Thứ Ba, 5 tháng 4, 2022

Giá trị tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về đường lối đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam qua công trình của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

 - Công trình Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vừa được phát hành đã có đóng góp to lớn, nhiều mặt vào kho tàng lý luận của Đảng, như lý luận về đường lối đổi mới; về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị…, qua đó, có tác dụng định hướng quan trọng với sự nghiệp cách mạng của dân tộc.

Cuốn sách Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được Hội đồng Lý luận Trung ương và Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp xuất bản đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của đông đảo cán bộ, đảng viên, nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế. Công trình tập hợp 29 bài viết, bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng kể từ khi chuẩn bị xây dựng các dự thảo văn kiện Đại hội XIII của Đảng đến nay.

Nội dung công trình đã thể hiện những đóng góp to lớn, nổi bật của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong việc tổng kết toàn diện và sâu sắc những vấn đề lý luận và thực tiễn của cách mạng Việt Nam; khẳng định mạnh mẽ về mô hình chủ nghĩa xã hội (CNXH) và con đường đi lên CNXH mà Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn; khẳng định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và nhân dân ta; khẳng định sự đúng đắn, sáng tạo của sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo.... 

Có thể nhận thấy những nội dung tư tưởng, lý luận và thực tiễn nổi bật của công trình trên các mặt sau đây:

Một là, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam

Bài viết quan trọng “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” được đồng chí Tổng Bí thư viết nhân dịp kỷ niệm 131 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890 - 19-5-2021) và bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV, bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026, đã định hình (xác định mô hình) CNXH Việt Nam và định hướng rõ hơn về con đường đi lên CNXH của Việt Nam, phù hợp với hoàn cảnh, đặc điểm cụ thể của Việt Nam và xu thế của thời đại.

Theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, CNXH Việt Nam là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn và đang kiên định, kiên trì theo đuổi. Chủ nghĩa xã hội Việt Nam gắn liền với độc lập dân tộc, quyền tự quyết của dân tộc, gắn liền với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!”. Và, chỉ có CNXH mới bảo đảm độc lập cho dân tộc, quyền tự quyết của dân tộc và cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân, của mọi người, mọi dân tộc trên đất nước ta.

Bài viết chỉ rõ, mặc dù vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu, nhưng thực tiễn xây dựng CNXH ở nước ta đã cho phép xác định được mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa (XHCN) mà Đảng và nhân dân ta xây dựng là: Xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.

Để thực hiện được mục tiêu, mô hình đó, cần phải thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu là: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; xây dựng nền dân chủ XHCN, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại; xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, xây dựng xã hội XHCN Việt Nam là xây dựng một xã hội mới về chất, đó là một sự nghiệp cách mạng vô cùng khó khăn và phức tạp, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen nhau, cạnh tranh với nhau. Đi lên CNXH là quá trình không ngừng củng cố, tăng cường, phát huy các nhân tố XHCN để các nhân tố đó ngày càng chi phối, áp đảo và chiến thắng những nhân tố, thiết chế, thể chế phi XHCN, không phù hợp với chế độ XHCN. Thực hiện quá độ lên CNXH, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là một sự nghiệp cách mạng mới mẻ, khó khăn, lâu dài; vì thế, phải kiên trì, không chủ quan, nóng vội; phải xuất phát từ thực tiễn của đất nước, tôn trọng quy luật khách quan, tránh giáo điều, rập khuôn, máy móc. Thành công hay thất bại của sự nghiệp xây dựng CNXH phụ thuộc trước hết vào sự đúng đắn của đường lối, của bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng Cộng sản. Vì vậysự nghiệp xây dựng CNXH phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, một đảng cách mạng chân chính, không có lợi ích nào khác, ngoài lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc Việt Nam.

Để lãnh đạo, cầm quyền xây dựng thành công CNXH, Đảng Cộng sản Việt Nam cần thường xuyên đặt ra yêu cầu tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao tầm trí tuệ, đạo đức, văn minh; phải phát huy mạnh mẽ vai trò sáng tạo, sự ủng hộ và tham gia tích cực của nhân dân; phải luôn xuất phát từ thực tiễn và lợi ích của quốc gia - dân tộc và phải nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm từ thực tiễn của thế giới và thời đại; phải chủ động và tích cực hội nhập quốc tế,… để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta, mô hình và con đường đi lên CNXH luôn tươi mới, luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống và thời đại.

Hai là, về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

Công trình Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã phân tích, làm rõ nội dung tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, “Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng cao đẹp nhất của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Người là kết tinh rạng ngời của đạo đức, trí tuệ, khí phách, lương tri của dân tộc và thời đại”(1). Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một người cộng sản Việt Nam mẫu mực, mà còn là một chiến sĩ cộng sản quốc tế trong sáng, thủy chung, là biểu tượng vĩ đại, sáng ngời và lỗi lạc của phong trào giải phóng dân tộc, của đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế, của hòa bình và hữu nghị giữa các dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện một tầm nhìn lớn lao, một nhãn quan văn hóa rất mực nhân văn, sâu sắc và tinh tế; đó là tầm vóc của một danh nhân văn hóa thế giới. Người để lại cho Đảng ta, nhân dân ta, cho các thế hệ hiện nay và mai sau một di sản tư tưởng vô cùng quý báu, một tấm gương sáng ngời về đạo đức, phong cách và lối sống. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khái quát: “Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã hun đúc nên sự nghiệp Hồ Chí Minh, thời đại Hồ Chí Minh - thời đại rực rỡ nhất, vinh quang nhất trong lịch sử dân tộc ta”(2); “Tư tưởng, đạo đức và phong cách của Người là hiện thân của những khát vọng lớn lao của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc của dân tộc mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc”(3) trên thế giới.

Phân tích, làm rõ nội hàm khái niệm Tư tưởng Hồ Chí Minh, Đạo đức Hồ Chí Minh  Phong cách Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam; là kết quả của quá trình vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý báu của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác; góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc trên thế giới, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định tầm nhìn, vai trò, bản lĩnh, trí tuệ và uy tín của Chủ tịch Hồ Chí Minh; là cống hiến to lớn và đầy sáng tạo của Người trong việc thành lập, giáo dục và rèn luyện một đảng cách mạng chân chính để lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra con đường cách mạng phù hợp với đặc thù, thực tiễn Việt Nam. Đó là: Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH; giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng con người; tiến hành cách mạng XHCN, quá độ tiến lên CNXH để đất nước độc lập, tự do, nhân dân ấm no, hạnh phúc. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: Tư tưởng Hồ Chí Minh và sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Người là tài sản vô giá, luôn đồng hành cùng dân tộc; dẫn dắt toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đi tới thành công trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là đóng góp quý báu vào sự nghiệp cách mạng của các dân tộc bị áp bức trên thế giới, vào sự phát triển những tinh hoa tư tưởng và văn hóa nhân loại.

Là học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ra sức học tập, tu dưỡng, rèn luyện theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người, nên Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đưa ra những nhận xét khái quát, sâu sắc: Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng ngời, là biểu tượng mẫu mực về đạo đức cách mạng cao đẹp. Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức cách mạng, là những phẩm chất cao quý của người cách mạng. Đó là: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư Phong cách Hồ Chí Minh là lối sống, tác phong khiêm tốn, giản dị, cầu thị, gần dân, trọng dân, tin dân, học dân, làm việc gì cũng vì lợi ích của nhân dân, là đầy tớ của nhân dân chứ không phải “làm quan nhân dân”. Đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là sự thống nhất giữa tư tưởng và hành động, giữa lời nói và việc làm một cách tự nhiên. Mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân ta tìm thấy trong những lời dạy của Người và từ tấm gương đạo đức cao đẹp, từ phong cách của Người những chuẩn mực cần noi theo trong học tập, tu dưỡng, rèn luyện để mỗi ngày càng trở nên hoàn thiện hơn, vươn tới những giá trị chân - thiện - mỹ. Từ đó, đồng chí yêu cầu đưa việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trở thành sinh hoạt chính trị thường xuyên, trở thành một nhu cầu văn hóa trong toàn Đảng, toàn dân; chú trọng quán triệt, tập trung làm tốt ba vấn đề là: Học tập, làm theo Bác và nêu gương của cán bộ, đảng viên.

Theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, học tập Bác là học tập tư tưởng, thế giới quan và nhân sinh quan cách mạng, đạo đức và phong cách của người chiến sĩ cộng sản chân chính; cần thúc đẩy việc học theo Bác trở thành lối sống, nếp sống, cách làm của từng cán bộ, đảng viên và người dân. Làm theo Bác là thúc đẩy, tạo chuyển biến mạnh mẽ từ “học tập” sang “làm theo”, bằng những việc làm cụ thể, thiết thực trong thực hiện nhiệm vụ, chức trách được giao về chuyên môn, nghiệp vụ và công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Nêu gương là thực hiện đồng thời, gắn kết việc học tập với làm theo Bác và nêu gương; trong đó, đề cao vai trò tiền phong, gương mẫu với nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là đối với người lãnh đạo, người đứng đầu. Điều quan trọng là: “Mỗi cán bộ, đảng viên cần nghiêm túc thực hiện trách nhiệm nêu gương; người có chức vụ càng cao, cương vị càng lớn càng phải gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách, tác phong, lề lối công tác để quần chúng, nhân dân noi theo”(4). Xây dựng các chuẩn mực đạo đức làm cơ sở cho cán bộ, đảng viên tự điều chỉnh hành vi ứng xử trong công việc hằng ngày. Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thấy rõ bổn phận và trách nhiệm của mình, luôn vững vàng trước khó khăn, thách thức và không bị cám dỗ bởi vật chất, tiền tài, danh vọng tầm thường. Nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện và thực hành đạo đức cách mạng. Tăng cường đấu tranh chống các quan điểm, hành vi phản đạo đức, phi đạo đức. Cổ vũ, biểu dương các gương sáng đạo đức, tạo ảnh hưởng sâu rộng trong Đảng và ngoài xã hội. Thực hiện những giải pháp đột phá nhằm ngăn chặn có hiệu quả sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, đẩy lùi tiêu cực xã hội và các tệ nạn xã hội.

Trong quá trình thực hiện ba nhiệm vụ Học tập, làm theo Bác và nêu gương của cán bộ, đảng viên, cần kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” là cơ bản, chiến lược, “chống” là quan trọng, cấp bách; đề cao tinh thần “nói đi đôi với làm”, “rèn luyện suốt đời”, thường xuyên “tự soi”, “tự sửa”,… làm cho Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh; phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc của nhân dân, tạo điều kiện để “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Ba là, về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ở Việt Nam

Trong các vấn đề trọng tâm được đề cập trong công trình Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, vấn đề xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ở nước ta được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đặc biệt quan tâm: Từ cơ sở lý luận về xây dựng Đảng, Nhà nước pháp quyền XHCN, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội đến những vấn đề cụ thể về công tác tổ chức, cán bộ, kiểm tra, nội chính, thi đua khen thưởng, văn hóa, đối ngoại, về công nhân, nông dân, trí thức, thanh niên, phụ nữ, về xây dựng lực lượng quân đội, công an,…

Ở lĩnh vực nào Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng có sự am hiểu sâu sắc, sự sẻ chia, đồng cảm, sự gợi mở, định hướng thuyết phục. Đồng chí nhấn mạnh: “Nhận thức sâu sắc sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới và bảo đảm cho đất nước phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta đặc biệt chú trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa(5). Phải tiếp tục nâng cao hơn nữa bản lĩnh và trí tuệ của Đảng, để Đảng thực sự “là đạo đức, là văn minh”; phải nỗ lực hơn nữa trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; xây dựng Đảng ta và hệ thống chính trị ở nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, ngang tầm nhiệm vụ, đủ sức để lãnh đạo sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước nhanh và bền vững hơn, trong đó có việc phát huy những tác động tích cực, khắc phục những tác động tiêu cực, mặt trái của kinh tế thị trường, của quá trình mở cửa, hội nhập quốc tế. 

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phân tích, Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam. Đảng ra đời, tồn tại và phát triển là vì lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của toàn thể dân tộc. Đảng cầm quyền, lãnh đạo cả dân tộc, được toàn dân thừa nhận là đội tiên phong lãnh đạo mình; do đó, Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc. Giai cấp công nhân Việt Nam có lợi ích thống nhất với lợi ích của nhân dân lao động và toàn dân tộc. Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản. Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên; thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ,…

Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị cần được đặc biệt chú trọng, tiến hành toàn diện, đồng bộ, hiệu quả trên tất cả các mặt chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ… Cần thực hiện tốt hơn nữa các nguyên tắc tổ chức xây dựng Đảng, nhằm làm cho tổ chức đảng và bộ máy nhà nước ngày càng trong sạch, vững mạnh, giữ vững bản chất cách mạng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng, thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; đặc biệt coi trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ - nội dung then chốt trong công tác xây dựng Đảng; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Siết chặt kỷ luật đảng, kỷ luật, kỷ cương hành chính, xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực nhằm “nhốt quyền lực trong lồng cơ chế”, nâng cao đạo đức, văn hóa, tính chuyên nghiệp của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Kiên trì, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực, các biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần tâm sự, nhấn mạnh: “Điều rất cơ bản, rất then chốt có ý nghĩa quyết định cho mọi công việc, đó là phải làm sao giữ cho được, làm cho đúng theo tư cách, đạo đức, danh dự của người đảng viên, người cán bộ cách mạng, đặc biệt là những người lãnh đạo… Cái quý nhất của con người là cuộc sống và danh dự sống(6); “Đời người chỉ sống có một lần, phải sống sao cho có ý nghĩa, để không phải xót xa ân hận vì những việc làm ti tiện, đớn hèn, vô liêm sỉ; tiền bạc lắm làm gì, chết có mang theo được đâu. Danh dự mới là điều thiêng liêng, cao quý nhất!”(7).

Công trình đã làm rõ hơn mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát của hệ thống chính trị ở nước ta gồm có 3 bộ phận: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủĐảng lãnh đạo là đề ra đường lối, chủ trương, phương hướng xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước, mở rộng các quan hệ đối ngoại. Nhà nước quản lý là tổ chức, triển khai thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, biến nó thành hiện thực. Nhân dân làm chủ (thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên…) là chủ thể thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và được thụ hưởng các thành quả do mình làm ra.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ, trong chế độ chính trị của chúng ta: “Mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích; mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân”(8). Vì vậy, xây dựng chế độ XHCN là xây dựng một chế độ “hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội, khác hẳn về chất so với các xã hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm, do đó cần và có điều kiện để xây dựng sự đồng thuận xã hội thay vì đối lập, đối kháng xã hội”(9). Đây là những chỉ dẫn rất quan trọng của Tổng Bí thư trong quá trình xây dựng chế độ chính trị và cơ chế vận hành của hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay, đồng thời lưu ý: Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, điều “Đặc biệt là cần phải đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả việc phân cấp, phân quyền, phân công, phối hợp, gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát giữa các cơ quan, đơn vị thuộc Chính phủ, chính quyền các địa phương… với các cơ quan, đơn vị của Đảng, Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, hệ thống các cơ quan tư pháp và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội; bảo đảm cả hệ thống tổ chức bộ máy luôn luôn vận hành một cách đồng bộ, thống nhất; tránh tình trạng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”, “quyền anh, quyền tôi”, “cua cậy càng, cá cậy vây””(10).

Bốn làvề đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ

Theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, trong thời kỳ đổi mới, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Chưa bao giờ đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Điều đó khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng; sự đồng tình, hưởng ứng và tích cực phấn đấu thực hiện đường lối đổi mới của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; sự ủng hộ, giúp đỡ của các đối tác và bạn bè quốc tế. Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã được lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, bài bản, đi vào chiều sâu, có bước tiến mạnh, đạt được nhiều kết quả cụ thể rõ rệt rất quan trọng, toàn diện, để lại dấu ấn tốt, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội và thực sự đã trở thành phong trào, xu thế, được cán bộ, đảng viên và nhân dân ta đồng tình ủng hộ, đánh giá cao, được quốc tế ghi nhận.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, mặt tích cực đã đạt được là cơ bản, chúng ta cũng còn không ít khuyết điểm, hạn chế và đang phải đối mặt với những thách thức mới trong quá trình phát triển đất nước. Chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh còn thấp, thiếu bền vững, khoảng cách giàu nghèo gia tăng, sự xuống cấp nghiêm trọng về một số mặt của lĩnh vực văn hóa, đạo đức, lối sống… gây bức xúc xã hội. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, “lợi ích nhóm”, “bệnh thành tích”, “tư duy nhiệm kỳ”, “lạm quyền”, “lộng quyền”, vi phạm nguyên tắc tổ chức đảng đang còn nghiêm trọng”. “Sự bảo thủ, trì trệ; tư duy cục bộ, lợi ích nhóm; sự tha hóa quyền lực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tình trạng tham nhũng, lãng phí, xuống cấp về mặt đạo đức và trách nhiệm xã hội, v.v. cũng là những thứ giặc nội xâm vô cùng nguy hiểm, đe dọa vai trò lãnh đạo và sứ mệnh của Đảng, sự tồn vong của chế độ, vận mệnh của đất nước, dân tộc”(11) chưa được ngăn chặn, đẩy lùi. Tham nhũng, tiêu cực vẫn là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ ta. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch vẫn đang tìm mọi cách phá hoại sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta; chúng ra sức xuyên tạc, vu cáo Đảng, Nhà nước ta, phá hoại hệ tư tưởng, Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng, kích động, chia rẽ nội bộ Đảng, chia rẽ Đảng, Nhà nước với nhân dân, hòng làm tan rã Đảng ta, chế độ ta từ gốc, từ bên trong, hết sức thâm độc và nguy hiểm.

