Thứ Năm, 10 tháng 2, 2022

Sử dụng sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và tổ chức xã hội với các hình thức đa dạng, phong phú trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội

 


Một là, các cơ quan trong hệ thống chính trị phải thường xuyên bám sát các chỉ đạo, định hướng, hướng dẫn của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị (khóa XIII) về đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, cụ thể là cần thường xuyên bám sát các thông tin và định hướng của Ban Chỉ đạo thực hiện Nghị quyết 35-NQ/TW của cấp mình gắn với việc thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Hai là, các cơ quan trong hệ thống chính trị tùy theo chức năng, nhiệm vụ của mình, hàng năm cần xây dựng kế hoạch, chương trình, giải pháp cụ thể để thực hiện nội dung đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Từng cơ quan phải đưa công tác phòng, chống “diễn biến hòa bình”, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đi vào nền nếp đạt hiệu quả cao.

Ba là, tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, rà soát để chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động của các đối tượng chống phá, xuyên tạc. Rà soát thường xuyên, nắm tình hình, phát hiện các trang blog, trang facebook, trang website, các diễn đàn thường đăng tải các thông tin không đúng sự thật, xuyên tạc, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng.

Bốn là, phát huy vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu, ban tuyên giáo các cấp, Ban Chỉ đạo 35, cơ quan chức năng các cấp, nhất là vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Tập trung lãnh đạo kiện toàn, xây dựng phát triển lực lượng đấu tranh theo hướng chủ động tạo thế liên hoàn, vững chắc, có bộ phận nòng cốt, chuyên sâu, tập hợp lực lượng rộng rãi; quản lý chặt chẽ tình hình chính trị nội bộ, nắm, dự báo, xử lý kịp thời những vấn đề tư tưởng nảy sinh.

Năm là, thực hiện phương châm “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu”, lấy thông tin tích cực đẩy lùi các thông tin tiêu cực. Vì vậy, cần xây dựng và tổ chức các trang thông tin chính thống có uy tín để thường xuyên cập nhật, đưa các thông tin chính xác, nhanh nhạy.

Sáu là, cấp ủy, chính quyền các cấp cần tích cực thông tin và tăng cường đối thoại với nhân dân; chủ động, linh hoạt tham gia các vấn đề cụ thể của xã hội. Thường xuyên duy trì, thực hiện có hiệu quả việc phối hợp với các cơ quan chức năng. Phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, tạo thế trận rộng khắp, chặt chẽ trong đấu tranh phản bác quan điểm, luận điệu sai trái thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Bảy là, thường xuyên tổ chức các cuộc tọa đàm, trao đổi, rút kinh nghiệm giữa các cơ quan chức năng, lực lượng nòng cốt chuyên sâu trong đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội. Với phương châm vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, cấp ủy, tổ chức đảng cơ quan, đơn vị cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo việc tổ chức các cuộc tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, hội nghị rút kinh nghiệm theo hướng thiết thực, hiệu quả. Lực lượng đấu tranh nòng cốt chuyên sâu phải thường xuyên được trau dồi kiến thức chuyên môn, bồi dưỡng nghiệp vụ; nâng cao trình độ lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Tám là, tăng cường hoạt động quản lý, kiểm soát đối với các trang mạng xã hội và chủ động sử dụng các biện pháp kỹ thuật, ngăn chặn việc truy cập vào các trang mạng “độc hại” một cách có hiệu quả. Chủ động phối hợp với các nhà cung cấp dịch vụ, ngăn chặn sớm các tin tức xấu độc trên các trang mạng xã hội. Kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm Cương lĩnh chính trị, Ðiều lệ Ðảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Ðảng. Siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong Ðảng. Các cấp ủy và tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên phải chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn; nghiêm cấm để lộ bí mật của Ðảng, Nhà nước, lan truyền những thông tin sai lệch hoặc tán phát những đơn thư nặc danh, mạo danh, hoặc thư có danh nhưng có nội dung xấu, xuyên tạc, vu khống, kích động.

Chín là, nâng cao nhận thức và đề cao cảnh giác với các biểu hiện của bệnh giáo điều, cơ hội, thực dụng và xét lại trên mạng xã hội ngay trong đội ngũ cán bộ, đảng viên của hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội. Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tại Đại hội XII của Đảng nhận định: “… một số rất ít cán bộ, đảng viên bị phần tử xấu lợi dụng, lôi kéo, kích động, xúi giục, mua chuộc đã có tư tưởng, việc làm chống đối Đảng, Nhà nước”(1).

Nếu là thông tin xấu do các thế lực phản động, thù địch tấn công độc hại một thì các thông tin xấu do chính những kẻ cơ hội, bất mãn, biến chất trong đội ngũ cán bộ, đảng viên của hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội sẽ nguy hại gấp nhiều lần. Bởi vậy, phải kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm Cương lĩnh chính trị, Ðiều lệ Ðảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Ðảng. Lãnh đạo các cơ quan của hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội cần sớm phát hiện, kịp thời giáo dục và xử lý kỷ luật thích đáng, nếu cần thiết thì đưa ra khỏi tổ chức mình cán bộ, đảng viên cơ hội, thực dụng và xét lại ở mức độ nghiêm trọng để làm trong sạch đội ngũ.

          T3.

 

Một số giải pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội

 


Để chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch không ngừng tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Chúng sử dụng rất nhiều các hình thức, phương pháp tinh vi, trong đó có mạng xã hội.

Quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội là những quan điểm sai lệch hoặc đối lập với nền tảng tư tưởng, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam; chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam được đăng tải trên không gian mạng với mục đích gây nhiễu loạn thông tin, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở Việt Nam.

Để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch cần sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, của các đoàn thể xã hội và cả sự hợp tác quốc tế.

Sử dụng sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và tổ chức xã hội với các hình thức đa dạng, phong phú.

Phân định rõ trách nhiệm các cơ quan trong hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội.

Tăng cường hợp tác quốc tế.

T3.

 

Tiếp “nguồn sống” nơi tâm dịch

 

Đến Phân xưởng sản xuất ôxy, nitơ của Nhà máy A41 vào cuối giờ chiều, chúng tôi ấn tượng bởi âm thanh leng keng trong quá trình vận chuyển bình ôxy ra vào nhà xưởng và lên xuống xe. Tiếng loa phát thông báo liên tục: “Xin mời Bệnh viện Nhân dân 115, Bệnh viện quận Gò Vấp vào nhận bình” như gieo vào lòng người niềm tin, niềm tự hào về những đồng đội của chúng tôi trong đại dịch... Đây là thời điểm nhịp độ lao động tất bật nhất của quá trình xuất, nhập, kiểm kê bình ôxy trong ngày. Cán bộ, nhân viên nhà máy di chuyển nhẹ nhàng những chiếc bình ôxy đã nạp đầy khí với trọng lượng gần 60kg/bình ra xe an toàn. Khu vực điều hành sản xuất của phân xưởng được dựng dã chiến ở khoảng sân rộng, bảo đảm mọi thủ tục tiếp nhận, bàn giao bình ôxy và điều hành xe của các bệnh viện diễn ra nhanh gọn.

Dẫn chúng tôi vào bên trong khu vực sản xuất ôxy, Đại tá Mai Xuân Cảnh, Giám đốc Nhà máy A41, cho biết: “Từ ngày 18-8 đến nay, thực hiện chỉ đạo của thủ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ tư lệnh Quân chủng PK-KQ, nhà máy đã tăng công suất sản xuất ôxy, đáp ứng kịp thời nhu cầu cấp bách hiện nay của các bệnh viện điều trị bệnh nhân Covid-19. Cuối buổi chiều mỗi ngày, Sở Y tế TP Hồ Chí Minh sẽ thông báo đến nhà máy số lượng bình ôxy cần cung cấp cho các bệnh viện vào ngày hôm sau. Cùng thời điểm này, các bệnh viện cũng đến nhận bình ôxy nhiều”.

Nhận rõ tính chất đặc biệt quan trọng của nhiệm vụ sản xuất ôxy phục vụ điều trị bệnh nhân Covid-19, Ban giám đốc Nhà máy A41 đã thành lập tổ công tác để điều hành tổ chức sản xuất ôxy, xây dựng, triển khai kế hoạch phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng bộ phận, cá nhân đảm nhiệm và xác định thời gian hoàn thành. Do việc giao nhận bình ôxy sẽ tiếp xúc với người và các phương tiện bên ngoài, nhà máy đã thành lập tổ phòng, chống dịch Covid-19 tại khu vực sản xuất. Trong điều kiện bình thường, Nhà máy A41 chỉ triển khai vận hành một dây chuyền hóa hơi ôxy lỏng chiết xuất sang bình ôxy với nhân lực khoảng 4-5 người làm việc. Nhưng thực hiện nhiệm vụ sản xuất ôxy phục vụ điều trị bệnh nhân Covid-19, nhà máy đã vận hành thêm hai dây chuyền hóa hơi từ ôxy lỏng, nâng tổng công suất hiện tại khoảng 5.000 bình ôxy/ngày (loại 40 lít/bình). Vì vậy, có thời điểm cần khoảng 50 người cùng làm việc.

Đi qua các khu vực nhà xưởng, chúng tôi cảm nhận được tinh thần trách nhiệm của cán bộ, nhân viên Nhà máy A41. Sự điều hành trong công việc chủ yếu bằng quy ước hiệp đồng hoặc qua bộ đàm giữa các đồng chí phụ trách bộ phận. Cẩn thận kiểm tra lại các bình ôxy trước khi chuyển cho bệnh viện, anh Nguyễn Bá Việt, Tổ trưởng Tổ sản xuất ôxy, chia sẻ: “Ở dây chuyền này, chúng tôi làm việc chuyên môn hóa cao nên bảo đảm được tiến độ, chất lượng công việc. Chúng tôi hiểu ý nghĩa của việc mình đang làm. Vì vậy, chúng tôi luôn đoàn kết, động viên nhau khắc phục khó khăn, nỗ lực hết mình để sản xuất được càng nhiều bình ôxy càng tốt”. Để công tác giao, nhận bình ôxy đến các bệnh viện bảo đảm đúng đối tượng, yêu cầu, Nhà máy A41 đã thực hiện tốt công tác phối hợp, hiệp đồng với Sở Y tế TP Hồ Chí Minh. Đơn vị cũng phối hợp với Bộ tư lệnh Quân khu 7, Bộ tư lệnh TP Hồ Chí Minh, Thành đoàn TP Hồ Chí Minh và lực lượng thiện nguyện trên địa bàn để giúp đỡ các bệnh viện trong vận chuyển bình ôxy.

Từ khi triển khai nhiệm vụ đến ngày 19-9, Nhà máy A41 đã sản xuất và cung cấp hơn 27.500 bình ôxy cho 77 bệnh viện, cơ sở y tế tại TP Hồ Chí Minh và một số tỉnh lân cận, góp phần cứu sống nhiều bệnh nhân Covid-19. Đây là nỗ lực rất lớn của Nhà máy A41 trong điều kiện vừa thực hiện nhiệm vụ chính trị trung tâm, vừa tham gia phòng, chống dịch. Ngoài ra, nhà máy còn tiếp nhận hai xe sản xuất ôxy cơ động từ Trung đoàn 925 (Sư đoàn Không quân 372) và Trung đoàn 937 (Sư đoàn Không quân 370) để phối hợp, tăng công suất sản xuất ôxy phục vụ các bệnh viện điều trị bệnh nhân Covid-19.

