Thứ Ba, 5 tháng 4, 2022

NHẬN DIỆN ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 Hiện nay, các thế lực thù địch tăng cường các thủ đoạn mới chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng. Do đó, nhận diện rõ thủ đoạn của chúng để đấu tranh, phản bác lại thông tin xuyên tạc, bịa đặt của các thế lực thù địch.

Hiện nay, chúng lợi dụng mạng xã hội  tiến hành các hoạt động chống phá, tiến công vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là hệ thống quan điểm, nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường, biện pháp tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa. Nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là kim chỉ nam định hướng cho mọi hành động của mình. 

Thế giới hiện nay vẫn đang diễn ra sự phát triển vô cùng nhanh chóng, đồng thời, đang chứng kiến của thời kỳ toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Những quá trình, những xu hướng đó tác động mạnh mẽ và ảnh hưởng vừa gián tiếp vừa trực tiếp đến nền tảng tư tưởng  và hoạt động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Các thế lực thù địch tăng cường xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng. thúc đẩy các phần tử cơ hội chính trị, chống đối ở trong nước tăng cường viết và phát tán các tài liệu sai trái phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên không gian mạng.

Các thế lực thù địch, phản động đang tận dụng không gian mạng để tuyên truyền những tư tưởng độc hại, nhằm phá vỡ niềm tin giữa Đảng với nhân dân; xuyên tạc, phủ nhận những thành quả cách mạng trong công cuộc đổi mới ở nước ta…

Nhân diện và đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch để phản bác, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện mới.

ĐẤU TRANH VỚI CÁC THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ QUÂN ĐỘI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 Hiện nay, các thế lực thù địch tăng cường các hoạt động chống phá ngày càng diễn biến phức tạp, chúng ta cần thấy đấu tranh nhận rõ thủ đoạn của các thế lực thù địch và bảo vệ Quân đội là hết sức cần thiết..

          Chúng triệt để lợi dụng không gian mạng để tán phát các tài liệu, bài viết, lồng ghép các hình ảnh tuyên truyền các thông tin có nội dung xuyên tạc, nói xấu nội bộ quân đội; nói sai về bản chất cách mạng, và hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” tác động vào nhận thức, tình cảm và tình cảm của nhân dân đối với Quân đội, hạ thấp vai trò của quân đội, làm cho nội bộ giảm sút ý trí và trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ, mục đích để “phi chính trị hóa” quân đội.  

    Chúng lợi dụng nhưng thông tin chưa chính xác hoạc thông tinh không chính thống để để tuyên truyền xuyên tạc chống phá Quân đội với Đảng. Đáng chú ý, nhưng thông tin về các vụ việc vi phạm pháp luật, kỷ luật của quân nhân, thông tin về vi phạm, khuyết điểm của một số cán bộ, chỉ huy quân đội trong việc sử dụng đất quốc phòng tại một số đơn vị; để tác động vào dư luận và tới tư tưởng cán bộ, chiến sĩ và dư luận nhân dân đối với quân đội, làm suy giảm uy tín của quân đội, trên cơ sở đó các thế lực thù địch, phản động lợi dụng để tuyên truyền chống phá.

 Trước tình hình mới, đòi hỏi chúng ta vừa đề cao cảnh giác với những thủ chống phá đoạn mới và tích cực đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tác của các thế lực thù địch đối với Quân đội, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch./.

NHẬN DIỆN NHỮNG THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ MỚI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 Hiện nay, nên các phương thức, thủ đoạn, biểu hiện chống phá của chúng có nhiều thay đổi, tinh vi, phức tạp hơn, các thủ đoạn tiến hành vào chống phá Đảng ta, chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân.

Chúng lợi dụng những vấn đề tồn tại trong công tác xây dựng Đảng, nhất và bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lợi dụng để xuyên tạc công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Chúng bịa đặt, nói xấu một số đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước…, gây re sự hoài nghi trong các tầng lớp nhân dân. Đây là những luận điệu hết sức thâm độc hòng gây mất lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

Đồng thời, chúng còn phủ nhận công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng còn công kích tình trạng tham nhũng của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Các thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn, để đánh lừa dư luận và làm sai lệch sự thật.

Mục đích cố tình xuyên tạc đường lối chủ trương của Đảng, làm giảm uy tín của Đảng với nhân dân, phá hoại công cuộc xây dựng và phát triển đất nước của chúng ta.

Như vậy, trước tình hình mới, đòi hỏi chúng ta vừa đề cao cảnh giác, tích cực đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tác của các thế lực thù địch, tăng cường tuyên truyền sâu rộng, kịp thời, chính xác các quan điểm, tư tưởng, lý luận của Đảng, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch./.

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC XUYÊN TẠC KẾT QUẢ PHÒNG CHỐNG DỊCH COVID Ở VIỆT NAM

 Kết quả phòng chống dịch covid là sự nỗ lực của Đảng và Nhà nược và nhân dân ta trong thời gian vừa qua là một chủ trương đúng, chính sách đúng để dồn toàn sức lực và cả kinh phí vào cho nhanh chóng đẩy lùi đại dịch. Xong các thế lực thù địch cố tình xuyên tạc phủ nhận những nỗ lực và thành quả của chúng ta . Do đó, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là vấn đề vừa có tính cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.

Để đấu tranh với quan điểm sai trái, của các thế lực thù địch chúng ta cần thực hiện tốt những vấn đề sau:

Tuyên truyền trên thông tin đại chúng để nhân dân nhận thấy chủ trương, quan điểm của Đảng, Nhà nước và sự nỗ lực tích cực của cả hệ thống chính trị trong phòng chống dịch. 

Tuyên truyền cho nhân dân nhận thức đúng vầ các biện pháp phòng chống địch để tham gia tiêm chủng đầy đủ. Đồng thời, thông tin kịp thời đến với nhân dân về đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước trong pòng chống dịch và để nhân dân nhận rõ những luận điểm xuyên tạc của các thế lực thù địch về phòng chống dịch của chúng ta.

Kịp thời ngăn chặn và xử lý nghiêm hành vi lợi dụng dịch bệnh để chuộc đầu cơ, chuộc lợi về thiết bị y tế. Đồng thời, tăng cường các nguồn lực chống dịch cho các địa phương ở vùng sâu, vùng xa, nhưng nơi đời sống nhân dân đi lai và kinh tế còn khó khăn.

Trước tình hình đó, mỗi chúng ta phải thường xuyên đề cao cảnh giác và tích cực đấu tranh với những luận điệu xuyên tác của các thế lực thù địch, cùng tham gia cùng cả nước sớm đẩy lùi đại dịch để ổn định xây dựng và phát triển đất nước.

ĐẤU TRANH BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIÊN GIỚI QUỐC GIA

 Trước tình hình thế giới, khu vực và trong nước có những diễn biến hết sức phức tạp, việc tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo thường xuyên diễn ra, tiềm ẩn nhiều nguy cơ xảy ra xung đột vũ trang, nếu không có biện pháp đấu tranh chống lại sự áp đặt của các nước lớn, giải quyết một cách khéo léo thì nguy cơ xảy ra cuộc chiến tranh lớn. Từ vấn đề đó, đặt ra cho chúng ta là phải tăng cường công tác quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia để gữi vững hòa bình ổn định để xây dựng và phát triển đất nước..

Trước tiên chúng ta cần kiên quyết và kiên trì đấu tranh với những hành động xâm lấn, tranh chấp trên tuyến biên giới. Đấu tranh bắng các biện pháp trực tiếp, đấu tranh bằng con đường ngoại. Đồng thời, giáo dục cho cán bộ chiến sỹ lực lượng biên phòng nâng cao tinh thần cảnh giác, giáo dục về đường lối chủ trương của Đảng về bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc, mọi biện pháp đấu tranh phải thực hiện theo đúng chỉ đạo, chỉ huy của cấp trên, tránh gây căng thẳng để kẻ địch lợi dụng kích động gây ra xung đột lớn, khó giải quyết. Khi bình thường,  phải tăng cường công tác đối ngoại biên phòng với Biên phòng và thường xuyên duy trì trao đổi, về công tác quản lý, bảo vệ biên giới, cửa khẩu của các nước tiếp giáp, để giải quyết kịp thời các vụ việc xảy ra trên biên giới. Tổ chức kết nghĩa đồn biên phòng, kết nghĩa nhân dân hai bên biên giới, tổ chức và duy trì “đường dây nóng”, để trao đổi thông tin, cùng giải quyết những vấn đề xảy ra.

Trước tình hình mới, chúng ta cần có cách nhìn mới, luôn có những gải pháp đấu tranh kiên quyết và hiệu quả kể cả trên thực tế và trên không gian mạng để kịp thời ngăn chặn làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, bảo vệ tốt chủ quyền biên giới quốc gia./.

 

Đồng chí Lê Văn Lương: Tấm gương trong sáng về sự tận tụy, trung thành, liêm chính, đặt lợi ích của Đảng, của Nhân dân lên trên hết, trước hết

Đồng chí Lê Văn Lương - người cộng sản kiên trung, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ lãnh đạo giàu kinh nghiệm, có nhiều công lao to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Trong gần 70 năm hoạt động cách mạng, đồng chí luôn nêu cao tấm gương trong sáng: Với quân thù - hiên ngang bất khuất; với công việc luôn tận tụy, trung thành, liêm chính, đặt lợi ích của Đảng, của Nhân dân lên trên hết; với đồng chí, khiêm nhường, chu đáo, thân tình; với bản thân là gương sáng về tự phê bình và phê bình, một nếp sống giản dị, khoan dung. Đồng chí được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiều trọng trách, trong đó, trên cương vị Trưởng Ban Tổ chức Trung ương (giai đoạn 1948-1954 và giai đoạn 1973-1976), Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương (từ 1957-1959), đồng chí đã có những cống hiến quan trọng trong công tác xây dựng Đảng ta, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo cách mạng trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc.


