Thứ Ba, 5 tháng 4, 2022

Quý II, tình hình phát triển KT-XH cả nước sẽ có khí thế mạnh mẽ hơn

 

Quý II, tình hình phát triển KT-XH cả nước sẽ có khí thế mạnh mẽ hơn

Sáng 5/4, Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì Hội nghị trực tuyến toàn quốc Chính phủ với các địa phương về tình hình kinh tế - xã hội tháng 3 và quý I năm 2022; triển khai Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội; tình hình, giải pháp đẩy nhanh tiến độ phân bổ, giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công năm 2022; việc triển khai các công trình giao thông quan trọng quốc gia.

Dự họp tại đầu cầu Trụ sở Chính phủ có các Phó Thủ tướng Chính phủ: Vũ Đức Đam, Lê Văn Thành; Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ. Dự tại đầu cầu 63 tỉnh, thành phố có Lãnh đạo UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các sở, ban, ngành liên quan.

Báo cáo tại Hội nghị cho biết, trong quý I năm 2022, các bộ, ban, ngành, địa phương tích cực triển khai các nhiệm vụ trọng tâm thực hiện Nghị quyết 01, 02, Nghị quyết 11 về chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, Nghị quyết 128 về thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh.

Chính phủ đã tập trung chỉ đạo thực hiện "đa mục tiêu" gồm tiếp tục kiểm soát dịch bệnh, thực hiện kiểm soát rủi ro, giảm số ca chuyển nặng, tử vong, không để quá tải hệ thống y tế; thúc đẩy phục hồi nhanh, phát triển kinh tế - xã hội bền vững, ổn định kinh tế vĩ mô, chăm lo an sinh xã hội; bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội trước các diễn biến phức tạp của tình hình thế giới…

Đáng chú ý, lãnh đạo Chính phủ tăng cường công tác thực tế tại cơ sở, thăm, khảo sát, làm việc nhằm gỡ những nút thắt quan trọng, đưa ra các giải pháp mang tính đột phá phát triển kinh tế-xã hội địa phương. Nhờ đó, tình hình kinh tế-xã hội đang phục hồi tích cực.

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I năm 2022 ước tính tăng 5,03% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân được kiểm soát ở mức 1,92%. Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội quý I năm 2022 theo giá hiện hành tăng 8,9% so với cùng kỳ năm 2021. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam 3 tháng đầu năm 2022 ước tính đạt 4,42 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài thực hiện cao nhất trong 5 năm qua.

Thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến ngày 15/3 đạt 25,5% dự toán năm. Chi ngân sách Nhà nước đạt 15,6% dự toán năm, đảm bảo các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý nhà nước, thanh toán các khoản nợ đến hạn cũng như chi trả kịp thời cho các đối tượng theo quy định.

Quý I năm 2022, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 176,35 tỷ USD, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 12,9%; nhập khẩu tăng 15,9%. Thị trường lao động có nhiều tín hiệu khởi sắc. Lực lượng lao động, số người có việc làm và thu nhập bình quân tháng của người lao động tăng so với quý trước và so với cùng kỳ năm trước. Công tác an sinh xã hội được các cấp từ Trung ương đến địa phương quan tâm thực hiện.

Về dịch COVID-19, số ca mắc tiếp tục tăng nhanh tại hầu hết các tỉnh, thành phố chủ yếu do biến thể BA.2 của biến chủng Omicron làm lây lan nhanh hơn. Tuy nhiên, với tỷ lệ bao phủ vaccine cao trên phạm vi toàn quốc, đặc biệt quan tâm chăm sóc đối tượng nguy cơ cao nên số ca chuyển nặng giảm và tỷ lệ tử vong trên số ca mắc giảm sâu...

Tại hội nghị, lãnh đạo các địa phương có các ý kiến tham luận, tập trung vào các bài học kinh nghiệm trong thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; giải pháp đẩy nhanh tiến độ phân bổ, giải ngân vốn đầu tư công và triển khai các công trình giao thông quan trọng quốc gia trên địa bàn; các khó khăn, vướng mắc, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân; đề xuất, kiến nghị với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành.

Lãnh đạo các bộ, ngành phát biểu tham luận và giải đáp các vướng mắc, kiến nghị của địa phương, đề xuất, kiến nghị với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các địa phương, nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, đẩy nhanh tiến độ phân bổ, giải ngân vốn đầu tư công.

Đặc biệt, các đại biểu thảo luận việc triển khai các công trình giao thông quan trọng gồm cao tốc Bắc Nam giai đoạn 2017-2020 và giai đoạn 2021-2025; Dự án Cảng Hàng không Quốc tế Long Thành; Dự án đường Vành đai 4 Vùng Thủ đô Hà Nội; Dự án đường Vành đai 3 TP Hồ Chí Minh; 3 dự án đường cao tốc: Khánh Hòa - Buôn Ma Thuột, Biên Hòa - Vũng Tàu, Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng. Trong đó có các vấn đề về giải phóng mặt bằng, giải quyết khó khăn về nguồn và giá vật liệu xây dựng.

Các Phó Thủ tướng Chính phủ phát biểu ý kiến cho rằng, quý II năm 2022, chúng ta bước vào giai đoạn bình thường hóa nên sẽ có bước chuyển về trọng tâm trong thực hiện các nhiệm vụ. Theo đó, cùng với phòng, chống dịch, cả nước đẩy mạnh các nhiệm vụ phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội; trong đó thúc đẩy phát triển du lịch, đưa học sinh trở lại trường học, đẩy mạnh giải ngân đầu tư công, tháo gỡ khó khăn, cải cách hành chính, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh chuyển đổi số…

Trước khi kết luận hội nghị, Thủ tướng Phạm Minh Chính gửi lời chia buồn sâu sắc tới các gia đình có người bị nạn do thiên tai; chia sẻ với các địa phương bị ảnh hưởng, thiệt hại do mưa lũ bất thường gây ra trong thời gian vừa qua.

Người đứng đầu Chính phủ cho biết, quý I năm 2022, tình hình quốc tế có những diễn biến mới như: xung đột tại Ukraine, lạm phát tăng cao tại một số nước, giá nguyên liệu đầu vào, giá dầu thế giới tăng, giá dịch vụ logistics tăng... đã tác động, ảnh hưởng trực tiếp tới Việt Nam. Bên cạnh đó, trong nước cũng bộc lộ những khó khăn nội tại; các vấn đề tồn đọng nhiều năm cần giải quyết và phát sinh nhiều vấn đề mới như các vi phạm liên quan thị trường bất động sản, chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, vấn đề môi trường, tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại…

Tuy nhiên, dưới sự chỉ đạo, lãnh đạo của Trung ương, Bộ Chính trị mà đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng; sự điều hành của Chính phủ, chính quyền các cấp; sự ủng hộ, vào cuộc, hưởng ứng của người dân, doanh nghiệp, tình hình kinh tế - xã hội đạt được những kết quả đáng trân trọng. Tình hình dịch COVID-19 được kiểm soát, các chỉ số về ca chuyển nặng và tử vong đều giảm sâu. Kinh tế - xã hội phục hồi nhanh và tăng trưởng khá, nhiều địa phương có mức tăng trưởng trên dưới 10%. Kinh tế vĩ mô được duy trì ổn định, lạm phát trong vòng kiểm soát, thị trường tiền tệ, lãi suất ổn định, các cân đối lớn của nền kinh tế đảm bảo.

Thủ tướng cũng cho biết, thu hút vốn đầu tư nước ngoài và vốn đầu tư ngoài xã hội đạt kết quả tích cực. Phát triển doanh nghiệp khởi sắc, với 60.000 doanh nghiệp đăng ký mới và trở lại thị trường. Các lĩnh vực thương mại, dịch vụ phục hồi tích cực, sôi động trở lại. An sinh xã hội tiếp tục được quan tâm, đời sống người dân được đảm bảo, với hơn 79.000 tỷ đồng được chi hỗ trợ cho hơn 48,6 triệu người và hơn 742.000 đơn vị sử dụng lao động. Độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững. Chính trị ổn định. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. Công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế được tăng cường, đạt hiệu quả.

Đạt được kết quả trên là do các bộ, ngành, địa phương đã nghiêm túc thực hiện các chủ trương, đường lối, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Quốc hội, Chính phủ. Hệ thống chính trị và người dân, doanh nghiệp ở các địa phương nỗ lực, vươn lên. Đặc biệt, sự phối hợp triển khai các nhiệm vụ giữa các bộ, ngành với các địa phương chặt chẽ và có hiệu quả hơn.

Thủ tướng Chính phủ nhận định, tình hình trong thời gian tới vẫn còn những tồn tại, khó khăn, rủi ro: Dịch bệnh vẫn diễn biến phức tạp. Áp lực về lạm phát tăng cao; giải ngân vốn đầu tư công vẫn chậm; nợ xấu có nguy cơ tăng. Thị trường chứng khoán, bất động sản, trái phiếu doanh nghiệp tiềm ẩn rủi ro. Đời sống một bộ phận người dân còn khó khăn; nhà ở của lao động tại một số nơi chưa giải quyết tốt. Thiên tai vẫn tiềm ẩn bất thường… Cùng với đó, một số thị trường lớn của Việt Nam đang có những diễn biến mới, ảnh hưởng tới quá trình hợp tác, phát triển với nước ta.

Theo Thủ tướng, từ thực tiễn thời gian qua, một số bài học rút ra cần ghi nhận. Đó là: Các địa phương phải phát huy tinh thần đại đoàn kết, thống nhất trong toàn hệ thống chính trị và toàn dân. Các địa phương phát huy được tính tự chủ, tự lực, tự cường để xử lý các vấn đề và thúc đẩy phát triển. Các cấp lãnh đạo chính quyền chủ động, tích cực để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Tiếp tục tăng cường kỷ luật, kỷ cương. Giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Đẩy mạnh phòng, chống tiêu cực, tham nhũng, nhất là các lĩnh vực nhạy cảm như đất đai, tài nguyên, chứng khoán…

Người đứng đầu Chính phủ nhận định, trong quý II năm 2022 và thời gian tới vẫn còn nhiều khó khăn cả do tình hình thế giới tác động, khó khăn nội tại và có thể có những khó khăn chưa dự báo được. Do đó, các bộ, ngành, địa phương đã cố gắng rồi, cố gắng hơn nữa; đã quyết tâm rồi, quyết tâm cao hơn nữa; lựa chọn trọng tâm, trọng điểm để lãnh đạo, điều hành; làm việc gì, dứt điểm việc đó; tăng cường tính tự lực, tự cường hơn nữa… thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ.

Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các ngành, địa phương tập trung vào 12 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu. Theo đó, tiếp tục thực hiện thật tốt các Nghị quyết Trung ương, nhất là Kết luận Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII; Chương trình phòng, chống COVID-19; Chương trình phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội; các Nghị quyết của Chính phủ về đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, đổi mới, sáng tạo.

Cùng với đó, phải giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đảm bảo các cân đối lớn. Đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, coi đây là một nhiệm vụ trọng tâm. Tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh. Tận dụng các Hiệp định thương mại tự do (FTA) để mở rộng thị trường xuất khẩu. Thúc đẩy thị trường trong nước. Xử lý nghiêm các hành vi buôn lậu, gian lận thương mại. Tăng cường thanh tra, giám sát, điều tra, nắm tình hình liên quan đến bất động sản, trái phiếu, môi trường, chứng khoán, xăng dầu. Cơ cấu lại, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh và khả năng chống chịu của nền kinh tế.

Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, ứng phó với biến đổi khí hậu và thực hiện cam kết tại COP 26. Coi trọng phát triển văn hóa, giáo dục, đào tạo, đảm bảo an sinh xã hội, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân trong bất cứ hoàn cảnh nào.

Trước mắt, nâng cao chất lượng dự báo thời tiết, cảnh báo thiên tai để giảm thiệt hại. Đẩy mạnh tốc độ phục hồi kinh tế, nhất là du lịch. Tổ chức các hình thức dạy - học phù hợp, an toàn. Thúc đẩy tiêm vaccine theo kế hoạch, nhất là tiêm vaccine cho trẻ em từ 5 đến dưới 12 tuổi. Đảm bảo cung cầu lao động. Tập trung rà soát, hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính phục vụ người dân, doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, Thủ tướng đề nghị đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Rà soát cơ chế, pháp luật, phát hiện các lỗ hổng để điều chỉnh; xử lý nghiêm các sai phạm. Giữ vững độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; ổn định chính trị, đảm bản trật tự an toàn xã hội. Tăng cường thông tin, truyền thông tạo đồng thuận xã hội và đấu tranh, phản bác những thông tin xấu độc trên các nền tảng. Tăng cường thông tin hướng dẫn, trao đổi, tọa đàm về những giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống tinh thần, vật chất của nhân dân, phát triển văn hóa ngang tầm với phát triển kinh tế…

Đối với các dự án giao thông trọng điểm, Thủ tướng Phạm Minh Chính chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương phối hợp, tập trung chỉ đạo, thực hiện thật tốt công tác giải phóng mặt bằng, đảm bảo cho người dân di dời có đời sống vật chất, tinh thần cao hơn nơi ở cũ. Tiếp tục làm tốt công tác quy hoạch, khai thác mỏ nguyên vật liệu. Xem xét, xử lý kịp thời, phù hợp về giá nguyên vật liệu xây dựng. Chủ động lập các dự án liên quan đất rừng, đất lúa. Đẩy mạnh công tác quy hoạch, với tầm nhìn dài hơi, có tính chiến lược, tư duy đột phá.

Về các đề xuất của các địa phương, Thủ tướng giao Văn phòng Chính phủ tổng hợp để các bộ, ngành liên quan xử lý theo chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền; những vấn đề vượt thẩm quyền trình Chính phủ xử lý.

Thủ tướng Phạm Minh Chính mong muốn và tin tưởng, trong quý II năm 2022, tình hình phát triển kinh tế - xã hội cả nước sẽ có khí thế mạnh mẽ hơn, hiệu quả hơn, bền vững hơn.

 

Xây dựng hình tượng Bộ đội Cụ Hồ trong thời đại mới

 Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, hình ảnh anh Bộ đội Cụ Hồ bình dị mà kiên cường, hiền lành mà dũng cảm, khiêm nhường mà tài giỏi, không sợ hy sinh gian khổ, với lý tưởng cao cả “Không có gì quý hơn độc lập tự do”... đã trở thành nguồn sống cho VHNT cách mạng. VHNT cách mạng lớn lên từ sức sống ấy lại trở thành nguồn cổ vũ to lớn, góp phần làm nên những kỳ tích của cách mạng Việt Nam. Ai đã từng hành quân gian khổ mới hiểu sức mạnh tinh thần là như thế nào.

Để có thể bước tiếp, cùng với ý chí chính là tinh thần, chính là sự thôi thúc của VHNT, trong đó có giai điệu Bác đang cùng chúng cháu hành quân (Huy Thục). Nhiều chiến sĩ trên đường ra trận, trong ba lô vẫn có cuốn tiểu thuyết Thép đã tôi thế đấy (Nikolai A.Ostrovsky) như là bùa hộ mệnh vậy.

Đọc nhật ký Mãi mãi tuổi hai mươi của Nguyễn Văn Thạc và Nhật ký Đặng Thùy Trâm, chúng ta có thể hình dung sức mạnh của VHNT có ý nghĩa như thế nào với người lính trên chiến trường xưa. Vậy ngày nay, anh Bộ đội Cụ Hồ có còn cần sức mạnh từ VHNT? Và, cuộc sống học tập, chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ) của Bộ đội Cụ Hồ ngày nay có là nguồn cảm hứng cho VHNT phát triển?

Xây dựng hình tượng Bộ đội Cụ Hồ trong thời đại mới
 Ảnh minh họa: TTXVN

Hình tượng Bộ đội Cụ Hồ trong chiến tranh giải phóng

Có thể nói, VHNT thời kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cứu nước đã rất thành công trong việc khắc họa hình tượng Bộ đội Cụ Hồ. Đó là những con người xuất sắc nhất, đẹp nhất: “Hoan hô anh Giải phóng quân/ Kính chào anh, con người đẹp nhất/ Lịch sử hôn anh, chàng trai chân đất/ Sống hiên ngang, bất khuất trên đời” (Bài ca xuân 68, Tố Hữu).

Những con người đẹp nhất ấy là những con người bình dị, “người lính trường chinh áo mỏng manh”, những con người từ những làng quê nghèo: “Quê hương anh nước mặn, đồng chua/ Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”. Hình ảnh người đồng chí, người lính chân thật không một nét tô vẽ: “Áo anh rách vai/ Quần tôi có vài mảnh vá/... Chân không giày... Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ”... Đôi tri kỷ cùng lý tưởng giải phóng quê hương, đất nước, bởi thế họ mới “Đứng bên nhau chờ giặc tới” rất tự tin, thanh thản, đẹp, tự nhiên nhưng cũng hết sức lãng mạn: “Đầu súng trăng treo” (Đồng chí, Chính Hữu).

Hình ảnh anh Bộ đội Cụ Hồ từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, sống trong lòng dân được ví như cá với nước đã luôn xuất hiện trong VHNT. Hình ảnh gần gũi, thân thương và hết sức sống động của anh Bộ đội Cụ Hồ rất dễ gặp trong các tác phẩm VHNT từ thơ ca, hội họa, âm nhạc.

Dù khắc họa cách này hay cách khác, anh Bộ đội Cụ Hồ cũng hiện lên trong các tác phẩm VHNT hết sức chân thực, đó là hình ảnh đại diện cho một thế hệ Việt Nam anh hùng, bất khuất, dũng cảm, kiên cường, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, hết lòng phục vụ nhân dân.

Thông qua những hình ảnh sống động của các tác phẩm nghệ thuật, người ta hình dung được hình tượng tuyệt vời, hình tượng hiên ngang của người có chính nghĩa đại diện cho một dân tộc anh hùng, đại diện cho chân lý, đại diện cho lực lượng tiến bộ, yêu chuộng hòa bình...

Người chiến sĩ giải phóng quân hy sinh trên đường băng Tân Sơn Nhất được Lê Anh Xuân khắc họa “Đứng lặng im như bức thành đồng” và đã “Để lại cái dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ”. Đúng như vậy! Hình tượng anh Bộ đội Cụ Hồ “tạc vào thế kỷ 20" là hình tượng bất diệt sẽ sống mãi cùng lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới!

Loài người tiến bộ sẽ ngày càng nhận thức rõ hình tượng tuyệt vời của anh Bộ đội Cụ Hồ thế kỷ 20 là người chiến sĩ của hòa bình tự do và công lý! Từ hình ảnh cụ thể người chiến sĩ hy sinh trên đường băng Tân Sơn Nhất, Lê Anh Xuân đã xây dựng hình tượng dáng đứng Việt Nam, để từ dáng đứng ấy “Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân”.

Điều đó khẳng định nghệ thuật có khả năng khái quát kỳ diệu, hình tượng nghệ thuật có đường đi riêng của nó, được xây dựng từ cái thực, cái cụ thể thành một cái chung, một cái khái quát mạnh mẽ hơn, đẹp hơn và thực hơn cả cái thực đơn lẻ. Vấn đề là làm thế nào để chớp được những khoảnh khắc hiếm có của những nhân vật đặc biệt trong hoàn cảnh đặc biệt.

Có ý kiến cho rằng, trong chiến đấu trực diện với kẻ thù xâm lược mới có những khoảnh khắc như vậy! Và trong khoảnh khắc ấy, hoàn cảnh ấy, trái tim người viết mới dâng tràn cảm xúc để sáng tạo nghệ thuật. 

Quả thực, hình tượng nghệ thuật tự hình thành từ hiện thực khách quan, chứ không thể “xây đắp, tô vẽ”, nhưng hiện thực khách quan cũng không tự trở thành hình tượng nghệ thuật nếu thiếu sự sáng tạo của người sáng tác. Vai trò của các nhà văn, các nhà sáng tạo nghệ thuật là hết sức quan trọng. Họ là thợ săn tài năng có thể “săn bắt” hiện thực khách quan.

