Thứ Hai, 14 tháng 2, 2022

Tư tưởng, văn hóa của Đảng, mục tiêu tiến công cốt yếu nhất của các thế lực thù địch hiện nay

Những năm qua, bằng nhiều thủ đoạn, vừa công khai, trắng trợn, vừa ngấm ngầm hòng phá hoại, bôi nhọ, công kích chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, nền văn hóa mới của dân tộc nhưng không mang lại kết quả, các thế lực thù địch đang có sự điều chỉnh thủ đoạn chống phá hòng chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam. Chúng cho rằng, vấn đề trước tiên, cốt yếu nhất là phải xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN. Đồng thời, xây dựng hệ thống lý luận khác, có khả năng triệt tiêu chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và lấy đó làm nền tảng tư tưởng cho việc xây dựng một xã hội mới, theo mong ước của chúng. Như vậy, mục tiêu tiến công trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa của các thế lực thù địch không hề thay đổi. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu đó, chúng đã và đang sử dụng những chiêu thức mới, tiếp cận theo hướng quan hệ “mềm dẻo”, thân thiện hơn, hợp tác toàn diện, thâm nhập sâu vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ đó tác động, phá hoại nền tảng tư tưởng, bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta. Trước hết, cần nhận rõ chiêu thức mới của các thế lực thù địch là, chủ động thâm nhập, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng thông qua con đường quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực, nhất là kinh tế, đối ngoại, giáo dục và đào tạo. Đây là những lĩnh vực được Đảng, Nhà nước ta quan tâm, mở rộng trong quá trình hội nhập quốc tế. Trên lĩnh vực kinh tế, chúng âm mưu thông qua hoạt động hợp tác, đầu tư để làm cho nền kinh tế phát triển chệch hướng XHCN, thiết lập hệ thống và cơ cấu kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa tại Việt Nam; từ đó, tạo ra nền tảng vật chất, xã hội thuận lợi, hình thành nền “chính trị dân chủ” và “xã hội dân sự” kiểu phương Tây. Đây chính là môi trường, điều kiện thuận lợi cho các tổ chức chính trị đối lập xuất hiện, công khai chống Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những tồn tại, vướng mắc trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN để xuyên tạc, phủ nhận đường lối lãnh đạo, thành tựu phát triển kinh tế của Đảng, Nhà nước, kích động tâm lý hoài nghi trong xã hội; cổ súy, tung hô việc phát triển nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, làm mất phương hướng, niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN, gây bất ổn về tư tưởng, xuất hiện tình thế mới về chính trị. Lợi dụng tình thế đó, chúng sẽ kích động đòi “dân chủ kinh tế”, yêu cầu Đảng, Nhà nước phát triển kinh tế thị trường theo kiểu phương Tây. Đồng thời, kêu gọi “dân chủ hóa chính quyền”, từng bước cô lập, tách các tổ chức đảng, đảng viên ra khỏi quần chúng, tạo áp lực về chính trị - xã hội, thậm chí gây bạo loạn, lật đổ, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Chúng thực hiện chính sách “thân thiện giả hiệu”, thâm nhập sâu vào hoạt động của nền kinh tế, tạo điều kiện, cơ hội tiếp cận rộng rãi với các đối tượng, tầng lớp nhân dân để xây dựng lực lượng, kích động, phá hoại nền tảng tư tưởng, thúc đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta. Cùng với âm mưu, thủ đoạn thâm nhập vào lĩnh vực kinh tế, các thế lực thù địch đẩy mạnh “tiến công” trên lĩnh vực đối ngoại. Chúng chủ trương, một mặt, thông qua hoạt động ngoại giao chính thức, “ngoại giao thân thiện”, tăng cường giao lưu, trao đổi, đối thoại với Việt Nam trên nhiều lĩnh vực nhằm quảng bá hình ảnh, giá trị tư bản chủ nghĩa; chủ động tiếp cận móc nối, hỗ trợ, mua chuộc, lôi kéo các đối tượng, nhất là những phần tử có tư tưởng bất mãn, thù địch, cơ hội, thoái hóa, biến chất, hữu khuynh, cực đoan, thân phương Tây, tạo lực lượng nòng cốt cho “chuyển hóa” và “tự chuyển hóa” tư tưởng ngay từ bên trên, bên trong. Mặt khác, chúng đa dạng các kênh quan hệ để tìm kiếm cơ hội, tiếp cận sâu hơn, dùng vật chất, tiền bạc mua chuộc, làm suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên. Trong đó, vấn đề hợp tác, giao lưu về giáo dục và đào tạo, nhất là việc đi học tập, đào tạo tại các nước tư bản của thế hệ trẻ được chúng hết sức quan tâm, bởi đây là “con đường” ngắn nhất, thuận lợi nhất để xâm nhập, tác động, chuyển hóa tư tưởng ở Việt Nam hiện nay. Thông qua việc học tập ở nước ngoài, chúng truyền bá các quan điểm, giá trị dân chủ tư sản, làm cho thế hệ trẻ có tư tưởng sùng ngoại, coi thường những giá trị văn hóa dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, chỉ coi trọng giá trị vật chất, bàng quan về chính trị,... tạo mầm mống thúc đẩy dân chủ, nhân quyền tư sản, tiến tới xóa bỏ nền dân chủ và chế độ XHCN ở nước ta. Một trong những chiêu thức vô cùng nguy hiểm mà các thế lực thù địch sử dụng hòng làm chuyển hóa, tiến tới xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là, thúc đẩy hình thành “xã hội dân sự” theo mô thức phương Tây. Chúng núp dưới chiêu bài “dân chủ hóa”, hình thành “kênh phản biện” để cho ra đời các tổ chức đối trọng với các cơ quan, tổ chức trong bộ máy của Đảng, Nhà nước, đòi giám sát hoạt động của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội. Đồng thời, lợi dụng các diễn đàn tư tưởng, thông qua hoạt động hợp tác, nghiên cứu khoa học,... để tuyên truyền về “xã hội dân sự”, đề cao dân chủ tư sản, nhằm chuyển hóa lập trường, tư tưởng của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trên cơ sở đề cao “xã hội dân sự”, các thế lực thù địch âm mưu phủ nhận học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng XHCN, về đấu tranh giai cấp trong điều kiện mới; làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, từng bước hạn chế, tiến tới loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, xây dựng xã hội “dân chủ”, “tự do” theo kiểu phương Tây. Để thúc đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền tác động hướng lái truyền thông. Đây là những vấn đề rất “nhạy cảm”, luôn được chúng triệt để lợi dụng để xuyên tạc, vu cáo, chống phá ta. Một số nước phương Tây còn áp đặt “dân chủ và bảo vệ nhân quyền” là yếu tố không thể thiếu trong chính sách ngoại giao và quan hệ quốc tế. Những năm qua, các thế lực thù địch đã dùng nhiều hình thức, biện pháp, huy động tối đa các phương tiện truyền thông để tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo trắng trợn tình hình dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo và vấn đề dân tộc ở Việt Nam. Chúng đưa ra yêu sách đòi mở rộng dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, tự do lập hội để tập hợp lực lượng, kích động gây bạo loạn, dẫn đến mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Đặc biệt, chúng luôn tìm mọi cách hướng lái truyền thông nhằm tác động vào quá trình xây dựng hệ thống pháp luật, nhất là thời điểm sửa đổi các văn bản pháp luật về dân chủ, nhân quyền, tôn giáo hoặc ban hành các chỉ thị, nghị quyết, quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng,… để bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước; kích động, lôi kéo, chia rẽ nội bộ, nhằm gây áp lực với Đảng, Nhà nước ta. Đồng thời, thành lập nhiều tổ chức và đưa người vào Việt Nam để theo dõi, tìm hiểu, thu thập thông tin về vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, tiến hành móc nối, cài cắm, truyền bá tư tưởng sai trái, vu cáo, xuyên tạc tình hình thực tế ở Việt Nam. Để đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, âm mưu các thế lực thù địch là nhất thiết phải thực hiện “dân chủ” trong đời sống xã hội. Trước hết là thúc đẩy “dân chủ hóa” trong nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam, tiếp đó thực hiện “dân chủ hóa” trong truyền thông và xã hội. Hai yếu tố này có quan hệ mật thiết với nhau, yếu tố thứ nhất mang tính quyết định đến tiến trình “dân chủ hóa” từ bên trên, bên trong nội bộ ta; yếu tố thứ hai sẽ đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của toàn xã hội. Quá trình “dân chủ hóa” truyền thông là đưa dân chủ vào mạng truyền thông quốc gia và đội ngũ cán bộ, phóng viên báo chí, truyền thông. Con đường xâm nhập để hướng lái truyền thông của các thế lực thù địch là tác động thông qua các hoạt động hợp tác giáo dục, hội thảo, giao lưu, “mượn” các phương tiện truyền thông của Nhà nước, các địa phương, cơ quan, đơn vị để tuyên truyền cho chúng. Lợi dụng sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0), các thế lực thù địch sẵn sàng mạnh tay đầu tư tài chính cho quảng cáo, đầu tư, tài trợ các chương trình nhằm tác động, dẫn dắt giới truyền thông hoạt động theo ý đồ của chúng, đưa truyền thông tách khỏi sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Mặt khác, chúng còn lợi dụng các trang mạng xã hội, Facebook, blogger và một số báo, đài phương Tây, hệ thống phương tiện truyền thông của lực lượng phản động người Việt lưu vong,… để tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo, kêu gọi dân chủ, nhân quyền, tự do ngôn luận, tự do báo chí và cạnh tranh trên lĩnh vực truyền thông, gây nhiễu loạn tư tưởng, mất phương hướng trong đời sống xã hội. Ngoài ra, các thế lực thù địch còn tăng cường hoạt động xâm nhập, móc nối, xây dựng nhân tố bên trong để tác động tư tưởng, phá hoại bản sắc văn hóa dân tộc, thực hiện xâm lăng văn hóa để thúc đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta... Đây là những con đường mà các thế lực thù địch đang tìm mọi cách, bằng nhiều biện pháp tiến hành thường xuyên hòng chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam. Vì vậy, chúng ta cần không ngừng nâng cao cảnh giác để giữ vững môi trường hòa bình phát triển đất nước, không để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá.