Đồng chí Lê Văn Lương tại lễ công bố Quyết định thành lập Nhà xuất bản Hà Nội, ngày 24-11-1979 (Ảnh tư liệu).

1. Những cống hiến với công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về công tác xây dựng Đảng

 Là một trong những lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của Đảng, trải qua những năm tháng đấu tranh kiên cường với kẻ thù trên khắp mặt trận, từ ngày đầu dựng Đảng đến thời kỳ đổi mới, dấu ấn của đồng chí Lê Văn Lương in đậm trên nhiều lĩnh vực. Với thực tiễn hoạt động cách mạng phong phú, đồng chí đã đúc rút và đóng góp nhiều kinh nghiệm quý báu về xây dựng Đảng. Trên cương vị làm Trưởng Ban Đảng vụ từ 1948-1950, đồng chí đã tham mưu giúp Trung ương Đảng soạn thảo Điều lệ Đảng mới, lập danh sách những người ứng cử vào Ban Chấp hành, Ban Bí thư, Bộ Chính trị… để góp phần vào công tác chuẩn bị và tổ chức thành công Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ II. Sớm nhận thức sự cần thiết phải xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, Đồng chí đặc biệt coi trọng công tác giáo dục tư tưởng với cán bộ, đảng viên. Sau thành công của Đại hội, ngày 21-6-1951, đồng chí Lê Văn Lương đã viết bài cho báo Nhân Dân với chủ đề “Học tập Nghị quyết Đại hội Đảng như thế nào” với mục tiêu chỉ rõ những mặt được và hạn chế trong việc học tập Nghị quyết Đại hội Đảng. Theo đồng chí, cần xác định rõ mục đích của việc học Nghị quyết, đó là: “làm cho mỗi đảng viên tăng gia tinh thần trách nhiệm, tăng gia ý thức phục vụ Đảng, phục vụ Nhân dân, nắm vững lập trường chính trị và các chính sách căn bản của Đảng, lấy đó làm kim chỉ nam cho mọi chủ trương, công tác và tư tưởng hằng ngày, chống các bệnh cá nhân chủ nghĩa, xa quần chúng, khuynh tả, khuynh hữu”[1]. Đồng chí nhấn mạnh, cán bộ khi triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội cần bám sát tình hình và chủ trương công tác tại từng ngành, từng địa phương, nghiên cứu kỹ các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương, các bài báo, các sách đã xuất bản có liên quan để hiểu cho sâu sắc, cụ thể hơn. Trong bài “Đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng”[2], đồng chí nêu rõ vai trò quan trọng của công tác tư tưởng trong công tác xây dựng Đảng. Đồng chí khẳng định bên cạnh những ưu điểm của cán bộ, đảng viên như không sợ hy sinh, gian khổ, khó khăn, hết lòng phụng sự Nhân dân, trong Đảng ta lúc bấy giờ còn một số đảng viên chưa hiểu rõ quan hệ giữa lợi ích cá nhân với lợi ích của Đảng, của Nhân dân, coi trọng lợi ích cá nhân hơn lợi ích của Đảng và của nhân dân: “công tác xây dựng Đảng ta hiện nay phải lấy việc xây dựng tư tưởng làm phương châm chủ yếu”[3]. Vì vậy theo đồng chí, cần tập trung trau dồi ý thức phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân, quan điểm giai cấp, quan điểm quần chúng và quan điểm tổ chức. Giáo dục lý luận phải kết hợp với cải tạo tư tưởng và lãnh đạo tư tưởng. Cải tạo và lãnh đạo tư tưởng cũng cần dựa vào giáo dục lý luận. Thực hiện tốt những công việc trên chính là góp phần nâng cao chất lượng của Đảng, làm cho Đảng thật xứng đáng đóng vai trò tiền phong trên con đường kháng chiến, kiến quốc.

Khi cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta giành được nhiều thắng lợi quan trọng về quân sự, chính trị, kinh tế, thì trong cán bộ, đảng viên xuất hiện tư tưởng chủ quan, không thấy đầy đủ tính chất lâu dài và gian khổ của cuộc kháng chiến, xuất hiện tình trạng quan liêu, mệnh lệnh, không quan tâm đến quyền lợi thiết thân của quần chúng,… Trước tình hình đó, đồng chí Lê Văn Lương đã tham mưu cho Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thực hiện công tác chỉnh đốn các cơ quan cấp tỉnh, huyện, góp phần nhanh chóng ổn định hệ thống tổ chức đảng và củng cố lòng tin của quần chúng nhân dân với Đảng, xây dựng hậu phương vững chắc. Trên cơ sở nghiên cứu sâu sát tình hình cơ sở, đến các địa phương nắm bắt tình hình, kiên quyết uốn nắn các sai lầm, khuyết điểm, tại Hội nghị Trung ương lần thứ ba khóa II, đồng chí Lê Văn Lương đã có báo cáo cụ thể về “Vấn đề chỉnh Đảng”, trong đó nêu cụ thể lý do, nội dung và phương pháp chỉnh Đảng phù hợp với yêu cầu tình hình cách mạng. Đồng chí nhấn mạnh chỉnh Đảng cần bắt đầu chỉnh huấn cán bộ, tiến hành từ trên xuống. “Khi nào chỉnh huấn cán bộ xong, mới có thể chỉnh đốn chi bộ”[4]. Điểm mới của cuộc chỉnh đốn lần này chính là tập trung vào con người trước khi chỉnh đốn tổ chức. Ngày 16-6-1952, tại lớp chỉnh huấn Trung ương, Đồng chí tiếp tục có bài viết giải đáp ý nghĩa, mục đích và thái độ chỉnh Đảng để giúp cán bộ, đảng viên hiểu rõ và sâu sắc hơn về nội dung của cuộc chỉnh Đảng.

Trên cương vị Trưởng Ban Tổ chức Trung ương trong giai đoạn 1973-1976, đồng chí Lê Văn Lương tiếp tục tham mưu cho Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành nhiều văn bản quan trọng về công tác tổ chức xây dựng Đảng. Trong đó có một văn kiện rất quan trọng là Nghị quyết số 225 ngày 20-2-1973 của Bộ Chính trị về “Công tác cán bộ của Đảng trong giai đoạn mới”. Nghị quyết ra đời đã đáp ứng yêu cầu bức thiết của tình hình và nhiệm vụ cách mạng lúc bấy giờ. Để quán triệt và thực hiện Nghị quyết, đồng chí đã có bài viết “Một số quan điểm cơ bản về công tác cán bộ và việc thi hành nghị quyết số 255 của Bộ Chính trị”[5]. Trên cơ sở nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, Đồng chí đã có những đánh giá sâu sắc về tình hình cơ cấu đội ngũ cán bộ, những ưu điểm và khuyết điểm chính của cán bộ, đảng viên và rút ra nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan cụ thể chi tiết. Từ đó, đồng chí đưa ra các nhiệm vụ công tác cán bộ đáp ứng yêu cầu cách mạnh, trong đó nhấn mạnh: Có phương án xây dựng bộ máy tổ chức tốt sẽ quyết định việc xây dựng từng người cán bộ được tốt. Quán triệt phương châm trên, cần nhận rõ tác động qua lại giữa nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ tổ chức với việc xây dựng đội ngũ cán bộ. Xây dựng đội ngũ cán bộ phải xuất phát từ nhiệm vụ chính trị và nhiệm vụ tổ chức. Trên cơ sở nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ tổ chức và tiêu chuẩn cán bộ mà tiến hành đánh giá cán bộ, điều chỉnh cán bộ và kiện toàn bộ máy. Với công tác cán bộ, đồng chí lưu ý cần kết hợp cán bộ già, trẻ, cũ, mới, cán bộ là trí thức, cả cán bộ ngoài Đảng và xác định sự nghiệp cách mạng là lâu dài, lớp người sau kế tiếp lớp người trước, đội ngũ cán bộ từng bước, phải được mở rộng, bổ sung, phát triển, được tiếp nối liên tục giữa lớp cán bộ này với lớp cán bộ khác và phải kế thừa có chọn lọc. Phải có sự đoàn kết giữa các lớp cán bộ, tránh gây ra những tâm trạng tiêu cực, không có lợi cho sự nghiệp chung. Với tầm khái quát lý luận và thực tiễn sâu sắc, đồng chí đã nêu ra những việc cần làm để thực hiện tốt Nghị quyết số 225 của Bộ Chính trị, đó là: (1) tổ chức tốt việc nghiên cứu quán triệt Nghị quyết của Bộ Chính trị; (2) các ngành, địa phương cần bàn rõ thêm nhiệm vụ chính trị và nhiệm vụ tổ chức của mình; (3) vạch ra kế hoạch công tác cán bộ; (4) xây dựng tiêu chuẩn cụ thể của các loại cán bộ; (5) đánh giá cán bộ, điều chỉnh cán bộ và kiện toàn bộ máy; (6) vấn đề đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; (7) phải chấn chỉnh công tác quản lý cán bộ.

