Thứ Ba, 5 tháng 4, 2022
"LÃO NIN HÓI"... NGUYỄN ĐỖ TÙNG DƯƠNG, UKRAINE CÓ MỘT THẰNG HỀ COI THƯỜNG LỊCH SỬ ĐƯA ĐẤT NƯỚC VÀO THẢM HỌA, CÒN ĐÂY LÀ VIỆT NAM LOẠI NHƯ ANH THÌ CHỈ NÊN ĐỂ MUA VUI THÔI!
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác đối ngoại hiện nay
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một hệ
thống các quan điểm toàn diện, “bao hàm nội dung rất rộng, liên quan đến toàn bộ
sự nghiệp cách mạng nước ta”. Trong đó, tư tưởng đối ngoại là một bộ phận quan
trọng về chiến lược, sách lược cách mạng trong các vấn đề quốc tế, không chỉ có
giá trị lịch sử mà còn có ý nghĩa thời đại to lớn.
Trong bối cảnh
hiện nay, việc tiếp tục nghiên cứu, vận dụng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
trong công tác đối ngoại của Đảng càng có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Trong đó, chú trọng những nội dung chủ yếu sau:
Một là, giữ
vững các quyền dân tộc cơ bản gắn với độc lập tự chủ, tự lực, tự cường. Ngay
trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã khẳng định các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam theo tinh thần
"tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng
có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do". Việc bảo đảm các quyền
dân tộc cơ bản phải gắn với độc lập tự chủ, tự lực, tự cường thì mới bền vững.
Bác đã dặn: "Muốn người ta giúp cho, thì trước hết mình phải tự giúp lấy
mình đã"; "Muốn làm gì cũng cần vì lợi ích của dân tộc mà làm";
"Ta có mạnh thì họ mới chịu đếm xỉa đến. Ta yếu thì ta chỉ là một khí cụ
trong tay của kẻ khác, dẫu kẻ ấy có thể là bạn đồng minh của ta vậy". Người
cũng đã đúc kết thành chân lý: "Không có gì quý hơn độc lập, tự do".
Và chân lý ấy, đến ngày nay vẫn là một yêu cầu thiết yếu trong quá trình phát
triển và hội nhập quốc tế.
Hai
là, tư tưởng kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Trong đó, tư tưởng
chủ đạo là độc lập tự chủ, tự lực, tự cường gắn với đoàn kết và hợp tác quốc tế.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, "cái gốc, cái điểm mấu chốt về chính trị, quân
sự, kinh tế, nội chính, ngoại giao của ta là tự lực cánh sinh". Người nhấn
mạnh: "Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà
ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to, tiếng mới lớn". Bác Hồ cũng đã chú
trọng xây dựng và phát huy sức mạnh của công tác đối ngoại nhân dân, nhờ đó đã
vận động được nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ. Người đã nêu rõ: "Sức mạnh, sự vĩ đại và sự bền bỉ của nhân dân Việt
Nam cơ bản là ở sự đoàn kết của nhân dân Việt Nam và sự ủng hộ của nhân dân thế
giới...".
Hiện nay,
chúng ta đang tiếp tục tăng cường thế và lực, phát huy sức mạnh của dân tộc
theo tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, bao gồm cả sức mạnh vật chất và tinh thần;
cả vị trí chiến lược quan trọng ở khu vực và các giá trị lịch sử, truyền thống,
văn hóa, lòng yêu nước, tinh thần cần cù lao động và ý chí quật cường của dân tộc
Việt Nam... Đồng thời, Đảng ta chủ trương kết hợp sức mạnh đó với sức mạnh thời
đại là các trào lưu tiến bộ chính trên thế giới, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0
và nền kinh tế tri thức, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, xu thế hòa
bình, hợp tác và phát triển, đổi mới mô hình tăng trưởng... Sau đại dịch Covid
- 19, Đảng và Chính phủ đang tận dụng tối đa khả năng các nước và tập đoàn kinh
tế lớn chuyển hướng tới thị trường Việt Nam; đồng thời, tiếp tục thu hút nguồn
lực của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cho sự phát triển đất nước.
Ba là, tư tưởng
yêu chuộng hoà bình, chống chiến tranh xâm lược. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn
kiên định thực hiện mục tiêu cao cả nhất của cách mạng là hòa bình, độc lập dân
tộc, thống nhất đất nước, chống chiến tranh xâm lược với tinh thần: "Chúng
ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu
làm nô lệ". Trong khi kiên quyết giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn
lãnh thổ, chống lại sự xâm lược, đô hộ của ngoại bang, Chủ tịch Hồ Chí Minh
luôn kiên trì đường lối hòa bình, hữu nghị, hợp tác với các nước, trước hết là
các nước lớn và các nước láng giềng, qua đó đã thu hút được sự đoàn kết và ủng
hộ của đông đảo nhân dân trên thế giới, ngay cả nhân dân của các nước xâm lược
từ bản xứ.
Trong bối cảnh
hiện nay, xu hướng chung của thế giới và khu vực vẫn là hòa bình, ổn định, độc
lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển. Tuy nhiên, tình hình thế giới có
những thay đổi nhanh chóng, phức tạp, khó lường với những bất ổn như xung đột ở
Trung Đông, châu Phi, chủ nghĩa khủng bố, cạnh tranh chiến lược giữa các nước,
chủ nghĩa đơn phương, chính trị cường quyền, thiếu tôn trọng luật pháp quốc tế,
khiến thế giới đang phải đối mặt với nhiều vấn đề an ninh phi truyền thống, đòi
hỏi Đảng và Chính phủ ta phải vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong các
đối sách ngoại giao và hợp tác quốc tế.
