăng năm thứ ba liên tục, lên mức 15,1%, đồng nghĩa với việc cứ 6 người Mỹ thì có gần 1 người sống dưới mức nghèo”[2].

Mặc dù Việt Nam đang là nước chưa phát triển, nhưng nhờ có chính sách kinh tế, xã hội hướng vào người dân nên Việt Nam đã trở thành một quốc gia có thành tích xóa đói, giảm nghèo được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Điều này được thể hiện “bằng số lượng người nghèo giảm từ 89% trong tổng dân số vào năm 1993 xuống còn 8-9% vào năm 2016, trong một thời gian rất ngắn. Giảm nghèo không chỉ ở thu nhập mà còn là khả năng tiếp cận những dịch vụ căn bản như giáo dục, y tế, nhà ở”[3]. 

Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn không ít cán bộ, đảng viên vì nhiều lý do có nhận thức mơ hồ, sai trái về XHDS, một số đảng viên “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về lập trường, quan điểm chính trị, trong đó có những đảng viên đã từng có đóng góp cho cách mạng đã lập tổ chức XHDS độc lập (thực chất là tổ chức xã hội phi pháp). Hiến pháp năm 2013 xác định: Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam do nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Như vậy có thể nói, luận điểm “chỉ có XHDS độc lập mới có dân chủ, quyền con người” thực chất là một thủ đoạn chính trị, tư tưởng thâm độc, nhằm xóa bỏ chế độ xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, chuyển hóa chế độ Việt Nam sang con đường đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập theo mô hình phương Tây-ngoại nhập, đi ngược lại với quyền và lợi ích của đại đa số nhân dân ta.

Quảng Ninh phát huy giá trị văn hóa biển, đảo

 

Trong số 6 di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia của Quảng Ninh thì có tới 4 lễ hội gắn liền với biển và không gian văn hóa biển, đảo.

Việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống từ những lễ hội này luôn được Quảng Ninh quan tâm, góp phần giáo dục người dân về niềm tự hào dân tộc và tình yêu với biển, đảo quê hương.

Quảng Ninh có bờ biển dài hơn 250km, không gian biển rộng lớn với hơn 2.000 hòn đảo, là môi trường để hình thành nền văn hóa biển, đảo đặc sắc, đa dạng. 4 di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia của tỉnh gồm: Lễ hội đền Cửa Ông (Cẩm Phả), Lễ hội Tiên Công (Quảng Yên), Lễ hội đình Trà Cổ (Móng Cái), Lễ hội đình Quan Lạn (Vân Đồn). Ngoài ra, còn có Lễ hội đình-nghè Cẩm Hải (Cẩm Phả), Lễ hội đình làng My Sơn (Hải Hà)... Có thể thấy, các vùng giáp biển và trên các đảo của Quảng Ninh đều có những lễ hội về biển. Những lễ hội này đều mang giá trị tưởng nhớ tiền nhân, là nơi tập hợp các phong tục, tập quán truyền thống, thích ứng với thiên nhiên, nơi thể hiện trách nhiệm và tình yêu biển, đảo, chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải của Tổ quốc.

Quảng Ninh phát huy giá trị văn hóa biển, đảo
 Hội đua thuyền truyền thống tại Lễ hội đình Trà Cổ năm 2021.

Có thể thấy, hoạt động tín ngưỡng để nhân dân bày tỏ lòng tri ân với các anh hùng của địa phương, của dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử thể hiện qua hầu hết các lễ hội. Hội đình Trà Cổ, nơi mang đậm bản sắc văn hóa vùng biển Đông Bắc, được người dân địa phương duy trì hằng năm để tưởng nhớ công ơn của các vị thành hoàng, các bậc tiền nhân đã có công khai khẩn đất hoang, mở làng. Cụm di tích đình, miếu, nghè, chùa Quan Lạn hiện là nơi thờ phụng 3 vị tướng tài của triều Trần là Phạm Công Chính, Phạm Thuần Dụng và Phạm Quý Công, đã anh dũng hy sinh trong trận chiến trên biển với quân đội phương Bắc xâm lược năm 1288. Còn đền Cửa Ông, đền Cặp Tiên (Vân Đồn) thì gắn liền với danh tướng Trần Quốc Tảng và các chiến công của quân, dân nhà Trần để bảo vệ vùng biển Bái Tử Long-Hạ Long, giúp nhân dân yên tâm lao động, sinh sống.

Các lễ hội còn là tập hợp các phong tục, tập quán, lối sống, kho tàng tri thức dân gian, thực hành tín ngưỡng... được hình thành từ nhu cầu phải thích ứng với điều kiện thiên nhiên đặc thù, khai thác nguồn lợi từ biển khơi, cùng nhau bám biển hiệu quả, bảo vệ ngư trường, giữ vững chủ quyền biển, đảo... Biểu hiện rõ nét nhất chính là những bài ca dao, điệu hát dân ca bình dị nhưng độc đáo, giàu bản sắc vẫn được lưu truyền đến ngày nay, như: Hát nhà tơ-hát múa cửa đình ở Vạn Ninh (Móng Cái), hát giao duyên của ngư dân trên vịnh Hạ Long, hát đúm ở Hà Nam (Quảng Yên), hò biển ở Vân Đồn...