Với mục tiêu kịp thời bổ sung, kiện toàn cán bộ cho Trung ương Cục, Khu uỷ khu V, các tỉnh, thành phố miền Nam và tiếp quản, quản lý, xây dựng, phát triển các vùng mới giải phóng, đồng chí Lê Văn Lương đã tham mưu Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành một số văn kiện quan trọng như: Chỉ thị số 201-CT/TW ngày 19-3-1973 của Bộ Chính trị về chính sách đối xử với những người có vấn đề cần xem xét về mặt quan hệ gia đình; Thông báo số 11-TB/TW ngày 18-4-1975 của Ban Bí thư quy định về phân công và phân cấp quản lý cán bộ, trong đó nêu rõ trách nhiệm, mối quan hệ trong việc quản lý cán bộ, về chế độ nhận xét đối với cán bộ; Thông tri số 316-TT/TW ngày 21-4-1975 của Ban Bí thư về việc điều động cán bộ cho miền Nam; Chỉ thị 236-CT/TW ngày 18-9-1976 của Ban Bí thư về công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ các lực lượng cách mạng miền Nam… Các văn kiện này đã để lại nhiều kinh nghiệm quý về công tác bảo vệ chính trị nội bộ Đảng nói chung cũng như việc xem xét, giải quyết vấn đề chính trị hiện nay. Đồng chí Lê Văn Lương đặc biệt quan tâm công tác tự phê bình và phê bình trong Đảng, thể hiện qua việc tham mưu cho Trung ương các văn bản như: Thông tri số 314-TT/TW ngày 19-4-1975 của Ban Bí thư về tự phê bình và phê bình trong đợt sinh hoạt chính trị để thi hành Nghị quyết số 23; Chỉ thị 230-CT/TW ngày 13-7-1976 của Ban Bí thư về đợt giáo dục chính trị, tự phê bình và phê bình trong toàn Đảng. 

2. Những đóng góp quan trọng vào công tác xây dựng tổ chức, cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc

Trên cương vị Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng, đồng chí Lê Văn Lương đã có nhiều đóng góp đối với sự nghiệp xây dựng Đảng ngày càng lớn mạnh, đặc biệt đã góp phần phát triển được đội ngũ cán bộ có phẩm chất và năng lực, xây dựng hệ thống tổ chức cơ sở đảng vững mạnh ở các cấp, các ngành, các địa phương với cơ chế hoạt động ngày càng tiến bộ. Trong công tác tổ chức, đồng chí có trách nhiệm cao đối với sinh mạng chính trị của cán bộ, đảng viên và công tác bảo vệ chính trị nội bộ của Đảng, yêu thương cán bộ, công minh, kiên quyết bảo vệ cái đúng, đấu tranh không khoan nhượng đối với cái sai.

Đồng chí Lê Văn Lương đã đóng góp quan trọng vào công tác xây dựng tổ chức, cán bộ, đặc biệt góp phần vào thành công chung của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng. Đồng chí đã tham mưu, giúp Trung ương, Bộ Chính trị chuẩn bị tổ chức Đại hội, soạn thảo Điều lệ mới, chuẩn bị nhân sự ứng cử vào Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Sau hơn 15 năm, Đảng mới tổ chức đại hội, số lượng đảng viên tăng lên rất nhanh, trong đó rất nhiều đồng chí xứng đáng được lựa chọn. Là Trưởng Tiểu ban Nhân sự Đại hội II của Đảng, đồng chí luôn cẩn trọng trong đánh giá, sử dụng, sắp xếp cán bộ, đặc biệt là cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước. Đồng chí đã phát huy dân chủ, quan tâm lắng nghe ý kiến của cán bộ, đảng viên các cấp, chú trọng lấy chất lượng, hiệu quả công việc làm thước đo để đánh giá, lựa chọn cán bộ.

Trong hai năm 1948 và 1949, Đảng đã kết nạp hơn 50 vạn đảng viên, trong đó có rất nhiều đảng viên trung thành, hăng hái, nhưng do quan điểm phát triển Đảng chưa thực sự đúng đắn, kết nạp ồ ạt nên đã đưa vào Đảng một số người không xứng đáng, kém ý thức đảng, ý thức giai cấp. Vì thế, để tăng cường củng cố Đảng và giáo dục đảng viên, đồng chí Lê Văn Lương đã tham mưu cho Ban Thường vụ Trung ương Đảng tạm ngừng kết nạp đảng viên mới trong toàn quốc, để tập trung vào việc củng cố hàng ngũ, tăng cường giáo dục đảng viên đã được kết nạp từ trước. Đồng chí Lê Văn Lương chỉ rõ, trong khi tạm ngừng kết nạp số đảng viên mới, các cấp ủy đảng phải hết sức chú trọng đến việc chấn chỉnh Đảng bằng cách tích cực thực hiện hai cuộc vận động “đào tạo cán bộ, học tập lý luận” và “phê bình và tự phê bình” mà Trung ương đã đề ra.

Trong hoàn cảnh kháng chiến chống Pháp đầy khó khăn, thử thách, công cuộc “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc” đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ cách mạng đông đảo về số lượng và lớn mạnh về chất lượng, vì vậy công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm. Sau Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ VI (14 đến 18-1-1949), thực hiện chủ trương của Đảng về công tác huấn luyện cán bộ phục vụ sự nghiệp cách mạng, Trường Đảng Trung ương Nguyễn Ái Quốc chính thức trở thành Trường Huấn luyện cán bộ hoạt động thường xuyên, đánh dấu bước phát triển mới trong công tác huấn luyện, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Đảng. Đồng chí Lê Văn Lương được cử làm Giám đốc đầu tiên của Trường Đảng Trung ương Nguyễn Ái Quốc và giữ chức vụ này từ năm 1949 đến năm1956[6]. Trên cương vị Trưởng Ban Đảng vụ, Giám đốc Trường Đảng Trung ương Nguyễn Ái Quốc, đồng chí Lê Văn Lương đã góp phần xây dựng những lớp cán bộ cao cấp đầu tiên của Đảng ta. Công tác giáo dục nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên được đặc biệt chú trọng, góp phần nhanh chóng ổn định hệ thống tổ chức đảng và củng cố lòng tin của quần chúng nhân dân với Đảng, xây dựng hậu phương vững chắc để kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ.

Trên cương vị Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ trong giai đoạn 1954 đến năm 1955, đồng chí Lê Văn Lương đã chỉ đạo công tác tiếp quản vùng mới giải phóng. Đảm nhiệm một công việc hoàn toàn mới mẻ, chưa có tiền lệ, “quan trọng ngang với tác chiến và cũng là một công tác trọng tâm như tác chiến” mà Ban Bí thư Trung ương Đảng xác định, đồng chí Lê Văn Lương tuy đảm nhiệm nhiều công việc của Đảng và Chính phủ, nhưng đã thể hiện tinh thần trách nhiệm cao trong thực hiện nhiệm vụ.

Tháng 7-1954, đồng chí tham mưu cho Ban Bí thư ra Chỉ thị về công tác tiếp thu và quản lý các thành phố và thị trấn mới được giải phóng, xác định rõ một số việc cần làm ngay và Chỉ thị về việc chấp hành lệnh đình chiến. Những biện pháp nêu trên đã cụ thể hóa những quan điểm, chủ trương của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác tiếp quản vùng mới giải phóng, kịp thời giúp đảng bộ các địa phương hiểu được tác dụng của chính sách và kỷ luật công tác tiếp quản, có ý thức trách nhiệm trong việc thực hiện Hiệp định đình chiến, bảo đảm nhanh chóng khôi phục sản xuất, ổn định đời sống nhân dân. Đi đôi với công tác tư tưởng, đồng chí Lê Văn Lương chỉ đạo kiện toàn tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể; mở các lớp bồi dưỡng cho trên 1.000 cán bộ làm công tác tiếp quản, giúp anh chị em nắm vững chính sách đối với vùng mới giải phóng, nâng cao ý thức trách nhiệm và giữ vững kỷ luật[7].

Đến năm 1986, do sức khỏe và tuổi tác, đồng chí Lê Văn Lương không còn tham gia Trung ương nhưng được giao làm công tác tổng kết xây dựng Đảng và công tác cán bộ. Có thể thấy, qua quá trình hoạt động thực tiễn lâu dài, đồng chí đã tích lũy được nhiều bài học kinh nghiệm quý báu đóng góp vào sự nghiệp xây dựng Đảng ngày càng lớn mạnh. Những kinh nghiệm này được thử thách trong lò lửa của chiến tranh cách mạng góp phần phát triển được đội ngũ cán bộ có phẩm chất và năng lực hoàn thành nhiệm vụ, có hệ thống tổ chức ở các cấp, các ngành, các địa phương với cơ chế hoạt động ngày càng cải tiến.

3. Người anh cả của Ngành Tổ chức xây dựng Đảng[8], người lãnh đạo trung thành, trung thực, ngay thẳng, dám nghĩ, dám làm, dám trách nhiệm vì lợi ích chung

Đồng chí Lê Văn Lương là một tấm gương sáng về đạo đức cách mạng, chí công vô tư, phấn đấu sống và làm việc như một người cộng sản mẫu mực với phong cách làm việc dân chủ, giữ vững nguyên tắc, tôn trọng ý kiến tập thể, đặc biệt rất quan tâm chỉ đạo công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về công tác tổ chức xây dựng đảng. Đồng chí thường nhắc nhở đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức của Đảng: “Chính trong công tác thực tế hàng ngày, những tư tưởng và ý thức sai lầm mới biểu lộ rõ nét và cụ thể. Các cấp uỷ đảng cần nắm lấy những cơ hội đó để kịp thời phê bình sửa chữa. Bởi vậy, trước khi phát động thực hiện một công tác gì, các cấp chỉ đạo phải chuẩn bị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên, giải thích rõ ý nghĩa và nội dung của công tác đó và phương pháp thi hành. Trong thời gian tiến hành công tác, phải theo sát tình hình, kịp thời uốn nắn những tư tưởng, hành động lệch lạc, sửa chữa những tư tưởng, hành động sai lầm. Khi kết thúc công tác, phải làm tổng kết, kiểm thảo từ trên xuống dưới và từ dưới lên trên. Hiện nay, đây là phương pháp thực tế và có hiệu quả nhất để giáo dục tư tưởng trong Đảng ta, để xây dựng Đảng ta về mặt tư tưởng. Song cũng cần nhận rõ việc giáo dục đảng viên theo phương pháp trên đây là một công trình lâu dài mà chúng ta phải kiên nhẫn, bền bỉ tiến hành mới đạt được kết quả tốt”[9].