Một số giải pháp chủ yếu nâng cao nhận thức trong việc học tập lý luận chính trị giai đoạn hiện nay

 


Góp phần nâng cao nhận thức về vai trò của việc học tập lý luận chính trị, ngăn chặn và đẩy lùi “căn bệnh” ngại hoc, lười học tập lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên hiện nay cần thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau đây:

                                                                         
       Thứ nhất, Các cấp ủy, tổ chức đảng các cấp thường xuyên giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên về vai trò của việc học tập lý luận chính trị.


       Thứ hai là, Triển khai thực hiện nghiêm quy định, chế độ học tập lý luận chính trị gắn với việc cung cấp thông tin, cập nhật kiến thức mới cho mọi cán bộ, đảng viên.

      Thứ ba là, Không ngừng nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ giảng viên giảng dạy lý luận chính trị.


       Thứ tư là, Thường xuyên làm tốt công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng, lấy kết quả học tập lý luận chính trị làm thước đo phẩm chất, năng lực, phân loại của cán bộ, đảng viên hàng năm.

        Thứ năm là, Phát huy tính tích cực, chủ động của mỗi cán bộ, đảng viên trong tự học tập, tự nghiên cứu để không ngừng nâng cao trình độ lý luận chính trị.
        Thứ sáu là, Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn nữa chương trình, nội dung giáo dục, bồi dưỡng lý luận chính trị, không để trùng lắp giữa các chương trình ở các cấp (sơ cấp, trung cấp, cao cấp lý luận chính trị).

       Thứ bảy là, Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất trang bị, kỹ thuật cho cơ sở đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị và xem đây là điều kiện không thể thiếu, góp phần nâng cao chất lượng học tập, giảng dạy về lý luận chính trị hiện nay.

 

 

 

Nghiên cứu, học tập lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước là nhiệm vụ thường xuyên của mỗi cán bộ đảng viên hiện nay

 


 Trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mỗi cán bộ, đảng viên là những người đem chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước tới Nhân dân để Nhân dân hiểu rõ và thi hành; đồng thời nắm tình hình của Nhân dân báo cáo với Đảng, để từ đó đề ra chính sách cho đúng, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên không ngừng nỗ lực học tập, phấn đấu về mọi mặt “để làm việc, làm người, làm cán bộ”, “để phụng sự đoàn thể và nhân dân, Tổ quốc ...”. Một trong những yêu cầu cần thiết, bắt buộc đối với người cán bộ cách mạng là phải nhận thức đúng về tầm quan trọng của lý luận chính trị, yêu cầu cần thiết phải nghiên cứu, học tập lý luận chính trị để rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức cách mạng trong sáng, năng lực trí tuệ, đảm bảo hoàn thành trọng trách của mình. Mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn coi việc nghiên cứu, học tập lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục gắn liền với quá trình tu dưỡng về mọi mặt của mình. Đồng thời, khi học và vận dụng lý luận chính trị vào thực tiễn, phải thấm nhuần sâu sắc tính sáng tạo của lý luận Mác - Lênin để bổ sung lý luận bằng những kết luận đúc rút được từ thực tiễn sinh động, nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ, chủ động và dũng cảm bảo vệ chân lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trước những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch phản động, để phòng và chống có hiệu quả những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

 Từ thực tiễn đó, mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta cần phải không ngừng ra sức học tập lý luận chính trị để trau đồi kiến thức cho bản thân, nâng cao hiểu biết về chủ nghĩa Mác-lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, chủ trương đường lối, chính sách, pháp luật của Nhà nước để có cơ sở lý luận bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đồng thời, nâng cao bản lĩnh chính trị trước mọi cảm dỗ về vật chất, cũng như tinh thần để đập tan những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. 

 

Kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm lệch lạc, sai trái của các thế lực thù địch phản động

 


  Thời gian gần đây đã xuất hiện những quan điểm lệch lạc, sai trái và cả những quan điểm của thế lực thù địch nhằm xuyên tạc, phủ nhận quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về đấu tranh giai cấp. Trong đó, nổi lên là quan điểm cho rằng: “trong điều kiện hiện nay, nói tới đấu tranh giai cấp là bảo thủ, lạc hậu, là gây nên sự chia rẽ, phân hoá nội bộ… làm phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc” hay: “hiện nay, nói đến đấu tranh giai cấp ở Việt Nam là đi ngược lại xu thế của thời đại, là lạc hậu, không thức thời, không phù hợp với thực tiễn Việt Nam hiện nay”. Do vậy, có thể nói, việc nâng cao nhận thức một cách khoa học về đấu tranh giai cấp sẽ góp phần đấu tranh phòng, chống lại những quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc chủ nghĩa Mác – Lênin, bảo vệ nền tảng, tư tưởng của Đảng trong tình hình hiện nay là một vấn đề khoa học, có ý nghĩa thiết thực. Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta cần nhận thức rõ tính chất gay go và phức tạp của cuộc đấu tranh giai cấp. Chúng ta cần nghiên cứu một cách cẩn thận và thấu đáo, nghiêm túc những tác phẩm của V.I.Lênin và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam, kết hợp với nghiên cứu thực tiễn một cách cụ thể, tránh rơi vào sai lầm hoặc quá cường điệu đấu tranh giai cấp, dẫn đến mất phương hướng trong huy động mọi nguồn lực để phát triển đất nước hoặc xem thường, xóa nhòa cuộc đấu tranh giai cấp dẫn đến mơ hồ, mất cảnh giác, mắc vào âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch phản động chúng đang tìm mọi cách để lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.