Để phát huy các giá trị của các di sản văn hóa phi vật thể này, hiện nay, Quảng Ninh đã và đang thực hiện nhiều hoạt động bảo tồn, phục dựng, bảo tồn gắn với khai thác du lịch. Ngoài các hoạt động thuộc chính hội, Quảng Ninh hiện đang khai thác các sản phẩm du lịch đặc thù từ văn hóa biển, đảo như: Một ngày làm ngư dân trên biển vịnh Hạ Long; khám phá đảo Quan Lạn (Vân Đồn); hành trình biển, đảo quê hương ở Cô Tô; trải nghiệm làng chài ven biển; các lễ hội truyền thống tại Trà Cổ, Vạn Ninh (Móng Cái)... Các sản phẩm này đều được du khách yêu thích, có thể trở thành sản phẩm thu hút du khách đến từ các thị trường khách chất lượng cao.

Bài và ảnh: TRƯỜNG GIANG

Văn hóa tâm linh và phòng, chống mê tín, dị đoan

 

Một trong những trăn trở của không ít cán bộ, đảng viên hiện nay là tham gia đời sống tâm linh như thế nào cho phù hợp, để không vi phạm Điều 19 của Quy định số 37-QĐ/TW “về những điều đảng viên không được làm”: “Mê tín, hoạt động mê tín, ủng hộ hoặc tham gia các tôn giáo bất hợp pháp hoặc lợi dụng các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng để trục lợi”.

Ranh giới giữa hoạt động tâm linh với hoạt động mê tín, dị đoan thường rất mỏng manh. Định hình được ranh giới ấy, cán bộ, đảng viên sẽ thấy thoải mái, tự tin hơn trong tham gia các hoạt động tâm linh...

Mỗi dịp Tết đến, những ai là con dân nước Việt đều cảm nhận rõ ràng không khí linh thiêng của ngày Tết. Thời khắc giao thừa, thắp nén hương thơm dâng lên bàn thờ tiên tổ, ai cũng cầu mong tổ tiên phù hộ độ trì cho con cháu mạnh khỏe, may mắn, hạnh phúc. Những người cựu chiến binh dẫn theo con cháu đến nghĩa trang liệt sĩ, nhớ về những đồng đội từng hy sinh cho mình được sống, cảm thấy như đồng đội vẫn đang ở đâu đó trên những tầng mây cao vời vợi dõi theo mình, dẫn dắt mình tránh những tai ương, vận hạn.

Đến vãn cảnh khu tưởng niệm các danh nhân, anh hùng dân tộc, đền, miếu, chùa chiền, có ai không xúc động khi dâng hương tưởng nhớ các bậc tiền nhân có nhiều công lao với quê hương, đất nước, khấn cầu các vị thánh thần phù hộ cho quốc thái, dân an, gia đình và bản thân mình an khang, gặp nhiều phúc lộc... Rõ ràng, những hoạt động tâm linh kể trên là rất phổ biến trong đời sống hiện nay, mang lại những giá trị tinh thần cao cả, có tác dụng hướng con người đến chân-thiện-mỹ mãnh liệt.

Tuy nhiên, cũng có không ít những hoạt động tâm linh của cán bộ, đảng viên, thậm chí có cả những cán bộ (hoặc vợ con của cán bộ) giữ những vị trí lãnh đạo, quản lý rất quan trọng gây phản cảm trong nhân dân. Đó là những lễ dâng sao, giải hạn rình rang với chi phí hàng trăm triệu đồng, những buổi “gọi hồn, thỉnh vong”, hầu đồng, yểm bùa, cầu cúng, hóa vàng mã... hoành tráng với những niềm tin mù quáng vào số mệnh, thần thánh, ma quỷ.

Văn hóa tâm linh và phòng, chống mê tín, dị đoan
Ảnh minh họa / qdnd.vn 

Trước đây, đã có thời kỳ chúng ta cho rằng, người đảng viên với thế giới quan của Chủ nghĩa Mác-Lênin thì không được phép tham gia hoạt động tâm linh. Nhiều người còn cho rằng, tâm linh là “mảng tối”, là mặt tiêu cực trong ý thức con người, nơi chưa được chân lý khoa học soi sáng; cùng với sự phát triển vũ bão của khoa học-công nghệ (KHCN) thì đời sống tâm linh sẽ ngày càng bị thu hẹp.

Nhưng thực tế hơn 35 năm đổi mới vừa qua cho thấy, đất nước ta càng phát triển, dân trí càng lên cao, KHCN đã và đang có những bước phát triển rất nhanh thì đời sống tâm linh của nhân dân nói chung, của cán bộ, đảng viên nói riêng càng phong phú, đa dạng.