Trong đánh giá cán bộ, đồng chí hết sức công tâm, coi trọng ưu điểm, khoan dung với những khuyết điểm của cán bộ và thường tin tưởng ở khả năng phấn đấu vươn lên ở cán bộ, đảng viên. Đồng chí thường nhắc nhở cán bộ của mình “đánh giá cán bộ trong thời chiến đã khó, trong hòa bình lại càng khó hơn”; “sợ cán bộ chủ quan, cảm tính hoặc sợ nhất là yêu nên tốt, ghét nên xấu”[10]. Trong tự phê bình và phê bình, đồng chí rất chú trọng phương châm chữa bệnh cứu người, tình thương yêu đồng chí, tính tự giác nhận và sửa chữa sai lầm, khuyết điểm. Trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ, khi thấy đồng chí mình có dấu hiệu bị oan sai, bị vu khống, bịa đặt, đồng chí đều xem xét cụ thể và có kết luận rõ ràng, đánh giá đúng người, đúng việc. Từ những việc làm cụ thể, đồng chí đã để lại nhiều bài học quý trong công tác đánh giá cán bộ, không chỉ đánh giá con người qua lối ứng xử bên ngoài mà phải đi sâu vào bản chất. Bên cạnh việc khách quan và công bằng, cán bộ lãnh đạo cần có cái tâm, cái tình trong sử dụng, phê bình và bảo vệ mới có thể đánh giá đúng cán bộ, mới tập hợp, khai thác trí tuệ và nhiệt tình của cán bộ trong sự nghiệp chung.

Trong suốt quá trình công tác, dù với cương vị nào, đồng chí Lê Văn Lương cũng luôn quan tâm, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ Ngành Tổ chức. Đồng chí đã đưa ra 5 tiêu chuẩn người cán bộ tổ chức để cán bộ phấn đấu, rèn luyện, làm tròn nhiệm vụ của Đảng giao phó, đó là: “(1) Rất trung thành với Đảng, với giai cấp, suốt đời tận tụy phục vụ Đảng, phục vụ Tổ quốc. (2) Rất nhất trí với đường lối, quan điểm của Đảng, không mắc sai lầm về đường lối, quan điểm (hoặc nếu có thì phải thấy và sửa ngay). Nhất trí và chấp hành đường lối, quan điểm của Đảng về công tác cán bộ, công tác xây dựng Đảng. (3) Am hiểu nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ tổ chức của ngành mình. Hiểu cái đã qua, nhất là hiểu cái hiện nay và bước phát triển tới. Thông thạo nghiệp vụ công tác cán bộ, công tác xây dựng Đảng. Có hiểu biết về quản lý của ngành và hiểu biết khoa học, kỹ thuật đến mức cần thiết. Hiểu đời sống xã hội, hiểu biết quần chúng, hiểu cán bộ. Nhạy bén với cái mới. (4) Sát cơ sở, gần gũi cán bộ. Đoàn kết với các ngành, biết lắng nghe ý kiến phê bình của các ngành. (5). Trung thực, thẳng thắng với Đảng, với đồng chí. Khiêm tốn, khách quan, chí công vô tư. Giữ gìn bí mật của Đảng, của cán bộ”[11]. Những quan điểm của Đồng chí Lê Văn Lương đã trở thành cẩm nang của cán bộ Ngành Tổ chức xây dựng Đảng.

Quá trình công tác thực tiễn cho thấy, đồng chí là một người lãnh đạo trung thành, trung thực, ngay thẳng, dám nghĩ, dám làm, dám nhận trách nhiệm trước sai lầm, không vì lợi ích cá nhân. Trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức, chúng ta đã phạm phải một số sai lầm do làm theo kinh nghiệm của nước ngoài mà không xuất phát từ thực tiễn nước ta. Trước khuyết điểm chung ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã tự phê bình và đề ra phương hướng sửa chữa. Đồng chí Lê Văn Lương đã tích cực đi xuống cơ sở nắm tình hình và xác minh những sai lầm để báo cáo và tham mưu với Trung ương đề ra những biện pháp sửa sai. Trong bối cảnh lúc bấy giờ, đồng chí Lê Văn Lương đã dũng cảm, trung thực nêu lên tất cả những sai lầm, thể hiện trong bản báo cáo do đồng chí chuẩn bị trình Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng năm 1956. Bản báo cáo đã nhìn thẳng vào sự thật, tổng hợp đầy đủ những sai lầm, tổn thất và có nhiều kiến nghị, đề xuất để Hội nghị Trung ương xem xét. Hội nghị Trung ương đã đồng ý những biện pháp sửa sai đã đề ra trong báo cáo như: thả ngay những người bị bắt oan; minh oan ngay cho những người bị bắt oan, bị xử oan; khôi phục đảng tịch cho những đảng viên bị xử lý sai, vv… Do đó, công tác sửa sai của Đảng được tiến hành rất khẩn trương và có kết quả. Bản thân đồng chí Lê Văn Lương thấy mình có phần trách nhiệm về sai lầm trong công tác chỉnh đốn tổ chức Đảng, đã tự xin rút khỏi Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng. Đồng chí  được điều về làm Bí thư Khu ủy Tả Ngạn. Đến Đại hội III của Đảng, Đồng chí được Đại hội bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, trở về làm Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng và đến Đại hội IV của Đảng, được bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị.

Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, với phần lớn thời gian trên cương vị phụ trách công tác tổ chức của Đảng, đồng chí Lê Văn Lương đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm từ thực tiễn. Ở đồng chí Lê Văn Lương có cái “tâm” của một người làm công tác tổ chức cán bộ của Đảng và có cái “tình” trong cách ứng xử với mọi người, yêu thương cán bộ, gần gũi quần chúng, vì sự tiến bộ của đồng chí mình. Đồng chí Lê Văn Lương đã để lại cho chúng ta nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, đặc biệt trên cương vị Trưởng Ban Tổ chức Trung ương. Với những cống hiến to lớn, đồng chí được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng và nhiều huân chương cao quý khác. Cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí Lê Văn Lương đã để lại những tình cảm tốt đẹp đối với đồng chí, đồng nghiệp và Nhân dân. Đồng chí là một người cộng sản kiên cường, dũng cảm, trung thực, một người lãnh đạo, người đồng chí mẫu mực, đạo đức cách mạng trong sáng, chí công vô tư, một người con ưu tú của dân tộc Việt Nam.

 

Đẩy mạnh đấu tranh chống "diễn biến hòa bình" trên các trang mạng xã hội trong Quân đội