Bốn là, tư
tưởng hòa hiếu, thêm bạn bớt thù. Từ hoàn cảnh cách mạng, có lúc phải đối
phó với nhiều đối thủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu bật phương châm"... làm
cho nước mình ít kẻ thù và nhiều bạn đồng minh hơn hết". Bác Hồ và Đảng ta
phân biệt rõ bạn, thù, bạn gần, bạn xa, bạn lâu dài, bạn nhất thời, tìm cách giảm
bớt kẻ thù, để tập trung đấu tranh với kẻ thù chính. Ngay khi còn trong nhà tù ở
Trung Quốc (1942-1943), Bác Hồ đã bày tỏ đoàn kết với phong trào chống thực dân
của Ấn Độ. Năm 1944, Người đích thân đưa Trung úy phi công W. Shaw đi Côn Minh
trao trả cho Mỹ, qua đó để Mỹ hiểu cuộc chiến đấu của Việt Nam dưới sự lãnh đạo
của Mặt trận Việt Minh. Người cũng giáo dục nhân dân ta phân biệt rõ bạn,
thù, phân biệt thực dân Pháp và đế quốc Mỹ với nhân dân Pháp và nhân dân Mỹ để
tranh thủ sự đoàn kết và ủng hộ của họ, cô lập và chĩa mũi nhọn đấu tranh vào
thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.
Đề cao tư tưởng
Hồ Chí Minh, Đảng ta chủ trương tiếp tục kiên trì nguyên tắc giữ vững độc lập
dân tộc, chủ quyền quốc gia, đồng thời nêu cao tinh thần hòa hiếu với tất cả
các nước, đặc biệt các nước lớn và láng giềng; vận dụng phương châm mà Bác Hồ
đã chỉ đạo là "biến đại sự thành tiểu sự, tiểu sự thành vô sự", cố gắng
không để bùng phát những vấn đề gây cấn, bất lợi trong quan hệ, ảnh hưởng đến
hòa bình, ổn định, an ninh, hợp tác và phát triển của ta.
Do quan hệ
quốc tế phức tạp, đa chiều, lợi ích các quốc gia, dân tộc nhiều khi đan xen hoặc
đối lập, Đảng ta đã có cách nhìn nhận biện chứng với phương châm "gác lại
quá khứ, hướng tới tương lai"; xác định đồng minh, đối thủ là bộ phận quan
trọng trong sách lược cách mạng, giúp xử lý hiệu quả các mâu thuẫn, thu hút sự ủng
hộ của bạn bè và cô lập kẻ thù. Tính biện chứng còn được thể hiện ở chỗ xác định
rõ các khái niệm "đối tác", "đối tượng" nhằm phân biệt rõ
"đối tác" cần hợp tác và "đối tượng" cần đấu tranh trong từng
trường hợp cụ thể. Đảng và Nhà nước ta cũng đã thực hiện tốt các chủ trương từ
"thêm bạn, bớt thù" trước đây đến "Việt Nam là bạn, đối tác tin
cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc
lập, hợp tác và phát triển". Tư tưởng đó đã phát huy hiệu quả, đưa vai trò
và vị thế quốc tế của Việt Nam lên một tầm cao mới.
Năm là, tư
tưởng mở cửa và hợp tác quốc tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thấu hiểu tầm
quan trọng của việc mở cửa và hợp tác quốc tế, ngay đầu tháng 12-1946, trong Lời
kêu gọi gửi Liên hợp quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Đối với
các nước dân chủ, Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong
mọi lĩnh vực"; đón nhận đầu tư của các nhà tư bản và công nghệ nước ngoài;
mở rộng các hải cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh
quốc tế; chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo
của Liên hợp quốc...
Thấm nhuần
tư tưởng của Người, Đảng ta đã đề ra và kiên trì thực hiện chủ trương mở cửa
và hợp tác quốc tế. Nghị quyết số 22- NQ/TW (10-4-2013) của Bộ Chính trị
về hội nhập quốc tế, "Chiến lược tổng thể về hội nhập quốc tế đến năm
2020, tầm nhìn đến năm 2030" và Nghị quyết số 06-NQ/TW (5-11-2016) của Ban
Chấp hành TƯ khóa XII về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc
tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh Việt Nam hội nhập ngày
càng sâu rộng, tham gia hàng chục hiệp định kinh tế và FTA thế hệ mới cả song
phương, khu vực và đa phương thể hiện rõ chủ trương lớn của Đảng về công tác đối
ngoại.
Quá trình mở
cửa, hội nhập quốc tế của Việt Nam được đẩy mạnh cả về tư duy và thực tiễn, đã
chuyển mạnh từ phạm vi "hội nhập kinh tế" sang "hội nhập toàn diện"
với các nội dung chủ yếu là: hội nhập về kinh tế, chính trị, quốc phòng-an
ninh, văn hóa - xã hội, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ và các lĩnh vực
khác như lao động, y tế, thể thao... Trong hợp tác chính trị và quốc phòng - an
ninh, Việt Nam đã tích cực tham gia các cơ chế như Cộng đồng Chính trị - An ninh
ASEAN (APSC), Hiệp ước thân thiện và hợp tác ASEAN (TAC, 1976), Hiệp ước Khu vực
phi vũ khí hạt nhân Đông Nam Á (SEANWFZ, 1995) cũng như các cơ chế Đối thoại về
an ninh như Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN
(ADMM), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+), Hội nghị Cấp cao
Đông Á (EAS).