Là một người mẫu mực nêu gương đạo đức thanh liêm, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, đồng chí khẳng định, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của Đảng và hệ thống chính trị. Cần kiên trì, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ, triệt để hơn, hiệu quả hơn; đồng thời, gắn phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng, củng cố hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, là cơ sở để tạo ra sự đồng thuận xã hội, sự đồng thuận giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, qua đó tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Cần đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách để “không thể, không dám, không muốn, không cần tham nhũng” và kiên quyết đấu tranh phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không bị tác động không trong sáng bởi bất kỳ tổ chức, cá nhân nào… Kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa với chủ động phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời những hành vi tham nhũng, tiêu cực; xử lý đồng bộ kỷ luật đảng, kỷ luật hành chính và xử lý bằng pháp luật hình sự đối với những người vi phạm, bất kể đó là ai”(12). Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ: “Phòng, chống tham nhũng là “chống giặc nội xâm”, là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, vừa cấp bách, vừa khó khăn, phức tạp, lâu dài; phải tiến hành kiên quyết, kiên trì, liên tục, “không ngừng”, “không nghỉ” ở tất cả các cấp, các ngành, các lĩnh vực; thực hiện đồng bộ các biện pháp chính trị, tư tưởng, tổ chức, hành chính, kinh tế, hình sự; với những bước đi vững chắc, tích cực, chủ động và có trọng tâm, trọng điểm; phải xây dựng cho được một cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để “không thể tham nhũng”, một cơ chế răn đe, trừng trị nghiêm khắc để “không dám tham nhũng” và một cơ chế bảo đảm để “không cần tham nhũng(13).

Theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, chống tham nhũng, tiêu cực và các biểu hiện suy thoái tư tưởng, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ không làm giảm sự đổi mới, sáng tạo, làm “chùn bước” những người dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung và làm “chậm” sự phát triển đất nước, không phải là “đấu đá nội bộ”, “phe cánh”, mà ngược lại chính việc đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã góp phần quan trọng đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng và xây dựng, chỉnh đốn Đảng chỉ làm “chùn bước” những ai có động cơ không trong sáng, đã trót “nhúng chàm” và những người không nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng, thiếu kiến thức, kinh nghiệm và bản lĩnh(14).

Năm là, về chủ nghĩa tư bản hiện đại

Trong công trình Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đi sâu phân tích, nêu bật bản chất của chủ nghĩa tư bản (CNTB) hiện nay. Với nhãn quan duy vật biện chứng, khách quan, khoa học, đồng chí cho rằng, chúng ta cần nhận thấy rằng CNTB chưa bao giờ mang tính toàn cầu như ngày nay và cũng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trong lĩnh vực giải phóng và phát triển sức sản xuất, phát triển khoa học và công nghệ. Nhiều nước tư bản phát triển, trên cơ sở các điều kiện kinh tế ở mức cao và do kết quả đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đã có những điều chỉnh, hình thành được không ít các chế độ phúc lợi xã hội tiến bộ hơn so với trước. Để thích ứng với điều kiện mới, CNTB thế giới đã ra sức tự điều chỉnh, thúc đẩy các chính sách “tự do mới” trên phạm vi toàn cầu, nhờ đó hiện vẫn còn tiềm năng phát triển.

Tuy nhiên, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, CNTB vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó. Các cuộc khủng hoảng cơ cấu, khủng hoảng chu kỳ ở các nước tư bản chủ nghĩa (TBCN) vẫn tiếp tục diễn ra; khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội ngày càng tăng, làm trầm trọng thêm những mâu thuẫn, xung đột giữa các sắc tộc, tôn giáo. Những tình huống “phát triển xấu”, những nghịch lý “phản phát triển”, từ địa hạt kinh tế - tài chính đã tràn sang lĩnh vực xã hội, làm bùng nổ các xung đột xã hội. Đồng chí Tổng Bí thư chỉ rõ: Quá trình phát triển kinh tế - xã hội lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, vì lợi nhuận mà bóc lột tàn tệ và chà đạp lên phẩm giá con người, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội và cạnh tranh khốc liệt để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm, là đặc trưng cốt yếu của phương thức sản xuất và tiêu dùng TBCN.

Đi sâu vào bản chất của chế độ TBCN, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ, đây vẫn là chế độ của thiểu số giàu có và phục vụ cho lợi ích của các tập đoàn tư bản lớn. Một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới 3/4 nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội. Trên thực tế, các thiết chế dân chủ tư sản theo công thức “dân chủ tự do” vẫn chỉ dành cho những ông chủ tư bản, những tập đoàn tư bản. Các quyền tự do dân chủ cho số đông người dân vẫn chỉ là hình thức, rất ít thực chất. Trong đời sống chính trị, khi quyền lực của đồng tiền chi phối thì quyền lực của nhân dân sẽ bị lấn át. Ở các nước tư bản, các cuộc bầu cử gọi là tự do, dân chủ, dù có thể thay đổi được chính phủ, thay đổi được phe nhóm nhưng không thay thế được thế lực thống trị, giai cấp cầm quyền; đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản, của giai cấp tư sản. “Pháp quyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản”(15). Mâu thuẫn giữa lao động và tư bản là không thể điều hòa được, các cuộc khủng hoảng hiện nay không thể giải quyết được một cách triệt để trong khuôn khổ của chế độ TBCN.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhận diện và phân tích thuyết phục về bản chất của CNTB hiện đại, về sự phát triển không bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái của nó để từ đó chỉ rõ: Con đường đi lên CNXH, bỏ qua chế độ TBCN là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng và nhân dân ta. Tuy nhiên, đồng chí cũng lưu ý“Nói bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa, chứ không phải bỏ qua cả những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản”(16). Mặt khác, Đảng lãnh đạo và cầm quyền, trong khi xác định phương hướng chính trị và đề ra quyết sách, không thể chỉ xuất phát từ thực tiễn của đất nước và dân tộc mình, mà còn phải nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm từ thực tiễn của thế giới, tiếp thu có chọn lọc các giá trị văn hóa, văn minh của nhân loại. “Trong thế giới toàn cầu hóa như hiện nay, sự phát triển của mỗi quốc gia - dân tộc không thể biệt lập, đứng bên ngoài những tác động của thế giới và thời đại, của thời cuộc và cục diện của nó. Chính vì vậy, chúng ta phải chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi”(17). Đó là cái nhìn toàn diện, biện chứng, lịch sử, khách quan về CNTB, là cơ sở để chúng ta vừa hợp tác vừa đấu tranh, “hội nhập” mà không “hòa tan” trên con đường đi lên CNXH.

Công trình Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã đề cập những vấn đề lý luận và thực tiễn ở tầm quốc gia, dân tộc và quốc tế với tư duy lý luận sâu sắc, biện chứng, khách quan, mang tính lịch sử - cụ thể, được diễn đạt khúc chiết, rành mạch, dung dị, dễ hiểu. Và trên hết, chúng ta nhận thấy ở công trình thể hiện rõ bản lĩnh, trí tuệ, danh dự, đạo đức, nhân cách trong sáng và trái tim sục sôi bầu nhiệt huyết cách mạng, luôn đau đáu vì Đảng, vì nước, vì dân của vị lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước ta.

Đây là tài liệu hết sức quý báu phục vụ việc nghiên cứu, học tập, giáo dục chính trị, tư tưởng và nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, nhân dân ta và bạn bè yêu chuộng hòa bình, tiến bộ trên thế giới về CNXH và con đường đi lên CNXH, về công cuộc đổi mới ở Việt Nam; khơi dậy và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, thu nhập cao, theo định hướng XHCN như Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra./.

Nâng tầm đối ngoại quốc phòng, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới

  Là một bộ phận trong hoạt động đối ngoại của Nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, trong thời gian qua, công tác đối ngoại quốc phòng đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần bảo vệ độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, nâng cao uy tín, vị thế của đất nước và Quân đội nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế.