Âm mưu “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch thông qua mạng xã hội cũng không loại trừ với Quân đội nhân dân Việt Nam, vì đây là lực lượng chủ yếu, lực lượng nòng cốt bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước và nhân dân. Các thế lực thu địch thường lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý, chỉ huy; khai thác thông tin từ một số vụ việc tiêu cực đơn lẻ rồi xuyên tạc sự thật, thổi phồng thiếu sót khuyết điểm; lấy hiện tượng quy kết thành bản chất; đăng tải thông tin thật, giả lẫn lộn để đả kích, phủ nhận truyền thống, bản chất cách mạng của quân đội, bôi nhọ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, chia rẽ mối quan hệ mật thiết quân đội với nhân dân, kích động đòi “phi chính trị hóa” quân đội. Qua đó, thúc đẩy nhanh các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong quân đội; truyền bá lối sống thực dụng, thẩm thấu tư tưởng văn hóa ngoại lai vào đời sống văn hóa, tinh thần, làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, mục ruỗng về tổ chức, băng hoại về đạo đức của quân nhân. Các thông tin được chúng nhào nặn rất tinh vi, trộn lẫn thật - giả, tốt - xấu, khó nhận diện, trở nên cực kỳ nguy hiểm. Là lực lượng xung kích, nòng cốt, đi đầu trong cuộc đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình” thông qua mạng xã hội, lực lượng vũ trang nói chung, quân đội nói riêng đã luôn nhận thức đúng tình hình, công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng luôn được đảng ủy, chỉ huy các cấp thường xuyên quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện chặt chẽ. Cấp ủy đảng các cấp đã quán triệt và thực hiện nghiêm túc sự chỉ đạo của cấp trên về đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Các cơ quan, đơn vị đã chủ động xây dựng cơ quan thường trực, lực lượng nòng cốt, chuyên sâu, tham gia đấu tranh và bảo đảm các điều kiện vật chất thực hiện công tác này ở từng cấp. Đồng thời, cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộ chính trị các cấp đã phát huy vai trò nòng cốt trong lãnh đạo, chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện đấu tranh phòng, chống các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Cùng với đó, các đơn vị trong quân đội đã luôn chủ động trong công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, nâng cao nhận thức và trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng; thường xuyên phối hợp với các ngành chức năng, đổi mới về nội dung, phương pháp, hình thức đấu tranh nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện. Nhờ đó, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, an ninh mạng trên địa bàn đóng quân được bảo đảm, tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ địa bàn an toàn, đơn vị an toàn. Tuy nhiên, vẫn còn một số ít cán bộ, chiến sĩ nhận thức chưa đúng đắn tình hình nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, chưa thật sự chủ động, nhạy bén, sắc sảo; còn lơ là, thiếu sót trong công tác và sinh hoạt thường ngày dễ dẫn đến bị kẻ xấu lợi dụng, kích động, bội nhọ nhưng chưa được đấu tranh, ngăn chặn kịp thời. Còn có cán bộ thiếu tích cực nghiên cứu, tham gia đấu tranh kém hiệu quả, chưa phát huy hết trách nhiệm trong phát hiện, đấu tranh, phản bác những cái xấu, cái tiêu cực, những luận điệu sai trái, phản động; chưa có những bài viết, thông tin chuyên sâu về lý luận và thực tiễn mang tính định hướng, tính chiến đấu để đấu tranh trực diện với các quan điểm thù địch, nên chưa tạo được sự chú ý rộng rãi và sức lan tỏa đối với cộng đồng. Trước yêu cầu nhiệm vụ mới, công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên các trang mạng xã hội là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, phải được triển khai tích cực, thường xuyên và lâu dài. Trong đấu tranh phải kiên quyết, linh hoạt, chủ động, sắc bén, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” làm chính. Đối với quân đội trong thời gian tới cần củng cố, nâng cao chất lượng, hiệu quả đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng bằng một số giải pháp như sau: Trước hết, lãnh đạo, chỉ huy các cấp phải có chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể, phù hợp chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị. Quán triệt Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”; Đề án “Quân đội phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong tình hình mới”; Chỉ thị số 47/CT-CT, ngày 08/01/2016 của Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị về tổ chức lực lượng đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng trong Quân đội; đồng thời, bám sát thực tiễn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên không gian mạng. Cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị tập trung giáo dục, nâng cao nhận thức về âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, nhất là trước những sự kiện quan trọng, vụ việc phức tạp, nhạy cảm… kịp thời thông tin, định hướng tư tưởng cho cán bộ, học viên, nhân viên, chiến sĩ. Qua đó, để cán bộ, chiến sĩ nắm chắc về đối tượng, đối tác của cách mạng Việt Nam và nhiệm vụ phòng, chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; nêu cao tinh thần cảnh giác và ý thức tổ chức kỷ luật, “tự miễn dịch” trước hoạt động chống phá tinh vi, thâm độc của các thế lực thù địch trên không gian mạng. Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo 35 của đảng ủy các cấp thực hiện tốt việc tham mưu, xây dựng, ban hành đồng bộ hệ thống quy chế, quy định, chương trình hành động cụ thể; chủ động xây dựng, tổ chức lực lượng để hoạt động đấu tranh trên không gian mạng có nền nếp, bảo đảm bí mật, rộng khắp, thống nhất, hiệu quả và bảo vệ mình. Thường xuyên nghiên cứu, nắm chắc tình hình, cung cấp thông tin, “chỉ thị mục tiêu” và định hướng để đấu tranh kịp thời, có trọng tâm, trọng điểm. Các nghị quyết, kết luận lãnh đạo thường kỳ của các cấp ủy, tổ chức đảng đều có nội dung, biện pháp lãnh đạo đấu tranh trên không gian mạng, gắn với thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị mình, bảo đảm tính nhạy bén, sáng tạo, nhưng phải chấp hành nghiêm quy định bảo vệ chính trị nội bộ, không để lọt, lộ bí mật Nhà nước, bí mật quân sự, ngăn chặn kịp thời các tài liệu phản động, văn hóa phẩm xấu độc thâm nhập vào nội bộ. Thứ hai, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần xác định: đấu tranh trên mạng xã hội là một nội dung quan trọng nhằm bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”; phải kiên quyết, kiên trì và nhạy bén, linh hoạt. Cấp ủy, chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp cần chú trọng quản lý hoạt động trên mạng xã hội của cán bộ, học viên, nhân viên, chiến sĩ khi sử dung internet, tham gia mạng xã hội và trong công tác đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình” trên không gian mạng; kịp thời chấn chỉnh các trường hợp chưa chuẩn mực trên mạng xã hội, bảo đảm hoạt động đấu tranh luôn đúng định hướng. Cấp ủy đảng các cấp phải xác định đây là một nhiệm vụ quan trọng cần tập trung lãnh đạo, vận dụng phù hợp với thực tiễn nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị bằng kế hoạch, chương trình cụ thể. Cần linh hoạt, sắc sảo, sáng tạo, tránh giáo điều, dập khuôn, máy móc; đề cao ý thức chấp hành kỷ luật, kỷ cương, quy định phát ngôn,... nắm chắc tình hình trên mạng xã hội của quân nhân, kịp thời phát hiện những biểu hiện dao động, suy thoái về tư tưởng, chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để có biện pháp giáo dục; kiên quyết xử lý những trường hợp vi phạm. Thứ ba, cần giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm, thái độ chủ động, tích cực tham gia đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình” trên không gian mạng cho cán bộ, chiến sĩ. Muốn vậy, trước hết các cơ quan, đơn vị cần tiếp tục thực hiện tốt Đề án “Đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới”, nâng cao nhận thức lý luận chính trị cho cán bộ, chiến sĩ, kịp thời định hướng một cách thấu đáo, thuyết phục những vấn đề mới nảy sinh có ảnh hưởng đến tư tưởng, tình cảm, tâm lý của bộ đội. Phải giáo dục cho quân nhân hiểu rõ “tính hai mặt” của không gian mạng cũng như âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; tạo khả năng “tự miễn dịch” cho cán bộ, chiến sĩ trước các thông tin xấu độc, cũng như tăng cường sức “đề kháng” để chủ động tiến công, kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với âm mưu “Diễn biến hòa bình” trên không gian mạng. Thứ tư, duy trì thường xuyên và có hiệu quả hoạt động thông báo thời sự và công tác tuyên truyền trong nhân dân. Với tỉ lệ người dân sử dụng internet và mạng xã hội đông đảo như Việt Nam hiện nay, cùng với tình trạng nhiễu loạn thông tin trong thời gian qua, thực trạng “phản ứng chậm” với những thông tin sai trái, bịa đặt trên mạng xã hội của các cơ quan, đơn vị diễn ra còn phổ biến. Do đó, các cơ quan, đơn vị phải nhạy bén, thường xuyên, kịp thời, chủ động cung cấp thông tin chính thống thông qua chế độ thông báo thời sự và các hình thức tuyên truyền trong nhân dân. Đối với các vấn đề phức tạp, nhạy cảm, phạm vi tác động, ảnh hưởng lớn, lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần tranh thủ sự chỉ đạo, định hướng của cơ quan cấp trên, chủ động thông báo, thông tin chính thống trên các trang mạng xã hội, tạo sự đồng thuận cao trong cơ quan, đơn vị và nhân dân trên địa bàn; duy trì hiệu quả chế độ đọc báo, nghe tin, giao ban, hội ý để cung cấp thông tin, định hướng nội dung, thống nhất biện pháp tuyên truyền, đấu tranh. Cần xác định rõ căn cứ, cơ sở lý luận và thực tiễn để phản bác đối với những thông tin sai trái; hướng dẫn cụ thể biện pháp, hình thức thông tin tuyên truyền trong nhân dân cho cán bộ, chiến sĩ. Thứ năm, phối hợp chặt chẽ với các ngành chức năng trên địa bàn xây dựng cơ chế và phát huy có hiệu quả các thiết chế để kịp thời cung cấp thông tin chính thống cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trên địa bàn đóng quân. Trong đó, cần chú trọng thiết lập các trang, nhóm cộng đồng trên nền tảng có sẵn như: Facebook, Zalo, Mocha... thu hút được đông đảo người dân tham gia. Đồng thời, triển khai thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Luật An ninh mạng và Nghị định số 15/2020/ND-CP ngày 3-2-2020 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện và giao dịch điện tử. Tuy nhiên, cũng cần phải thống nhất nhận thức: không phải thông tin phản ánh tiêu cực nào cũng đều là thông tin sai trái, phản động, thù địch; cần có cách nhìn nhận khách quan, toàn diện, từ đó tránh quy chụp, tạo hiềm khích, gây mất uy tín và chất lượng của các trang, nhóm, làm giảm sút hiệu quả của hoạt động thông tin, tuyên truyền trên địa bàn. Tóm lại, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng là cuộc đấu tranh hết sức quyết liệt, gay gắt, lâu dài và vô cùng phức tạp. Với vai trò là lực lượng nòng cốt, đi đầu, Lực lượng vũ trang nói chung, các đơn vị quân đội nói riêng cần thực hiện đồng bộ các giải pháp đấu tranh hiệu quả, thiết thực, góp phần làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trong tình hình hiện nay.