Sáu là, tư
tưởng "Ngoại giao là một mặt trận". Lịch sử đấu tranh của dân tộc
ta chống các kẻ thù xâm lược mạnh hơn gấp nhiều lần đã hình thành nên nghệ thuật
kết hợp giữa ba hình thức đấu tranh: chính trị, quân sự và ngoại giao. Trong
đó, ngoại giao là một mặt trận, là một trong những nội dung cốt lõi. Chủ tịch Hồ
Chí Minh từng nói: "Dùng binh giỏi nhất là đánh bằng mưu. Thứ hai đánh bằng
ngoại giao. Thứ ba mới là đánh bằng binh", và cũng theo quan điểm của Người:
"Sau vấn đề phòng thủ, ngoại giao là một vấn đề cần yếu cho một nước độc lập". Trên
thực tế, đấu tranh ngoại giao khôn khéo có thể tránh được xung đột hay chiến
tranh hoặc có thể "lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh". Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã từng nhấn mạnh "ngoại giao ai thuận lợi hơn, thì thắng"
và "có thể thắng trước kẻ thù xâm lược mạnh hơn ta nhiều lần".
Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay,
nước ta đã duy trì được hòa bình, ổn định, nguy cơ chiến tranh bị đẩy lùi nhưng
công tác đối ngoại vẫn có vai trò to lớn trong xử lý các vấn đề quốc tế. Đảng
và Nhà nước ta tiếp tục đề cao tầm quan trọng của mặt trận đối ngoại, kết hợp
chặt với mặt trận chính trị và bảo vệ quốc phòng - an ninh, tạo sức mạnh tổng hợp,
giữ gìn hòa bình, ổn định và thúc đẩy hợp tác phát triển. Mặt trận đối ngoại
luôn được triển khai chủ động, tích cực và toàn diện gồm ngoại giao chính trị,
ngoại giao quốc phòng - an ninh, ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa. Trong
đó, ngoại giao cùng với quốc phòng, an ninh "tạo thành thế chân kiềng vững
chắc, tiếp tục đóng góp chủ động, tích cực vào việc bảo vệ đất nước từ sớm, từ
xa, giữ nước từ khi nước còn chưa nguy, phục vụ thiết thực các lợi ích an ninh,
phát triển, nâng cao vị thế đất nước".
Bảy là, tư
tưởng "dĩ bất biến ứng vạn biến" như một phương pháp, phong cách và
nghệ thuật đối ngoại của Hồ Chí Minh. Truyền thống đấu tranh ngoại giao của
cha ông ta đã hình thành một phương cách ứng xử kiên trì về nguyên tắc nhưng
linh hoạt, mềm mỏng, khéo léo về sách lược. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ:
"Mục đích bất di bất dịch của chúng ta vẫn là hoà bình, thống nhất, độc lập,
dân chủ. Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh
hoạt". Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kiên trì giữ vững mục tiêu cách mạng, đồng
thời ứng phó linh hoạt, phù hợp với mọi sự biến chuyển nhanh chóng và khó lường
của tình hình, tương quan và tập hợp lực lượng, ý đồ của các nước lớn…
Trong bối cảnh
mới, việc vận dụng tư tưởng "dĩ bất biến ứng vạn biến" của Chủ tịch Hồ
Chí Minh vẫn là một yêu cầu quan trọng. Cái "bất biến" vẫn là lợi ích
quốc gia, dân tộc, mà cốt lõi là độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn
lãnh thổ và biển đảo của Tổ quốc, chế độ XHCN, vai trò và quyền lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam. Cái "vạn biến" là sự biến chuyển nhanh chóng, khó
lường của tình hình, sự điều chỉnh chiến lược và chính sách của các nước, của
tương quan và tập hợp lực lượng, sự chuyển hóa của "đối tác", "đối
tượng"… Đảng và Nhà nước ta đã và đang kiên trì nguyên tắc bất biến là
"thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp
tác và phát triển", đồng thời tiếp tục thực hiện đa dạng hóa, đa phương
hóa quan hệ đối ngoại, xác định đúng đắn một cách biện chứng về "đối
tác" và "đối tượng" trong từng vấn đề thuộc lợi ích quốc gia,
dân tộc để kịp thời đề ra những chính sách, biện pháp hợp tác và đấu tranh phù
hợp và hiệu quả.
Dưới sự lãnh
đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam đã đạt được những thắng lợi vẻ vang trong sự
nghiệp giành độc lập dân tộc, giải phóng và thống nhất đất nước, xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc. Những thành tựu vĩ đại của dân tộc có phần đóng góp hết sức quan trọng
của công tác ngoại giao. Ngoại giao Việt Nam đã luôn đồng hành cùng dân tộc
trong mọi giai đoạn cách mạng. Ngày nay, trong bối cảnh tình hình mới, ngoại
giao Việt Nam tiếp tục vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại, đi
tiên phong kiến tạo môi trường hòa bình, an ninh, ổn định, hợp tác và kết hợp sức
mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại nhằm phục vụ hiệu quả nhất cho sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao uy tín và vị thế quốc tế của Việt
Nam./.
Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta
Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh bao hàm những nguyên
lý, nội dung, phương pháp, phong cách và nghệ thuật ngoại giao. Người đề cao
các quyền dân tộc cơ bản, bao gồm độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội,
chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước, hòa bình và chống
chiến tranh xâm lược. Người nhấn mạnh ngoại giao “phải luôn luôn vì lợi ích của
dân tộc mà phục vụ”; độc lập tự chủ, tự lực tự cường phải gắn liền với đoàn kết
và hợp tác quốc tế, theo đó Việt Nam sẵn sàng “làm bạn với tất cả mọi nước dân
chủ và không gây thù oán với một ai”. Người hết sức coi trọng tình hữu nghị và
hợp tác với các nước láng giềng có chung biên giới; mở rộng bang giao với các
nước trong khu vực và trên thế giới; xử lý tốt quan hệ với các nước lớn để phục
vụ lợi ích cách mạng.
