Thứ Sáu, 11 tháng 2, 2022

Hãy trả lại nét đẹp cho chúc Tết!

Để ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực trong chúc Tết là việc rất khó, nhưng không có nghĩa là không thể.

Trên thực tế, chúng ta vẫn nhìn thấy những nét đẹp vốn có của văn hóa chúc Tết. Bằng chứng là vào mỗi dịp cuối năm, nhiều cơ quan, lãnh đạo, đoàn thể vẫn đến thăm và tặng quà cán bộ đã nghỉ hưu. Cũng là những giỏ quà, những lời thăm hỏi, chúc sức khỏe để thể hiện lòng biết ơn thế hệ đi trước đã có cống hiến cho cơ quan, tổ chức, và tuyệt nhiên không mang màu sắc tiêu cực.

Bên cạnh đó, vẫn còn những vị lãnh đạo, cấp trên kiên quyết từ chối nhận quà Tết, đặc biệt là những món quà giá trị cao. Họ coi đó là hành động hối lộ, đút lót, và thậm chí nhân viên nào đến tặng quà còn bị họ đánh giá thấp. Những người này cho rằng cái họ cần ở cấp dưới là năng lực, trách nhiệm trong công việc chứ không phải những chai rượu ngoại đắt tiền hay những chiếc phong bì đầy sức nặng. Đó thực sự là quan điểm rất đáng trân trọng, thể hiện bản lĩnh và sự gương mẫu của người lãnh đạo.

Chỉ có điều, chẳng phải lãnh đạo, cấp trên nào cũng biết từ chối và kiên quyết từ chối như thế!

Nghiêm cấm, xóa bỏ việc lợi dụng chúc Tết, tặng quà Tết để thực hiện những hành vi trái pháp luật, trái đạo đức và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc là việc cần làm. Cũng vì thế, ngày 1-7-2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 59/2019/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng, trong đó quy định rõ: "Cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có chức vụ, quyền hạn không được trực tiếp hoặc gián tiếp nhận quà tặng dưới mọi hình thức của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan đến công việc do mình giải quyết hoặc thuộc phạm vi quản lý của mình...".

Những năm gần đây, cứ gần tới Tết Nguyên đán, lãnh đạo Đảng, Nhà nước cũng thường quán triệt về việc nghiêm cấm biếu, tặng quà Tết lãnh đạo các cấp dưới mọi hình thức. Gần đây nhất, Thanh tra Chính phủ đã có văn bản gửi các bộ, ngành, các tỉnh, thành phố, các tập đoàn kinh tế nhà nước, doanh nghiệp nhà nước về việc thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 11-CT/TW ngày 8-12-2021 của Ban Bí thư và Chỉ thị số 35/CT-TTg ngày 31-12-2021 của Thủ tướng Chính phủ trong dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022, trong đó nêu rõ không tổ chức thăm, chúc Tết cấp trên và lãnh đạo các cấp. Có thể nói, đây được xem là một trong những giải pháp thiết thực nhằm ngăn chặn nguy cơ dẫn tới nham nhũng, tiêu cực thông qua hoạt động chúc Tết, và sâu xa hơn là góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đồng thời phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Thiết nghĩ, mỗi cơ quan, tổ chức, đơn vị cũng nên đề ra quy định về cách thức chúc Tết và nhận quà Tết phù hợp, lành mạnh, qua đó giải tỏa “áp lực Tết” cho cán bộ, công nhân viên và góp phần tạo không khí vui vẻ, thoải mái, môi trường làm việc chuyên nghiệp cho cơ quan mình.

Nhưng, quan trọng hơn cả vẫn là nhận thức của mỗi người về văn hóa chúc Tết, bởi rất khó kiểm soát, phát hiện những tiêu cực liên quan tới hành động này, nhất là khi việc chúc Tết, tặng quà đang ngày càng đi theo hướng “mỏng, nhẹ nhưng to tiền” và cũng “tế nhị” hơn trước nhiều.

Trong dòng người hối hả mua sắm chuẩn bị cho Tết Nguyên đán đang đến gần, vẫn còn không ít người băn khoăn tự hỏi: Khi nào thì chúc Tết mới hết là gánh nặng, mới trở lại là văn hóa ứng xử tốt đẹp như đúng bản chất của nó? 

Nỗi ám ảnh ngày cuối năm

Mỗi khi Tết Nguyên đán cận kề, thị trường hàng Tết tại các cửa hàng, siêu thị và trên mạng lại nhộn nhịp, trăm giá đua chen. Những món hàng trị giá hàng triệu, thậm chí là chục triệu, trăm triệu đồng được nhiều người săn lùng và trở nên đắt khách hơn thường lệ. Không ai nói ra, nhưng tất cả đều ngầm hiểu rằng, người ta mua cho gia đình, bản thân thì ít, mà để biếu xén đối tác, cấp trên thì nhiều. Cũng vì thế mà trên các diễn đàn mạng xã hội chuyên về hàng Tết, người bán giờ đây chẳng ngần ngại tư vấn cho khách hàng một cách công khai, nào là món này độc, lạ, quý hiếm, phù hợp tặng sếp lớn; món kia sang trọng, đẳng cấp chuẩn “gu” của sếp nhỏ...

Ngoài đường là vậy, còn về nhà, các cặp vợ chồng nát óc bàn nhau xem biếu lãnh đạo quà gì sao cho độc đáo, “hoành tráng”. Ở công sở thì đồng nghiệp tìm cách thăm dò nhau xem người ta định biếu sếp thứ giá trị mức nào, phong bì dày cỡ nào để mình biết cách xử thế sao cho không bị “đụng hàng” và quan trọng hơn là không thua anh, kém em. Chọn quà Tết tưởng đơn giản vậy mà lại đau đầu vô cùng!

Thực tế, chúc Tết, tặng quà Tết vốn là phép ứng xử rất bình thường từ ngàn xưa của người Việt. Tết xưa, người ta tặng nhau những món quà nhỏ nhưng đầy ý nghĩa, chẳng hạn như cặp bánh chưng, con gà quê, hộp bánh, gói mứt, cành đào... nhằm thể hiện tình cảm chân thành, sự quý trọng và tri ân sự giúp đỡ của cấp trên, đối tác hay bạn hàng sau một năm công tác, hợp tác buôn bán. Cùng với đó là mong muốn gia chủ có một cái Tết vui vẻ, đầm ấm. Quan trọng hơn, khi trao cho nhau những món quà như thế, cả người nhận và người tặng đều cảm thấy thoải mái, gần gũi.

Thế nhưng, dường như cuộc sống hiện đại đã và đang khiến mỹ tục chúc Tết bị biến tướng. Một bộ phận đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức nghiễm nhiên coi chúc Tết là “cơ chế xin-cho”. Nói trần trụi ra là nhiều cuộc thăm viếng, tặng quà vào dịp Tết chỉ nhằm mục đích hối lộ, chạy chức, chạy quyền, lo lót, nhờ vả hoặc nịnh hót cấp trên; và cả người đến chúc Tết lẫn người nhận đều ngầm hiểu rằng, đó thực chất chỉ là một cuộc mua bán, trao đổi. Dần dà, việc chúc Tết, tặng quà cấp trên cũng trở thành “luật bất thành văn” ở một số cơ quan, tổ chức. Nếu Tết đến mà không biết “thăm hỏi” sếp có khi bị xem là không biết phép tắc, ngoại giao kém. Và, chả biết đã có tiền lệ hay chưa nhưng người ta thường sợ rằng nếu đứng ngoài dòng chảy này có thể bị “đì” hoặc mất cơ hội phát triển trong công việc.

Vô hình trung, Tết ngày nay không còn đúng nghĩa mà đang trở thành gánh nặng, là nỗi ám ảnh với nhiều cán bộ, đảng viên bởi thay vì được nghỉ ngơi, thư giãn, sum họp cùng gia đình sau một năm dài làm việc thì họ phải đắn đo, cân đối xem chúc Tết thủ trưởng nào và “đi” bao nhiêu. Chẳng thế mà một người bạn đang công tác trong cơ quan nhà nước từng nói vui với tôi rằng, hễ cứ Tết đến là anh ta chỉ ước mình được trở thành trẻ con, đơn giản vì trẻ con thì Tết không phải lo biếu sếp này, tặng sếp kia.


Hiểm họa từ phò tá, tham mưu "rởm"

Một trong những nguyên nhân gây ra “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ tổ chức đảng và trong nhân dân là do không ít quyết sách, chỉ thị, quy định, lời phát ngôn... của cán bộ hoặc cơ quan có thẩm quyền không phù hợp với thực tiễn, không “xứng tầm”, thậm chí là vô lý, gây cười.

Nguy hiểm hơn, khá nhiều người giữ cương vị lãnh đạo bị xử lý kỷ luật, thành tội phạm vì ký những văn bản có nội dung trái pháp luật. Dư luận thường chỉ phê phán, “ném đá” những cán bộ lãnh đạo này. Nhưng thực tế cũng có những sai sót, vi phạm do cán bộ, nhân viên làm công tác tham mưu, giúp việc trực tiếp gây ra mà người lãnh đạo không thể kiểm soát hết và phải chịu trách nhiệm.

1. Những năm qua, đặc biệt trong thời gian cao điểm, cấp bách phòng, chống dịch Covid-19, dư luận rất bức xúc trước việc một số địa phương, bộ, ngành thi thoảng lại ban hành các quy định “trên trời” vì không khoa học, kém hiệu quả, thiếu tính khả thi, thậm chí trái với văn bản của cấp trên...

Tình trạng các văn bản “đá nhau”, “sáng ban hành, chiều bãi bỏ” không chỉ làm mất uy tín của người ký ban hành và cơ quan ban hành, mà còn ảnh hưởng không nhỏ tới uy tín của Đảng, Nhà nước; trở thành cái cớ, cơ hội để các thế lực thù địch lợi dụng thổi phồng, kích động nhằm thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, chống phá cách mạng nước ta.

Bên cạnh đó là một số cán bộ lãnh đạo có lời phát biểu hoặc bài viết đăng trên sách, báo, tạp chí chưa thực sự “xứng tầm”, thậm chí có chỗ copy nguyên xi của người khác, nói hớ, viết sơ hở. Một vài cán bộ đã giải thích “lỗi từ nhân viên đánh máy”, nhưng càng khiến dư luận bức xúc vì cho rằng, cán bộ đổ lỗi cho nhân viên để trốn tránh trách nhiệm.

Tuy nhiên, thực tế đúng là có tình trạng cán bộ, nhân viên làm công tác tham mưu, giúp thủ trưởng soạn văn bản, chuẩn bị dự thảo văn bản, bài viết, bài phát biểu thiếu chặt chẽ, không đủ tầm để chuẩn bị tốt nội dung; thủ trưởng thì không đủ thời gian hoặc không thể hiểu sâu về tất cả lĩnh vực nghiệp vụ để phát hiện, chỉnh sửa hết những chỗ sai sót.

Đó là chưa kể còn có hiện tượng một số trợ lý được thủ trưởng giao góp ý dự thảo bài viết, bài phát biểu do cơ quan chuyên môn chuẩn bị nhưng lại không đọc kỹ, không hiểu sâu mà lại "thích chỉnh sửa để thể hiện mình giỏi", dẫn đến sửa không phù hợp, đúng thành sai, làm hỏng cả bài viết mà thủ trưởng cũng không thể kiểm soát hết được. Ngôn từ phát ra thì người ta chỉ khen-chê người đăng đàn phát biểu, người đứng tên tác giả, đâu cần biết ai là người giúp chuẩn bị, chỉnh sửa nội dung! 