Luận điệu sai trái về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng khẳng định: “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị...”, đồng thời xác định tầm nhìn, định hướng chiến lược, trong đó “nghiên cứu, ban hành Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến 2045”. Đây là vấn đề lý luận và thực tiễn hết sức quan trọng được Đảng ta chỉ đạo khẩn trương nghiên cứu, xây dựng, tạo cơ sở hiện thực hóa mục tiêu lý tưởng, con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta lựa chọn. Lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đưa ra nhiều quan điểm, luận điệu nhằm phê phán, bác bỏ, phủ nhận vai trò, tính chất pháp quyền của Nhà nước XHCN Việt Nam. Họ cho rằng, nhà nước pháp quyền là giá trị tiến bộ đã được các nước tư bản vận dụng, xây dựng, thực hiện từ lâu, bây giờ Việt Nam đặt lại vấn đề xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền là đi theo con đường tư bản chủ nghĩa (TBCN). Họ ra sức xuyên tạc Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam chỉ có “đảng trị” chứ không có tính pháp quyền “pháp trị”, xã hội không có tự do, dân chủ, nhân quyền. Cho rằng chỉ có nhà nước pháp quyền tư bản, không có khái niệm Nhà nước pháp quyền XHCN, từ đó phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước. Đồng thời rêu rao rằng, thoát li vai trò lãnh đạo của Đảng, nhà nước phải xây dựng theo mô hình nhà nước “tam quyền phân lập”, như vậy thì những giá trị tiến bộ về quyền cơ bản của con người mới được thừa nhận, tôn trọng và thực hiện… Tung ra các luận điệu sai trái, công kích vào bản chất, vai trò của nhà nước pháp quyền XHCN là một trong những mũi nhọn mà các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị tập trung chống phá trong suốt quá trình cách mạng, xây dựng, hoàn thiện nhà nước XHCN Việt Nam. Vậy bản chất của Nhà nước pháp quyền XHCN có đồng nhất nhà nước pháp quyền TBCN? Mục đích, âm mưu mà các đối tượng hướng tới là gì? Trước hết có thể thấy, tư tưởng về nhà nước pháp quyền được các nhà chính trị, pháp lý như J.Locke (1632-1704), C.Montesquieu (1698-1755), J. Rousseau (1712 – 1778) đặt nền móng đầu tiên, sáng lập, phát triển như một thế giới quan pháp lý mới, phát triển các tư tưởng về nhà nước pháp quyền, làm cơ sở lý luận xây dựng nhà nước tư sản cho đến ngày nay. So với nhà nước phong kiến “ngàn năm trung cổ”, đây là những tư tưởng tiến bộ của nhân loại trong hoàn cảnh lịch sử khi đó. Tuy nhiên, tư tưởng này bị hạn chế bởi thế giới quan, bản chất giai cấp nên nhà nước tư sản vẫn là công cụ thuộc về thiểu số là giai cấp tư sản, dân chủ tư sản chưa phải là nền dân chủ của đa số, quảng đại quần chúng nhân dân lao động. Bản chất nhà nước luôn là vấn đề trung tâm của mỗi chế độ chính trị, quyết định bản chất xã hội, biểu hiện ý chí, nguyện vọng của thiểu số hoặc đa số và tính chất, nội dung của một xã hội tiến bộ, dân chủ. Mặt khác, đây cũng là đề tài luôn được học giả, nhà nghiên cứu, chính trị gia không ngừng nghiên cứu, tranh luận trên cơ sở lập trường tư tưởng, khuynh hướng chính trị khác nhau. Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lấy lý do này để tăng cường các hoạt động công kích, xuyên tạc, chống phá. Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN giữ một vị trí đặc biệt quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân. Người nhấn mạnh: “Nước ta là một nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”; “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là chủ”. Toàn bộ quyền lực nhà nước là từ nhân dân, do nhân dân, phụng sự lợi ích của nhân dân. Người quan niệm, pháp luật không phải là để trừng trị con người, mà là công cụ bảo vệ, thực hiện lợi ích của con người. Tư tưởng pháp quyền đó thấm đượm bản chất nhân văn, chăm lo ấm no, hạnh phúc của nhân dân, lòng nhân ái, nghĩa đồng bào, truyền thống đạo lý quý báu của dân tộc. Đó thật sự là giá trị dân chủ sâu sắc và triệt để của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ra đời, đó là nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Kể từ đó, tiếp thu, kế thừa những tư tưởng tiến bộ của nhân loại, quá trình nhận thức tư duy lý luận của Đảng qua các nhiệm kỳ đại hội, nhất là thời kỳ đổi mới, không ngừng được phát triển và hoàn thiện. Những quan điểm, đường lối đó được Nhà nước cụ thể hóa trong các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH năm 1991 (bổ sung năm 2011) hay Hiến pháp (2013), Đảng, Nhà nước ta khẳng định một trong những đặc trưng của chế độ là “xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”. Cương lĩnh chỉ rõ: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo”; “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”. Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam khác nhà nước pháp quyền tư sản ở chỗ, pháp quyền dưới chế độ tư bản về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản. Trong khi bản chất nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, đó là Nhà nước “hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội hài hòa với lợi ích chính đáng của con người, khác hẳn về chất so với các xã hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm, do đó cần và có điều kiện để xây dựng và đồng thuận xã hội thay vì đối lập, đối kháng xã hội. Trong chế độ chính trị XHCN, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích, mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của nhà nước đều vì lợi ích của Nhân dân, lấy hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ. Dân chủ là bản chất của chế độ XHCN, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng CNXH; xây dựng nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của các mạng Việt Nam”. Từ khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa được thành lập, việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN là vấn đề lý luận và thực tiễn hết sức mới mẻ, chưa có tiền lệ, đòi hỏi phải có sự nhận thức lý luận khoa học, cách mạng, giữ vững định hướng XHCN trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân, đáp ứng yêu cầu đưa đất nước vào giai đoạn phát triển mới. Do đó việc lãnh đạo, tổ chức nghiên cứu, xây dựng, thực hiện đề án chiến lược này là khách quan, khoa học, vừa kế thừa, phát huy những thành tựu đạt được, vừa phát triển, hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, đưa đất nước vào giai đoạn phát triển mới. Như vậy, không thể lập luận rằng “xây dựng Nhà nước pháp quyền là đi theo con đường TBCN”, không thể xuyên tạc ở Việt Nam “chỉ có đảng trị, không pháp quyền”, rêu rao “pháp trị thì xã hội không thể có tự do, dân chủ, nhân quyền”... Mô hình nhà nước “tam quyền phân lập” không phải là khuôn mẫu, tiến bộ về tự do, dân chủ nhân quyền. Đây là luận điệu hết sức nguy hiểm. Đưa ra luận điệu này, các đối tượng nhằm cố tình phê phán thể chế chính trị, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước; ca ngợi, cổ súy, hướng lái, thúc đẩy mô hình nhà nước tam quyền phân lập, những cái gọi là giá trị “tự do, dân chủ, nhân quyền” phương Tây; dẫn dắt, gieo rắc nhận thức lệch lạc, xuyên tạc bản chất, vị trí, vai trò của nhà nước pháp quyền XHCN; chia rẽ khối đại đoàn kết, mối quan hệ, thể chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Mặt khác, việc tung ra luận điệu trên làm méo mó bản chất, tính ưu việt của chế độ xã hội, làm giảm uy tín, vị thế Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trên trường quốc tế.

