Thứ Năm, 17 tháng 2, 2022

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC BÔI NHỌ HÌNH ẢNH VÀ TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

 Thời gian qua các tổ chức và cá nhân phản động thường tung những thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch về hình ảnh và tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm các tổ chức phản động lưu vong, nhất là những phần tử trong chế độ cũ; một số chính phủ, tổ chức phi chính phủ phương Tây, chính trị gia, nhà tài phiệt có tư tưởng cực hữu chính trị, chống cộng…, đi đầu trong âm mưu xóa bỏ chủ nghĩa xã hội; những phần tử cơ hội, cực đoan, bất mãn chính trị trong nước; những đối tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, suy thoái, biến chất, “trở cờ”,… Phương thức và thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, xảo quyệt, đặc biệt chúng giả danh trí thức, khoác áo “khách quan khoa học”, đội lốt “phản biện xã hội” để tuyên truyền, đánh tráo học thuật, xảo biện các vấn đề cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh; triệt để lợi dụng những đặc tính vốn là ưu thế nổi trội của các phương tiện truyền thông xã hội biến thành công cụ đắc lực chống phá con đường và sự nghiệp cách mạng Việt Nam… Việc nhận diện bản chất, bóc trần các thủ đoạn, từ đó xây dựng niềm tin đối với nhân dân, nâng cao tinh thần cảnh giác, kiên trì đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái, thù địch xuyên tạc về tư tưởng Hồ Chí Minh, qua đó góp phần giữ vững trận địa tư tưởng, củng cố địa vị chủ đạo hệ tư tưởng của Đảng ta trong đời sống tinh thần của toàn xã hội, nội dung chúng thường xuyên tạc vào mấy vấn đề sau: 

Thứ nhất, phản bác luận điệu liên quan đến việc phủ nhận Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng. Để thực hiện âm mưu xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, “hạ bệ thần tượng”, các thế lực thù địch và các phần tử phản động, cơ hội chính trị dùng nhiều chiêu trò, cách thức khác nhau. Họ xuất phát từ quan niệm học thuật phương Tây, cường điệu hóa, tán dương những nhà tư tưởng, triết học tư sản, từ đó cho rằng “Hồ Chí Minh không phải là nhà tư tưởng”.

Nhưng chúng không hiểu rằng, Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng thiên tài, nhà lý luận kiệt xuất. Tư tưởng của Người không chỉ ở những câu chữ hoặc trước tác mà nằm ở chiều sâu nội dung và ý nghĩa cao cả của nó, vừa kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, chứa đựng khát vọng cháy bỏng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thấm đẫm triết lý nhân sinh, thân dân... Ở Hồ Chí Minh thể hiện sự thống nhất, hòa quyện giữa tư tưởng, đạo đức và phong cách; giữa lý luận và thực tiễn; giữa tri và hành; giữa lời nói và việc làm. Dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, xuất phát từ thực tiễn và nguyện vọng của quần chúng bị áp bức, Hồ Chí Minh đã thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc mình và góp phần giải phóng các dân tộc thuộc địa. Do đó, có thể hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh với ý nghĩa là “học thuyết”, là một hệ thống những luận điểm, quan điểm về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam được xây dựng trên một nền tảng thế giới quan và phương pháp luận duy vật biện chứng nhất quán, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, được hình thành theo đúng quy luật phát triển và trở lại chỉ đạo hoạt động thực tiễn, cải tạo hiện thực khách quan.

Thứ hai, phản bác luận điệu khẳng định không có tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội. Các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc rằng, Hồ Chí Minh có quan điểm sâu sắc về giải phóng dân tộc, nhưng hoàn toàn không có tư tưởng về chủ nghĩa xã hội. Họ xảo biện rằng, toàn bộ sự nghiệp cách mạng do Hồ Chí Minh lãnh đạo tập trung cho giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước... Những luận điệu xuyên tạc trên không chỉ bài bác tư tưởng Hồ Chí Minh, mà còn nham hiểm tách biệt tư tưởng Hồ Chí Minh với bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. 

Nhưng sự thật là, Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, để đấu tranh chống ách áp bức, bóc lột tàn bạo, vô nhân đạo, đấu tranh xóa bỏ nghèo nàn, “giặc dốt” và lạc hậu, nhằm tạo ra một xã hội mới theo mục tiêu, lý tưởng tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội. Đây là vấn đề hiện hữu trên thế giới, có ý nghĩa thời đại cấp bách cần phải giải quyết. Cống hiến lớn của Hồ Chí Minh cho cách mạng Việt Nam là tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó là sự lựa chọn duy nhất đúng, một đột phá lý luận rất cơ bản về con đường, mục tiêu và phương thức phát triển của cách mạng. Từ cách mạng giải phóng dân tộc phải đi tới cách mạng xã hội chủ nghĩa và trong khi tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa vẫn tiến hành giải phóng dân tộc theo phương thức thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng. Theo Người, trong hoàn cảnh một nước thuộc địa thì trước hết phải giành cho kỳ được độc lập dân tộc. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì. Muốn có độc lập, tự do thực sự thì phải xây dựng chủ nghĩa xã hội. Người chỉ rõ: “Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác - Lê-nin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”. Về lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội trong di sản Hồ Chí Minh, Giáo sư Shingo Shibata viết: “Một trong những cống hiến quan trọng của Cụ Hồ Chí Minh và của Đảng Lao động Việt Nam là đã đề ra lý luận về chủ nghĩa xã hội trong khi vẫn tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân. Theo tôi được biết, Đảng Lao động Việt Nam là đảng đầu tiên trong các đảng mác xít trên thế giới áp dụng lý luận này”.

Thứ ba, phản bác luận điệu cho rằng không có nghị quyết của UNESCO tôn vinh Hồ Chí Minh là nhà văn hóa kiệt xuất.

Những tổ chức, cá nhân phản động chúng cố tình đưa ra luận điệu xuyên tạc này không chỉ nhằm bôi nhọ, hạ thấp hình tượng lãnh tụ Hồ Chí Minh, mà còn tấn công vào những giá trị của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa được xây dựng trên cơ sở hệ giá trị tư tưởng cách mạng của giai cấp công nhân, kế thừa, phát triển tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại, mà ở Người chính là sự hội tụ và phát huy đến mức cao nhất những tinh hoa văn hóa đó.

Sự thực là, Quyển 1 của Nghị quyết trong Tập biên bản của Đại hội đồng UNESCO Khóa họp 24 tại Pari, ngày 20-10 - 20-11-1987 có đầy đủ nội dung liên quan đến việc tổ chức kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và tôn vinh Người là “Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất Việt Nam”. Quyển 1 Nghị quyết được xuất bản bằng 6 thứ tiếng, có kích thước khổ giấy A4 (20cm x 30cm), bìa màu xanh lá cây đậm, dày 220 trang. Năm 2010, liên quan đến sự kiện Nghị quyết của UNESCO, ông Hans D’Orville, Phó Tổng Giám đốc UNESCO đã phát biểu tại lễ mít-tinh tại Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp: Năm 2010 là dịp kỷ niệm lần thứ 120 Ngày sinh của Người, và đây cũng là dịp để chúng ta ôn lại sự kiện cách đây hơn 20 năm, vào năm 1987, tổ chức UNESCO đã quyết định kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (năm 1990) như một trong những nhân vật quan trọng và kiệt xuất của lịch sử nhân loại.

Thứ tư, phản bác luận điệu cho rằng tư tưởng, đạo đức của Hồ Chí Minh đã “lỗi thời”, không còn phù hợp trong tình hình hiện nay.

Chúng cố tình xuyên tạc rằng, hiện nay là thời đại của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, khoa học - công nghệ hiện đại, thời đại 4.0..., nên những tư tưởng hay những quan niệm về đạo đức của Hồ Chí Minh đã bộc lộ những “sự lỗi thời”, “lạc hậu”, “không còn phù hợp” với thời đại...

Sự thật là, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên sức sống và giá trị thời đại, bởi bản chất cách mạng, khoa học và nhân văn của chính những tư tưởng, đạo đức đó và bởi sự vận dụng sáng tạo những tư tưởng vượt trước thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam, của Đảng Cộng sản Việt Nam, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa chiến lược và sách lược cách mạng trong toàn bộ tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trải qua gần 92 năm từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta luôn kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh;... là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động.