2. Bên cạnh một số cán bộ, nhân viên làm công tác tham mưu, giúp việc do hạn chế về trình độ, năng lực dẫn đến sai sót khi soạn thảo văn bản, chuẩn bị bài viết, bài phát biểu cho thủ trưởng, thì còn có hiện tượng tham mưu nhưng “mưu ít, tham nhiều”, rỉ rả ngày này qua ngày khác hướng lái thủ trưởng nhận thức thiếu chuẩn mực về một số vấn đề xã hội hoặc ngay chính công việc, con người mình phụ trách.

Người phò tá, tham mưu phẩm chất không trong sáng, vụ lợi thường dễ bị mua chuộc, lôi kéo, cố tình gài lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm vào các văn bản liên quan đến chế độ, chính sách, quyết định các vấn đề về tài chính, ngân sách như mua bán tài sản công, đấu thầu...

Đây là vấn đề nhức nhối, rất đáng báo động. Bởi thực tế không nhiều thủ trưởng, người chủ tài khoản nắm chắc, hiểu sâu về quản lý kinh tế, ngân sách, nhất là các nguyên tắc, thủ tục, danh mục thu-chi tài chính (do không được đào tạo chuyên sâu). Ngay cả những thủ trưởng nắm chắc nội dung này thì cũng không đủ thời gian để nghiên cứu kỹ hàng chục, hàng trăm văn bản dày cộp mỗi ngày bởi còn phải làm rất nhiều việc khác. Nên có tình trạng cán bộ, cơ quan tham mưu, trợ lý trình gì thì thủ trưởng chỉ xem lướt rồi tin tưởng ký vào, trừ những văn bản quan trọng. 

Lại cũng có không ít trợ lý, người giúp việc mượn danh, núp bóng thủ trưởng để gạ gẫm cơ sở và cán bộ, nhân viên cấp dưới. Thường những người này trước thủ trưởng thì "đi nhẹ, nói khẽ, cười duyên", tỏ ra ngoan ngoãn, lễ phép, nhưng sau lưng thủ trưởng thì ngược lại. Dù thủ trưởng không chỉ đạo gì nhưng có trợ lý, người giúp việc lại cố tình “gây khó để có phong bì”, mượn uy thủ trưởng để vụ lợi, sách nhiễu. Kiểu “cáo mượn oai hùm” này vô cùng nguy hại vì nó làm cho cấp cơ sở và quần chúng nhân dân mất niềm tin vào cán bộ lãnh đạo, sâu xa hơn là mất niềm tin vào Đảng, Nhà nước vì nhiều người tưởng các thủ trưởng chỉ đạo làm như vậy!

3. Theo từ điển tiếng Việt, tham mưu nghĩa là hiến kế, kiến nghị, đề xuất, đưa ra các ý tưởng độc đáo, sáng tạo, có cơ sở khoa học, các sáng kiến, các phương án tối ưu, những chiến lược, sách lược và các giải pháp hữu hiệu cho thủ trưởng trong việc đặt ra và tổ chức thực hiện kế hoạch công tác của cơ quan, đơn vị nhằm đạt kết quả cao nhất; còn trợ lý là người giúp việc trực tiếp cho một người ở chức vụ cao hoặc trong một lĩnh vực chuyên môn nào đó.

Như vậy, vai trò của cán bộ, nhân viên làm công tác tham mưu, trợ lý giúp việc là vô cùng quan trọng, không thể thiếu trong hoạt động lãnh đạo, quản lý và điều hành công việc của tất cả các tổ chức. Những người làm nhiệm vụ này rất gần gũi với thủ trưởng và được thủ trưởng tin cậy, giao cho các công việc quan trọng, liên quan tới cả tổ chức, nhiều người.

Cổ nhân đã đúc rút “Thần thiêng nhờ bộ hạ”, nghĩa là đội ngũ làm công tác tham mưu, giúp việc vừa giỏi vừa tâm đức là nhân tố rất quan trọng, quyết định đến thành công của người lãnh đạo. Bất kể thủ trưởng nào, dù tài giỏi đến mấy cũng không thể hiểu sâu kỹ được tất cả lĩnh vực, không thể tự làm hết được mọi công việc.

Do đó, mỗi cơ quan, đơn vị muốn thành công, ngoài tâm và tầm của người lãnh đạo thì phải có đội ngũ làm công tác tham mưu, giúp việc đủ phẩm chất, năng lực đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ, giúp người lãnh đạo đưa ra những chủ trương, quyết định đúng đắn, hạn chế tối đa sai sót, khuyết điểm. Chính vì vậy, việc lựa chọn, bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, nhân viên làm công tác tham mưu, giúp việc là đặc biệt quan trọng.

Song, đáng tiếc là vẫn có những thủ trưởng và cơ quan, đơn vị chưa thực sự coi trọng việc này, vẫn còn tình trạng ưu tiên người thân quen, chọn người cùng phe nhóm, “cánh hẩu”, biết chiều ý thủ trưởng theo kiểu tuyệt đối phục tùng, sẵn sàng cung phụng, phục vụ mọi nhu cầu cá nhân mà không cần biết đúng-sai. Chính vì thế mới dẫn đến những hậu quả vô cùng tai hại. "Thần suy cũng vì bộ hạ" và sử sách đã "bêu gương" không ít bậc vua chúa vì chọn dùng gian thần mà thân bại, danh liệt.

Cần nhận thức đúng đắn rằng, cán bộ, nhân viên làm công tác tham mưu, giúp việc cũng là phục vụ thủ trưởng, nhưng là dùng tri thức, chất xám và toàn tâm toàn ý phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành của thủ trưởng, hoàn toàn khác với việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt thường ngày; do đó, phải chú trọng lựa chọn những người có đủ tâm và tầm, nhất là người dám nói, dám phản biện như Đảng ta đang khuyến khích. Nhất là, trong thời đại công nghệ số, thế giới “phẳng” như hiện nay, chỉ cần một sai lầm, sơ hở nhỏ của tổ chức, của người lãnh đạo cũng sẽ lan nhanh khắp nơi, làm ảnh hưởng lớn tới uy tín của tổ chức, cá nhân mắc sai lầm, khuyết điểm.

Thiết nghĩ, việc tuyển chọn và sử dụng người phò tá, tham mưu rất cần ghi nhớ bài học của người xưa "Quân tử chi giao đạm nhược thủy. Tiểu nhân chi giao cam như di", với ý nghĩa là: Người quân tử đối đãi với nhau như nước trắng, không mặn, không ngọt; rất thật lòng, không vì yêu mà nói thành tốt, không vì ghét mà nói thành xấu, không nói những lời bạn thích nghe mà phải nói những lời bạn cần nghe. Kẻ tiểu nhân đối xử lúc nào cũng ngọt ngào như rượu nồng. Nước tuy nhạt nhưng cần thiết để sống bền vững; còn rượu ngọt uống sẽ say, dễ lầm đường lạc lối, dẫn tới tuyệt giao, tai họa…

Ngăn chặn những biến tướng của chúc Tết

Chúc Tết, tặng quà vốn là nét văn hóa ứng xử tốt đẹp của dân tộc ta, cần được gìn giữ để gắn bó tình cảm người với người. Song, những năm gần đây, việc chúc Tết đã bị méo mó, nhuốm màu thực dụng, cả trong môi trường công sở. Nhiều người cho rằng, chúc Tết giờ đây là công cụ để một số người trục lợi hoặc hợp thức hóa các hành vi tiêu cực nhằm phục vụ cho mục đích cá nhân.

Tỉnh táo trước thông tin xuyên tạc, kiên quyết lên án, phản bác mọi luận điệu bóp méo, xuyên tạc sự thật

Vụ việc ông Trần Ngọc Thanh bị sát hại là rất nghiêm trọng, hết sức thương tâm và gây phẫn nộ trong xã hội. Ngay sau khi vụ việc xảy ra, các lực lượng chức năng của tỉnh Kon Tum đã khẩn trương điều tra, làm rõ vụ việc để xử lý nghiêm minh các đối tượng liên quan theo quy định của pháp luật, không bỏ lọt tội phạm.

Tuy nhiên, ngay sau khi vụ việc xảy ra, nhiều đài phản động như đài RFA, Việt Tân, BBC,… và các đối tượng chống đối lại vu cáo có "bàn tay của chính quyền" sau vụ việc này.

Trang Việt Tân trích nguồn tin từ "một người thân cận với Cha kể lại "hung thủ là một người bình thường, không bị điên, càng không ngáo đá, nói nó ngáo đá đó là tin tức bịa đặt, sai sự thật. Từ lúc hắn ta chia tay vợ, thì thường lui tới chơi với những công an viên xã". Tài khoản facebook LS Lê Công Định thì lập lờ "có bàn tay lông lá" phía sau vụ việc. Rồi các dàn phụ họa bắt đầu đơm đặt, gắn vụ án với tình trạng "vi phạm tự do tôn giáo" ở các tỉnh Tây Nguyên. Hay như tên Nguyễn Đình Thắng (SN 1958, tại Thành phố Hồ Chí Minh, quốc tịch Mỹ), người điều hành BPSOS lên đài RFA liên hệ vụ án với tình trạng "dư luận viên nhắm vào các vị lãnh đạo tôn giáo không phục tùng chính quyền có thể dẫn đến bạo lực".

Khi sự việc xảy ra, Giám mục Aloisiô Nguyễn Hùng Vị, Giám mục Giáo phận Kon Tum đã đến viếng linh mục xấu số và thăm gia đình kẻ thủ ác để tìm hiểu nguyên nhân ban đầu, đưa ra thông tin khách quan trong Thư chung gửi giáo dân ngày 4/2/2022. Trong thư, Giám mục Aloisiô Nguyễn Hùng Vị khẳng định: “Anh Nguyễn Văn Kiên thuộc gia đình Công giáo. Cha mẹ anh hiền lành, ngoan đạo. Anh có hai em trai và một em gái. Em gái học nội trú nhà các soeurs. Tuy nhiên, bản thân anh Kiên thì  lơ mơ, không sống đạo”. “Qua những thông tin có được từ cha mẹ anh Kiên, anh Kiên không phải là người điên, khùng theo cách hiểu thông thường. Anh vẫn biết làm ruộng, làm rẫy, sửa xe… Tuy nhiên, thỉnh thoảng, anh có thể nổi điên quậy phá, chửi bới, đập tivi, đánh đập ngay cả người nhà, thậm chí phá bàn thờ gia đình. Anh còn hoang tưởng bị người ta ức hiếp, ngăn cản không cho lấy vợ. Anh quát mắng mẹ anh khi bà phủ nhận lời anh nói như thế".

Cần khẳng định một cách khách quan rằng, ngay tại Điều 19 Hiến pháp 2013 quy định “Mọi người có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật”. Do đó, không chỉ có vụ việc này mà tất cả các vụ việc tương tự xảy ra đều được các cơ quan chức năng của Việt Nam tiến hành điều tra, làm rõ và xử lý nghiêm minh các đối tượng theo quy định của pháp luật, không bỏ lọt tội phạm. Nhà nước Việt Nam không dung túng, bao che, tiếp tay cho bất kỳ loại tội phạm nào.

Đối với bất kỳ sự việc vụ việc nào, nếu điều tra có sai phạm thì sẽ phải xử lý nghiêm, và nếu không cũng xác minh được nguyên nhân từ đâu trong vụ việc cũng sẽ cần được rõ ràng. Trong trường hợp này khi chưa có kết luận điều tra thì không thể nói suy diễn hay quy kết vô căn cứ hay theo cảm tính được. Không ai có quyền thay cơ quan điều tra phán xét bất cứ một sự việc nào, bởi điều đó vô tình khiến bản chất sự việc bị đẩy đi xa và càng xát muối vào nỗi đau gia đình người đã mất chứ không giải quyết được bất cứ việc gì. Sự việc sẽ được điều tra rõ ràng để đi đến tận cùng làm rõ bản chất sự việc để ông Trần Ngọc Thanh được thanh thản ra đi, để cộng đồng Công giáo bớt đau thương, để người quan tâm chính đáng được tường minh.