Trách nhiệm của mỗi cán bộ giảng viên trong Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 


 

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ trọng yếu, có ý nghĩa sống còn trong bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Hiện nay các thế lực thù địch đang tăng cường các hoạt động chống phá với nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ. Vì vậy, mỗi chúng ta luôn chủ động trong việc nhận diện đúng các quan điểm sai trái, thù địch, làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn, phương hướng và có những giải pháp cụ thể trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng. Việc chủ động đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng đối với cấp ủy, tổ chức đảng, của cả hệ thống chính trị ngay từ cơ sở. Với vai trò, trách nhiệm của mỗi cán bộ giảng viên trong Lực lượng vũ trang, để thực hiện tốt nhiệm vụ trong đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch, thì mỗi cán bộ giảng viên cần: Quán triệt sâu sắc các chỉ thị nghị quyết của đảng các cấp; không ngừng học tập, nâng cao nhận thức trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tu dưỡng rèn luyện bản thân để từ đó đấu tranh phản bác có hiệu quả với những quan điểm sai trái, thù địch.

Một số giải pháp chủ yếu đấu tranh phòng, chống các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề đân tộc, tôn giáo chống phá Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay

 

         Một là, Tăng cường tuyên truyền, quán triệt quan điểm, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước; âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch đồng thời tăng cường giáo dục, bồi dưỡng kiến thức khoa học, kỹ thuật cho toàn dân mà trực tiếp là đồng bào các dân tộc.

Hai là, Tích cực, chủ động triển khai thực hiện tốt chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện và từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân.

Ba là, Củng cố và hoàn thiện hệ thống chính trị cơ sở, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo, dân tộc, cán bộ an ninh, cán bộ là người dân tộc thiểu số.
          Bốn là, Triển khai thực hiện có hiệu quả công tác phòng, chống và giải quyết “điểm nóng”, biểu tình, bạo loạn ngay từ cơ sở.

 Đấu tranh phòng, chống các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam là một yêu cầu khách quan, cấp thiết đối với sự nghiệp cách mạng ở nước ta hiện nay. Vì vậy, hơn bao giờ hết, Đảng, Nhà nước, quân và dân cả nước chủ động luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, tích cực tuyền truyền, đấu tranh chống các thế lực thù địch phản động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá cách mạng Việt Nam, góp phần tích cực bảo vệ vững chắc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta; bốn giải pháp chủ yếu trên có mối quan hệ biện chứng, trong quá trình triển khai cần thực hiện tốt không được xem nhẹ  giải pháp nào.

Cần nhận diện và đấu tranh, phê phán quan điểm sai trái, thù địch tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay

Trong cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch thì việc nhận diện các loại quan điểm sai trái, thù địch đặc biệt quan trọng. Các loại quan điểm sai trái, thù địch hiện nay đó là: Tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta với biểu hiện rất đa dạng; chống phá sự lãnh đạo của Đảng, xuyên tạc Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; xuyên tạc lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng; bôi nhọ cá nhân các lãnh tụ, lãnh đạo của Đảng; lợi dụng những sai lầm, khuyết điểm của Đảng để xuyên tạc bản chất Đảng; ca ngợi chủ nghĩa tư bản với những giá trị khác nhau của nó Công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo càng đi vào chiều sâu càng đạt được những thành tựu rất đỗi tự hào thì càng nảy sinh những vấn đề mới đặt ra phải giải quyết. Đó cũng là lẽ thường tình, bởi thực tiễn luôn luôn vận động, biến đổi, luôn làm nảy sinh những vấn đề mới đòi hỏi con người phải giải quyết. Chính thực tiễn đổi mới cũng đang đặt ra nhiều vấn đề mới trên tất cả các lĩnh vực đòi hỏi Đảng, Nhà nước phải kịp thời giải quyết. Hơn nữa, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; tác động của biến đổi khí hậu; thực tiễn chính trị thế giới thay đổi nhanh, khó lường; một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, v.v. đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng. Trong tình hình ấy, lực lượng thù địch lợi dụng những khó khăn, yếu kém của ta tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước ta. Trong bối cảnh mới, các quan điểm sai trái, thù địch hiện nay rất đa dạng, phong phú, vừa trực tiếp, vừa gián tiếp, vừa trực diện, vừa ẩn mình chống phá Đảng, Nhà nước ta, nhưng có thể đưa về 6 loại chủ yếu nổi lên như sau: Tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta với biểu hiện rất đa dạng. Chúng cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin là đúng đắn nhưng chỉ đúng đắn trong điều kiện Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (động cơ hơi nước), nền sản xuất dựa trên máy móc cơ khí. Còn hiện nay, nhân loại đã chuyển mình sang Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, kinh tế tri thức, kinh tế số, toàn cầu hóa, tin học hóa, dữ liệu lớn (Big data). Hay nói như một số nhà lý luận phương Tây là thời đại “hậu công nghiệp”, kinh tế - xã hội có rất nhiều đổi thay, vì vậy hiện nay chủ nghĩa Mác - Lênin không còn phù hợp nữa. Trong thời đại ngày nay, trong nền sản xuất hiện đại đã sử dụng nhiều robot - người máy, tự động hóa, người công nhân được tuyển dụng và sử dụng rất ít, cho nên học thuyết giá trị thặng dư của Mác, học thuyết về vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân... không còn phù hợp nữa. Trong điều kiện hiện đại thì nhà tư bản không còn bóc lột sức lao động của giai cấp công nhân lao động nữa. Giai cấp công nhân không còn vai trò trong nền sản xuất hiện đại mà chính tầng lớp trí thức mới là người quyết định vận mệnh tương lai của nhân loại. Những quan điểm cho rằng thế giới đã có sự thay đổi “quyền lực”. Chẳng hạn, Alvin Toffler cho rằng “quyền lực” trong quá trình vận động và phát triển của chính bản thân nó đã trải qua các hình thức phát triển: Đi từ “bạo lực quyền, đến của cải quyền, rồi đến tri thức quyền” hay có người gọi là “trí quyền”. Nghĩa là thuở hoang sơ, phải dùng sức mạnh bạo lực mới có quyền lực như thông qua xâm lược, ăn cướp,...; sau đó kẻ nào có tiền là có quyền lực và đến hiện nay, ai có trí tuệ, có tri thức là có quyền lực (trí quyền). Nếu thoáng qua chúng ta thấy có vẻ hợp lý, bởi lẽ trong một xã hội chưa hoàn thiện, còn dựa trên sở hữu tư nhân thì kẻ nào có tiền thì kẻ đó có quyền lực. Nhưng thực chất ở đây, Alvin Toffler muốn khẳng định rằng chủ nghĩa tư bản hiện đại đã thay đổi, không còn xâm lược hay bạo lực nữa, có tiền cũng không có quyền lực nữa, giai cấp công nhân không còn vai trò sứ mệnh lịch sử giải phóng lao động nữa mà tầng lớp trí thức mới đóng vai trò này trong xã hội hiện đại. Nếu tách quyền lực ra khỏi sản xuất vật chất, ra khỏi kinh tế thì quyền lực không còn cơ sở để tồn tại nữa. Xét về bản chất, quyền lực vẫn do kinh tế quyết định. Trong tác phẩm Chống Đuyrinh, Ph.Ăngghen khi phê phán Đuyrinh vì không hiểu bạo lực đã viết “vậy một lần nữa, bạo lực lại do tình hình kinh tế quyết định, tình hình kinh tế cung cấp cho bạo lực những phương tiện để tạo ra và duy trì những công cụ bạo lực”. Đồng thời, Ph.Ăngghen cũng chỉ ra rằng “bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, những điều kiện kinh tế và tài nguyên kinh tế đều là những cái đã giúp cho “bạo lực” chiến thắng, nếu không có những điều kiện và tài nguyên đó thì bạo lực không còn là bạo lực nữa”. Điều này hoàn toàn phù hợp, tương thích với quyền lực. Do vậy, nếu có tri thức nhưng không có điều kiện kinh tế, điều kiện vật chất để chuyển hóa những tri thức ấy thành của cải vật chất thì tri thức ấy cũng không có vai trò gì. Cho nên cách tiếp cận của Alvin Toffler chỉ là một cách xa rời khôn khéo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin mà thôi. Quan điểm khác cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin do C.Mác, Ph.Ăngghen sáng lập, được V.I.Lênin phát triển là sản phẩm của sự phát triển kinh tế, văn hóa của châu Âu là chủ yếu. Mà đó lại là châu Âu cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Do vậy, đối với châu Âu hiện nay thì nó không còn phù hợp. Đối với châu Á thì càng không phù hợp. Bởi lẽ, châu Á có sự phát triển kinh tế khác, có trình độ văn hóa, cùng phong tục, tập quán khác châu Âu. Do vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin không phù hợp với Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Triều Tiên,... Tư tưởng Hồ Chí Minh lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng, cơ sở, do vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng không thể và không nên vận dụng vào Việt Nam. Vì vậy, không nên lấy học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng cho dân tộc Việt Nam. Có quan điểm đồng nhất sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu với sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội nói chung, sự sụp đổ của chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội nói riêng. Từ đây, họ ca ngợi mô hình chủ nghĩa xã hội dân chủ. Cho rằng chính chủ nghĩa xã hội dân chủ là mô hình phát triển phù hợp với thế giới đương đại, vừa tích hợp được những mặt mạnh của chủ nghĩa tư bản với mặt mạnh của chủ nghĩa xã hội. Hơn nữa, có một số ý kiến cho rằng những nước đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, mặc dù có những bất cập nhất định nhưng tốc độ phát triển kinh tế nhanh, những vấn đề xã hội, môi trường thường được giải quyết tốt hơn các nước đi theo chủ nghĩa xã hội. Hơn nữa, các nước đi theo chủ nghĩa xã hội thường xảy ra tình trạng tham nhũng, quan liêu, độc đoán. Chính tình trạng tham nhũng, quan liêu, độc đoán đã cản trở xã hội phát triển lành mạnh. Họ thường đồng nhất những yếu kém, hạn chế của chủ nghĩa xã hội hiện thực, hay những sai lầm, hạn chế của một số đảng cộng sản để minh chứng cho sự không đúng đắn của học thuyết Mác - Lênin. Những loại ý kiến này đều sai lầm ở một điểm là đồng nhất một mô hình chủ nghĩa xã hội sai lầm với chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa xã hội nói chung. Họ cố tình làm ngơ trước những thành tựu của chủ nghĩa xã hội cải cách, mở cửa, đổi mới ở Cộng hòa Cuba, Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên. Họ đồng nhất hiện trạng tham nhũng, quan liêu, độc đoán với chủ nghĩa xã hội. Chúng ta không phủ định những hạn chế biểu hiện ở tình hình tham nhũng, quan liêu, độc đoán ở một số nước xã hội chủ nghĩa, nhưng hiện trạng này cũng tồn tại ở các nước tư bản phát triển, ở các nước không đi theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Dường như hiện trạng này tồn tại khá phổ biến trên thế giới, không loại trừ quốc gia nào. Nó là căn bệnh của bộ máy quan liêu mà Đảng và Nhà nước Việt Nam đang quyết tâm làm trong sạch. Từ những nhận diện trên, có thể thấy, các quan điểm sai trái, thù địch rất tinh vi, đa dạng, phong phú. Muốn đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch này một cách hiệu quả cần kiên trì, bình tĩnh và phải thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp. Trong cuộc đấu tranh này, dù thuộc loại quan điểm sai trái, thù địch nào cũng cần quán triệt tốt một số nguyên tắc cơ bản: Một là, đứng vững trên lập trường của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách của Nhà nước Việt Nam để đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch. Hai là, phân biệt rõ quan điểm thù địch, quan điểm sai trái, trên cơ sở đó có các phương pháp đấu tranh, phê phán cụ thể, phù hợp, hiệu quả. Phải kiên quyết, kiên trì đấu tranh chống lại, bác bỏ toàn diện, triệt để trên nhiều phương diện lý luận, pháp lý, lịch sử, khoa học, thực tiễn. Phân biệt những quan điểm sai trái do nhận thức chưa đúng, chưa đầy đủ với những quan điểm sai trái do cố ý, cố tình để có phương thức đấu tranh phù hợp. Ba là, vận dụng uyển chuyển nguyên tắc khách quan trong đấu tranh, phê phán quan điểm sai trái, thù địch. Bốn là, quán triệt nguyên tắc dân chủ trong đấu tranh, phê phán quan điểm sai trái, thù địch. Các nguyên tắc cơ bản trên phải được quán triệt, thực hiện một cách triệt để, đồng bộ. Cùng với quán triệt tốt các nguyên tắc trên thì biện pháp quan trọng nhất là phải phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân dân; ổn định chính trị, xã hội, an ninh, an toàn, trật tự. Mỗi cán bộ, đảng viên phải thực sự gương mẫu trong cuộc sống và trong công việc. Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh. Có như vậy thì việc nhận diện và đấu tranh, phê phán quan điểm sai trái, thù địch mới hiệu quả, thiết thực.