Thành tựu của đối ngoại quốc phòng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, quán triệt và thực hiện chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng: “cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới”, “giúp bạn là tự giúp mình”, đối ngoại quốc phòng đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong liên minh chiến đấu với hai nước bạn Lào và Cam-pu-chia để chống kẻ thù chung trên bán đảo Đông Dương, góp phần củng cố sức mạnh đoàn kết chiến đấu giữa Quân đội ta với Quân đội nhân dân Lào, Cam-pu-chia. Cùng với đó, đối ngoại quốc phòng cũng trở thành kênh quan trọng để tiếp nhận sự ủng hộ, giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc và một số nước bạn bè, anh em trên thế giới, từ trang bị vũ khí, khí tài, hậu cần, quân y đến cử cán bộ sang các nước học tập kinh nghiệm chiến đấu, nâng cao trình độ lý luận chính trị quân sự và phương pháp tác chiến, đóng góp quan trọng vào việc xây dựng và phát triển Quân đội ta, kịp thời đáp ứng những đòi hỏi cấp thiết của kháng chiến. Thời kỳ này, Quân đội ta tổ chức giới thiệu kinh nghiệm xây dựng lực lượng, kinh nghiệm đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang và nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân với quân đội nhiều nước trên thế giới, qua đó mở rộng quan hệ về quân sự, quốc phòng và làm tăng uy tín, vị thế của Quân đội nhân dân Việt Nam với bạn bè quốc tế. Thông qua đối ngoại quốc phòng, chúng ta không những tranh thủ và phát huy hiệu quả sức mạnh đoàn kết quốc tế, mà còn góp phần tích cực củng cố, tăng cường đoàn kết trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, góp phần thực hiện thắng lợi chủ trương đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo sức mạnh tổng hợp đánh thắng quân xâm lược, hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là sau năm 1986, dưới ánh sáng đổi mới của Đại hội VI của Đảng, với đường lối đối ngoại “rộng mở”, chúng ta mở rộng quan hệ hợp tác quốc phòng với nhiều nước. Đối ngoại quốc phòng thời kỳ này tiếp tục là kênh ngoại giao quan trọng, có nhiều đổi mới, góp phần cùng với ngoại giao nhà nước phá thế bao vây cấm vận, thúc đẩy tiến trình bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và Mỹ, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng đất nước, tăng cường tiềm lực quốc phòng.

Trong giai đoạn hội nhập quốc tế, quán triệt và triển khai đường lối đối ngoại của Đảng qua các kỳ Đại hội, thực thi Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI, ngày 25-10-2013, “Về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”; Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 10-4-2013, của Bộ Chính trị, “Về hội nhập quốc tế” và Nghị quyết số 806-NQ/QUTW, ngày 31-12-2013, của Quân ủy Trung ương, “Về hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo”, công tác đối ngoại quốc phòng tiếp tục triển khai “tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả”, đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Hợp tác quốc tế và đối ngoại quốc phòng tiếp tục mở rộng và phát triển cả về bề rộng lẫn chiều sâu, trở thành một nội dung quan trọng trong đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nhằm phát huy sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, tạo sức mạnh tổng hợp - nền tảng vững chắc để thực hiện kế sách bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Những kết quả, thành công quan trọng của đối ngoại quốc phòng đã đóng góp thiết thực vào sự nghiệp bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; nâng cao uy tín và vị thế của đất nước nói chung, của Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng trên trường quốc tế; góp phần vào việc giải quyết các vấn đề biên giới, lãnh thổ, xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị; kết hợp linh hoạt giữa hợp tác và đấu tranh, xử lý tốt mối quan hệ quốc phòng với các nước trong và ngoài khu vực, đặc biệt là các nước lớn, tạo thế đan xen lợi ích, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, ngăn ngừa nguy cơ xung đột và chiến tranh, phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước; góp phần củng cố và tăng cường tiềm lực quốc phòng, xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ và hiện đại; nâng cao hiệu quả kết hợp đấu tranh chính trị, quân sự và ngoại giao trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Thực hiện quan điểm của Đảng “kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng”, đối ngoại quốc phòng chủ động mở rộng quan hệ song phương với các nước trên thế giới. Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ quốc phòng với hơn 100 quốc gia, bao gồm 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và các cường quốc trên thế giới. Hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam và các nước ngày càng đi vào chiều sâu với các nội dung, lĩnh vực hợp tác thiết thực, phù hợp với điều kiện, nhu cầu và lợi ích của ta và các nước đối tác, tập trung vào các lĩnh vực như trao đổi đoàn, các cơ chế tham vấn, đối thoại, đào tạo, hợp tác quân binh chủng, công nghiệp quốc phòng, quân y, cứu hộ - cứu nạn, tuần tra chung biên giới trên bộ, trên biển, giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới; chủ động tham gia và tổ chức đăng cai các hội thao quân sự quốc tế, như Army Games, Hội thao Quân sự ASEAN; đạt được hiệu quả cao trong hợp tác khắc phục hậu quả chiến tranh; xử lý ô nhiễm bom, mìn và chất độc da cam/đi-ô-xin, góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở nhiều địa bàn trọng điểm trên cả nước.

Về đối ngoại quốc phòng đa phương, Việt Nam tích cực tham gia có trách nhiệm và từng bước chủ động đóng góp xây dựng và hoạch định chính sách, đề xuất nhiều sáng kiến có giá trị tại các cơ chế hợp tác về quốc phòng, an ninh của khu vực và quốc tế như: Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN (ADMM), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng (ADMM+), Diễn đàn An ninh khu vực ASEAN (ARF), Đối thoại Shangri-La, Hội nghị An ninh quốc tế Mát-xcơ-va, Diễn đàn Hương Sơn - Bắc Kinh, Đối thoại Quốc phòng Xơ-un,...


Đặc biệt, thành công của năm Chủ tịch ASEAN 2020 trên kênh quốc phòng, quân sự là một dấu son của đối ngoại quốc phòng. Bằng những nỗ lực vượt bậc, những biện pháp linh hoạt, sáng tạo, khắc phục những khó khăn, trở ngại do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, chúng ta đã hoàn thành thắng lợi tất cả các nội dung, hoạt động quốc phòng, quân sự, bảo đảm hiệu quả, thực chất về nội dung, trọng thị, chu đáo về lễ tân, tuyệt đối an toàn về an ninh, y tế, an ninh mạng. Kết quả tốt đẹp của các hội nghị quân sự, quốc phòng năm Việt Nam đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN, nổi bật là Hội nghị ADMM-14, ADMM+ lần thứ 7 và Lễ kỷ niệm 10 năm thành lập ADMM+, một lần nữa khẳng định vai trò, vị thế và uy tín của Việt Nam nói chung, của Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng trong khu vực và trên trường quốc tế.

Trong khuôn khổ Liên hợp quốc, từ năm 2014 đến nay, Việt Nam đã cử hơn 250 lượt cán bộ, nhân viên với ba lượt bệnh viện dã chiến đến phái bộ Gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại Nam Xu-đăng, Cộng hòa Trung Phi và trụ sở Liên hợp quốc; đang hoàn tất các công tác chuẩn bị để triển khai Đội Công binh tới Phái bộ UNISFA tại Xu-đăng. Qua đó, khẳng định trách nhiệm của Việt Nam trong việc thực hiện các nghĩa vụ của quốc gia thành viên Liên hợp quốc, tích cực đóng góp vào nền hòa bình thế giới.

Những thành tựu của đối ngoại quốc phòng thời gian qua bắt nguồn từ sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý, điều hành thống nhất của Nhà nước, trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng; sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa các bộ, ban, ngành, địa phương, các kênh đối ngoại và ý chí quyết tâm, nỗ lực vượt bậc của đội ngũ cán bộ, nhân viên thực hiện nhiệm vụ đối ngoại quốc phòng với tinh thần “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua”. Những thành tựu đó tiếp tục khẳng định và làm sâu sắc thêm bài học về nêu cao tinh thần độc lập tự chủ, luôn đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết; vận dụng sáng tạo, linh hoạt và hiệu quả quan điểm đoàn kết quốc tế của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng, tư tưởng, phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh và truyền thống ngoại giao Việt Nam vào điều kiện mới của đất nước.