Tái diễn luận điệu sai lệch về phòng, chống COVID-19 trong giai đoạn mới

Mặc dù không nắm rõ chính sách phòng, chống dịch COVID-19 của Đảng, Nhà nước ta cũng như không tham gia đóng góp công sức vào công cuộc chống dịch gian nan, vất vả của mọi tầng lớp trong xã hội, tuy nhiên, một số trang tin, tài khoản mạng xã hội, điển hình như Đài Á châu Tự do (RFA) đăng tải nhiều bài viết sai lệch, phiến diện về công tác phòng, chống dịch. Mỗi khi Chính phủ hay các bộ, ban, ngành đưa ra chính sách, chủ trương mới về phòng, chống dịch COVID-19, dù chưa hiểu rõ và cũng không nắm chắc các cơ sở đề xuất về các chính sách đó nhưng nhiều đối tượng chống đối chính trị, đối tượng phản động, các trung tâm truyền thông thiếu thiện chí lại nhanh chóng đưa ra các quan điểm trái chiều, sai lệch, gây phân tâm dư luận. Tại phiên họp của Ban Chỉ đạo quốc gia phòng, chống dịch COVID-19 ngày 5/3/2022, Bộ Y tế đã đề xuất tạm dừng thông báo số ca nhiễm hằng ngày để tránh gây hoang mang. Và đây cũng là đề xuất được dư luận đặc biệt quan tâm, trong đó nhiều chuyên gia về lĩnh vực y tế cũng đã được báo chí trao đổi và thông tin cụ thể tới dư luận người dân. Ngay sau khi Bộ Y tế đưa ra đề xuất thì trên website của RFA đăng bài viết cho rằng “Số ca nhiễm COVID-19: Dừng công bố nhưng đừng bí mật, giấu giếm”. Bài viết này đã lập luận, đưa ra nhiều quan điểm không trung thực với tình hình thực tế dịch bệnh hiện nay ở nước ta, trong đó trích dẫn phát ngôn của một số người nhằm cố tình hướng lái dư luận, chỉ trích về chính sách phòng, chống dịch của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Bài viết vu cáo: “Ở Việt Nam thì mọi chủ trương công bố hay không công bố (số ca nhiễm COVID-19) thì nó thuộc về vấn đề chính trị, chứ không phải vấn đề chuyên môn. Ngành y chỉ là một ngành chuyên môn, họ công bố nhiều hay ít, công bố đúng sự thật hay công bố khác đi đều có chỉ đạo của lãnh đạo đảng CSVN...”. Bài viết được chia sẻ trên mạng xã hội facebook, nhiều đối tượng chống đối chính trị đã vào “a dua”, cổ súy để nhằm tăng “độ tin cậy” cho nguồn thông tin, từ đó đánh lạc hướng dư luận, vu khống chính sách phòng, chống dịch COVID-19 của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Một số tài khoản mạng xã hội facebook của các đối tượng chống phá Nhà nước tìm cách miệt thị: “Chế độ cộng sản không bao giờ làm việc minh bạch, còn người dân thì sẽ mãi trượt dài trong những bí mật ấy”; “Bây giờ họ cho nhiễm tràn lan rồi, các công ty F0 không triệu chứng vẫn đi làm bình thường, các cháu nhỏ vẫn đi học ở nhiều nơi, đơn cử như Sài Gòn không đi học thì bị đuổi”… Rồi nhiều bình luận vu cáo, giờ người dân nên tự mình lo lấy, dịch bệnh đã “bung, toang” không trông đợi gì ở Đảng, Nhà nước. Các quan điểm mà RFA đưa ra dường như đã có một ekip của các phần tử chống phá phụ họa để tạo nên hiệu ứng đám đông và đó cũng là lý do tại sao có một số người bị các đối tượng này lôi kéo vào tư tưởng chống phá chế độ, trở thành con rối bị tiêu khiển. Cần thấy rằng trước đó, cũng trên RFA và nhiều trang mạng khác đã chỉ trích việc Bộ Y tế thống kê số ca nhiễm hiện nay là lỗi thời, cho rằng đó là sự bảo thủ của Nhà nước. Nay khi quan điểm ngừng thống kê được đưa ra, cũng chính họ lại nói ngược lại! Thực tế, việc suy diễn, bôi nhọ công tác phòng, chống dịch bệnh là mảnh đất mà các đối tượng thù địch, chống phá ra sức lợi dụng từ hơn 2 năm nay, kể từ khi dịch bệnh xuất hiện, bùng phát. Ở mỗi giai đoạn, các đối tượng lại mở các “chiến dịch” nhắm vào những vấn đề nóng, nổi cộm để hướng lái dư luận, để người dân có suy nghĩ, quan điểm không đúng về Đảng, Nhà nước, gây sự chia rẽ, mất niềm tin. Năm 2021, khi dịch bệnh bùng phát, gây hậu quả nghiêm trọng tại TP Hồ Chí Minh và nhiều tỉnh phía Nam, các đối tượng tung ra hàng loạt bài viết xuyên tạc biện pháp phòng, chống dịch của Đảng, Nhà nước như xuyên tạc sự tăng cường lực lượng chống dịch của Quân đội, Công an; vu cáo Đảng, Nhà nước không lo cho dân, để dân đói rét, chết dịch; suy diễn, quy chụp việc dịch bệnh bùng phát do “Đảng, Nhà nước thờ ơ, bỏ mặc dân”… Tới nay, khi dịch bệnh bước vào giai đoạn mới với quan điểm thích ứng an toàn, những luận điệu chống phá lại chuyển sang hướng chỉ trích như nêu trên. Đáng nói, một số suy diễn cho rằng, việc bí mật, giấu giếm thông tin hay công bố bao nhiêu ca nhiễm là “vấn đề chính trị chứ hoàn toàn không phải thuộc về chuyên môn”. Cách suy diễn vấn đề như vậy là sai trái theo tư duy chủ quan của một vài cá nhân có động cơ xấu. Từ trước đến nay, RFA cùng một số kênh truyền thông khác ở hải ngoại như VOA, RFI, được lập nên với mục đích thúc đẩy nhanh chiến lược “diễn biến hòa bình”, xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam. Với động cơ, mục đích đó, họ sẵn sàng bất chấp bịa chuyện, biến không thành có, đổi trắng thay đen và không bao giờ cảm thấy có lỗi khi nói sai sự thật. Nhiều bài viết đăng tải lại của những cá nhân thù địch, chống phá Việt Nam, phần lớn những bài này thông qua hư cấu, thu thập thông tin tài liệu một chiều để rồi dựng lên các sự việc không trung thực, suy diễn, bôi nhọ nhằm gây dư luận xấu về tình hình chính trị, xã hội ở Việt Nam. Trở lại việc Bộ Y tế báo cáo Thủ tướng Chính phủ xin ý kiến về vấn đề tạm dừng việc thông báo số nhiễm SARS-CoV-2 hàng ngày vào ngày 5/3 vừa qua xuất phát từ nhiều lý do. Trong đó, đề xuất này nhằm tránh gây hoang mang cho người dân, vì đây chỉ là 1 trong 8 chỉ số để đánh giá tình hình cấp độ dịch mà chưa phản ánh đúng bản chất tình hình dịch bệnh. Việc cân nhắc để đưa ra ý kiến dựa trên khả năng chuyên môn, công khai, minh bạch và các ý kiến đều được bàn bạc kỹ lưỡng trước khi quyết định đề xuất Thủ tướng Chính phủ và đồng thời không làm ảnh hưởng đến công tác phòng, chống dịch hiện nay ở nước ta. Hơn nữa, nhiều chuyên gia trên lĩnh vực y tế cũng đưa ra các ý kiến khách quan và được người dân hưởng ứng về vấn đề này. Theo TS.Trần Thanh Tùng (Đại học Y Hà Nội), việc xem số liệu hằng ngày đã thành thói quen của người dân. “Tuy nhiên khi con số đã không còn chính xác, không đánh giá đúng tình trạng dịch bệnh và không phù hợp với tình hình thực tế hiện nay thì chúng ta nên gỡ bỏ. Tại nhiều nước họ đã không còn công bố ca nhiễm hằng ngày nữa. Bộ Y tế chỉ nên công bố số ca nặng phải nhập viện và tử vong hằng ngày mà không cần phải công bố ca mới chung”. Còn theo PGS.TS Trần Đắc Phu, cố vấn cao cấp Trung tâm Đáp ứng khẩn cấp các sự kiện y tế công cộng (Bộ Y tế) cho rằng, việc này là phù hợp, dừng công bố số ca nhiễm nhưng các nhà quản lý và ngành y tế có thể vẫn thống kê hàng ngày hoặc áp dụng phương pháp giám sát dịch bệnh khác như giám sát điểm, báo cáo số liệu của từng địa phương... Như vậy, các chủ trương công bố hay không công bố xuất phát từ các ý kiến rất khách quan, thông qua chuyên môn của ngành y tế. Và mục đích cuối cùng trong mọi chính sách phòng, chống COVID-19 của Đảng, Nhà nước ta đều là giảm thiểu đến mức thấp nhất của tác động của đại dịch đến sức khỏe, tính mạng của nhân dân, thích ứng, linh hoạt phát triển kinh tế, xã hội. Hiện nay, một số quốc gia trên thế giới cũng đã ngừng công bố các ca nhiễm COVID-19 hàng ngày, trong đó tại Đông Nam Á, Singapore đã thực hiện chính sách này từ tháng 12/2021. Công tác phòng, chống dịch COVID-19 được Đảng, Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm và là vấn đề đặt lên hàng đầu, xuyên suốt kể từ khi dịch bệnh xuất hiện. Ở mỗi giai đoạn của dịch bệnh, các chính sách đó lại được xem xét thay đổi phù hợp với bối cảnh, tình hình thực tế, đáp ứng linh hoạt vừa phòng, chống dịch vừa phát triển kinh tế - xã hội. Những thành công về công tác phòng, chống dịch cùng với việc phổ cập vaccine ngừa COVID-19 đã tạo ra môi trường sống thích ứng an toàn với dịch bệnh. Rõ ràng, tất thảy những luận điệu mà các trung tâm truyền thông thù địch đưa ra đều với mục đích xấu nhằm tạo ra làn sóng dư luận đi ngược lại với đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Đó cũng là lời cảnh tỉnh cho người dùng mạng khi tiếp cận với các nguồn thông tin, cần có sự tỉnh táo nhận diện, kiểm chứng, không cổ súy, hùa theo quan điểm sai trái, nguy hại…

Biến “diễn biến hòa bình” thành “tự diễn biến”


Sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và  Liên Xô sụp đổ vào những năm cuối thập niên 80, 90 của thế kỷ XX, các thế lực thù địch chống chủ nghĩa xã hội coi đây là “thời cơ vàng” để đẩy tới chiến lược diễn biến hòa bình tấn công toàn diện vào các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, trong đó có Việt Nam với tham vọng loại bỏ chủ nghĩa xã hội hiện thực khỏi đời sống chính trị thế giới như cựu Tổng thống Mỹ R.Ních-xơn từng tuyên bố: “1999 - chiến thắng không cần chiến tranh”.

Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch sử dụng nhiều phương thức, thủ đoạn, lực lượng, phương tiện mới tiến công trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội để làm chuyển hóa chế độ chính trị các nước xã hội chủ nghĩa theo hướng tư bản chủ nghĩa, thực hiện phương châm “không đánh mà thắng”. Trong chiến lược tổng hợp đó, kẻ thù đặc biệt chú trọng tấn công vào trận địa tư tưởng, văn hóa nhằm làm thay đổi nhận thức, tình cảm, phá hoại niêm tin, lý tưởng cách mạng, suy đồi đạo đức, lối sống của mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân với kỳ vọng biến “diễn biến hòa bình” thành “tự diễn biến”, kích động tư tưởng chống đối từ trong nội bộ, thủ tiêu thành quả cách mạng xã hội chủ nghĩa một cách “hòa bình”. Do vậy một trọng tâm của công tác đấu tranh tư tưởng, lý luận ở nước ta hiện nay là nâng cao cảnh giác, nhận rõ âm mưu, thủ đoạn địch chống phá, kiên quyết đấu tranh với các luận điệu tuyên truyền phản động, xuyên tạc, bôi đen lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng,. dân tộc góp phần làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc./.

TRƯỜNG TỒN

 

Ngày đầu của Chiến dịch Hồ Chí Minh

 


Ngày 26-4-1975,  Nguyễn Văn Thiệu, Cao Văn Viên và nhiều quan chức cao cấp của chính quyền Sài Gòn chạy ra nước ngoài. Lúc này, một số tướng lĩnh chóp bu của quân đội Sài Gòn đang xúc tiến chiếm ghế tổng thống nhưng toan tính ấy không nhận được sự ủng hộ của Mỹ và Pháp...  Vào lúc này, ta hình thành thế bao vây Sài Gòn từ 5 hướng: Hướng Tây Bắc - Quân đoàn 3; hướng Bắc - Quân đoàn 1; hướng Đông Nam - Quân đoàn 2; hướng Đông - Quân đoàn 4; hướng Tây và Tây Nam - Đoàn 232 và Sư đoàn 8 (Quân khu 8). Các cánh quân của ta đã tập kết tại các bàn đạp tiến công.

 Sáng ngày 26-4-1975, bộ phận tiền phương của Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh chuyển xuống Căm Xe, phía bắc Dầu Tiếng. 17 giờ ngày 26-4-1975, chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu.

 Các binh đoàn tham gia chiến dịch trên 5 hướng tiến công tuyến phòng thủ vùng ven, phá vỡ các mắt xích phòng thủ vòng ngoài của quân đội Sài Gòn, cắt đứt giao thông đường bộ, đường thủy xuống đồng bằng sông Cửu Long và ra biển, khống chế các sân bay Biên Hòa, Tân Sơn Nhất, Trà Nóc (Cần Thơ), chế áp các trận địa pháo quan trọng, vây ép Sài Gòn trên tất cả các hướng, không cho các sư đoàn chủ lực quân đội Sài Gòn co cụm về vùng ven và nội đô, tạo điều kiện cho bước kế tiếp tiến công đồng loạt vào sào huyệt đối phương.