Nhân loại đang trở về với Mác


   Mác, Ăngghen, Lênin không phải là những “nhà tiên tri”, những ông “thầy bói của lịch sử” như mấy ai bôi nhọ hay huyễn hoặc. Các ông là những nhà cách mạng, nhà khoa học chân chính, thiên tài. Chủ nghĩa mà các ông sáng lập và đấu tranh không mệt mỏi để thực hiện nó, là hành động một cách dũng cảm và cách mạng biến cái lô-gích phát triển tất yếu của nhân loại, trên cơ sở giải phẫu các xã hội mà loài người đã và đang tồn tại, để các quốc gia, dân tộc đi tới tương lai.

   Nói cách khác, lý luận của các ông chỉ giúp loài người lựa chọn điều cần và phải đi con đường dẫn tới chân lý, với những lực lượng tiên quyết, những điều kiện có tính chất cần và đủ, khi đứng ở ngã ba lịch sử của sự lựa chọn và phải quyết định, gồm: Một ngả dẫn đến vũng lầy của sự lầm lẫn, còn ngả kia là đi tới chân trời sáng sủa, tất yếu.

   Diễn đạt cụ thể, các nhà sáng lập Chủ nghĩa Mác-Lênin không chỉ đơn thuần giải phẫu các hình thái kinh tế-xã hội, mà bắt đầu từ cấu trúc nền tảng để làm nổi bật lên những vấn đề của chúng và cuối cùng, dự báo sự sụp đổ tất yếu và sự thay thế giữa chúng với nhau hoặc tuần tự hoặc nhảy vọt một cách biện chứng, theo quy luật.

   Cố nhiên, chúng ta không thể phủ nhận một điều là, những thập kỷ 70, 80, nhất là những năm 90 của thế kỷ 20, trong quá trình hiện thực hóa lý luận mác-xít, những người cộng sản vấp phải khó khăn to lớn. Đặc biệt, trong thời điểm lịch sử ở vào tình thế có tính bước ngoặt, khi xu thế toàn cầu hóa trở thành phổ biến với xung lực tất yếu và mạnh mẽ là kinh tế tri thức, công việc đó càng trở nên khó khăn gấp bội; và cho thấy, sẽ chỉ “sống sót” những lực lượng chính trị nào có thể đáp lại những thách thức mới của thời đại, tiếp tục đủ sức gánh vác trọng trách đó của lịch sử.

   Nhân loại đang trở về với Mác. Nhưng trở về với Mác, với Lênin như thế nào? Tất nhiên sự trở về không phải là sự thuộc lòng học thuyết của các ông, rập khuôn nó và coi nó như “chiếc chìa khóa vạn năng” nào đó, bất chấp những sự thay đổi của lịch sử. Như thế, vô hình đã bóp nghẹt sức sống của Chủ nghĩa Mác-Lênin, điều mà các ông lúc sinh thời đã cảnh báo và lịch sử từng nghiêm khắc phê phán.

   Mác không bao giờ và chưa bao giờ tiên thiên, không khi nào rơi vào định mệnh! Nói một cách hình ảnh, ông chỉ vén mây mù để tất cả nhìn thấy trời xanh tất yếu của sự tự do và con đường đi tới nó một cách tự nhiên, còn đi như thế nào lại tùy thuộc vào điều kiện của mỗi quốc gia, dân tộc và tình thế lịch sử cho phép.