Một số nhiệm vụ, giải pháp nâng tầm đối ngoại quốc phòng, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới

Trong thời gian tới, môi trường chính trị, an ninh thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều rủi ro, bất ổn; sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đứng trước nhiều vận hội mới nhưng cũng gặp không ít khó khăn, thử thách, đặt ra những yêu cầu mới, ngày càng cao đối với đối ngoại quốc phòng. Cạnh tranh chiến lược, tập hợp lực lượng giữa các nước lớn tiếp tục diễn ra gay gắt. Trong khu vực, trên thế giới, nổi lên mâu thuẫn, cạnh tranh, đối đầu quyết liệt, thậm chí xảy ra xung đột, chiến tranh giữa các quốc gia, các tập hợp lực lượng mới. Bên cạnh đó, cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ vẫn còn nhiều khó khăn và thách thức; các thế lực thù địch chưa từ bỏ âm mưu “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam; các vấn đề an ninh phi truyền thống, như thảm họa thiên tai, an ninh môi trường, an ninh nguồn nước, an ninh mạng, tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố,... ngày càng tác động sâu sắc đến nước ta trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có quốc phòng, đòi hỏi phải tăng cường hợp tác quốc tế mới có thể giải quyết.

Tình hình trên tác động trực tiếp đến nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi công tác đối ngoại quốc phòng phải tiếp tục vận dụng và phát huy thành quả đã đạt được; đồng thời, nâng tầm tư duy, hành động, đổi mới cả về nội dung lẫn hình thức, tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”(1), đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Để hoàn thành tốt các mục tiêu trên, đối ngoại quốc phòng cần tập trung thực hiện đồng bộ một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau đây:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý thống nhất của Nhà nước và điều hành của Chính phủ, trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đối với công tác đối ngoại quốc phòng trong tình hình mới. Triển khai hiệu quả đường lối đối ngoại được xác định tại Văn kiện Đại hội XIII của Đảng; Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI, ngày 25-10-2013, “Về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”; Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 10-4-2013, của Bộ Chính trị khóa XI, “Về hội nhập quốc tế”; Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI và Nghị quyết số 806-NQ/QUTW, ngày 31-12-2013, của Quân ủy Trung ương, “Về hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo”. Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực; kiên trì chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ theo phương châm “thêm bạn, bớt thù”; kết hợp chặt chẽ giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh; gắn đối ngoại quốc phòng với chiến lược tổng thể của đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân; giữa đấu tranh ngoại giao với đấu tranh trên thực địa của các lực lượng nhằm đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia của Việt Nam; tăng cường củng cố thế trận quốc phòng Việt Nam trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc.

Hai là, tiếp tục đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân về vị trí, vai trò và nhiệm vụ của đối ngoại quốc phòng trong tổng thể công tác đối ngoại của Đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân, phục vụ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Xác định đối ngoại quốc phòng là một trong những trụ cột để thúc đẩy quan hệ chính trị, xây dựng lòng tin với các nước, đồng thời là diễn đàn trực tiếp để hợp tác và đấu tranh nhằm giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; nâng cao uy tín, vị thế đất nước, quân đội trong khu vực và trên trường quốc tế, đóng góp tích cực vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trong khu vực và trên toàn thế giới; tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài để tăng cường tiềm lực quốc phòng, phục vụ đắc lực cho nhiệm vụ xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

Ba là, nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu dự báo và tham mưu chiến lược về đối ngoại quốc phòng. Tăng cường nắm bắt, nghiên cứu, dự báo tình hình và tham mưu chiến lược, nhất là các xu thế, động thái mới ở khu vực và thế giới, cạnh tranh chiến lược, tập hợp lực lượng, can dự của các nước lớn, tình hình Biển Đông; biên giới lãnh thổ; chú trọng đánh giá, phân tích những thuận lợi, khó khăn, tác động trực tiếp đến an ninh - quốc phòng của đất nước và nhiệm vụ đối ngoại quốc phòng, làm cơ sở tham mưu giúp Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng xây dựng, hoạch định chiến lược, chính sách đối ngoại quốc phòng và các biện pháp xử lý kịp thời, đúng đắn mối quan hệ với các nước, các tổ chức quốc tế, phù hợp với bối cảnh quốc tế, khu vực và với quá trình hội nhập quốc tế của nước ta, đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Thường xuyên phối hợp chặt chẽ, hiệu quả với các bộ, ban, ngành, địa phương và lực lượng có liên quan trong nghiên cứu dự báo và tham mưu chiến lược về đối ngoại quốc phòng, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp trong phân tích, đánh giá tình hình, đưa công tác này đi vào chiều sâu, hiệu quả.

Bốn là, nâng cao hiệu quả đối ngoại quốc phòng song phương, đưa quan hệ hợp tác với các nước đi vào chiều sâu, thực chất. Thúc đẩy quan hệ hợp tác quốc phòng song phương, củng cố tin cậy chính trị với các nước láng giềng, các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, các nước ASEAN và các nước bạn bè truyền thống, trên nguyên tắc bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc, bình đẳng, cùng có lợi, tuân thủ luật pháp quốc tế. Trong quá trình triển khai, cần kiên định với những vấn đề mang tính nguyên tắc, nhưng khôn khéo, mềm dẻo, linh hoạt trong ứng xử, thực hiện “dĩ bất biến ứng vạn biến”; xác định rõ “đối tác, đối tượng” để vừa hợp tác, vừa đấu tranh, gia tăng hợp tác, tránh xung đột, đối đầu, tránh bị cô lập, lệ thuộc hoặc rơi vào thế phải “chọn bên”. Tăng cường các biện pháp xây dựng lòng tin chiến lược, hiểu biết lẫn nhau, “thêm bạn, bớt thù”; kiên trì giải quyết các bất đồng và xung đột bằng các biện pháp hòa bình, trên tinh thần tôn trọng luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc. Đa dạng hóa các hình thức, nội dung đối ngoại quốc phòng; triển khai hiệu quả các nội dung hợp tác đã ký kết, tập trung thúc đẩy các cơ chế tham vấn, đối thoại, hợp tác quân binh chủng, đào tạo, công nghiệp quốc phòng, quân y, cứu hộ - cứu nạn, giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới, khắc phục hậu quả chiến tranh và gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc..., phù hợp với thế mạnh của từng đối tác và nhu cầu của Việt Nam.

Năm là, thực hiện tích cực, có hiệu quả Chỉ thị số 25-CT/TW của Ban Bí thư “Về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương trong tình hình mới”. Tích cực, chủ động đóng góp xây dựng và hoạch định chính sách, đề xuất các sáng kiến và tham gia trách nhiệm, hiệu quả vào các cơ chế, diễn đàn an ninh khu vực và quốc tế, nhất là cơ chế hợp tác quốc phòng trong khuôn khổ Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), do ASEAN giữ vai trò chủ đạo, góp phần xây dựng Cộng đồng Chính trị - An ninh ASEAN, đóng góp tích cực vào duy trì hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực và thế giới. Tiếp tục đẩy mạnh tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc theo Nghị quyết số 130/2020/QH14, ngày 13-11-2020, của Quốc hội, “Về tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc” theo hướng mở rộng lĩnh vực, địa bàn và quy mô.a

Sáu là, tích cực, chủ động nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại. Kết hợp đồng bộ nhiều lực lượng, biện pháp, kịp thời thông tin cho cán bộ, chiến sĩ, nhân dân, đồng bào Việt Nam ở nước ngoài và cộng đồng quốc tế hiểu rõ về chủ trương, đường lối đối ngoại, chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ của Đảng, Nhà nước ta, những thành tựu phát triển của đất nước, Quân đội nhân dân Việt Nam; làm cho thế giới biết đến Việt Nam không chỉ là một đất nước yêu chuộng hòa bình, đang phát triển mạnh mẽ, mà còn là một quốc gia đã và đang tham gia có trách nhiệm trong giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực, vì hòa bình, phát triển và thịnh vượng của nhân dân thế giới. Qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả đối ngoại quốc phòng; tạo sự đồng thuận, ủng hộ đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Đảng, Nhà nước và Quân đội trong tình hình mới, chống lại các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, lợi dụng vấn đề hội nhập quốc tế, đối ngoại quốc phòng để chia rẽ Đảng, Quân đội với nhân dân ta.

Bảy là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến đối ngoại quốc phòng, bảo đảm phù hợp luật pháp, thông lệ quốc tế và đồng bộ, thống nhất với văn bản pháp luật đối ngoại quốc gia, phù hợp với đặc điểm hoạt động đối ngoại quốc phòng, đáp ứng cả yêu cầu trước mắt và lâu dài. Trước mắt, xây dựng và trình Chính phủ ban hành Chiến lược hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo, làm cơ sở để triển khai các nhiệm vụ đối ngoại quốc phòng, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tăng cường công tác phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị làm công tác đối ngoại quốc phòng trong toàn quân, đồng thời tăng cường phối hợp với các bộ, ban, ngành, địa phương có liên quan trong triển khai thực hiện hiệu quả nhiệm vụ đối ngoại quốc phòng.

Tám là, kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng. Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan đối ngoại theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại quốc phòng có bản lĩnh chính trị vững vàng, ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm, phẩm chất, đạo đức, lối sống lành mạnh, trong sạch, có kiến thức toàn diện, thành thạo nghiệp vụ chuyên môn, ngoại ngữ, đáp ứng yêu cầu mở rộng và nâng tầm công tác đối ngoại quốc phòng trong tình hình mới./.

Xây dựng Hà Nội trở thành thành phố sáng tạo, trung tâm dịch vụ chất lượng cao của khu vực và thế giới

 Năm 2019, Hà Nội vinh dự trở thành thành viên Mạng lưới các thành phố sáng tạo của UNESCO. Đây là sự bổ sung quý giá cho vị thế của Hà Nội với các danh hiệu “Thành phố vì hòa bình”, “Thủ đô của lương tri và phẩm giá con người”, “Thủ đô Anh hùng”, là cơ hội để Hà Nội phát huy mạnh mẽ các nguồn lực, tiềm năng, lợi thế, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, vượt qua khó khăn, thách thức, hiện thực hóa tầm nhìn chiến lược, sớm trở thành đô thị sáng tạo, trung tâm dịch vụ chất lượng cao của khu vực và thế giới.

Khơi thông mạch nguồn sáng tạo từ lịch sử nghìn năm

Năm Canh Tuất 1010, Đức vua Lý Thái Tổ ban “Chiếu dời đô”, quyết định dời kinh đô Đại Việt từ Hoa Lư về định đô tại đất “Rồng bay”. Từ đó đến nay đã qua hơn 10 thế kỷ, Thăng Long - Hà Nội luôn xứng đáng là vùng đất địa linh nhân kiệt, là nơi hội tụ, kết tinh và tỏa sáng của nền văn hóa dân tộc, nơi hội tụ những lợi thế sáng tạo của đất nước. Theo các nhà nghiên cứu văn hóa, lịch sử, Thăng Long chính là một đô thị sáng tạo trong lịch sử, có sức sống mạnh mẽ, lâu bền. Mạch nguồn ấy đã tiếp nối, trải qua các triều đại để đến ngày nay, người Hà Nội tiếp tục khơi nguồn, phát huy tinh thần Thăng Long, trong công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chúc tết cán bộ, nhân viên Khu Di sản Hoàng thành Thăng Long - di sản văn hóa thế giới tại Thủ đô Hà Nội nghìn năm văn hiến, ngày 4-2-2022 _Nguồn: toquoc.vn

Thực hiện Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 theo Quyết định số 1755/QĐ-TTg, ngày 8-9-2016, của Thủ tướng Chính phủ, trong đó xác định Hà Nội trở thành trung tâm sáng tạo của cả nước, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã xây dựng Hồ sơ “Hà Nội - Thành phố sáng tạo”. Tháng 7-2019, thành phố Hà Nội đã nộp hồ sơ ứng cử vào Mạng lưới các thành phố sáng tạo của UNESCO, với nhiệm vụ trọng tâm là đặt sáng tạo vào trung tâm phát triển bền vững, với tầm nhìn đưa Hà Nội trở thành thủ đô sáng tạo của khu vực Đông Nam Á. Tháng 10-2019, UNESCO công nhận Hà Nội cùng 65 thành phố khác trên thế giới chính thức gia nhập Mạng lưới các thành phố sáng tạo của UNESCO(1).

Tham gia Mạng lưới các thành phố sáng tạo của UNESCO là sự kiện có ý nghĩa đặc biệt, tạo điều kiện thuận lợi để Hà Nội quảng bá hình ảnh cũng như gia tăng cơ hội hợp tác trên mọi lĩnh vực sáng tạo, phát huy sức mạnh tổng hợp của các nguồn lực kinh tế, chính trị, trong đó trọng tâm là nguồn lực văn hóa và giáo dục vì mục tiêu phát triển Thủ đô bền vững.

Phát huy mạnh mẽ nguồn lực văn hóa, đẩy mạnh phát triển kinh tế gắn với thúc đẩy đổi mới, sáng tạo

Hà Nội - “Thành phố trong sông” - được bao bọc bởi 20 con sông. Qua nhiều lần điều chỉnh địa giới, hiện nay Hà Nội có khoảng 8 triệu dân với tổng diện tích hơn 3.300km2. Thực hiện quy hoạch chung xây dựng Thủ đô đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050, Thủ đô Hà Nội đã và đang phát triển theo mô hình “chùm” đô thị. Thành phố đang tiến hành đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế dựa trên ứng dụng khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh thu hút các nhà đầu tư. Hà Nội ngày càng trở thành điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư trong, ngoài nước và trở thành một trong năm thành phố năng động nhất châu Á.

Bình quân giai đoạn 2016 - 2020, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) Thủ đô tăng 6,67%/năm. Trong 2 năm 2018 - 2019, Hà Nội dẫn đầu cả nước về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Số doanh nghiệp mới thành lập tăng cao cả về số lượng và vốn đăng ký. Mặc dù chịu tác động nặng nề của đại dịch COVID-19, nhưng kinh tế Hà Nội năm 2021 vẫn duy trì tăng trưởng; GRDP của thành phố ước đạt khoảng 2,92%; cân đối thu - chi ngân sách được bảo đảm. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố vượt 12,3% so với dự toán Trung ương giao, vượt 5,3% dự toán Hội đồng nhân dân thành phố giao, bảo đảm nhu cầu chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên, các nhiệm vụ chi theo dự toán, nhất là các nhiệm vụ chi phòng, chống dịch bệnh COVID-19, an sinh xã hội... Những năm gần đây, Hà Nội từng bước phát triển các ngành công nghiệp văn hóa và cùng với Thành phố Hồ Chí Minh - đi tiên phong cả nước trong hướng đi mới này.

Là nơi gặp gỡ Đông - Tây, Hà Nội là thành phố của sự đa dạng. Với hệ thống di sản dày đặc (5.922 di tích, trong đó có 1 di sản văn hóa thế giới (Hoàng thành Thăng Long); 3 di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho văn hóa nhân loại; 1 di sản tư liệu thế giới; 19 di tích quốc gia đặc biệt và trên một nghìn di tích cấp quốc gia), kết cấu hạ tầng văn hóa phong phú, mạng lưới 1.350 làng nghề thủ công trải khắp các phố phường, làng quê cùng 70 không gian sáng tạo đa sắc thái, Hà Nội đã và đang trở thành nơi nuôi dưỡng, hội tụ và thúc đẩy sự sáng tạo. Thiết kế sáng tạo có mặt ở mọi ngõ phố, từ hạ tầng đô thị với kiến trúc “nhiều lớp lịch sử” đến hạ tầng văn hóa đa dạng, phong phú, góp phần tạo nên sự gắn kết hài hòa trong đời sống giữa tự nhiên với con người. Thiết kế sáng tạo cũng là nhân tố quan trọng tạo nên bản sắc riêng có để Hà Nội lưu giữ truyền thống, định hình hiện tại và hướng tới tương lai.

Hà Nội là một thành phố có cơ cấu dân số vàng (51,7% dân số trẻ) và có gần 1.300 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thiết kế sáng tạo. Thành phố cũng là nơi tập trung nhân tài, với 65% số trí thức và nhà khoa học trong cả nước; trên 80% số trung tâm nghiên cứu, học viện, trường đại học, cao đẳng. Hà Nội được bạn bè quốc tế biết đến là một thành phố thanh lịch, văn minh, hiện đại và giàu sáng tạo, một thành viên tích cực trong các hoạt động hợp tác quốc tế. Người Hà Nội luôn được biết đến là những cá nhân linh hoạt, cởi mở và sẵn sàng đón nhận ý tưởng mới. Đây chính là những thế mạnh, nguồn lực quan trọng của Hà Nội trong kết nối quốc tế, phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, công nghiệp sáng tạo.

Trong những năm qua, Thành phố đã tích cực thúc đẩy các hoạt động hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực sáng tạo, đặc biệt với các thành viên của Mạng lưới các thành phố sáng tạo của UNESCO, bao gồm Béc-lin, Xơ-un, Cô-bê, Xin-ga-po... Bên cạnh duy trì bản sắc truyền thống, Hà Nội đang trở thành “vườn ươm” cho sáng tạo trên khắp đất nước và đặc biệt thu hút giới trẻ. Có thể nói, Hà Nội luôn nhận biết được giá trị truyền thống và giá trị hiện đại để tạo hình ảnh và diện mạo mới cho chính mình.

Sau hơn 2 năm tham gia Mạng lưới các thành phố sáng tạo của UNESCO, Hà Nội từng bước triển khai các giải pháp, đổi mới: Thành ủy Hà Nội xem xét, thông qua Nghị quyết về “Phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, trong đó đề ra 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, 42 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể. Mặc dù tác động của đại dịch COVID-19 làm ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội, Hà Nội vẫn tích cực thực hiện cam kết qua nhiều hoạt động phong phú nhằm gắn kết cộng đồng, từng bước xây dựng hình ảnh Hà Nội - Thành phố sáng tạo. Để phát huy, khai thác hiệu quả tiềm năng, thế mạnh trong lĩnh vực thiết kế sáng tạo, Hà Nội đẩy mạnh triển khai xây dựng nhiều công trình, dự án đổi mới, sáng tạo, góp phần hình thành kết cấu hạ tầng hiện đại, phát triển các không gian sáng tạo. Hà Nội đang dẫn đầu cả nước về số lượng không gian sáng tạo, tiêu biểu, như không gian đi bộ hồ Hoàn Kiếm, phố đi bộ Trịnh Công Sơn; không gian bích họa Phùng Hưng, hợp tác xã Vụn Art (tranh ghép vải), dự án Tinh hoa làng nghề Việt Nam, không gian kiến trúc văn hóa Bảo tàng Hà Nội... Trong thời gian qua, do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, hàng loạt các tổ chức, cá nhân đã thực hiện số hóa dữ liệu, chương trình, các hoạt động văn hóa thông qua internet thu hút được nhiều sự quan tâm, tương tác của công chúng. Hà Nội đang tích cực khai thác, chuyển hóa các nguồn lực văn hóa thành sức mạnh, động lực phát triển Thủ đô.

Trình diễn thời trang áo dài với chủ đề: “Sắc thu Hà Nội” tại phố bích họa Phùng Hưng _Ảnh: TTXVN

Có thể thấy, Hà Nội đã và đang thể hiện rõ quan điểm, chiến lược và định hướng phát triển. Chiến lược này phản ánh tầm nhìn hướng tới quảng bá bản sắc của Thủ đô. Đây chính là một trong những đòn bẩy lớn và quan trọng giúp Hà Nội thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển bền vững Thủ đô, là động lực để Hà Nội tạo nên những thay đổi chiến lược trong những năm tiếp theo, và hiện thực hóa mục tiêu phát triển Thủ đô Hà Nội mà Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ XVII đã đề ra đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 - Hà Nội trở thành thành phố kết nối toàn cầu, đồng thời đóng góp tích cực vào chiến lược văn hóa đối ngoại quốc gia trong thời kỳ toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng.

Sáng tạo - nhân tố trung tâm phát triển, hiện thực hóa tầm nhìn chiến lược, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân

Trọng tâm của Hà Nội là đặt sáng tạo, đặc biệt từ góc độ thiết kế vào trung tâm của sự phát triển bền vững thành phố, với tầm nhìn xa rộng để trở thành Thủ đô sáng tạo của Đông Nam Á. Với vị thế là Thủ đô, Hà Nội có lợi thế tiếp cận với nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có năng lực hoạch định chính sách và xây dựng mạng lưới hợp tác phong phú, đa dạng; do đó, Hà Nội chủ trương phát huy tối đa hiệu quả quan hệ hữu nghị, hợp tác với hơn 100 thành phố, thủ đô của gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, nhất là các thành viên của Mạng lưới các thành phố sáng tạo của UNESCO.

Để xây dựng thành công và giữ vững thương hiệu Thành phố sáng tạo, Hà Nội triển khai thực hiện kế hoạch hành động cụ thể mang tính chiến lược, trong đó Hà Nội đã và đang tích cực đẩy mạnh, triển khai xây dựng Trung tâm Thiết kế sáng tạo, Thành phố thông minh, các dự án chuyển đổi số... Một trong những dự án quan trọng sắp được Hà Nội triển khai là hình thành Trung tâm Thiết kế sáng tạo với mục tiêu ươm mầm tài năng, trong các lĩnh vực liên quan đến thiết kế sáng tạo tại Hà Nội. Tại đây, các dự án sáng tạo tiềm năng, các dự án cộng đồng sẽ được hỗ trợ tối đa để phát triển. Đặc biệt, thời gian tới, Hà Nội sẽ quan tâm, chú trọng khuyến khích ưu tiên trẻ em, phụ nữ và các nhóm yếu thế tham gia vào lĩnh vực thiết kế sáng tạo. Cùng với đó, Hà Nội triển khai xây dựng thí điểm một số mô hình có tiềm năng, thế mạnh, như mô hình Trung tâm sáng tạo trẻ, thúc đẩy hợp tác công tư tại khu vực Bắc An Khánh, huyện Hoài Đức; hình thành Trung tâm Thiết kế sáng tạo và giới thiệu sản phẩm làng nghề thủ công khu vực phía Nam Hà Nội tại huyện Phú Xuyên...

Hà Nội tập trung nghiên cứu quy hoạch không gian văn hóa, kết nối giữa các địa phương để đưa vào quy hoạch chung; nghiên cứu mô hình chuyển đổi, cải tạo các di sản văn hóa trở thành các không gian văn hóa. Thành phố sẽ tiếp tục phát huy các không gian văn hóa mới như việc hình thành hệ thống các không gian đi bộ mới: Khu đô thị Nam đường vành đai 3 - Bitexco; không gian đi bộ xung quanh hồ Thiền Quang - Công viên Thống Nhất; không gian đi bộ xung quanh Văn Miếu - Quốc Tử Giám; không gian đi bộ Khu đô thị Bắc An Khánh - Splendora, không gian đi bộ khu vực Thành cổ Sơn Tây,... với các hoạt động văn hóa - nghệ thuật đặc sắc phát huy giá trị các di sản văn hóa của địa phương để tạo lập hoạt động thiết kế sáng tạo trong văn hóa, nghề thủ công phục vụ du lịch, thương mại và phát triển kinh tế địa phương.

Thời gian tới, thành phố Hà Nội chú trọng hình thành và phát triển mạnh mẽ hệ thống Mạng lưới các nhà thiết kế sáng tạo trẻ - nguồn nhân lực dồi dào, tiềm năng và sẵn có của Hà Nội. Để phát huy sức sáng tạo của giới trẻ, Hà Nội đã và đang triển khai nhiều đề án quan trọng, tập trung vào thanh niên, sinh viên và giới trẻ, cụ thể như xây dựng chương trình ươm tạo và tăng tốc khởi nghiệp sáng tạo tại các trường đại học, học viện, cao đẳng; xây dựng nền tảng kỹ năng làm việc và khởi nghiệp cho học sinh, sinh viên (4SV) và câu lạc bộ chuyển đổi số trong các trường đại học, học viện, cao đẳng trên địa bàn thành phố; hình thành không gian hỗ trợ thanh niên Thủ đô khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; tổ chức các sự kiện, cuộc thi quy mô thành phố thu hút sự tham gia của quốc tế về khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cho doanh nhân, thanh niên, sinh viên và học sinh... Đây là một trong những bước đột phá mới quan trọng của Hà Nội nhằm xây dựng và phát triển “Thành phố sáng tạo”.

Không gian làm việc chung tại không gian sáng tạo Creative lab by up, số 1, Lương Yên, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội _Nguồn: hanoimoi.com.vn

Đồng thời, Hà Nội tiếp tục là thành viên tích cực tham dự có trách nhiệm tại các hội nghị, diễn đàn mạng lưới trong khu vực Đông Nam Á, châu Á và toàn cầu theo các chương trình của UNESCO. Xây dựng báo cáo giám sát tư cách thành viên theo yêu cầu của UNESCO theo nhiệm kỳ.