Nhà nước Việt Nam luôn trân trọng các cơ quan, tổ chức có thiện chí đưa những thông tin đúng, có cơ sở, trên tinh thần xây dựng về quyền con người ở Việt Nam nói chung và quyền sống, quyền được tôn trọng về nhân phẩm và bất khả xâm phạm về thân thể. Nhưng ngược lại, Việt Nam kiên quyết lên án, phản bác mọi luận điệu bóp méo, xuyên tạc sự thật, lợi dụng dân chủ, nhân quyền để chống phá Việt Nam. Bởi những luận điệu, chiêu trò bóp méo, xuyên tạc ấy không hề góp phần thúc đẩy nhân quyền mà thực chất chỉ là hành động xúc phạm, phá hoại các giá trị nhân quyền mà thôi.


Nhanh chóng ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh tạm giam đối tượng sát hại ông Trần Ngọc Thanh

Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 29/01/2022, tại điểm sinh hoạt tôn giáo ở nhà bà Y Mới, thôn Giang Lố 2, xã Sa Loong, linh mục Trần Ngọc Thanh, người mới được bổ nhiệm đặc trách Giáo họ Sa Loong, thuộc Giáo xứ Đắk Mốt, Giáo phận Kon Tum đang làm lễ cho khoảng 20 giáo dân thì đối tượng Nguyễn Văn Kiên (33 tuổi, hộ khẩu thường trú tại thôn Giang Lố 2, xã Sa Loong) sử dụng một con dao dài khoảng 40cm ra tay sát hại Linh mục Trần Ngọc Thanh.

Sau khi chém Linh mục, đối tượng Nguyễn Văn Kiên còn dùng dao tiếp tục chém người đàn ông ngồi gần cây đàn Piano dưới bàn thờ Chúa nhưng may mắn người này nhanh tay lấy ghế gỗ đỡ đường dao rồi chạy thoát ra bên ngoài.

Sau khi khống chế, tước được dao trên tay đối tượng Nguyễn Văn Kiên, những người có mặt nhanh chóng đưa linh mục Trần Ngọc Thanh đi cấp cứu, song do vết thương quá nặng, linh mục đã mất tại Bệnh viện đa khoa tỉnh lúc 23 giờ 30 phút ngày 29/01/2022.

Ngay sau khi nhận được tin báo, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Kon Tum phối hợp với Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh, Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an huyện Ngọc Hồi cùng đại diện chính quyền địa phương và các linh mục phụ trách giáo xứ tổ chức khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, lấy lời khai các nhân chứng để điều tra làm rõ động cơ, mục đích giết người, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

Có thể nhận thấy rằng, mặc dù vụ việc xảy ra trong những ngày giáp Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022, nhưng với sự nỗ lực, khẩn trương, trách nhiệm, sau thời gian chưa đầy 3 ngày xảy ra vụ án, đến 31/1/2022 (tức 29 Tết Nguyên đán Nhâm Dần), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh tạm giam đối tượng Nguyễn Văn Kiên về tội “Giết người”.

Tỉnh táo trước thông tin xuyên tạc sự việc ông Trần Ngọc Thanh bị sát hại

Trong những ngày vừa qua, vụ sát hại xảy ra tại xã Sa Loong (huyện Ngọc Hồi) dẫn đến cái chết của ông Trần Ngọc Thanh (sinh năm 1981, hộ khẩu thường trú tại phường 13, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh) là tu sỹ Dòng Đa Minh, Linh mục giáo xứ Nhà thờ Đăk Mốt, xã Sa Loong đã làm nhân dân và dư luận xã hội ở địa phương chưa hết bàng hoàng. Với sự nỗ lực, khẩn trương, trách nhiệm, ngày 31/1/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh tạm giam đối tượng Nguyễn Văn Kiên (sinh năm 1989, hộ khẩu thường trú tại thôn Giang Lố 2, xã Sa Loong) về tội “Giết người” để điều tra làm rõ động cơ, mục đích giết người và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

Thế nhưng, có những kẻ âm mưu lợi dụng sự việc đau xót này để phát tán những luận điệu xuyên tạc với chủ đích bôi đen, đăng tải thông tin suy diễn, xuyên tạc, quy kết về nguyên nhân, bóp méo sự thật, kích động hận thù, gây chia rẽ mối quan hệ giữa công giáo và dân tộc.

Chặng đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội tuy không còn có sự giúp đỡ của Liên Xô và các nước XHCN như trước nhưng trong giai đoạn mới của thời đại, khi cách mạng khoa học-công nghệ và toàn cầu hóa đời sống thế giới, tất cả các nước đều ở trong mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, không một nước nào sống biệt lập mà có thể phát triển được.

Sự hợp tác kinh tế với các nước bằng nhiều hình thức sinh động trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau dưới bất kỳ hình thức nào, sẽ tranh thủ vốn, kỹ thuật, công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý, phục vụ cho việc phát triển kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Đó cũng là một khả năng thực tế mà chúng ta đã và đang cố gắng tận dụng, đưa nước ta hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới.

Như vậy, từ một nước kinh tế kém phát triển, nếu chúng ta biết tranh thủ những thời cơ, thuận lợi và biết vượt qua những thách thức, nguy cơ, chúng ta có thể “phát triển rút ngắn” lên XHCN bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa theo quan điểm của V.I.Lenin-người đã có đóng góp to lớn vào lý luận về sự “phát triển rút ngắn” và Chính sách kinh tế mới (NEP). Nó đã được thực tiễn khảo nghiệm mà ngày nay Đảng ta đang vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tiễn cách mạng nước ta.

Xuất phát từ tình hình như thế, chúng ta có thể tin tưởng vững chắc rằng Việt Nam đang trong tư thế vươn tầm, kiên định con đường đã lựa chọn, đã có đủ sức lực và trí tuệ để tiến bước cùng thế giới, tiến cùng thời đại; phấn đấu hiện thực hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.


Thế giới có nhiều biến động nhưng khuynh hướng phát triển thời đại không thay đổi

Xem xét trên cơ sở lý luận và thực tiễn lịch sử xã hội loài người đều cho thấy, mỗi bước chuyển từ một hình thái kinh tế-xã hội này đến hình thái cao hơn đều diễn biến trong thời gian rất dài, có khi vài trăm năm hoặc vài nghìn năm. Vậy nên việc Đảng ta phân định giai đoạn hiện nay của thời đại “quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới” là tư duy sáng tạo, có tính khoa học xác thực và cần thiết. Theo đó, việc nghiên cứu đặc điểm và xu hướng phát triển của thời đại cũng được thực hiện trong khung khổ giai đoạn hiện nay của thời đại.

Khi đã xác định thời đại ngày nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mở đầu bằng Cách mạng XHCN Tháng Mười vĩ đại ở nước Nga, thì rõ ràng nội dung của thời đại ngày nay có hai vấn đề chính: Một là, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội; hai là, mở đầu bằng Cách mạng XHCN Tháng Mười vĩ đại ở nước Nga. Nhận định về nội dung thời đại như vậy là sự khái quát mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc, đầy tính thuyết phục.

Tuy nhiên, sau khi chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch lợi dụng sự kiện này để công kích, xuyên tạc Chủ nghĩa Mác-Lênin, bài bác những luận điểm cơ bản nhất về thời đại. Lập luận của luận điệu sai trái là, nếu nói thời đại hiện nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội thì nay chủ nghĩa xã hội sụp đổ rồi, thời đại này đương nhiên là của chủ nghĩa tư bản; rằng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản đã tàn lụi thì dù có trăm năm sau cũng không thể gượng dậy được nữa.

Cách nhìn nhận như vậy rõ ràng là thiếu kiến thức lịch sử và thiển cận. Quá trình chuyển biến và thay thế một thời đại này bằng thời đại khác không thể diễn ra nhanh chóng được mà phải qua một chặng đường dài. Quá trình đó là một xu thế tất yếu của xã hội loài người, nhưng diễn ra quanh co, phức tạp, chứa đựng nhiều biến cố, có cả bước tiến mạnh mẽ và cũng có cả những bước thụt lùi.

Sự đổ vỡ của XHCN ở Đông Âu và Liên Xô đương nhiên là tổn thất nặng nề đối với phong trào cộng sản. Sự sụp đổ ấy có nhiều nguyên nhân, nhưng nó không thuộc về bản chất của chế độ XHCN, càng không phải vì thế mà làm mất đi nội dung thời đại. Lịch sử đã cho thấy thời đại tư bản chủ nghĩa thay thế thời đại phong kiến đâu phải dễ dàng.

Quá trình chuyển biến đó diễn ra hàng mấy trăm năm, trải qua biết bao phức tạp bởi sự chống trả quyết liệt của các thế lực phong kiến. Tình hình hiện nay cũng tương tự như vậy. Thế lực đế quốc không từ một thủ đoạn nào để mưu toan chặn đứng phong trào cộng sản. Điều đó càng thể hiện tính chất phức tạp của thời đại ngày nay.

Kẻ thù tư tưởng của chúng ta công khai tuyên bố rằng, chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô đã sụp đổ thì giá trị của Cách mạng Tháng Mười Nga cũng chấm hết. Đây là kết luận vội vã và hồ đồ. Đành rằng thành quả mà Cách mạng Tháng Mười Nga đem lại đã bị đổ vỡ tại ngay quê hương của nó, nhưng đó không phải là sự chấm dứt lý tưởng cao đẹp của Cách mạng Tháng Mười Nga.

Vả chăng, lịch sử đã chứng minh, không có một cuộc cách mạng nào, kể cả các cuộc cách mạng vĩ đại nhất, lại đủ khả năng kết thúc ngay công việc xóa bỏ xã hội cũ và xây dựng xong ngay xã hội mới. Quá trình chuyển từ xã hội phong kiến lên xã hội tư bản chủ nghĩa đã phải trải qua hàng trăm năm với nhiều cuộc cách mạng tư sản: Cách mạng Anh năm 1688, các cuộc cách mạng tư sản Pháp vào các năm 1830, 1848, 1871.

Sự đột phá của Cách mạng Tháng Mười Nga làm cho chủ nghĩa tư bản bị đổ vỡ một mảng lớn. Thế giới bừng tỉnh, bung ra với sức mạnh mới của sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa xã hội làm sụp đổ hoàn toàn hệ thống thuộc địa, giải phóng xã hội, giải phóng con người.

Thành quả của Cách mạng Tháng Mười Nga đã tạo cho loài người có khả năng kìm giữ sự lộng hành của chủ nghĩa tư bản, làm thay đổi cả những yếu tố bên trong của chủ nghĩa tư bản. Những thay đổi trong chiến lược kinh tế, chính trị để thích nghi, những thay đổi trong các chính sách phúc lợi xã hội ở các nước tư bản phát triển hiện nay đều bắt nguồn từ kết quả của xã hội đấu tranh của những người lao động và sâu xa hơn là được ảnh hưởng những yếu tố tích cực của Cách mạng Tháng Mười Nga.

Từ những phân tích trên đây, chúng ta càng thống nhất với nhận định của Đảng ta rằng, tình hình cụ thể trong từng thời kỳ của thế giới có những biến động nhưng điều đó không làm thay đổi nội dung của thời đại; loài người vẫn đang trong thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới vẫn tồn tại và phát triển, có mặt sâu sắc hơn, nội dung và hình thức biểu hiện có nhiều nét mới.


Thời đại mới do Cách mạng Tháng Mười Nga khai sáng

Theo nghĩa chung nhất, thời đại lịch sử được hiểu là toàn bộ thời kỳ phát triển của một hình thái kinh tế-xã hội hoặc những giai đoạn chủ yếu trong hình thái ấy.

Tuyên bố tại Hội nghị đại biểu các đảng cộng sản và công nhân các nước XHCN tháng 11-1957 tại Moscow (Liên Xô) đã khẳng định: “Nội dung cơ bản của thời đại chúng ta là sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mở đầu bằng Cách mạng Tháng Mười vĩ đại ở nước Nga”.

Thực tế cho thấy, Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi và nhà nước XHCN đầu tiên ra đời năm 1917 đã đánh dấu chấm hết thời đại độc tôn của chủ nghĩa tư bản, mở ra thời đại mới, thời đại của sự quá độ lớn lao nhất trong lịch sử loài người, tiến tới một xã hội hiện thực không còn người bóc lột người, không còn nô dịch giữa người và người. Chế độ XHCN non trẻ đã vượt qua hàng loạt thử thách khắc nghiệt nhất của lịch sử, hiện diện cả ở châu Âu, châu Á, châu Mỹ, phát triển mạnh mẽ với nhiều ưu việt về chính trị, kinh tế, xã hội.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định nhận thức rõ bản chất, nội dung của thời đại cũng như cục diện và tình hình thế giới là một nhiệm vụ hết sức quan trọng. Trong khi khẳng định thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta nhận rõ tình hình phức tạp, quanh co và rất lâu dài của quá trình chuyển biến xã hội nên đã hướng vào đánh giá trực tiếp những động thái, đặc trưng, xu hướng và tính chất trong giai đoạn hiện nay của thời đại.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng năm 1991 đã nêu rõ: “Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc gay go, phức tạp của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Chủ nghĩa xã hội hiện đứng trước nhiều khó khăn, thử thách. Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co, song loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”.

Tiếp đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nêu rõ: “Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là các nước với các chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thách thức nhưng sẽ có những bước tiến mới. Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”.


Luận điệu sai trái về thời đại ngày nay

Nhận thức rõ đặc điểm và xu hướng phát triển của thời đại cũng như cục diện và tình hình thế giới là một việc rất cần thiết. Hiểu biết sâu sắc về thời đại giúp ta tìm thấy xu hướng tất yếu trong vô vàn những hiện tượng phức tạp, mang tính ngẫu nhiên của đời sống xã hội, giúp ta nhìn xa trông rộng, nắm bắt khuynh hướng và quy luật phát triển của nhân loại để vừa có thể lựa chọn được hướng đi phù hợp với sự phát triển của lịch sử; lường trước được những thách thức phức tạp, tránh được những vấp váp sai lệch trên đường đi; từ đó sẽ không bị chao đảo hoặc bị cuốn trôi trước phong ba bão táp của thời cuộc và đời sống chính trị quốc tế.

V.I.Lenin từng chỉ rõ: Khi phân tích bất cứ vấn đề xã hội nào, phải đặt trong bối cảnh lịch sử nhất định, vì chỉ có dựa trên cơ sở hiểu biết những đặc điểm cơ bản của một thời đại, người ta mới có thể tính đến những đặc điểm chi tiết của nước này hay nước khác. Nói cách khác, vấn đề thời đại là căn cứ khách quan và tiền đề cần thiết để các chính đảng đi theo Chủ nghĩa Mác phân tích tình hình, xác định nhiệm vụ, phân chia trận tuyến, xây dựng chiến lược, hoạch định chính sách, triển khai thực hiện một cách khoa học.

Chính vì lẽ đó, khi bàn về những vấn đề lớn của cách mạng, trước đây cũng như hiện nay, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta bao giờ cũng bắt đầu bằng việc phân tích đặc điểm, nội dung, xu thế phát triển của thời đại và nhận định các mặt của tình hình thế giới để xác định đúng con đường đi của cách mạng Việt Nam và đề ra đường lối đối nội, đối ngoại đúng đắn, sáng tạo.

Cả trên phương diện lý luận và thực tiễn là như vậy, nhưng hiện nay, một số luận điệu sai trái cho rằng: Thật không tưởng khi nói thời đại ngày nay là quá độ lên chủ nghĩa xã hội, vì vậy, từ Đại hội XIII trở đi, không nên nói đến chủ nghĩa xã hội nữa. Cụ thể hơn, họ cho rằng làm gì có thời đại quá độ; nội hàm, đặc điểm, xu thế của thời đại là sự mơ hồ; hai nội dung cốt yếu của thời đại đã bị lịch sử phủ định. Bởi thế, khi không còn Liên Xô và hệ thống XHCN nữa thì Việt Nam làm sao có thể đi lên chủ nghĩa xã hội được.Đây là luận điệu sai trái cần phải phê phán.


“Phúc trình toàn cầu 2022” - sự lạc lõng của HRW

Trong bản “Phúc trình toàn cầu 2022” đưa ra ngày 13/1/2022, tổ chức Theo dõi Nhân quyền - HRW một lần nữa soạn lại điệp khúc chống phá Việt Nam khi cho rằng, năm 2021, “chính quyền Việt Nam trừng phạt một cách có hệ thống các nhà hoạt động dám thách thức tình trạng đàn áp”.

Bản phúc trình viết rằng, Nhà nước Việt Nam “đã tống giam ít nhất là 63 người vì bày tỏ chính kiến hoặc tham gia các nhóm bị coi là chống chính quyền, trong số đó có nhiều người đã bị các bản án rất nặng nề sau các phiên xử bất công”.

Ông Phil Robertson, Phó Giám đốc Ban Á châu của tổ chức HRW vu cáo: “Chính quyền Việt Nam núp bóng đại dịch COVID-19 để tiến hành đàn áp nặng tay đối với các hoạt động ôn hòa khiến đa số các vụ đàn áp không được thế giới biết đến. Dường như chính quyền muốn xóa sổ phong trào bất đồng chính kiến đang lớn mạnh bằng các án tù khắc nghiệt trước khi thế giới quan tâm chú ý đến Việt Nam trở lại”.

“Phúc trình toàn cầu 2022” dài 752 trang, là bản phúc trình lần thứ 31 mà tổ chức HRW tự cho mình quyền đánh giá việc thực thi nhân quyền trên thế giới, với danh sách liệt kê không đầy đủ, khoảng gần 100 quốc gia.

Giám đốc Điều hành của HRW Kenneth Roth cho rằng, trong thời gian gần đây, lần lượt diễn ra ở nhiều quốc gia hiện tượng rất đông người xuống đường bất chấp các nguy cơ bị bắt hay bị bắn đã cho thấy “mong muốn sống trong thể chế dân chủ vẫn còn mạnh mẽ”.

Ông Kenneth Roth vu cáo chính quyền Việt Nam hạn chế nghiêm ngặt các quyền dân sự và chính trị cơ bản, trong đó có các quyền tự do biểu đạt, ngôn luận, thông tin, lập hội và nhóm họp ôn hòa cũng như quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng.

Xuyên tạc ở Việt Nam không có tự do báo chí, cho rằng “Những người công khai phê phán chính quyền hay lãnh đạo Đảng Cộng sản trên mạng xã hội thường xuyên phải đối mặt với nguy cơ bị sách nhiễu, đe dọa, theo dõi gắt gao, cản trở quyền tự do đi lại, bị hành hung thân thể và bắt giữ.

Sau khi bị bắt vì thực hiện các quyền của mình, họ phải đối mặt với nguy cơ bị thẩm vấn thô bạo, bị tạm giam trong thời gian dài mà không được tiếp xúc với luật sư hay gia đình và bị xét xử bởi các tòa án mang động cơ chính trị, đưa ra các án tù càng ngày càng nặng nề”.

Để minh chứng cho những cáo buộc trên, bản phúc trình đưa ra những “dẫn chứng” như: “Vào tháng giêng, ba thành viên của Hội Nhà báo Việt Nam độc lập - Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thụy và Lê Hữu Minh Tuấn - bị xử có tội và bị kết án từ 11 đến 15 năm tù.

Vào tháng năm, một tòa án xử nhà hoạt động vì quyền lợi đất đai Cấn Thị Thêu và con trai bà, Trịnh Bá Tư, cộng tác viên của Nhà xuất bản Tự do, mỗi người 8 năm tù. Vào tháng bảy, nhà văn Phạm Chí Thành bị xử 5 năm rưỡi tù giam. Tháng mười, một tòa án ở Cần Thơ kết tội và xử án 5 thành viên Báo Sạch - Trương Châu Hữu Danh, Đoàn Kiên Giang, Lê Thế Thắng, Nguyễn Phước Trung Bảo và Nguyễn Thanh Nhã - từ 2 đến 4 năm rưỡi tù giam.

Vào tháng mười hai, các tòa án xử blogger nổi tiếng Phạm Đoan Trang 9 năm tù giam, các nhà hoạt động vì quyền lợi đất đai Trịnh Bá Phương 10 năm tù giam và Nguyễn Thị Tâm 6 năm tù giam, nhà vận động dân chủ Đỗ Nam Trung 10 năm tù giam và ứng cử viên chính trị độc lập Lê Trọng Hùng 5 năm tù giam.

Tất cả những người này đều bị cáo buộc tội tuyên truyền chống Nhà nước theo Điều 117 (hoặc Điều 88) hoặc tội lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước theo Điều 331, Bộ luật Hình sự”.

Điểm qua những nội dung trên của bản phúc trình cũng như phát ngôn của những cá nhân có liên quan cho thấy, tất cả chỉ là “bình mới rượu cũ”, chỉ khác về thời gian và một số cái gọi là “dẫn chứng” được đưa ra, còn lại bản chất chống phá, xuyên tạc thì không có gì thay đổi.

Bao trùm toàn bộ bản phúc trình vẫn là sự cố tình đánh tráo vấn đề dân chủ, nhân quyền bằng cách tập hợp, gom lại một loạt các vụ án hình sự mà cơ quan tiến hành tố tụng ở Việt Nam đã, đang xử lý. Tổ chức này cố tình gán ghép vấn đề báo chí vào các bị can, bị cáo đã bị khởi tố, điều tra, xét xử để lấy cớ vu cáo Việt Nam “bắt giữ nhà báo”, “tống giam người bất đồng chính kiến”, tiếp tục gọi số đối tượng này là “tù nhân lương tâm”, “tù nhân chính trị”…

Về những vụ án mà bản phúc trình liệt kê nói trên, như đã phân tích trong nhiều bài viết trước đây, những đối tượng như Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thụy, Lê Hữu Minh Tuấn thì không thể gọi đó là hành động “bắt giữ nhà báo”, “tống giam nhà báo”, “bịt miệng nhà báo” mà đây là những cá nhân ở thời điểm bị bắt, xử lý không hoạt động tại cơ quan báo chí nào, không có danh nghĩa nào về hoạt động báo chí theo quy định của Luật Báo chí.

Ngược lại, đây là những người xưng là báo chí để lợi dụng, tiến hành các hoạt động tuyên truyền như viết, đăng tải các bài viết, hình ảnh lên internet với nội dung xuyên tạc sự thật nhằm chống phá chính quyền nhân dân. Các hành vi này phạm các tội quy định tại Bộ luật Hình sự và bị cơ quan tiến hành tố tụng xử lý theo luật định, không thể gán ghép vấn đề “tù  nhân chính trị” hay “tù nhân lương tâm” vào các vụ án. 

Thực tế, năm 2021 ghi dấu ấn rất đậm nét về việc đảm bảo quyền con người của Việt Nam, được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Điển hình là các nỗ lực của Đảng, Nhà nước trong chính sách phòng, chống COVID-19, nhất là các hoạt động giúp người yếu thế, người bị ảnh hưởng do đại dịch, đảm bảo “không ai bị bỏ lại phía sau”.

Cùng với đó, nhiều thành tựu có ý nghĩa lớn như ban hành Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 để tranh thủ những thành quả của Cách mạng công nghiệp 4.0, đẩy mạnh ứng dụng khoa học-công nghệ, chuyển đổi số, từ đó chuyển đến mô hình phát triển một cách hiệu quả, bền vững, giúp người dân thực hiện tốt hơn các quyền y tế, giáo dục, văn hóa, xã hội, kinh tế và quyền tham gia xây dựng pháp luật, nhà nước pháp quyền.

Một dấu ấn nữa của Việt Nam là bảo đảm quyền con người trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Tại Khóa họp thường kỳ lần thứ 47 diễn ra tháng 7/2021, Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (UNHRC) đã thông qua Nghị quyết về biến đổi khí hậu và quyền con người do Việt Nam chủ trì cùng Bangladesh và Philippines soạn thảo, đề xuất, trong đó chú trọng bảo đảm quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương, đặc biệt là người khuyết tật, người cao tuổi.

Cũng trong năm 2021, Việt Nam đã lần đầu tiên xây dựng Báo cáo giữa kỳ tự nguyện thực hiện các khuyến nghị theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ III để gửi lên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, qua đó thể hiện trách nhiệm, sự minh bạch và nghiêm túc của Việt Nam đối với UPR nói riêng và việc thực hiện các cam kết quốc tế về bảo đảm quyền con người nói chung.

“Việt Nam đã nỗ lực, quyết tâm rất cao trong việc bảo vệ quyền con người và thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc” - bà Tatiana Valovaya, Tổng Giám đốc Văn phòng Liên hợp quốc tại Geneva (Thụy Sĩ) nhấn mạnh. Những thành tựu toàn diện trong phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế đã góp phần tạo nguồn lực cho việc bảo đảm thụ hưởng các quyền con người của người dân, thúc đẩy nâng cao chất lượng tăng trưởng với những cam kết về lao động và phát triển bền vững.

Theo dõi quá trình hình thành và phát triển của HRW thấy rằng, HRW chính là một trong những công cụ đắc lực trong chiến lược “diễn biến hòa bình” mà các thế lực thù địch sử dụng nhằm xóa bỏ chế độ XHCN. Lịch sử hình thành, hoạt động của HRW cho thấy, tổ chức này được lập ra để hoạt động chống phá các nước XHCN, trong đó có Việt Nam dưới chiêu bài dân chủ, nhân quyền.

Điều này lý giải tại sao HRW lại thường xuyên có những hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam mà các bản phúc trình như trên là ví dụ. Dân chủ, nhân quyền vẫn được xem là một mũi nhọn trong chiến lược này và HRW coi đây là “ngòi nổ” để tìm cách lu loa, vu cáo dưới các dạng như báo cáo, phúc trình, thư ngỏ, thỉnh nguyện thư…

Do đó, khi kết thúc năm cũ, mở đầu năm mới, HRW lại ra phúc trình để “đánh giá tình hình nhân quyền” năm cũ với các nội dung sai lệch. Ý đồ của HRW là sự giả dối nói mãi sẽ khiến người ta tưởng là thật, từ đó tạo dư luận xấu về Việt Nam, lấy cớ gây sức ép, can thiệp. Tuy nhiên, việc Việt Nam ngày càng khẳng định uy tín, vị thế trên trường quốc tế, trong đó có thành tựu, uy tín về vấn đề nhân quyền khiến những âm mưu, thủ đoạn chống phá của những tổ chức như HRW rơi vào lạc lõng.


Văn hóa tâm linh và phòng, chống mê tín, dị đoan

Ranh giới giữa hoạt động tâm linh với hoạt động mê tín, dị đoan thường rất mỏng manh. Định hình được ranh giới ấy, cán bộ, đảng viên sẽ thấy thoải mái, tự tin hơn trong tham gia các hoạt động tâm linh...

Mỗi dịp Tết đến, những ai là con dân nước Việt đều cảm nhận rõ ràng không khí linh thiêng của ngày Tết. Thời khắc giao thừa, thắp nén hương thơm dâng lên bàn thờ tiên tổ, ai cũng cầu mong tổ tiên phù hộ độ trì cho con cháu mạnh khỏe, may mắn, hạnh phúc. Những người cựu chiến binh dẫn theo con cháu đến nghĩa trang liệt sĩ, nhớ về những đồng đội từng hy sinh cho mình được sống, cảm thấy như đồng đội vẫn đang ở đâu đó trên những tầng mây cao vời vợi dõi theo mình, dẫn dắt mình tránh những tai ương, vận hạn.

Đến vãn cảnh khu tưởng niệm các danh nhân, anh hùng dân tộc, đền, miếu, chùa chiền, có ai không xúc động khi dâng hương tưởng nhớ các bậc tiền nhân có nhiều công lao với quê hương, đất nước, khấn cầu các vị thánh thần phù hộ cho quốc thái, dân an, gia đình và bản thân mình an khang, gặp nhiều phúc lộc... Rõ ràng, những hoạt động tâm linh kể trên là rất phổ biến trong đời sống hiện nay, mang lại những giá trị tinh thần cao cả, có tác dụng hướng con người đến chân-thiện-mỹ mãnh liệt.

Tuy nhiên, cũng có không ít những hoạt động tâm linh của cán bộ, đảng viên, thậm chí có cả những cán bộ (hoặc vợ con của cán bộ) giữ những vị trí lãnh đạo, quản lý rất quan trọng gây phản cảm trong nhân dân. Đó là những lễ dâng sao, giải hạn rình rang với chi phí hàng trăm triệu đồng, những buổi “gọi hồn, thỉnh vong”, hầu đồng, yểm bùa, cầu cúng, hóa vàng mã... hoành tráng với những niềm tin mù quáng vào số mệnh, thần thánh, ma quỷ.

Trước đây, đã có thời kỳ chúng ta cho rằng, người đảng viên với thế giới quan của Chủ nghĩa Mác-Lênin thì không được phép tham gia hoạt động tâm linh. Nhiều người còn cho rằng, tâm linh là “mảng tối”, là mặt tiêu cực trong ý thức con người, nơi chưa được chân lý khoa học soi sáng; cùng với sự phát triển vũ bão của khoa học-công nghệ (KHCN) thì đời sống tâm linh sẽ ngày càng bị thu hẹp.

Nhưng thực tế hơn 35 năm đổi mới vừa qua cho thấy, đất nước ta càng phát triển, dân trí càng lên cao, KHCN đã và đang có những bước phát triển rất nhanh thì đời sống tâm linh của nhân dân nói chung, của cán bộ, đảng viên nói riêng càng phong phú, đa dạng.

Vậy, đứng vững trên nền tảng tư tưởng của Đảng, chúng ta cần nhìn nhận vấn đề cán bộ, đảng viên tham gia hoạt động tâm linh như thế nào? Có thể thấy, dù KHCN có phát triển đến mấy thì những nỗi đau do thiên tai, nhân tai, dịch bệnh, tai nạn giao thông... vẫn xảy ra.

Thậm chí, sẽ có những người ngẫu nhiên gặp phải rất nhiều tai ương, thiếu may mắn, “họa vô đơn chí”... Với mỗi người, khi gặp phải những nỗi đau quá sức chịu đựng như vậy thì sự giúp đỡ, động viên của cơ quan, đơn vị, hàng xóm, người thân là không đủ, họ cần có niềm tin vào một phép màu, một sự cứu rỗi trong tâm hồn để vượt qua. Rõ ràng, hoạt động tâm linh mang bản tính lịch sử tự nhiên, có tác dụng xoa dịu, bù đắp những mất mát, khổ đau; một loại “thuốc” tinh thần đặc biệt đối với con người.

Do đó, hoạt động tâm linh là một nhu cầu văn hóa tinh thần đặc biệt của con người, trong đó có cán bộ, đảng viên. Hơn nữa, đời sống tâm linh còn là nét văn hóa truyền thống đặc sắc của dân tộc Việt Nam, được hun đúc qua mấy nghìn năm lịch sử, trở thành văn hóa tâm linh, “sợi dây neo” giữ hồn cốt dân tộc. Người cộng sản mang trong mình chủ nghĩa yêu nước, không thể thiếu “sợi dây neo” đó trong phẩm chất, tâm hồn mình. Lênin từng chỉ rõ: “Người ta chỉ có thể trở thành người cộng sản khi biết làm giàu trí óc của mình bằng sự hiểu biết tất cả những kho tàng tri thức mà nhân loại đã tạo ra”.

Với tinh thần đó, người đảng viên cộng sản Việt Nam không chỉ tìm hiểu về đời sống tâm linh của dân tộc mình, mà phải thực sự tham gia một cách tích cực vào hoạt động đó, để lọc bỏ những yếu tố mê tín, dị đoan, kế thừa và phát triển văn hóa tâm linh trở thành giá trị cốt lõi của nền văn hóa mới, nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

Các Mác từng nói rằng: “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”; đó là một câu nói rất có giá trị khoa học. Thuốc phiện, nếu được sử dụng hợp lý, đúng lúc, đúng chỗ, luôn là một liều thuốc quý; nhưng nếu sử dụng thái quá, lại trở thành độc dược đối với con người.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7, khóa IX của Đảng ta khẳng định: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta”. Điều 3, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (năm 2016) quy định: “1. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. 2. Nhà nước tôn trọng, bảo vệ giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân”.

Như vậy, từ đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước ta đều công nhận và bảo đảm hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, cũng là thừa nhận và tạo điều kiện cho văn hóa tâm linh hoạt động và phát triển. Về phương diện nhận thức và hành động, cán bộ, đảng viên khi tham gia đời sống tâm linh phải xem đó là hoạt động bày tỏ tình cảm thiêng liêng, niềm tin linh thiêng, là sự biết ơn của người đang sống đối với những người thân đã mất, đối với danh nhân, anh hùng liệt sĩ được nhân dân suy tôn làm thánh, làm thần, làm thành hoàng...; là sự thấu cảm về giá trị văn hóa và đạo đức của các biểu tượng tôn giáo.

Đó là những điều tốt đẹp, cao cả mà ai cũng khát khao, trông đợi, hướng về. Đi ngược lại mục đích tốt đẹp đó, hoạt động tâm linh, buôn thần, bán thánh... để cầu “vinh thân, phì gia”, cầu chạy tội, cầu che mắt các cơ quan công quyền khi làm những việc trái pháp luật, trái đạo lý... là những hành vi đáng phê phán, cần đấu tranh, loại bỏ.

Trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, lối sống thực dụng, coi trọng vật chất, chạy theo đồng tiền là một nguy cơ lớn. Để ngăn ngừa cái xấu, cái ác, ngăn ngừa lối sống thực dụng, Đảng, Nhà nước ta cần tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp. Trong đó, tác dụng giáo dục lẽ sống hướng thiện của hoạt động văn hóa tâm linh là không thể phủ nhận.

Đó cũng là con đường giáo dục chân-thiện-mỹ, giáo dục truyền thống dân tộc rất hiệu quả. Niềm tin vào sự tích “con Rồng, cháu Tiên”, niềm tin vào hồn thiêng sông núi, niềm tin vào linh khí tổ tiên... khi hòa quyện vào niềm tin cộng sản sẽ tạo thành sức mạnh tinh thần to lớn trong mỗi cán bộ, đảng viên để thực hiện khát vọng hùng cường, thịnh vượng, đưa nước ta trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045 như Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra.

Vạch trần thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc tôn giáo để hình thành “Nhà nước Mông”

Để thực hiện âm mưu chia rẽ đoàn kết dân tộc, các thế lực thù địch, phản động không ngừng gieo rắc niềm tin tín ngưỡng đối với đồng bào các dân tộc thiểu số. Nhiều người Mông tại các tỉnh miền núi phía Bắc bị xúi giục, ép buộc, lừa mị tin theo cái gọi là đạo “Giê Sùa” với những luận điệu viển vông…

Trên thực tế, bản chất của các đối tượng này lập ra là nhằm lừa phỉnh, dụ dỗ, lôi kéo, tập hợp lực lượng phục vụ mưu đồ ly khai, tự trị, hình thành “Nhà nước” riêng, tách ra khỏi cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Vậy tổ chức “Giê Sùa là gì”?

Có nguồn gốc ngoại sinh từ một người có quốc tịch Mỹ sáng lập và đưa vào Việt Nam; dựa vào Kinh thánh của Tin lành, lấy cơ sở để phát triển tổ chức “Giê Sùa”. Người sáng lập “Giê Sùa” là David Her tên thật là Hờ Chá Sùng, người Mông, gốc huyện Phon Xa Vẳn Xiêng Khoảng, Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào. Hiện đang sinh sống tại Bang California, có quốc tịch Mỹ sáng lập ra.

          “Hội thánh Giê Sùa” không có giáo lý rõ ràng mà dựa vào một số câu trong Kinh thánh để tuyên truyền, cho rằng Tên Chúa Giê Su phải gọi là “Giê Sùa” và giải thích Giê Su là tên nhà cầm quyền La Mã cố tình viết sai để lừa mọi người. Tổ chức này đả kích, không thừa nhận các tôn giáo khác, cho rằng chỉ có “Giê Sùa” mới là tôn giáo có thật, chính thống, tôn giáo của tất cả người Mông. Hội thánh “Giê Sùa” không thừa nhận A-đam và E-Va trong Kinh thánh, thay vào đó là nhân vật chàng Ong và cô Ía theo truyền thuyết người Mông; không tổ chức lễ Giáng sinh, Phục sinh và coi đây là trò bịp bợm, vì lợi ích của nhà cầm quyền La Mã; không bắt buộc dâng hiến 10% thu nhập; kiêng ăn hịt lọn và một số loại cá không có vảy, cua, ốc…

          “Giê Sùa” chưa có giáo lý, giáo luật, hiến chương; tài liệu, kinh sách sử dụng là một số điều trong Kinh thánh (Tân ước và Cựu ước) và một số tài liệu do David Her tự soạn thảo, tán phát trên mạng Internet. 

Thường sinh hoạt vào thứ 7 hàng tuần, sinh hoạt với nội dung, hình thức gần giống với điểm nhóm Tin lành (hát thánh ca, chia sẻ lời Chúa, cầu nguyện). Tuy nhiên, một số nội dung giảng dạy trong kinh thánh khác với điểm nhóm Tin lành, tin vào việc Chúa tái lâm, không thừa nhận tên Chúa là Giê Su mà gọi là Giê Sùa. Bác bỏ ngày lễ trọng trong năm như lễ Noel, Lễ Phục sinh         

David Her đã thông qua mạng Internet để tán phát các video clip có nội dung tuyên truyền đạo “Giê Sùa” trên Wedsite WAVw… Trong thời gian hoạt động tại một số địa phương Tây Bắc, “Giê Sùa” đã có những hoạt động gây mất tình hình an ninh trật tự (ANTT) nơi nó du nhập vào. Các đối tượng lợi dụng, xuyên tạc một số câu trong Kinh thánh để tuvên truyền, lôi kéo người khác tin theo như “Không thừa nhận tên Chúa Giê Su như các tổ chức Tin lành khác như Giê Sùa và giải thích rõ ràng là do nhà cầm quyền La Mã cố tình viết sai để lừa gạt và đả kích mọi người. Trong một số bài tuyên truyền, đối tượng David Her còn cho rằng, Chúa trời Giê Hô Va đã chia đất cho người Mông nhưng do người Mông không đoàn kết không biết bảo vệ nhau nên đất đai bị các dân tộc khác xâm chiếm, cho nên người Mông mới không có lãnh thổ, đất nước riêng, suốt đời phải đi làm thuê cho dân tộc khác.

David Her nhận mình là người đưa tin của “Chúa Giê Sùa”; “Chúa Giê Sùa” tái lâm để bảo vệ người Mông, kêu gọi người Mông đi theo “Chúa Giê Sùa”, đồng thời kích động người Mông ở các nước vê Lào chiến đấu xây dựng “Nhà nước Mông”. Các nhóm tà đạo “Giê Sùa” trên địa bàn đã hình thành tổ chức, phân công vai trò, vị trí đối tượng trong nhóm và đang ráo riết tuyên truyên, lôi kéo người khác tin theo. Tuy nhiên, giữa các điểm nhóm bị ảnh hưởng chưa có sự liên kết, thống nhất với nhau hoạt động. Một số đối tượng lợi dụng giáo lý danh nghĩa của các hệ phái để che giấu việc tin theo tà đạo “Giê Sùa”.

“Giê Sùa” xuất hiện khoảng tầm 5 năm trở lai đây ở các địa phương vùng núi phía Bắc như: Điện Biên, Lai Châu, Thanh Hóa, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái. Chỉ xuất hiện trong một thời gian ngắn nhưng mức độ ảnh hưởng của “Giê Sùa” khá nhanh, mức độ ảnh hưởng rộng đến đồng bào dân tộc Mông; lôi kéo người dân tin theo nhằm mục đích xây dựng nhà nước riêng, kêu gọi người Mông đi theo “Chúa Giê Sùa”, đồng thời kích động người Mông ờ các nước về Lào chiến đấu để xây dựng “Nhà nước Mông” tại tỉnh Xiêng Khoảng. Theo con số thống kê các địa phương gửi báo cáo, hiện “Giê Sùa” hoạt động tại các tỉnh: Điện Biên, Lai Châu, Thanh Hóa, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái. Mức độ lan nhanh ảnh hưởng đến vùng đồng bào dân tộc thiểu số như đồng bào dân tộc Mông. Hiện nay, theo con số thống kê được của các địa phương có khoảng 1.297 người tin theo.


MIẾNG “BÁNH VẼ”, CHIÊU TRÒ CỦA NHỮNG KẺ LỢI DỤNG TỰ DO HÓA!

Với mong muốn tiếp tục “sự nghiệp” còn dang dở của Phạm Chí Dũng và đồng bọn của y đang phải trả giá vì tội chống phá Đảng, Nhà nước, Phạm Lê Đoan trong bài viết “Doanh nghiệp xã hội về lãnh vực báo chí” đăng trên Vietnamthoibao.org đã vọng tưởng về tương lai của cái gọi là “Hội nhà báo độc lập Việt Nam”.

Đây là một tổ chức núp bóng “xã hội dân sự” không có tư cách pháp nhân và không được pháp luật Việt Nam thừa nhận. Phạm Lê Đoan vẽ ra "viễn cảnh" nó sẽ trở thành “doanh nghiệp xã hội”, để lên tiếng về “tự do tôn giáo”, “giáo dục đạo đức cho giới trẻ”, “hỗ trợ người dân yếu thế”...

Có thể thấy, “miếng bánh vẽ” do Đoan vẽ ra hết sức thâm độc. Đây thực chất là thủ đoạn của những kẻ lợi dụng “tự do báo chí”, “tự do ngôn luận” để chống phá Đảng, Nhà nước ta, hòng chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây xói mòn niềm tin của quần chúng nhân dân với chính quyền.

Thực tiễn đã chứng minh, Đảng, Nhà nước ta luôn tôn trọng, bảo đảm các quyền con người; quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí trong thực tế đời sống, xã hội và cam kết quốc tế. Ở Việt Nam hiện có khoảng 41.000 nhân sự đang tham gia hoạt động trong lĩnh vực báo chí, 779 cơ quan báo chí, 72 cơ quan được cấp phép hoạt động phát thanh, truyền hình; ngoài ra còn có khoảng 70% dân số sử dụng điện thoại di động, tỷ lệ dân số sử dụng internet qua thiết bị di động chiếm khoảng 95%. Còn theo số liệu thống kê của NapoleonCat-một công cụ quản lý hồ sơ mạng xã hội thì tổng số người dùng Facebook tại Việt Nam hiện nay khoảng 76 triệu người, chiếm hơn 77,5% dân số cả nước. Những điều đó cho thấy, đâu cần phải có cái gọi là “doanh nghiệp xã hội báo chí” hay các tổ chức “xã hội dân sự” như Phạm Lê Đoan tưởng tượng ra thì tự do ngôn luận ở Việt Nam mới được bảo đảm!

Ấy vậy mà một số kẻ tự xưng là “nhóm báo sạch” vẫn luôn rêu rao kêu gọi “tự do báo chí”, “tự do ngôn luận”. Nhưng sự thật, hoạt động của nhóm này chỉ là... tung tin giả mạo, xuyên tạc, bôi nhọ, nói xấu chính quyền nhằm kích động, gây hoang mang trong quần chúng. Đơn cử, trong khi cả nước ta đang nỗ lực ngăn chặn, kiểm soát và đẩy lùi dịch Covid-19 thì bọn chúng lại dựng chuyện về số người mắc bệnh, số ca tử vong và loan tin tốc độ lây lan dịch bệnh lớn hơn rất nhiều so với thông tin thực tế được các cơ quan chức năng công bố, tạo tâm lý hoang mang trong cộng đồng, làm xáo trộn đời sống xã hội. Những hành vi vi phạm pháp luật của “nhóm báo sạch” và một số kẻ khởi xướng thành lập cái gọi là “Hội nhà báo độc lập Việt Nam” đã phải trả giá bằng hình phạt nghiêm minh của pháp luật.

Có thể khẳng định, những vọng tưởng mà “nhóm báo sạch” đưa ra là không thực tế. “Miếng bánh vẽ" của chúng rốt cuộc chỉ là âm mưu thâm độc hại nước, hại dân. Và chắc chắn những người hiểu biết đều thấu tỏ chuyện này, chẳng dại gì tin vào "miếng bánh vẽ" ấy!

Biến nhân quyền thành bình phong để chống phá

Các thế lực thù địch sử dụng đa dạng các phương tiện truyền thông đại chúng, các trang mạng xã hội với độ tương tác rộng, lan tỏa nhanh, các phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là các mạng xã hội, xuất bản báo chí ở nước ngoài, sản xuất băng, đĩa hình chuyển về trong nước; tài trợ cho một số cơ quan báo chí nước ngoài chống phá Việt Nam (như VOA tiếng Việt, RFA, RFI, BBC Việt ngữ, HRW...) để tuyên truyền quan điểm đa nguyên, đa đảng, hạ bệ thần tượng, gây nghi kỵ, chia rẽ nội bộ, triệt để khai thác các sự kiện chính trị, những vấn đề nhạy cảm để mở các chiến dịch tuyên truyền chống Việt Nam.

Lợi dụng việc chúng ta thực hiện chính sách ngoại giao rộng mở, là bạn với tất cả các nước, các thế lực thù địch đã truyền bá mô hình lập pháp và nền dân chủ, lối sống tư sản phương Tây vào nước ta, thúc đẩy quyền tự do một cách quá trớn. Mặt khác, họ còn lợi dụng sự suy thoái về đạo đức, lối sống, tệ tham ô, quan liêu, tham nhũng và vi phạm pháp luật của một bộ phận cán bộ đảng viên để quy kết, bôi nhọ, đả kích vai trò lãnh đạo của Đảng, hủy hoại niềm tin của quần chúng nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, nhằm tác động chuyển hoá nội bộ từ bên trong, thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ tại Việt Nam.

Thông qua các hình thức tuyên truyền về chủ trương, sách lược, phương pháp chống Việt Nam, họ vận động một số nghị sĩ cực đoan trong quốc hội, chính phủ một số nước ban hành các dự luật, nghị quyết, báo cáo, phúc trình… bôi đen, xuyên tạc tình hình nhân quyền tại Việt Nam, từ đó hợp thức hoá sự ủng hộ, tài trợ kinh phí, móc nối, liên lạc với số bên trong để thu thập thông tin, tạo cớ để vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền, tổ chức biểu tình, mít tinh ủng hộ cái gọi là “Tiếng nói đấu tranh đòi dân chủ” của số chống đối bên trong. Đặc biệt, chúng tăng cường lợi dụng vấn đề nhân quyền hòng gây sức ép, can thiệp sâu vào công việc nội bộ của Việt Nam với nhiều phương thức ngày càng nguy hiểm hơn.


Một số tổ chức “khoác áo nhân quyền” điển hình

Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW - Human Rights Watch) là một tổ chức phi chính phủ nghiên cứu và cổ vũ cho nhân quyền, có trụ sở tại thành phố New York, Hoa Kỳ cùng văn phòng ở thủ đô và thành phố lớn nhiều nước như Hà Lan, Đức, Bỉ, Thụy Sĩ, Anh, Nga, Pháp, Nhật, Canada... HRW thông qua vấn đề “nhân quyền” hướng tới thành lập các tổ chức hoạt động chống CNXH dưới danh nghĩa “bảo vệ nhân quyền” đã mở ra một điều kiện mới để Mỹ, các nước phương Tây tăng cường hoạt động tác động về tư tưởng, văn hóa, dân chủ, nhân quyền vào các nước Đông Âu, Liên Xô trước đây.

Theo như tuyên bố tôn chỉ, mục đích hoạt động của tổ chức này là vì nhân quyền, tuy nhiên trên thực tế, HRW lại không bảo vệ quyền con người theo đúng nghĩa mà ngược lại, thường tìm cách can thiệp vào việc xử lý của các cơ quan chức năng một số nước.    

Nhiều quốc gia (Nga, Trung Quốc, Đức, Cuba, Sri Lanka...) đã phê phán, công kích tổ chức này hoạt động không đúng tôn chỉ, mục đích. Trung Quốc đã áp dụng các biện pháp trừng phạt đối với HRW do có những hành động vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế, các quy tắc cơ bản của quan hệ quốc tế khi can thiệp vào các vấn đề nội bộ của nước này. Tại Thái Lan, trang web của HRW bị cấm hoạt động. Chính phủ Đức, Cuba, Sri Lanka, Triều Tiên,... ở mức độ khác nhau, đã chỉ trích hoặc phản đối HRW vì đã can thiệp làm phức tạp tình hình, gây khó khăn cho việc bảo đảm nhân quyền tại các nước này.

Đối với Việt Nam, HRW cổ súy, tán dương với những nhân vật hoạt động chống đối Nhà nước, vi phạm pháp luật. Tổ chức này thường xuyên phác thảo ra những bản báo cáo, phúc trình xuyên tạc tình hình nhân quyền và can thiệp vào công việc nội bộ Việt Nam.

Tổ chức Ân xá quốc tế (AI - Amnesty International) là một tổ chức phi chính phủ. Tổ chức này đã có các nhóm hoạt động hoặc thành lập ở nhiều nước như: Đức, Bỉ, Thụy Sĩ, Hà Lan, Na Uy, Thụy Điển, Ireland, Canada, Sri Lanka, Hy Lạp, Australia, Hoa Kỳ… Từ khi thành lập năm 1961 đến nay, AI tự cho mình có “trách nhiệm cao cả” trong bảo vệ quyền con người đã được nêu ra trong bản Tuyên ngôn quốc tế Nhân quyền và các chuẩn mực quốc tế khác.

Đối với Việt Nam, AI thường xuyên đưa ra các luận điệu xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm quyền con người. AI đã núp bóng dưới một tổ chức mang danh nghĩa quốc tế để xác định mục tiêu hoạt động nhằm “giải phóng” cho cái gọi là “tù nhân lương tâm”, đưa ra những nội dung xuyên tạc, vu cáo một cách trắng trợn về tình hình các tù nhân trong các trại giam ở Việt Nam, từ đó lớn tiếng đòi thả tự do cho các “tù nhân lương tâm” - thực chất là số đối tượng vi phạm pháp luật Việt Nam; ra “yêu cầu” bảo đảm các phiên tòa diễn ra công khai và công bằng; giúp đỡ những người tìm chỗ nương náu chính trị…

Việc làm của AI đã can thiệp sâu vào công việc nội bộ các nước. Không riêng gì Việt Nam mà nhiều nước đã chỉ trích Tổ chức Ân xá quốc tế có thái độ thân phương Tây, nhất là có sự phân biệt ý thức hệ; phản đối AI về những báo cáo một chiều, không khách quan, thiếu thực tế.

Freedom House (FH) là một tổ chức phi chính phủ quốc tế có trụ sở tại Washington D.C (Mỹ), tự cho mình là tổ chức nhân quyền có “chức năng theo dõi tiến trình dân chủ hóa toàn cầu, cũng như khảo sát và nghiên cứu về tình trạng thực thi tự do chính trị cũng như các quyền tự do cơ bản của công dân tại các quốc gia trên thế giới”. Tổ chức này tự đặt ra cái gọi là “tiêu chuẩn để đánh giá nhân quyền và tự do của công dân”; từ đó không chỉ sử dụng để đánh giá, xếp hạng, mà còn sử dụng để truyền bá, cổ súy trên toàn thế giới, tự coi mình là “sứ giả dân chủ, nhân quyền” để xuyên tạc, vu cáo các nước mà tổ chức này xem là “chướng tai gai mắt”, cản trở cho lợi ích của họ.

Hình thành từ năm 1941 đến nay, FH thường xuyên có những hoạt động can dự vào công việc nội bộ các nước, đặc biệt tổ chức này luôn thể hiện thái độ thân phương Tây và thù hằn đối với các nước theo con đường XHCN, trong đó có Việt Nam. Trong cách hoạt động về tự do nhân quyền thì những năm gần đây, trước sự tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sự bùng nổ mạnh mẽ của không gian mạng, tổ chức này đưa thêm hạng mục tự do trên Internet để đánh giá, xếp hạng nhân quyền các nước. Điều vô lý là FH đưa Việt Nam vào danh sách các nước không có tự do Internet. FH tán dương cho các hành động chống phá nhà nước, chế độ ở nước ta theo kiểu tự do vô lối “thích viết gì thì viết, thích làm gì thì làm” trên không gian mạng. Một số cá nhân sử dụng Internet để chống phá Việt Nam, nhất là trước các sự kiện chính trị trọng đại của đất nước thì họ xem đó là “quyền tự do cá nhân” và những đối tượng có hành vi sai phạm trên không gian mạng phải chịu những chế tài của pháp luật lại xuyên tạc Việt Nam không có tự do trên Internet.

Bên cạnh những tổ chức trên còn có một số tổ chức, hội nhóm khác luôn tìm mọi cách để xuyên tạc vấn đề nhân quyền ở Việt Nam, thậm chí xem đó là phương thức tồn tại và hoạt động của tổ chức, hội nhóm mình như: Việt Tân, Chính phủ Việt Nam tự do, Đảng nhân dân hành động, Hiệp hội đoàn kết công nông, Ủy ban bảo vệ quyền làm người Việt Nam, Ủy ban tự do tôn giáo cho Việt Nam... Đặc điểm chung của các tổ chức, hội nhóm trên đều được hậu thuẫn bởi các thế lực cực đoan trong chính giới ở một số cường quốc tư bản, xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam, đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc, nhằm lật đổ chế độ ở nước ta hiện nay.


Không ngừng nỗ lực để bảo đảm nhân quyền

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân là mục tiêu phấn đấu”; “Phát triển con người toàn diện và xây dựng văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”; “…con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng của đất nước”.

Quyền con người được khẳng định trong bản Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1992 và 2013. Hiến pháp năm 2013 có 11 chương, 120 Điều. Trong đó, chương về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là chương có điều luật nhiều nhất, gồm 36 điều (từ Điều 14 đến Điều 49).

Để có cơ sở pháp lý thúc đẩy và bảo vệ, bảo đảm quyền con người, Nhà nước Việt Nam đã có những nỗ lực không ngừng cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người. Tính từ năm 2014 đến nay, Quốc hội nước ta đã sửa đổi, bổ sung, ban hành mới hơn 100 văn bản luật, pháp lệnh liên quan đến việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong số đó có những luật cơ bản, quan trọng như: Bộ luật Hình sự 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Bộ luật Dân sự 2015, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015, Luật Trưng cầu dân ý 2015, Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2016, Luật Trẻ em 2016, Luật Báo chí 2016, Luật Tiếp cận thông tin 2016, Luật An ninh mạng 2018, Luật Đặc xá 2018… Việc hoàn thiện khung pháp luật về quyền con người, quyền công dân nói trên đã phản ánh đúng bản chất của chế độ ta, đó là xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tăng cường cơ chế dân chủ, công khai để mọi cá nhân trong xã hội đều có thể tham gia xây dựng, quản lý xã hội, giám sát các hoạt động của cơ quan nhà nước, cũng như tạo ra khuôn khổ pháp lý để các cơ quan nhà nước hoạt động tốt hơn, phục vụ tốt hơn nhu cầu của mọi tầng lớp nhân dân.

Hiện nay, Việt Nam là một trong những nước tích cực, chủ động tham gia vào hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người do Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác ban hành. So với nhiều nước trong khu vực và các nước phát triển, Việt Nam không thua kém về số lượng là thành viên các công ước quốc tế về quyền con người. Tính đến năm 2021, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của Liên hợp quốc về quyền con người; phê chuẩn, gia nhập 25 công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), trong đó có 7/8 công ước cơ bản. Việt Nam đã phê chuẩn hoặc tham gia nhiều điều ước quốc tế về nhân quyền. Việt Nam luôn khẳng định trên thực tế là thành viên nỗ lực tham gia các công ước quốc tế với tinh thần, trách nhiệm cao nhất, được nhiều tổ chức quốc tế, các quốc gia đánh giá cao.

Mặc dù nước ta đang gặp không ít những trở ngại, thách thức do thiên tai, dịch bệnh và từ sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị nhưng vấn đề nhân quyền của Việt Nam luôn được thực thi trên thực tế. Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và vững chắc về nhân quyền. Điều đó không chỉ thể hiện ở những nỗ lực của chúng ta trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, mà còn được thể hiện ở việc bảo đảm quyền còn người, quyền công dân trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Điển hình như, Việt Nam là một trong sáu quốc gia thành viên Liên hợp quốc đã hoàn thành phần lớn các Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ trước thời hạn năm 2015 và được xem là tấm gương điển hình của cộng đồng quốc tế trong thực hiện mục tiêu phát triển bao trùm, không ai bị bỏ lại phía sau của Liên hợp quốc. Theo Báo cáo “Phát triển con người năm 2019” được Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) công bố ngày 9/12/2019, với chỉ số HDI là 0,63, Việt Nam xếp thứ 118 trong tổng số 189 nước… Với những thành tựu trong việc tôn trọng, bảo đảm về quyền của con người, Việt Nam được tín nhiệm là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2014 - 2016). Tại khóa họp lần thứ 73, tại trụ sở Liên hợp quốc vào ngày 7/6/2019, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã bầu Việt Nam làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021 với số phiếu gần như tuyệt đối (192/193 phiếu). Gần đây, Việt Nam đã thực hiện tốt vai trò Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc với nhiều dấu ấn, đóng góp sáng tạo, thiết thực, trong đó có vấn đề bảo đảm quyền con người trước những thách thức do đại dịch COVID-19 gây ra, được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao và làm cho vị thế và uy tín của Việt Nam ngày càng tăng trên trường quốc tế.

Thành tựu đảm bảo nhân quyền tại Việt Nam trên các lĩnh vực đời sống văn hóa, kinh tế, xã hội, đặc biệt là những thành tựu của Việt Nam trong việc phòng, chống dịch COVID-19 và bảo đảm quyền sống là quyền cao nhất trong đại dịch COVID-19 là những minh chứng rõ nét nhất trong bảo đảm quyền của con người trước những biến cố, đại dịch mà người dân trên toàn thế giới phải trải qua.

Đánh giá về nhân quyền cần phải đảm bảo cách nhìn khách quan, toàn diện, không thể phán theo kiểu “thầy bói xem voi”, không thể lấy một số vụ việc tiêu cực, những hiện tượng sai lệch mà quy chụp thành bản chất. Những thông tin để làm căn cứ đánh giá, báo cáo, xếp loại nhân quyền Việt Nam của một số tổ chức quốc tế thiếu thiện chí đều khai thác từ số đối tượng thù địch, phản động, bất mãn, cơ hội chính trị, số này luôn có những hành động hủy hoại mọi nỗ lực, thành tựu của Việt Nam trong vấn đề nhân quyền. Khi không có bất kỳ các hoạt động khảo sát, trải nghiệm vấn đề nhân quyền của một quốc gia thì mọi đánh giá về nhân quyền của quốc gia đó đều mang tính chủ quan, thiếu tính thực tiễn, sai lệch. Mặt khác, không thể mượn danh nhân quyền để tung hô cho lối sống tự do “vô pháp” để biện minh việc làm sai trái, quay lưng lại Tổ quốc, dân tộc.

 


Nhận diện chiêu trò chống phá nhân quyền trên một số lĩnh vực

Trong lĩnh vực pháp lý: Các thế lực thù địch không những đưa ra các luận điệu vô lý để phê phán một số điều luật hay văn bản pháp lý cụ thể của Việt Nam, nhất là họ tập trung đả phá Hiến pháp năm 2013 rồi cho đó là lạc hậu, trái với quy định và luật pháp, thông lệ quốc tế, từ đó lên giọng chỉ trích toàn bộ hệ thống pháp luật của Việt Nam, cho là thiếu hụt, khập khiễng, chưa phù hợp. Đồng thời, họ vin vào việc một số cán bộ, nhân viên Nhà nước vi phạm pháp luật để rêu rao cán bộ, nhân viên Nhà nước đứng ngoài pháp luật, kích động, kêu gọi mọi người không tuân thủ và không thi hành pháp luật. Họ lấy cớ số cá nhân lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí để chống phá Nhà nước và chế độ bị cơ quan chức năng bắt giữ, khởi tố, xử lý theo pháp luật để vu khống Việt Nam vi phạm nhân quyền trong khi giải quyết các vấn đề cụ thể liên quan đến tự do cá nhân. 

Trong lĩnh vực văn hóa: Họ cố tình cắt xén, diễn giải một chiều theo ý đồ xấu, dựng chuyện Việt Nam không thực hiện đúng tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền như đã cam kết, đặc biệt là Điều 19 về quyền tự do ngôn luận, tự do bày tỏ chính kiến; vu cáo, xuyên tạc Nhà nước ta rẻ rúng, nghi kỵ trí thức, đàn áp văn nghệ sỹ, bóp nghẹt tự do báo chí, tự do văn học nghệ thuật… Thổi phồng, đề cao, cổ súy cho số phần tử lợi dụng văn học nghệ thuật để bôi đen bức tranh hiện thực đất nước, hà hơi, tiếp sức cho những phần tử mà họ gọi là “dũng cảm lột xác” dám nhìn nhận lại bản chất đích thực của cuộc chiến tranh giải phóng của Việt Nam, xóa nhòa ranh giới giữa kẻ xâm lược và bọn tay sai với quân đội và quần chúng cách mạng, biến cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ thành cuộc “nội chiến” do “tham vọng của cộng sản” gây ra; ca ngợi chính quyền Sài Gòn theo kiểu hoài niệm, nhớ lại; cố tình gây chia rẽ, tạo ra tâm lý phân biệt vùng miền, làm giảm sự quyết tâm, đồng lòng của nhân dân cả nước trước những thách thức của thiên tai, dịch bệnh.

Thậm chí, họ còn phô trương bản chất “đạo đức giả” khi dựng lên các chương trình mang tính nhân văn, nhân đạo kêu gọi mọi người chung tay giúp đỡ nhau nhưng kỳ thực là trò lừa bịp. Các thế lực thù địch còn tuyên truyền, vận động dựng lên những “nhân vật tiêu biểu”, những màn kịch “trao giải thưởng quốc tế” cho những người “tiên phong trong cuộc đấu tranh vì tự do, vì dân chủ”, thực ra đó là những đối tượng chống đối, bất mãn; lợi dụng tình hình dịch COVID -19 đăng bài phỏng vấn liên tục các cá nhân “bất đồng chính kiến”, người lao động nghèo, yếu thế để chống phá.

Trong lĩnh vực dân tộc, tôn giáo: Lợi dụng sự việc các cơ quan chức năng bắt, điều tra, xử lý những đối tượng lợi dụng dân tộc và tôn giáo có hành vi chống đối, vi phạm pháp luật… để xuyên tạc và vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền. Một số cá nhân mượn danh nghĩa chức sắc, tín đồ tôn giáo được sự tiếp tay của các thế lực thù địch đã lợi dụng nhân quyền trong lĩnh vực dân tộc, tôn giáo để chống phá chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta. Các thế lực thù địch vừa tích cực rêu rao, vừa vu cáo Việt Nam không có tự do tín ngưỡng, không cho tự do hành đạo và đàn áp tôn giáo, chia rẽ các tôn giáo, đồng bào lương, giáo để chống lại chính sách đoàn kết, ổn định phát triển kinh tế…

Trong lĩnh vực thực hiện chính sách với tù nhân: Tù nhân là những cá nhân vi phạm pháp luật Việt Nam, phải chấp hành các chế tài theo luật định. Trong số các tù nhân này có người lợi dụng nhân quyền để chống phá lại chế độ, nhà nước ta. Thời gian qua, đây là một trong những điểm nóng, một mối quan tâm thường xuyên và cũng là một “mảnh đất” của các thế lực thù địch nhằm vào để can thiệp, vu cáo Nhà nước Việt Nam. Thông qua cơ chế của Liên hiệp quốc, qua nghị viện một số nước hoặc tổ chức phi chính phủ hoạt động về lĩnh vực này, số tổ chức, cá nhân phản động lưu vong cung cấp những thông tin sai lệch, xuyên tạc, mang tính quy chụp, dựng chuyện gửi các “kiến nghị”, “thư ngỏ” lên các tổ chức quốc tế thiếu thiện chí với Việt Nam để chống phá; đồng thời, cố tình đánh tráo bản chất, gieo rắc tâm lý bất an, gây hiểu nhầm, hiểu sai trong dư luận.


Những hành vi vi phạm pháp luật của Dương Văn Mình

Ngay từ khi thành lập, Dương Văn Mình đã núp bóng tín ngưỡng, tôn giáo; tuyên truyền, tập hợp quần chúng, lôi kéo đồng bào dân tộc Mông; khuyếch trương tên, tuổi, âm mưu lợi dụng ly khai, tự trị thành lập “Nhà nước Mông” do Dương Văn Mình làm thủ lĩnh.

“Tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình” do Dương Văn Mình (SN 1961) còn có tên gọi khác Dương Súng Mình, Giàng Sống Minh, nguyên quán ở xã Thượng Thôn, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng thành lập. Trước khi chết (cuối năm 2021), đối tượng sinh sống ở tại xã Yên Lâm, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.

Ngay từ khi thành lập, Dương Văn Mình đã lợi dụng vấn đề tín ngưỡng tôn giáo để tuyên truyền nhằm tập hợp quần chúng, lôi kéo đồng bào dân tộc Mông với ý đồ ly khai, tự trị, lập “Nhà nước Mông” do Dương Văn Mình đứng đầu.

Để thực hiện ý đồ, Dương Văn Mình cùng số đối tượng cốt cán đã lập ra “Tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình” núp bóng dưới vỏ bọc tôn giáo, móc nối, liên hệ, tìm kiếm, hỗ trợ, hậu thuẫn của một số cá nhân, tổ chức phản động; tổ chức quốc tế thiếu thiện cảm với Việt Nam để vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo; tuyên truyền luận điệu “Dương Văn Mình sẽ làm Chúa, Vua của người Mông”. Trước tình hình trên, chính quyền các địa phương đã kiên trì tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân không tin, không nghe theo “Tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Minh”, thực hiện tốt chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, tuân thủ các quy định của pháp luật.

Thế nhưng khi chính quyền tiến hành cưỡng chế, tháo dỡ “nhà đòn” (nhà chứa đồ tang); giải tán việc tổ chức “Tết chung”, sinh nhật Dương Văn Mình, lễ kỷ niệm “Ngày thành lập tổ chức Dương Văn Minh”…, thì số đối tượng cốt cán, quá khích kích động, xúi giục người dân tập trung đông người gây cản trở an ninh trật tự (ANTT), lấn lướt, chống đối chính quyền cơ sở, ngăn cấm không cho con, em đi học, không nhận hỗ trợ xoá đói, giảm nghèo, lôi kéo khiếu kiện, tái dựng “nhà đòn”; không tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII; Quốc hội khoá XV và Hội đồng nhân dân các cấp 2013 cho đến nay…. Không dừng lại ở đó, để gây áp lực, đòi yêu sách với chính quyền, các đối tượng còn thu, truyền tải qua mạng xã hội và cung cấp cho bên ngoài sử dụng vũ cáo chính sách, pháp luật của ta nhằm đòi yêu sách

Địa bàn tổ chức Dương Văn Mình hoạt động phần lớn ở các tỉnh phía Bắc, nơi cuộc sống của người dân còn nhiều khó khăn... Khi Dương Văn Mình chết, các đối tượng vẫn tiếp tục lợi dụng các hoạt động tôn giáo nhằm “thần thánh hóa, tôn vinh Dương Văn Mình”; đồng thời tìm chọn, tiến cử người thay thế để lãnh đạo tổ chức”.

Nhìn vào bản lý lịch của Dương Văn Mình có thể thấy được ông ta là người như thế nào?.  Vào năm 1989, sau khi bị ảnh hưởng luận điệu tuyên truyền (đài FEBC phát băng tiếng Mông từ Phillipines) về “Vàng Chứ”, ngày 1/8/1989, đối tượng tuyên truyền cho số cốt cán tích cực, cho rằng “Chúa Jesu nhập vào Dương Văn Mình, vua, chúa của người Mông” và lan rộng luận điệu ra khắp các địa bàn có đông bao Mông sinh sống ở Cao Bằng, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Hà Giang, Lào Cai.

Đối tượng mà Dương Văn Mình nhằm vào là những người dân hiền lành, nhẹ dạ cả tin ở các tỉnh miền núi phía bắc. Bị những lời nói u mê lôi kéo, không ít người dân tộc Mông nhẹ dạ, cả tin đã bỏ việc làm ăn, bán tài sản để nộp tiền cho đối tượng... Khi còn sống, cuộc sống của Dương Văn Mình và các đối tượng cộm cán trong ổ nhóm rất vương giả, trong khi những người tin và theo “Tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình” thì đa phần có cuộc sống rất khó khăn. Một số người dân khi đã tham gia thì bị mất hết nhà cửa, rơi vào cảnh ngộ khó khăn do đã nộp tiền cho các đối tượng chân rết đã tố cáo với cơ quan chức năng.

Vào năm 1990, Dương Văn Mình bị cơ quan Cảnh sát điều tra bắt giữ và truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản riêng của công dân và hành nghề mê tín dị đoan gây hậu quả nghiêm trọng”. Với hành vi phạm tội trên, đối tượng đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang tuyên án 5 năm tù giam. Song bản án trên không làm đối tượng thay đổi bản chất, không ăn năn, hối cải, sửa chữa tiến bộ. Sau khi ra tù, Dương Văn Mình vẫn tiếp tục hoạt động tuyên truyền. Năm 1995, Dương Văn Mình bỏ trốn khỏi địa phương; đối tượng sau đó đã ra mắt cái gọi là “tín ngưỡng Dương Văn Mình”, tự phong làm “Giáo chủ”. Đối tượng sau đó còn yêu cầu chính quyền địa phương công nhận “Tín ngưỡng Dương Văn Mình là tín ngưỡng của người Mông”.

Cuối năm 2021, Dương Văn Mình chết do bệnh tật. Hơn 30 năm qua, đến nay có lẽ người dân sẽ hiểu hơn về bản chất của Dương Văn Mình...