Với nhà văn, nhà thơ, nhà sáng tạo nghệ thuật thì nó không chỉ có thế. Người họa sĩ nhìn thấy cái ánh sáng hết sức tinh tế của trăng trong tác phẩm cô gái tắm dưới trăng. Nhà thơ còn có thể hẹn hò cùng trăng: “Việc quân đang bận xin chờ hôm sau” khi “Trăng vào cửa sổ đòi thơ”! (Hồ Chí Minh).

Hình ảnh anh Bộ đội Cụ Hồ muốn trở thành hình tượng trong VHNT thì chủ thể sáng tạo thuộc về các nhà văn, các nhà sáng tạo nghệ thuật... Còn với bộ đội thời nay, hoạt động sáng tạo trong luyện tập SSCĐ và chiến đấu, chính là hoạt động tạo nên cái hiện thực khách quan sinh động làm tiền đề để xây dựng hình tượng nghệ thuật về anh Bộ đội Cụ Hồ thời hiện đại.

Đôi điều suy nghĩ 

Từ những phân tích trên chúng tôi cho rằng, để xây dựng hình tượng anh Bộ đội Cụ Hồ thời hiện đại trong tác phẩm VHNT, cần quan tâm đến hai thành phần quan trọng sau:

Thứ nhất, là người sáng tạo VHNT. Đó là những nhà văn, nhà hội họa, nhạc sĩ, đạo diễn, nghệ sĩ... những chủ thể sáng tạo VHNT. Không có họ không có VHNT, không có VHNT thì không có hình tượng nghệ thuật về anh Bộ đội Cụ Hồ!

Với vai trò chủ thể ấy, đội ngũ này cần được quan tâm đặc biệt. Về đào tạo, đành rằng lĩnh vực sáng tạo VHNT không đơn thuần học trong sách vở mà thành được, nhưng không học, không có tri thức, không có sự hiểu biết sâu rộng không thể thành công lớn trong sáng tạo VHNT.

Lĩnh vực sáng tạo cần người có năng lực trời phú, người có “thiên bẩm” đặc biệt được trân trọng, nhưng không vì thế mà đề cao một cách lệch lạc về yếu tố này. Không được đào tạo khó có thể thành công lớn. Nhìn đội ngũ các nhà văn, các nhà hội họa, các nhạc sĩ, đạo diễn, nghệ sĩ tên tuổi một thời, phần lớn họ được đào tạo tại Liên Xô (trước đây) và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, Trung Quốc, Cuba...

Hiện công tác đào tạo trong nước cũng đã được chú trọng, các hội cũng mở nhiều trại sáng tác có kết quả tốt... Tuy nhiên, đào tạo tại nước ngoài trong điều kiện mở cửa hội nhập là hết sức cần thiết. Nhà nước nên có chính sách cụ thể về việc này.

Cùng với việc đào tạo tại các trường, các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước, cần tạo môi trường thực tiễn sinh động cho sáng tạo VHNT. Bài học sinh động của những văn nghệ sĩ áo lính ra chiến trường vẫn còn nguyên giá trị cho hôm nay. Nếu không hành quân trên dãy Trường Sơn thì Phạm Tiến Duật khó có Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây hay Tiểu đội xe không kính; Hữu Thỉnh không là lính xe tăng khó có Năm anh em trên một chiếc xe tăng.

Nên chăng có những chiến sĩ cầm bút nơi biên cương, nơi hải đảo bình yên nhưng cũng đầy thách thức hiểm nguy. Nếu có thể có người cầm bút theo các chiến sĩ Việt Nam tham gia lực lượng Gìn giữ hòa bình với những hoạt động mới mẻ khẳng định tầm vóc anh Bộ đội Cụ Hồ thời đại mới.

Chỉ có đẫm mình trong thực tiễn sinh động mới có những cảm xúc thực và những thăng hoa nghệ thuật đặc sắc. Thợ săn phải vào rừng. Đánh bắt cá lớn phải ra khơi xa. Điều giản đơn ấy chắc không ai phủ nhận!

Thứ hai là anh Bộ đội Cụ Hồ. Cần nhận diện anh Bộ đội Cụ Hồ thời nay như thế nào? Cái gốc anh bộ đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu có lẽ không có nhiều thay đổi. Nhưng nhân dân Việt Nam ngày nay cũng đã có nhiều điều khác xưa, ít nhất không nghèo như xưa, không có cảnh “Áo anh rách vai/ Quần tôi có vài mảnh vá”.

Người mẹ Hà Bắc thương anh bộ đội cũng không phải vá tấm áo cho các anh! Nhưng tình quân dân về bản chất vẫn hết sức sâu nặng, gắn bó, tình đồng chí, đồng đội vẫn "Như năm ngón tay trên một bàn tay”, vấn đề là hoàn cảnh và sự biểu cảm đã khác. Người sáng tạo không thể lặp lại hình ảnh cũ. Nhiều người cho rằng ngày nay, trong hòa bình khó có được những hình ảnh anh Bộ đội Cụ Hồ như trong chiến tranh.

Đúng là thế! Nhưng giả sử có cái gì đó giống thế mà sao chép lại cũng không thành nghệ thuật. Nghệ thuật tối kỵ sự nhàm chán, sao chép hời hợt.

Có lẽ phải nhìn nhận anh Bộ đội Cụ Hồ ở tầm kích mới, tư duy mới, nhiệm vụ và vị thế mới. Anh Bộ đội Cụ Hồ hôm nay với nhiệm vụ lớn lao là giữ gìn hòa bình cho đất nước, đồng thời tham gia gìn giữ hòa bình thế giới. Nhiệm vụ giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ cả vùng trời, vùng biển và đất liền trong hoàn cảnh ngày nay cũng hết sức phức tạp.

Không chỉ cần làm chủ vũ khí, khí tài hiện đại mà còn đủ hiểu biết và sự kiên nhẫn, khôn ngoan để không bị kích động rơi vào bẫy kẻ thù, đồng thời lại đủ nhanh nhẹn, sáng tạo kiên quyết giữ vững chủ quyền đất nước.

Xem vậy, anh Bộ đội Cụ Hồ thời nay phải học tập, rèn luyện phẩm chất, ý chí và năng lực tác chiến đặc biệt cao mới có thể hoàn thành nhiệm vụ. Mặt khác, nhu cầu chính đáng về đời sống vật chất và tinh thần của mỗi người cũng có những tác động không nhỏ đến tâm tư và hình ảnh người lính. Quả thật, để xây dựng hình tượng nghệ thuật Bộ đội Cụ Hồ cho xứng tầm trong thời nay thật không dễ. Có thể phải trông chờ những người cầm bút tình nguyện sống rèn luyện SSCĐ và chiến đấu như người lính thực thụ để hiểu sâu sắc hơn về người lính Cụ Hồ hôm nay.

Thay lời kết

Vấn đề đặt ra thật thú vị! Tuy nhiên, kết quả của nó lại phải chờ thời gian kiểm chứng. VHNT không phải cái muốn là có ngay. Hy vọng và tin tưởng hình ảnh sống động của anh Bộ đội Cụ Hồ thời hiện đại sẽ là chất men say nồng làm cho các nhà sáng tạo nghệ thuật xây dựng hình tượng anh Bộ đội Cụ Hồ “tạc vào thế kỷ 21”, thế kỷ Việt Nam vươn tới chân trời mới!

Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tài chính Quân đội năm 2022

 Năm 2021, bên cạnh thuận lợi cơ bản, toàn quân triển khai nhiệm vụ trong điều kiện đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức do các thế lực thù địch, phản động đẩy mạnh hoạt động chống phá trên nhiều lĩnh vực; yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc đặt ra ngày càng cao; thiên tai, dịch bệnh, đặc biệt là đợt bùng phát dịch Covid-19 lần thứ tư, không chỉ gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế - xã hội; sức khỏe, tính mạng của nhân dân, mà còn tác động trực tiếp đến chi tiêu ngân sách thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Trong tình hình đó, thực hiện phương châm đi trước một bước, ngành Tài chính Quân đội đã chủ động tham mưu cho cấp ủy, chỉ huy các cấp tạo lập, huy động các nguồn lực; cân đối, bố trí ngân sách đúng trọng tâm, trọng điểm, bảo đảm kịp thời cho nhiệm vụ thường xuyên, đột xuất, nhất là cho các chương trình, mục tiêu theo định hướng của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng. Các đơn vị tiếp tục triển khai tốt cơ chế quản lý tài chính mới; chủ động bố trí, sử dụng kinh phí, tập trung nguồn lực cho nhiệm vụ trọng yếu; điều hành, chấp hành dự toán ngân sách được tiến hành chặt chẽ, phù hợp với tình hình thực tiễn; quản lý tài chính, tài sản, đất đai nghiêm túc, đúng pháp luật; thanh tra, kiểm tra, kiểm toán đúng quy định, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách Nhà nước.

Bên cạnh kết quả đạt được, chất lượng lập và phân bổ dự toán ngân sách ở một số đơn vị còn hạn chế, phải điều chỉnh dự toán ngân sách nhiều lần trong năm; giải ngân các khoản kinh phí đầu tư, mua sắm trang bị còn chậm; dự báo nhiệm vụ gắn với dự toán chưa sát; công tác liên thẩm, kiểm tra dự toán, sử dụng ngân sách giữa cơ quan tài chính và ngành nghiệp vụ có nơi thiếu thường xuyên, chưa kịp thời, v.v.