Không gian riêng “DLON-500M”

Nếu lần đầu đến khu vực dây chuyển sản xuất ôxy từ khí tự nhiên mang tên DLON-500M, mọi người sẽ bị thu hút bởi âm thanh rất lớn từ các loại máy nén khí, máy làm lạnh... Nằm cách cơ sở chính Phân xưởng sản xuất ôxy, nitơ không xa, dây chuyền DLON-500M có một không gian riêng biệt. Các loại máy hoạt động theo chuỗi vận hành liên tục để tạo ra sản phẩm ôxy cuối cùng.

Thiếu tá Phan Lê Duy, Phó giám đốc Nhà máy A41, phụ trách việc sản xuất ôxy của nhà máy, cho biết: “Đây là dây chuyền được đưa vào hoạt động từ năm 1968, đến năm 2019 thì nhà máy dừng sản xuất trên dây chuyền này và đưa vào bảo quản. Để tăng công suất khi triển khai nhiệm vụ sản xuất bình ôxy cho các bệnh viện điều trị bệnh nhân Covid-19, nhà máy đã khôi phục, cải tạo, đưa vào vận hành dây chuyền DLON-500M”. Thực tế, việc cải tạo, sửa chữa để đưa vào vận hành dây chuyền DLON-500M cũng đặt ra bài toán lớn cho nhà máy do gặp khó khăn về vật tư, phụ tùng thay thế bởi công nghệ chế tạo, vận hành đã lạc hậu. Với quyết tâm cao, nhà máy đã huy động tổng lực về nhân lực để ngày đêm gia công chế tạo các chi tiết giàn nạp, phục hồi máy nén khí, mô-tơ, hệ thống làm lạnh... Nhà máy còn huy động đội ngũ cán bộ và thợ kỹ thuật có tay nghề cao, có kinh nghiệm đang nghỉ chờ hưu và đã nghỉ hưu để tham gia vận hành dây chuyền. Bằng trí tuệ, bản lĩnh và quyết tâm cao, Nhà máy A41 đã đưa dây chuyền vào vận hành trở lại trong thời gian rất ngắn, hoạt động hiệu quả, an toàn. Hiện nay, công suất của dây chuyền DLON-500M đạt 300 bình ôxy/ngày.

Là một trong những người được vận động tham gia sửa chữa, vận hành dây chuyền DLON-500M, anh Nguyễn Trung Tường cho biết: “Khi nhà máy vận động trở lại làm việc để sản xuất ôxy phục vụ điều trị bệnh nhân Covid-19, tôi đồng ý ngay”.

Nghĩa tình bộ đội A41

 Thời gian qua, Nhà máy A41 vẫn nỗ lực bảo đảm tốt thực hiện nhiệm vụ sửa chữa máy bay vận tải, máy bay huấn luyện quân sự, trong đó có nhiệm vụ sản xuất ôxy bảo đảm cho phi công quân sự, cung cấp ôxy và dịch vụ cho các hãng hàng không... Ngay khi dịch bệnh diễn biến ngày càng phức tạp, nhà máy đã quyết định trao tặng 10.000 bình ôxy (loại 40 lít/bình) trị giá 1,2 tỷ đồng tới các cơ sở y tế điều trị bệnh nhân Covid-19 do cán bộ, công nhân viên quyên góp, ủng hộ. Số lượng bình ôxy này được trao đến 12 bệnh viện tuyến đầu (gồm 9 bệnh viện dã chiến trong quân đội, Bệnh viện Quân y 175, Bệnh viện Thống Nhất, Bệnh viện Đa khoa Tân Bình).

Theo Đại tá Nguyễn Đức Bắc, Chính ủy Nhà máy A41, Đảng ủy nhà máy đã có nghị quyết chuyên đề cho nhiệm vụ sản xuất bình ôxy cung cấp cho các bệnh viện điều trị bệnh nhân Covid-19, đồng thời phát động thi đua đột kích để tạo khí thế, xây dựng quyết tâm cao nhất trong thực hiện nhiệm vụ cho toàn đơn vị. Là đơn vị tiếp nhận bình ôxy từ Nhà máy A41, bác sĩ Phan Hồng Ngọc, Phó giám đốc Bệnh viện Đa khoa Tân Bình, bày tỏ: “Bệnh viện đang điều trị bệnh nhân Covid-19 theo 3 tầng, nhưng số lượng bệnh nhân diễn biến nặng tăng nhanh đã tạo ra áp lực rất lớn về việc bảo đảm máy thở và bình ôxy. Với nguồn bình ôxy được Nhà máy A41 cung cấp miễn phí, chúng tôi có điều kiện cấp cứu, điều trị cho bệnh nhân tốt hơn".

Hiện nay, TP Hồ Chí Minh cùng một số tỉnh lân cận đang căng sức với nhiều giải pháp thiết thực hướng đến mục tiêu sớm kiểm soát được dịch bệnh. Sự vào cuộc, đồng hành của Nhà máy A41 đã góp phần nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu ôxy cho các bệnh viện, giúp đội ngũ y, bác sĩ nỗ lực giành lại sự sống cho bệnh nhân Covid-19. Với tình cảm và trách nhiệm của mình, những người lính thợ Nhà máy A41 đang dành quyết tâm cao nhất cùng với toàn quân và nhân dân thành phố sớm đẩy lùi dịch bệnh, đưa cuộc sống trở về trạng thái bình thường mới.VD

 

 

MỘT SỐ NHẬN THỨC CƠ BẢN VỀ "DIỄN BIẾN HÒA BÌNH" CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH ĐỐI VỚI VIỆT NAM

 "Diễn biến hòa bình" là chiến lược cơ bản nhằm lật đổ chế độ chính trị - xã hội của các nước độc lập, tự chủ, tiến bộ, trước hết là các nước XHCN từ bên trong, chủ yếu bằng biện pháp phi quân sự, do chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động tiến hành

Đặc trưng của chiến lược "DBHB"

Về lực lượng tiến hành, khác với các cuộc chiến tranh xâm lược, địch sử dụng lực lượng từ bên ngoài là chủ yếu, “DBHB” các thế lực thù địch sử dụng lực lượng của đối phương là chủ yếu, đánh phá từ trong nội bộ đối phương với sự hỗ trợ từ bên ngoài làm cho đối phương mơ hồ, mất cảnh giác, ngộ nhận về bản chất phản động của chủ nghĩa đế quốc, làm cho đối phương “tự diễn biến”, tự chuyển hóa suy yếu, sụp đổ.

Về phương thức, chống phá trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh (QP, AN), đối ngoại... lấy các biện pháp phi quân sự là chủ yếu, thẩm thấu từ bên ngoài vào thông qua các hoạt động đầu tư, cho vay vốn, viện trợ kinh tế, chuyển giao công nghệ, hợp tác kinh tế, giao lưu văn hóa, hỗ trợ nhân đạo... từng bước thâm nhập vào kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, QP, AN để tạo dựng cơ sở từ bên trong. Đồng thời, khuyến khích “tự diễn biến”,tự chuyển hóa trong nộ bộ, cổ vũ cho các phần tử phản động, chống đối, bất mãn, cơ hội chính trị chống phá, gây mất ổn định chính trị làm sụp đổ các nước XHCN.

          Về không gian, thời gian, được triển khai trên phạm vi toàn cầu, bằng các biện pháp phi quân sự hết sức tinh vi, xảo quyệt, cực kỳ nguy hiểm.     

Mục tiêu của chiến lược "DBHB" là xóa bỏ các nước XHCN trên phạm vi toàn thế giới, chống phá phong trào độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội các nước; thiết lập trật tự thế giới mới do các thế lực phản động, thù địch chi phối và lãnh đạo. Trong giai đoạn hiện nay, đối tượng chủ yếu của chiến lược "DBHB" là các nước XHCN còn lại, trong đó Việt Nam là một trọng điểm.

 Mục tiêu của chiến lược "DBHB" đối với cách mạng Việt Nam nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý của Nhà nước, xóa bỏ chế độ XHCN, làm cho Việt Nam chuyển hóa sang chế độ tư bản chủ nghĩa, lệ thuộc vào phương Tây. 

Thủ đoạn "DBHB" của các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam toàn diện cả về chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế, xã hội, QP, AN, đối ngoại... Lấy chống phá về chính trị - tư tưởng làm then chốt, kinh tế làm mũi nhọn, ngoại giao làm hậu thuẫn, tôn giáo, dân tộc làm ngòi nổ, kết hợp với uy hiếp răn đe, gây sức ép về quân sự.

                                                                                TĐV

THỰC HÀNH TÍN NGƯỠNG AN TOÀN TRONG MÙA DỊCH

 

THỰC HÀNH TÍN NGƯỠNG AN TOÀN TRONG MÙA DỊCH

                   Việc thực hành tín ngưỡng để cầu an, mong mọi sự tốt lành là nhu cầu chính đáng của mỗi cá nhân cần được tôn trọng. Tuy nhiên, ở giai đoạn đặc biệt này, khi mà số ca nhiễm Covid-19 lên tới hàng chục nghìn người mỗi ngày, tác động nặng nề đến đời sống kinh tế, xã hội, đe dọa sức khỏe và tính mạng của con người thì mỗi cá nhân cần phải cân nhắc, điều chỉnh hành vi phù hợp vì lợi ích, trách nhiệm với bản thân, gia đình, xã hội. Để thực hiện mục tiêu kép, đưa đất nước vận hành ổn định trong trạng thái “bình thường mới”, cùng với việc đẩy nhanh tốc độ tiêm phủ vắc-xin,   Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 128/NQ-CP quy định tạm thời “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19”. Như vậy, hiện nay chủ trương phòng, chống dịch của nước ta là tăng cường kiểm soát rủi ro. Điều này đòi hỏi sự chủ động, tự giác, nêu cao tinh thần trách nhiệm khi thực hiện hành vi của mỗi tổ chức, cá nhân. Chủ trương này trực tiếp liên quan đến nhu cầu thực hành tín ngưỡng của người dân. Theo các chuyên gia, để việc thực hành tín ngưỡng đầu năm của người dân diễn ra thuận lợi, văn minh, an toàn, nhất thiết cần có sự thay đổi, sắp xếp lại cách tổ chức hoạt động của lễ hội, điểm di tích, cơ sở tự viện. Căn cứ vào tính chất, quy mô lễ hội và tình hình phòng, chống dịch thực tế của địa phương, chính quyền và ban quản lý lễ hội có thể xem xét, đưa ra các quyết định như: dừng, hủy, thu hẹp quy mô tổ chức,… nhằm hạn chế tốt nhất tình trạng tập trung đông người. Đồng thời, cần đưa ra các dự báo để xây dựng nhiều kịch bản ứng phó với những tình huống phát sinh khác nhau. Thời gian qua, tại một số điểm di tích, cơ sở thờ tự đã có một số cách làm sáng tạo như: tổ chức lễ cầu an trực tuyến hay khai ấn trực tuyến… Đây là những giải pháp cần tiếp tục phát huy, nhân rộng, bởi vừa giúp người dân thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng lành mạnh, vừa bảo đảm phòng, chống dịch. Để tránh bị động do quá tải số người đến thực hành tín ngưỡng cùng một thời điểm, chính quyền địa phương và ban quản lý các di tích cần tính toán được sức chứa của điểm đến sao cho bảo đảm về giãn cách mùa dịch; có sự phối hợp phân luồng giao thông, phân luồng người đến di tích; khi cần có thể chủ động hạn chế lượng người vào di tích để tránh ùn tắc; yêu cầu và giám sát người dân thực hiện nghiêm quy tắc 5K; kiên quyết dừng đón khách nếu không bảo đảm yêu cầu phòng dịch…