Đảng ta khẳng định, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đi đến thắng lợi; hơn thế còn dẫn đường cho nhân loại đi đến hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Trên cương vị Chủ tịch Hội đồng hòa bình thế giới, ông Romesh Chandra viết: “Bất cứ nơi nào chiến đấu cho độc lập tự do, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Bất cứ ở đâu chiến đấu cho hòa bình và công lý, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Ở bất cứ đâu, nhân dân chiến đấu cho một thế giới mới, chống lại đói nghèo, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao”.

Để đưa dân tộc ta vững bước tới tương lai, một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu đặt ra, là phải đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đồng thời kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh bằng tất cả sức mạnh của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta mà vai trò làm nòng cốt là đội ngũ cán bộ, đảng viên và đội ngũ trí thức trong toàn xã hội./.

TĂNG CƯỜNG BẢO VỆ AN NINH QUỐC GIA TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG

 Đại hội lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang phát triển mạnh mẽ trên toàn thế giới, các thế lực thù địch, phản động luôn lợi dụng thành tựu khoa học - kỹ thuật để chống phá Việt Nam, đặc biệt là gia tăng các hoạt động tuyên truyền phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng, do đó, để bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng, chúng ta cần làm tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

Thứ nhất, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho người dân, nhất là các cán bộ, đảng viên về âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, phá hoại của các thế lực thù địch, phản động trên không gian mạng; Từ thực tiễn cho thấy, không gian mạng đã, đang và sẽ là môi trường để các thế lực thù địch tìm mọi cách lợi dụng vào các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước ta. Hoạt động thường xuyên, phổ biến của chúng trên không gian mạng là tuyên truyền phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Trong khi đó, số lượng người dân Việt Nam được tiếp cận, sử dụng in-tơ-nét ngày càng nhiều, kiến thức, kỹ năng về tự bảo vệ bản thân trên không gian mạng của một bộ phận không nhỏ người dân còn hạn chế, dẫn đến tình trạng số lượng người dân tiếp cận với các thông tin tuyên truyền, phá hoại tư tưởng của các thế lực thù địch ngày một lớn, dễ bị các đối tượng lôi kéo, tuyên truyền các quan điểm sai trái, thù địch. Để mỗi người dân có thể “miễn dịch” với các luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của kẻ địch và cao hơn có thể trở thành chiến sĩ kiên trung, đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, chúng ta cần tiếp tục tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức cảnh giác, để mỗi người dân có thể nhận thức rõ âm mưu, hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng của các tổ chức và cá nhân phản động, thù địch trong tình hình hiện nay.  

Thứ hai, tổ chức tốt các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng; Thời gian gần đây xuất hiện ngày càng nhiều các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng, từ hoạt động của các đối tượng tình báo, gián điệp, phản động, cho tới các loại đối tượng tội phạm khác, nhất là tội phạm công nghệ cao. Chính vì vậy, yêu cầu làm tốt công tác phòng, ngừa, phát hiện, đấu tranh chống các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng ngày càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Các cấp, các ngành cần làm tốt công tác quản lý, giám sát không gian mạng để phòng ngừa và phát hiện sớm các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng. Phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và  của cả hệ thống chính trị trong đấu tranh phòng, chống các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng. Bồi dưỡng xây dựng đội ngũ, lực lượng nòng cốt có trình độ chuyên môn giỏi, tinh nhuệ, tinh thông nghiệp vụ, đủ khả năng đấu tranh với các loại tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng.     

Thứ ba, phòng ngừa không để xảy ra chiến tranh mạng; Mặc dù chưa xảy ra chiến tranh mạng, tuy nhiên, thời gian qua, chúng ta đã chứng kiến nhiều hoạt động tấn công mạng rất nguy hiểm, gây ra những thiệt hại lớn cho Việt Nam. Do đó, yêu cầu phòng ngừa không để chiến tranh mạng xảy ra là hết sức cần thiết. Để đối phó với nguy cơ xảy ra chiến tranh mạng, chúng ta phải triển khai ngay các giải pháp tổng thể, đồng bộ bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng, khẩn trương nghiên cứu và có giải pháp hiệu quả phòng, chống chiến tranh mạng, chiến tranh điện tử, chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao, chiến tranh thông tin. Tăng cường quản lý nhà nước về an ninh thông tin, an ninh không gian mạng quốc gia trong lĩnh vực an ninh - quốc phòng, bảo vệ vững chắc các cơ sở hạ tầng quân sự, mục tiêu trọng yếu; có chiến lược phát triển nhân lực chuyên ngành công nghệ thông tin trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Đầu tư trọng điểm xây dựng các đơn vị an ninh mạng, tác chiến điện tử đủ mạnh để thực hiện nhiệm vụ phòng thủ quốc gia trên không gian mạng, sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống, đặc biệt khi có xảy ra chiến tranh mạng.   

Thứ tư, tăng cường công tác bảo đảm an ninh, an toàn thông tin trên không gian mạng; Để bảo đảm an ninh, an toàn thông tin trên không gian mạng, trước hết cần chú trọng công tác bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, tăng cường tuyên truyền, phổ biến kiến thức về bảo đảm an ninh, an toàn thông tin cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chủ động phòng ngừa những sơ hở, thiếu sót, không để các thế lực thù địch, phản động và các loại đối tượng tội phạm lợi dụng xâm phạm hệ thống thông tin, thu thập, chiếm đoạt bí mật nhà nước, thông tin nội bộ gây phương hại đến an ninh quốc gia, lợi ích của các cơ quan, tổ chức và cá nhân. Tuân thủ các quy định của Luật An toàn thông tin mạng năm 2015. Chấp hành nghiêm các quy định về bảo mật nhà nước, quy chế phát ngôn, cung cấp thông tin, tài liệu. Kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý nghiêm các hành vi làm mất an ninh, an toàn thông tin; lộ, lọt bí mật nhà nước, thông tin nội bộ hoặc lợi dụng bí mật nhà nước, thông tin nội bộ để thực hiện các hành vi trái pháp luật.

Thứ năm, khẩn trương đào tạo nguồn nhân lực công nghệ thông tin chất lượng cao, đủ về số lượng, bảo đảm chất lượng, đồng thời nghiên cứu, nắm bắt, tiến tới chủ động về công nghệ, trang thiết bị và dịch vụ mạng; Chúng ta có đội ngũ kỹ sư, chuyên gia công nghệ thông tin đông đảo nhưng số lượng làm việc trong các cơ quan nhà nước còn hạn chế. Đáng chú ý là, số lượng người có chuyên môn giỏi về an ninh, an toàn thông tin mạng còn thiếu, đặc biệt là trên lĩnh vực bảo mật mạng. Chính vì vậy, trong thời gian tới, cần có chiến lược đào tạo phù hợp để có nguồn nhân lực đủ cả về số lượng và bảo đảm về chất lượng, có thể đáp ứng được những đòi hỏi, yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đặt ra. Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác nghiên cứu, hợp tác quốc tế, chuyển giao công nghệ, tự chủ sản xuất các trang thiết bị, tiến tới có thể tự chủ trong sử dụng, cao hơn là tự sản xuất các trang thiết bị và ứng dụng dịch vụ mạng ngang tầm với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới./.

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN NHỮNG ĐÓNG GÓP TO LỚN CỦA NGÀNH Y TẾ CHỈ VÌ MỘT VÀI VỤ VIỆC TIÊU CỰC

 Trong suốt hơn hai năm qua kể từ đợt bùng phát dịch lần thứ nhất đến nay, đội ngũ y bác sĩ nói riêng và toàn bộ lực lượng y tế nói chung đã gồng mình chống dịch và được gọi bằng từ “tuyến đầu” như cách trước giờ vẫn gọi những người trực tiếp chiến đấu với quân thù. Trong cuộc chiến chống dịch, với phương châm chỉ đạo “chống dịch như chống giặc”, lực lượng y tế đã không quản ngại vất vả, khó khăn, nguy hiểm, hy sinh để bảo vệ, chăm sóc sức khỏe người dân, trong nhiều trường hợp trực tiếp cứu chữa người bệnh trong cơn thập tử nhất sinh. Nhiều người đã tạm gác cuộc sống riêng tư rất đỗi bình thường như gần gũi với người thân, được nghỉ ngơi sau giờ làm việc, được làm những điều mình muốn… để xông pha nơi “tuyến đầu”. Một số người đã nhiễm bệnh và vẫn thực hiện những công việc trong điều kiện sức khỏe của mình lúc đang dưỡng bệnh với tinh thần hỗ trợ tối đa cho đồng nghiệp, chăm sóc hết sức cho người bệnh. Có người đã không may mắn và đã ra đi giữa lúc dịch bệnh vẫn còn diễn biến phức tạp và đồng nghiệp thì đang cần người giúp sức.