Năm 2022, dự báo tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có diễn biến nhanh chóng, phức tạp. Cạnh tranh chiến lược, xung đột quân sự, cạnh tranh thương mại,... giữa các nước lớn diễn ra gay gắt cùng với ảnh hưởng của dịch bệnh làm đứt gẫy chuỗi cung ứng toàn cầu; giá các mặt hàng thiết yếu tăng cao. Tình hình thiên tai, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường tiếp tục gia tăng, diễn biến bất thường, tạo thách thức lớn đối với việc chi tiêu, bảo đảm ngân sách, tài chính cho các lực lượng trong toàn quân. Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo đảm tốt ngân sách cho hoạt động quân sự, quốc phòng, Ngành chủ động bám sát kế hoạch nhiệm vụ, tích cực tham mưu cho Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện công tác tài chính; trong đó, tập trung vào các nhiệm vụ trọng tâm sau:

Một là, tăng cường các biện pháp tạo lập nguồn tài chính cho thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Hiện nay, việc suy thoái kinh tế do chiến tranh, xung đột và đại dịch Covid-19 đã, đang ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định, phát triển của các quốc gia, dân tộc. Trước thực tế đó, việc kết hợp, tạo nguồn tài chính một cách linh hoạt, phù hợp với thực tiễn là vấn đề hết sức quan trọng. Theo đó, cùng với tích cực, chủ động lập dự toán ngân sách, báo cáo giải trình với các cơ quan Nhà nước và trình Quốc hội phê duyệt ngân sách nhà nước chi cho quốc phòng năm 2022, Cục Tài chính phối hợp với các cơ quan chức năng thực hiện tốt Quy chế quản lý tài chính trong sử dụng đất quốc phòng kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế của Bộ Quốc phòng, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong khai thác, tạo lập nguồn tài chính từ hoạt động có thu tại các đơn vị. Các quân khu, bộ chỉ huy quân sự và bộ chỉ huy bộ đội biên phòng các tỉnh, thành phố tích cực huy động nguồn ngân sách địa phương bố trí cho nhiệm vụ quốc phòng. Các ngành, đơn vị huy động nguồn hàng tồn kho, luân chuyển, thu hồi, thanh xử lý tài sản, đẩy mạnh tăng gia sản xuất để tạo nguồn thu; các cơ sở sản xuất tăng cường liên doanh, liên kết, tận dụng nhân lực, cơ sở vật chất hiện có để sản xuất hàng hóa dịch vụ cho xã hội,... góp phần tăng thu để cân đối ngân sách. Chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị lập dự toán ngân sách nhà nước chi cho quốc phòng năm 2023 phù hợp với khả năng bảo đảm của Nhà nước và sát với kế hoạch nhiệm vụ được giao.Đối với lĩnh vực đầu tư công, các đơn vị tích cực triển khai dự án đầu tư làm cơ sở giải ngân thanh toán; rà soát, kịp thời báo cáo điều chỉnh kế hoạch vốn từ dự án không có khả năng thực hiện sang dự án có khả năng thực hiện để đảm bảo giải ngân hết kế hoạch vốn được giao năm 2022. Đồng thời, đẩy mạnh công tác quyết toán vốn đầu tư công, khắc phục, hạn chế tối đa việc chậm thẩm tra quyết toán. Đối với dự án mở mới, Cục sẽ phối hợp với các ngành, cơ quan liên quan chủ động đề xuất danh mục công trình mở mới năm 2023 trong kế hoạch đầu tư trung hạn 2021 - 2025, báo cáo Bộ Quốc phòng phê duyệt để các đơn vị, chủ đầu tư chủ động triển khai các thủ tục đầu tư và giải ngân vốn ngay khi được giao. Để nâng cao hiệu quả, Cục tiếp tục bám sát thực tiễn chỉ đạo, hướng dẫn cơ quan tài chính các cấp tích cực ứng dụng công nghệ thông tin, đáp ứng tốt yêu cầu công tác thống kê, tổng hợp số liệu chi ngân sách phục vụ công tác chỉ huy, điều hành, bảo đảm các yêu cầu chuyển đổi số trong ngành Tài chính Quân đội.Hai là, đẩy mạnh thực hiện các biện pháp quản lý, điều hành dự toán ngân sách, bảo đảm chặt chẽ, linh hoạt và kịp thời. Để thực hiện tốt việc đổi mới, đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao chất lượng công tác quyết toán, giám sát tài chính, Cục tăng cường đôn đốc, kiểm tra cơ quan tài chính các cấp làm tốt công tác quyết toán ngân sách, giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp quân đội năm 2021. Đối với chấp hành dự toán ngân sách, Cục tập trung tham mưu, giúp Bộ Quốc phòng thực hiện tốt công tác quản lý tài chính trong Quân đội, triển khai quyết liệt các giải pháp điều hành dự toán ngân sách năm 2022. Trọng tâm là chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị chủ động sắp xếp, tiết giảm những khoản chi chưa thực sự cần thiết, tập trung ngân sách cho các nhiệm vụ theo định hướng: ưu tiên bảo đảm chế độ, chính sách, đời sống bộ đội; đáp ứng yêu cầu của tổ chức, biên chế mới; tập trung cho nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, diễn tập, bảo vệ biển, đảo, biên giới; bảo đảm kịp thời cho công tác hậu cần, kỹ thuật, mua sắm vũ khí, trang bị; thực hiện các chương trình, dự án trọng điểm, cấp bách trong kế hoạch năm 2022 và khung ngân sách 05 năm 2021 - 2025 đã được Bộ trưởng phê duyệt và tiếp tục bảo đảm kịp thời ngân sách cho công tác phòng, chống dịch Covid-19, khắc phục hậu quả thiên tai.

Ba là, tăng cường quản lý vốn, tài sản nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp. Để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, tạo nguồn lực cho thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, một mặt, Cục tăng cường công tác kiểm tra, giám sát tài chính doanh nghiệp, giám sát công tác quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp, nhằm thúc đẩy doanh nghiệp vừa cạnh tranh bình đẳng trên thị trường, phát triển bền vững, vừa bảo đảm tốt nguồn lực cho sản xuất hàng quốc phòng và thực hiện nhiệm vụ quốc phòng trên địa bàn chiến lược; trong đó, chú trọng vào việc phát hiện, cảnh báo các dấu hiệu mất an toàn về tài chính để kịp thời khắc phục, xử lý. Mặt khác, Cục tiếp tục tham mưu giúp Bộ Quốc phòng phương án cơ cấu lại nguồn lực tài chính của các doanh nghiệp, như: xây dựng phương án cấu trúc lại nguồn vốn; thực hiện quyết liệt việc thoái vốn đối với các khoản đầu tư ra ngoài doanh nghiệp không hiệu quả hoặc hiệu quả thấp, không đúng với ngành nghề kinh doanh chính; thoái vốn nhà nước tại các công ty cổ phần và rà soát, xử lý các khoản thua lỗ, tồn đọng về tài chính. Cục phối hợp với các cơ quan chức năng báo cáo Bộ Quốc phòng, trình Chính phủ điều chỉnh Đề án đổi mới, cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp đảm bảo phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ, khả năng, tiến độ triển khai và đồng bộ với các Đề án khác đã được Bộ Chính trị thông qua. Đối với các doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh, Cục phối hợp với các cơ quan chức năng tham mưu cho Bộ Quốc phòng làm việc với các cơ quan nhà nước tiếp tục triển khai cơ chế đặc thù hỗ trợ cho doanh nghiệp quốc phòng, an ninh, doanh nghiệp đứng chân trên địa bàn chiến lược; điều chỉnh, bổ sung vốn điều lệ của doanh nghiệp phù hợp với yêu cầu tăng cường năng lực sản xuất hàng quốc phòng.

Bốn là, tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính trong Bộ Quốc phòng. Trước mắt, Cục tập trung nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính trên cơ sở nội dung của Đề án đổi mới cơ chế quản lý tài chính Quân đội, trọng tâm là sửa đổi Hướng dẫn số 8568/HD-BQP, ngày 08/8/2019 của Bộ Quốc phòng về công tác lập dự toán, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước trong Bộ Quốc phòng, bảo đảm sát với yêu cầu thực tiễn và có lộ trình thực hiện khả thi. Triển khai xây dựng hệ thống định mức lập, phân bổ dự toán ngân sách nhà nước chi thường xuyên, làm cơ sở cho các đơn vị lập, phân bổ dự toán ngân sách hằng năm. Đồng thời, tham mưu cho Bộ Quốc phòng đẩy mạnh cơ chế phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm trong quản lý tài chính, đánh giá kết quả công tác của người đứng đầu gắn với mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao trong quản lý, sử dụng tài chính, ngân sách,... để tiếp tục siết chặt kỷ luật, kỷ cương tài chính.

Cùng với đó, Cục đẩy nhanh tiến độ xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về hệ thống bảng lương mới theo yêu cầu của Ban Chỉ đạo Trung ương về cải cách chính sách tiền lương; xây dựng, báo cáo cấp có thẩm quyền ban hành Thông tư quy định chế độ, tiêu chuẩn tiền ăn, quân nhu đối với lực lượng thực hiện nhiệm vụ ở Trường Sa, Nhà giàn; nghiên cứu chế độ, chính sách ưu đãi, thu hút cho các đối tượng ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Đối với cơ chế tài chính của các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực sự nghiệp, trên cơ sở kết quả thực hiện cơ chế tự chủ tài chính của các bệnh viện Quân đội, Cục tiếp tục rà soát, đề xuất với Bộ Quốc phòng triển khai cơ chế tự chủ tài chính đối với loại hình đơn vị khác, như: đoàn an, điều dưỡng; tổ chức khoa học và công nghệ. Nội dung tự chủ về tài chính được xây dựng trên cơ sở quy định chung của pháp luật về tự chủ tài chính gắn với các quy định cụ thể cho phù hợp với đặc thù quốc phòng. Trong đó, các nhiệm vụ chi cho thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và nhiệm vụ Nhà nước giao đều được ngân sách bảo đảm; các hoạt động sự nghiệp và hoạt động khác, đơn vị lập phương án tự chủ tài chính, đề xuất kinh phí hỗ trợ cho phần chênh lệch thu nhỏ hơn chi.