          Thực tế cho thấy, bất kỳ hoạt động mang tính cộng đồng nào cũng cần được tổ chức, quản lý sao cho luôn vận hành theo hướng tích cực, và thực hành tín ngưỡng cũng không là ngoại lệ. Vì thế, bên cạnh vai trò của chính quyền địa phương, ban quản lý di tích, ban tổ chức lễ hội, còn cần sự vào cuộc rốt ráo của các cơ quan chức năng trong việc định hướng và đôn đốc, kiểm tra các hoạt động thực hành tín ngưỡng, kịp thời phát hiện, xử lý các vi phạm về phòng, chống dịch, hoặc lợi dụng di tích, lễ hội để trục lợi, thực hiện nghiêm biện pháp tạm ngừng tổ chức lễ hội theo Nghị định số 110/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định về quản lý và tổ chức lễ hội khi nhận thấy nguy cơ lây nhiễm dịch trong cộng đồng. Đặc biệt và quan trọng nhất vẫn là vận động người dân nâng cao ý thức phòng dịch. Mỗi người cần có sự điều chỉnh về hành vi, thói quen khi thực hành tín ngưỡng để thích ứng với tình hình mới, bảo đảm an toàn phòng dịch, đó cũng chính là thể hiện ý thức, trách nhiệm của công dân đối với toàn xã hội.

NHÂN DÂN LÀ “MẠCH NGUỒN” DẪN DẮT SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 NHÂN DÂN LÀ “MẠCH NGUỒN” DẪN DẮT SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

          Trong suốt quá trình hoạt động và lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng vai trò của quần chúng nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng. Đảng coi việc củng cố và tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân là nhiệm vụ rất quan trọng, bảo đảm vững chắc sự lãnh đạo toàn diện của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

          Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin hình thành nên tư tưởng độc đáo về dân vận, phát huy vai trò của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Dân là gốc của nước, là cơ sở của mọi thắng lợi, là lực lượng tạo ra mọi của cải vật chất, tinh thần. Người cho rằng: “Nước lấy dân làm gốc”, “Gốc có vững cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, biểu hiện của dân là gốc là phải tin ở dân, gần gũi với dân, kính trọng dân và biết dựa vào dân, phải nhận thức rõ: “Dân chúng rất khôn khéo, rất hăng hái, rất anh hùng. Người tâm đắc với câu nói dân gian: “Dễ mười lần không dân cũng chịu, Khó trăm lần dân liệu cũng xong”. Không chỉ nhận thức rõ vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dân mà Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ rõ, sức mạnh của nhân dân chỉ được phát huy đầy đủ khi có một Đảng cách mạng lãnh đạo. Người khẳng định: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân. Trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân”. Khi sức dân được huy động, được tổ chức, được tập hợp dưới sự lãnh đạo của Đảng thì trở thành sức mạnh vô địch.

          Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng căn dặn: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” . Người đặc biệt nhấn mạnh đến trọng trách lịch sử của Đảng, tính tiền phong gương mẫu và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trước Đảng, trước nhân dân. Bởi như Người từng chứng kiến, dự báo, nhắc nhở: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

    Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ khi ra đời đến nay, Đảng ta hết sức quan tâm đến việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nhất quán quan điểm cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; nhân dân là chủ, nhân dân làm chủ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước đã đứng lên với sức mạnh vô cùng to lớn, lập nên những trang sử vàng trong lịch sử của dân tộc, giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ, cứu nước, đem lại độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và đưa đất nước phát triển hòa bình, tiến lên trên con đường chủ nghĩa xã hội.

HÁT HUY VAI TRÒ CỦA NHÂN DÂN THAM GIA XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA NHÂN DÂN THAM GIA XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI

           Để xây dựng, phát huy vai trò, sức mạnh của nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình hiện nay, cần chú trọng giải quyết tốt một số vấn đề:

          Một là, các cấp ủy, chính quyền và cả hệ thống chính trị tiếp tục quán triệt, triển khai tư tưởng Hồ Chí Minh, các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân vận, về thực hiện dân chủ gắn với phát huy vai trò của nhân dân trong xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.    Đảng lãnh đạo Nhà nước nhanh chóng, kịp thời thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng về dân vận, dân chủ thành chính sách, pháp luật phù hợp với thực tiễn và đáp ứng lợi ích, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Thực hành dân chủ rộng rãi, để làm sao thật sự dân là chủ, dân làm chủ, từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ từ trong Đảng đến dân chủ ngoài xã hội được thực hiện ở các cấp, các địa bàn, các lĩnh vực. Tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa mối quan hệ “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

          Hai là, thực hiện nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng một cách toàn diện để Đảng luôn là lực lượng tiên phong bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân và của cả dân tộc. Gắn đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng để xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, gắn với tăng cường cải cách hành chính, giảm phiền hà cho nhân dân; quan tâm lắng nghe, giải quyết kịp thời, có hiệu quả những bức xúc, những kiến nghị chính đáng của nhân dân và khiếu nại, tố cáo của công dân.

          Ba là, Đảng, Nhà nước tiếp tục triển khai thực hiện tốt những chủ trương, chính sách “hợp lòng dân”, nhằm chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân, nhất là ở những vùng đang còn gặp nhiều khó khăn, vùng căn cứ cách mạng trước đây, vùng sâu, vùng xa, vùng cao, biên giới, hải đảo,... Tiếp tục xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển nhanh và bền vững, không ngừng phát triển lực lượng sản xuất, tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân, nhất là thu hẹp dần khoảng cách và sự phân hóa giàu - nghèo trong cả nước. Dự báo, giải quyết tốt những vấn đề xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, nhất là những vấn đề bức xúc, nổi cộm, những nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

          Bốn là, tăng cường công khai, minh bạch, dựa vào nhân dân để kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện công tác cán bộ. Trong đó, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức,... của Đảng và hệ thống chính trị vừa có đức, vừa có tài; bảo đảm phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và phương pháp, tác phong công tác; xứng đáng là người lãnh đạo, là đầy tớ trung thành của nhân dân, nói đi đôi với làm, “tin dân, trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân, có trách nhiệm với dân”.  Phát huy vai trò gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu. Nâng cao cảnh giác, chống các khuynh hướng mị dân, kích động nhân dân trước những hiện tượng tiêu cực. Kiên quyết phê phán, đấu tranh với biểu hiện thờ ơ, vô cảm, quan liêu, nhũng nhiễu nhân dân,...

          Năm là, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, hướng về cơ sở, vận động đông đảo nhân dân tham gia các phong trào thi đua yêu nước, phát huy ngày càng tốt hơn vai trò chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân; chủ động tham gia giám sát và phản biện xã hội, làm tốt vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, tham gia xây dựng Đảng và Nhà nước. Trong quá trình tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên thực hiện quyền giám sát của mình, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội cần quan tâm, tạo điều kiện để nhân dân thực hiện các quyền dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

          Sáu là, tiếp tục nâng cao chất lượng công tác thông tin tuyên truyền để nâng cao nhận thức, vai trò, trách nhiệm của nhân dân trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Gắn việc thực hiện chế độ cung cấp thông tin cho báo chí, nhân dân với trách nhiệm tiếp thu, giải trình của cá nhân, tổ chức.

HÃY LUÔN LÀ NGƯỜI THAM GIA GIAO THÔNG CÓ VĂN HÓA!

 

HÃY LUÔN LÀ NGƯỜI THAM GIA GIAO THÔNG CÓ VĂN HÓA!

                   An toàn giao thông là vấn đề luôn được các ngành, các lực lượng chức năng quan tâm, thường xuyên tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền, giáo dục rộng khắp. Thế nhưng, nhiều người tham gia giao thông vẫn có những ứng xử, hành động thiếu văn hóa, gây ảnh hưởng và nguy hiểm cho bản thân và cộng đồng. Chỉ riêng trong chín ngày nghỉ Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022 vừa qua (từ ngày 29/1 đến 6/2), toàn quốc đã xảy ra 216 vụ tai nạn giao thông (riêng đường bộ 214 vụ), làm chết 121 người, bị thương 138 người.

          Giao thông được coi như một nét văn hóa và dĩ nhiên, những người tham gia giao thông là những người tạo nên nét văn hóa đó. Nó là tập hợp mọi ý thức về chấp hành các quy định của pháp luật về giao thông. Theo đó, các hành vi ứng xử trước hết phải đặt ý thức tự giác lên hàng đầu, tiếp đến là thực hiện đúng luật định, tôn trọng những người xung quanh, bảo đảm an toàn tính mạng, tài sản và trật tự nơi công cộng.

          Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông như: Cơ sở hạ tầng giao thông yếu kém, phương tiện giao thông không bảo đảm điều kiện an toàn (quá hạn, quá cũ, xe tự tạo)… Tuy nhiên, nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tình trạng (TNGT) của Việt Nam tăng cao hơn so với các nước trên thế giới là ý thức của con người, cụ thể là hành vi thiếu ý thức chấp hành luật lệ giao thông, những hành động “ phản cảm” của một bộ phận người tham gia giao thông đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ trên một số tuyến đường.

          Từ những hành vi ứng xử thiếu văn hóa trong tham gia giao thông đã dẫn đến những tai nạn, va chạm đáng tiếc xảy ra, làm nhiều người bị thương, thậm chí là tử vong. Tổn thất do TNGT để lại là hệ lụy lâu dài cho gia đình và xã hội. Do vậy, mọi người dân cần phải có trách nhiệm xây dựng văn hoá giao thông ngay từ những hành vi nhỏ hàng  ngày trên đường như :

          - Ứng xử văn minh khi tham gia giao thông.

          - Sử dụng còi xe đúng quy định

          - Chấp hành hành nghiêm tín hiệu đèn giao thông

          Để làm được điều này, trước tiên, các cơ quan chức năng cần có chiến lược tuyên truyền sâu rộng và dài hơi về ATGT, đảm bảo phù hợp với đặc thù của từng nhóm đối tượng; hướng dẫn các kỹ năng tham gia giao thông an toàn để giúp người dân biết cách tự phòng vệ trước hiểm hoạ TNGT; tổ chức các lớp học về ATGT, trưng bày hoặc triển lãm tranh, ảnh, chiếu phim lưu động về ATGT đến từng khu dân cư, trường học… Ngoài ra, các ngành chức năng cần có chế tài mạnh để xử lý nghiêm những hành vi thiếu văn hóa trong giao thông, đảm bảo đủ sức răn đe và tạo chuyển biến trong nhận thức của người tham gia giao thông. Có như vậy mới tạo được một môi trường giao thông thân thiện và an toàn./.