Vào lúc cao điểm của dịch bệnh xảy ra như ở Đà Nẵng, Bắc Giang, Hải Dương, đặc biệt tại Thành phố Hồ Chí Minh và hiện nay vẫn còn diễn biến phức tạp trên cả nước, đã có nhiều hình ảnh, câu chuyện, đoạn phim ghi lại sự tất bật của các y bác sĩ, khắc lại vết hằn trên khuôn mặt vì phải đeo khẩu trang liên tục, phản ánh chân thực sự nhọc nhằn và hy sinh… Báo chí, mạng xã hội đã lan tỏa những điều đó và hầu hết chúng ta đã hơn một lần lắng lòng, xúc động. Từ đó, chúng ta càng thấy mình phải có trách nhiệm hơn trong việc tự bảo vệ bản thân và gia đình, càng tự giác thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch cũng như tình nguyện tham gia một số hoạt động hỗ trợ cộng đồng trong công tác này, nhằm “chia lửa” cho tuyến đầu và hỗ trợ những người yếu thế để họ nhanh chóng qua khỏi cơn dịch bệnh này.

Dịch bệnh kéo dài trong hai năm qua đã bộc lộ những hạn chế về một số mặt trong đời sống xã hội, trong đó có những bất cập của ngành y tế, như lực lượng quá mỏng so với nhu cầu trong một bối cảnh đặc biệt, y tế dự phòng và tuyến cơ sở còn quá nhiều hạn chế, tình trạng thiếu thốn thiết bị, phương tiện diễn ra ở hầu hết các địa phương trên cả nước, kể cả các địa phương đã có tâm thế sẵn sàng để ứng phó với những tình huống mang tính thảm họa của ngành và một bộ phận y bác sĩ cũng chưa đầy đủ… Thực trạng này có những yếu tố khách quan, như chúng ta chưa từng phải đối phó với một thảm họa mang tính khẩn cấp và rộng khắp như vậy, do điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước còn hạn chế nên việc bố trí nhân sự đủ và trang bị hiện đại, ngay cả việc hỗ trợ của quốc tế trong bối cảnh cả thế giới đều phải gồng mình chống dịch cũng khó thực hiện được như mong đợị.

Thật đáng tiếc, vụ kit test Việt Á gần đây được phát hiện và phanh phui, có thể coi là một vụ việc ít nhiều làm giảm uy tín của ngành y tế, nhất là sau một số trường hợp tiêu cực khác có liên quan đến công tác phòng, chống dịch. Dù vậy, ở góc độ tích cực, đây là một nỗ lực của Đảng và Nhà nước đã chỉ đạo các cơ quan chức năng trong việc đưa ra ánh sáng các hành vi sai trái nhằm trừng trị đích đáng những kẻ trục lợi trên sức khỏe và tính mạng của người dân và giữ vững kỷ cương, pháp luật. Thật đáng buồn, một số kẻ cơ hội chính trị đã không chia sẻ và đồng cảm với gian nan vất vả của ngành y tế, những đau thương mất mát của đồng bào, thay vào đó chúng lớn tiếng rêu rao viết bài nhằm công kích vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước là yếu kém là để xảy ra tham nhũng...vv.

Dù vậy, chúng ta cũng phải thừa nhận có những hạn chế, yếu kém mang tính chủ quan. Trong đó, đáng nói nhất là sự tham lam, ích kỷ (vốn được Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát thành “chủ nghĩa cá nhân”) cũng như sự suy thoái, thiếu tu dưỡng, thiếu bản lĩnh của một số ít người, nên đã không vượt qua được cám dỗ của lợi ích vật chất tầm thường, nhất là trong lúc cả hệ thống chính trị đang nỗ lực chống dịch, sự giám sát, kiểm tra của tổ chức có phần lơi lỏng. Đáng nói là có cả những người vì thiếu kiên quyết, không đủ trách nhiệm với cộng đồng, chưa đủ lòng nhân ái trước nỗi đau của đồng bào, đã bị gian thương xỏ mũi, lôi kéo, mua chuộc và sa vào cạm bẫy của lợi ích vật chất. Cho dù lý do gì chăng nữa, trục lợi bất chính khi bản thân là thầy thuốc, khi người dân đang chịu nhiều tổn thất, mất mát do dịch bệnh cũng là hành vi không thể chấp nhận, vừa trái với đạo lý vừa vi phạm pháp luật.

Chỉ tính riêng trong năm 2021, đã có 25 cá nhân ở ngành y tế trong các vụ án lớn bị khởi tố, bắt giam, trong đó có một số vụ liên quan trực tiếp đến công tác phòng chống dịch. Có vụ việc gây bức xúc không nhỏ trong xã hội, bởi tính chất nghiêm trọng và làm ảnh hưởng đến niềm tin của người dân đối với ngành nói riêng và hệ thống chính trị nói chung. Mặc dù vậy, chúng ta cũng thấy rằng; so với vi phạm pháp luật ở các lĩnh vực khác và so với tổng số cán bộ, nhân viên của ngành thì các con số này có thể không phải quá nhiều. Chúng ta không bao biện cho họ, những cũng công bằng mà nói, ngành nào, lĩnh vực nào cũng có những cá nhân suy thoái, biến chất, dù chúng ta không chấp nhận người thầy thuốc lại thiếu lương tâm, vô đạo đức nhưng điều đó cũng không hoàn toàn tránh khỏi. Nhìn nhận như vậy để thấy rằng các vi phạm trong ngành y tế vừa qua tuy rất đáng trách nhưng cũng có thể lý giải được và không thể để “Một con sâu làm rầu nồi canh”.

Chúng ta luôn mong muốn cán bộ ngành y tế phải luôn thể hiện tinh thần “lương y phải như từ mẫu”, cũng như người thầy giáo thì “phải như mẹ hiền”, nhưng không vì thế mà hoàn toàn không có các cá nhân tiêu cực, hư hỏng. Cũng không vì một số vụ việc như thế mà phủ nhận toàn bộ các nỗ lực và đóng góp của ngành trong hoạt động thực tiễn, nhất là suốt trong các đợt dịch vừa qua. Chúng ta tin tưởng quyết tâm chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng và Nhà nước, nhất là qua “chiến dịch đốt lò” do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khởi xướng, với việc xử lý nhiều trường hợp cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước vi phạm. Do đó, những “con sâu” trong ngành y tế chắc chắn sẽ bị phát hiện và trừng trị thích đáng.

Từ những sai sót khuyết điểm của ngành y tế nói riêng và hệ thống chính trị ở các cấp nói chung, hẳn cần những ý kiến hiến kế, những đề xuất giải pháp để khắc phục những hạn chế, khuyết điểm mà qua các đợt chống dịch đã bộc lộ rõ. Những ý kiến đó cần sự chân thành đóng góp, cần tính xây dựng hơn là chỉ bẻm mép phê phán, công kích, cơ hội chính trị để thổi phồng, xuyên tạc của những kẻ xấu, hòng phủ nhận toàn bộ nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta trong công tác phòng, chống dịch nói riêng và trong tất cả các hoạt động lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đối với toàn xã hội nói chung./.