   Lênin cũng thế. Ông rất căm ghét thói rập khuôn mù quáng. Cả hai ông đòi hỏi sự phê phán nghiêm ngặt học thuyết của các ông chứ không phải khư khư bám giữ những điều có thể là đúng với hôm qua, nhưng hôm nay đã bị cuộc sống vượt qua. Đó chính là nguồn gốc sức sống, con đường phát triển của chính lý luận Mác-Lênin - học thuyết cách mạng phê phán và tự phê phán cách mạng!          

   Vượt qua tất cả các học thuyết hiện nay, Chủ nghĩa Mác-Lênin đã mở ra một chân trời khám phá và sáng tạo không ngừng. Vì toàn bộ thế giới quan của học thuyết Mác, nói như Ăngghen, không chỉ là một học thuyết mà còn là phương pháp. Nó đưa ra không phải những giáo điều có sẵn mà là những xuất phát điểm để tiếp tục nghiên cứu toàn diện lịch sử. ĐT

Những biến tướng làm méo mó Chủ nghĩa Mác


   Có mấy biến thể Chủ nghĩa Mác-Lênin mà bấy lâu nay một bộ phận người cộng sản đã ngộ nhận, ở mức độ này hay khác, lầm lẫn dù tự giác hay không tự giác, trực tiếp làm lệch lạc nhận thức về Chủ nghĩa Mác-Lênin, vô hình bôi nhọ và phủ định nó.

   Một là, biến thể Chủ nghĩa Mác-Lênin được tạo ra tồn tại dưới dạng sản phẩm của sự diễn dịch chủ quan và giáo điều. Đây là dạng mà ngay lúc còn sinh thời, chính Mác phải thốt lên: “Tôi không phải là Mác và người theo Chủ nghĩa Mác”, khi ông đọc lại chính tư tưởng của mình, qua sự giới thiệu của những người cùng thời.

   Giờ đây, người ta lại chia cắt, biệt lập Mác thời trẻ và đem đối lập với Mác sau này; đem đối lập Mác với Lênin. Với Lênin, người ta cũng làm vậy. Nhất là sau khi Lênin mất, những di sản tư tưởng vĩ đại của ông bị người ta giải thích một cách thiên kiến, cứng nhắc, chủ quan và thô lậu. Và để tạo ra một thứ, theo họ được gọi là Chủ nghĩa Mác-Lênin, người ta đánh một dấu cộng đơn thuần, giữa Mác và Lênin, một cách hình thức, rồi coi như hoàn tất mọi việc.

   Hai là, biến thể Chủ nghĩa Mác-Lênin được tồn tại một cách phổ biến theo kiểu bị cắt xén, chắp vá một cách thực dụng. Bằng cách phủ nhận sự tồn tại của thế giới khách quan, với các quy luật khách quan cũng như mối liên hệ hữu cơ giữa các sự vật, hiện tượng, người ta tuyệt đối hóa vai trò ngẫu nhiên, vai trò cảm giác và kinh nghiệm chủ quan.

   Và điều tệ hại, nguy hiểm nhất là người ta không thừa nhận tính chất khách quan của chân lý mà cho rằng chân lý do chủ quan cá nhân quyết định, không phải chỉ có một chân lý mà có nhiều chân lý, chỉ có cái gì có lợi cho họ mới là chân lý (!). Chủ nghĩa Mác-Lênin được nhào nặn và tạo ra dưới bàn tay của họ, theo cách đó. Và thế là Chủ nghĩa Mác-Lênin bị biến thành chủ nghĩa công cụ, chủ nghĩa hành vi, là thứ triết học của sức mạnh, dưới sự chi phối của chủ nghĩa thực dụng và chủ nghĩa cơ hội.

   Ba là, dạng biến thể Chủ nghĩa Mác-Lênin được dựng lên một cách giả trá theo chủ nghĩa xét lại và chủ nghĩa cơ hội. Trên bình diện này, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa xét lại, với bản chất cố hữu của nó, đã sử dụng một cách khôn ngoan chủ nghĩa thực dụng làm cơ sở phương pháp luận cho nó. Họ nhân danh Chủ nghĩa Mác-Lênin để thực hiện mưu toan tước bỏ nội dung giai cấp và tính cách mạng cốt làm méo mó, sai lệch ý tưởng của Mác, kỳ thực nhằm chống phá, phủ định Chủ nghĩa Mác-Lênin.

   Tất cả các luận đề của Mác, Ăngghen (Friedrich Engels), Lênin đều bị diễn đạt lại một cách không rõ ràng, hết sức trừu tượng đến mức phi lô-gích và lịch sử... bằng những mánh khóe bịp bợm, điều hòa đến mức không thể nào hiểu được một cách rõ ràng và dứt khoát. Nói như Lênin, bao giờ nó cũng tìm con đường trung dung, nó quanh co, uốn khúc như con rắn nước giữa hai quan điểm đối chọi nhau, nó tìm cách “thỏa thuận” với cả quan điểm này lẫn quan điểm kia, vì nó quy những bất đồng ý kiến của mình lại thành những điều sửa đổi nhỏ nhặt, những sự hoài nghi, những nguyện vọng thành tâm và vô hại...

   Từ đó Chủ nghĩa Mác-Lênin, qua bàn tay “nhào nặn” của những kẻ cơ hội và xét lại, chỉ còn là nhãn hiệu, chỉ còn là “xác” bằng sự tưởng tượng ngây thơ nhưng có sức nặng đủ để tự phản lại và giết chết chính nó, khi nằm trong tay họ, vô hình bóp nghẹt công tác lý luận, như lịch sử đã từng cảnh cáo.

   Nhận diện những biến thể chủ yếu của Chủ nghĩa Mác-Lênin, dù chưa đầy đủ nhưng cốt để nói rằng, chúng ta cần tỉnh táo và cấp bách trở về với Chủ nghĩa Mác-Lênin, như nó vốn có và trả lại cho nó những giá trị đúng như nó đã có và đang được hiện thực hóa một cách không gì cưỡng nổi. Cố nhiên, đây là một công việc cực kỳ khó khăn nhưng không thể nào khác được, nếu muốn tiếp tục phát triển công tác lý luận ngang tầm sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc.ĐT


Nhận rõ, loại bỏ âm mưu xuyên tạc, hạ bệ Chủ nghĩa Mác


   Chính những kẻ từng khoác áo mác-xít sống được và thành danh nhờ Chủ nghĩa Mác-Lênin, sau năm 1991 và giờ đây lại quay sang coi C.Mác (Karl Marx), V.I.Lênin (Vladimir I.Lenin) như những “nhà tiên tri không thành đạt” (!), như những “ông thầy bói của lịch sử” (!).

   Nhưng chính những học giả của giai cấp tư sản, thông minh và bản lĩnh hơn những kẻ giả danh mác-xít nói trên, khi chính họ nhận ra sự “báo ứng” nan giải, sẽ trở nên vô phương cứu chữa đối với sự “cùng quẫn” của thể chế tư sản, lúc họ thiếu C.Mác. Bởi vì ở thời khắc cam go và hết sức phức tạp của lịch sử, ngay trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa, hiện nay đang khủng hoảng bởi thiếu một xung lực đúng đắn từ lĩnh vực tưởng ngỡ như nó nằm ngoài phạm vi hoạt động thực tiễn.

   Đó là lĩnh vực lý luận về kinh tế và xã hội, khi những cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu những năm 1997, 1998 và 2008; khi vấn nạn môi trường sinh thái toàn cầu lan rộng mà các quốc gia tư sản vừa là thủ phạm vừa là nạn nhân không thể chối cưỡng. Điều đó giải thích vì sao chủ nghĩa tư bản (CNTB) và các phong trào chống lại “CNTB toàn cầu” đang bộc lộ sự lúng túng, yếu kém, thậm chí bất lực của chúng, vì họ thiếu một nền tảng lý luận xã hội căn bản, khoa học và phù hợp.

Bảo vệ, phát triển Chủ nghĩa Mác trong tình hình hiện nay
Ảnh minh họa/ tuyengiao.vn 

   Nhận thức về nhu cầu bất khả kháng đó, không phải ai khác và cũng không phải ở đâu khác, chính Jacques Derrida-một triết gia danh tiếng phương Tây đã phải thốt lên: Chúng ta phải trở về với Mác. Nhân loại không có tương lai mà lại không có Mác.