Trong phương pháp, Người xác định ngoại giao phải là một
mặt trận, một binh chủng hợp thành của cách mạng Việt Nam, kết hợp nhuần nhuyễn
“vừa đánh vừa đàm”, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để tạo nên sức
mạnh tổng hợp to lớn. Người luôn đặt Việt Nam trong dòng chảy của thế giới, coi
trọng các trung tâm quyền lực, các trào lưu lớn. Người đặc biệt đề cao “dĩ bất
biến, ứng vạn biến”, lấy cái không thể thay đổi để ứng phó với muôn sự thay đổi,
giữ vững tính nguyên tắc, kiên định, vững chắc của mục tiêu chiến lược với tính
linh hoạt, uyển chuyển của sách lược cách mạng. Phương pháp ngoại giao Hồ Chí
Minh còn thể hiện truyền thống yêu hòa bình của dân tộc ta, nỗ lực giải quyết bất
đồng bằng các phương cách hoà bình.
Nét nổi bật trong nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh là
sự vận dụng nhuần nhuyễn “năm cái biết” (biết mình, biết người, biết thời thế,
biết dừng và biết biến), là khả năng tạo dựng thời cơ và chớp thời cơ, là ngoại
giao tâm công giúp thu phục lòng người bằng chính nghĩa, tình người, lẽ phải và
đạo lý. Những thành tựu của đối ngoại Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng dân tộc,
thống nhất đất nước và bảo vệ Tổ quốc ta đã thể hiện rõ nét sự tài tình của Hồ
Chí Minh trong việc vận dụng các nghệ thuật ngoại giao để đưa cách mạng đến
thành công.
Thực tiễn đã chứng minh Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí
Minh là di sản vô giá, là nền tảng sức mạnh và là chìa khóa để triển khai thắng
lợi, hiệu quả đường lối đối ngoại của Đảng qua các giai đoạn cách mạng. Chính
nhờ sự vận dụng sáng tạo Tư tưởng ngoại giao của Người trong tình hình mới, đối
ngoại Việt Nam đã giành được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần duy trì môi
trường hoà bình, thu hút các nguồn lực cho phát triển, giữ vững chủ quyền, toàn
vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và nâng cao vị thế quốc tế của nước ta.
Bên thềm thập niên thứ ba của thế kỷ 21, thế giới đang
chứng kiến những biến động to lớn, sâu sắc và khó lường. Hoà bình, hợp tác và
phát triển vẫn là xu thế lớn, song đại dịch Covid-19 đã góp phần đẩy nhanh hơn
những chuyển biến sâu sắc trong cục diện quốc tế, tác động trực tiếp tới môi
trường an ninh và phát triển của nước ta. Chúng ta cần tiếp tục vận dụng sáng tạo
Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh để đặt Việt Nam vào đúng “dòng chảy của thời đại”,
tạo sức mạnh to lớn đưa cách mạng Việt Nam tới những thắng lợi mới.
Theo đó, ngoại giao Việt Nam cần phát huy tốt vai trò
là “một mặt trận” tiên phong nhằm củng cố vững chắc môi trường quốc tế thuận lợi
và thu hút các nguồn lực phục vụ phát triển và nâng cao vị thế đất nước, bảo vệ
Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ lúc nước chưa nguy. Chúng ta cần vận dụng tốt nguyên
tắc “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Cần kiên định mục tiêu bất biến là lợi ích tối
thượng của quốc gia - dân tộc với nội hàm là hoà bình, độc lập, chủ quyền, toàn
vẹn lãnh thổ, nâng cao sức mạnh và vị thế của quốc gia; đồng thời, linh hoạt,
khéo léo trong sách lược, hành động để xử lý cái "vạn biến" của tình
hình. Trước những phức tạp ở Biển Đông, chúng ta kiên trì sử dụng các biện pháp
hoà bình để giải quyết tranh chấp, đồng thời "kiên quyết bảo vệ những quyền
thiêng liêng nhất: Toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc và độc lập cho đất nước” như
lời Bác căn dặn.
Trong tình hình mới, cán bộ đối ngoại cần thường xuyên
phấn đấu, tu dưỡng như lời Bác dặn: "chỉ có qua học tập, qua sự cố gắng của
từng cá nhân và cả ngành thì công tác ngoại giao mới đáp ứng nhu cầu của đất
nước". Cán bộ đối ngoại cần vừa "hồng", vừa "chuyên" để
xây dựng nền ngoại giao Việt Nam hiện đại trong thời kỳ mới. Đặc biệt, cần thực
hiện lời căn dặn của Bác: “phải luôn luôn vì lợi ích dân tộc mà phục vụ và nhà
ngoại giao phải khôn khéo để lợi ích đó được đảm bảo". Dưới ánh sáng của
Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, ngoại giao Việt Nam sẽ tiếp tục viết lên những
thành công mới, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc,
đưa nước ta sánh vai cùng các cường quốc năm châu như Bác hằng mong ước.
Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh
Hiện nay, ở Việt
Nam, các thế lực thù địch, phản động đang đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn
biến hòa bình”, không chỉ phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, mà còn phủ nhận cả tư
tưởng Hồ Chí Minh bằng mọi thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc. Trong đó,
chúng tuyên truyền hết sức sai trái, cho rằng: “Tư tưởng Hồ Chí Minh không phải
là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều
kiện của Việt Nam”.
Cần khẳng định rằng,
về bản chất, luận điểm tuyên truyền sai trái nói trên nằm trong mưu toan phủ nhận
chủ nghĩa Mác - Lênin, tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh ra khỏi nguồn gốc tư tưởng,
lý luận chủ yếu, quyết định là chủ nghĩa Mác - Lênin. Đồng thời, từ đó làm suy
yếu, tiến tới phủ định chính tư tưởng Hồ Chí Minh. Luận điệu sai trái đó nhằm
ba mục tiêu: phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin; phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ
nhận nền tảng tư tưởng, lý luận, cương lĩnh, đường lối, chủ trương, chính sách
của Đảng. Từ đó, mưu toan làm tha hóa về chính trị, tư tưởng đối với một bộ phận
cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhằm thực hiện mục tiêu làm suy yếu
và đi đến xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam. Do vậy, mọi sự xuyên tạc, lừa bịp của các thế lực thù địch,
phản động, cơ hội về tư tưởng Hồ Chí Minh đều không có cơ sở khoa học và không
có giá trị.
Hồ Chí Minh đã tiếp
thu lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin theo phương pháp luận Mácxit. Từ lập trường,
quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin để tìm ra những chủ trương, chính sách phù
hợp với hoàn cảnh, điều kiện cụ thể trong từng thời kỳ của cách mạng Việt Nam,
không dập khuôn những lý luận đã có sẵn trong sách vở kinh điển. Ngay từ khi đến
với chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh thấy được sự khác biệt giữa các nước tư
bản ở châu Âu mà C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I. Lênin đã nghiên cứu so với thực tiễn
Việt Nam - một nước thuộc địa nửa phong kiến, nông nghiệp lạc hậu, kinh tế kém
phát triển… Người đã đề xuất bổ sung về “cơ sở lịch sử phương Đông”, để gắn với
lịch sử ở phương Đông và Việt Nam. Trong một báo cáo tình hình Việt Nam gửi Quốc
tế Cộng sản, Người viết: “Cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra giống như ở
phương Tây… dù sao cũng không thể cấm bổ sung cơ sở lịch sử của chủ nghĩa Mác,
bằng đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác, ở thời mình không thể có được”. Hồ
Chí Minh cũng có những phát triển sáng tạo về xây dựng Đảng Cộng sản ở một nước
thuộc địa nửa phong kiến, đó là: Quy luật hình thành Đảng bằng kết hợp chủ
nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước (chủ nghĩa
Mác - Lênin chưa đặt vấn đề phong trào yêu nước); Đảng vừa đại diện cho lợi ích
của giai cấp, vừa đại diện cho lợi ích của dân tộc. Hồ Chí Minh còn có sự phát
triển sáng tạo về xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân và các lĩnh vực
khác như: kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại, xây dựng thế hệ cách mạng cho đời
sau… hết sức phong phú, sâu sắc.
Trong bối cảnh hiện
nay, toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, đặc biệt khoa học - công
nghệ tiếp tục phát triển mạnh mẽ sẽ thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế trên
phạm vi toàn thế giới. Cạnh tranh kinh tế, tranh giành nguồn tài nguyên, nguồn
nhân lực cho phát triển giữa các nước tiếp tục diễn ra gay gắt. Hòa bình hợp
tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, nhưng xung đột cục bộ, tranh chấp lãnh thổ,
biển đảo vẫn diễn ra khó lường, các yếu tố đe dọa an ninh truyền thống và phi
truyền thống diễn biến rất phức tạp… Để tăng cường củng cố niềm tin vào tư tưởng
Hồ Chí Minh, vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta cần có những
giải pháp đồng bộ để nắm vững, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng của Người
trong tình hình mới, cụ thể là:
Một là, tăng
cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong toàn Đảng, toàn quân, toàn
dân. Đặc biệt, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách
Hồ Chí Minh một cách thiết thực, hiệu quả. Kết hợp với đổi mới công tác tuyên
truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên
và nhân dân, gắn với công tác kiểm tra, đánh giá, phê bình, tự phê bình. Cơ
quan lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước phải thường xuyên nắm chắc tình
hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân; quản lý chặt chẽ
các phương tiện thông tin đại chúng, có những biện pháp kịp thời, thiết thực,
hiệu quả để ngăn chặn những diễn biến xấu về tư tưởng, chính trị, phòng chống
những biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng và khối đại
đoàn kết toàn dân tộc.
Hai là, quán
triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về phương thức lãnh đạo
của Đảng cầm quyền. Bởi vì, cương lĩnh, đường lối chính trị đúng đắn là một vấn
đề cốt lõi, sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong sự tồn tại và phát triển của Đảng. Có
đường lối chính trị đúng đắn mới làm cho nhân dân được giác ngộ về mục tiêu đấu
tranh, hiểu rõ tình hình cách mạng và ý thức rõ những việc nên làm. Phổ biến
nghị quyết của Đảng trong nhân dân phải nâng cao tính thuyết phục, giải thích,
tránh gò ép, mệnh lệnh, cưỡng bức. Thuyết phục quần chúng bằng lý lẽ, nhưng
quan trọng hơn là nêu gương. Đồng thời, phải chọn cán bộ cho đúng. Vì cán bộ là
cái gốc của mọi công việc và “muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ
tốt hoặc kém”.
Ba là, phải
quyết liệt, mạnh mẽ hơn nữa trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng và các mặt
tiêu cực trong xã hội. Nhiều năm qua, Đảng ta đã chỉ đạo làm rất tích cực những
vẫn còn những hạn chế, vướng mắc ở ngay trong bộ máy công quyền của chúng ta.
Vì vậy, phải làm rất kiên quyết, triệt để, công khai, minh bạch, không để những
kẻ lợi dụng quyền lực làm giàu bất chính tồn tại trong bộ máy của Đảng, Nhà nước
ta, có như vậy mới giữ vững niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ ta.
Thời gian càng
qua đi, giá trị lý luận và thực tiễn căn bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh càng trở
nên sâu sắc. Tư tưởng Hồ Chí Minh có giá trị hết sức to lớn đối với sự nghiệp của
Đảng và dân tộc Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam không có mục đích nào khác
ngoài phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Trong bối cảnh hiện nay, mỗi cán bộ,
đảng viên và toàn dân càng phải thấm nhuần và quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ
Chí Minh; tự giác, rèn luyện, tu dưỡng; chủ động, kiên quyết phê phán các quan
điểm sai trái của các thế lực thù địch, phản động, nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng,
tiếp tục đi theo con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn.
PHẢI CHĂNG "TRÍ - SĨ" ĐUA NHAU RÚT GẠCH CHÂN TƯỜNG...!
Phát huy nhân tố con người trong phát triển đất nước
Đảng và Nhà nước ta sớm nhận thức rõ vai trò quyết định
của nhân tố con người và luôn đặc biệt quan tâm xây dựng con người Việt Nam mới
và phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước. Tiếp
theo tinh thần các Đại hội trước, Đại hội XIII của Đảng đề ra nhiệm vụ: Phát
huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; tập trung xây dựng
con người về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc; xây dựng
môi trường văn hóa lành mạnh. Vấn đề đặt ra là phải có các giải pháp đột phá để
phát huy có hiệu quả vai trò nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội.
Trong các chặng đường đấu tranh cách mạng, Đảng, Nhà
nước ta đã phát huy được sức mạnh của mỗi con người Việt Nam cũng như của cả
dân tộc cho sự nghiệp giải phóng đất nước. Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng và
Nhà nước ta nhận thức rõ con người vừa là mục tiêu vừa là động lực phát
triển đất nước và đề ra những giải pháp nhằm phát huy tối đa nhân tố con
người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước.
Tuy nhiên, cùng với những kết quả đạt được thì việc
phát huy nhân tố con người Việt Nam trong xây dựng, phát triển đất nước thời
gian qua vẫn chưa đáp ứng yêu cầu, vẫn còn không ít những hạn chế, yếu kém cần
phải tập trung khắc phục.
Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy bằng
cấp,... chưa được ngặn chặn, đẩy lùi. Công tác giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực
còn nhiều bất cập. Giáo dục và đào tạo chưa thực sự trở thành quốc sách hàng đầu,
thành động lực phát triển. Chưa tạo ra được môi trường thuận lợi cho việc phát
huy tối đa nhân tố con người Việt Nam. Các chính sách nhằm phát huy nhân tố con
người dường như đều đã có, nhưng những chính sách này khó đi vào cuộc sống…
Để khắc phục những hạn chế, yếu kém nêu trên, phát huy
có hiệu quả nhân tố con người Việt Nam trong xây dựng, phát triển đất nước, cần
thực hiện một số giải pháp đột phá sau:
Một là, thống nhất nhận thức về phát huy nhân tố con
người. Phát huy nhân tố con người là phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo
của mỗi người, tạo điều kiện cho mỗi người phát triển toàn diện, phát huy tối
đa tài năng, năng lực của cá nhân cho sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước.
Hai là, giải quyết thỏa đáng lợi ích chính đáng,
thiết thực của con người. Với mỗi giai tầng, mỗi người đều có các lợi ích kinh
tế, chính trị, tinh thần,v.v.. Trong đó, chú ý đặc biệt tới lợi ích kinh tế. Giải
quyết hài hòa lợi ích cá nhân - tập thể - xã hội - dân tộc.
Ba là, đổi mới mạnh mẽ về tổ chức bộ máy nhà nước
theo hướng tinh gọn, hiệu quả, thiết thực, tạo cơ hội cho mỗi người dân phát
huy tối đa năng lực, sở trường đóng góp vào sự nghiệp đổi mới đất nước.
Bốn là, phát huy dân chủ. Phát huy dân chủ là phát huy
vai trò là chủ, làm chủ của nhân dân. Nhân dân có quyền học tập, lao động sáng
tạo, quyền cống hiến, quyền phát huy vai trò của chính mình,v.v..
Năm là, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc,
giải quyết tốt vấn đề tôn giáo, dân tộc. Có phát huy được sức mạnh đại đoàn kết
toàn dân tộc thì mới phát huy được nhân tố con người Việt Nam. Thực hiện các
chính sách bảo đảm các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài
hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển. Kiên quyết đấu tranh
chống kỳ thị dân tộc, kỳ thị tôn giáo, chống lợi dụng các vấn đề tôn giáo, dân
tộc để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trên cơ sở đó, chúng
ta sẽ phát huy có hiệu quả nhân tố con người Việt Nam cho sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Ngày hội của non sông Việt Nam
Chiến thắng 30/4/1975 là một trong những chiến thắng vĩ đại nhất
trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Suốt 47 năm
qua, ngày 30/4 hằng năm đã trở thành ngày hội non sông, hội tụ hào khí giang
sơn, kết tinh bản sắc văn hóa dân tộc. Đường
lối hòa hợp dân tộc, phát huy sức mạnh toàn dân chung tay kiến thiết, xây dựng
đất nước đã được Đảng ta thực hiện ngay sau ngày Nam Bắc liền một dải. Từ đó
đến nay, Đảng và nhân dân ta luôn luôn coi kiều bào là bộ phận không thể tách
rời của dân tộc. Càng ngày, những chủ trương, chính sách của Đảng và các hình
thức hợp tác, kết nối của các cấp, các ngành, các địa phương càng tạo môi
trường thông thoáng, thuận lợi để kiều bào gắn kết với quê hương. Hàng triệu
kiều bào yêu nước luôn sát cánh bên Đảng và đồng bào, chiến sĩ trong nước, đóng
góp ngày càng nhiều cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Hướng về kỷ niệm 47 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất
nước (30/4/1975 – 30/42022), dù bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch Covid-19,
song qua truyền thông và mạng xã hội, người dân Việt Nam, nhiều tổ chức, cá
nhân kiều bào ở các quốc gia, vùng lãnh thổ đã hướng về quê hương bằng những
chương trình hành động thiết thực. Bạn bè quốc tế cũng dành sự ngưỡng mộ, tình
cảm tốt đẹp nhất cho Đảng, Chính phủ, quân và dân Việt Nam. Đó là những thanh âm,
sắc màu thể hiện giá trị nhân văn, tinh thần đoàn kết, góp phần nâng cao niềm
tin, vị thế đất nước trên trường quốc tế.