MỘT SỐ TRỌNG TÂM CHỦ YẾU ĐẶT RA NHẰM BẢO VỆ AN NINH QUỐC GIA TRÊN MÔI TRƯỜNG KHÔNG GIAN MẠNG

 Như chúng ta đã biết, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang phát triển mạnh mẽ trên toàn cầu, các thế lực thù địch, phản động luôn lợi dụng thành tựu khoa học - kỹ thuật để chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, đặc biệt là gia tăng các hoạt động tuyên truyền phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng, do đó, để bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng. Trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”. Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Đảng, chúng ta cần làm tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

Thứ nhất, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho nhân dân, đặc biệt đối với cán bộ, đảng viên về âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, phá hoại của các thế lực thù địch, phản động trên môi trường không gian mạng. Các hoạt động của chúng trên không gian mạng là tuyên truyền phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng cộng sản Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong khi đó, số lượng người dân Việt Nam được tiếp cận, sử dụng in-tơ-nét ngày càng nhiều, kiến thức, kỹ năng về tự bảo vệ bản thân trên không gian mạng của một bộ phận không nhỏ người dân còn hạn chế, dẫn đến tình trạng số lượng người dân tiếp cận với các thông tin tuyên truyền, phá hoại tư tưởng của các thế lực thù địch ngày một lớn, dễ bị các đối tượng lôi kéo, tiêm nhiễm các quan điểm thù địch, sai trái. Để mỗi người dân có thể “miễn dịch” với các loại vi rút này cao hơn và có thể trở thành chiến sĩ kiên trung, đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, chúng ta cần tiếp tục tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức cảnh giác, để mỗi người dân có thể nhận thức rõ âm mưu, hoạt động xâm phạm đến an ninh quốc gia trên không gian mạng mà các đối tượng phản động luôn rình dập chống phá.  

Thứ hai, làm tốt công tác phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng. Thời gian gần đây, xuất hiện ngày càng nhiều các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng, từ hoạt động của các đối tượng tình báo, gián điệp, phản động, cho tới các loại đối tượng tội phạm khác, nhất là tội phạm công nghệ cao. Chính vì lẽ đó, yêu cầu làm tốt công tác phòng, ngừa, phát hiện, đấu tranh chống các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng ngày càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ. Cần làm tốt công tác quản lý, giám sát không gian mạng để phòng ngừa và phát hiện sớm các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng. Huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của cả hệ thống chính trị trong đấu tranh phòng, chống các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng. Đầu tư xây dựng lực lượng nòng cốt có chuyên môn giỏi, tinh nhuệ, đủ khả năng đấu tranh với các loại tội phạm công nghệ cao xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng thật sự có hiệu quả.      

Thứ ba, làm tốt công tác phòng ngừa không để xảy ra chiến tranh mạng. Để đối phó với nguy cơ xảy ra chiến tranh mạng, chúng ta phải triển khai ngay các giải pháp tổng thể, đồng bộ bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng, khẩn trương nghiên cứu và có giải pháp hiệu quả phòng, chống chiến tranh mạng, chiến tranh thông tin, chiến tranh điện tử, chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao. Tăng cường quản lý nhà nước về an ninh thông tin, an ninh không gian mạng quốc gia trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc các cơ sở hạ tầng quân sự, mục tiêu trọng yếu; có chiến lược phát triển nhân lực chuyên ngành công nghệ thông tin trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Đầu tư trọng điểm xây dựng các đơn vị an ninh mạng, lực lượng tác chiến điện tử đủ mạnh để thực hiện nhiệm vụ phòng thủ quốc gia trên không gian mạng, sẵn sàng ứng phó trong mọi tình huống chiến tranh mạng xảy ra.   

Thứ tư, làm tốt công tác bảo đảm an ninh, an toàn thông tin trên không gian mạng. Chủ động phòng ngừa những sơ hở, thiếu sót, không để các thế lực thù địch, phản động và các loại đối tượng lợi dụng xâm phạm hệ thống thông tin, thu thập, chiếm đoạt bí mật nhà nước, thông tin nội bộ gây phương hại đến an ninh quốc gia, lợi ích của các cơ quan, tổ chức và cá nhân. Tuân thủ các quy định của Luật An toàn thông tin mạng ban hành năm 2015. Chấp hành nghiêm các quy định về bảo mật nhà nước, quy chế phát ngôn, cung cấp thông tin, tài liệu. Kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi làm mất an ninh, an toàn thông tin; lộ, lọt bí mật nhà nước, thông tin nội bộ hoặc lợi dụng bí mật nhà nước, thông tin nội bộ để thực hiện các hành vi trái pháp luật.

Thứ năm, tăng cường xây dựng nguồn nhân lực công nghệ thông tin chất lượng cao, đủ về số lượng bảo đảm chất lượng, đồng thời nghiên cứu, nắm bắt, chủ động về công nghệ, trang thiết bị và dịch vụ mạng. Chúng ta có đội ngũ kỹ sư, chuyên gia công nghệ thông tin đông đảo nhưng số lượng làm việc trong các cơ quan nhà nước còn hạn chế, trong đó, không ít người giỏi, có năng lực chuyên môn tốt đã chuyển ra ngoài khu vực Nhà nước làm việc. Đáng chú ý là, số lượng người có chuyên môn sâu về an ninh, an toàn thông tin mạng còn thiếu, đặc biệt là trên lĩnh vực bảo mật mạng. Do đó, trong thời gian tới, cần có chiến lược đào tạo phù hợp để có nguồn nhân lực đủ cả về số lượng và bảo đảm về chất lượng, nhằm đáp ứng được những đòi hỏi, của yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra trong tình hình mới./.

“GIÁO DÂN TỐT TRƯỚC HẾT PHẢI LÀ CÔNG DÂN TỐT”

 

         Đó là lời phát biểu nhấn mạnh của Hồng y Ivan Dias, Bộ trưởng Bộ truyền giáo, Đặc sứ của Giáo hoàng Vatican trong chuyến thăm và làm việc tại Việt Nam.

        Sở dĩ muốn nhắc lại câu nói ấy là bởi vừa qua, tại một số địa phương miền Trung có chuyện vài linh mục cực đoan kích động, tụ tập giáo dân lấn chiếm đất công, xây dựng công trình trái phép; lợi dụng hoạt động tôn giáo để tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; bất hợp tác với chính quyền, gây áp lực không cho giáo dân tham gia vào các sự kiện, hoạt động tại địa phương... Hành vi của một số vị linh mục cực đoan như nói trên là trái cả về pháp luật và giáo luật.

        Đúng như Hồng y Ivan Dias nhấn mạnh mỗi giáo dân trước hết phải là một công dân. Đã là công dân thì phải có nghĩa vụ chấp hành nghiêm pháp luật, làm tròn bổn phận công dân đối với xã hội và đất nước, giữ đúng đạo đức công dân. Tại Việt Nam, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Bình đẳng trước pháp luật được coi là một nguyên tắc Hiến định, không chỉ thể hiện trong Hiến pháp năm 2013 mà bình đẳng còn được cụ thể hóa trong các lĩnh vực cụ thể của quan hệ pháp luật.

        Điều 16 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội.” Theo đó, nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật phải bảo đảm tất cả mọi người đều có vị thế ngang nhau trước pháp luật và mọi công dân, nam, nữ thuộc các dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội khác nhau trong một quốc gia đều không bị phân biệt đối xử trong việc hưởng quyền, nghĩa vụ và chịu trách nhiệm pháp lý theo quy định của pháp luật.

       Theo tinh thần ấy, các vị linh mục cực đoan không thể lấy tín ngưỡng, tôn giáo để tự cho mình cái quyền đứng ngoài pháp luật. Việc làm như đã nêu của một số vị linh mục cực đoan là hành vi vi phạm pháp luật và nhất định phải xem xét xử lý bằng các chế tài theo quy định của pháp luật.

      Còn xét về mặt giáo luật thì những việc làm của các vị linh mục như đã nói trên cũng trái với lời răn của Chúa và của Giáo hội. Có lẽ chúng ta đều hiểu mục đích hoạt động của các tôn giáo nói chung và Thiên chúa giáo nói riêng là hướng đến những điều tốt đẹp, khuyên răn con người ta “tu nhân tích đức”, làm việc thiện, vì lợi ích của quốc gia, dân tộc; tránh làm những điều sai trái, bạc ác hoặc kích động, lôi kéo, khích lệ người khác làm những điều sai trái...

       Thực tế cũng chứng minh quan điểm, tư tưởng và phương hướng hoạt động của Giáo hội là rất nhân văn, trong sáng, hợp với lòng người, với đời sống pháp luật. Mặt khác, kính Chúa, yêu nước, sống “tốt đời, đẹp đạo” để phụng sự Thiên chúa, phục vụ Tổ quốc và dân tộc là truyền thống tốt đẹp của đồng bào Công giáo.

       Hành vi của các vị linh mục kia không chỉ trái với lời răn của Chúa và của Giáo hội mà còn đi ngược truyền thống tốt đẹp ấy của đồng bào Công giáo. Chắc chắn những vị linh mục có giáo phẩm cao họ sẽ không bao giờ hành động vô lối, trái đời, ngược đạo như vậy.

