Thứ Hai, 4 tháng 4, 2022

NÓI KHÔNG ĐI ĐÔI VỚI LÀM - “ BỆNH TRỌNG” CẦN GIẢI NGUY, CHỮA GẤP!

         Người xưa từng răn dạy “Nói chín thì phải làm mười/Nói mười làm chín kẻ cười người chê”. Dẫu đã làm được chín phần, chỉ có một phần không làm được như lời đã nói, đã hứa thì cũng bị kẻ cười, người chê! Thế mà thời nay, một bộ phận cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) không những nói và làm không nhất quán, nói không đi đôi với làm, hứa nhiều làm ít, mà nguy hại hơn là nói một đằng, làm một nẻo.
Cũng là một biểu hiện mị dân, lừa dân
Hệ lụy đáng nói nhất là khi những người có chức, có quyền chỉ nói mà không làm, chỉ hứa hão mà không thực hiện, chỉ thích nói hay làm dở, nói suông làm giả, thậm chí làm những việc trái ngược hoàn toàn với những điều mình đã nói thì họ không chỉ tự bêu gương xấu trước thiên hạ, mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến niềm tin của nhân dân vào thể chế chính trị, bộ máy công quyền và những người giữ vai trò “cầm cân nảy mực” trong xã hội.
Thực ra vấn nạn “nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít, nói hay làm dở, nói một đằng làm một nẻo” không phải chỉ tồn tại trong một bộ phận CB, ĐV ở nước ta, mà nó là một thực trạng khá nhức nhối ở hầu hết các thể chế chính trị-xã hội và nhiều quốc gia trên thế giới. Nói chung, những quan chức nói không đi đôi với làm thường là những người có lợi thế hoạt ngôn, diễn thuyết giỏi, thích hô khẩu hiệu suông, bị chi phối bởi chủ nghĩa dân túy tầm thường nên họ lợi dụng vị trí xã hội, vị trí công tác để chau chuốt, vuốt ve những câu từ mỹ miều, rót những lời đường mật vào “tâm lý đám đông” nhằm thu hút, lôi kéo những người nhẹ dạ cả tin “tiền hô hậu ủng” cho bản thân mình. Nhưng sau khi đạt được mục đích chính trị, những quan chức này dần sa vào tình trạng làm không hay như nói, nói đâu bỏ đấy, hứa hão rồi cho qua, thậm chí cố tình tìm cách nói dối như Cuội nhằm che đậy, lấp liếm những việc làm khuất tất của mình.
Chủ động phòng ngừa, loại bỏ những trường hợp “nói đúng-làm sai”

Trong xã hội phong kiến trước đây, các bậc quân tử luôn coi trọng ngũ thường là “nhân, lễ, nghĩa, trí, tín”. Trong đó, biểu hiện cốt lõi của chữ “tín” là “quân tử nhất ngôn”. Nghĩa là người quân tử chỉ nói một lời và khi đã nói, đã hứa thì không bao giờ thay đổi, đã nói là làm. Nhắc lại điều đó để thấy, thời nào cũng vậy, khi những người có vị trí, “vai vế” trong xã hội luôn được ví như một trong những biểu tượng, hình ảnh, danh dự của thể chế xã hội đương thời, do vậy họ luôn phải đề cao, coi trọng và có trách nhiệm giữ gìn, bảo đảm thống nhất giữa lời nói và hành động. Nhất là trong bối cảnh xã hội bùng nổ thông tin hiện nay, bất cứ lời nói, phát ngôn nào của cán bộ khi đã được đăng tải công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, thì những “lời hay ý đẹp” của họ cũng dễ trở thành tiêu điểm của dư luận, đồng thời cũng là bằng chứng để người dân theo dõi, giám sát lời nói và việc làm của họ có phù hợp, nhất quán với nhau hay không.
Trong tác phẩm “Tư cách người cách mệnh” viết năm 1927, Nguyễn Ái Quốc đã nêu rõ một trong những yêu cầu phẩm chất cần phải có của người cách mệnh là “nói thì phải làm”. Một trong 3 nguyên tắc cơ bản về xây dựng, rèn luyện đạo đức cách mạng của CB, ĐV theo tư tưởng Hồ Chí Minh là nói phải đi đôi với làm, phải tự giác nêu gương về đạo đức. Bác Hồ từng khẳng định: "Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán hai chữ “cộng sản” là ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước".
Trong bài viết “Một số vấn đề cần được đặc biệt quan tâm trong công tác chuẩn bị nhân sự Ðại hội XIII của Ðảng” mới đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nêu rõ, một trong những trường hợp phải kiên quyết cảnh giác, không để lọt vào Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII khi đã mắc khuyết điểm: “Nói nhiều làm ít, nói không đi đôi với làm”.
Những quy định nhất quán trên đã cho thấy, “nói đi đôi với làm” của CB, ĐV không chỉ là đòi hỏi cấp thiết từ thực tiễn công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị; từ mong muốn, kỳ vọng chính đáng của các tầng lớp nhân dân; mà đó còn là một trong những tiêu chí cơ bản, quan trọng trong việc giới thiệu, đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm, sử dụng, khen thưởng, kỷ luật cán bộ. Ở chiều sâu hơn, việc Đảng ta yêu cầu CB, ĐV, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp luôn bảo đảm thống nhất giữa lời nói với việc làm, đã nói là làm, làm nhiều nói ít, làm đến nơi đến chốn, làm có hiệu quả thực chất, là thiết thực góp phần xây dựng đạo đức, bồi đắp văn hóa trong Đảng Cộng sản Việt Nam, tô đẹp tính chính danh của người chiến sĩ cộng sản và qua đó góp phần phòng ngừa, ngăn chặn một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị của CB, ĐV./.
Yêu nước ST.

 

Tôn trọng nguyên tắc khách quan, toàn diện, đánh giá đúng mức độ suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”

 

Trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, nhận diện đầy đủ mức độ suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tại địa phương, cơ quan, đơn vị mình là công việc rất quan trọng. Bởi đây chính là cơ sở để từng tổ chức đảng xác định quyết tâm và đề ra các biện pháp đủ mạnh nhằm khắc phục những hạn chế, yếu kém. Để làm tốt công việc ấy đòi hỏi cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu phải quán triệt, thực hiện nghiêm nguyên tắc khách quan, toàn diện trong nhận thức và hoạt động thực tiễn.

NGUYÊN TẮC KHÁCH QUAN, TOÀN DIỆN THEO QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN

Nhìn lại 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 4 khóa XIII, Đảng ta chỉ rõ: “Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII về xây dựng Đảng đã được triển khai thực hiện nghiêm túc, toàn diện, đồng bộ, thống nhất, thực sự đi vào cuộc sống, có nhiều bước đột phá quan trọng, tạo sự chuyển biến tích cực trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ...”

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, Ban Chấp hành Trung ương đã thẳng thắn chỉ rõ những hạn chế, khuyết điểm, đó là: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức chưa đầy đủ tính chất, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, nói chưa đi đôi với làm, vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, tự phê bình và phê bình, công tác kiểm tra, giám sát của nhiều tổ chức đảng còn hạn chế. Cơ chế kiểm soát quyền lực và chế tài xử lý vi phạm ở nhiều lĩnh vực chưa có hoặc có nhưng chưa cụ thể, hiệu quả thực thi thấp. Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên chưa hiệu quả; chưa phát huy đầy đủ sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch...”

Theo Ban Chấp hành Trung ương, nguyên nhân chủ yếu của hạn chế, khuyết điểm trên là do một số cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu chưa nhận diện đầy đủ mức độ suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” tại địa phương, cơ quan, đơn vị mình; chưa quyết tâm và có biện pháp chỉ đạo đủ mạnh, còn thụ động, trông chờ vào sự chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên; không thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, chưa gương mẫu, mất đoàn kết nội bộ, chưa thẳng thắn đấu tranh với những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, thậm chí còn cục bộ, lợi ích nhóm, bị cám dỗ bởi lợi ích vật chất, thờ ơ, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của nhân dân.

Đúng như Ban Chấp hành Trung ương đánh giá, trong thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII việc nhận diện mức độ suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tại các địa phương, cơ quan, đơn vị còn nhiều hạn chế. Đặc biệt là tình trạng vi phạm nguyên tắc khách quan, toàn diện trong nhận thức và hoạt động thực tiễn khi phân tích, nhận diện về mức độ suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Từ chỗ đánh giá chưa đúng, nhận diện chưa đầy đủ nên chưa xác định rõ quyết tâm và thiếu các biện pháp đủ mạnh để khắc phục những hạn chế, yếu kém.

Nguyên tắc khách quan đặt ra yêu cầu khi đánh giá, phân tích sự vật, hiện tượng nào đó chúng ta phải phản ánh trung thực với tất cả những bản chất vốn có của nó. Chúng ta tuyệt đối không được lấy ý muốn chủ quan để áp đặt, gán ghép cho sự vật, hiện tượng cái mà nó không có. Mọi biểu hiện tô hồng hoặc bôi đen sự vật, hiện tượng đều là vi phạm nguyên tắc khách quan.