ĐẤU TRANH PHÊ PHÁN CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI PHỦ NHẬN TƯ TƯỞNG VÀ SỰ NGHIỆP CỦA HỒ CHÍ MINH TRÊN MẠNG INTERNET
Những năm gần đây, các phần tử cơ hội chính trị ráo riết đẩy
mạnh việc truyền bá các quan điểm sai trái, phủ nhận tư tưởng và sự nghiệp
của Hồ Chí Minh trên mạng Internet. Đặc biệt là từ sau khi toàn Đảng, toàn
quân và toàn dân ta đang đẩy mạnh thực hiện việc Học tập và làm theo tư tưởng,
đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch
và các phần tử chống đối cách mạng ngày càng tinh vi, thâm độc, xảo quyệt hơn.
Với những ưu thế vượt trội trong lưu giữ và
chuyển tải thông tin, hình thức thiết kế hấp dẫn, lôi cuốn người xem, mạng
Internet được các thế lực thù địch sử dụng như một trong những công cụ chủ yếu,
đắc lực nhất phục vụ cho hoạt động chống phá cách mạng nước ta; đặc biệt chúng
tìm mọi cách xúc phạm, hạ thấp uy tín để đi đến "hạ bệ" thần tượng Hồ
Chí Minh, phủ nhận tư tưởng của Người với tư cách là nền tảng tư tưởng, kim chỉ
nam cho hành động của Đảng ta.
Thực hiện âm mưu thâm độc này, các thế lực thù địch đã
xuyên tạc cả thân thế, sự nghiệp cũng như đạo đức và tư tưởng, phong cách của Hồ
Chí Minh. Đây là những phương thức, thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực
thù địch nhằm trực tiếp tác động vào nhận thức, tâm tư, tình cảm của các đối tượng
khai thác thông tin trên mạng Internet, làm xuất hiện tâm lý hoài nghi, hoang
mang, dao động về giá trị của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, từng
bước làm giảm sút niềm tin vào con đường mà Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã lựa chọn.
Đấu tranh chống các quan điểm sai trái để bảo vệ tư tưởng và
sự nghiệp của Hồ Chí Minh là trách nhiệm chính trị của toàn Đảng, toàn quân và
toàn dân ta. Để hoàn thành tốt nhiệm vụ này, một mặt phải không ngừng nghiên cứu
phát triển, hoàn thiện và hiện thực hoá tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí
Minh trong đời sống. Mặt khác, phải vạch trần âm mưu, bản chất, thủ đoạn của
các thế lực thù địch, có như vậy mới tạo được sức đề kháng cao cho các đối tượng
tham gia khai thác thông tin trên mạng Internet.
Xử lý quyết liệt vi phạm chứng khoán, phát hành trái phiếu doanh nghiệp
Xử lý quyết liệt vi phạm chứng khoán, phát hành trái phiếu doanh nghiệp
Thủ tướng Phạm Minh Chính nêu rõ Chính phủ đã chỉ đạo các cơ quan chức năng xử lý quyết liệt các vi phạm trong lĩnh vực bất động sản, thị trường chứng khoán, phát hành trái phiếu doanh nghiệp.
Sáng nay 5-4, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã chủ trì Hội nghị trực tuyến của Thường trực Chính phủ với Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố về tình hình kinh tế-xã hội, chương trình phục hồi và phát triển; việc phân bổ, giải ngân vốn đầu tư công và triển khai các công trình giao thông quan trọng quốc gia.
Phát biểu khai mạc Hội nghị, Thủ tướng Phạm Minh Chính cho biết hội nghị nhằm đánh giá tình hình triển khai Kết luận của Trung ương, Nghị quyết của Quốc hội,… trọng tâm là thảo luận tình hình kinh tế-xã hội tháng 3 và 3 tháng năm 2022, việc triển khai Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội; tình hình và giải pháp đẩy mạnh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công; việc triển khai các công trình giao thông quan trọng quốc gia.
Thủ tướng nêu rõ, so với thời điểm tổ chức Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương ngày 5-1, tình hình hiện nay đã có nhiều diễn biến mới khác, phức tạp, khó lường. Tình hình có thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen, nhưng khó khăn, thách thức nhiều hơn thời cơ và thuận lợi.
Cụ thể là xung đột ở Ukraine ảnh hưởng đến kinh tế, xã hội, chính trị, quốc phòng, an ninh trên toàn cầu, tác động đến thị trường năng lượng, tài chính và cung cầu hàng hóa. Cạnh tranh nước lớn tiếp tục diễn ra gay gắt. Giá nguyên liệu đầu vào trên thế giới, chi phí logistics và lạm phát ở nhiều nước tăng cao.
Ở trong nước, những khó khăn nội tại của nền kinh tế bộc lộ khi tình hình có những biến động. Vi phạm pháp luật liên quan tới bất động sản, thị trường chứng khoán, phát hành trái phiếu doanh nghiệp là vấn đề nổi lên.
Trong quý I/2022, sức ép lạm phát trong và ngoài nước rất lớn nhưng chỉ số giá tiêu dùng bình quân được kiểm soát ở mức 1,92% với các giải pháp tích cực, chủ động, linh hoạt về thuế, phí, giá…
"Chính phủ cũng đã chỉ đạo các cơ quan chức năng xử lý quyết liệt các vi phạm trong lĩnh vực bất động sản, thị trường chứng khoán, phát hành trái phiếu doanh nghiệp, cần tiếp tục giám sát, thanh tra, kiểm tra, giám sát, ngăn chặn, xử lý, làm lành mạnh hóa thị trường"- Thủ tướng nhấn mạnh.
Người đứng đầu Chính phủ cho rằng thời gian tới, dự báo vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức và đề nghị các đại biểu tham dự hội nghị tập trung phân tích, mổ xẻ những việc đã và chưa làm được trong quý I, nguyên nhân, bài học kinh nghiệm, những khó khăn, thách thức chính đối với Việt Nam hiện nay (cả nội tại lẫn tác động bên ngoài); giải pháp tháo gỡ, những trọng tâm cần triển khai trong thời gian tới để đạt mục tiêu đề ra.