   Điều đó đã lan tỏa sang cả nước Mỹ, khi ông Bao-lô-xu-ây-xi, một giáo sư đại học tại bang Florida, lên tiếng cảnh tỉnh: Nếu chủ nghĩa xã hội (CNXH) dùng trí lực của nhân loại-giống như Mác đã nói-thế thì, rất rõ ràng, ngoài CNXH không có sự cứu thế nào khác; và ngài M.Kha-rin-tơn, một nhà văn hóa học người Mỹ, dõng dạc tuyên bố: CNXH sẽ là người kế thừa các cuộc cách mạng tư sản vĩ đại, là phong trào hiện thực “tự do, bình đẳng, bác ái”, những điều không thể thực hiện được trong khuôn khổ của CNTB.

   Hiện nay, điều đáng nói hơn, ngay cả một bộ phận người cộng sản, trong hành trình hiện thực hóa lý tưởng cộng sản do chính Chủ nghĩa Mác-Lênin khởi xướng, vào những thời khắc khó khăn nhất, lại cũng tỏ ra do dự, hoài nghi, lúng túng; thậm chí, cả bằng sự thẩm xét hời hợt, nông cạn một cách hình thức qua các thái độ hoặc là ngoảnh mặt thờ ơ hoặc là kỳ thị, chối bỏ, rồi quay ra công kích Chủ nghĩa Mác.

   Sẽ trở thành ảo tưởng đáng thương hại, khi ai đó có thể tưởng tượng ra và kỳ vọng về một cuộc “cuộc duyệt binh” trong sự phát triển của những người làm lý luận mác-xít, với thứ mong muốn “đồng phục” về chính trị, về tư tưởng và trí lực. Trong sự phát triển và tiến hóa của tự nhiên cũng như vậy. Những kỳ vọng về sự thuần chủng tuyệt đối của một loài sinh vật nào đó là sự ảo tưởng, trái quy luật tự nhiên.

   Nói như vậy để khẳng định rằng, cần phải có một cách nhìn thực sự bình tĩnh, khách quan, cần một phương pháp khoa học, một tinh thần cách mạng, với thái độ thành tâm, nghiêm túc và cầu thị, chúng ta mới có thể khắc phục những khó khăn, thách thức mà cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, dưới ngọn cờ của Chủ nghĩa Mác-Lênin đang phải đương đầu, trước hết về mặt tư tưởng lý luận.ĐT


Chặng đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam


     Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội tuy không còn có sự giúp đỡ của Liên Xô và các nước XHCN như trước nhưng trong giai đoạn mới của thời đại, khi cách mạng khoa học-công nghệ và toàn cầu hóa đời sống thế giới, tất cả các nước đều ở trong mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, không một nước nào sống biệt lập mà có thể phát triển được.

     Sự hợp tác kinh tế với các nước bằng nhiều hình thức sinh động trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau dưới bất kỳ hình thức nào, sẽ tranh thủ vốn, kỹ thuật, công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý, phục vụ cho việc phát triển kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Đó cũng là một khả năng thực tế mà chúng ta đã và đang cố gắng tận dụng, đưa nước ta hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới.

     Như vậy, từ một nước kinh tế kém phát triển, nếu chúng ta biết tranh thủ những thời cơ, thuận lợi và biết vượt qua những thách thức, nguy cơ, chúng ta có thể “phát triển rút ngắn” lên XHCN bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa theo quan điểm của V.I.Lenin-người đã có đóng góp to lớn vào lý luận về sự “phát triển rút ngắn” và Chính sách kinh tế mới (NEP). Nó đã được thực tiễn khảo nghiệm mà ngày nay Đảng ta đang vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tiễn cách mạng nước ta.

     Xuất phát từ tình hình như thế, chúng ta có thể tin tưởng vững chắc rằng Việt Nam đang trong tư thế vươn tầm, kiên định con đường đã lựa chọn, đã có đủ sức lực và trí tuệ để tiến bước cùng thế giới, tiến cùng thời đại; phấn đấu hiện thực hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Thế giới có nhiều biến động nhưng khuynh hướng phát triển thời đại không thay đổi

 

     Xem xét trên cơ sở lý luận và thực tiễn lịch sử xã hội loài người đều cho thấy, mỗi bước chuyển từ một hình thái kinh tế-xã hội này đến hình thái cao hơn đều diễn biến trong thời gian rất dài, có khi vài trăm năm hoặc vài nghìn năm. Vậy nên việc Đảng ta phân định giai đoạn hiện nay của thời đại “quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới” là tư duy sáng tạo, có tính khoa học xác thực và cần thiết. Theo đó, việc nghiên cứu đặc điểm và xu hướng phát triển của thời đại cũng được thực hiện trong khung khổ giai đoạn hiện nay của thời đại.

     Khi đã xác định thời đại ngày nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mở đầu bằng Cách mạng XHCN Tháng Mười vĩ đại ở nước Nga, thì rõ ràng nội dung của thời đại ngày nay có hai vấn đề chính: Một là, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội; hai là, mở đầu bằng Cách mạng XHCN Tháng Mười vĩ đại ở nước Nga. Nhận định về nội dung thời đại như vậy là sự khái quát mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc, đầy tính thuyết phục.

     Tuy nhiên, sau khi chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch lợi dụng sự kiện này để công kích, xuyên tạc Chủ nghĩa Mác-Lênin, bài bác những luận điểm cơ bản nhất về thời đại. Lập luận của luận điệu sai trái là, nếu nói thời đại hiện nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội thì nay chủ nghĩa xã hội sụp đổ rồi, thời đại này đương nhiên là của chủ nghĩa tư bản; rằng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản đã tàn lụi thì dù có trăm năm sau cũng không thể gượng dậy được nữa.

     Cách nhìn nhận như vậy rõ ràng là thiếu kiến thức lịch sử và thiển cận. Quá trình chuyển biến và thay thế một thời đại này bằng thời đại khác không thể diễn ra nhanh chóng được mà phải qua một chặng đường dài. Quá trình đó là một xu thế tất yếu của xã hội loài người, nhưng diễn ra quanh co, phức tạp, chứa đựng nhiều biến cố, có cả bước tiến mạnh mẽ và cũng có cả những bước thụt lùi.

     Sự đổ vỡ của XHCN ở Đông Âu và Liên Xô đương nhiên là tổn thất nặng nề đối với phong trào cộng sản. Sự sụp đổ ấy có nhiều nguyên nhân, nhưng nó không thuộc về bản chất của chế độ XHCN, càng không phải vì thế mà làm mất đi nội dung thời đại. Lịch sử đã cho thấy thời đại tư bản chủ nghĩa thay thế thời đại phong kiến đâu phải dễ dàng.

     Quá trình chuyển biến đó diễn ra hàng mấy trăm năm, trải qua biết bao phức tạp bởi sự chống trả quyết liệt của các thế lực phong kiến. Tình hình hiện nay cũng tương tự như vậy. Thế lực đế quốc không từ một thủ đoạn nào để mưu toan chặn đứng phong trào cộng sản. Điều đó càng thể hiện tính chất phức tạp của thời đại ngày nay.

     Kẻ thù tư tưởng của chúng ta công khai tuyên bố rằng, chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô đã sụp đổ thì giá trị của Cách mạng Tháng Mười Nga cũng chấm hết. Đây là kết luận vội vã và hồ đồ. Đành rằng thành quả mà Cách mạng Tháng Mười Nga đem lại đã bị đổ vỡ tại ngay quê hương của nó, nhưng đó không phải là sự chấm dứt lý tưởng cao đẹp của Cách mạng Tháng Mười Nga.

      Vả chăng, lịch sử đã chứng minh, không có một cuộc cách mạng nào, kể cả các cuộc cách mạng vĩ đại nhất, lại đủ khả năng kết thúc ngay công việc xóa bỏ xã hội cũ và xây dựng xong ngay xã hội mới. Quá trình chuyển từ xã hội phong kiến lên xã hội tư bản chủ nghĩa đã phải trải qua hàng trăm năm với nhiều cuộc cách mạng tư sản: Cách mạng Anh năm 1688, các cuộc cách mạng tư sản Pháp vào các năm 1830, 1848, 1871.