       Lịch sử Việt Nam đã chỉ ra rằng, bất kỳ tôn giáo nào nếu hòa đồng với dân tộc, chấp hành nghiêm pháp luật, có quan hệ tốt với chính quyền hướng tới cùng phát triển khối đại đoàn kết toàn dân, tham gia giữ gìn sự ổn định xã hội nhằm đưa đất nước đi lên thì luôn được trân trọng.

       Trái lại, nếu tôn giáo nào chỉ đặt lợi ích riêng của tôn giáo mình lên trên tất cả, bất chấp pháp lý thì khó lòng tìm được sự ủng hộ của nhân dân. Đây không phải chỉ là vấn đề ứng xử mà cao hơn thế còn là vấn đề đạo lý. Các vị linh mục cực đoan nói trên cần sớm ý thức được vấn đề và dừng ngay những hành động trái đời, ngược đạo./.

                                                                                                Chang Đước

Kiên định, kiên quyết bảo vệ những giá trị khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin

 


Lý luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác cũng như lý tưởng và sức sống mãnh liệt của Cách mạng Tháng Mười Nga là những giá trị vĩnh hằng, có sức sống trường tồn cùng nhân loại bởi “cái ngày vĩ đại ấy càng cách xa chúng ta thì ý nghĩa của cuộc CMVS Nga càng trở nên rõ rệt, chúng ta cũng càng suy nghĩ sâu về toàn bộ kinh nghiệm thực tiễn của công tác của chúng ta”(1), thấy rõ hơn giá trị và ý nghĩa hiện thực của Cách mạng Tháng Mười Nga; đặc biệt là những cống hiến vĩ đại của Lênin đối với việc khai mở con đường thực hiện tiến bộ xã hội, đưa các dân tộc thuộc địa thoát khỏi ách áp bức, bóc lột, trở thành chủ nhân xây dựng cuộc sống mới, sống trong hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc.

Chúng ta nhận thức sâu sắc rằng, phát triển không phải là một đường thẳng mà có lúc sẽ diễn ra quanh co, phức tạp. Sự  ra đời, tồn tại, phát triển và sụp đổ của các nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô trong thập kỷ 90 của thế kỷ 20 phần nào đã nói lên sự “dích dắc” đó. Song, không vì thế mà tiến trình lịch sử bị đảo lộn, bị “ngưng đọng”, “thụt lùi”.

Theo quy luật tiến hóa của loài người, lịch sử vẫn tiếp tục vận động và phát triển. Những tổn thất từ sự sụp đổ của một số nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô là đáng tiếc nhưng nó chỉ có thể làm chậm bước tiến của nhân loại trên con đường đi lên CNXH.

Song, nó cũng nói lên rằng, các thế lực thù địch không thể và không bao giờ xóa bỏ được lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga cũng như mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH mà Đảng, Bác Hồ và dân tộc ta đã lựa chọn. Điều này đã được Đảng ta khẳng định: “Lịch sử đang trải qua những bước quanh co, phức tạp, song “loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới CNXH, vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”(2).

Vì vậy, khi nói về ý nghĩa thắng lợi của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Đó là thắng lợi của lý tưởng cộng sản, của Cách mạng Tháng Mười Nga, thắng lợi của chủ nghĩa Mác-Lênin.

Thắng lợi của cách mạng Việt Nam đã chỉ ra một chân lý không thể nào bác bỏ, đó là bất cứ một xã hội nào đã tỏ ra lỗi thời, đi ngược lại lợi ích của nhân dân, của dân tộc, cản trở tiến bộ xã hội thì tất yếu sẽ bị thay thế bởi một chế độ xã hội khác cao hơn, tiến bộ hơn; đó là xã hội XHCN-giai đoạn đầu của CNCS.

Con đường xóa bỏ sự lạc hậu, lỗi thời, tệ nạn người áp bức, bót lột người là đi theo tấm gương Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại.

Sự sụp đổ của chế độ XHCN theo mô hình Xô viết ở Liên Xô và các nước Đông Âu đem lại cho chúng ta nhiều bài học sâu sắc, cần suy ngẫm, rút kinh nghiệm để chỉ đạo sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay: Bất luận trong điều kiện, hoàn cảnh nào, người cộng sản đều phải kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga, con đường cách mạng vô sản, luôn độc lập, tự chủ, năng động, sáng tạo, thường xuyên đổi mới, tỉnh táo đi lên CNXH. 

Trong đó, đổi mới nhận thức, bổ sung, phát triển lý luận về đường lối đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc phù hợp với thời cuộc hiện nay có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Học tập, tin theo Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta cần đổi mới nhận thức, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn cách mạng Việt Nam. Làm tốt điều này là thiết thực bảo vệ và góp phần tăng thêm sức sống cho chủ nghĩa Mác-Lênin - nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện lịch sử mới.

Có thể nói rằng, lý luận về đường lối đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo là một sáng tạo trong vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Không thể vì sự sụp đổ của chế độ XHCN theo mô hình Xô viết ở Liên Xô và Đông Âu mà ai đó đã vội quy kết, coi nó là “sự phá sản”, “sự sụp đổ” của chủ nghĩa Mác-Lênin, của lý luận về CNXH khoa học hay sự thất bại của lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga.

Đó chỉ là sự ngộ nhận và là quan điểm hoàn toàn sai trái, cần loại bỏ. Trái lại, những gì đã diễn ra ở Liên Xô và các nước Đông Âu những năm 90 của thế kỷ 20 là minh chứng khẳng định rằng, trong tình hình hiện nay, bất cứ đảng cộng sản nào và bất cứ ai, nếu coi thường chủ nghĩa Mác-Lênin, đi ngược lại lý tưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga, thì tất yếu sẽ mắc phải sai lầm về chính trị, và mọi sai lầm đều phải trả giá đắt: Đảng Cộng sản mất vai trò lãnh đạo; chế độ XHCN sụp đổ, xã hội sẽ rơi vào rối loạn, nhân dân sẽ đau khổ, lầm than. Đó là kết cục đáng tiếc về sự sai lầm, khinh thường chủ nghĩa Mác-Lênin.

Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, ngay từ khi mới ra đời cho đến nay, đặc biệt từ Đại hội VII (1991), Đảng đã khẳng định lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động.

Làm cho chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội. Do vậy, kiên trì, kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề có tính nguyên tắc số một đối với Đảng ta, vì điều căn cốt này liên quan trực tiếp đến sinh mệnh của Đảng, sự tồn vong của chế độ ta.

Một trong những yêu cầu, giải pháp hàng đầu để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu phấn đấu mà Đại hội XIII của Đảng vạch ra là bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới, đặc biệt là nghiên cứu, khai thác những giá trị quý báu của chủ nghĩa Mác-Lênin, toàn bộ di sản mà Người để lại cho nhân loại, đặc biệt là lý luận về xây dựng đảng mác xít kiểu mới, về chính sách kinh tế mới (NEP), về chiến tranh và hòa bình...

Qua đó, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn chủ nghĩa Lênin-ngọn nguồn bí mật đã đưa lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác, trở thành người cộng sản đầu tiên của Việt Nam và Người đã mở ra con đường mới cho cách mạng Việt Nam-con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.

HAIVAN

Bảo vệ những giá trị cơ bản của chủ nghĩa Lênin cũng là bảo vệ những giá trị, nền tảng căn cốt của chủ nghĩa Mác

 


Giống như C.Mác và Ph.Ăng-ghen trong thế kỷ 19, V.I.Lênin xuất hiện trong thế kỷ 20 với tư cách là một nhà bác học vĩ đại nhất trong cách mạng và thực hiện cuộc cách mạng vĩ đại nhất trong khoa học; là một trong những người có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong thế kỷ 20.

Chủ nghĩa Lênin trở thành cấu phần quan trọng trong nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam và là kim chỉ nam cho hành động của các đảng cộng sản trên thế giới.

Lênin là người kế tục trung thành, bảo vệ và phát triển sáng tạo các học thuyết khoa học, cách mạng của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, đã lãnh đạo Đảng Cộng sản Bolshevik (b) và nhân dân Nga làm cuộc cách mạng long trời lở đất, xóa bỏ chế độ áp bức, bóc lột người; giành thắng lợi vĩ đại trong cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, mở ra thời đại mới-thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản (CNTB) lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) và cách mạng vô sản (CMVS) trên phạm vi toàn thế giới.

Với việc bảo vệ và phát triển sáng tạo cả 3 bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác trước sự tấn công từ nhiều phía của các thế lực thù địch và cơ hội chính trị, Lênin đã bổ sung, phát triển toàn diện, đồng bộ cả 3 bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác: Triết học, Kinh tế học chính trị và Chủ nghĩa xã hội khoa học với hệ thống luận điểm mới, sáng tạo; nâng tầm cao thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác, đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của cuộc CMVS trong giai đoạn CNTB độc quyền chuyển thành chủ nghĩa đế quốc-đêm trước của CMVS.

Sự cống hiến vĩ đại của Lênin đã làm cho chủ nghĩa Mác sống động hơn, trở thành hệ thống lý luận hoàn bị nhất, chắc chắn nhất, trở thành “công cụ nhận thức vĩ đại” để giai cấp công nhân nhận thức và cải tạo thế giới.

Với ý nghĩa đó, chủ nghĩa Lênin được coi là sản phẩm phát triển chín muồi của chủ nghĩa Mác trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, là sự hội tụ, kết tinh, liên tục đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững hệ tư tưởng vô sản, khẳng định sự tất thắng của mục tiêu, con đường đi tới CNXH của giai cấp công nhân và nhân loại tiến bộ trong thời đại cách mạng XHCN.

Lênin đã nâng tầm cao uy tín, vị thế, giá trị và ý nghĩa lý luận-thực tiễn của chủ nghĩa Mác; nêu tấm gương mẫu mực về sự trung thành, đổi mới sáng tạo trong kế thừa, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-hệ tư tưởng của giai cấp vô sản trong điều kiện lịch sử mới.

Lênin coi chủ nghĩa Mác là một hệ thống mở, bởi ông cho rằng lý luận của C.Mác mới chỉ đặt nền móng cho một bộ môn khoa học mà những người cộng sản cần phải phát triển hơn nữa, nếu không muốn trở thành lạc hậu và bị cuộc sống đào thải.

Sự thống nhất biện chứng về quan điểm, lập trường thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng giữa chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa Lênin đã gắn chặt tên tuổi, cuộc đời, sự nghiệp của các ông với giai cấp công nhân, với hệ tư tưởng của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh xóa bỏ mọi áp bức, bóc lột, bất công; xây dựng chế độ xã hội mới tốt đẹp-xã hội XHCN.

Vì lẽ đó, chủ nghĩa Lênin được coi là chủ nghĩa Mác trong thời đại mới-thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH và CMVS trên phạm vi toàn thế giới.

Chủ nghĩa Mác đã được tiếp nối bằng sức sống đầy sinh khí của chủ nghĩa Lênin trên cơ sở thống nhất biện chứng giữa lập trường, quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa cộng sản (CNCS). Vì vậy, chủ nghĩa Lênin chính thức trở thành chủ nghĩa Mác-Lênin - nguồn năng lượng dồi dào, động lực mới tạo nên sức mạnh vô địch và là cấu phần rất quan trọng trong nền tảng tư tưởng của các đảng cộng sản.

Trong chiều sâu của sợi dây chuyền ấy, người có công kết nối, xây dựng, tạo nên tượng đài dân tộc Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh trong lòng nhân dân thế giới là Nguyễn Tất Thành-Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh.

Với linh hồn sống động của chủ nghĩa Mác là phép biện chứng duy vật và giá trị nhân văn sâu sắc, Lênin đã giải quyết thỏa đáng mối quan hệ biện chứng giữa trung thành và sáng tạo, bảo vệ và phát triển, lý luận và thực tiễn, đưa chủ nghĩa Mác-Lênin trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của các đảng cộng sản.

Quan điểm của Lênin về cách mạng XHCN có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, vạch ra con đường đi tới với triển vọng thắng lợi của CMVS ở một số nước, thậm chí ở một nước, đồng thời nhấn mạnh vai trò chủ động, tích cực sáng tạo của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh chống mọi loại kẻ thù.

Để cách mạng thắng lợi hoàn toàn, Lênin yêu cầu phải bảo đảm quyền lãnh đạo tuyệt đối của giai cấp công nhân, đứng đầu là bộ tham mưu chiến đấu có tổ chức và là tổ chức cao nhất là Đảng Cộng sản. Cùng với đó, phải xây dựng khối liên minh công nông và khối đại đoàn kết giữa các dân tộc vững chắc; kiên quyết thực hiện chuyên chính vô sản; ra sức đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội; làm cho CNXH ngày càng nhiều hơn, dân chủ nhiều hơn.

Chìa khóa để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng XHCN là sự giác ngộ và làm chủ vận mệnh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đặc biệt là việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ của Đảng và sử dụng hiệu quả tầng lớp trí thức XHCN.

HAIVAN

 

Câu chuyện về LÁ CỜ ĐỎ SAO VÀNG

 


Lá cờ đỏ sao vàng lần đầu tiên xuất hiện trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (23-11-1940), phấp phới tung bay trước trụ sở cách mạng ở Mỹ Tho, Vĩnh Long. Tác giả của lá cờ là Nguyễn Hữu Tiến, nguyên là thầy giáo, sinh ngày 5-3-1901 tại xã Yên Bắc, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam ngày nay.

Nǎm 1927, Nguyễn Hữu Tiến tham gia tổ chức Thanh niên cách mạng đồng chí hội, được cử làm phó bí thư tỉnh Đảng bộ năm 1930. Nǎm 1931 ông bị bắt và bị địch đưa ra nhà tù Côn Đảo. Nǎm 1935, Nguyễn Hữu Tiến cùng một số tù chính trị vượt ngục Côn Đảo, trở về đất liền, ông hoạt động cách mạng tại Cần Thơ, sau đó được phân công phụ trách công tác tuyên truyền, in ấn tài liệu cách mạng.

Đêm 22 rạng 23-11-1940, cuộc khởi nghĩa Nam kỳ bùng nổ mãnh liệt. Ở tỉnh Mỹ Tho, cuộc khởi nghĩa nổ ra quyết liệt nhất là tại xã Long Hưng (nay thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang). Từ trong cao trào khởi nghĩa, chính quyền cách mạng tỉnh Mỹ Tho được thành lập và lần đầu tiên, lá cờ đỏ sao vàng đã xuất hiện ở tại đây. Viết về sự kiện này, quyển "Mỹ Tho - Gò Công trong cuộc khởi nghĩa Nam kì (1940)" do Ban Tuyên giáo Tiền Giang xuất bản năm 2001 cho biết: "Ngay trong ngày 23-11-1940, chính quyền cách mạng tỉnh Mỹ Tho được thành lập và tổ chức cuộc mít tinh có hơn 3.000 người tham dự tại đình Long Hưng để ra mắt nhân dân. Lần đầu tiên, lá cờ đỏ sao vàng năm cánh xuất hiện trên ngọn cây bàng, trước đình Long Hưng". Từ Long Hưng - Mỹ Tho, lá cờ đỏ sao vàng đã tung bay khắp Nam kỳ trong những ngày cuối tháng 11-1940 lịch sử. Cuộc khởi nghĩa Nam kỳ bị thực dân Pháp đàn áp, khủng bố dã man; nhưng lá cờ đỏ sao vàng luôn hiện hữu trong trái tim nhiệt tình cách mạng của mỗi người, động viên nhân dân ta vững bước trên con đường đấu tranh giải phóng dân tộc.

Tháng 5-1941, tại Pắc Bó (Cao Bằng), hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 được triệu tập dưới sự chủ trì của lãnh tụ Hồ Chí Minh, hội nghị đã hoàn chỉnh sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng của Đảng, tiếp tục nêu cao vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu và quyết định thành lập tổ chức Việt Nam Độc lập Đồng minh (gọi tắt là Mặt trận Việt Minh). Cả Nghị quyết Trung ương 8 và Chương trình hành động của Việt Minh đều ghi là, sau khi đánh đuổi đế quốc Pháp - Nhật sẽ lập nên Chính phủ nhân dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lấy cờ đỏ sao vàng làm Quốc kỳ. (Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 7, Nxb. Chính trị quốc gia - Hà Nội - 2000, tr.466-471). Được biết, lá cờ đỏ sao vàng treo tại buổi lễ thành lập Việt Minh hiện được lưu giữ ở Bảo tàng cách mạng Việt Nam tại Hà Nội.

Ngày 16-8-1945 tại Tân Trào (Tuyên Quang), Đại hội Quốc dân được triệu tập. Đại  hội đã tán thành quyết định tổng khởi nghĩa của Đảng, lập ra Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, quy định Quốc ca là bài "Tiến quân ca" và Quốc kỳ là cờ đỏ sao vàng. Liền sau đó, Hồ Chủ tịch đã gửi thư đến đồng bào cả nước, kêu gọi nhân dân nổi dậy tổng khởi nghĩa, giành chính quyền; trong đó có đoạn: "Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên!" (Hồ Chí Minh: Toàn tập, xuất bản lần thứ hai, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.3, tr. 553 – 554). Ngày 17-8-1945, một lá cờ đỏ sao vàng có diện tích đến 48 mét vuông (6m x 8m) đã được xuất hiện trước tiền sảnh Nhà hát lớn Hà Nội, tạo nên sự phấn khích to lớn của quần chúng thủ đô. Ông Trần Lâm - một trong hai người trực tiếp treo lá cờ đó - kể lại: "Cuộc mít tinh bắt đầu, khi lá cờ của chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim được kéo lên thì tôi và anh Nam cũng mở lá cờ đỏ sao vàng từ trên tầng hai buông xuống. Lá cờ to rộng, sáng chói, nổi bật trên cao. Sự kiện này làm đảo lộn tình thế. Tất cả những người dự cuộc mít tinh đều sững sờ. Trong tay họ đang cầm những lá cờ nhỏ tự nhiên giơ lên vẫy vẫy và hò hét như sấm".

Cuộc khởi nghĩa Tháng 8-1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời kể từ ngày 2-9-1945 lá cờ đỏ sao vàng tung bay từ Bắc đến Nam, từ miền xuôi đến miền ngược, đến tận cùng các hải đảo xa xôi. Lá cờ đỏ sao vàng reo vui trong những ngày chiến thắng Điện Biên, ngày giải phóng Thủ đô, ngày thống nhất đất nước.

Lá cờ đỏ sao vàng còn là niềm kêu hãnh của dân tộc ở vĩ tuyến 17 khi cuộc chiến đang diễn ra hết sức khốc liệt. Lá cờ Tổ quốc không một ngày vắng bóng cho đến ngày đất nước hoàn toàn giải phóng. Lá cờ đỏ sao vàng trong thời điểm ấy là điểm hội tụ tình cảm thiêng liêng của đồng bào miền Nam hướng về Bác Hồ kính yêu, mãi mãi trở thành linh hồn của dân tộc.

Thật cảm động khi chúng ta nghe lại những câu chuyện của những chiến sĩ ở giới tuyến giữ lá cờ Tổ quốc. Lá cờ Tổ quốc lúc đầu được dựng lên trên một cây phi lao cao 12 mét ở bờ bắc sông Bến Hải, đầu cầu Hiền Lương, phía bờ Nam quân ngụy cắm cờ trên nóc lô cốt Xuân Hòa cao 15 mét. Theo yêu cầu của đồng bào miền Nam, cờ đỏ của Tổ quốc ta phải cao hơn cờ ngụy. Thế rồi các đồng chí biên phòng lặn lội vào rừng sâu mang về một cây gỗ cao 18 m. Niềm vui không được bao lâu, chính quyền Ngô Đình Diệm chở sắt thép từ Sài Gòn ra dựng một trụ cờ cao 25 mét. Đồng bào miền Nam lại nhắn sang bờ Bắc phải xây trụ cờ cao hơn chúng. Để thực hiện ý nguyện của đồng bào ngày 19-7-1957, quân và dân Vĩnh Linh lại dựng trụ cờ bằng sắt cao 34,5 mét sơn màu trắng. Lúc này cờ đỏ sao vàng  bay cao hơn cờ ngụy, ít lâu sau trụ cờ của ngụy nâng cao hơn 35 mét. Năm 1962, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho chở vật liệu từ Hà Nội  vào xây trụ cờ  mới cao 38,6 mét. Lá cờ rộng 120 mét vuông, nặng 15 kg phấp phới tung bay - ngày ngày vẫy gọi đồng bào chiến sĩ giữ vững niềm tin tất thắng.  Nhưng đối với các chiến sĩ đồn Hiền Lương không phải ít vất vã khi lá cờ tung bay giữa một vùng trời lộng gió. Chỉ cần một cơn gió nhẹ có thể làm rách lá cờ, chưa nói máy bay các loại của kẻ thù pháo kích từ Cồn Tiên, Dốc Miếu, từ hạm đội 7 ném bom, bắn phá cột cờ. Không có đêm nào mà các chiến sĩ biên phòng cùng các bà mẹ miền Bắc không ngồi lại để khâu vá lá cờ để sáng hôm sau lại kéo lên trên bầu trời của Tổ quốc. Quốc kỳ của Việt Nam được tô thắm bằng xương máu của biết bao chiến sĩ, đồng bào. Lá cờ đỏ sao vàng là niềm tự hào của dân tộc, phát huy truyền thống đấu tranh vô cùng anh dũng của giống nòi Lạc Việt đánh đổ chế độ thực dân phát xít, giành lại độc lập tự do. Lá cờ đỏ sao vàng năm cánh ngày nay trở nên quen thuộc với bạn bè  khắp năm châu và được thế giới tin yêu./.

Bia kỷ niệm Khánh Khê - chuyện "một nửa sự thật"...

 

Câu chuyện về tấm bia chiến thắng ở Khánh Khê (Cao Lộc, Lạng Sơn) đã và vẫn đang bị nhiều kẻ lợi dụng để xuyên tạc suốt hơn 10 năm qua, và năm nay cũng vậy. Hình ảnh tấm bia cũ ghi lại chiến thắng của Sư Đoàn 337 (còn gọi là Bia Chiến thắng Khánh Khê) với những vết đập phá, đục bỏ chữ từ bao lâu nay mỗi năm đều được "người ta" lật lại, đăng lên mạng với những nội dung kích động, thoá mạ cho rằng chính quyền muốn xoá bỏ chứng tích tội ác xâm lược của quân bành trướng và vùi lấp chiến công, xương máu của những người đã hi sinh bảo vệ biên giới Tổ quốc...

Tấm bia cũ bị phá bỏ thì năm nào cũng đăng lại, nhưng nó chỉ là một nửa sự thật. Chưa bao giờ, và chắc chắn không bao giờ những kẻ ấy muốn và sẽ đăng nốt phần sự thật còn lại là nguyên nhân vì sao tấm bia ấy bị phá bỏ và người ta đã xây dựng lại một công trình khác to đẹp hơn, khang trang hơn để thay thế cho tấm bia cũ ấy, ở ngay gần đó. Sở dĩ người ta phải phá bỏ tấm bia cũ là bởi nó nằm trong khu vực công trường xây dựng Thuỷ Điện Thác Xăng và nếu có để lại thì nó cũng sẽ bị ngập mất dấu khi công trình thuỷ điện được hoàn thành. Đồng thời với việc phá bỏ bia cũ, người ta (chính quyền và Sư Đoàn 337 - Sư Đoàn Khánh Khê) đã xây dựng một khu kỷ niệm và tưởng niệm mới với nhà bia và bia đá khang trang, đẹp đẽ toạ ở vị trí trên đồi cao thoáng đãng hướng thẳng xuống cầu Khánh Khê nơi in dấu chiến công của Sư đoàn 337 ngày trước.

"Một nửa cái bánh mì thì vẫn là bánh mì, nhưng một nửa sự thật thì không còn là sự thật". Thật đáng tởm lợm những kẻ vẫn đang lấy cái hình ảnh "một nửa sự thật" kia đi để xuyên tạc, kích động đồng bào. "Lộng giả thành chân" - cái giả dối mà phổ biến và lặp đi lặp lại nhiều lần thì sẽ đến lúc người ta mặc nhiên xem nó là sự thật!

                                                                                                            Lão chăn bò

SÒNG PHẲNG VỚI LỊCH SỬ KHÔNG PHẢI LÀ KÍCH ĐỘNG HẬN THÙ

 


Chiến tranh biên giới phía Bắc đã kết thúc 43 năm (17/2/1979 - 17/2/2022) nhưng những vết thương mà nó gây ra trong lòng người dân Việt Nam vẫn không bao giờ nguôi ngoai. Nhiều người dân Trung Quốc đã hiểu sai cơ bản về cuộc chiến tranh biên giới đó. Nhưng tính chính nghĩa của Việt Nam trong cuộc chiến đó là sự thật không thể chối cãi.