 

 

 

PHÁT HUY RỘNG RÃI QUYỀN LÀM CHỦ CỦA NHÂN DÂN TRONG BẢO ĐẢM AN NINH, TRẬT TỰ CƠ SỞ

 

PHÁT HUY RỘNG RÃI QUYỀN LÀM CHỦ CỦA NHÂN DÂN TRONG BẢO ĐẢM AN NINH, TRẬT TỰ CƠ SỞ

 

          Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vai trò của nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng, Người nhấn mạnh: “Nhân dân là chủ thể của lịch sử, là lực lượng của cách mạng”. Thấm nhuần sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, trong mọi thời kỳ, giai đoạn cách mạng, Đảng ta luôn chú trọng phát huy vai trò của quần chúng nhân dân và xem đây là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của dân tộc.

          Đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự, thực tiễn đã chứng minh, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp và mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của nhà nước, sự quan tâm của cả hệ thống chính trị và vai trò nòng cốt của lực lượng CAND, quần chúng nhân dân được tập hợp vào các phong trào, đặc biệt là phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” đã phát huy vai trò tích cực và có những đóng góp hết sức to lớn, góp phần cùng lực lượng CAND giữ vững ổn định an ninh, trật tự phục vụ mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

          Trong quá trình đó, quần chúng nhân dân luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, giữ gìn bí mật nhà nước, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền; chủ động phát hiện, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động “diễn biến hoà bình”, lôi kéo, kích động, gây chia rẽ của các thế lực thù địch, phản động; đấu tranh với các loại tội phạm và tệ nạn xã hội. Các diễn đàn: “Lắng nghe ý kiến nhân dân”; “Nhân dân tố giác tội phạm”; “Mặt trận lắng nghe dân nói”; “Nói cho dân nghe và lắng nghe dân nói”; “Ngày nghe dân nói”; “Công an lắng nghe ý kiến nhân dân”... đã thực sự trở thành nơi để nhân dân thể hiện vai trò làm chủ của mình đối với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và công tác bảo vệ an ninh, trật tự. Quán triệt, thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, những năm qua, lực lượng CAND đã tăng cường đưa công an chính quy về cơ sở, tích cực bám dân, bám địa bàn, hướng dẫn nhân dân tham gia công tác bảo vệ an ninh, trật tự, cảnh giác trước mọi âm mưu, thủ đoạn hoạt động của các thế lực thù địch, phản động, các loại tội phạm và tệ nạn xã hội, góp phần giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện có hiệu quả các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.

          Trên cả nước, phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” được triển khai đồng bộ, sáng tạo, với nhiều mô hình, điển hình tiên tiến, tiêu biểu như: “Tổ Liên gia”, “Tổ Tự quản”, “Dòng họ an toàn”, mô hình “02 không, 01 có”, “3 tăng, 3 giảm”, “Xứ, họ đạo tiên tiến”, “Gia đình Công giáo gương mẫu”, mô hình “Quản lý, giáo dục, giúp đỡ người chấp hành xong án phạt tù, đi cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng trở về địa phương”... góp phần phát huy vai trò của nhân dân và trách nhiệm của cộng đồng, xã hội trong bảo vệ an ninh, trật tự.

 

 

 

 GÓP PHẦN ĐẤU TRANH LÀM THẤT BẠI ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN "DIÊN BIẾN HÒA BÌNH"                          CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG, LÝ LUẬN

Phòng chống “diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận là góp phần bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với xã hội; nhân tố quyết định bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN ở Việt Nam.

Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phòng chống "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận là hệ thống các chủ trương quan điểm... được thể hiện trong các Văn kiện, Nghị quyết, chỉ thi của Đảng đối toàn bộ hệ thống chính trị và xã hội trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. 

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng, Cương lĩnh, đường lối của Đảng, bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền XHCN; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là nội dung cơ bản, hệ trọng sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, trong đó lực lượng Tuyên giáo các cấp làm nòng cốt; là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị - xã hội các cấp, của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, của cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên cơ sở quán triệt sâu sắc, vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam trong thời đại ngày nay, trước hết là trong xây dựng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thể chế, nguyên tắc tổ chức hoạt động của hệ thống chính trị.

Kiên trì thế giới quan, phương pháp luận khoa học và các giá trị cốt lõi của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, truyền thống tốt đẹp của dân tộc; đồng thời tiếp thu các thành tựu mới, tinh hoa nhân loại. Nâng cao hiệu quả đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch; uốn nắn những nhận thức lệch lạc.

Gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, xây là cơ bản, chống phải quyết liệt, hiệu quả. Kết hợp giữa nhiệm vụ trước mắt và nhiệm vụ lâu dài; nâng cao khả năng tự phòng, chống của cán bộ, đảng viên và nhân dân trước âm mưu, thủ đoạn và hoạt động của các thế lực thù địch, đối tượng phản động, cơ hội chính trị. Phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và xã hội.

Đổi mới nội dung, phương pháp, đa dạng hóa hình thức, coi trọng hiệu quả, trên tinh thần chủ động, cảnh giác, thường xuyên, kiên trì, kiên quyết, đồng thời có trọng tâm, trọng điểm. Kết hợp chặt chẽ giữa vận động, giáo dục, thuyết phục với kiên quyết xử lý nghiêm minh theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với các đối tượng vi phạm.

                                                                                                ĐVT


Thứ Tư, 9 tháng 2, 2022

MỘT SỐ NHỮNG NHẬN ĐỊNH SAI LỆCH VỀ NHỮNG ĐIỀU ĐẢNG VIÊN KHÔNG ĐƯỢC LAM

Ngày 25/10/2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Quy định số 37-QĐ/TƯ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng quy định “Về những điều đảng viên không được làm” thay thế Quy định số 47-QĐ/TW, ngày 1/11/2011 trước đây.  Quy định mới về 19 điều Đảng viên không được làm Lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động xuyên tạc những nội dung trong Quy định số 37, từ đó suy diễn, tự cho mình vai trò “người phát xét” để quy kết, chỉ trích chế độ, chỉ trích vị trí, vai trò của Đảng. Trên nhiều trang mạng của cá nhân, tổ chức thù địch, phản động, hội đoàn chống cộng hải ngoại xuyên tạc rằng, việc Đảng ban hành quy định mới chứng tỏ sự mục nát, là “vá những lỗ thủng quá nhiều của chế độ”. Các đối tượng vu cáo gốc rễ của tham nhũng là “do lỗi của thể chế chính trị”, lỗi hệ thống tạo ra chứ không phải do biện pháp thực hiện, từ đó quy kết việc Đảng đưa ra hết biện pháp này đến biện pháp khác để chống tham nhũng mà không thay đổi chế độ thì không bao giờ chống tham nhũng được. Đưa ra luận điệu “Đảng đứng trên pháp luật”, các đối tượng suy diễn “Đảng loay hoay, mò mẫm soạn ra các văn bản giấy tờ quy định cấm cho thêm rắc rối, chồng lấn pháp luật, vì những điều ấy pháp luật cũng cấm rồi, đảng viên cũng là công dân, thêm điều cấm là Đảng đứng trên, đứng ngoài pháp luật”! Thực chất, đây là những luận điệu hòng hạ thấp mục tiêu, vai trò, ý nghĩa của Quy định mới về những điều đảng viên không được làm, tạo ra diễn biến tư tưởng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, làm giảm niềm tin đối với công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phủ nhận thành tựu to lớn trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Và cuối cùng là làm suy giảm niềm tin, hạ thấp, thúc đẩy, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Trước hết cần khẳng định, quy định về kỷ luật Đảng là công tác hệ trọng để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Đây là công việc thường xuyên, liên tục và mang tính kế thừa. Việc bổ sung một số quy định mới để đảm bảo đáp ứng yêu cầu thực tiễn, đảm bảo tính khách quan, khoa học. Từ đó, tổ chức Đảng, đảng viên có cơ sở, căn cứ để rèn luyện, tu dưỡng, ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ. Do đó, không thể lợi dụng vào một số quy định mới để xuyên tạc, suy diễn. Quy định đảng viên không được “Phản bác, phủ nhận, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; không thực hiện trách nhiệm nêu gương; chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, vụ lợi; "tư duy nhiệm kỳ", đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, xa rời quần chúng” (Điều 3). Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Mỗi người khi vào Đảng đều phải rèn luyện, phấn đầu vì mục đích lý tưởng cách mạng của Đảng, kiên định, trung thành nền tảng tư tưởng, chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng… Việc bổ sung, phát triển quy định như trên là yêu cầu, đòi hỏi khách quan trong công tác xây dựng Đảng về chính trị. Hay quy định đảng viên không được “nhập quốc tịch, chuyển tiền, tài sản ra nước ngoài, mở tài khoản và mua bán tài sản ở nước ngoài trái quy định”. Điều lệ Đảng ghi rõ: “Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân” (Điều 1). Nếu thừa nhận một công dân có 2 quốc tịch là lẽ thường tình, song đối với đảng viên, lý tưởng suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, giai cấp, nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân sẽ phải giải thích thế nào khi một đảng viên nhập quốc tịch nước ngoài, chuyển tiền ra nước ngoài. Vậy trung thành với nhân dân, Tổ quốc thế nào nếu đảng viên có thêm quốc tịch khác? Đảng viên vào Đảng trên tinh thần tự nguyện, phấn đấu, hy sinh vì lý tưởng cộng sản, hạnh phúc của nhân dân. Việc bổ sung nội dung này nhằm đáp ứng những yêu cầu mới của công cuộc xây dựng chỉnh đốn Đảng, phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong bối cảnh hiện nay. Không phải bây giờ mà ngay từ khi Đảng mới ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu từng tổ chức Đảng phải duy trì chặt chẽ kỷ luật, giữ nghiêm kỷ cương, nền nếp tổ chức, làm cho Đảng ta ngày càng xứng đáng với vai trò, vị trí và sứ mệnh lãnh đạo sự nghiệp cách mạng. Hơn 90 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Đảng ta luôn tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đảm bảo chấp hành kỷ cương, kỷ luật. Thực hiện tốt kỷ luật Đảng để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đầu, hoàn thành trọng trách của mình. Trong những năm qua, đứng trước đòi hỏi của thực tiễn, Đảng ta đã tập trung lãnh đạo thực hiện xây dựng, chỉnh đốn Đảng, quyết tâm siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức; xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, suy thoái, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tham nhũng, tiêu cực. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được thực hiện quyết liệt, kiên trì, bài bản, nghiêm minh và cũng rất nhân văn. Nhiều vụ việc tham nhũng, tiêu cực được đưa ra ánh sáng. Qua đó, kỷ luật Đảng được thực hiện nghiêm minh; đồng thời cảnh tỉnh, giúp đội ngũ cán bộ, đảng viên không ngừng tiến bộ, trưởng thành, như khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Giữ nghiêm kỷ cương phép nước để cảnh tỉnh, cảnh báo, giáo dục, răn đe người khác tránh xa vết xe đổ của đồng chí mình”. Việc bổ sung, ban hành Quy định mới về những điều đảng viên không được làm thể hiện quyết tâm cao, đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Mặt khác, việc tăng cường kỷ luật trong Đảng còn góp phần cảnh tỉnh, khắc phục, sửa chữa dứt điểm nhiều hạn chế, khuyết điểm trong mỗi tổ chức và từng đảng viên. Từ đó từng bước ngăn chặn và đẩy lùi tiêu cực, lập lại trật tự, kỷ cương trong Đảng và hệ thống chính trị. Nhiều tổ chức Đảng kịp thời nhận diện, khắc phục được một số hạn chế, khuyết điểm. Đội ngũ cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp đã quan tâm, coi trọng việc rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, năng lực công tác; chú trọng nâng cao tinh thần trách nhiệm, sửa đổi lề lối, phong cách, tác phong làm việc; nghiêm khắc tu dưỡng, rèn luyện bản thân. Việc Đảng ta sửa đổi, bổ sung Quy định về những điều đảng viên không được làm không chỉ thể hiện sự quyết tâm của Đảng mà còn tạo niềm tin cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Thiếu trách nhiệm - một suy thoái “kép” của cán bộ, đảng viên