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, thế giới tồn tại như một thể thống nhất. Các sự vật, hiện tượng vừa tồn tại tách biệt với nhau và có tính độc lập tương đối, vừa có sự liên hệ qua lại, thâm nhập và chuyển hóa lẫn nhau. Bất cứ sự vật, hiện tượng nào trên thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác. Để có được nhận thức đúng đắn về sự vật, hiện tượng, quan điểm toàn diện đòi hỏi, một mặt chúng ta phải xem xét nó trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính khác nhau của chính sự vật, hiện tượng đó. Mặt khác, chúng ta phải xem xét nó trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác. Do vậy khi nhận thức về sự vật, hiện tượng, chúng ta phải có quan điểm toàn diện, tránh quan điểm phiến diện chỉ xét sự vật, hiện tượng ở một mối liên hệ đơn lẻ mà đã vội vàng kết luận về bản chất hay về tính quy luật của nó.

 HỆ LỤY DO VI PHẠM NGUYÊN TẮC KHÁCH QUAN, TOÀN DIỆN

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, chỉ có quán triệt và thực hiện đúng nguyên tắc khách quan, toàn diện mới giúp chúng ta phân tích, đánh giá, nhận diện đầy đủ về sự vật, hiện tượng, trên cơ sở đó có quyết tâm và biện pháp giải quyết đúng đắn, hiệu quả các vấn đề.

Trong thực hiện Kết luận số 21-KL/TW về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, cũng vậy, đánh giá đúng, nhận diện đầy đủ về mức độ suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” tại địa phương, cơ quan, đơn vị là cơ sở để chúng ta xác định quyết tâm và đề ra biện pháp đủ mạnh nhằm tạo chuyển biến tình hình. Thế nhưng, hiện nay, việc quán triệt và thực hiện nguyên tắc khách quan, toàn diện trong nhận diện, đánh giá tình hình cũng như đề ra các chủ trương, giải pháp đang nổi lên nhiều vấn đề đáng bàn.

Thực tiễn cho thấy rất rõ tình trạng cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu tại địa phương, cơ quan, đơn vị quán triệt và thực hiện chưa tốt nguyên tắc khách quan, toàn diện trong đánh giá, nhận diện về mức độ suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” diễn ra khá phổ biến, biểu hiện dưới nhiều hình thức và để lại nhiều hệ lụy.

Đáng chú ý là tình trạng cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu có chức, có quyền mắc bệnh gia trưởng, độc đoán, chuyên quyền, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ tại một số địa phương, cơ quan, đơn vị. Những cán bộ, đảng viên mắc căn bệnh này thường nhìn nhận, đánh giá sự vật, hiện tượng theo cảm tính chủ quan, coi ý kiến của mình luôn đúng, thiếu tôn trọng ý kiến tập thể. Khi dân chủ trong sinh hoạt đảng không được tôn trọng và phát huy, đánh giá, nhận định chỉ dựa vào ý kiến của một người hoặc một nhóm người có quyền quyết định mà không nghiên cứu kỹ lưỡng, không mổ xẻ, phân tích, đánh giá một cách khách quan, toàn diện, thấu đáo tình hình thực tế thì thường dẫn đến tình trạng ảo tưởng, chủ quan trong thực hiện nhiệm vụ mà không tính hết những khó khăn, trở ngại phát sinh do cả yếu tố khách quan và chủ quan và chắc chắn những chủ trương, quyết sách ban hành sẽ không phù hợp, kém hiệu quả.

Cũng do quán triệt và thực hiện không tốt nguyên tắc khách quan, toàn diện mà trong sinh hoạt tự phê bình và phê bình ở không ít cấp ủy, tổ chức đảng thường nể nang, né tránh theo kiểu “đóng cửa bảo nhau”, tránh “vạch áo cho người xem lưng” hoặc xử lý sai phạm theo kiểu “nặng nhẹ tùy người”, “giơ cao đánh khẽ”... Đặc biệt là tình trạng cán bộ, đảng viên mắc “bệnh thành tích”, “giấu khuyết điểm” vẫn chưa được khắc phục triệt để. Do bị ảnh hưởng của căn bệnh ấy mà mọi thành tích, yếu kém của các tập thể, cá nhân không được nhìn nhận một cách công tâm, khách quan, toàn diện mà thường mang tính áp đặt chủ quan, không phản ánh đúng sự thật khách quan. Tình trạng này không chỉ khiến cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu không thấy hết được vấn đề, không xác định được quyết tâm và biện pháp đủ mạnh để khắc phục những hạn chế, yếu kém mà còn khiến cấp trên nếu thiếu kiểm tra, thanh tra, giám sát cũng bị che mắt, khó nắm bắt, không hiểu đúng thực trạng tình hình cơ sở để lãnh đạo, chỉ đạo và làm cho cấp dưới suy giảm niềm tin, giảm sút ý chí quyết tâm phấn đấu.

Cũng vì thiếu công tâm, không khách quan, toàn diện trong nhận diện vấn đề nên cán bộ, đảng viên được phân công phụ trách mảng công tác nào thì luôn tìm cách che đậy các khuyết điểm, bảo vệ cho mảng công tác của mình. Một số cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ lãnh đạo, quản lý lồng ý chủ quan của mình vào xem xét, đánh giá về sự vật, hiện tượng. Họ nhìn nhận, đánh giá sự vật, hiện tượng chỉ qua lăng kính chủ quan của một người hoặc một nhóm người có thẩm quyền. Chắc chắn cách nhìn nhận, đánh giá như vậy thì không thể thấy hết được vấn đề và biện pháp đề ra cũng không thể phù hợp, hiệu quả.

ĐẨY LÙI CĂN BỆNH CHỦ QUAN, PHIẾN DIỆN

Muốn nhận diện đầy đủ mức độ suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” tại địa phương, cơ quan, đơn vị mình, đòi hỏi mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu phải giữ vững và vận dụng đúng nguyên tắc khách quan, toàn diện của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Làm gì và làm như thế nào để quán triệt và thực hiện tốt nguyên tắc khách quan, toàn diện hay nói cách khác là để phòng, chống, ngăn chặn, đẩy lùi căn bệnh chủ quan, phiến diện một chiều trong nhận thức và hoạt động thực tiễn?

Trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cấp ủy viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu các địa phương, cơ quan, đơn vị phải không ngừng học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ lý luận. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Một trong những phẩm chất quan trọng của người cán bộ cách mạng là phải có phương pháp, tác phong làm việc khoa học, thiết thực, hiệu quả”. Người cán bộ, đảng viên muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ thì cần phải có phương pháp, tác phong làm việc khoa học, thiết thực. Muốn có phương pháp, tác phong làm việc khoa học thì cán bộ, đảng viên phải có lý luận cách mạng và tri thức khoa học. Trình độ lý luận cách mạng và tri thức khoa học chính là nền tảng cho phương pháp, phong cách tư duy khoa học. Sự non kém về lý luận là một trong những nguyên nhân cơ bản khiến cho cán bộ, đảng viên thiếu tư duy biện chứng, vi phạm nguyên tắc khách quan, toàn diện trong nhận diện mức độ suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Khi không nhận diện đầy đủ về tình hình và mức độ thì khó mà có quyết tâm, hành động đúng đắn. Do vậy, trong thực hiện Kết luận số 21-KL/TW về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, yêu cầu đầu tiên đối với đội ngũ cấp ủy, cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu phải thường xuyên học tập, rèn luyện, đặc biệt là nâng cao trình độ lý luận, tri thức khoa học để không ngừng hoàn thiện phương pháp, tác phong tư duy, làm việc khoa học thiết thực, đáp ứng với nhiệm vụ được giao.

Mặt khác, các cấp ủy đảng, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu các địa phương, cơ quan, đơn vị phải đề cao ý thức dân chủ, phát huy dân chủ rộng rãi trong Đảng và trong xã hội. Mở rộng dân chủ, phát huy trí tuệ tập thể cũng là biểu hiện của phương pháp, tác phong làm việc khoa học trong mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu. Đề cao dân chủ sẽ giúp cho cán bộ, đảng viên chống được căn bệnh gia trưởng, độc đoán, chuyên quyền, chủ quan, phiến diện trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, phát huy tốt tính năng động, sáng tạo, tích cực của quần chúng nhân dân trong thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng nói chung, trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị nói riêng.

Cùng với đó, để kịp thời phát hiện, đấu tranh ngăn chặn, xử lý kiên quyết, nghiêm minh những biểu hiện chủ quan, phiến diện, áp đặt ý kiến cá nhân gây tổn hại đến lợi ích của tập thể, lợi ích của nhân dân, cần tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát, đặc biệt là kiểm soát quyền lực cá nhân người đứng đầu và những cán bộ lãnh đạo, quản lý có thẩm quyền ban hành quyết định về chủ trương, chính sách.

Mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu phải thường xuyên tự giác rèn luyện cho mình phương pháp, tác phong công tác khoa học, thiết thực và hiệu quả. Bởi đây là cơ sở nền tảng giúp cán bộ, đảng viên quán triệt và thực hiện nghiêm nguyên tắc khách quan, toàn diện, tránh mắc vào căn bệnh chủ quan, phiến diện. Nếu thiếu phương pháp, tác phong công tác khoa học, thiết thực, hiệu quả thì căn bệnh chủ quan, phiến diện rất dễ tái phát.

Cùng với phát huy ý thức tự giác học tập, rèn luyện, tu dưỡng của mỗi người, các cấp ủy, tổ chức đảng, cần quan tâm giáo dục, động viên tinh thần cầu thị, thái độ khiêm tốn tích cực học hỏi và tạo mọi điều kiện để cán bộ, đảng viên chủ động tiếp cận, cập nhật kiến thức mới, làm giàu tri thức, năng lực trí tuệ cho bản thân. Có trình độ lý luận, tri thức khoa học và tư tưởng tiến bộ là cách tốt nhất để cán bộ, đảng viên tôn trọng nguyên tắc khách quan, toàn diện, tự mình đấu tranh phòng ngừa, loại bỏ mọi biểu hiện chủ quan, phiến diện trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh./.

 

GIỮ VỮNG RƯỜNG CỘT NƯỚC NHÀ!

     Tuổi trẻ cả nước đang tổ chức đại hội đoàn các cấp, hướng tới Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn Thanh niên Cộng sản (TNCS) Hồ Chí Minh lần thứ XII, nhiệm kỳ 2022-2027.
     Trong lúc đoàn viên, thanh niên (ĐVTN) cả nước, với vai trò, vị thế là cánh tay đắc lực, đội dự bị tin cậy của Đảng, là rường cột của nước nhà, đang bước vào đợt sinh hoạt chính trị, văn hóa sâu rộng, thì các thế lực thù địch cũng nhân cơ hội này đẩy mạnh các chiến dịch tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá...

Ngụy biện thông tin, lèo lái dư luận
     Giới trẻ nói chung, ĐVTN nói riêng vừa là mục tiêu, đối tượng, vừa là công cụ được các thế lực thù địch triệt để khai thác, lợi dụng, tập trung chống phá. Các chiến dịch tuyên truyền, chống phá của các thế lực thù địch từ trước đến nay đều đặt giới trẻ ở vị trí trung tâm, trọng tâm. Mục tiêu của chúng là hủy hoại “cánh tay đắc lực của Đảng”, làm tan rã “đội dự bị tin cậy”, phá vỡ “rường cột” đất nước. Chúng muốn thanh niên Việt

Nam bị mất phương hướng, bị kích động, quay lưng, phai nhạt lý tưởng của Đảng, đi theo con đường phản nước, hại dân... 

Trong chiến lược “diễn biến hòa bình” xuyên suốt ấy, chúng thường bám vào các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước và diễn biến đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội theo dòng thời sự chủ lưu để tạo cớ đào rộng, khoét sâu, ngụy tạo chứng cứ gây nhiễu thông tin, nội công ngoại kích, lèo lái dư luận theo ý đồ, kịch bản đã được vạch sẵn. Bám vào đại hội đoàn các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh lần thứ XII và kỷ niệm 91 năm truyền thống của Đoàn để đẩy mạnh chiến dịch công kích, xuyên tạc, chống phá là hoạt động nằm trong chuỗi chiến lược ấy. Bình tĩnh, sáng suốt nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn để có phương án đấu tranh, ngăn chặn, làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch là trách nhiệm, bổn phận trước hết của mỗi tổ chức đoàn, mỗi ĐVTN yêu nước.

Theo dõi tình hình, chúng ta thấy rõ, sau
những chiến dịch truyền thông dồn dập trên không gian mạng chống phá Đại hội XIII của Đảng, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp, xuyên tạc công tác phòng, chống dịch Covid-19... chiến dịch công kích, chống phá của các thế lực thù địch hiện nay đang chĩa mũi nhọn vào tuổi trẻ Việt Nam, vào tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.

Cụ thể những ngày gần đây, bám vào tình hình thời sự nóng bỏng từ cuộc xung đột vũ trang Nga-Ukraine, tình hình phức tạp trên Biển Đông và những vụ án, vụ việc tiêu cực trong nước... chúng lồng ghép thông tin, bình luận, ngụy biện, lèo lái dư luận xã hội nhằm phủ nhận vai trò của Đoàn đối với tuổi trẻ đất nước, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Bằng các hình thức “tọa đàm”, phỏng vấn, lấy ý kiến thế hệ trẻ Việt Nam, chúng sắp xếp sẵn những đối tượng thanh niên là người Việt Nam ở nước ngoài có tư tưởng chống đối Đảng, Nhà nước để gieo rắc, truyền tải tư tưởng phản động. Từ ý kiến cá nhân trên một số diễn đàn, chúng đòi xóa bỏ Huy hiệu Đoàn, kêu gọi tuổi trẻ tẩy chay tổ chức đoàn và các phong trào thanh niên.

Từ việc ngụy biện cho rằng, Đoàn chỉ còn là “cái vỏ hình thức”, không còn phù hợp với tuổi trẻ thời hội nhập quốc tế, chúng kêu gọi thanh niên, trí thức trẻ đi theo trào lưu “cấp tiến”, tư tưởng “tự do”, “dân chủ”, tung hô những bạn trẻ lầm đường lạc lối là những “anh hùng”. Nhiều phương tiện truyền thông hải ngoại phát tiếng Việt gọi những đối tượng này bằng những danh xưng lộng ngôn, ngoa ngôn, kiểu như: “Nhà hoạt động dân chủ”, “nhà đấu tranh nhân quyền”, “nhà hoạt động xã hội”, “nhà bất đồng chính kiến”, “nhà phản biện xã hội” v.v.., cổ xúy trào lưu lợi dụng tự do ngôn luận để “phản biện”, lôi kéo thanh niên rời xa Đảng. Thời gian qua, có không ít đối tượng núp bóng một số tổ chức phi chính phủ, lợi dụng các hoạt động từ thiện, bảo vệ môi trường để tập hợp, lôi kéo thanh niên tham gia các khóa đào tạo ở nước ngoài nhằm “tẩy não”, gieo rắc tư tưởng cực đoan, chống đối Đảng, Nhà nước, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng.

Trên thực tế, không ít bạn trẻ non kém bản lĩnh, nhẹ dạ cả tin, ăn phải thứ “bánh vẽ” ảo tưởng, đã tha hóa về nhân cách, trở thành công cụ đắc lực cho các thế lực thù địch lợi dụng. Có thể thấy, chiến lược, thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm “tẩy não” giới trẻ Việt Nam đã và đang được điều chỉnh, thay đổi ngày càng tinh vi nhằm chuyển hóa tư tưởng, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến” ở thế hệ rường cột nước nhà. Thực tế đó đòi hỏi chúng ta phải luôn tỉnh táo, chú trọng các hình thức, giải pháp củng cố trận địa tư tưởng trong thanh niên, nhất là thanh niên giới trí thức và công nhân, người lao động trong các khu công nghiệp, khu chế xuất, giữ vững lực lượng rường cột nước nhà.

Khắc phục tình trạng “nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị”
Phát biểu tại Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XI, nhiệm kỳ 2017-2022, bên cạnh khẳng định thành tích của tuổi trẻ Việt Nam và Đoàn là rất to lớn và đáng tự hào, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ trách nhiệm của Đoàn trong định hướng giáo dục thanh niên là “tránh nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị”. Sự chỉ đạo, lời căn dặn của người lãnh đạo cao nhất Đảng ta rất súc tích, vừa mang tính khái quát cao, vừa cụ thể.

Tình trạng “nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị” xuất phát từ thực tế công tác Đoàn và phong trào thanh niên còn nhiều hạn chế, chậm đổi mới. Một số hoạt động của Đoàn còn nặng về bề nổi, dàn trải, hình thức, kết quả thiếu bền vững. Một bộ phận thanh niên giảm sút niềm tin, phai nhạt lý tưởng cách mạng, sống thực dụng, xa rời truyền thống tốt đẹp của dân tộc...

Sau 5 năm nhìn lại, với tinh thần khách quan, thẳng thắn, nghiêm túc, chúng ta thấy rằng, nhiều mặt hạn chế, bất cập trong công tác Đoàn và phong trào thanh niên vẫn chậm được khắc phục. Tại các hội nghị góp ý xây dựng Văn kiện Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XII do Trung ương Đoàn tổ chức, nhiều đại biểu đã kiến nghị các giải pháp nhằm khắc phục tình trạng “nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị” trong một bộ phận thanh niên hiện nay.

Đại hội đoàn các cấp tiến tới Đại hội Đoàn toàn quốc nhiệm kỳ 2022-2027 là đợt sinh hoạt chính trị, văn hóa sâu rộng, có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với thanh niên cả nước. Đây cũng là giai đoạn thanh niên Việt Nam thể hiện sứ mệnh là lực lượng chủ lực của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trọng tâm là công cuộc chuyển đổi số, thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế của đất nước ngày càng sâu rộng. Với phương châm “lấy xây để chống”, việc củng cố trận địa tư tưởng của Đảng trong thanh niên phải được coi trọng, đặt lên hàng đầu. Nghiên cứu, tìm kiếm các mô hình tập hợp, giáo dục thanh, thiếu niên phù hợp với nguyện vọng, mục tiêu phấn đấu của tuổi trẻ, tích cực, mạnh dạn, quyết liệt đổi mới để công tác Đoàn và phong trào thanh niên thực sự hấp dẫn, thu hút thanh niên, là những vấn đề đã và đang được Trung ương Đoàn lấy ý kiến rộng rãi.

Với tư cách là “Đội dự bị tin cậy của Ðảng, thường xuyên bổ sung lực lượng trẻ cho Ðảng, kế tục sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh”, thanh niên Việt Nam phải luôn là lực lượng nòng cốt, đi đầu trong nhiệm vụ đấu tranh chống các quan điểm, khuynh hướng chính trị sai trái, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Để mỗi ĐVTN thực sự là một chiến sĩ trên mặt trận đấu tranh phức tạp, nhiều thách thức này, tổ chức đoàn các cấp phải khắc phục tình trạng hình thức, hời hợt, thiếu bền vững trong các phong trào, chương trình hành động.

Biến quy trình giáo dục thành tự giáo dục để ĐVTN có ý thức tự giác, tự chủ trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, nâng cao ý thức, thái độ, kỹ năng đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thông tin xấu độc của các thế lực thù địch trên không gian mạng là những mục tiêu, giải pháp tổ chức đoàn các cấp dưới sự chỉ đạo của Trung ương Đoàn cần có các mô hình thực hiện một cách bài bản, kiên trì, hiệu quả.

Thanh niên vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của không gian mạng. Khi ĐVTN được giáo dục, trang bị đầy đủ lý luận chính trị, được tập hợp, thống nhất dưới ngọn cờ Đoàn, sẽ tạo nên sức đề kháng mạnh mẽ, là bức tường thành vững chắc của trận địa tư tưởng, ngăn chặn, đẩy lùi các khuynh hướng lệch lạc, giữ vững rường cột nước nhà. Giáo dục, vận động ĐVTN về thái độ sử dụng mạng xã hội, về văn hóa ứng xử trên không gian mạng để ngày hội lớn của tuổi trẻ cả nước trở thành sắc màu, nội dung chủ đạo trên các tài khoản cá nhân và các trang, nhóm trên mạng xã hội là điều cần làm của tổ chức đoàn các cấp trong giai đoạn hiện nay. Đó cũng là cách lấy xây để chống, ngăn chặn sự xâm nhập của các thông tin độc hại, phản động mà các thế lực thù địch đang hướng vào thanh niên./.

Yêu nước ST.

Sống trong áp lực

Hè sắp đến, học sinh sắp bước vào một mùa thi mới - sẽ là lúc mà khắp nơi, trên các diễn đàn, trang báo, trong các câu chuyện, nhiều người lại than vãn và đòi loại bỏ áp lực học tập cho các em.

Tôi không hẳn nghĩ như vậy. Những đứa trẻ sẽ trở thành ai, sẽ đối diện với các vấn đề của cuộc sống sau này thế nào, nếu ngay từ bây giờ, chúng được "miễn hoàn toàn" áp lực.

Có hai vấn đề ở đây. Một là phân loại áp lực tốt - xấu cho các con và hai là hướng dẫn các con cách đối diện và xử trí khi chẳng may gặp áp lực xấu.

Cuộc sống không thể nào thiếu áp lực. Vì vậy, đòi loại bỏ hoàn toàn áp lực là điều không tưởng và không nên. Vấn đề là làm sao tạo ra áp lực tốt, giúp trẻ coi đó là thách thức để vươn lên, thay vì khiến chúng nhìn nhận như một mối đe dọa, dẫn tới căng thẳng, trầm cảm và bệnh tật.

Giáo dục tại các quốc gia phát triển rất coi trọng việc tạo ra áp lực tốt cho trẻ thông qua việc trao cho chúng rất nhiều sự tự quyết và chủ động.

Tôi có cậu con trai du học ở Mỹ. Muốn tốt nghiệp trung học, các cháu phải đảm bảo có đủ 28 tín chỉ, để ra trường và có bằng. Cháu nào thích ra sớm có thể đẩy nhanh tiến độ học. Cháu nào muốn ra trễ cứ việc học rề rà.

Để trẻ con chủ động, 28 tín chỉ này cũng không bắt các cháu phải học theo thứ tự như nhau. Học sinh có thể chọn các môn yêu thích để học trước, môn khó học sau; hoặc là cân đối giữa các môn vừa dễ vừa khó, tránh mất cân bằng.

Trong các môn học, có những môn hoàn toàn do thầy dạy, nhưng có nhiều môn trò tự học trên lớp. Con tôi có một lớp mà thầy chỉ yêu cầu thuyết trình về một đề tài tự chọn. Tụi nhỏ có thể chọn bất cứ đề tài nào chúng thích, chẳng hạn như ôtô, máy bay, con vật nuôi, bảo vệ trẻ em, nạn buôn người, du lịch, chống nghiện chất cấm... Với cách này, các con học được nhiều điều từ bạn bè. Còn thầy chỉ nghe và góp ý chứ không đánh giá phê phán gì ghê gớm cả.

Thầy và trò có những ngày học trong phòng. Nhưng vào mùa xuân khi trời rất đẹp, thầy sẽ hỏi ý học trò, sau đó cả lớp có thể ra sân học ngoài bãi cỏ một vài giờ tùy thích. Nhà trường không can thiệp.

Học trò cũng không mấy học thêm. Chỉ cháu nào đạt dưới mức điểm trường chấp nhận thì sẽ phải học kèm với thầy cô hay bạn học do trường tuyển chọn, nhưng hoàn toàn miễn phí. Tiền dạy thêm sẽ do trường trả.

Khi chuẩn bị nộp đơn vào đại học, các cháu có thể dự các kỳ thi tiêu chuẩn như SAT hay ACT, AP bao nhiêu lần cũng được; và được lấy điểm cao nhất để nộp. Khi tham gia chơi thể thao, học sinh tự chọn môn yêu thích và được tự do bỏ giữa chừng nếu thấy không phù hợp. Bằng cách này, các đội tuyển thể thao của trường sẽ sàng lọc bớt các cháu chỉ tham gia lớt phớt cho vui, giữ lại các cháu ưa thích thật sự. Khi đó đội tuyển sẽ thi đấu rất quyết liệt.

Vì được chủ động và tự do, được tôn trọng ý kiến trong khuôn khổ các quy tắc và kỷ luật của trường, học trò sẽ coi mọi áp lực là thử thách do chúng đặt ra cho bản thân. Áp lực lúc đó sẽ tự nhiên chuyển thành động lực để vượt qua trở ngại.

Ngược lại, nếu ép chúng học toàn các môn chúng không hề thích, ép chúng phải hoàn thành theo một lịch trình bất khả thi, ép chúng học thêm quá nhiều, ép chúng chạy theo thành tích mà chúng không hào hứng..., tất cả sẽ tạo ra áp lực xấu, dẫn chúng tới sự chán nản, mất sức và căng thẳng.

Trong khi chờ đợi ngành giáo dục thay đổi, các bậc cha mẹ có thể linh hoạt áp dụng trước, tạo cho các con nhiều cơ hội tự do, chủ động thiết kế mục tiêu của bản thân thay vì chạy theo thành tích ảo và sống theo ước mơ của bố mẹ. Đích đến của giáo dục và dạy dỗ là mang lại lợi ích cao nhất cho đứa trẻ, chứ không phải là làm rạng danh gia đình, dòng họ.

Vấn đề thứ hai là cách xử trí với áp lực xấu khi không thể loại bỏ nó, hay trong các trường hợp bất khả kháng. Vì không có cuộc sống nào chỉ bao gồm áp lực tốt, đứa trẻ phải học cách cân bằng.

Điều này đặc biệt nan giải với những đứa trẻ được gia đình bao bọc quá kỹ. Khi có bất cứ điều gì xảy ra với mình, thay vì tìm cách xử trí, chúng sẽ nhờ cha mẹ làm tất, hoặc là bỏ mặc tới đâu hay tới đó. Những đứa bé này rất sợ thất bại vì chúng không dám đối mặt với thất bại, chưa nói tới việc học hỏi từ thất bại để sau này sống tốt hơn.

Kinh nghiệm nhiều năm làm mẹ giúp tôi nhận ra một sự thật rằng, rất khó dạy bọn trẻ bằng những bài học lý thuyết. Tất cả các bài học sẽ trôi tuột đi rất nhanh. Nhưng từng bước một, cha mẹ có thể cho phép con làm quen với thất bại, coi đó là chuyện đương nhiên phải có để từ đó đứa trẻ không sợ hãi và chủ động học được từ thất bại của mình. Tất nhiên, những bậc cha mẹ ưa thành tích sẽ rất khó chấp nhận sự thất bại, dù là nhỏ, của con. Nhưng khó, cũng phải học.

Nhiều cha mẹ vì quá tập trung, lo lắng cho sự học của con mà quên mất đào tạo kỹ năng cho chính mình.

TƯƠNG TÁC, ỨNG XỬ TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG SAO CHO PHÙ HỢP

 Thời gian qua trên trên Internet, mạng xã hội đã xuất hiện nhiều thông tin giả chưa xác thực xung quanh sự kiện Nga – Ukraine gồm cả những hành động hay phát ngôn của cá nhân hay người đại diện cố tình đưa ra những luận điệu sai trái, suy diễn xuyên tạc nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín, danh dự của Đảng, Nhà nước Việt Nam.. Đáng chú ý trong số đó có cả những bài do người Việt nam đăng tải, bình luận và chia sẻ.

Việt Nam đã nhiều lần nêu quan điểm chính thức về xung đột Nga - Ukraine, đó là Việt Nam kêu gọi các bên liên quan giảm leo thang căng thẳng, nối lại đối thoại và đàm phán thông qua tất cả các kênh, nhằm đạt được giải pháp lâu dài trên cơ sở luật pháp quốc tế. Đối với vấn đề xung đột Nga - Ukraine, Việt Nam đã nhiều lần nêu quan điểm chính thức của mình. Mục tiêu là chấm dứt những khổ đau, đóng góp cho hòa bình, an ninh và phát triển trên thế giới. Ngày 1/3, phát biểu khi Đại hội đồng LHQ tổ chức phiên họp khẩn cấp lần thứ XI thảo luận về tình hình Ukraine, Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng phái đoàn thường trực Việt Nam tại LHQ đã nhấn mạnh rằng: “Lịch sử của chính dân tộc chúng tôi hứng chịu các cuộc chiến tranh đã nhiều lần chỉ ra rằng, cuộc chiến tranh và xung đột đến tận ngày nay thường bắt nguồn từ các học thuyết lỗi thời đề cao chính trị cường quyền, tham vọng thống trị áp đặt và sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh chấp quốc tế. Một số xung đột vẫn còn gắn liền với những yếu tố lịch sử, ngộ nhận và hiểu lầm. Với trải nghiệm của chính mình, Việt Nam thấu hiểu rằng chiến tranh và xung đột khi nổ ra chỉ gây ra đau khổ sâu sắc cho người dân và hậu quả nghiêm trọng đối với nhiều khía cạnh trong đời sống của các quốc gia có liên quan trực tiếp cũng như của các quốc gia khác”.

Do vậy mỗi người cần cân nhắc về cách ứng xử trên không gian mạng khi tiếp cận với bất kỳ sự kiện nào phải thận trọng, nên kiểm chứng lại nguồn tin rõ ràng, kỹ lưỡng tránh việc đưa ra những bài viết, bình luận, những cảm xúc cá nhân dựa trên những thông tin không đúng sự thật. Khi quyết định chia sẻ thông tin nào đó cần cân nhắc lựa chọn những nguồn tin phù hợp, chính xác, khách quan. Tránh việc chúng ta là công cụ cho việc lan truyền những thông tin không chính xác, thông tin chưa được kiểm chứng, tin giả, tin rác. Đó là những điều hết sức cơ bản trong việc ứng xử trên không gian mạng.

Những bài viết, bình luận, chia sẻ trên mạng xã hội hiện nay không phù hợp với quan điểm của Việt Nam gây ảnh hưởng không tốt đến hình ảnh đất nước, hạ thấp danh dự, uy tín của Việt Nam; xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam cần phải được đấu tranh, loại bỏ./.

Các chú đã thực hiện khẩu hiệu “Đã đánh là thắng”.

 

Sau sự kiện Không quân Nhân dân Việt Nam lần đầu xuất kích đánh to và thắng lớn không lực Hoa Kỳ trong các ngày 3 và 4-4-1965, ngày 5-4-1965, Bác gửi thư khen ngợi: “Các chú đã chiến đấu dũng cảm, đã tiêu diệt máy bay Mỹ. Các chú đã thực hiện khẩu hiệu “Đã đánh là thắng”. Như thế là xứng đáng với truyền thống anh hùng của quân và dân ta... Chúc các chú lập nhiều chiến công hơn nữa”.

Cùng ngày, trả lời phỏng vấn nhà báo Iuxi Takanu của báo “Akahata” của Đảng Cộng sản Nhật Bản, Bác đã đưa ra giải pháp để chấm dứt chiến tranh nếu Mỹ không can thiệp vào miền Nam, chấm dứt ném bom miền Bắc thì “sẽ tạo điều kiện thuận lợi để đi đến một hội nghị như kiểu Hội nghị Giơnevơ năm 1954. Đó là cách giải quyết hợp tình hợp lý, có lợi cho hòa bình và có lợi cho nhân dân Mỹ”. Trong bức điện cảm ơn gửi cùng ngày tới Quốc trưởng Campuchia N.Xihanuc, Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định: “Trước sức mạnh đoàn kết của các dân tộc Việt Nam, Khơme và Lào biểu hiện rõ rệt trong Hội nghị nhân dân Đông Dương vừa qua do Ngài triệu tập, mọi âm mưu xâm lược và gây chiến của đế quốc Mỹ đối với các nước Đông Dương nhất định sẽ bị thất bại hoàn toàn”.

HAIVAN

TIẾN TỚI COI COVID-19 LÀ BỆNH ĐẶC HỮU

 Các chuyên gia nhấn mạnh dù là đại dịch hay bệnh đặc hữu thì người dân vẫn phải có ý thức phòng dịch trong cộng đồng để tránh lây lan dịch bệnh.

Thời điểm kết thúc đại dịch cho đến nay vẫn còn bỏ ngỏ, chưa ai dám khẳng định đại dịch gần kết thúc, nhưng đã bắt đầu nhen nhóm tia hy vọng một ngày không xa, COVID-19 chỉ còn là bệnh lưu hành thông thường, đại dịch chỉ còn là dịch.

Khái niệm bệnh đặc hữu hay còn gọi là bệnh lưu hành được nhắc đến nhiều thời gian gần đây. Bệnh đặc hữu là sự xuất hiện một cách ổn định của bệnh dịch hoặc tác nhân gây bệnh trong một khu vực địa lý hoặc nhóm quần thể dân số nhất định. Nó có thể lặp đi lặp lại nhưng không quá nguy hiểm như đại dịch.

Thêm nhiều nước tiến tới coi COVID-19 là bệnh đặc hữu và mở cửa trở lại biên giới. Đây là cách để các nước dần quay trở lại cuộc sống bình thường sau hai năm đóng cửa vì dịch bệnh.

Các nước coi COVID là bệnh đặc hữu

Indonesia đang chuẩn bị lộ trình từng bước chuyển đổi từ giai đoạn đại dịch sang giai đoạn bệnh đặc hữu, tức là giai đoạn sống chung với COVID-19. Indonesia sẽ từng bước bình thường hóa các hoạt động cộng đồng thông qua các chính sách kiểm soát dịch bệnh, quy định tỷ lệ sử dụng giường bệnh và ngăn chặn các ca tử vong để đảm bảo tỷ lệ tử vong được duy trì ở mức thấp. Lộ trình chuyển sang giai đoạn bệnh đặc hữu nói trên đã được chứng minh là có hiệu quả, giúp kiểm soát làn sóng lây lan dịch COVID-19. Hiện, tỷ lệ bao phủ vaccine mũi thứ nhất tại Indonesia đã đạt trên 92%, tỷ lệ bao phủ hai mũi là 71% và tỷ lệ tiêm mũi tăng cường là 10%.

Thái Lan đã thông qua kế hoạch 4 bước chuyển sang giai đoạn coi COVID-19 là bệnh đặc hữu từ ngày 1/7.

Kế hoạch trên nhằm hỗ trợ nền kinh tế Thái Lan phục hồi sau đại dịch cũng như bảo vệ sức khỏe cộng đồng bằng cách thực hiện các biện pháp nghiêm ngặt phù hợp.

Giới chức Thái Lan nhấn mạnh rằng để đạt được đến giai đoạn xem COVID-19 là bệnh đặc hữu, tỷ lệ tử vong vì căn bệnh này phải không được vượt quá 0,1%. Hiện tại, tỷ lệ này là gần 0,2%.

Malaysia sẽ bắt đầu chuyển sang coi COVID-19 là bệnh đặc hữu và mở cửa trở lại biên giới nước này cho du khách quốc tế từ ngày 1/4 tới. Quyết định trên được đưa ra là nhờ sự thành công của chương trình tiêm chủng quốc gia ngừa COVID-19, từ đó giúp nước này có thể trở lại gần như cuộc sống bình thường sau 2 năm chiến đấu chống đại dịch. Khi COVID-19 được coi là bệnh đặc hữu, những du khách đã tiêm chủng đầy đủ sẽ không cần phải cách ly khi nhập cảnh vào Malaysia, họ sẽ chỉ cần xét nghiệm trước khi khởi hành và khi đến Malaysia.

Một số nước hiện nay bỏ tất cả các biện pháp phòng ngừa như đeo khẩu trang, mở cửa hoàn toàn các dịch vụ, hoạt động và đang tiến tới coi COVID-19 là bệnh lưu hành, giống như cúm mùa. Liệu điều này sẽ đến sớm hay không? Khi nào có thể coi COVID-19 là bệnh đặc hữu hay bệnh lưu hành thông thường như cúm mùa? Các chuyên gia mà PV phỏng vấn được còn khá dè dặt khi nhận định về vấn đề này.

Đã nên coi COVID-19 là bệnh đặc hữu chưa?

Các chuyên gia trong lĩnh vực truyền nhiễm đều nhấn mạnh, chưa có một loại virus nào lại có khả năng biến thể nhanh, nhiều và khó lường như SARS-CoV-2. Ví dụ như chủng Omicron dù mới xuất hiện nhưng đã có BA.1, BA.2 với tốc độ lây lan nhanh gấp nhiều lần so với các chủng trước đây. Trong khi đó, vaccine mới chỉ làm giảm tỷ lệ nặng và tử vong.

"Nếu nó xuất hiện một chủng mới có nguy cơ diễn biến nặng hơn vậy lúc đó chúng ta sẽ giải quyết như thế nào và bây giờ phản ứng linh hoạt nhưng vẫn phải tuân thủ theo các quy định chung về mặt khoa học cũng như của WHO" - GS.TS Nguyễn Văn Kính - Phó Chủ tịch Tổng hội Y học Việt Nam nói.

Khu vực châu Phi tỷ lệ tiêm vaccine thấp và trên thế giới, mỗi tuần vẫn ghi nhận khoảng 50 nghìn ca tử vong. Vì vậy theo các chuyên gia, còn sớm để nói rằng đại dịch sẽ chấm dứt.

Hệ thống y tế phải đáp ứng được khi dịch bùng phát - đây cũng là một yếu tố quan trọng cần phải tính tới khi coi COVID-19 là bệnh đặc hữu.

Các chuyên gia cũng nhấn mạnh, dù là đại dịch hay bệnh đặc hữu thì người dân vẫn phải có ý thức phòng dịch trong cộng đồng để tránh lây lan dịch bệnh.

Đại diện Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tại Việt Nam sẽ chia sẻ thêm về hướng tiếp cận với đại dịch cũng như khuyến cáo với người dân Việt Nam.

"Tôi muốn nhắc mọi người nhớ về bài học quan trọng nhất mà chúng ta học được từ công cuộc ứng phó với đại dịch COVID-19: 'Không có quốc gia nào là an toàn cho đến khi tất cả các quốc gia đều được an toàn'.

Còn quá sớm để nói rằng đại dịch đã kết thúc. Ngay tuần trước đã có khoảng 50.000 người tử vong vì căn bệnh này. Hơn 80% dân số châu Phi vẫn chưa được tiêm một liều vaccine nào. Ở nhiều quốc gia, hệ thống y tế tiếp tục quá tải và rạn nứt theo số ca bệnh không ngừng tăng.

Nhưng chúng ta có thể chấm dứt tình trạng khẩn cấp y tế toàn cầu của đại dịch trong năm nay. Chúng ta đã có các công cụ và kiến thức để làm được điều này" - Tiến sĩ Kidong Park, Trưởng đại diện Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tại Việt Nam nói.

THẬT ĐÁNG BUỒN VỚI VĂN HÓA “TỰ NHỤC” CỦA NHỮNG KẺ SỢ ĐẤT NƯỚC ĐI LÊN

 Những năm gần đây, Việt Nam liên tiếp lọt tốp đầu trong các đánh giá về tăng trưởng kinh tế, bất chấp tác động tiêu cực của đại dịch COVID - 19, hay được xếp vào danh sách quốc gia hạnh phúc theo ghi nhận của một số tổ chức quốc tế. Vậy mà một số nhà “dân chủ tự xưng” và các thành phần “tự nhục” lại ra sức hô hào rằng: Đừng nghe những gì cộng sản nói, hãy nhìn những gì cộng sản làm. Đây là một câu cửa miệng rất quen thuộc của những đối tượng không bao giờ muốn thừa nhận sự phát triển của đất nước mà chỉ muốn nghĩ, muốn thấy và muốn nhiều người cũng thấy và nghĩ như họ về một đất nước Việt Nam đầy rẫy những bất công, tiêu cực, nghèo nàn và lạc hậu.

“Tự nhục” là một cụm từ khá đặc biệt và sẽ không thể tìm thấy nó trong bất kỳ bộ từ điển Tiếng Việt chính thống nào. Mà chỉ trong thời gian gần đây nó mới xuất hiện trên một số trang mạng xã hội. Cụm từ này dùng để chỉ trạng thái biểu hiện của một bộ phận người trong xã hội luôn tự hạ thấp bản thân và quốc gia, dân tộc mình xuống. Nhưng không phải để biểu hiện sự khiêm nhường, cầu thị, mà trái lại, vừa hạ thấp giá trị của dân tộc mình, vừa có xu hướng đề cao giá trị ngoại. Họ coi những thứ ngoại lai, nhất là các giá trị phương Tây mới là các chuẩn mực cần hướng tới. Thông qua nhiều công cụ, những đối tượng nhân danh “dân chủ”, “yêu nước”, “tiến bộ” muốn lan truyền văn hóa “tự nhục” này tới mọi người, hòng phủ nhận những thành công và sự phát triển của đất nước, hòng làm lung lay tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc của muôn dân đất Việt.
Tuy nhiên, bất chấp những nỗ lực cổ súy cho tư tưởng tự ti dân tộc, hơn tất cả, tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc và khát vọng phát triển đất nước luôn chảy trong huyết quản của mỗi người dân Việt Nam qua các thế hệ, từ quá khứ đến hiện tại và tương lai.

Hơn 90 năm qua, khát vọng Hồ Chí Minh, khát vọng hùng cường luôn là mục tiêu mà Đảng Cộng sản Việt Nam phấn đấu, mang đến độc lập, thống nhất cho dân tộc, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Khát vọng ấy còn được thể hiện rõ nét trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó đặt ra mục tiêu: Đến năm 2045, Việt Nam đứng trong hàng ngũ các quốc gia phát triển, có thu nhập cao. Từ một quốc gia kém phát triển, bị ảnh hưởng nặng nề bởi nhiều năm chiến tranh và bao vây cấm vận, Việt Nam đã từng bước khẳng định uy tín, vai trò và vị thế của mình trên trường quốc tế, được thế giới ghi nhận và đánh giá cao. Chúng ta có quyền tự hào về những gì mà đất nước Việt Nam đang có, tự hào về những thành quả to lớn mà Đảng, Nhà nước mang lại cho nhân dân. Khát vọng phát triển đất nước mà Đại hội lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đặt ra chính là thông điệp mạnh mẽ để các nhà “dân chủ tự xưng” và những đối tượng “tự nhục” một lần nữa phải tự xem lại mình./.

PHÒNG, CHỐNG “TỰ DIỄN BIẾN, “TỰ CHUYỂN HÓA”: VẠCH TRẦN, ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG BIỂU HIỆN MỚI CỦA CHỦ NGHĨA CƠ HỘI HIỆN NAY

 Nhận diện, đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội, “vạch mặt, chỉ tên” những thứ cơ hội đội lốt “yêu nước thương dân” là trách nhiệm không của riêng ai. Đây cũng là cuộc đấu tranh tư tưởng giữa một bên là những người yêu nước chân chính, có tâm đức với nhân dân, thủy chung và gắn bó với vận mệnh dân tộc và đất nước với một bên là những kẻ có cái nhìn a dua, thiển cận, xu thời, thực dụng, cơ hội, tiền hậu bất nhất, đục nước béo cò, sẵn sàng bán rẻ lương tâm vì tâm địa hẹp hòi.

Chủ nghĩa cơ hội vốn không xa lạ. Nó thường che giấu bộ mặt thật của mình. Bản chất của những kẻ theo chủ nghĩa cơ hội là khi cách mạng gặp thuận lợi, phát triển thì luôn tỏ ra cấp tiến, nhưng khi đất nước gặp khó khăn thì dao động, ngả nghiêng, sẵn sàng thỏa hiệp với các đối tượng phản động và phần tử xấu để chống phá cách mạng hoặc lợi dụng những kẽ hở của chính sách, pháp luật để làm nhiều điều mờ ám, gây tổn hại đến sự nghiệp chung. Thời gian gần đây, chủ nghĩa cơ hội đã xuất hiện những biểu hiện mới không thể xem thường. Một số ít người từng giữ cương vị lãnh đạo, quản lý lâu năm trong hệ thống chính trị các cấp, nhưng ít nhiều có biểu hiện “trở cờ” sau khi về hưu. Khi còn làm việc trong bộ máy công quyền, họ ít kêu ca, than phiền và cũng cố gắng làm tròn chức phận để vừa “giữ ghế”, vừa tận dụng cơ hội để có chức vụ cao hơn. Nhưng trong quá trình công tác, có thể có những điều gì đó làm họ không hài lòng và không đạt được mục đích như tham vọng cá nhân. Thế nên, khi trở về đời thường không còn liên quan đến việc công, họ đã giải tỏa những ức chế tâm lý và sự bức xúc cá nhân thông qua những phát ngôn trái chiều, những bài viết chủ yếu khoét sâu vào những mặt trái, tiêu cực xã hội, phê phán đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước rồi đưa lên mạng xã hội khiến dư luận hoang mang, phân tâm. Một số người lợi dụng các đợt đóng góp ý kiến vào các dự thảo chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước để đưa ra những quan niệm “mập mờ đánh lận con đen”. Số người này bề ngoài thì tỏ ra am tường, minh triết, học cao, hiểu rộng, nhưng khi viết bài, đóng góp ý kiến lại có những lời lẽ, ý tứ ngụy biện được bọc trong một cái lớp vỏ phản biện trên tinh thần khoa học. Không những thế, có ý kiến còn vẽ ra con đường này, lối dẫn nọ của nước khác để khuyến cáo, thậm chí đòi hỏi Việt Nam phải áp dụng. Thế nhưng, những “bức vẽ, lối đi” đó không màu sắc, không đường nét rõ ràng, bởi thực chất đấy chỉ là một thứ học đòi, học lỏm hay dung hòa, trộn lẫn hỗn độn bởi đủ thứ lý thuyết, học thuyết rối rắm, xa lạ, không phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện thực tế ở nước ta. Một số người từng là cán bộ, đảng viên lâu năm đã mắc bệnh công thần chủ nghĩa, tuyệt đối hóa vai trò, cống hiến của mình trong quá khứ để phê phán quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và đề xuất những ý kiến lệch lạc. Mặc dù có ý kiến đã được cơ quan chức năng và người có trách nhiệm tiếp thu, giải trình một cách nghiêm túc, cầu thị, nhưng họ vẫn không đồng ý. Lợi dụng mạng xã hội, những người này công khai bày tỏ quan điểm thiếu thiện chí, cực đoan nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, xuyên tạc và phủ nhận con đường dân tộc ta đang đi. Một số ít trí thức, văn nghệ sĩ vốn là đảng viên cộng sản có những đóng góp nhất định trong lịch sử và có những công trình nghiên cứu, tác phẩm văn học nghệ thuật được khá nhiều công chúng biết đến, nhưng nay lại bày tỏ sự sám hối của mình. Trên các mạng xã hội, ngoài việc công khai “hối hận”, “mặc cảm” và cố ý chối bỏ quá khứ cống hiến đáng quý của mình, những người này còn có những ý kiến hết sức chủ quan, thiên lệch về tình hình đất nước, xã hội và đời sống nhân dân. Đáng nói hơn, có người đã liên lạc, kết nối với các phần tử thù địch ở hải ngoại để "tiền hô hậu ủng", tạo thêm bệ đỡ cho các thế lực đó thường xuyên công kích, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN.

Một bộ phận cán bộ, đảng viên cố tình lợi dụng những kẽ hở trong hệ thống chính sách, luật pháp để làm những việc sai pháp luật, trái đạo lý. Có những người triệt để lạm dụng lúc "tranh tối tranh sáng” để thu vén lợi ích cá nhân. Xuất phát từ chủ nghĩa cơ hội mà sinh ra bao thứ phiền toái: Nịnh hót, luồn lọt, tâng bốc nhau một tấc lên trời, lôi bè kéo cánh, cục bộ địa phương, thấy sai trái không dám đấu tranh, thấy cái đúng không biết bảo vệ, bao che khuyết điểm, dung dưỡng cái xấu, thậm chí tiếp tay cho cả cái ác... Cái thứ cơ hội này tuy không dễ “bắt tận tay, day tận mặt”, nhưng cũng là kẻ thù bên trong không kém phần nguy hiểm.

Trong những biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội nêu trên, tuy mỗi loại có tính chất, mức độ nguy hiểm khác nhau, nhưng có đặc điểm chung là đều chĩa mũi nhọn trực tiếp hoặc gián tiếp vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta, thách thức sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, là lực cản con đường đưa nước ta hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Những biểu hiện đó của chủ nghĩa cơ hội cũng là “mảnh đất màu mỡ” để đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến", "tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên sớm thành hiện thực, là chất xúc tác thúc đẩy âm mưu “diễn biến hòa bình” ngày càng trở nên sâu sắc và nguy hiểm hơn.

Vì vậy, nhận diện và đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội, “vạch mặt, chỉ tên” những thứ cơ hội đột lốt “yêu nước, thương dân” là trách nhiệm không của riêng ai. Đây là cuộc đấu tranh tư tưởng giữa một bên là những người yêu nước chân chính, có tâm đức với nhân dân, thủy chung và gắn bó với vận mệnh dân tộc, với một bên là những kẻ có cái nhìn a dua, thiển cận, xu thời, thực dụng, cơ hội, tiền hậu bất nhất, đục nước béo cò, sẵn sàng bán rẻ lương tâm vì tâm địa hẹp hòi.

Chủ động không để chủ nghĩa cơ hội len lỏi vào các tổ chức tổ đảng, bộ máy công quyền các cấp là một trong những nhiệm vụ cấp bách, quan trọng của công tác tư tưởng chính trị hiện nay. Muốn vậy, trước hết các tổ chức đảng, các cơ quan, đơn vị phải thường xuyên tìm hiểu, nắm chắc diễn biến tư tưởng, tình cảm, tâm tư, nguyện vọng của đội ngũ cán bộ, đảng viên để kịp thời ngăn ngừa, uốn nắn những biểu hiện lệch lạc phát sinh, chủ động triệt tiêu mầm mống của chủ nghĩa cơ hội ngay từ khi manh nha. Cùng với vạch trần, tẩy chay với các loại chủ nghĩa cơ hội, thực dụng, xét lại và những biểu hiện mơ hồ, dao động về tư tưởng chính trị, cần chú trọng làm tốt công tác giáo dục, bồi đắp nâng cao niềm tin cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân vào những giá trị tốt đẹp của Đảng và của chế độ xã hội mới mà chúng ta đang xây dựng.

Một vấn đề không kém phần quan trọng là các cơ quan, đơn vị, tổ chức đảng các cấp cần chú trọng công tác quản lý nội bộ, phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ luật Đảng, giáo dục cán bộ, đảng viên (nhất là những người làm ở những vị trí nhạy cảm, phức tạp, có quan hệ xã hội sâu rộng) phải chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn, không được tự ý nói năng, phát ngôn, bày tỏ ý kiến, kiến nghị của mình hay tán phát các tài liệu trên mạng xã hội có nội dung trái quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật Nhà nước và không có lợi cho việc giữ vững đồng thuận xã hội, ổn định chính trị và an ninh tư tưởng-văn hóa.

Trong bối cảnh xã hội bùng nổ thông tin hiện nay, các cơ quan, đơn vị cần chủ động định hướng, hướng dẫn, giáo dục cán bộ, đảng viên nâng cao ý thức, trách nhiệm trong việc sử dụng mạng xã hội; động viên, khuyến khích mọi người tiếp thu có chọn lọc và làm lan tỏa những thông tin tích cực, lành mạnh trên mạng xã hội, góp phần nhân lên những giá trị tiến bộ, nhân văn trong cuộc sống. Cùng với đó phải kịp thời nhận diện, kiên quyết sàng lọc, loại bỏ những thông tin lệch lạc, sai trái, tiêu cực, không để những thông tin này có cơ hội tán phát, lây lan trên không gian mạng dễ làm vẩn đục môi trường thông tin và gây nhiễu dư luận xã hội. Làm tốt việc này cũng là một cách góp phần ngăn ngừa, phòng, chống những tư tưởng cơ hội, lợi dụng mạng xã hội để thông tin sai lệch, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN.