Thủ tướng lưu ý một số nội dung cụ thể như việc triển khai các dự án hạ tầng giao thông chiến lược, phân bổ và giải ngân vốn đầu tư công bảo đảm trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn trải, phân tán, kéo dài; đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức; tiếp tục rà soát, hoàn thiện thể chế cho phát triển…
Hoàn thiện quy định về tổ chức và hoạt động của lực lượng Thanh tra Công an nhân dân
Hoàn thiện quy định về tổ chức và hoạt động của lực lượng Thanh tra Công an nhân dân
Đại tướng Tô Lâm, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an cùng đoàn công tác của Bộ vừa thăm và làm việc với Thanh tra Bộ Công an.
Cùng tham gia đoàn công tác của Bộ Công an có Thượng tướng Trần Quốc Tỏ, Uỷ viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Công an và đại diện lãnh đạo các đơn vị chức năng thuộc Bộ.
Thiếu tướng Trần Đức Tuấn, Chánh Thanh tra Bộ Công an và lãnh đạo Thanh tra Bộ cùng đại diện lãnh đạo các phòng chức năng thuộc Thanh tra Bộ Công an tiếp Bộ trưởng và đoàn công tác…
Báo cáo Bộ trưởng cùng Đoàn công tác, Thiếu tướng Trần Đức Tuấn nêu rõ, thời gian qua, Thanh tra Bộ Công an đã tham mưu ban hành 01 Nghị định, 05 Thông tư, đang tiếp tục hoàn thiện dự thảo 04 Thông tư quy định về các lĩnh vực công tác thanh tra Công an nhân dân; triển khai thực hiện 02 giải pháp, nhiệm vụ trọng tâm “đột phá”, chỉ đạo hoàn thiện quy trình trong từng lĩnh vực công tác thanh tra. Làm tốt công tác tham mưu Bộ trưởng thực hiện công tác quản lý Nhà nước về thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tiếp công dân và phòng, chống tham nhũng.
Chủ động tham mưu Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, lãng phí của Bộ quán triệt, triển khai các kết luận, quy định của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng lãng phí của lực lượng Công an nhân dân năm 2021, triển khai nhiệm vụ công tác năm 2022; đồng thời tiến hành các cuộc thanh tra, thanh tra đặc biệt và thanh tra đột xuất theo kế hoạch và chỉ đạo của Thanh tra Chính phủ, lãnh đạo Bộ Công an.
Cùng với đó, trực tiếp tham mưu, phục vụ lãnh đạo Bộ Công an tổ chức thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Kế hoạch công tác thanh tra hàng năm; tiếp công dân định kỳ; chỉ đạo xác minh, giải quyết nhiều vụ khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ Công an đảm bảo khách quan, thận trọng, đúng quy định pháp luật… Qua đó, đã góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Đảng uỷ Công an Trung ương, Bộ Công an, cấp uỷ và thủ trưởng Công an các cấp.
Thay mặt Đảng ủy Công an Trung ương, lãnh đạo Bộ Công an, Bộ trưởng Tô Lâm ghi nhận, đánh giá cao những kết quả Thanh tra Bộ đã đạt được trong thời gian qua. Nhằm phát huy những kết quả đã đạt được, Bộ trưởng Tô Lâm đề nghị Thanh tra Bộ tiếp tục tham mưu lãnh đạo Bộ chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương kiện toàn tổ chức, bộ máy cơ quan thanh tra; chủ động rà soát, đề xuất hoàn thiện quy định về tổ chức và hoạt động của lực lượng thanh tra ngay sau khi Quốc hội thông qua Luật Thanh tra (sửa đổi) để triển khai thực hiện chức năng, nhiệm vụ được thuận lợi, hiệu quả nhất.
Coi trọng nghiên cứu, tổng kết các chuyên đề công tác; chủ động đổi mới phương pháp, biện pháp nghiệp vụ thanh tra cho phù hợp thực tiễn hoạt động của lực lượng Công an nhân dân.
Nhanh chóng tham mưu hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về công tác thanh tra; hoàn thiện quy trình, cải tiến nội dung, các bước tiến hành thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tiếp công dân và phòng, chống tham nhũng.
Làm tốt công tác theo dõi, đôn đốc và kiểm tra việc thực hiện Kết luận thanh tra; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động đoàn thanh tra, nêu cao tính tự giác, tính kỷ luật của cán bộ làm công tác thanh tra.
Bộ trưởng Bộ Công an yêu cầu Thanh tra Bộ cần làm tốt công tác phối hợp với các cơ quan thanh tra, tổ chức cán bộ, kiểm toán nhà nước; chủ động phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn khuyết điểm, vi phạm từ sớm, từ xa, không để vi phạm nhỏ thành vi phạm lớn, vi phạm của cá nhân thành vi phạm của tập thể...
Chủ động thực hiện hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, tiếp công dân; kịp thời phối hợp xử lý các vụ việc, không để các thế lực thù địch, tội phạm lợi dụng gây phức tạp về an ninh, trật tự; không để khiếu nại tố cáo vượt cấp, kéo dài.
Đặc biệt, chú trọng làm tốt công tác giải quyết, hướng dẫn Thanh tra Công an các đơn vị, địa phương xử lý các đơn, thư thuộc thẩm quyền giải quyết của Công an nhân dân. Làm tốt vai trò là cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, lãng phí của Bộ, triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm theo đúng quy định của pháp luật.
Tập trung xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng Thanh tra Bộ trong sạch, vững mạnh, nội bộ đoàn kết, thống nhất; ứng dụng công nghệ thông tin, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra.