Bên cạnh đó, để xây dựng Thủ đô trở thành trung tâm dịch vụ chất lượng cao của khu vực và thế giới, Hà Nội sẽ chú trọng phát triển dịch vụ chất lượng cao và tiếp tục cơ cấu lại thương mại, dịch vụ. Theo đó, đẩy nhanh tốc độ phát triển ngành dịch vụ, góp phần nâng dần tỷ trọng đóng góp của dịch vụ trong GRDP lên khoảng 65% - 65,5% vào năm 2025 với tốc độ tăng bình quân 8% - 8,5%/năm. Phát triển các loại hình dịch vụ có giá trị gia tăng cao, nhất là các dịch vụ đô thị, dịch vụ trình độ cao, như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ tư vấn, y tế chất lượng cao,... để tạo cầu cho các loại hình thị trường khác phát triển. Phát triển thương mại điện tử, đa dạng hóa các hình thức thanh toán trên nền tảng số, tạo tiền đề cho phát triển kinh tế số, như sử dụng các dịch vụ internet-banking, mobile-banking, ví điện tử, tiện ích thẻ,... đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng, nhất là việc tận dụng hơn 11 nghìn website/ứng dụng thương mại điện tử trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Hình thành mới các loại hình thương mại trên địa bàn (trung tâm mua sắm Outlet; chuỗi cửa hàng tiện lợi giao dịch tự động không người bán; hệ thống máy bán hàng tự động,...) song hành với việc phát triển các loại hình thương mại truyền thống, hệ thống siêu thị, chợ dân sinh. Xây dựng và nâng cao năng lực mạng lưới dịch vụ vận chuyển, tập trung triển khai đẩy nhanh một số dự án phát triển hạ tầng logistics quan trọng để tạo điều kiện phát triển thương mại và tăng nguồn thu cho ngân sách. Đổi mới phương thức, thay đổi thói quen, hành vi thương mại theo hướng văn minh, hiện đại. Tập trung thu hút các tập đoàn quy mô lớn, đa quốc gia với công nghệ tiên tiến, quản trị hiện đại, kết nối chuỗi cung ứng toàn cầu, bảo đảm yêu cầu về môi trường; phấn đấu đến năm 2025 xây dựng thành phố Hà Nội thành trung tâm thương mại lớn về giao thương và kinh tế của cả nước, khu vực Đông Nam Á.

Tiếp tục nâng cao năng lực, chất lượng hội nhập quốc tế; chủ động nắm bắt những cơ hội, nhất là của các Hiệp định CPTPP, EVFTA, EVIPA,... phục vụ phát triển Thủ đô. Củng cố quan hệ đã thiết lập, tích cực mở rộng hợp tác với các thủ đô, thành phố tiềm năng; chú trọng các hoạt động hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ, xúc tiến đầu tư, thương mại, quảng bá du lịch, nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ, thu hút đầu tư nước ngoài và tài trợ quốc tế.

Giữ vững và phát triển thương hiệu “Thành phố sáng tạo”, góp phần phát triển bền vững Thủ đô

Để giữ vững và phát triển thương hiệu “Thành phố sáng tạo” trên lĩnh vực thiết kế, góp phần phát triển bền vững Thủ đô, Hà Nội tiếp tục thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, cụ thể như:

Thứ nhất, đẩy mạnh công tác truyền thông, tuyên truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp, các ngành, doanh nghiệp và người dân Thủ đô về phát triển thương hiệu “Thành phố sáng tạo”, nhận thức rõ vai trò, ý nghĩa của sáng tạo, phát triển không gian sáng tạo, các ngành công nghiệp văn hóa đối với sự phát triển Thủ đô trên nền tảng chuyển hóa các “nguồn lực văn hóa” thành nguồn lực nội sinh, “sức mạnh mềm” góp phần phát triển bền vững Thủ đô. Từ đó, đưa sáng tạo vào tất cả các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, các chương trình hành động cụ thể của các cấp, các ngành. Phát huy giáo dục truyền thống trong các nhà trường, góp phần nâng cao nhận thức cho thế hệ trẻ về thương hiệu “Thành phố sáng tạo” do UNESCO trao tặng cho Thủ đô Hà Nội và tạo cảm hứng, khơi dậy tình yêu Hà Nội, ý chí, khát vọng vươn lên để mỗi người dân Hà Nội phát huy hơn nữa tính sáng tạo của mình trong mọi lĩnh vực, để sự sáng tạo trở thành chất liệu, động lực phát triển Thủ đô trong những năm tới, góp phần nâng cao vị thế, hình ảnh của Thủ đô trong mắt bạn bè quốc tế.

Triển lãm “Hành tinh nhựa”, giới thiệu tới công chúng các tác phẩm nghệ thuật khổng lồ được làm từ vật liệu nhựa tại Trung tâm nghệ thuật đương đại Vincom, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội _Nguồn: toquoc.vn

Thứ hai, tiếp tục xây dựng, bổ sung và hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển các không gian sáng tạo nói riêng, công nghiệp sáng tạo nói chung nhằm cải thiện điều kiện kinh doanh sản phẩm, dịch vụ văn hóa, nâng cao hiệu quả việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ và các quyền liên quan, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh trên thị trường; có cơ chế, chính sách phù hợp, tạo môi trường thuận lợi cho các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân tham gia trong các lĩnh vực công nghiệp sáng tạo, công nghiệp văn hóa phát triển, đặc biệt là chính sách ưu đãi về thuế, vay vốn, thuê đất, xã hội hóa, đầu tư... Ngoài ra, phải bố trí vốn đầu tư công thỏa đáng để xây dựng hạ tầng các ngành văn hóa - nghệ thuật làm nền tảng cho công nghiệp sáng tạo có cơ hội phát triển. Về việc này, Hà Nội đã ra một nghị quyết riêng - Nghị quyết chuyên đề về “Phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”.

Thứ ba, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về di sản văn hóa. Tăng cường công tác giáo dục về di sản văn hóa và Luật Di sản văn hóa. Chú trọng tới đối tượng thanh, thiếu niên, triển khai có hiệu quả khẩu hiệu “Di sản nằm trong tay thế hệ trẻ” của UNESCO. Nghiên cứu và ứng dụng kết quả nghiên cứu về bảo tồn di sản, chú trọng các biện pháp bảo tồn di sản sống, bảo tồn gắn với cộng đồng dân cư địa phương và hài hòa với mục tiêu phát triển kinh tế. Đẩy mạnh các biện pháp huy động nguồn lực xã hội để tham gia bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa. Phát huy các giá trị di sản văn hóa làm nền tảng để tạo nguồn cảm hứng sáng tạo các lĩnh vực sáng tạo khác, như thiết kế hội họa, thời trang, các sản phẩm văn hóa... Đặc biệt, tăng cường giao lưu, hợp tác, trao đổi kinh nghiệm quản lý di sản với các nước trên thế giới.

Thứ tư, đẩy mạnh xây dựng và phát triển “Thành phố sáng tạo”, góp phần thúc đẩy xây dựng “Thành phố thông minh”, trong đó tăng tỷ lệ các dịch vụ công trực tuyến, tập trung phát triển khoa học - công nghệ, triển khai Chương trình nghiên cứu khoa học trọng điểm thành phố Hà Nội. Thực hiện có hiệu quả Quy hoạch hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động trên đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Hoàn thiện, triển khai đồng bộ các giải pháp ứng dụng chuyển đổi số và phát triển công nghệ thông tin; cập nhật, khai thác và chia sẻ các cơ sở dữ liệu cốt lõi. Triển khai thí điểm và mở rộng các ứng dụng công nghệ thông tin, hệ thống thông tin trong các lĩnh vực chuyên ngành và các ứng dụng thành phố thông minh.

Thứ năm, đẩy mạnh hợp tác và giao lưu trong nước và quốc tế toàn diện. Một mặt, tích cực hỗ trợ và thúc đẩy các thành phố khác của Việt Nam tham gia vào Mạng lưới các thành phố sáng tạo của UNESCO; mặt khác, tăng cường xây dựng các chương trình giao lưu, kết nối với các thành phố sáng tạo trong khu vực và quốc tế. Tích cực trao đổi, thúc đẩy thiết kế và đổi mới sáng tạo khu vực Đông Nam Á; chủ động tham gia tích cực và trách nhiệm trong các hoạt động của hệ thống Mạng lưới các thành phố sáng tạo của UNESCO.

Thăng Long - Hà Nội là nơi giao thoa giữa truyền thống và hiện đại, quá khứ và tương lai, giữa bề dày văn hiến và dòng chảy sáng tạo vô tận. Tiếp nối truyền thống văn hiến, anh hùng, hòa bình, hữu nghị; phát huy mạnh mẽ tiềm năng, nguồn lực sáng tạo được hun đúc từ hơn nghìn năm qua và khơi dậy ý chí, khát vọng vươn lên, Hà Nội từng bước hiện thực hóa tầm nhìn chiến lược, xứng đáng là Thủ đô, trái tim của cả nước, vai trò đầu tàu, vị trí trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế./.