      Sự đột phá của Cách mạng Tháng Mười Nga làm cho chủ nghĩa tư bản bị đổ vỡ một mảng lớn. Thế giới bừng tỉnh, bung ra với sức mạnh mới của sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa xã hội làm sụp đổ hoàn toàn hệ thống thuộc địa, giải phóng xã hội, giải phóng con người.

Thành quả của Cách mạng Tháng Mười Nga đã tạo cho loài người có khả năng kìm giữ sự lộng hành của chủ nghĩa tư bản, làm thay đổi cả những yếu tố bên trong của chủ nghĩa tư bản. Những thay đổi trong chiến lược kinh tế, chính trị để thích nghi, những thay đổi trong các chính sách phúc lợi xã hội ở các nước tư bản phát triển hiện nay đều bắt nguồn từ kết quả của xã hội đấu tranh của những người lao động và sâu xa hơn là được ảnh hưởng những yếu tố tích cực của Cách mạng Tháng Mười Nga.

Từ những phân tích trên đây, chúng ta càng thống nhất với nhận định của Đảng ta rằng, tình hình cụ thể trong từng thời kỳ của thế giới có những biến động nhưng điều đó không làm thay đổi nội dung của thời đại; loài người vẫn đang trong thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới vẫn tồn tại và phát triển, có mặt sâu sắc hơn, nội dung và hình thức biểu hiện có nhiều nét mới.


Thời đại mới do Cách mạng Tháng Mười Nga khai sáng

 

     Theo nghĩa chung nhất, thời đại lịch sử được hiểu là toàn bộ thời kỳ phát triển của một hình thái kinh tế-xã hội hoặc những giai đoạn chủ yếu trong hình thái ấy.

     Tuyên bố tại Hội nghị đại biểu các đảng cộng sản và công nhân các nước XHCN tháng 11-1957 tại Moscow (Liên Xô) đã khẳng định: “Nội dung cơ bản của thời đại chúng ta là sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mở đầu bằng Cách mạng Tháng Mười vĩ đại ở nước Nga”.

     Thực tế cho thấy, Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi và nhà nước XHCN đầu tiên ra đời năm 1917 đã đánh dấu chấm hết thời đại độc tôn của chủ nghĩa tư bản, mở ra thời đại mới, thời đại của sự quá độ lớn lao nhất trong lịch sử loài người, tiến tới một xã hội hiện thực không còn người bóc lột người, không còn nô dịch giữa người và người. Chế độ XHCN non trẻ đã vượt qua hàng loạt thử thách khắc nghiệt nhất của lịch sử, hiện diện cả ở châu Âu, châu Á, châu Mỹ, phát triển mạnh mẽ với nhiều ưu việt về chính trị, kinh tế, xã hội.

     Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định nhận thức rõ bản chất, nội dung của thời đại cũng như cục diện và tình hình thế giới là một nhiệm vụ hết sức quan trọng. Trong khi khẳng định thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta nhận rõ tình hình phức tạp, quanh co và rất lâu dài của quá trình chuyển biến xã hội nên đã hướng vào đánh giá trực tiếp những động thái, đặc trưng, xu hướng và tính chất trong giai đoạn hiện nay của thời đại.

     Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng năm 1991 đã nêu rõ: “Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc gay go, phức tạp của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Chủ nghĩa xã hội hiện đứng trước nhiều khó khăn, thử thách. Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co, song loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”.

     Tiếp đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nêu rõ: “Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là các nước với các chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thách thức nhưng sẽ có những bước tiến mới. Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”.


Luận điệu sai trái về thời đại ngày nay


     Nhận thức rõ đặc điểm và xu hướng phát triển của thời đại cũng như cục diện và tình hình thế giới là một việc rất cần thiết. Hiểu biết sâu sắc về thời đại giúp ta tìm thấy xu hướng tất yếu trong vô vàn những hiện tượng phức tạp, mang tính ngẫu nhiên của đời sống xã hội, giúp ta nhìn xa trông rộng, nắm bắt khuynh hướng và quy luật phát triển của nhân loại để vừa có thể lựa chọn được hướng đi phù hợp với sự phát triển của lịch sử; lường trước được những thách thức phức tạp, tránh được những vấp váp sai lệch trên đường đi; từ đó sẽ không bị chao đảo hoặc bị cuốn trôi trước phong ba bão táp của thời cuộc và đời sống chính trị quốc tế.

     V.I.Lenin từng chỉ rõ: Khi phân tích bất cứ vấn đề xã hội nào, phải đặt trong bối cảnh lịch sử nhất định, vì chỉ có dựa trên cơ sở hiểu biết những đặc điểm cơ bản của một thời đại, người ta mới có thể tính đến những đặc điểm chi tiết của nước này hay nước khác. Nói cách khác, vấn đề thời đại là căn cứ khách quan và tiền đề cần thiết để các chính đảng đi theo Chủ nghĩa Mác phân tích tình hình, xác định nhiệm vụ, phân chia trận tuyến, xây dựng chiến lược, hoạch định chính sách, triển khai thực hiện một cách khoa học.

     Chính vì lẽ đó, khi bàn về những vấn đề lớn của cách mạng, trước đây cũng như hiện nay, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta bao giờ cũng bắt đầu bằng việc phân tích đặc điểm, nội dung, xu thế phát triển của thời đại và nhận định các mặt của tình hình thế giới để xác định đúng con đường đi của cách mạng Việt Nam và đề ra đường lối đối nội, đối ngoại đúng đắn, sáng tạo.

     Đây là luận điệu sai trái cần phải phê phán, vì những lý do cơ bản sau:Cả trên phương diện lý luận và thực tiễn là như vậy, nhưng hiện nay, một số luận điệu sai trái cho rằng: Thật không tưởng khi nói thời đại ngày nay là quá độ lên chủ nghĩa xã hội, vì vậy, từ Đại hội XIII trở đi, không nên nói đến chủ nghĩa xã hội nữa. Cụ thể hơn, họ cho rằng làm gì có thời đại quá độ; nội hàm, đặc điểm, xu thế của thời đại là sự mơ hồ; hai nội dung cốt yếu của thời đại đã bị lịch sử phủ định. Bởi thế, khi không còn Liên Xô và hệ thống XHCN nữa thì Việt Nam làm sao có thể đi lên chủ nghĩa xã hội được.


Kiên quyết bảo vệ “hòn đá tảng” của Chủ nghĩa Mác-Lênin


         Điều khác biệt căn bản về chất so với các luận thuyết chính trị-xã hội có trong lịch sử, học thuyết hình thái kinh tế-xã hội của Mác là sự thống nhất biện chứng giữa tính khoa học và tính đảng, tính lý luận và thực tiễn.

         Trong Chủ nghĩa Mác-Lênin, lý luận về hình thái kinh tế-xã hội là một nội dung then chốt, nền tảng, nhờ nó mà quan niệm duy vật biện chứng về lịch sử không còn là một giả thuyết, mà được chứng minh bằng khoa học; trở thành kim chỉ nam chỉ đạo nhận thức và hành động của các đảng cộng sản và phong trào công nhân quốc tế.

         Mác và Ăng-ghen đã xác nhận rằng, học thuyết hình thái kinh tế-xã hội chính là kết quả lớn nhất mà hai ông đã đạt được, nó trở thành kim chỉ nam cho mọi sự nghiên cứu sau này.

      Phải chăng vì lẽ đó, những người theo chủ nghĩa cơ hội, xét lại hiện đại dưới mọi màu sắc luôn tập trung công kích, bài xích, phủ nhận lý luận mác-xít về hình thái kinh tế-xã hội với hy vọng từ đó phủ nhận toàn bộ Chủ nghĩa Mác-Lênin.