Cùng với các nhiệm vụ đó, ngành Tài chính tập trung tham mưu cho cấp ủy, thủ trưởng các cấp tổ chức tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 513-NQ/QUTW, ngày 21/9/2012 của Thường vụ Quân ủy Trung ương về công tác tài chính Quân đội đến năm 2020 và những năm tiếp theo; trong đó, đi sâu đánh giá toàn diện những kết quả, thành tích đạt được, chỉ rõ hạn chế, yếu kém, nguyên nhân, trách nhiệm và bài học kinh nghiệm trong quán triệt, tổ chức thực hiện ở từng cấp, làm cơ sở đề xuất các chủ trương, giải pháp cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác tài chính Quân đội phù hợp với tình hình mới.

Người Đảng viên kiên cường nơi sóng gió Cồn Cỏ.

 Cuối tháng 7-2020, tôi được đến với huyện đảo Cồn Cỏ (tỉnh Quảng Trị) và tình cờ gặp Trạm trưởng Trạm Khí tượng hải văn Cồn Cỏ Nguyễn Đình Nghị. Được nghe đồng chí kể về những thời khắc “giằng co” với bão, một cuộc “giằng co” vô cùng khốc liệt khi mà ranh giới giữa sự sống với cái chết quá đỗi mong manh thì mới thấy công việc của người làm khí tượng hải văn ngoài đảo nguy hiểm nhường nào.

“Đâu cần thanh niên có…”

“Mới đó mà đã 16 năm”, đồng chí Nguyễn Đình Nghị bắt đầu câu chuyện với tôi như thế khi được hỏi về những ngày đầu tiên đặt chân đến đảo. Đó là một ngày biển động của năm 2004, và cũng là thời điểm huyện đảo Cồn Cỏ được thành lập sau nhiều năm là một phần của mảnh đất Vĩnh Linh. Ngày đó phương tiện đi lại còn thô sơ, đồng chí phải đợi ở Cửa Tùng đến mươi ngày, đợi sóng yên ả mới có tàu cá của bà con qua để đi nhờ. Khoảng cách chỉ 15 hải lý nhưng con tàu lênh đênh trên biển đến 3 giờ đồng hồ, những con sóng xô đập vào tàu, bắn tung tóe khiến đồng chí ướt hết người.

Mặc dù đã được cấp trên làm công tác tư tưởng, thế nhưng đồng chí cũng không thể hình dung được hòn đảo này lại hoang sơ đến vậy. Đường sá, các cơ sở hạ tầng còn rất thô sơ, trụ sở làm việc là những nhà cấp 4 lụp xụp, xuống cấp. Cây cối mọc um tùm lấn vào cả nhà. Trên đảo không có điện, không có sóng điện thoại, thiếu nước ngọt và lương thực, thực phẩm. Mọi thứ sử dụng đều hết sức tiết kiệm. Ánh sáng hiếm hoi của buổi tối được phát ra từ chiếc đèn ắc quy mà đến giờ làm việc mới được phép bật lên, trong khi dây điện phải chắp nối chằng chịt. Mỗi ngày đồng chí chỉ có 2 bữa, bữa sáng vào lúc 8 giờ, bữa chiều ăn lúc 4 giờ để tranh thủ lúc trời còn sáng.

“Ngày ấy việc quan trắc được thực hiện hoàn toàn thủ công, thông tin quan trắc được chuyển về bằng máy I-com, với những dãy số mã hóa khí tượng hải văn. Các thiết bị máy móc đều chạy bằng ắc-quy và pin mặt trời. Máy nổ chỉ được phép dùng trong những ngày mưa bão. Nhưng tất cả những khó khăn ấy đều không “đáng sợ” bằng việc thiếu hơi ấm của người đất liền ra. Thế rồi, mọi thiếu thốn về vật chất lẫn tinh thần cũng qua đi, lấy tiếng sóng thay tiếng người, 4 anh em ở Trạm động viên nhau cố gắng hoàn thành nhiệm vụ”, đồng chí Nguyễn Đình Nghị nhớ lại.

Chia sẻ động lực để vững tin ở lại và gắn bó đến giờ, đồng chí bảo, bản thân luôn khắc ghi lời dạy của Bác Hồ: “Đâu cần thanh niên có/ Đâu khó có thanh niên”. Đã là thanh niên thì phải sống có lý tưởng, hoài bão, không thể có khó khăn là chùn bước. Đó là thể hiện tình yêu nghề tha thiết, sự trách nhiệm lớn lao với công việc đem lại bình yên cho người dân trên đảo cũng như trong đất liền. Đồng chí đã vô cùng hạnh phúc mỗi khi gặp cán bộ, chiến sĩ, người dân đều có câu cửa miệng: “Hôm nay thời tiết thế nào?”.

“Tranh đấu”, “giằng co” với bão

Những người làm công tác khí tượng hải văn đâu chỉ có khó khăn, vất vả, thiếu thốn mà còn đầy rẫy những hiểm nguy rình rập. Đó là vào những ngày từ tháng 8 đến tháng 12, khi những mưa bão ngoài biển Đông ầm ầm kéo đến. Nếu như những ngày biển lặng, đồng chí Nguyễn Đình Nghị và các đồng nghiệp chỉ phải quan trắc 4 obs/ngày (ốp quan trắc) thì khi bão có nguy cơ ảnh hưởng, các anh phải ngày đêm thay nhau trực TYPH (mã bảng tin quan trắc bão) với tần suất 30 phút/ lần cho đến khi bão tan. Nếu như những ngành, nghề khác thì khi gió bão người ta sẽ tìm chỗ trú ẩn an toàn còn các đồng chí thì đấy lại là thời khắc phải “tranh đấu”, “giằng co” với cơn bão để hoàn thành nhiệm vụ.

Trên gương mặt cháy sạm, đồng chí vẫn không thể quên được những giây phút “nhớ đời” mà bản thân và các đồng nghiệp đã trải qua. Thời điểm trước năm 2018, khi Trạm còn ở nhà cấp 4 thì mỗi trận bão đi qua đều khiến cán bộ, nhân viên “thót tim”. Năm 2007, có trận bão gió to cộng với mưa ầm ập, xối xả có những lúc tưởng chừng như sắp bay mất cánh cửa. Lúc đó ai cũng nhận thức được rằng nếu bay mất cửa thì không những thiết bị máy móc bị hỏng hóc, cuốn trôi mà tính mạng con người cũng khó có thể bảo đảm vậy nên bằng mọi giá các đồng chí phải giữ được cửa. Các đồng chí chia nhau mỗi người một việc, 2 người lấy bàn ghế, dây rợ chèn/buộc để giữ cửa, còn một người tiếp tục quan trắc, một người truyền số liệu về Trung tâm. Thế rồi hình như cơn bão cũng chịu “khuất phục” trước sự kiên cường của những người “chiến sĩ”.

Một cơn bão nữa mà các đồng chí phải đối mặt trong giây phút sinh tử là bão Doksuri vào năm 2017. Năm ấy, xấp xỉ siêu bão, tiếng gió thét ào ào như dòng thác lũ ngoài cửa, và đây là một trong những cơn bão mạnh nhất ảnh hưởng đến đảo. Các đồng chí đã phải cố thủ trong phòng để bảo vệ tính mạng. “Khi ấy cấp trên đã ra lệnh cho chúng tôi: “Phải đặt an toàn tính mạng lên hàng đầu”. Thế nhưng cứ nghĩ đến việc những số liệu mình gửi về sẽ giảm thiệt hại tối thiểu cho bà con ngư dân và nhân dân nên chúng tôi vẫn bảo đảm “nhiệm vụ kép”, vừa đảm bảo tính mạng, vừa tiến hành khoan trắc trong nhà. Khi gió giảm, an toàn hơn, chúng tôi ngay lập tức ra kiểm tra máy móc, khắc phục hư hỏng, tiếp tục công việc quan trắc, đo đạc… để kịp thời cung cấp số liệu quan trọng vào bờ”, đồng chí Nguyễn Đình Nghị bồi hồi kể lại.


Luôn gương mẫu, đi đầu

Sau nhiều năm phấn đấu, nỗ lực, ngày 26-7-2011, đồng chí Nguyễn Đình Nghị được đứng trong hàng ngũ của Đảng, sinh hoạt tại Chi bộ Đài Khí tượng thủy văn tỉnh Quảng Trị. Với vai trò là một người đảng viên, đồng chí luôn quyết tâm nỗ lực phấn đấu để hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị và nhiệm vụ chuyên môn mà cơ quan giao phó. Do đặc thù về khoảng cách địa lý, vào mùa khô, đồng chí sinh hoạt đảng tập trung (sinh hoạt chuyên đề) 1 lần/quý, sinh hoạt đảng hằng tháng theo hình thức trực tuyến. Còn vào mùa mưa bão, sinh hoạt đảng hoàn toàn theo hình thức trực tuyến.

Không chỉ nỗ lực trong công tác chuyên môn, đồng chí Nguyễn Đình Nghị còn cùng tập thể cán bộ, nhân viên Trạm Khí tượng hải văn Cồn Cỏ chung tay cùng quân và dân trên đảo phòng, chống thiên tai, bảo vệ môi trường. Các đảng viên, đoàn viên của Trạm tình nguyện nhận nhiệm vụ dọn dẹp vệ sinh một đoạn bờ biển dài 2km, thực hiện phong trào thả cá về biển, bảo tồn cua đá, vích để giữ gìn tài nguyên biển. Với tinh thần gương mẫu của người đảng viên, với tình yêu nghề thẳm sâu, với sự kiên gan, bền chí giữa muôn trùng sóng gió, đồng chí Nguyễn Đình Nghị đã cùng các đồng nghiệp ngày ngày lặng thầm “đếm gió, đo mưa, đón bão”…

Đồng chí Nguyễn Đình Nghị đã đón nhiều cái Tết liên tiếp ngoài đảo. Đồng chí rất nhớ người thân, gia đình và cả những câu quan họ đằm thắm, mượt mà nơi quê nhà. Thế nhưng vì nhiệm vụ cấp trên giao phó, sự tin yêu của nhân dân trên đảo, đồng chí bảo mình sẽ kiên quyết bám trụ trên đảo. “Kiên quyết không rời vị trí”, tinh thần, khẩu khí ấy khiến tôi liên tưởng đến tinh thần của Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Thái Văn A (1942-2001), người chiến sĩ lưu danh muôn thuở trên đảo nhỏ anh hùng này. Nguyễn Đình Nghị, người đảng viên, “chiến sĩ” trên “mặt trận không khói súng” đã, đang và sẽ tiếp bước thế hệ của người chiến sĩ trên “mặt trận đầy khói súng” Thái Văn A để “Sừng sững chòi cao trên hòn đảo nhỏ/ Như ngọn hải đăng bốn mùa sóng gió” như lời ca trong bài hát “Thái Văn A đứng đó” nổi tiếng của cố nhạc sĩ Văn An.