Vậy, đứng vững trên nền tảng tư tưởng của Đảng, chúng ta cần nhìn nhận vấn đề cán bộ, đảng viên tham gia hoạt động tâm linh như thế nào? Có thể thấy, dù KHCN có phát triển đến mấy thì những nỗi đau do thiên tai, nhân tai, dịch bệnh, tai nạn giao thông... vẫn xảy ra.

Thậm chí, sẽ có những người ngẫu nhiên gặp phải rất nhiều tai ương, thiếu may mắn, “họa vô đơn chí”... Với mỗi người, khi gặp phải những nỗi đau quá sức chịu đựng như vậy thì sự giúp đỡ, động viên của cơ quan, đơn vị, hàng xóm, người thân là không đủ, họ cần có niềm tin vào một phép màu, một sự cứu rỗi trong tâm hồn để vượt qua. Rõ ràng, hoạt động tâm linh mang bản tính lịch sử tự nhiên, có tác dụng xoa dịu, bù đắp những mất mát, khổ đau; một loại “thuốc” tinh thần đặc biệt đối với con người.

Do đó, hoạt động tâm linh là một nhu cầu văn hóa tinh thần đặc biệt của con người, trong đó có cán bộ, đảng viên. Hơn nữa, đời sống tâm linh còn là nét văn hóa truyền thống đặc sắc của dân tộc Việt Nam, được hun đúc qua mấy nghìn năm lịch sử, trở thành văn hóa tâm linh, “sợi dây neo” giữ hồn cốt dân tộc. Người cộng sản mang trong mình chủ nghĩa yêu nước, không thể thiếu “sợi dây neo” đó trong phẩm chất, tâm hồn mình. Lênin từng chỉ rõ: “Người ta chỉ có thể trở thành người cộng sản khi biết làm giàu trí óc của mình bằng sự hiểu biết tất cả những kho tàng tri thức mà nhân loại đã tạo ra”.

Với tinh thần đó, người đảng viên cộng sản Việt Nam không chỉ tìm hiểu về đời sống tâm linh của dân tộc mình, mà phải thực sự tham gia một cách tích cực vào hoạt động đó, để lọc bỏ những yếu tố mê tín, dị đoan, kế thừa và phát triển văn hóa tâm linh trở thành giá trị cốt lõi của nền văn hóa mới, nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

Các Mác từng nói rằng: “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”; đó là một câu nói rất có giá trị khoa học. Thuốc phiện, nếu được sử dụng hợp lý, đúng lúc, đúng chỗ, luôn là một liều thuốc quý; nhưng nếu sử dụng thái quá, lại trở thành độc dược đối với con người.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7, khóa IX của Đảng ta khẳng định: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta”. Điều 3, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (năm 2016) quy định: “1. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. 2. Nhà nước tôn trọng, bảo vệ giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân”.

Như vậy, từ đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước ta đều công nhận và bảo đảm hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, cũng là thừa nhận và tạo điều kiện cho văn hóa tâm linh hoạt động và phát triển. Về phương diện nhận thức và hành động, cán bộ, đảng viên khi tham gia đời sống tâm linh phải xem đó là hoạt động bày tỏ tình cảm thiêng liêng, niềm tin linh thiêng, là sự biết ơn của người đang sống đối với những người thân đã mất, đối với danh nhân, anh hùng liệt sĩ được nhân dân suy tôn làm thánh, làm thần, làm thành hoàng...; là sự thấu cảm về giá trị văn hóa và đạo đức của các biểu tượng tôn giáo.

Đó là những điều tốt đẹp, cao cả mà ai cũng khát khao, trông đợi, hướng về. Đi ngược lại mục đích tốt đẹp đó, hoạt động tâm linh, buôn thần, bán thánh... để cầu “vinh thân, phì gia”, cầu chạy tội, cầu che mắt các cơ quan công quyền khi làm những việc trái pháp luật, trái đạo lý... là những hành vi đáng phê phán, cần đấu tranh, loại bỏ.

Trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, lối sống thực dụng, coi trọng vật chất, chạy theo đồng tiền là một nguy cơ lớn. Để ngăn ngừa cái xấu, cái ác, ngăn ngừa lối sống thực dụng, Đảng, Nhà nước ta cần tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp. Trong đó, tác dụng giáo dục lẽ sống hướng thiện của hoạt động văn hóa tâm linh là không thể phủ nhận.

Đó cũng là con đường giáo dục chân-thiện-mỹ, giáo dục truyền thống dân tộc rất hiệu quả. Niềm tin vào sự tích “con Rồng, cháu Tiên”, niềm tin vào hồn thiêng sông núi, niềm tin vào linh khí tổ tiên... khi hòa quyện vào niềm tin cộng sản sẽ tạo thành sức mạnh tinh thần to lớn trong mỗi cán bộ, đảng viên để thực hiện khát vọng hùng cường, thịnh vượng, đưa nước ta trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045 như Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra.