Thứ Năm, 10 tháng 2, 2022

Chăm sóc toàn diện về thể chất, tinh thần cho trẻ em là nghĩa vụ, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội

 

Chăm sóc toàn diện về thể chất, tinh thần cho trẻ em là nghĩa vụ, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội

Tại Lễ công bố Chương trình sức khỏe học đường giai đoạn 2021-2025 được tổ chức trực tuyến tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế Hà Nội với 63 tỉnh, thành phố trong cả nước chiều 10/2, Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu các cấp, các ngành quán triệt tinh thần chung là giáo dục, chăm sóc sức khỏe cho trẻ em, học sinh là nghĩa vụ, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội.

Khẳng định quyết tâm lớn của Đảng, Nhà nước trong việc nâng cao chất lượng hoạt động chăm sóc, bảo vệ trẻ em

Chương trình Sức khỏe học đường giai đoạn 2021-2025 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1660/QĐ-TTg, ngày 2/10/2021 nhằm bảo đảm chăm sóc toàn diện về thể chất, tinh thần cho trẻ em, học sinh thông qua việc duy trì, đẩy mạnh hoạt động giáo dục, chăm sóc, bảo vệ và quản lý sức khỏe trẻ em, học sinh trong các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và các trường chuyên biệt.

Chương trình  xác định 5 nhóm nội dung và 7 nhóm giải pháp về chăm sóc, bảo vệ và quản lý sức khỏe, trẻ em, học sinh; giáo dục thể chất và hoạt động thể thao học đường; tổ chức bữa ăn học đường, bảo đảm dinh dưỡng hợp lý; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành, giám sát, thống kê, báo cáo; tuyên truyền, giáo dục sức khỏe học đường trong trường học.

Mỗi nội dung được giao chỉ tiêu đánh giá cụ thể như đến năm 2025, 100% trường học có tổ chức bữa ăn học đường và căng tin trường học, bảo đảm các điều kiện về vệ sinh, an toàn thực phẩm theo quy định, sử dụng sữa học đường theo tiêu chí, tiêu chuẩn được quy định trong Chương trình Sữa học đường quốc gia...; 100% học sinh được tuyên truyền, giáo dục về sức khỏe và nâng cao kiến thức phòng, chống bệnh, tật học đường, bệnh không lây nhiễm và sức khỏe tâm thần; giáo dục về dinh dưỡng hợp lý, thực phẩm lành mạnh, an toàn; 100% trường học có đủ giáo viên giáo dục thể chất và được tập huấn, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ...

Tại Lễ công bố Chương trình sức khỏe học đường giai đoạn 2021-2025, Thủ tướng Phạm Minh Chính cho rằng cùng với việc mở cửa trường học trở lại trên phạm vi cả nước, đây là sự kiện quan trọng, có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, góp phần khẳng định quyết tâm lớn của Đảng, Nhà nước trong việc nâng cao chất lượng hoạt động chăm sóc, bảo vệ trẻ em, học sinh, dành những gì tốt nhất có thể cho thế hệ tương lai - thế hệ góp phần quan trọng quyết định sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong những năm tới.

Theo Thủ tướng, đối với mỗi người trong chúng ta và cả xã hội, sức khỏe luôn là vốn quý nhất. Đặc biệt, đối với gần 23 triệu trẻ em, học sinh, công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe cho các cháu lại càng quan trọng bởi đây là thế hệ tương lai của đất nước. Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe các cháu là trách nhiệm không chỉ của gia đình mà còn của cộng đồng, của toàn xã hội và cả hệ thống chính trị.

Thủ tướng khẳng định Đảng và Nhà nước luôn quan tâm tới giáo dục, đào tạo và bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của nhân dân nói chung và sức khỏe học đường nói riêng. Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 25/10/2017 về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới. Nhiều chiến lược, kế hoạch, đề án, chương trình liên quan đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Cùng với sự nỗ lực của ngành giáo dục, y tế, thể dục, thể thao và các bộ, ban, ngành, địa phương; sự tham gia, hỗ trợ, phối hợp tích cực của các tổ chức trong nước và quốc tế, các cá nhân, từng gia đình và nhà trường đã góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm, cải thiện đáng kể điều kiện học tập, chăm sóc sức khỏe cho trẻ em, học sinh, nhất là về dinh dưỡng, thể chất, điều kiện vệ sinh trường học, dự phòng bệnh tật học đường; đặc biệt là dịch COVID-19 hiện nay.

Thủ tướng nhấn mạnh, dịch COVID-19 đã ảnh hưởng nghiêm trọng trực tiếp và gián tiếp đối với sức khỏe thể chất và tinh thần của học sinh, trẻ em. Tại Việt Nam, những đợt giãn cách, tăng cường giãn cách xã hội và việc hạn chế di chuyển khi chưa có đủ vaccine, thuốc, chưa hiểu hết về biến chủng Delta, năng lực y tế còn hạn chế… đã khiến nhiều trẻ em, học sinh phải trải qua những ngày tháng khó khăn khi phải rời xa gia đình, bạn bè, trường lớp, thầy cô, rời xa những không gian, những trò vui đùa của tuổi thơ. Các cháu ít được vận động ngoài trời, thiếu tương tác xã hội, không được giao lưu với bạn đồng lứa. Đặc biệt, nhiều cháu phải trải qua những mất mát quá lớn, hàng nghìn cháu nhỏ rơi vào hoàn cảnh mồ côi, mất đi sự yêu thương, quan tâm, chăm sóc của cha mẹ, người thân. Dịch COVID-19 đã bước sang năm thứ ba, và đang tiếp tục tác động nặng nề lên sức khỏe tinh thần cũng như điều kiện sống của trẻ em và thanh thiếu niên.

Tiếp tục phát động chiến dịch tiêm chủng cho trẻ từ 5 đến 12 tuổi an toàn, khoa học, hợp lý, hiệu quả

Trên cơ sở nhận thức và xác định rõ những hạn chế, khó khăn, thách thức, nguyên nhân nêu trên, ngày 2/10/2021, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1660/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình Sức khỏe học đường giai đoạn 2021-2025; giao nhiệm vụ cho các bộ, cơ quan, địa phương, đồng thời huy động sự tham gia của các tổ chức, triển khai lồng ghép với các đề án, chương trình, kế hoạch liên quan nhằm đẩy mạnh hoạt động chăm sóc toàn diện, đồng bộ về thể chất, tinh thần cho trẻ em, học sinh.

Thủ tướng đề nghị các bộ, ngành, địa phương phối hợp chặt chẽ để triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp của Chương trình theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền; tích cực phối hợp tuyên truyền, phổ biến và huy động các nguồn lực hợp pháp để triển khai Chương trình.

"Từng nhà trường, gia đình, từng học sinh, người dân cần chủ động, tích cực hưởng ứng Chương trình vì chính sức khỏe của con em mình, thông qua những hành vi, lối sống lành mạnh và các hoạt động tự bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe của bản thân," Thủ tướng nhấn mạnh.

Trước mắt, Thủ tướng yêu cầu các cấp, các ngành quán triệt tinh thần chung là giáo dục, chăm sóc sức khỏe cho trẻ em, học sinh là nghĩa vụ, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội, trong đó ngành giáo dục và ngành y tế đóng vai trò nòng cốt; các bộ, ngành, cơ quan liên quan phối hợp về chuyên môn.

Cần coi sức khỏe học sinh là đối tượng phục vụ đặc biệt và coi trọng chăm sóc sức khỏe tinh thần ngang với sức khỏe thể chất. Gia đình và nhà trường phải liên hệ, phối hợp chặt chẽ, hiệu quả, tất cả chúng ta đều phải có trách nhiệm trong việc bảo vệ, chăm sóc trẻ em và chúng ta còn phải suy nghĩ, phải chung tay, phải đưa ra thông điệp mạnh mẽ, phải hành động khi bên cạnh chúng ta vẫn còn những trẻ em chưa được bảo vệ, chưa được chăm sóc, còn đối mặt những nguy cơ mất an toàn về tính mạng, sức khỏe, tinh thần.

Thủ tướng chỉ đạo phải có những chương trình nghiên cứu, khảo sát, phân tích, đánh giá kỹ lưỡng về vấn đề ảnh hưởng tâm sinh lý, sức khỏe tâm thần của trẻ em, nhất là những tác động từ đại dịch để chúng ta có những biện pháp, giải pháp, sự quan tâm, chăm sóc, giáo dục phù hợp cho các cháu - thế hệ tương lai của đất nước.

Đặc biệt, cần chung tay giải quyết sớm và quyết liệt nhằm cải thiện điều kiện vật chất, cơ sở trường học, tăng cường xây dựng quy hoạch các điểm trường đảm bảo hợp lý, khoa học, chất lượng ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.

Tiếp tục cải thiện hệ thống nhà vệ sinh trường học và cơ sở vật chất để các cháu có không gian rèn luyện sức khỏe, chú trọng dạy các kỹ năng sinh tồn cho trẻ, nhất là có giải pháp giảm tỷ lệ trẻ đuối nước. Cải thiện bữa ăn, chế độ dinh dưỡng cho trẻ, đặc biệt ở những khu vực ảnh hưởng nặng nề do đại dịch COVID-19. Giảm tải chương trình học, trước hết là ở bậc tiểu học để “mỗi ngày đến trường là một ngày vui," tránh ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý của trẻ.

"Cùng với mở cửa trở lại trường học, các bộ, ngành liên quan và các địa phương tiếp tục phát động chiến dịch tiêm chủng cho các cháu từ 5 đến 12 tuổi an toàn, khoa học, hợp lý, hiệu quả để kiểm soát dịch bệnh. Đây là một trong những việc trọng tâm hiện nay," Thủ tướng yêu cầu.

 

Hai rào cản lớn trong quan hệ Nga-Trung

 

Hai rào cản lớn trong quan hệ Nga-Trung

Theo Baoquocte.vn. Sau Thượng đỉnh Nga-Trung, người ta nói nhiều về mối quan hệ ngày càng khăng khít giữa Moscow và Bắc Kinh, nhưng liệu chừng đó đã đủ để dùng chữ ‘đồng minh’? Bình luận của Báo TG&VN.

Điểm yếu về kinh tế

Trước hết, một mối quan hệ “đồng minh” bền vững cần được xây dựng không chỉ dựa trên nền tảng chính trị, mà còn được vun đắp thông qua liên kết về kinh tế. Tuy nhiên, trong khi khía cạnh chính trị của mối quan hệ Nga-Trung ngày càng cải thiện, các liên kết kinh tế lại đang tụt hậu.

Nỗ lực của Bắc Kinh nhằm liên kết Sáng kiến vành đai và con đường (BRI) với Liên minh Kinh tế Á-Âu của Moscow không có nhiều tiến triển. Đồng thời, thương mại song phương chịu ảnh hưởng nặng nề từ các lệnh cấm vận từ phương Tây. Kể từ khi Nga sát nhập Crimea, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước đã liên tục sụt giảm, từ 90 tỷ USD trong năm 2014 xuống dự kiến còn 64 tỷ USD trong năm tới.

Liên kết kinh tế song phương sẽ còn lung lay hơn khi Bắc Kinh, trong nỗ lực theo đuổi cam kết chống biến đổi khí hậu, ưu tiên sử dụng khí đốt tự nhiên hóa lỏng và năng lượng tái tạo thay vì dầu thô, mặt hàng xuất khẩu hàng đầu của Nga sang Trung Quốc.

Thêm vào đó, thời gian gần đây, Bắc Kinh cho thấy năng lực sản xuất vũ khí, trang thiết bị quốc phòng càng mạnh mẽ, thể hiện qua việc tự đóng thành công tàu sân bay Sơn Đông và tiếp tục nâng cấp tiêm kích J-15, từ máy bay chiến đấu thế hệ 4 lên thế hệ 4+. Điều này sẽ tác động đáng kể tới các hợp đồng xuất khẩu vũ khí của Moscow sang Bắc Kinh.

Ngoài ra, khí tài Trung Quốc với giá cả phải chăng đang xuất hiện ngày càng nhiều tại Thái Lan, Pakistan, Bangladesh hay Algeria, ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động kinh doanh của công nghiệp quốc phòng Nga, vốn là một nguồn thu quan trọng trong cơ cấu kinh tế của xứ bạch dương.

Trung Quốc ý thức rõ được thực trạng này. Do đó, danh sách đề xuất của Chủ tịch Tập Cận Bình nhấn mạnh “hai bên cần thực hiện Lộ trình phát triển thương mại hàng hóa và dịch vụ chất lượng cao”. Điều này không hề đơn giản, nhất là khi Nga vẫn đặt hợp tác kinh tế với Trung Quốc xếp sau các chủ đề chiến lược và địa chính trị quan trọng hơn.

Hai nhà lãnh đạo cũng thảo luận về hợp tác sâu rộng trong phát triển công nghệ và công nghiệp quân sự. Đặc biệt, Bắc Kinh và Moscow kêu gọi sử dụng nhiều hơn các đồng tiền quốc gia trong thương mại quốc tế, trước những lo ngại về sự bấp bênh xung quanh đồng USD, cũng như giảm thiểu khả năng Washington sử dụng đồng tiền này để hạn chế các giao dịch.

Tuy nhiên, cả Nga lẫn Trung Quốc không thể đảm bảo rằng giao dịch song phương sẽ an toàn một khi Mỹ và châu Âu đẩy mạnh trừng phạt xứ bạch dương vì Ukraine.

Khác biệt về mục tiêu

Ngay cả trong lĩnh vực chính trị, Nga và Trung Quốc cũng có không ít khác biệt.

Đầu tiên, Nga vẫn đẩy mạnh xuất khẩu vũ khí sang Ấn Độ và Đông Nam Á, vốn vẫn tồn tại tranh chấp về biên giới lãnh thổ với Trung Quốc. Báo cáo của Dịch vụ Nghiên cứu Quốc hội (CRS) Mỹ cho thấy kể từ năm 2010, New Delhi chiếm tới 1/3 tổng sản lượng vũ khí xuất khẩu của Moscow trên toàn cầu. Trong khi đó, các nước Đông Nam Á như Indonesia, Malaysia và Việt Nam tiếp tục là thị trường tiềm năng của vũ khí Nga.

Đồng thời, trong vấn đề Biển Đôngbiên giới Trung-Ấn, Nga vẫn giữ thái độ trung lập, kêu gọi các bên giải quyết tranh chấp một cách hòa bình theo luật pháp quốc tế. Quan điểm này giúp Moscow giữ được quan hệ với New Delhi và các đối tác có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông, song chắc chắn không thể khiến Bắc Kinh hài lòng.

Đáp lại, Trung Quốc cố gắng duy trì thái độ trung lập trong căng thẳng tại Ukraine. Đây là điều dễ hiểu, bởi Kiev có vai trò chiến lược và kinh tế đặc quan trọng với Bắc Kinh.

Trung Quốc cũng là khách hàng mua thiết bị quân sự quan trọng của Ukraine. Theo Viện Nghiên cứu Hòa bình quốc tế Stockholm (SIPRI), từ năm 2016-2020, Bắc Kinh mua tới 36% tổng lượng vũ khí xuất khẩu của Kiev. Tàu sân bay Sơn Đông do Trung Quốc tự sản xuất cũng được phát triển dựa trên tàu Liêu Ninh, vốn là tàu sân bay chưa hoàn thiện của Ukraine từ thời Liên Xô.

Quan trọng hơn, nằm ở phía Bắc Biển Đen, Ukraine là hành lang thương mại quan trọng giữa châu Âu, châu Á và Trung Đông và một tâm điểm trong BRI của Trung Quốc.

Năm 2019, Trung Quốc vượt qua Nga để trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Ukraine. Năm 2020, một tuyến tàu chở hàng đã được mở giữa hai nước. Mới đây, Đại sứ Trung Quốc tại Ukraine Fan Xiaorong khẳng định các công ty nước này “ngày càng sẵn sàng” khám phá cơ hội đầu tư trong chế biến thực phẩm, xây dựng cảng, sản xuất phụ tùng xe hơi và vaccine ở Ukraine.

Thực tế này đặt Trung Quốc vào thế khó khi phải cân bằng giữa lợi ích kinh tế từ Ukraine và liên kết chính trị với Nga. Tuyên bố chung sau thượng đỉnh giữa ông Vladimir Putin và ông Tập Cận Bình phản ánh rõ điều này.

Dù thể hiện lập trường phản đối Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) mở rộng về phía Đông châu Âu, song văn bản này lại không đề cập trực tiếp tới tên Ukraine và chỉ nói về “một số người chơi… đơn phương sử dụng vũ lực… trong giải quyết các vấn đề quốc tế”.

Tất nhiên, nhận định này nhằm ám chỉ Mỹ bổ sung lực lượng hỗ trợ Ukraine tại biên giới với Nga, song trong bối cảnh khác, nó hoàn toàn có thể được dùng để nói về các cuộc tập trận gần đây của Moscow ở khu vực này.

Vì thế, dù thượng đỉnh vừa qua tại Bắc Kinh đã chứng kiến nhiều chuyển biến tích cực, song có thể nói quan hệ Nga-Trung vẫn chỉ dừng ở mức “trên tình bạn, dưới tình yêu” mà thôi.

 

 

KHẲNG ĐỊNH VỊ THẾ VIỆT NAM TRÊN BẢN ĐỒ PHÁP LÝ QUỐC TẾ

 

Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII đã khẳng định đối ngoại phải “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi”. Đây cũng là kim chỉ nam trong công tác đối ngoại được Bộ Ngoại giao triển khai cụ thể, quyết liệt. Theo đó, Việt Nam luôn coi trọng và thúc đẩy vận dụng luật pháp quốc tế (LPQT) nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Hiến pháp năm 2013 khẳng định Việt Nam là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Trong những năm gần đây, thực hiện đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước về triển khai đồng bộ, sáng tạo, hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương, mở rộng và làm sâu sắc quan hệ với các đối tác trên thế giới, Việt Nam không ngừng tăng cường sự tham gia tại các diễn đàn pháp lý đa phương, như Ủy ban các vấn đề pháp lý (Ủy ban VI) của Đại hội đồng Liên hợp quốc và Tổ chức Tham vấn pháp lý Á - Phi (AALCO). Đáng chú ý, Việt Nam thắng cử trong những kỳ bầu cử với tính cạnh tranh cao, giành được quyền hiện diện tại các cơ chế pháp lý quốc tế quan trọng như Ủy ban Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL) và Ủy ban LPQT Liên hợp quốc (ILC). Các diễn đàn pháp lý này không những đóng vai trò nghiên cứu, pháp điển hóa luật pháp quốc tế, mà còn là nơi xem xét, nghiên cứu các vấn đề pháp lý mới phát sinh, có liên hệ chặt chẽ với lợi ích các quốc gia, như các vấn đề biển và đại dương, biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường, an ninh mạng, giải quyết tranh chấp trong đầu tư… Tại các diễn đàn này, Việt Nam kịp thời đưa ra các quan điểm phù hợp với lợi ích, chủ trương của mình, bảo vệ lợi ích quốc gia từ sớm, từ xa, đồng thời thể hiện tinh thần trách nhiệm, tích cực vì lợi ích chung của cộng đồng quốc tế. Đặc biệt, việc Việt Nam thúc đẩy các chủ đề pháp lý thực tiễn, sát sao với lợi ích của các nước đang phát triển như môi trường, dịch bệnh, biến đổi khí hậu… được các nước ủng hộ, đánh giá cao và ngày càng tín nhiệm. Đồng thời, đội ngũ cán bộ pháp lý của Việt Nam nói riêng và cán bộ đối ngoại nói chung cũng được tạo cơ hội để từng bước trưởng thành, vươn tới trình độ tiệm cận với khu vực và thế giới cả về chuyên môn và kỹ năng như Việt Nam bổ nhiệm trọng tài viên tại Tòa Trọng tài thường trực từ năm 2012-2024 từ các cơ quan trong nước; có chuyên viên làm việc tại các cơ quan pháp lý quốc tế, trong đó có Ban Thư ký ASEAN, Tòa Luật Biển quốc tế (ITLOS), Tòa Trọng tài thường trực (PCA)…; và hai nhiệm kỳ liên tiếp có đại diện tại ILC. Đây là minh chứng rõ ràng cho sự ủng hộ và tín nhiệm của cộng đồng quốc tế đối với Việt Nam, khẳng định vị thế và uy tín ngày càng cao của đất nước trên trường quốc tế; phản ánh sự tín nhiệm và đánh giá cao của cộng đồng quốc tế đối với năng lực, phẩm chất của ứng viên Việt Nam nói riêng và uy tín, vị thế của Việt Nam nói chung trong lĩnh vực pháp lý, cũng như kỳ vọng Việt Nam sẽ đóng góp có chất lượng hơn nữa vào công cuộc pháp điển hóa và phát triển tiến bộ LPQT.

Với sự kiện PCA mở Văn phòng đại diện tại Hà Nội, văn phòng thứ tư của PCA ngoài trụ sở chính tại The Hague (Hà Lan), khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước về hội nhập toàn diện, sâu rộng, trong đó có hội nhập về pháp lý; phản ánh thông điệp nhất quán của Việt Nam về ủng hộ nguyên tắc giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế, đề cao LPQT; tạo điều kiện cho việc tiếp cận các dịch vụ pháp lý quốc tế của PCA trong khu vực và trên thế giới, thể hiện sự ghi nhận và tin tưởng của cộng đồng quốc tế đối với những đóng góp của Việt Nam trong lĩnh vực LPQT, minh chứng cho vị thế của Việt Nam trên bản đồ pháp lý quốc tế; mở ra cơ hội đào tạo, nâng cao năng lực, kỹ năng nghề nghiệp cho cán bộ pháp lý Việt Nam, tạo điều kiện tăng cường hiệu quả bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở tôn trọng LPQT.

Thời gian tới, để nâng cao tiếng nói của Việt Nam trong lĩnh vực luật pháp quốc tế thì

Thứ nhất, tiếp tục phối hợp các bộ, ban, ngành nghiên cứu, xây dựng chủ trương và quan điểm đối với các vấn đề pháp lý quan trọng, mới nảy sinh, liên quan sát sườn tới lợi ích của Việt Nam và các nước đang phát triển, như vấn đề chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, vấn đề tội phạm mạng.

Thứ hai, tăng cường, đẩy mạnh hơn nữa sự hiện diện tại các diễn đàn pháp lý quốc tế, tham gia sâu và đóng góp thực chất hơn vào việc nghiên cứu và xây dựng các dự thảo báo cáo, dự thảo Công ước là nền tảng cho luật quốc tế trong tương lai.

Thứ ba, tiếp tục đào tạo, phát triển đội ngũ cán bộ pháp lý quốc tế về chất và lượng với định hướng lâu dài; tạo điều kiện để cán bộ pháp lý của Việt Nam cọ xát, làm việc trực tiếp tại các cơ quan nghiên cứu, các cơ chế xét xử nhằm trau dồi, tích lũy kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm thực tiễn, tạo kết nối và xây dựng mạng lưới chuyên gia pháp lý quốc tế trong và ngoài nước.

Như vậy, từ chỗ chủ yếu tiếp thu, tham gia các tổ chức quốc tế, các điều ước quốc tế đã hình thành trước đây, vận dụng LPQT để đấu tranh bảo vệ lợi ích quốc gia chống lại các quan điểm sai trái, thù địch, Việt Nam chuyển sang từng bước tham gia đóng góp xây dựng luật chơi, tham gia pháp điển và phát triển LPQT nhằm bảo vệ tốt nhất lợi ích quốc gia đồng thời đóng góp thúc đẩy hòa bình, an ninh và hợp tác quốc tế vì phát triển bền vững.

 

 

 

HÃY TÔN TRỌNG LUẬT NGHĨA VỤ QUÂN SỰ !!


          Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015 quy định Công dân trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự (NVQS), không phân biệt dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi cư trú phải thực hiện NVQS. Những công dân đến tuổi tham gia NVQS cần thực hiện tinh thần trách nhiệm, nghĩa vụ của mình đối với Tổ quốc. NVQS là nghĩa vụ vẻ vang của công dân phục vụ trong Quân đội Nhân dân Việt Nam.

          Hiện nay trên mạng xã hội xuất hiện những bài viết “rác” có nội dung định hướng sai lệch về việc thực hiện NVQS. Điển hình như chiều ngày 10/02/2022 trên trang fanpage Him xuất hiện bài viết với nội dung “có ai như mình không, 27 tuổi phải đi bộ đội, đúng độ tuổi chín của sự nghiệp…”. Đây là hành vi tuyên truyền sai lệch, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhận thức của người dân nói chung và cộng đồng mạng xã hội nói riêng!

          Thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự là quyền và nghĩa vụ thiêng liêng, cao quý của công dân đã được ghi nhận tại Hiến pháp 2013.

          “Tổ chức, cá nhân có hành vi trốn tránh, chống đối, cản trở việc thực hiện NVQS thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.” (Điều 59 của Luật Nghĩa vụ quân sự quy định về xử lý vi phạm).

 

Mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn tự soi, tự sửa

Tuy vậy, do nhiều yếu tố tác động, cộng với sự thiếu tu dưỡng, rèn luyện nên một số cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ cao cấp thuộc diện Trung ương quản lý đã vi phạm phẩm chất đạo đức, lối sống... tới mức phải thi hành kỷ luật, thậm chí phải đưa ra truy tố trước pháp luật. Sai phạm đó không chỉ gây tổn thất về cán bộ cho Đảng mà còn làm giảm lòng tin của nhân dân vào uy tín lãnh đạo của Đảng. Đây là bài học đắt giá và hình ảnh xấu, để mỗi chúng ta cần phải tự soi, tự sửa, nhằm giữ vững phẩm chất, đạo đức cán bộ, đảng viên, khôi phục uy tín của Đảng. Kể từ khi ban hành Chính cương vắn tắt và Cương lĩnh đầu tiên của Đảng cho tới nay đều ghi rõ: Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiền phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Mục tiêu đấu tranh cách mạng của Đảng, mang lại độc lập và tự do cho đất nước, cuộc sống ấm no và hạnh phúc cho toàn dân. Đội ngũ của Đảng bao gồm những người ưu tú và tiến bộ nhất trong các tầng lớp nhân dân. Những người xin vào Đảng, đều phải tuân thủ Chính cương và Điều lệ Đảng, tự nguyện tuyên thệ trước Đảng: Tuyệt đối trung thành với mục đích, lý tưởng cách mạng của Đảng; chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, điều lệ, nghị quyết và chỉ thị của Đảng, pháp luật Nhà nước, hoàn thành tốt nhiệm vụ được phân công. Không ngừng học tập, rèn luyện nâng cao trình độ kiến thức, năng lực công tác, phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, có lối sống lành mạnh; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, cục bộ, quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác. Có chủ trương, phương hướng xây dựng cũng như rèn luyện đội ngũ cán bộ và đảng viên đúng đắn. Do duy trì tốt và thực hiện nghiêm những vấn đề trên nên Đảng ta đã giữ vững được vai trò lãnh đạo, phát huy được tính tiền phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ và đảng viên. Vì vậy Đảng được các tầng lớp nhân dân hết lòng tin tưởng và noi theo, anh dũng đứng lên đấu tranh giành độc lập, đánh thắng các đế quốc to, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; xây dựng cả nước vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH), đạt được nhiều thành tựu ngày càng to lớn hơn. Đây là những bài học vô cùng quý giá mà chúng ta cần phải trận trọng giữ gìn, kế thừa, phát triển và phát huy, nhằm xây dựng Đảng ta ngày càng trưởng thành, vững mạnh, đáp ứng lòng mong đợi của toàn dân. Ngày nay, do nhiều yếu tố tác động, cộng với sự thiếu tu dưỡng, rèn luyện của một bộ phận cán bộ, đảng viên, đã làm ảnh hưởng tới vị thế, uy tín và vai trò lãnh đạo của Đảng. Từ thực tiễn đó, Ban chấp hành Trung ương đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Qua học tập và rèn luyện của từng đảng viên và tổ chức đảng, bước đầu đã tạo được chuyển biến tích cực trong hệ thống chính trị, góp phần cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe, từng bước ngăn chặn và đẩy lùi tiêu cực, hiện tượng suy thoái tư tưởng chính trị, phẩm chất, đạo đức trong Đảng. Tuy vậy công tác xây dựng Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), một số nội dung vẫn chưa đạt được mục tiêu, yêu cầu đề ra. Trong tự phê bình và phê bình, tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm vẫn còn diễn ra khá phổ biến. Một số cán bộ, đảng viên vẫn chưa tự giác nhìn nhận, đánh giá đúng ưu, khuyết điểm và trách nhiệm của mình. Vẫn còn cấp ủy và tổ chức đảng chưa nhận ra, chưa quy rõ trách nhiệm của từng người, từng cấp, trước tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống. Hiện tượng chạy chức, chạy tội, tham nhũng, lợi ích nhóm... vẫn tồn tại trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Vì thế có thể nói tình trạng này vẫn chưa bị đẩy lùi, thậm chí có mặt, có bộ phận còn diễn biến phức tạp hơn. Thế nên trong thời điểm hiện nay và cả những năm tới, chúng ta càng phải đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) và phương hướng, nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII đã đề ra. Để thực hiện có hiệu quả yêu cầu trên, trước hết, các cấp phải coi trọng xây dựng Đảng về chính trị, để mỗi cán bộ, đảng viên luôn kiên định với Chủ nghĩa Mác-Lênnin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định với con đường cách mạng mà Đảng ta đã lựa chọn. Đây là nhân tố vô cùng quan trọng để cán bộ, đảng viên, nâng cao bản lĩnh chính trị và bản chất cách mạng, vai trò tiền phong, gương mẫu. Thứ hai, đẩy mạnh công tác giáo dục và học tập, tu dưỡng và rèn luyện theo tư tưởng, đạo đức và phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhân tố căn bản để giữ vững và nâng cao phẩm chất và đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội và thực dụng. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Thứ ba, kiện toàn hệ thống tổ chức, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Nhân tố vô cùng quan trọng để nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Thứ tư, coi trong công tác cán bộ, đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiển tra, giám sát và kỷ luật của Đảng. Yếu tố rất quan trọng để xây dựng Đảng ta trong sạch và vững mạnh. Thứ năm, cần đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Đây là nhiệm vụ rất quan trọng của cấp ủy, nhất là người đứng đầu, trong chủ động phòng ngừa. Kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm, đúng người, đúng tội, đúng luật pháp các đối tượng, hành vi tham nhũng, lãng phí, kể cả các hành vi bao che, dung túng, tiếp tay cho những việc làm sai trái, để giữ nghiêm kỷ luật của Đảng, pháp luật Nhà nước, góp phần răn đe, ngăn chặn, đẩy lùi các hành vi tiêu cực, suy thoái trong Đảng, xây dựng Đảng ta thật trong sạch và vững mạnh, xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn. Đó cũng là nhân tố vô cùng quan trọng để ta phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ. Phá tan âm mưu tuyên truyền, kích động, lôi kéo, hòng tạo cớ gây bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, giữ vững mối liên hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay

     Trong thời gian gần đây, các thế lực phản động chống đối trong và ngoài nước không ngừng gia tăng hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc, thông tin sai sự thật, suy diễn về mặt tư tưởng; bôi nhọ, xúc phạm, hạ uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước; kích động biểu tình, gây rối an ninh trật tự; sử dụng mạng xã hội để tác động tiêu cực đến tư tưởng, nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân gây tâm lý hoang mang, làm giảm sút lòng tin đối với Đảng, chế độ và các đồng chí Lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Các quan điểm sai trái, thù địch tập trung vào các nội dung sau:

Phủ định, phản bác Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên CNXH của nước ta. Các thế lực thù địch dùng mọi biện pháp, đánh vào nền tảng tư tưởng của Đảng hòng gây hoang mang, dao động về hệ tư tưởng, về lý tưởng XHCN; xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin; cho rằng chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời và chỉ phù hợp với các nước châu Âu, không thích hợp với các nước lạc hậu như Việt Nam.

Phá hoại tư tưởng, tấn công chia rẽ nội bộ, xuyên tạc, bịa đặt, thông tin lợi dụng các vấn đề nhạy cảm chính trị xã hội, vụ việc phức tạp thu hút sự quan tâm của quần chúng, các tổ chức phản động kích động biểu tình, gây bất ổn về an ninh, trật tự, tìm thời cơ tiến hành “cách mạng đường phố” tại Việt Nam... Thủ đoạn chủ yếu là giả mạo, cắt xén, ngụy tạo bằng chứng để vu cáo; sử dụng thông tin cũ với những luận điệu mới; lợi dụng những vấn đề chính trị, thời sự để tung tin thất thiệt, tạo dư luận xấu; từ các vụ việc tiêu cực, tham nhũng để quy chụp do đường lối của Đảng, Nhà nước và chế độ. Các đối tượng đặt tên trang mạng, blog và đặt các tiêu đề, tên bài với ngôn từ giật gân, kích thích tính tò mò của người đọc, người xem, đăng tải tin, bài viết, video clip có nội dung phản động, thật giả lẫn lộn; làm giảm niềm tin, tạo sự nghi ngờ về phẩm chất, uy tín, năng lực của Lãnh đạo Đảng và Nhà nước, nhất là vào thời điểm diễn ra các sự kiện chính trị của đất nước.

Để truyền tải các nội dung phản động nói trên, các đối tượng phản động, chống đối đã dùng nhiều cách thức, biện pháp khác nhau, song chủ yếu là chúng lợi dụng công nghệ 4.0; mạng xã hội để tuyên truyền, thông tin xấu, độc. Cụ thể là:

Tạo lập các website, blog, facebook, fanpage giả mạo của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có uy tín để đăng tải thông tin xuyên tạc, tình hình chính trị, kinh tế, xã hội, xuyên tạc về bản chất chế độ XHCN và kích động chống đối. Có thể kể đến các trang thông tin chống phá như: “Dân làm báo”, “Dân luận”... Các website, blog, facebook, fanpage mạo danh thường được thiết kế theo dạng trang thông tin chuyển tải tin tức, có nhiều chuyên mục với bố cục rõ ràng, cung cấp thông tin cập nhật, đa dạng. Thời gian đầu, các trang mạng này muốn lôi kéo và tạo được sự tin cậy của người đọc nên chủ động đăng tải, chia sẻ những thông tin kịp thời, chính xác như các cơ quan báo chí, trang thông tin điện tử chính thống của các cơ quan, tổ chức đã được cấp phép tên miền trên internet. Nhưng càng về sau, chủ nhân của các trang mạng mạo danh này có thể cài bẫy một vài thông tin theo kiểu “đánh lận con đen” nhằm làm rối nhiễu thông tin, phân tâm dư luận xã hội. Đó là một “đòn đánh” vào tâm lý người đọc rất tinh vi, thâm độc để lèo lái vào mục đích tuyên truyền lệch lạc, nguy hại.

Tạo lập các trang giả mạo cơ quan, tổ chức, cá nhân có uy tín để đăng tải thông tin xuyên tạc, hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Trong đó, tập trung khai thác tính lan tỏa, tương tác, chia sẻ, ẩn danh trên không gian mạng của website, trang thông tin điện tử, mạng xã hội để tán phát thông tin giả mạo, xấu độc, gắn với việc đưa thông tin bí mật đời tư, bí mật cá nhân của các đồng chí lãnh đạo cấp cao, sau đó đưa ra nhận xét, phân tích, bình luận nhạy cảm để tác động đến niềm tin của người đọc, từng bước phủ nhận, gây hoài nghi về lịch sử, truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam, tinh thần độc lập, tự chủ.

Khai thác lỗ hổng bảo mật của các website, cổng thông tin điện tử để sửa chữa, chèn thêm đường dẫn (link) đăng tải nội dung, thông tin giả mạo, xấu độc, văn hóa đồi trụy, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, vi phạm thuần phong mỹ tục, văn hóa truyền thống của dân tộc; chèn, chỉnh sửa nội dung bài viết, hình ảnh trên các website, cổng thông tin điện tử làm sai lệch bản chất thông tin, làm người đọc mơ hồ mất cảnh giác, từ đó thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tác động đến tư tưởng, đạo đức và lối sống, tâm tư, tình cảm của các giai tầng xã hội; tạo lập các blog, website, mạng xã hội kết hợp với các loại hình thông tin khác báo viết, báo hình, báo nói... để thu hút lượng người truy cập, qua đó truyền bá các quan điểm, tư tưởng phản động.

Kích động chống đối thông qua các hội, nhóm, tài khoản trên mạng xã hội, kích động những vấn đề liên quan đến các sơ hở, sai phạm và bức xúc xã hội. Chúng lợi dụng, khoét sâu những thiếu sót trong công tác lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, cũng như những suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên để gây dao động về tư tưởng, gây mất lòng tin, thiếu đồng thuận trong nhân dân, kích động, chia rẽ nội bộ để chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ ta.

Lấy ý kiến qua mạng xã hội nhằm tạo áp lực dư luận, gây áp lực đối với chính quyền. Dưới sự giật dây của các thế lực thù địch, một số phần tử cơ hội trong nước và cả ở nước ngoài đã soạn ra các văn bản dưới dạng “tâm thư”, “thư ngỏ”, “thư góp ý” (cả chính danh, nặc danh và mạo danh); thậm chí họ còn soạn hẳn một dự thảo văn kiện mới, hoàn toàn khác với dự thảo văn kiện chính thống được công bố... để thể hiện những ý kiến trái ngược với quan điểm của Đảng, Nhà nước rồi gửi đến các đồng chí lãnh đạo. Với kiểu lập luận của họ, thông qua các câu từ có tính thuyết phục cao... thoáng qua người ta dễ lầm tưởng đó là những “ý kiến tâm huyết”, “những đóng góp chân thành”... Các đối tượng dựng chuyện, tung ra nhiều thông tin thất thiệt, tuyên truyền xuyên tạc, gây nhiễu loạn thông tin, kích động, gây áp lực, gieo rắc tâm lý hoài nghi, gây bất ổn trong dư luận.

Để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân vào Đảng, Nhà nước trong thời gian tới cần thực hiện một số giải pháp sau:

Tiếp tục quán triệt và thực hiện có hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về bảo vệ tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục để mỗi cán bộ, đảng viên tự giác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động chống phá của đối tượng để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Công tác nắm tình hình cần tập trung vào những vấn đề cụ thể như: Phát hiện các trang web, blog, “diễn đàn” thường xuyên đăng tải những nội dung xấu, thù địch; phát hiện âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động tuyên truyền chống phá của chúng trên không gian mạng, kịp thời nhận diện những phương thức, thủ đoạn mới; phát hiện cá nhân, tổ chức sở hữu, quản lý, điều hành các trang mạng xã hội thường xuyên đăng tải các bài viết, hình ảnh, video tuyên truyền chống phá cách mạng Việt Nam để có biện pháp xử lý, ngăn chặn kịp thời.

Các cấp ủy, tổ chức đảng chủ động kịp thời nắm bắt diễn biến tư tưởng, tâm tư nguyện vọng của đảng viên để có biện pháp giải quyết kịp thời, uốn nắn những lệch lạc, sai trái, thiếu gương mẫu của đảng viên.

Tiếp tục đẩy mạnh công tác đấu tranh PCTN; thực hiện công khai, minh bạch; chú ý vai trò “nêu gương” của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, chủ chốt các cấp; vai trò nêu gương của của người đứng đầu trong công tác PCTN, có lập trường tư tưởng vững vàng, quan điểm đúng đắn, chính kiến rõ ràng trước những vấn đề mới, khó, phức tạp, nhạy cảm. Chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch; mẫu mực về đạo đức, lối sống; thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư;  trung thực, giản dị, thẳng thắn, chân thành.

Phát huy vai trò của các cơ quan báo chí trong đấu tranh vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, phản động, góp phần định hướng dư luận xã hội. Tổ chức chiến dịch truyền thông quy mô lớn, cung cấp thông tin chính thống, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, răn đe đối tượng vi phạm pháp luật, nâng cao cảnh giác, tăng sức “đề kháng” cho người dân khi tiếp cận thông tin; vô hiệu hóa các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, phá hoại tư tưởng của các đối tượng, tổ chức phản động trong và ngoài nước, giúp chúng ta giành được thế chủ động trên lĩnh vực thông tin, tuyên truyền./.

TMT 10.02

TRỐN TRÁNH NGHĨA VỤ QUÂN SỰ LÀ VI PHẠM PHÁP LUẬT


          Cứ đến thời điểm các địa phương thực hiện công tác gọi công dân nhập ngũ thì trên mạng xã hội lại xuất hiện các bài viết trăn trở về những khó khăn khi thực hiện nghĩa vụ quân sự (NVQS). Cá biệt, có ý kiến cho rằng không nên nhập ngũ vì sợ khổ, ngại khổ thậm chí còn có sự xuyên tạc, bôi nhọ về môi trường quân đội... nhằm làm lung lạc ý thức thực hiện NVQS của thanh niên.

          Tuy nhiên, công dân cần phải hiểu rõ, trốn tránh NVQS là vi phạm pháp luật. Điều đó đã được quy định rất rõ ràng trong luật pháp Việt Nam.

          Theo Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015: “Trốn tránh thực hiện NVQS là không chấp hành lệnh gọi đăng ký NVQS; lệnh gọi khám sức khỏe NVQS; lệnh gọi nhập ngũ; lệnh gọi tập trung huấn luyện, diễn tập, kiểm tra sẵn sàng động viên, sẵn sàng chiến đấu”.

          Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015 liệt kê 04 hành vi được xem là trốn tránh thực hiện NVQS, đó là hành vi không chấp hành:

          1) Lệnh gọi đăng ký NVQS,

          2) Lệnh gọi khám sức khỏe NVQS,

          3) Lệnh gọi nhập ngũ,

          4) Lệnh gọi tập trung huấn luyện, diễn tập, kiểm tra sẵn sàng động viên, sẵn sàng chiến đấu.

          Tại khoản 1, Điều 332, Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Người nào không chấp hành đúng quy định của pháp luật về đăng ký NVQS, không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, lệnh gọi tập trung huấn luyện, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm”.

          Trong cấu thành cơ bản của điều luật mô tả 03 hành vi, đó là:

          1) Không chấp hành đúng quy định của pháp luật về đăng ký NVQS;

          2) Không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ;

          3) Không chấp hành lệnh gọi tập trung huấn luyện.

          Bên cạnh đó, việc xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi không chấp hành đúng quy định của pháp luật về đăng ký NVQS, không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, lệnh gọi tập trung huấn luyện được điều chỉnh bởi Nghị định 120/2013/NĐ-CP ngày 09/10/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng, cơ yếu.

          Thực hiện NVQS là trách nhiệm thiêng liêng và quyền cao qúy của mọi công dân Việt Nam nói chung, thanh niên Việt Nam nói riêng nhằm góp phần xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống.

          Công dân Việt Nam cần ý thức rõ ràng trách nhiệm này, không nên có sự so đo, tính toán dẫn tới trốn tránh thực hiện NVQS bởi đó là vi phạm pháp luật.