Thêm nhiều nạn nhân mất tiền oan vì đầu tư đa cấp

 

Như Báo CAND đã đưa tin, dù đã được các cơ quan chức năng cảnh báo, song hình thức lừa đảo đầu tư qua mạng vẫn nợ rộ và thêm nhiều nạn nhân tiếp tục dính bẫy.

Mới đây, Báo CAND nhận được đơn tố cáo của ông C.V.H ở Đà Nẵng tố cáo sàn chứng khoán Sea Investing lừa đảo. Theo nội dung tố cáo, cuối tháng 4/2021, ông H. có nhận được cuộc gọi tự xưng là Huyền Trân, nhân viên của sàn chứng khoán Sea Investing ở Hà Nội, liên tục gọi điện, nhắn tin zalo dụ dỗ đầu tư chứng khoán quốc tế, bao lợi nhuận và các mã chứng khoán tiềm năng của sàn Sea Investing từ 3-7%/ngày, chỉ cần nộp tiền và giao dịch theo đúng hướng dẫn của chuyên gia, có kỹ thuật hướng dẫn thời gian đặt lệnh, chốt lệnh.

Dù ban đầu, tỏ thái độ không quan tâm, nhưng với chiến lược “mưa dầm thấm lâu”, liên tục bị gọi điện dụ dỗ, ông H. đã đồng ý mở tài khoản, với thao tác cực kỳ đơn giản chỉ là chụp và gửi ảnh chứng minh nhân dân. Sau khi được mở tài khoản trên phần mềm MetaTrader, ông H. được hướng dẫn nộp vào tài khoản 11,6 triệu đồng.

Sau khi dụ được tiền vào tài khoản, ông H. nhận được cuộc gọi của một người tự xưng là Duy Anh, kỹ thuật viên của  Sea Investing hướng dẫn giao dịch, cài đặt phần mềm Telegram với giải thích phần mền này có tính bảo mật cao hơn zalo. Trong quá trình giao dịch, ông H. hoàn toàn làm theo các hướng dẫn đặt - chốt lệnh của Duy Anh. Có thời điểm, số lãi lên tới hơn 40 triệu đồng.

Lúc này, ông H. có đề nghị rút bớt lãi, thì Huyền Trân và Duy Anh khuyên nên đợi nhận cổ tức của mã CAT (mã của công ty Caterrpilar) rồi rút luôn một thể. Sau đó, Duy Anh đưa cho ông H. rất nhiều lệnh, liên tục lôi kéo, nhồi lệnh để ông H. giao dịch khiến cho tài khoản luôn trong tính trạng âm 90%. Lúc này, lại có một người khác xưng tên là Cường gọi điện yêu cầu ông H. nạp thêm tiền để “khử âm” và giữ tài khoản không bị cháy.

Nghi ngờ có dấu hiệu lừa đảo, ông H. kiên quyết không nạp thêm tiền. Ngay lập tức, tài khoản của ông H. đã bị đánh sập với số tiền cả vốn lẫn lãi đều âm hoàn toàn. Điều đáng nói, không phải chỉ một mình ông H. mà có hàng chục người khách cũng bị “dính bẫy” lừa đảo của sàn chứng khoán nói trên.

Trong đơn kêu cứu của mình, ông H. cho biết đang giữ toàn bộ thông tin về cuộc gọi cũng như tin nhắn, quá trình giao dịch với sàn Sea Investing. Tuy nhiên, khi chúng tôi gọi theo số điện thoại của Huyền Trân và Duy Anh mà ông H. cung cấp thì không thể liên lạc được. Ngay ban thân ông H. cũng cho biết đến giờ, chính ông cũng không thể liên lạc với các số điện thoại nói trên. Cùng với đó, chúng tôi cũng không thể tìm được địa chỉ trụ sở công ty chứng khoán do ông H. cung cấp.

Trao đổi với chúng tôi về trường hợp ông H., các chuyên gia đầu tư đều cho rằng ông H. đã tham gia vào hình thức đầu tư đã cấp forex. Đây là hình thức lừa đảo tài chính nở rộ trên mạng từ vài năm trở lại đây, với hàng trăm nghìn nạn nhân sập bẫy.

Theo chuyên gia kinh tế Phan Dũng Khánh, lừa đảo tài chính vốn là loại lừa đảo đẳng cấp cao nhất trong các loại lừa đảo vì độ phức tạp cũng như hiểu biết luật để lách luật, thậm chí am hiểu tâm lý học giúp đánh giá "con mồi" chính xác để một khi đã ra chiêu thì gần như không ai từ chối được.

Đến nỗi nhiều người bị lừa vẫn không biết mình bị lừa và còn khen ngược lại đối tượng nữa. Nhiều vụ đối tượng đã bỏ trốn biệt tăm, thậm chí thay tên đổi họ để lại đẻ ra dự án khác để đi lừa tiếp. Hệ lụy để lại của nó quá lớn cho nhiều gia đình, xã hội và thậm chí nhiều nạn nhân tìm cách trả thù bằng các hành vi vi phạm luật pháp.

Tìm hiểu thêm về hình thức đầu tư tài chính kinh doanh mạng, nhóm PV Báo CAND được biết có rất nhiều trường hợp như ông H. bị hấp dẫn bởi lợi nhuận, lỡ sa chân vào các dự án kinh doanh này đều bị mất trắng. Giống như trường hợp Sea Investing, một số dự án đầu tư như Skynet iFan, Sky Mining, BBi, Emas Fintech… cũng đã bị nhiều nhà đầu tư tố cáo nhưng tất cả đều rất khó lấy lại tiền.

Bộ Công An và Bộ Công thương cũng đã liên tục đưa ra cảnh báo nhiều loại hình lừa đảo nở rộng trong đợt dịch COVID-19 với nhiều thủ đoạn mới mà nổi bật là các mô hình lừa đảo tài chính, lừa đảo kiểu Ponzi (đa cấp- lấy tiền người sau trả cho người trước) và khuyến khích nạn nhân tố giác. Tuy nhiên, các hình thức kinh doanh này đều không hợp pháp nên nhiều người lỡ bị lừa cũng phải chấp nhận “ngậm bồ hòn làm ngọt”,  không dám tố cáo vì sợ liên lụy. Hiện nay, danh sách nạn nhân của những mô hình lừa đảo này ngày càng dài.

“Đối với những người bị lừa đảo như trường hợp bạn đọc phản ánh đến Báo CAND nói trên, nạn nhân nên gửi đơn tố cáo lên Công an địa phương, nơi diễn ra hành vi lừa đảo, để cơ quan chức năng tập hợp và tìm hướng xử lý. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là người dân phải nâng cao cảnh giác, không để bị “bẫy” vào những hình thức kinh doanh mới trên nền tảng công nghệ mà mình không hiểu biết.

Đặc biệt, phải cảnh giác trước những con số lợi nhuận không tưởng mà các đối tượng môi giới đưa ra, vì không có hình thức kinh doanh nào mang lại siêu lợi nhuận như thế cả”, đại diện Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao khuyến cáo./.

 

Hoạt động và cống hiến của đồng chí Lê Văn Lương trên cương vị Bí thư Thành uỷ Hà Nội (1977-1986)

 - Trọn cuộc đời gắn bó với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, đồng chí Lê Văn Lương đã đem hết trí tuệ, sức lực để cống hiến cho Đảng và cách mạng Việt Nam. Đồng chí đã có những đóng góp quan trọng trên nhiều lĩnh vực công tác của Đảng, Nhà nước cả trong lý luận và chỉ đạo thực tiễn. “Với cương vị Bí thư Thành ủy Hà Nội trong suốt 10 năm từ khi đất nước thống nhất đến năm 1986, đồng chí đã mang hết sức mình cống hiến cho sự nghiệp xây dựng Thủ đô, chăm lo cuộc sống của nhân dân thành phố”(1).

Đất nước hòa bình, thống nhất, xây dựng Hà Nội xứng với tầm vóc, vị trí Thủ đô của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ cách mạng mới là nhiệm vụ vô cùng quan trọng, cũng là vinh dự, tự hào của Đảng bộ và nhân dân Hà Nội. Tin tưởng vào phẩm chất, năng lực của người cán bộ xuất sắc, sau Đại hội IV của Đảng, Bộ Chính trị đã phân công đồng chí Lê Văn Lương làm Bí thư Thành ủy Hà Nội (khóa VII). Suốt 10 năm (từ 25-5-1977 đến 23-10-1986), đồng chí liên tục được Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố tín nhiệm bầu làm Bí thư Thành ủy, từ khóa VII đến hết khóa IX.

Những cống hiến của đồng chí Lê Văn Lương cho sự nghiệp xây dựng Thủ đô được thể hiện rõ nét trên các mặt công tác sau:

Thứ nhất, nỗ lực, chủ động tháo gỡ khó khăn, chỉ đạo sâu sát, cụ thể kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội Thủ đô

Ngay từ đầu năm 1977, chuẩn bị cho Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ VII, đồng chí Lê Văn Lương đã nêu ý kiến, phát triển kinh tế Hà Nội theo hướng: Phát triển công nghiệp mà trọng tâm là sản xuất hàng tiêu dùng, chế biến thực phẩm, vật liệu xây dựng và tiểu thủ công nghiệp, nhằm phát huy nội lực, đáp ứng nhu cầu đời sống nhân dân, đồng thời coi trọng cải tiến phân phối lưu thông. Trong nông nghiệp, chú trọng vào sản xuất thực phẩm, thực hiện chuyên canh và đẩy mạnh thâm canh, tạo nên vành đai thực phẩm cho Thành phố.  