Cuộc chiến này đã gây ra nhiều thiệt hại cả về sinh mạng và tài sản; đã tàn phá nhiều làng mạc, nhiều chiến sĩ và người dân đã ngã xuống trên khắp dải biên cương để bảo vệ đất nước. Xung đột biên giới kéo dài suốt nhiều năm sau đó cũng khiến Việt Nam phải gồng mình cho hai cuộc chiến tranh ở hai đầu đất nước, không thể phát triển kinh tế một cách toàn diện.

Xin thưa rằng, chiến tranh là điều không một ai muốn vì khi nó xảy ra thì ngọc đá đều tan. Chúng ta hôm nay ôn lại lịch sử chứ, sòng phẳng với lịch sử.  Ôn lại không phải kích động hận thù mà thế hệ sau được biết đất nước ta đã kinh qua giai đoạn lịch sử như vậy.

Nghiên cứu về cuộc chiến tranh này, ôn lại lịch sử không phải để khơi lại, gây chia rẽ thù hằn giữa hai dân tộc mà nhằm nhắc nhở để dân ta nhớ, biết ơn và tôn vinh những chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh để bảo vệ biên cương Tổ quốc, như chúng ta đã và sẽ vẫn tôn vinh bao nhiêu anh hùng liệt sĩ trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và trân quý nền hòa bình hiện tại

Ôn lại lịch sử để càng thêm yêu quý giá trị của hòa bình, tri ân cha ông đã hiến máu xương để có ngày hôm nay. Ôn lại mốc lịch sử là để chúng ta trân quí hòa bình nhưng khi kẻ thù xâm lược sức mạnh toàn dân đồng tâm đoàn kết yêu nước nồng nàn kẻ thù nào cũng thảm bại. Ôn lại là nhớ ơn tưởng nhớ đồng bào đã hy sinh vì giữ vững biên cương để Tổ quốc tự do độc lập.

Chúng ta gác xung đột để phát triển kinh tế và xây dựng đất nước, không có nghĩa là chúng ta quên những tội ác mà chiến tranh đã gây ra. Hãy luôn ghi nhớ những sự kiện như thế này, nhìn vào lịch sử để thấy rằng chiến tranh không phải trò đùa.

43 năm rồi nhưng đó vẫn luôn như 1 bài học, 1 sự nhắc nhở từ lịch sử minh chứng cho chân lý bất diệt “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”, để ta vẫn đoàn kết nhưng mất cảnh giác thì không bao giờ. Đồng thời, cũng để thấy rõ hơn rằng: Kẻ mạnh không phải là kẻ giẫm lên vai người khác để thỏa mãn lòng ích kỉ. Kẻ mạnh phải là kẻ giúp đỡ người khác trên đôi vai của mình.

                                                                                                        <Hoa Xuân>

NHỮNG NGUỴ BIỆN VONG BẢN

 


1. Không cần đánh Pháp thì cũng độc lập?

Chẳng khác nào bị ăn cướp rồi ngồi chờ ăn cướp trả lại. Và tất cả các cuộc kháng chiến chống xâm lăng của Việt Nam và các nước khác trên thế giới là sai lầm?!

Algeria nhờ tấm gương Việt Nam mà vùng lên đánh Pháp mới giành được độc lập. Việt Nam cũng đã qua 100 năm chờ Pháp trả độc lập mà chúng có chịu trả không? Đánh cho tơi bời chúng mới cút nhưng vẫn để lại cái vĩ tuyến 17 oan nghiệt. Còn đặc biệt người thổ dân da đỏ đã chờ 500 năm rồi, người anglo saxon đã trả độc lập cho họ đâu?

Và tại sao người Mỹ không ngồi đó chờ thực dân Anh ban bố độc lập mà phải đánh lại mẫu quốc?

Nếu có trách thì phải trách Pháp, Mỹ và tay sai người Việt chứ không thể trách người kháng chiến, đó là trách ngược! Cuộc kháng chiến có thể đã không xảy ra nếu Mỹ không ủng hộ Pháp quay lại Việt Nam.

Không bao giờ có chuyện tự nhiên độc lập được trao trả. Con đường chính trị VN đã thử đó là chịu độc lập trong khối liên hiệp Pháp, nhưng Pháp chỉ muốn một chính quyền bù nhìn như Bảo Đại tức là mọi thứ vẫn như cũ và Pháp đã nổ súng tấn công trước nên cuộc kháng chiến mới chính thức nổ ra.

Điểm ngụy biện ở đây là: xem kẻ xâm lược là văn minh và đạo đức.

2. Mỹ không xâm lược VN?

Hành động gọi là xâm lược không chỉ gói gọn ở trường hợp xâm chiếm lãnh thổ nước khác rồi sát nhập vào của mình mà còn là trường hợp trực tiếp can thiệp chính trị quân sự vào một quốc gia, cướp đoạt chủ quyền phục vụ cho lợi ích đế quốc của mình.

Cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ thuộc vào trường hợp thứ hai.

Mỹ quyết định can thiệp trực tiếp khi Pháp thua và biết rằng nếu tổng tuyển cử xảy ra, 80% dân sẽ bầu cho Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mỹ đã cướp đoạt chủ quyền VN bằng cách dùng cơ quan tình báo CIA xây dựng chính quyền cho Diệm, một người không có công lao kháng Pháp và không có một lực lượng chính trị hậu thuẫn ở VN để tự xây dựng chính quyền.

CIA tiến hành chiến tranh tâm lý phá hoại miền Bắc và lừa gạt lôi kéo người Công giáo miền Bắc vào Nam để hy vọng xây dựng một hậu thuẫn chính trị cho Diệm.

Khi Diệm trở nên bất kham, Mỹ bật đèn xanh cho tướng tá ngụy gi*ết Diệm. Rõ ràng ông chủ thực sự của chính quyền ngụy là Mỹ chứ không phải tổng thống ngụy.

Khi nhắm thấy quân ngụy không thể thắng trong một cuộc đối đầu quân sự với MTDTGPMN, Mỹ đã trực tiếp đem quân vào. Cuộc xâm lược quân sự bắt đầu.

Quân đội Mỹ phải trực tiếp nhảy vào vì quân đội ngụy phần lớn là những người bị ép buộc nên không có tinh thần chiến đấu. Và sau khi tất cả các chiêu trò được tung ra đều thất bại, Mỹ phải đưa ra chiến lược cuối cùng là "Việt Nam hóa chiến tranh, thay màu da trên xác c*hết". Cái tên của chiến lược này đã chứng minh hùng hồn cuộc chiến trước đó là cuộc chiến Mỹ-Việt và Mỹ đã xâm lược Việt Nam.

Nếu cuộc chiến của Mỹ không phải là xâm lược thì nhà Thanh đã không xâm lược Việt Nam khi đem quân vào miền Bắc giúp Lê Chiêu Thống khôi phục nhà Lê. Nhà Lê so với chính quyền Diệm còn có chính danh hơn vì nguyên thủy nó không phải là do nhà Thanh dựng lên như Mỹ dựng lên VNCH.

Điểm ngụy biện ở đây là: Xem quân Mỹ và CIA chuyên làm từ thiện!!!

3. Mỹ vào VN là để giúp miền Nam, giúp Việt Nam?

Mỹ giúp thực dân Pháp tái chiếm và bình định Việt Nam.

Pháp thua thì Mỹ trực tiếp nhảy vào cướp chủ quyền chia cắt Việt Nam.

Mỹ dựng lên chính quyền độc tài gia đình trị của Ngô Đình Diệm và các chính quyền độc tài quân sự sau đó và Mỹ mới là chủ nắm đầu đằng sau.

Mỹ đã tàn phá gần như toàn bộ đất nước Việt Nam: ném b*om bừa bãi, rải chất độc làm c*hết hàng triệu dân thường. Di chứng hậu quả của sự tàn bạo đó còn tồn tại cho đến ngày hôm nay và cả trăm năm sau.

Đào khoét sâu thêm chia rẽ dân tộc.

Những mục tiêu, việc làm như trên của Mỹ ở Việt Nam là phá chứ không phải giúp Việt Nam.

Điểm ngụy biện ở đây là: xem chuyện Pháp và Mỹ gi*ết người Việt Nam là việc nghĩa.

Long Hiếu