Sống trong cuộc đời này, ai cũng phải có trách nhiệm. Nếu không có trách nhiệm với chính mình, công việc, gia đình, xã hội thì con người khó có thể trưởng thành, tiến bộ. Đối với cán bộ, đảng viên, trách nhiệm không dừng lại ở bổn phận “việc phải làm, việc phải gánh vác, việc phải nhận lấy về mình”, mà đó còn là một trong những giá trị thuộc về phẩm chất chính trị, tư cách đạo đức, chiều sâu văn hóa của người chiến sĩ tiên phong của Đảng. Tuy nhiên, việc thấu hiểu, thể hiện, hành xử với hai chữ “trách nhiệm” của một bộ phận cán bộ, đảng viên thời gian qua có nhiều vấn đề rất đáng cảnh báo. Một biểu hiện suy thoái “kép” Với tư cách là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam từ lâu đã ăn sâu vào trái tim, khối óc của nhân dân lao động bởi nói đến đảng viên là nói đến hình ảnh dấn thân, tinh thần cống hiến, tấm gương hy sinh, trách nhiệm cao cả đối với Tổ quốc và nhân dân. Điều này đã được biểu hiện sinh động trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, những năm qua, trước sự tác động mặt trái của cơ chế thị trường, một bộ phận cán bộ, đảng viên không những không giữ gìn được vai trò tiên phong, gương mẫu của người cộng sản, mà còn có biểu hiện sa sút ý chí phấn đấu, không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao. Trong số 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ mà Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII nêu ra, có một biểu hiện suy thoái “kép” đáng báo động trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, đó là: “Né tránh trách nhiệm, thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả” (biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị) và “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân” (biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống). Theo kết quả điều tra dư luận xã hội cách đây chưa lâu của Viện Nghiên cứu dư luận xã hội (Ban Tuyên giáo Trung ương), một trong 4 vấn đề liên quan đến cán bộ, đảng viên chưa được đa số nhân dân ghi nhận, đó là tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên chưa hết lòng vì tập thể, vì việc chung, vì nhân dân, vì đất nước. Đã là trách nhiệm thì phải làm đến nơi đến chốn. Trong khi Đảng yêu cầu cán bộ, đảng viên sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung của Đảng, Nhà nước và nhân dân, thì còn không ít người tìm mọi cách để trục lợi, tham nhũng nhằm vinh thân phì gia. Khi Đảng đòi hỏi cán bộ, đảng viên “kiên quyết không nhận quà biếu với động cơ vụ lợi dưới mọi hình thức; không để cho người thân lợi dụng quyền hạn và ảnh hưởng của mình để trục lợi”, thì một số người vẫn thản nhiên thu vén, vơ vét quà cáp của nhân viên, cấp dưới, người lao động và để cho vợ con lén lút làm những việc không trong sáng, minh bạch, gây điều tiếng xấu. Khi Đảng yêu cầu phải đề cao ý thức trung thực, công tâm, cầu thị trong tự phê bình và phê bình, thì còn nhiều cán bộ, đảng viên né tránh khuyết điểm, chạy theo thành tích, thậm chí lợi dụng phê bình để tâng bốc, tung hô nhau hoặc thành kiến, trù dập những người có ý kiến cương trực, thẳng thắn. Khi được bổ nhiệm chức vụ mới, đáng ra cán bộ phải dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, nhưng có những người đã lợi dụng vị trí công để lo việc tư, cắt xén của công đưa vào nhà riêng, lúc tập thể có thành tích thì "vơ" công lao về cá nhân mình, khi cơ quan, đơn vị có khuyết điểm thì lại đổ lỗi trách nhiệm chung nhằm “đánh bùn sang ao”, “hòa cả làng”! Thậm chí ở một số nơi đã xuất hiện tình trạng người đứng đầu miệng thì “thao thao bất tuyệt” là phải phát huy dân chủ trong thường vụ, cấp ủy, nhưng khi lại mưu mẹo, khéo léo “vỗ về” tập thể lãnh đạo “nuông chiều” theo ý kiến cá nhân, lúc thì lạm dụng tối đa quyền lực để định hướng, “lèo lái” thường vụ, cấp ủy tán thành với chủ kiến bản thân đưa ra. Đây thực chất là biểu hiện dựa dẫm, ỷ lại vào “trách nhiệm tập thể” nhưng để né tránh trách nhiệm cá nhân người lãnh đạo khi có hệ lụy xảy ra. Một đảng viên bình thường khi thiếu trách nhiệm đã là điều đáng trách. Nhưng đáng phê phán hơn là một bộ phận đảng viên có chức, có quyền thiếu trách nhiệm trong rèn luyện, tu dưỡng, công tác. Vì sự thiếu trách nhiệm của cán bộ lãnh đạo các cấp không chỉ ảnh hưởng đến tư cách, uy tín cá nhân, mà còn tác động không thuận đến sự phát triển ổn định, lành mạnh của tổ chức, cơ quan, đơn vị. Cán bộ có chức vụ càng cao mà thiếu trách nhiệm thì càng gây ra những hệ lụy, hậu quả lớn. Những vụ việc sai phạm liên quan đến nhiều cựu cán bộ lãnh đạo ở Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Phúc nhiệm kỳ 2010-2015, Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng nhiệm kỳ 2015-2020, Ban Cán sự Đảng Bộ Công Thương nhiệm kỳ 2011-2016, Ban Cán sự Đảng Bộ Thông tin và Truyền thông nhiệm kỳ 2011-2016… đều liên quan đến sự thiếu trách nhiệm cá nhân người đứng đầu ở các doanh nghiệp, cơ quan, địa phương này. Đề cao trách nhiệm nêu gương để phòng ngừa, giảm thiểu suy thoái Sống trong cuộc đời này, ai cũng phải có trách nhiệm. Nếu không có trách nhiệm với chính mình, công việc, gia đình, xã hội thì con người khó có thể trưởng thành, tiến bộ. Đối với cán bộ, đảng viên, trách nhiệm không dừng lại ở bổn phận “việc phải làm, việc phải gánh vác, việc phải nhận lấy về mình”, mà đó còn là một trong những giá trị thuộc về phẩm chất chính trị, tư cách đạo đức, chiều sâu văn hóa của người chiến sĩ tiên phong của Đảng. Vậy tinh thần trách nhiệm là gì? Giải đáp câu hỏi này, sinh thời, Bác Hồ đã khẳng định: “Là khi Đảng, Chính phủ, hoặc cấp trên giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, ta cũng đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi đến chốn, vượt mọi khó khăn, làm cho thành công. Làm một cách cẩu thả, làm cho có chuyện, dễ làm khó bỏ, đánh trống bỏ dùi, gặp sao làm vậy, v.v.. là không có tinh thần trách nhiệm”. Nói về hai chữ “trách nhiệm” thì dễ, nhưng thực hiện đến nơi đến chốn trách nhiệm của cán bộ, đảng viên thì lại đòi hỏi mỗi người luôn nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò, nhiệm vụ của mình, từ đó thường xuyên nêu cao ý thức, bổn phận, nghĩa vụ trong rèn luyện, công tác, gắn bó hết mình với công việc, tận tụy với chức trách được phân công, góp công góp sức cùng cán bộ, nhân viên, người lao động trong cơ quan, đơn vị thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao. Phải làm sao để theo ngày ngày tháng tháng, mỗi cán bộ, đảng viên càng làm việc càng trôi chảy, hiệu quả, càng đóng góp nhiều hơn cho tập thể. Vì khi tập thể vững mạnh, trưởng thành thì bản thân mình cũng tiến bộ. Theo đồng chí Cao Văn Thống, Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương, để có tinh thần trách nhiệm tốt, mỗi cán bộ, đảng viên cần có “5 tự”: Phải tự mình chủ động, tích cực, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ, làm việc có chương trình, kế hoạch, khoa học và đạt kết quả cao nhất; Phải có tính tự trọng cao để làm việc với tinh thần, thái độ công tâm, khách quan, vì lợi ích chung của cơ quan, đơn vị, vì danh dự của cá nhân; Phải biết tự xử với chính bản thân mình trong mọi việc, khi mắc phải thiếu sót, khuyết điểm phải tự giác nhận trách nhiệm cá nhân, xác định rõ nguyên nhân do đâu mà mắc phải để có biện pháp sửa chữa, khắc phục, phấn đấu vươn lên, không tranh công, đổ lỗi cho khách quan, cho người khác; Phải tự giác tự phê bình, phê bình và không được tự ái để không ngừng tiến bộ; Phải có sự tự tin trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ, công việc được giao. Một trong những tiêu chí cơ bản để nhận định, đánh giá cán bộ, đảng viên có hoàn thành chức trách, nhiệm vụ hay không, đó là tinh thần trách nhiệm. Từ nhiều năm nay, khi lựa chọn nhân sự vào vị trí lãnh đạo các cấp, Đảng ta luôn nhấn mạnh đến tiêu chí “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm” của người cán bộ. “Dám chịu trách nhiệm” không chỉ thể hiện tinh thần gan dạ, dũng cảm, tính khí khảng khái, cương trực của người cán bộ, mà còn nói lên ý thức dám đối mặt với khó khăn, chấp nhận sự rủi ro khi dấn thân vào việc khó, giải quyết vấn đề khó, chưa có tiền lệ, song cũng khơi thông được mạch nguồn sáng tạo, cổ vũ cho những hướng đi mới, cách làm mới mang lại hiệu ứng, hiệu quả khả quan trong tương lai. “Dám chịu trách nhiệm” hiểu theo nghĩa này chính là khuyến khích những nhân tố mới để góp phần làm chuyển biến, thay đổi tình hình theo chiều hướng tích cực. Như vậy, “dám chịu trách nhiệm” ở đây là tinh thần đề cao “trách nhiệm nhân đôi” và cũng là bản lĩnh vững vàng của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp. Trong tình hình hiện nay, để tránh nguy cơ sa ngã, mỗi cán bộ, đảng viên cần phải đề cao trách nhiệm cá nhân trong tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, nhất là cán bộ có chức có quyền luôn bị những cám dỗ bủa vây quanh mình nên bất cứ một sự lơ là, dễ dãi, sơ hở nào cũng có thể bị “sập bẫy” trước “cái bả” tiền tài, danh vọng và tửu sắc đầy mê hoặc, quyến rũ nhưng chòng chành, mong manh như đứng bên lề vực thẳm! Tự nghiêm khắc với chính mình cũng là một trong những cách tốt nhất để đội ngũ cán bộ, đảng viên tự phòng ngừa, giảm thiểu được những biểu hiện suy thoái Quy định số 101-QĐ/TW ngày 7-6-2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp” đã nhấn mạnh: “Mỗi cán bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam phải tích cực học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Cán bộ có chức vụ càng cao càng phải gương mẫu”; đồng thời yêu cầu đội ngũ cán bộ, đảng viên có trách nhiệm nêu gương ở 7 nội dung cụ thể là: Tư tưởng chính trị; Đạo đức, lối sống, tác phong; Tự phê bình và phê bình; Quan hệ với nhân dân; Trách nhiệm trong công tác; Ý thức tổ chức kỷ luật; Đoàn kết nội bộ

 

Kỷ niệm làm báo với Bộ trưởng Phùng Quang Thanh

Là phóng viên có may mắn được tháp tùng ông trong một số chuyến công tác, được gặp gỡ, phỏng vấn ông sau khi ông nghỉ hưu, Đại tướng Phùng Quang Thanh đã để lại nhiều kỷ niệm sâu sắc trong tôi...

"Đừng gọi tôi là Đại tướng"

Cũng như cán bộ, chiến sĩ toàn quân, đồng chí Phùng Quang Thanh luôn ngưỡng mộ, học tập và làm theo tấm gương Đại tướng Võ Nguyên Giáp-Người Anh Cả của Quân đội nhân dân Việt Nam. Lần đầu ông được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp là ngay sau Chiến dịch Đường 9-Nam Lào năm 1971. Đơn vị ông rút ra Quảng Bình để củng cố lực lượng. Tại đây, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đến thăm Sư đoàn 320. Cử chỉ ân cần, gần gũi, cách trò chuyện thân tình, cởi mở giữa vị Tổng Tư lệnh với cán bộ, chiến sĩ dưới quyền đã thấm sâu vào tâm hồn người Anh hùng trẻ tuổi Phùng Quang Thanh. Sau này, trên cương vị Tư lệnh Quân khu 1, Tổng Tham mưu trưởng và đặc biệt là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, đồng chí Phùng Quang Thanh có nhiều dịp được đến thăm, được Đại tướng Võ Nguyên Giáp tin cậy trao đổi, chỉ dẫn nhiều vấn đề về nghệ thuật chỉ huy và xây dựng quân đội, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa...

Tôi từng được chứng kiến, trong nhiều cuộc gặp gỡ tại số nhà 30 phố Hoàng Diệu (Hà Nội), Đại tướng Võ Nguyên Giáp dồn tâm huyết để trao đổi với Bộ trưởng Phùng Quang Thanh những vấn đề quân cơ, quốc sự. Một ngày tháng 8-2010, sau khi chúc mừng sinh nhật Đại tướng Võ Nguyên Giáp (lúc này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đang điều trị tại Khoa A11, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108), ra đến phòng khách của Khoa A11, Bộ trưởng Phùng Quang Thanh bất ngờ vẫy tôi lại gần, yêu cầu: “Ông thử nói tôi nghe, ông viết tin như thế nào về cuộc gặp hôm nay?” (Bộ trưởng Phùng Quang Thanh thường xưng hô thân mật với cánh phóng viên tháp tùng như thế). Bất ngờ, thoáng lúng túng, tôi báo cáo: “Báo cáo thủ trưởng, tôi dự định rút tít là: Đại tướng Phùng Quang Thanh chúc mừng sinh nhật Đại tướng Võ Nguyên Giáp...”. Bộ trưởng ra dấu cho tôi ngừng lại và nói: “Trên tiêu đề, đừng gọi tôi là Đại tướng. Từ trước đến nay, khi nhắc đến từ Đại tướng mà đứng độc lập, nhân dân ta dùng để tôn vinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Cho nên, ông đặt tiêu đề như vậy, đẩy tôi đứng ngang hàng với Đại tướng-Tổng Tư lệnh thì không hợp, không khiêm tốn”. Sau khi nghe tôi trình bày “cái khó của tin lễ tân là phải đúng, đủ chức danh”, đồng chí Phùng Quang Thanh dặn: “Có thể lấy tiêu đề là: Bộ trưởng Phùng Quang Thanh thăm, chúc mừng sinh nhật Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Trong bài thì đề đầy đủ cấp bậc, chức vụ của tôi nhưng trên tiêu đề thì rút như thế. Ông về báo cáo với anh Nguyên (Tổng biên tập Lê Phúc Nguyên) là từ nay thống nhất cách viết như thế nhé!”.

Bài báo bị “gác” 10 năm

Năm 2009, tôi được giao nhiệm vụ tổ chức trang "Tiếp lửa truyền thống" trên Báo Quân đội nhân dân hằng ngày. Nhiệm vụ đó tạo điều kiện cho tôi có nhiều cuộc hành quân về nguồn, thăm lại chiến trường xưa cùng các cựu chiến binh (CCB). Một lần, tôi cùng các CCB Tiểu đoàn K3 Tam Đảo trèo lên đỉnh Điểm cao 689 ở Khe Sanh (Hướng Hóa, Quảng Trị), nửa đêm đốt lá rừng “hát cho đồng đội tôi nghe”. Trong cái đêm huyền diệu đó, một CCB quê ở Vĩnh Phúc kể cho tôi nghe về tấm gương chiến đấu, hy sinh của liệt sĩ Phùng Quang Sức thời chống Pháp.

Câu chuyện rất hay, rất xúc động. Sau lần đó, tôi tìm về xã Thạch Đà thuộc huyện Mê Linh (Hà Nội), đi tìm nhân chứng để viết về tấm gương liệt sĩ Phùng Quang Sức. Từ trung tâm Hà Nội chạy xe máy lên Thạch Đà mất khoảng hơn một giờ đồng hồ, nhưng tìm nhân chứng thì rất khó. Nhờ sự giúp đỡ của các CCB, sau 3 lần đi “mở rộng tìm kiếm”, chúng tôi mới gặp được cụ Nguyễn Văn Bưu, đảng viên hoạt động cùng thời với liệt sĩ Phùng Quang Sức. Cụ Bưu năm đó cũng đã gần 90 tuổi, rất may cụ còn minh mẫn. Cụ kể: "Phùng Quang Sức là Bí thư chi bộ, Chủ tịch Ủy ban Hành chính-Kháng chiến xã Thống Nhất (gồm xã Thạch Đà và Tam Đồng ngày nay). Năm 1951, xã nhà là vùng tạm chiếm của Pháp, nhưng Phùng Quang Sức vẫn bám đất, bám dân hoạt động. Ban ngày, anh trốn trong chùa hoặc gia đình cơ sở cách mạng, ban đêm thì đi từng nhà vận động nhân dân tham gia du kích, ủng hộ kháng chiến. Một lần, do có chỉ điểm, quân Pháp vây bắt anh trong một ngôi chùa. Để nhà chùa không bị tàn phá, anh chạy ra cánh đồng Cư An thì bị bắt và đưa về đồn Mai Khê tra tấn dã man. Giặc dùng đủ mọi cực hình tàn khốc, muốn anh khai ra các gia đình ủng hộ kháng chiến nhưng chúng không nhận được ở anh nửa lời. Nhân dân quanh đồn Mai Khê thương anh, nhưng đồn bốt kiên cố, không có cách nào giải thoát. Giặc tra tấn anh đến chết rồi chôn trong một hố chôn tập thể cùng nhiều cán bộ, đảng viên, du kích khác của ta".

Khi kể xong chuyện, chừng như chưa hết ngậm ngùi, cụ Bưu bảo tôi: “Anh Sức sống trung thành, chết vẻ vang, giờ anh Phùng Quang Thanh được như thế, chắc anh ấy được ngậm cười nơi chín suối”. Đến lúc này, tôi mới biết liệt sĩ Phùng Quang Sức là thân phụ của Bộ trưởng Phùng Quang Thanh. Câu chuyện bỗng nhiên... rắc rối. Vì theo nguyên tắc, tôi phải báo cáo rõ chuyện này với chỉ huy phòng và Ban biên tập. Hồi đó, trang "Tiếp lửa truyền thống" được Tổng biên tập Lê Phúc Nguyên rất quan tâm. Khi đọc được báo cáo của tôi trên tòa soạn điện tử, ông cẩn thận gác bài lại và gọi điện xin ý kiến của Bộ trưởng Phùng Quang Thanh. Theo Tổng biên tập thông báo lại, Bộ trưởng đề nghị không đăng vì sẽ có người cho rằng, làm như vậy là “đánh bóng” lý lịch. Thế là bài báo công phu của tôi không đăng được.

Ít lâu sau, sang năm 2010, trong lần họp mặt một số CCB Sư đoàn 390 tại Hà Nội, Bộ trưởng Phùng Quang Thanh đến dự. Được dự cuộc họp mặt lần đó, tôi tranh thủ nêu “thắc mắc” với Bộ trưởng về bài báo chưa được đăng của mình. Ông rất chú ý lắng nghe, rồi bảo: "Tôi cảm ơn, nhưng chuyện đăng báo tấm gương ông cụ nhà tôi vào lúc này là không nên”.

Từ đó, suốt 9 năm, tôi gần như đã quên bản thảo bài báo thì đầu tháng 8-2019, một CCB ở Mê Linh gọi điện cho tôi và nói: “Cụ Bưu đã yếu lắm rồi, cụ hỏi thăm anh và bảo nhà báo về lấy tư liệu kỹ thế mà không thấy gửi biếu tờ báo”. Tôi thấy mình có lỗi với cụ, có lẽ cụ cũng gần trăm tuổi rồi. Tôi bèn gọi điện xin ý kiến thủ trưởng Phùng Quang Thanh, trình bày lý do và xin sửa lại cho cập nhật để đăng bài báo. Đại tướng Phùng Quang Thanh bảo tôi mang bản thảo đến nhà riêng, tự tay ông biên tập, sửa chữa bài, cẩn thận ghi thêm dòng chữ “Đồng ý cho đăng”, ký tên vào bên lề bản thảo rồi đưa lại cho tôi: “Giờ tôi về hưu rồi, ông đăng được là rất quý. Hôm nào báo ra, gửi tôi mấy tờ, tôi sẽ biếu cụ Bưu”.

Tình đồng chí, đồng đội là một tài sản quý giá

Trong suốt 10 năm đồng chí Phùng Quang Thanh làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, được tháp tùng ông trong một số chuyến công tác, tôi rất muốn thực hiện một cuộc phỏng vấn với ông về tình đồng đội nhưng hiểu rằng điều đó là chưa nên khi ông còn đương chức. Năm 2017, một năm sau khi ông nghỉ hưu, tôi mới gọi điện trình bày mong muốn ấy. Nghe xong, ông nói: "Hôm nào rảnh ông qua chơi, trò chuyện thì được nhưng đăng báo thì thôi". Tôi phải áp dụng chiến thuật "mưa dầm thấm lâu". Thời gian này, ông phải điều trị bệnh hiểm nghèo, sức khỏe không ổn định, nên mỗi lần đến thăm, cuộc trò chuyện với ông cũng không được dài. Nhưng những câu chuyện ông kể rất giá trị với người làm báo như tôi. Tích hợp lại, năm 2019, nhân dịp kỷ niệm 75 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, ông mới đồng ý cho tôi đăng bài phỏng vấn "Tình đồng đội là một tài sản quý giá". Sau khi báo đăng, đồng chí, đồng đội, bạn bè gọi điện trao đổi với ông rất nhiều điều tâm đắc, khiến ông rất vui. Lúc đó, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân cùng với các nhà báo: Nguyễn Minh Trường, Nguyễn Mạnh Hùng, Trịnh Phú Sơn ở Báo Quân đội nhân dân làm cuốn sách ảnh "Đại tướng Phùng Quang Thanh-Những khoảnh khắc nhớ mãi". Những người làm sách đã đưa bài phỏng vấn của tôi vào cuốn sách nên khi sách in, ông gọi tôi sang tặng một cuốn. Chữ đề tặng của ông rất đẹp. PGS, TS Trần Đình Huỳnh, nguyên Viện trưởng Viện Xây dựng Đảng, khi nhìn thấy nét chữ của ông, nói với tôi: "Nét chữ nết người".

Xem cuốn sách, tôi rất xúc động khi thấy tấm hình ông chụp năm 15 tuổi (1964) với 3 cháu bé là con của người anh con bác ruột tại Yên Bái. Mồ côi cha từ khi còn nhỏ, mẹ đi bước nữa, ông ở với chú ruột, rồi lại lên Yên Bái ở cùng bác ruột. Năm 18 tuổi, khi xung phong đi bộ đội, ông đã phải viết cùng lúc hai lá đơn tình nguyện, một gửi xã đội, một gửi huyện đội thì mới được xét duyệt vì là con liệt sĩ, thuộc diện miễn nghĩa vụ quân sự. Tình yêu thương đồng chí, đồng đội được hình thành và vun đắp trong ông có lẽ xuất phát từ tình cảm thiêng liêng với người cha và tình yêu quê hương, đất nước đã bồi đắp từ thuở ấu thơ. Ông tâm sự, Quân đội ta là quân đội cách mạng, sự khác biệt với các quân đội khác nằm ở tình đồng chí, đồng đội trên cơ sở lòng yêu nước, thương nòi. Người chỉ huy muốn chỉ huy được bộ đội thì phải gương mẫu, lúc nào cũng chí công vô tư, yêu thương cấp dưới thật lòng thì lúc chiến đấu người lính mới sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc. Câu nói của ông: "Tôi cũng như tất cả đồng chí, đồng đội cùng thế hệ, không ai mong muốn đất nước có chiến tranh để mình trở thành anh hùng" chính là biểu ngôn của một thế hệ đã trải qua nhiều thăng trầm, mất mát, trưởng thành cùng dân tộc. VD

 

Những dũng sĩ bảo vệ môi trường

 

Ô nhiễm môi trường luôn là vấn đề nóng, gây nhức nhối trong xã hội. Các sự cố hóa chất, độc xạ, hay cháy, nổ, dịch họa, chất độc tồn lưu sau chiến tranh là nguy cơ đe dọa trực tiếp đến sự ổn định, phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Tiên phong trên tuyến đầu khắc phục sự cố môi trường, cán bộ, nhân viên Viện Hóa học môi trường quân sự, Binh chủng Hóa học luôn xung kích vào nơi khó khăn, nguy hiểm... để làm nhiệm vụ.

Cùng với hóa giải những "quả bom" ô nhiễm đột xuất, họ còn thường xuyên tham gia xử lý chất độc da cam/dioxin sau chiến tranh, đem lại cho người dân cuộc sống trong lành, xanh, sạch...

Bài 1: "Bắt mạch" môi trường

Lặng thầm bộ đội quan trắc

Những ngày cuối thu, trong căn phòng yên tĩnh của Trạm Quan trắc cảnh báo môi trường độc, xạ miền Bắc, Viện Hóa học môi trường quân sự trên đường Lạc Long Quân, quận Tây Hồ, TP Hà Nội, Trung tá Phạm Viết Đức đang miệt mài với những số liệu. Đó là thông số mẫu nước, không khí của TP Hà Nội và một số tỉnh lân cận được trạm thu thập, phân tích, theo dõi thường xuyên. Những con số là thước đo đánh giá “sức khỏe” của môi trường.

Anh Đức lý giải: "Trong thành phần của nước, không khí có nhiều tạp chất do khói, bụi. Đặc biệt, chất thải từ nhà máy, khu công nghiệp... dễ tán phát trong nước, không khí, gây hại cho sức khỏe con người nhưng lại không màu, không mùi nên khó nhận biết. Có những loại chất độc chỉ khi con người, động vật tiếp xúc, xuất hiện triệu chứng mầm bệnh thì mới phát hiện được. Do đó, việc theo dõi thường xuyên chất lượng nguồn nước, không khí có ý nghĩa rất quan trọng trong bảo đảm môi trường sống trong sạch cho người dân".

Ngoài nhiệm vụ quan trắc, cảnh báo phát hiện các biến động ô nhiễm môi trường hóa độc, xạ, trạm còn tham gia phân tích xác định các tác nhân hóa học, phóng xạ, khắc phục các sự cố độc xạ và đánh giá tác động môi trường. Vậy nên, công việc của anh Đức và đồng nghiệp liên quan chủ yếu đến các hóa chất và phản ứng hóa học, âm thầm, lặng lẽ, tiềm ẩn nhiều nguy hiểm.

Cơn gió lạnh khẽ ùa tới, bất giác gợi cho anh Đức nhớ về kỷ niệm năm 2016. Sáng sớm, Viện Hóa học môi trường quân sự liên tục nhận được điện thoại thông báo cá ở Hồ Tây, TP Hà Nội chết hàng loạt, nổi dạt vào bờ. Ngay sau đó, anh Đức nhận lệnh cùng 3 đồng nghiệp mang hóa chất và thiết bị chuyên dụng ra hồ phân tích mẫu nước. Sương trắng bảng lảng mặt hồ, hàng nghìn con cá chết trắng bụng nổi lềnh phềnh trên mặt nước. Mùi không khí xú uế nặng nề. Chiếc thuyền chở đoàn công tác lướt tới từng điểm xác định, lấy mẫu nước đổ vào thùng, sử dụng hóa chất đánh lắng, rồi phân tích, đánh giá...

Điều bất thường xảy ra, nước ở khu vực gần bờ nồng độ nhiễm độc rất thấp nhưng ở khu vực giữa hồ nồng độ nhiễm độc lại cao, gây khó khăn cho nhóm công tác trong việc tìm nguồn lây. Quá trưa, công việc phân tích thành phần nước tại thực địa mới xong, chuyển sang bước phân tích tại phòng thí nghiệm. Rất nhanh chóng sau đó, kết quả phân tích nguồn nước ô nhiễm đã được Viện Hóa học môi trường quân sự gửi đến cơ quan chức năng.

Ô nhiễm môi trường là vấn đề cấp thiết nên không chỉ trên địa bàn TP Hà Nội, bất cứ nơi đâu cần, nhận mệnh lệnh là anh Đức cùng đồng đội lập tức lên đường.

Cũng trong năm 2016, biển miền Trung bị ô nhiễm do Công ty Formosa gây ra. Anh Đức nhận được lệnh tức tốc lên đường. Hơn nửa tháng, anh cùng cán bộ, nhân viên Viện Hóa học môi trường quân sự đi thuyền dọc bờ biển từ tỉnh Hà Tĩnh đến tỉnh Thừa Thiên Huế, ban ngày vượt sóng gió lấy mẫu nước gần bờ và ngoài khơi, đến tối xử lý kỹ thuật, gửi mẫu ra trung tâm ở TP Hà Nội phân tích. Kết quả, viện đã có thông số chính xác báo cáo cấp trên và tham mưu cho cơ quan chức năng, góp phần làm sáng tỏ nguyên nhân sự cố môi trường nghiêm trọng này.

Dấn thân trong hiểm nguy

Trên khắp các vùng miền của Tổ quốc, cán bộ, nhân viên Viện Hóa học môi trường quân sự luôn theo sát những biến đổi của môi trường. Trong những ngày TP Hồ Chí Minh oằn mình chống dịch Covid-19, chúng tôi liên hệ với Thiếu tá Nguyễn Hữu Đức, Trạm trưởng Trạm Quan trắc cảnh báo môi trường độc, xạ miền Nam (gọi tắt là Trạm Quan trắc). Anh Đức kể ngay, từ đầu tháng 7, khi dịch Covid-19 bùng phát mạnh, cán bộ, nhân viên trạm căng mình làm việc gấp đôi ngày thường. Ngoài nhiệm vụ thường xuyên quan trắc, cảnh báo phát hiện các biến động ô nhiễm môi trường hóa độc, xạ, trạm còn cử lực lượng cùng chính quyền địa phương làm nhiệm vụ ở các chốt kiểm dịch phòng, chống Covid-19.

Qua vài phút trò chuyện, tinh thần sôi nổi của Thiếu tá Nguyễn Hữu Đức làm chúng tôi như cảm nhận được sự nhiệt huyết của cán bộ, nhân viên trạm. Bắt nối câu chuyện, Thiếu tá QNCN Võ Hồng Cầu, nhân viên hóa nghiệm của trạm hồ hởi kể thêm với chúng tôi, hơn chục năm qua, cán bộ, nhân viên trạm đã tham gia khắc phục nhiều sự cố môi trường như tràn dầu, rò rỉ hóa chất, cháy, nổ kho hóa chất, trải dài trên địa bàn các tỉnh từ Ninh Thuận đến Kiên Giang, Bến Tre... Lần cam go nhất cán bộ, nhân viên của trạm tham gia là khắc phục sự cố cháy kho hóa chất tại Khu công nghiệp Lê Minh Xuân, huyện Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh, năm 2014.

Theo thông tin từ cơ quan chức năng, vụ cháy xuất phát từ một cơ sở kinh doanh có 185 loại hóa chất, dung môi công nghiệp, với tổng khối lượng khoảng 1.000 tấn hóa chất. Trong đó, một số loại hóa chất có nguy cơ cháy, nổ cao. Khi xảy ra sự việc, lực lượng cảnh sát phòng cháy, chữa cháy TP Hồ Chí Minh đã có mặt chữa cháy. Tuy nhiên, do phản ứng của hóa chất, ngọn lửa sau mỗi lần bị dập tắt lại tự động bùng phát đám cháy mới, làm 24 người tham gia chữa cháy bị bỏng và ngạt thở do hóa chất.

Trong lúc nguy nan, anh Đức và cán bộ, nhân viên Trạm Quan trắc nhận lệnh lên đường tìm hóa chất lạ dẫn đến đám cháy bất thường. Đeo mặt nạ, mặc khí tài đi vào khu nhà xưởng rộng hơn 1.000m2 với hàng trăm loại hóa chất vương vãi, vừa cháy, vừa phản ứng với nhau, anh Đức nói với anh Cầu và một số đồng đội: “Chúng ta lao vào miệng lửa, cùng với hàng tấn hóa chất, lành ít dữ nhiều. Mọi người chia thành nhóm nhỏ hai người, lỡ có sự cố, nhóm còn lại thoát ra cầu cứu. Cố gắng phân loại, xác định hóa chất gây ra cháy bất thường, sớm tìm ra thủ phạm”. Giữa lằn ranh nguy hiểm, tinh thần dũng cảm đã thôi thúc các anh tìm ra nguyên nhân, dập tắt đám cháy triệt để.

Câu chuyện bảo vệ môi trường của cán bộ, nhân viên Viện Hóa học môi trường quân sự còn nhiều, muôn hình muôn vẻ, từ những công việc âm thầm thường ngày, "bắt mạch" môi trường đến lao vào điểm nóng khắc phục sự cố môi trường, góp phần tô thắm thêm chiến công thầm lặng của Bộ đội Hóa học. Phần tiếp theo, chúng tôi gửi tới bạn đọc công việc của cán bộ, nhân viên Viện Hóa học môi trường quân sự tham gia chữa lành vết thương cho những mảnh đất nhiễm chất độc hóa học.VD

 

Mùa xuân ở lại..

 

Những ngày cuối năm, khi mọi người háo hức chờ đợi giây phút sum vầy cùng người thân đón xuân mới, nhiều cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn Công binh 543 (Quân khu 2) vẫn chạy đua với thời gian để hoàn thành cung đường tuần tra biên giới ở một vùng Tây Bắc xa xôi.

Trời mới tảng sáng, chiếc xe tải chất đầy rau, củ, quả cùng nhiều phần quà Tết đã sẵn sàng lên đường. Trước lúc khởi hành, Đại tá Lê Anh Tuấn, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn Công binh 543 cẩn thận kiểm tra lại toàn bộ hàng hóa, nhu yếu phẩm chuyển lên biên giới cho cán bộ, chiến sĩ đơn vị đang thực hiện nhiệm vụ nơi tuyến đầu Tổ quốc. Anh cho biết: “Cán bộ, chiến sĩ thực hiện nhiệm vụ cả năm ròng rã nơi rừng thiêng nước độc, vùng sâu, vùng xa nên những ngày Tết rất cần sự quan tâm và chăm lo chu đáo”.

Hành quân gần 5 giờ liên tục, vượt qua bao cung đường quanh co, hiểm trở, cuối cùng chúng tôi cũng đặt chân đến thôn Choán Ván, thị trấn Mường Khương, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai, nơi cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn Công binh 543 đang thực hiện nhiệm vụ. Đã quá 12 giờ mà không gian nơi đây vẫn âm u, mù mịt chẳng khác nào lúc sáng sớm. Không khí lạnh tăng cường kèm theo mưa phùn, gió bấc khiến nhiệt độ giảm sâu, trời rét căm căm. Nhìn bầu trời xám màu chì, ai trong đoàn công tác cũng mong sao cho trời ấm lại để đồng đội của mình vơi bớt khó khăn.

Trong cái giá lạnh biên cương, tôi chợt nhớ đến phong trào quyên góp, ủng hộ quần áo ấm dành cho cán bộ, chiến sĩ của đơn vị thực hiện nhiệm vụ nơi biên giới. Phong trào được lữ đoàn duy trì đều đặn mấy năm gần đây. Nhờ hoạt động đầy ý nghĩa này mà bộ đội luôn được bổ sung kịp thời quần áo ấm, bảo hộ lao động, giúp họ có thể vượt qua điều kiện thời tiết khắc nghiệt của mùa đông Tây Bắc. Cũng bởi thế, cùng với rau, củ, quả, lương thực, thực phẩm, mỗi chuyến đi thăm, động viên bộ đội trên các công trình, bao giờ đơn vị cũng chở theo quần áo, chăn đệm tăng cường cho bộ đội.

Doanh trại dã chiến của bộ đội công binh là những “túp lều” ẩn hiện trong sương. Đó là những căn nhà tạm bên sườn núi, được thiết kế bằng khung sắt, tường gỗ, hoặc cót ép, mái lợp lá cọ. Vào nhà, chúng tôi không khỏi ngạc nhiên bởi sự ấm áp lạ thường. Phản nằm của bộ đội được kê thẳng tắp với những hàng chăn “vuông thành sắc cạnh”; quần áo, giày dép, đồ dùng sinh hoạt được sắp đặt gọn gàng, ngăn nắp chẳng khác ở đơn vị chính quy.

Đang say sưa ngắm doanh trại đặc biệt của các chiến sĩ “mở đường thắng lợi”, chợt có bàn tay vỗ vào vai tôi: “Không ngờ lại được gặp anh nơi biên giới xa xôi này?”. Sau giây lát, tôi nhận ra Vũ Thanh Tùng, người anh em cùng xã. Chưa đầy hai năm bám trụ trên các công trình quân sự nơi biên cương Tổ quốc mà Tùng thay đổi nhiều quá. Mái tóc xanh rờn, mượt như tơ mấy năm trước giờ tựa rễ tre. Nước da trắng thư sinh cùng gương mặt điển trai của chàng kỹ sư-sĩ quan tốt nghiệp Học viện Kỹ thuật Quân sự nay nhuốm màu biên ải, khiến Tùng già đi trước tuổi.

"Không phải hôm nay có đoàn công tác lên thăm mà nội vụ vệ sinh của đơn vị gọn gàng, sạch sẽ như vậy đâu nhé", Thiếu tá Vũ Thanh Tùng, Phó tham mưu trưởng lữ đoàn, vui vẻ phân trần với tôi. Anh chia sẻ, mặc dù đóng quân dã ngoại, nhưng đơn vị thường xuyên duy trì nghiêm các nền nếp, chế độ theo quy định nhằm rèn luyện bộ đội về tính tự giác, kỷ luật và tác phong chính quy, đồng thời có đủ sức khỏe để thực hiện nhiệm vụ trong điều kiện khó khăn, gian khổ, thời tiết khắc nghiệt. Được biết, mấy tháng nay, trên cương vị Phó tham mưu trưởng lữ đoàn, chỉ huy trưởng công trình đường tuần tra biên giới địa bàn huyện Mường Khương, ngày nào Thiếu tá Vũ Thanh Tùng cũng như con thoi, xông xáo khắp các khu vực thi công. Khi thì ở vị trí khoan nổ, đổ bê tông, lúc lại trèo lên các vách đá cheo leo, trực tiếp chỉ đạo bộ đội khoan núi, mở đường, thông tuyến.

Có lẽ chẳng riêng Vũ Thanh Tùng, khi quan sát các tổ, đội đang hối hả làm việc tại những vị trí khác nhau, nếu không nhìn kỹ cấp bậc quân hàm trên ve áo, quả thực tôi cũng khó phân biệt được đâu là cán bộ, đâu là chiến sĩ. Bởi tất cả đều vận trên mình quân phục dã ngoại hoặc đồ bảo hộ lao động lấm lem bụi đất. Thượng tá Nguyễn Đông Hưng, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Lữ đoàn Công binh 543, tâm sự: "Nhiệm vụ của bộ đội công binh vốn vất vả, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn, nên với chuyên môn vững vàng, nhiều kinh nghiệm, lại giàu bản lĩnh, đội ngũ cán bộ, QNCN của đơn vị luôn nhận về mình những nhiệm vụ khó khăn, gian khổ, không bao giờ thoái thác, khoán trắng cho chiến sĩ. Điều này vừa thể hiện trách nhiệm nêu gương của người cán bộ, đảng viên, đồng thời cũng là sự sẻ chia, đồng cam cộng khổ với chiến sĩ".

Đêm biên giới buông xuống thật nhanh. Thoáng chốc cả vùng núi non hiểm trở đã chìm trong bóng tối, chỉ còn ánh đèn đỏ quạch bên trong các lán trại của bộ đội công binh. Câu chuyện về cuộc sống của họ trên công trình đang rôm rả thì bữa cơm mời khách được dọn ra. Khó có thể tin được giữa một vùng biên giới xa xôi, thiếu thốn, khó khăn mà mâm cơm mời khách của các chiến sĩ công binh lại tươm tất như vậy. Tôi tỏ vẻ ngạc nhiên, Thiếu tá Hoàng Sơn Hải, Phó tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3, phấn khởi khoe: "Cùng với nhiệm vụ chuyên môn, chúng tôi đặc biệt coi trọng công tác tăng gia, chăn nuôi cải thiện đời sống bộ đội. Ngoài việc cung cấp đầy đủ, kịp thời cho bộ đội các tiêu chuẩn, chế độ theo quy định, đơn vị đều tận dụng tối đa diện tích đất xung quanh lán trại để trồng rau, chăn nuôi, bảo đảm nguồn thực phẩm tươi sống, an toàn cho bộ đội, nhất là dịp lễ, Tết... Hiện chúng tôi đang nuôi 20 con gà đẻ, 10 con lợn, đồng thời tận dụng tối đa diện tích đất gần công trình để trồng rau xanh, vườn giàn".

Quả thật, đến các điểm đóng quân nhỏ lẻ của Lữ đoàn Công binh 543, tôi đều thấy những khoảnh rau xanh nho nhỏ, những giàn mướp, giàn bầu ghé lên vách đá, hệ thống chuồng trại được quây tạm đơn sơ. Sản phẩm tăng gia thu được tuy còn khiêm tốn, nhưng góp phần không nhỏ nâng cao chất lượng bữa ăn hằng ngày của bộ đội.

Với đặc thù nhiệm vụ, đơn vị thường thi công các công trình ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, xa quốc lộ, xa dân cư, giao thông đi lại rất khó khăn, bộ đội thường xuyên thực hiện nhiệm vụ trong môi trường độc hại, thiếu ánh sáng, nhiều tiếng ồn, cường độ làm việc cao; mùa hè thì nắng nóng gay gắt, mùa đông thường là rét đậm, rét hại, có nơi xuất hiện băng tuyết... ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe cán bộ, chiến sĩ, việc chủ động tăng gia, nâng cao đời sống của họ thật đáng trân trọng. Gió biên ải lạnh buốt từng cơn, nhưng tôi thấy lòng mình như ấm lên khi nghĩ đến niềm vui của các chiến sĩ công binh và bà con dân bản trong đêm Giao thừa sắp tới. Hương thơm nồng ấm từ nồi bánh chưng lan tỏa, những bước chân tung tăng của trẻ nhỏ cùng sự lạc quan, yêu đời của người chiến sĩ để mùa xuân thêm tươi vui trên một dẻo biên cương. Hoa mận, hoa mơ, hoa đào bung nở khắp núi rừng Tây Bắc, hòa niềm vui trên cung đường mới cùng tình quân dân, để mùa xuân biên cương đẹp hơn, đẹp mãi.VD