Nắm vững quan điểm, chủ trương của Trung ương và vận dụng sáng tạo vào thực tiễn Thành phố Hà Nội, đồng chí Lê Văn Lương đề cao quan điểm “phát huy nội lực Thủ đô”, nêu cao ý chí tự lực, tự cường, tiềm năng và sức sáng tạo to lớn của các tầng lớp nhân dân Hà Nội. Hiểu sâu sắc thế mạnh của Hà Nội là nơi tập trung đội ngũ công nhân và thợ kỹ thuật, thợ thủ công lành nghề, tiềm năng ở trong dân rất lớn, đồng chí đã nêu chủ trương: “Thúc đẩy nền sản xuất, tăng cường nắm nguồn hàng, xây dựng lực lượng dự trữ về lương thực, sản xuất hàng tiêu dùng đến mức cao nhất, hợp tác với các tỉnh miền Bắc, miền Nam và thành phố Hồ Chí Minh, đẩy mạnh hơn nữa công tác ngoại thương của Thành phố; phải kiện toàn các ngành lương thực, thương nghiệp, kiện toàn các phường, quận; tăng cường sự chỉ đạo sát sao của Thành ủy và Ủy ban nhân dân Thành phố. Đây là những việc mà địa phương phải nỗ lực làm, không thể ỷ lại cấp trên làm thay được; có chính sách giữ giá cung cấp gạo cho xã viên hợp tác xã thủ công nghiệp bán sản phẩm cho Nhà nước để khuyến khích xã viên tích cực sản xuất, không nên thả lỏng theo giá kinh doanh thương nghiệp”(2).

Đồng chí Lê Văn Lương luôn xác định rõ nhiệm vụ của Thủ đô trong quan điểm chỉ đạo của mình: “Khi Trung ương xác định nhiệm vụ xây dựng Thủ đô không chỉ là nhiệm vụ của địa phương mà là trách nhiệm của cả Trung ương và Trung ương phải tập trung đầu tư cho Thủ đô, chúng ta vẫn không được ỷ lại. Tôi nghĩ rằng, đặc biệt trong bước đi ban đầu ở nước ta càng phải hết sức phát huy tiềm năng của địa phương, trên cơ sở đó mới tính đúng được phần đầu tư của Trung ương, tuy phần đầu tư này rất to lớn”(3).

Với quan điểm trên, đồng chí đã chỉ đạo các ngành kinh tế nỗ lực, tích cực, chủ động liên kết với các tỉnh, thành phố để khai thác nguyên vật liệu cho sản xuất và tăng nguồn hàng từ nhiều địa phương bổ sung quỹ hàng hóa, giải quyết từng bước những tồn đọng, trì trệ, những tiêu cực phát sinh trong khâu phân phối lưu thông. Một số cơ sở kinh tế mũi nhọn được Thành phố chỉ đạo điểm, đã bắt đầu tự “cởi trói” theo tinh thần nghị quyết Trung ương 6 khóa IV (ngày 20-9-1979) có hiệu quả tốt. Đó là thực tế sinh động, cũng là những căn cứ quan trọng góp phần để Trung ương ban hành Chỉ thị 100-CT/TW (ngày 13-01-1981) “về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp”; Quyết định 25/CP của Hội đồng Chính phủ (ngày 21-1-1981) “về một số chủ trương và biện pháp nhằm phát huy quyền chủ động sản xuất kinh doanh và quyền tự chủ về tài chính của các xí nghiệp quốc doanh”.

Tiếp nối nhiệm kỳ Thành ủy Hà Nội khóa VII, đồng chí Lê Văn Lương tiếp tục được bầu vào Thành ủy, đảm nhiệm trọng trách Bí thư Thành ủy khóa VIII (1980 - 1983) và khóa IX (1983 - 1986). Đồng chí đã có nhiều đóng góp quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển Thủ đô, lãnh đạo Đảng bộ và nhân dân Thành phố khắc phục và vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, chuẩn bị bước vào thời kỳ đổi mới.

Sau Đại hội Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ IX, với khí thế mới, quyết tâm mới, đồng chí Lê Văn Lương đã chỉ đạo những công tác cụ thể, để phát huy tốt hơn nữa tiềm năng và thế mạnh của Thành phố, tăng cường hợp tác với các tỉnh, thành phố khác; lập kế hoạch sử dụng tốt vốn vay ngoại tệ, trong đó có việc huy động vốn từ Việt kiều để mở rộng liên kết, làm hàng công nghệ xuất khẩu… nhằm huy động tiềm năng của mọi tầng lớp nhân dân. 

Nhờ từng bước áp dụng cơ chế quản lý mới và kiên quyết tập trung chỉ đạo sửa đổi một số chính sách kinh tế đã lỗi thời nên kinh tế - xã hội Thủ đô qua mỗi giai đoạn đều có sự khởi sắc rõ nét: sản xuất công nghiệp, nông nghiệp có những chuyển biến đáng kể, xuất nhập khẩu và kinh tế đối ngoại bước đầu có tiến bộ; nhà ở, trường học được quan tâm chăm lo đầu tư xây dựng...

Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ X (từ ngày 17 đến ngày 23-10-1986), Bí thư Thành ủy Lê Văn Lương đã nêu rõ phương châm hành động cho toàn Đảng bộ và nhân dân Thủ đô: “Mọi công việc phải lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm mục tiêu; coi trọng tổ chức công tác thực tiễn, kiên quyết chuyển đổi cơ chế quản lý từ tập trung quan liêu, bao cấp sang hạch toán kinh tế và kinh doanh xã hội chủ nghĩa... nâng cao sức chiến đấu của Đảng, kiên quyết đưa những phần tử cơ hội, thoái hóa biến chất ra khỏi Đảng, làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh”(4).

Đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển văn hóa - giáo dục - khoa học kỹ thuật, đồng chí cũng hết sức quan tâm chỉ đạo: “Thành phố cần thành lập lại Ban Khoa học kỹ thuật. Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Hà Nội được thành lập sớm hơn một số tỉnh, thành phố khác. Để tập hợp và thực hiện công tác lãnh đạo, sự quan tâm đến đội ngũ văn nghệ sỹ Thủ đô và Trung ương đang sinh sống trên địa bàn Thành phố, đồng chí yêu cầu tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, quan tâm hơn nữa đến đời sống và sự nghiệp sáng tạo văn hóa - văn nghệ Thủ đô, củng cố Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Thành phố”(5). Đồng chí chỉ đạo Ủy ban nhân dân Thành phố, các sở, ban, ngành “phải có kế hoạch phấn đấu để Thủ đô Hà Nội xứng đáng là trung tâm văn hóa - khoa học kỹ thuật tiêu biểu của cả nước”(6)

Thứ hai, chỉ đạo có hiệu quả công tác quy hoạch và mở rộng đô thị, gắn công tác quản lý đô thị với công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chính quyền quản lý ở ba cấp

Ngay khi mới về Hà Nội nhận công tác, để chuẩn bị tốt nội dung của Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ VII, đồng chí Lê Văn Lương đã đề xuất với Thành ủy nghiên cứu quy hoạch, kế hoạch xây dựng và phát triển Thủ đô, rồi thay mặt Thành ủy, trình Bộ Chính trị ý kiến về mở rộng quy hoạch Thành phố. Tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa VI, ngày 29-12-1978, Quốc hội đã phê chuẩn việc mở rộng thành phố Hà Nội lần thứ hai. Hà Nội lúc đó có 4 khu phố nội thành, 11 huyện, 1 thị xã ngoại thành với gần 2.500.000 dân(7). Thành phố được mở rộng, có thêm nhiều thuận lợi về nhân tài, vật lực, nhưng cũng gặp rất nhiều khó khăn trong chăm lo đời sống nhân dân và tổ chức guồng máy quản lý hoạt động có hiệu quả. 

Sau nhiều năm dồn sức cho tiền tuyến, hạ tầng đô thị Hà Nội ít được đầu tư, đã lạc hậu trước yêu cầu xây dựng và phát triển Thủ đô trong thời kỳ mới. Dưới sự chỉ đạo của đồng chí Lê Văn Lương, một số công trình hạ tầng giao thông vận tải đã được mở mang, cải tạo: cầu Thăng Long, cầu Chương Dương, cầu Đuống, cảng Phà Đen, sân bay Nội Bài…; tổ chức ngành vận tải biển pha sông để đưa gạo từ đồng bằng Nam Bộ về thẳng cảng Phà Đen và đưa hàng từ Hà Nội vào đồng bằng Nam Bộ. Các công trình kiến trúc dân sinh được quan tâm, nhiều ngôi nhà cao tầng đã mọc lên ở nội thành và khu vực ngoại ô, đáp ứng một phần nhu cầu nhà ở cho nhân dân.

Để Thành ủy Hà Nội có cơ sở cho việc lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng chính quyền phù hợp với tình hình mới, đồng chí  Lê Văn Lương đã chủ động đề nghị Trung ương và trực tiếp đi khảo sát mô hình xây dựng chính quyền cấp quận và phường ở thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, đồng chí đã chỉ đạo thí điểm một số địa bàn chuyển mô hình hành chính từ tiểu khuthành phường - đơn vị hành chính cấp cơ sở có con dấu riêng. Đây là vấn đề mới và khá phức tạp đối với Hà Nội khi bỏ ban đại diện hành chính tiểu khu, thành lập chính quyền phường, và đổi từ mô hình khu phốthành mô hình quận.Từ thí điểm trên, đồng chí Lê Văn Lương đã không nản chí trước khó khăn, quyết tâm đi theo mô hình mới, phù hợp xu thế phát triển mọi mặt của Thành phố, giữ vững vai trò, vị trí là trung tâm đầu não đất nước. Đồng chí đã kiên trì thuyết phục Trung ương chấp thuận chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị và được chấp nhận. Từ thực tiễn trên của Hà Nội đã góp phần quan trọng vào Nghị quyết kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa VI (18-12-1980), đóng góp sửa đổi một số điều của Hiến pháp mới, trong đó ghi rõ bộ máy chính quyền thành phố tổ chức thành ba cấp: thành phố, quận, phường. 

Với mô hình chính quyền mới, việc nâng cao trình độ của cán bộ để đáp ứng yêu cầu của đô thị Hà Nội đã mở rộng càng trở nên cấp bách. Đồng chí chỉ đạo, muốn quản lý đô thị tốt, các cấp quận, phường phải đổi mới công tác cán bộ, đổi mới tư duy, đổi mới phong cách làm việc, cải tiến cách làm kế hoạch, thể hiện tính tích cực, chủ động trong quản lý đô thị. Chính vì vậy, đội ngũ cán bộ cấp quận, phường từ chỗ còn bỡ ngỡ với mô hình quản lý mới đã dần dần đáp ứng yêu cầu quản lý, xây dựng của một đô thị với vị trí đặc biệt là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa của cả nước. 

Thứ ba, chú trọng công tác xây dựng Đảng, nâng cao năng lực chỉ đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ để biến nghị quyết Đảng thành hành động cách mạng

Trong những năm tháng trước đổi mới, trước tình trạng khó khăn mọi mặt của đời sống, một số cán bộ, đảng viên đã không giữ được phẩm chất đạo đức của người cộng sản, một số cơ sở đảng chưa thật sự là hạt nhân lãnh đạo mọi mặt công tác. Do đó, đồng chí Lê Văn Lương đã tập trung lãnh đạo khâu trọng yếu nhất của Đảng bộ là công tác xây dựng Đảng. Cuộc vận động xây dựng Đảng vững mạnh và trong sạch cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, nâng cao phẩm chất cộng sản cho cán bộ, đảng viên gắn với công tác phát thẻ đảng viên từ năm 1980 đã được chỉ đạo sát sao. Năm 1981, trong tình hình khó khăn chồng chất, đồng chí nhận thức sâu sắc rằng: điều quyết định để hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ là nâng cao chất lượng lãnh đạo và tăng cường sức chiến đấu của Đảng, khắc phục những nhân tố tiêu cực trong Đảng, làm cho Đảng trong sạch. Đảng phải đi sâu vào mặt trận kinh tế, nâng cao năng lực và hiệu quả lãnh đạo kinh tế. Đồng chí đã chỉ đạo Thành ủy đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng theo phương pháp: Công tác tư tưởng, tổ chức phải gắn liền với thực tiễn sôi động, nâng cao tính tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên ở cả nơi sản xuất, công tác và nơi cư trú. Nghiêm túc và thẳng thắn, chỉ ra khuyết điểm của Đảng bộ “chưa tập trung đúng mức vào việc cải tạo và xây dựng Thủ đô; chỉ đạo chưa nhạy bén, quản lý mang nặng tính chất hành chính bao cấp”(8). Đồng chí đề cao vai trò của tổ chức cơ sở đảng và mỗi đảng viên trong cuộc đấu tranh quyết liệt chống quan liêu, bảo thủ hoặc hô hào suông. Để nghị quyết đi vào cuộc sống, đồng chí cho rằng các tổ chức cơ sở đảng và mỗi đảng viên “phải có ý chí chiến đấu kiên cường, nhạy bén với các vấn đề mới do cuộc sống đặt ra, có đủ kiến thức để cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong thực tế, chứ không chỉ ra nghị quyết, nêu khẩu hiệu. Muốn thế, các đảng viên phải có tinh thần hy sinh tận tụy, dũng cảm đấu tranh, bền bỉ học tập để nâng cao trình độ quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Phải loại ra khỏi Đảng những phần tử cơ hội trục lợi, sút kém ý chí chiến đấu, thiếu ý thức tổ chức kỷ luật, không quan tâm đầy đủ đến lợi ích của quần chúng”(9).

Đối với cơ quan Thành ủy và Ủy ban nhân dân Thành phố, để cải tiến lề lối làm việc, đồng chí yêu cầu, trước hết phải đổi mới từ chính lối suy nghĩ “ra nghị quyết là tròn nhiệm vụ”. “Vấn đề cơ bản vẫn là phải biến nghị quyết thành hành động cách mạng thực tiễn của đông đảo quần chúng nhân dân để cải biến tình hình, đưa cách mạng tiến lên. Đó là một vấn đề phải dứt khoát để thanh toán hiện tượng một số nghị quyết không thực hiện được hoặc thực hiện “đầu voi đuôi chuột”(10)

Từ yêu cầu khách quan của nhiệm vụ và để đưa nghị quyết Đảng vào cuộc sống có hiệu quả, chống bệnh thành tích, phô trương, đồng chí Lê Văn Lương cho rằng, cẩm nang hành động để đi đến thắng lợi của người cán bộ lãnh đạo là: “Phải tích cực làm nhiệm vụ đảng viên, trung thực, đoàn kết; lối ra cơ bản trước khó khăn là: gặp bất kỳ khó khăn nào cũng phát huy trí tuệ của tập thể, tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp trên; hết sức phát huy trí sáng tạo của đông đảo quần chúng, nắm vững phương châm: dựa vào quần chúng sẽ giải quyết được mọi việc; định ra chương trình, kế hoạch làm việc tốt. Chọn đúng mắt xích để giải quyết tập trung dứt điểm, phát huy các điển hình tiên tiến trong địa phương”(11).

Thứ tư, quan tâm sâu sát, gắn bó, hết lòng chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Thủ đô

Là một người lãnh đạo có tâm và có trách nhiệm, đồng chí Lê Văn Lương luôn trăn trở để làm sao cho đời sống vật chất cũng như tinh thần của nhân dân Thủ đô không ngừng được cải thiện. Nhân dân Hà Nội còn nhớ mãi những câu chuyện về sự chăm lo của đồng chí Bí thư Thành ủy đối với những vấn đề dù nhỏ nhưng có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của nhân dân. Những ngày Thủ đô đối mặt với khó khăn, chưa tìm được nguồn gạo cung cấp cho nhân dân, đồng chí Lê Văn Lương trăn trở nhiều đêm để lo “chạy gạo” cho dân, đến khi xin được gạo từ kho dự trữ quốc gia, đồng chí đôn đốc, sắp xếp kiểm tra xem làm thế nào để phân phối gạo một cách hợp lý và công bằng. Không những vậy, đồng chí còn đến tận các vùng chuyên canh rau ở Nam Hồng, Vân Nội, nông trường nuôi lợn ở Vân Trì, nuôi gà ở Phúc Thịnh (Đông Anh), ở Cầu Diễn, Minh Khai, Tây Tựu (Từ Liêm), nông trường nuôi cá ở Yên Duyên, Yên Sở (Thanh Trì) để kiểm tra việc sản xuất rau, thực phẩm cung cấp cho Thành phố. Các đồng chí trong Ban Thường vụ Thành ủy thời kỳ đó đã quen với hình ảnh đồng chí Bí thư thường xuyên thức khuya để cùng tính toán, cân đối lương thực, thực phẩm từng tuần, từng tháng cho các quận, huyện. Đồng chí nói với mọi người thật giản dị, chân thành: “Dẫu ta vất vả đến mấy nhưng lương thực được đảm bảo cho đồng bào, đấy là hạnh phúc”(12).

Khi nghe dân phản ánh thiếu nước, mất điện nhiều, đồng chí đã xuống ngay nơi cơ sở tìm hiểu nguyên nhân, chỉ đạo bàn cách khắc phục để nhân dân có điện, nước sinh hoạt. “Đến dự sinh hoạt chi bộ cơ sở, thấy đồng chí bí thư chi bộ thường cáo bận, vắng mặt, đồng chí đề nghị Thành uỷ có biện pháp ngay, do đó, ngày sinh hoạt chi bộ đã được quy định vào ngày 03 hàng tháng”(12).

Với phong cách làm việc sâu sát, tỉ mỉ, dù công việc rất bận rộn, đồng chí Lê Văn Lương vẫn dành thời gian lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, ý kiến phản ánh của nhân dân, xem xét đơn thư khiếu kiện… để có những biện pháp giải quyết kịp thời và triệt để. Những việc chưa giải quyết ngay được, đồng chí cũng đều trả lời cho nhân dân biết hoặc giao cho các ngành có liên quan giải quyết và kiểm tra lại. Nhớ về tình cảm của đồng chí Lê Văn Lương với nhân dân Hà Nội, đồng chí Dương Năng, nguyên thư ký đồng chí Lê Văn Lương đã viết: “Nhân dân Hà Nội biết ơn đồng chí lão thành cách mạng có tác phong giản dị, đi sâu sát quần chúng. Trong nhiều năm làm Bí thư Thành ủy đã đem hết tâm huyết lo cho thành phố, lo cho dân vượt qua thời kỳ khó khăn của cả nước nói chung và thành phố Hà Nội nói riêng, để ngày nay thành phố Hà Nội cùng cả nước tiến lên văn minh, giàu đẹp”(14).

__________________

(1), (12), (14) Lê Văn Lương trọn đời vì sự nghiệp của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2012, tr. 19, 298, 330.

(2), (3)Tài liệu về đồng chí Lê Văn Lương, Tài liệu lưu trữ Văn phòng Thành ủy Hà Nội.

(4) Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố Hà Nội lần thứ X, Hà Nội, 1986.

(5), (7), (13) Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Đồng chí Lê Văn Lương với cách mạng Việt Nam và quê hương Hưng Yên, Hưng Yên, 2012, tr 52, 53, 55.

(6) Một số ý kiến của đồng chí Lê Văn Lương bổ sung về nhiệm vụ công tác của Thành phố năm 1984, lưu trữ tại Văn phòng Thành ủy Hà Nội.

(8), (9) Bài phát biểu của đồng chí Lê Văn Lương tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng, Lưu trữ tại Văn phòng Thành ủy Hà Nội.

(10) Đề nghị về cải tiến lề lối lãnh đạo của Thành ủy và Ủy ban nhân dân Thành phố, lưu trữ tại Văn phòng Thành ủy Hà Nội. 

(11) Tài liệu về đồng chí Lê Văn Lương, Lưu trữ tại Văn phòng Thành ủy Hà Nội.