         Họ lớn tiếng phê phán “sai lầm chủ yếu trong học thuyết về lịch sử của Mác là học thuyết về hình thái kinh tế-xã hội”. Từ đó, họ ra sức lý tưởng hóa mô hình xã hội tư bản hiện đại, tán dương các học thuyết xã hội phi mác-xít, chứng minh “tính hợp lý” của học thuyết của Avin Tốp-lơ với ý đồ dùng nó để thay thế học thuyết hình thái kinh tế-xã hội của Mác; phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

         Chúng ta không phủ nhận những yếu tố hợp lý trong các học thuyết xã hội ngoài mác-xít, đáng kể là thành tựu cũng như vai trò của khoa học và công nghệ hiện đại, về sự phát triển của lực lượng sản xuất, về đẩy mạnh giáo dục và đào tạo với sự tiếp thu “hạt nhân hợp lý” của nó để nâng cao trình độ dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài...

      Song cần thấy rõ hơn những khiếm khuyết, hạn chế của các học thuyết đó, nhất là việc né tránh giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất và các quan hệ xã hội khác với vấn đề giải phóng con người, xóa bỏ áp bức, bóc lột và các vấn đề xã hội khác như chiến tranh và hòa bình...Không phải ngẫu nhiên mà Thời báo Los Angeles (Mỹ), phát hành sau sự kiện cuộc đảo chính tại Liên Xô ngày 19-8-1991, đã nhận định: Tư tưởng xã hội của Chủ nghĩa Mác vẫn còn ghi dấu ấn không thể xóa bỏ trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận.

           Nhiều vấn đề chính trị học, xã hội học, kinh tế học của thế giới đương đại đều được phân tích bằng lăng kính của Chủ nghĩa Mác, thậm chí còn được phân tích, sử dụng từ những khái niệm mác-xít. Cựu Tổng thống Mỹ R.Nixon, trong cuốn “Chớp lấy thời cơ-thách thức mới đối với Hoa Kỳ trong thế giới một siêu cường” cũng phải thừa nhận: “Học thuyết Mác vẫn đang được hâm mộ trong các trường đại học ở Mỹ và Tây Âu”.

         Hiểu đúng sự thật, tôn trọng sự thật thì phải thừa nhận rằng, Chủ nghĩa Mác-Lênin là học thuyết duy nhất từ trước đến nay bàn về mục tiêu, con đường, điều kiện, lực lượng và phương thức đấu tranh giải phóng triệt để xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người khỏi áp bức bóc lột, bất công, tha hóa, đói nghèo dưới mọi hình thức; đem lại cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

           Lẽ phải duy nhất là Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ ra những quy luật vận động, phát triển của thế giới khách quan, sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản và sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản; đưa giai cấp công nhân và những người dân lao động từ nô lệ lên địa vị làm chủ xã hội.

           Bản chất khoa học, cách mạng của học thuyết hình thái kinh tế-xã hội của Chủ nghĩa Mác-Lênin thể hiện ở tính tất yếu khách quan của sự ra đời học thuyết, ở việc khẳng định sản xuất vật chất là cơ sở quyết định sự tồn tại và phát triển lịch sử xã hội loài người, ở quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, ở mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, ở việc khẳng định sự phát triển của các hình thái kinh tế-xã hội là quá trình lịch sử-tự nhiên...

             Không thể lấy cách tiếp cận khác, ví như cách tiếp cận lịch sử các nền văn minh, các làn sóng văn minh, hoặc cách tiếp cận của sự phát triển khoa học, công nghệ, kỹ thuật... để thay thế học thuyết hình thái kinh tế-xã hội của Chủ nghĩa Mác-Lênin, mặc dù trong các cách tiếp cận của các học thuyết ngoài mác-xít có một số yếu tố khoa học, chúng ta có thể chắt lọc, tiếp thu, kế thừa trên tinh thần phê phán để phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, làm giàu có Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Điểm nhấn cần nhận thức đúng bản chất khoa học, cách mạng của học thuyết hình thái kinh tế-xã hội của Chủ nghĩa Mác-Lênin là ở chỗ, Mác làm nổi bật vai trò quyết định-xét đến cùng-của nhân tố kinh tế. Tuy nhiên, Mác, Ăng-ghen và Lênin không bao giờ coi kinh tế là nhân tố duy nhất quyết định sự vận động, phát triển của lịch sử.

Về vấn đề này, Ăng-ghen đã khẳng định rõ ràng: “Theo quan niệm duy vật về lịch sử, xét đến cùng là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực. Cả tôi lẫn Mác chưa bao giờ khẳng định gì hơn thế. Còn nếu có ai đó xuyên tạc luận điểm này theo ý nghĩa nhân tố kinh tế là nhân tố quyết định duy nhất, thì người đó biến lời khẳng định này thành một câu trống rỗng, trừu tượng, vô nghĩa. Tình hình kinh tế là cơ sở hạ tầng, nhưng các yếu tố khác của kiến trúc thượng tầng... cũng có ảnh hưởng đến quá trình của cuộc đấu tranh lịch sử và trong nhiều trường hợp chiếm ưu thế trong việc quyết định hình thức của cuộc đấu tranh ấy"(1).

Mác chỉ ra vai trò quyết định của sản xuất vật chất đối với sự tồn tại và phát triển xã hội, con người, loài người. Nếu không có hoạt động sản xuất vật chất, thì con người và xã hội loài người không thể tồn tại và phát triển. Ngoài chức năng đầu tiên và trực tiếp này, con người thông qua lao động sản xuất vật chất còn sản xuất ra chính bản thân mình.

Ăng-ghen khẳng định: “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người... lao động đã sáng tạo ra bản thân con người”(2).

Đây là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học để chúng ta tiếp tục vận dụng sáng tạo học thuyết hình thái kinh tế-xã hội của Chủ nghĩa Mác vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và chính nó là vũ khí lý luận sắc bén để chúng ta đứng vững trên mặt trận tư tưởng, lý luận; kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm, luận điệu xuyên tạc, phản động, bảo vệ chân lý khoa học của Chủ nghĩa Mác- Lênin trước sự tấn công từ nhiều phía của kẻ thù; kiên quyết giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà chúng ta đạt được sau hơn 35 năm đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng ta.

Tiến hành đồng bộ, kết hợp chặt chẽ trong phòng, chống tham nhũng và tiêu cực


     Theo Từ điển tiếng Việt, tham nhũng là "lợi dụng quyền hành để hạch sách nhũng nhiễu dân", cho nên, tham nhũng là sản phẩm của sự tha hóa, lạm dụng, lợi dụng quyền lực để mưu lợi cho cá nhân và người thân. Theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, tham nhũng là hành vi của những người có chức vụ, quyền hạn khi họ lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được trao, được đảm nhiệm nhằm mục đích vụ lợi cho cá nhân, người thân, nhóm lợi ích... Đó là các hành vi: Tham ô tài sản; nhận hối lộ; lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi... và đó cũng chính là các biểu hiện của sự suy thoái.

     Vì tham nhũng là một loại hành vi tiêu cực do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện; là một loại biểu hiện cụ thể của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, cho nên phòng và đấu tranh chống tham nhũng luôn là một nhiệm vụ quan trọng, được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm; được đẩy mạnh trong những nhiệm kỳ gần đây.

     Đặc biệt, những biểu hiện tiêu cực mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra lúc sinh thời về cơ bản cũng nằm trong số 27 biểu hiện suy thoái mà Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã nêu; trong đó, tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống chính là biểu hiện rõ nét nhất của sự tiêu cực đang diễn ra trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức thuộc các cơ quan công quyền.

     Thực tiễn chỉ ra rằng, tham nhũng và các biểu hiện tiêu cực đều là "kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng công việc của ta... Nó làm hỏng tinh thần trong sạch và ý chí khắc khổ của cán bộ ta. Nó phá hoại đạo đức cách mạng của ta là cần, kiệm, liêm, chính". Do đó, không phải ngẫu nhiên lần đầu tiên vấn đề phòng, chống tham nhũng lại được ghi rõ tại khoản 2, Điều 8 Hiến pháp năm 2013: "Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải... kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền".

     Do đó, phòng và đấu tranh chống tham nhũng, chống các biểu hiện tiêu cực không chỉ cần phải được tiến hành đồng thời, đồng bộ mà còn phải có sự kết hợp, gắn bó chặt chẽ với nhau, để phát huy hiệu quả của từng bộ phận và bảo đảm tính toàn diện của nhiệm vụ quan trọng này.