LÀM THẤT BẠI CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”: BỊA ĐẶT THÔNG TIN HÒNG MÉO MÓ CÁC VỤ ÁN

 Những ngày gần đây, trên internet xuất hiện khá nhiều trang báo mạng với đủ các thể loại (viết, hình, nói) đề cập đến một số vụ án hình sự vừa được các cấp tòa của Việt Nam xét xử. Chưa bàn đến tính chất, nội dung của các bản án, bởi để có được một bản án công minh, đúng người, đúng tội thì phải có một quá trình thực hiện tố tụng, xét xử chặt chẽ, khoa học, theo đúng luật định. Nhưng cái cách tiếp cận vụ án của một số trang mạng xã hội rõ ràng là “có vấn đề”, bởi dường như họ muốn dẫn dắt dư luận theo cách nghĩ của họ, khiến dư luận nhìn nhận các vụ án một cách méo mó, đầy nghi ngờ. Mục tiêu cuối cùng của nhiều trang mạng là hướng tới xuyên tạc, phủ nhận nền tư pháp của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam.

Hiểu cho đúng về một nền tư pháp dân chủ xã hội chủ nghĩa

Nền tư pháp của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (trước đây là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) hình thành sau khi nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng lên đánh đuổi đế quốc xâm lược, giành lại chính quyền, thiết lập một nhà nước Việt Nam tự do, độc lập. Năm 1946, thể theo nguyện vọng của toàn dân, Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra đời. Đây là văn bản luật đầu tiên của nước Việt Nam mới, thể hiện đầy đủ quyền tự do, dân chủ mà người dân Việt Nam xứng đáng được hưởng và được Nhà nước bảo hộ. Cũng từ văn bản luật gốc này, từ thực tiễn cuộc sống, nhu cầu xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, hòa bình, dân chủ và chủ nghĩa xã hội (CNXH), các văn bản luật khác dần được hình thành, ra đời.
Quá trình xây dựng các văn bản pháp luật (gọi chung là các luật) được tiến hành chặt chẽ, khoa học, được lấy ý kiến rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân và được tiếp thu, chỉnh sửa một cách hợp lý theo nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân trước khi trình Quốc hội thông qua. Điều đó thể hiện tính dân chủ rất cao trong quy trình xây dựng các luật. Trong số 230 bộ luật, luật đang có hiệu lực thi hành và sắp có hiệu lực thi hành thì có hai bộ luật quan trọng, liên quan trực tiếp đến việc khởi tố, xét xử các vụ án hình sự đối với các cá nhân, tổ chức có vi phạm, đó là Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự. Các điều, khoản trong hai bộ luật nêu trên vừa khái quát đầy đủ các lĩnh vực, vừa cụ thể hóa rõ ràng các hành vi, dấu hiệu vi phạm hình sự của mọi cá nhân, tổ chức trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Việc áp dụng các điều, khoản trong quá trình tố tụng và xét xử được các cơ quan tư pháp tiến hành độc lập, theo đúng chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, do đó về mặt nguyên tắc là rất chặt chẽ, không có chuyện vi phạm dân chủ như một số trang mạng cố tình đoán mò rồi dẫn lái dư luận. Trong điều kiện hiện nay, với sự hỗ trợ của khoa học công nghệ nên thông tin được truyền đi nhanh chóng và rộng rãi. Trong lĩnh vực điều tra, xét xử các vụ án cũng có quy trình rất minh bạch, công khai, thông tin đầy đủ, điều đó không cho phép các cá nhân tham gia vào quy trình xử lý các vụ án có thể cố tình làm sai lệch kết quả điều tra, xét xử.

Tuy nhiên, trong thực tiễn, có những vụ án rất phức tạp, nhiều tình tiết, chứng cứ khó có thể làm rõ trong một thời hạn nhất định, chính vì thế mới xảy ra các lỗi trong quá trình điều tra, xét xử dẫn đến hiện tượng lọt người, sót tội ở một vài vụ án trong số hàng nghìn vụ án mà các cấp tòa phải xét xử hằng năm. Thế nên có thể khẳng định, việc sai sót trong điều tra các tình tiết cụ thể, có thể xảy ra, nhưng đó là do sai sót của từng khâu, thuộc về từng cá nhân tham gia vào quy trình điều tra, xét xử. Còn về mặt nguyên tắc tổng thể của quá trình điều tra, xét xử các vụ án hình sự là hoàn toàn chặt chẽ, minh bạch, thể hiện rõ sự nghiêm minh, ưu việt của pháp luật XHCN. Thế nên, không thể lấy một vài sai sót từ một số vụ án để quy chụp và xuyên tạc cả nền tư pháp của Việt Nam. Đó là tư duy và cách hiểu của những người cố tình phủ nhận sạch trơn hệ thống pháp luật của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, nhằm vào những mưu đồ và lợi ích cá nhân.

Lấy mạng xã hội làm tấm bình phong

Công nghệ viễn thông phát triển là cơ hội để truyền thông lan tỏa, đó là một trong những điều kiện để mở rộng dân chủ. Thế nhưng hiện nay, một số cá nhân đã lợi dụng vấn đề này để tung tin thất thiệt, bịa đặt các tình tiết về các vụ án hòng “câu viewˮ, “câu likeˮ, hướng lái dư luận và mục đích cụ thể, thực dụng hơn cả là kiếm tiền từ trên mạng. Chẳng hạn khi mở trang Youtube, gõ từ khóa “vụ án Hồ Duy Hải”, người dùng sẽ thấy xuất hiện hàng trăm clip liên quan đến vụ án. Trong số ấy có nhiều video clip với những thông tin kiểu dựng chuyện, bịa chuyện, trộn lẫn thật với giả khiến cho người xem như lạc vào mê cung, không thể phân biệt được đâu là thông tin đúng, đâu là thông tin sai. Cũng có những video clip lợi dụng các tình tiết của vụ án để bôi nhọ, nói xấu người này, chĩa mũi dùi vào người khác. Nghe các câu, từ bình luận trong clip, những người ít thông tin cứ ngỡ tác giả của video clip là những “nhà điều tra” tội phạm thực thụ, hoặc chí ít họ cũng có những “nguồn thông tin đáng tin cậy” như họ nói. Nhưng thực ra những người làm ra các video clip này hầu hết chỉ là những kẻ lừa bịp về truyền thông trên mạng xã hội. Tất cả thông tin mà họ đăng tải đều là do cóp nhặt trên mạng, kết hợp với sự bình luận bạt mạng, vô căn cứ, hoàn toàn theo ý chủ quan của bản thân người làm ra sản phẩm video clip. Hình ảnh trong các video clip này hầu hết là hình ảnh tĩnh mà họ nhặt nhạnh từ đâu đó, rồi gán ghép bằng những lời bình luận vô lối. Những trang mạng mang màu sắc phản động và có sự thù địch với Việt Nam, như: Việt Tân, BBC, RFA... thì có thêm các đoạn “phỏng vấn” truyền thanh một vài nhân vật đang có thiên hướng, hoặc đã từng thực hiện các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam, hòng làm ra vẻ sản phẩm của mình là “vô tư”, là “minh bạch”. Nhưng xâu chuỗi các video clip của họ lại thì thấy rõ, họ luôn hướng lái người nghe/xem đến mục tiêu chính trị, đó là xuyên tạc tính ưu việt của chế độ XHCN, xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội Việt Nam. Hầu hết nhân vật trong các video clip của các trang mạng nói trên đều cố “bày trò”, ra vẻ “vì sự dân chủ, công bằng”, nhưng cuối các đoạn phỏng vấn, bao giờ họ cũng lòi “cái đuôi cáo” về chính trị của mình ra.

Cũng trong môi trường mạng, hiện nay còn tồn tại một dạng thông tin thất thiệt, biến không thành có, dựng đứng nhiều chuyện. Thậm chí trong một số vụ án hình sự, họ còn sẵn sàng bịa thêm các chi tiết, nhân vật, hòng làm cho vụ án thêm ly kỳ, mục đích cuối cùng là để trang của mình có nhiều người quan tâm, theo dõi. Điều tai hại là sự bịa đặt này được phát đi phát lại, kiểu “mưa dầm thấm lâu”, khiến cho người nghe/xem chuyển từ phân vân đến nghi ngờ, rồi tin tưởng vào những điều không có thật. Đối với các vụ án quan trọng, có sự ảnh hưởng lớn, được dư luận quan tâm thì những thông tin giả này có thể sẽ làm cho xã hội nhìn nhận, đánh giá hoàn toàn sai lệch về quy trình điều tra, xét xử, khiến cho các tầng lớp nhân dân hiểu không đúng về bản chất vụ án, từ đó biểu hiện thái độ thiếu tin tưởng vào sự công minh của nền tư pháp XHCN. Đó là điều mà thế lực thù địch và những kẻ giả mạo thông tin mong muốn, bởi họ sẽ đạt được hai mục đích, tức là vừa thực hiện được âm mưu xuyên tạc nền tư pháp XHCN, đồng thời lại đạt được một yếu tố có tính cốt lõi, đó là lấy được tiền của nhà mạng nhờ vào những trang, những sản phẩm có nhiều người theo dõi. Đây cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến nhiều kẻ đã bất chấp đạo đức và luật pháp để bịa đặt thông tin hòng trục lợi, kiếm tiền từ sự tò mò, thiếu tỉnh táo của cộng đồng mạng.