Ở hướng Đông và Đông Nam, 18 giờ ngày 26-4-1975, sau màn hỏa lực bắn phá dồn dập của hàng chục trận địa pháo binh dội xuống mục tiêu địch ở Trảng Bom, Hố Nai, Biên Hòa, Nước Trong, Long Thành, Đức Thạnh, Bà Rịa, các sư đoàn bộ binh của Quân đoàn 4 và Quân đoàn 2 bắt đầu mở cuộc tiến công.

Trên khu vực Quân đoàn 4 (hướng Đông), Sư đoàn Bộ binh 341 được tăng cường 1 tiểu đoàn xe tăng, 1 tiểu đoàn pháo cao xạ hỗn hợp và hỏa lực chiến thuật cấp trung đoàn, tiểu đoàn, do Đại tá Trần Văn Trân làm Sư đoàn trưởng, Đại tá Nguyễn Đô làm Chính ủy trực tiếp chỉ huy, nổ súng đánh chiếm yếu khu Trảng Bom - mắt xích trọng yếu trên tuyến phòng ngự phía trước của đối phương. Nhiều trận chiến đấu dữ dội kéo dài hàng giờ giữa xe tăng, xe thiết giáp của ta và xe tăng, xe thiết giáp của đối phương diễn ra khốc liệt.

Phối hợp chặt chẽ với Quân đoàn 4, trên hướng Đông Nam, chiều ngày 26-4, Quân đoàn 2 cho Sư đoàn Bộ binh 3, được tăng cường 1 đại đội xe tăng T54 do Sư đoàn trưởng Lâm Bá Khuê chỉ huy, đánh chiếm Chi khu Đức Thạnh. Sau 2 giờ chiến đấu trong thế áp đảo, bộ đội ta đã làm chủ các khu vực Bình Giã, Ngãi Giao, Núi Đất, hỗ trợ du kích và nhân dân địa phương nổi dậy giải phóng Xuyên Mộc, Long Lễ; sau đó sư đoàn chuyển sang truy kích địch rút chạy. 21 giờ cùng ngày, Trung đoàn Bộ binh 141 và Đại đội xe tăng 4 được pháo binh Quân đoàn chi viện hỏa lực, tiến công thị xã Vũng Tàu. Trước sức mạnh vượt trội của lực lượng tiến công, quân địch phản ứng yếu ớt rồi bỏ chạy.

Phối hợp tác chiến với các binh đoàn chủ lực trên hướng Đông và Đông Nam, các đơn vị bộ đội chủ lực Miền bao gồm đặc công, biệt động được du kích ven đô hỗ trợ, cũng chủ động đánh chiếm các mục tiêu quan trọng theo kế hoạch.

Trên hướng tiến công chủ yếu Tây Bắc, Quân đoàn 3 vào trận với khí thế áp đảo địch, cho dù lực lượng địch trên hướng này còn đông, hỏa lực mạnh, phòng thủ theo chiều sâu, có nhiều cứ điểm vững chắc. Nhiệm vụ chủ yếu của Quân đoàn 3 là: “Tổ chức lực lượng đột kích liên tục, đánh ngã địch, chiếm các mục tiêu then chốt trong thành phố. Đánh sư đoàn bộ binh 25 địch ở ngoài chỉ là điều kiện, không thể đánh sư đoàn này mà dùng nhiều lực lượng, hoặc giằng co mất nhiều thời gian. Đánh ngoài và đột kích vào trong là đồng thời, không chia thành bước. Nhiệm vụ chính là bên trong. Mục tiêu chiến đấu của Quân đoàn 3 là sân bay Tân Sơn Nhất và bộ tổng tham mưu quân đội Sài Gòn. Để tạo điều kiện thuận lợi cho Sư đoàn 10 thọc sâu đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất và bộ tổng tham mưu quân lực Việt Nam Cộng hòa, Sư đoàn Bộ binh 316, Sư đoàn Bộ binh 320A và Trung đoàn Đặc công 198 phải đánh chiếm hoặc không chế bằng được nhiều mục tiêu quan trọng, đặc biệt là 4 mục tiêu ở Trảng Bàng, Đồng Dù, cầu Bông, cầu Sáng trên Đường số 1 và Đường 15.

Trong hai ngày 25 và 26-4, với sự phối hợp chặt chẽ giữa pháo binh quân đoàn, trên cơ sở tính toán phần tử xạ kích chính xác, hỏa lực pháo binh ta đã chế áp có hiệu quả được một loạt trận địa pháo binh đối phương ở Lào Táo, Phước Hiệp, Suối Sâu, Trà Võ, Bông Tráng, Bến Nương, Bàu Nâu, Cẩm Giáng..., tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị bộ binh tiếp cận căn cứ địch. Được pháo binh chiến dịch chi viện đắc lực, chiều ngày 26-4, Sư đoàn Bộ binh 316 do Đại tá, Sư đoàn trưởng Đàm Văn Ngụy chỉ huy đã mở cuộc tiến công quét sạch một loạt đồn bốt địch dọc Quốc lộ 1, các đoạn từ Phước Mỹ đến gần Trảng Bàng, từ Bàu Nâu đến Trà Võ trên Đường 22, làm chủ Suối Ao, Trung Hàng, khống chế các trung đoàn thuộc sư đoàn bộ binh 25 địch ở Gò Dầu, Trảng Bàng, không cho chúng rút chạy về Đồng Dù, Củ Chi.

Khi Quân đoàn 3 tiến công trên hướng Tây Bắc, Quân đoàn 1 đảm nhiệm hướng Bắc của chiến dịch cũng sử dụng một bộ phận lực lượng đánh chiếm các mục tiêu được phân công.

Hòa cùng 4 hướng tiến công của chiến dịch, ngày 26-4, Bộ tư lệnh Đoàn 232 sử dụng Sư đoàn Bộ binh 5, Sư đoàn Bộ binh 8 (Quân khu 8) được tăng cường Tiểu đoàn Công binh 341 và lực lượng vũ trang địa phương, tiến công một loạt vị trí do sư đoàn 22 địch chốt giữ dọc hai con sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây tỉnh Long An. Sư đoàn 5 do Sư đoàn trưởng Nam Thược chỉ huy, tập trung toàn bộ lực lượng đánh chiếm huyện lỵ Thủ Thừa và thị xã Tân An. Sư đoàn 8 táo bạo luồn sâu, được lực lượng vũ trang địa phương hỗ trợ, bất ngờ tiến công giải phóng thành phố Mỹ Tho. Việc Sư đoàn 5 và Sư đoàn 8 (Quân khu 8) làm chủ được các mục tiêu trọng yếu trên đây do sư đoàn 22 địch chốt giữ đã cắt đứt hoàn toàn đường quốc lộ số 4, cô lập Sài Gòn với đồng bằng sông Cửu Long.

 

 TRƯỜNG TỒN

 

Chiêu bài tiến công về lý luận tư tưởng

 


Chủ động tích cực các biện pháp giáo dục chủ nghĩa Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa yêu nước Việt Nam chân chính cho thế hệ trẻ, nhất là trí thức trẻ nhằm nâng cao khả năng miễn dịch trước sự xâm nhập của các thứ tư tưởng và văn hóa xấu độc từ bên ngoài vào.

Đây là giải pháp giữ vị trí quan trọng hàng đầu và có tầm chiến lược, bởi vì, trận địa chính trị tư tưởng đứng ở vị trí hàng đầu trong cuộc đấu tranh giai cấp đang diễn ra hết sức quyết liệt, trong thế giới hiện đại. Các thế lực thù địch, ý thức rất rõ điều này và chúng tiến hành cuộc tiến công về lý luận tư tưởng hết sức bài bản và quyết liệt, không hề khoan nhượng trên mọi phương tiện thông tin đại chúng, mọi lúc, mọi nơi và mọi cấp độ chính trị, xã hội. Trí thức trẻ là điểm ngắm được các thế lực thù địch tính toán rất kỹ lưỡng và tiến hành có hiệu quả, như đã được phân tích ở trên. Thực hiện tốt giải pháp này nguyên khí của quốc gia, dân tộc cả ở hiện tại và tương lai sẽ được bảo vệ và phát huy lên một tầm cao mới. Nếu không tạo được khả năng miễn dịch cho thế hệ trẻ, đặc biệt là trí thức trẻ thì hậu quả thật khó lường.

Tăng cường các biện pháp vĩ mô và vi mô nhằm phát huy cao độ vai trò của đội ngũ trí thức nhất là trí thức trẻ nhằm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Bởi vì, sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đang đứng trước những thời cơ mới, nhưng cũng không.ít thách thức đang đặt ra phía trước, trong đó có nguy cơ tụt hậu. Con đường ngắn nhất và nhanh nhất để tránh tụt hậu về kinh tế, chính trị, xã hội và cả về quân sự, đó là phải biết phát huy cao độ trí thông minh, sáng tạo của người Việt Nam. Chính sự thông minh và sáng tạo đã giúp cho dân tộc ta trường tôn, để rồi làm nên chiến thắng huy hoàng và vượt qua khủng hoảng kinh tế trở thành huyền thoại của lịch sử nhân loại trong thế kỷ XX, đang được viết tiếp trong thập niên đầu của Thế kỷ XXI. Hội nghị Trung ương 7 khóa X, Đảng ta khẳng định: “Đội ngũ trí thức đã đóng góp tích cực vào xây dựng những luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, góp phần làm sáng tỏ con đường phát triển của đất nước và giải đáp những vấn đề mới phát sinh trong sự nghiệp đôi mới, trực tiếp đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao dân trí và bồi dưỡng nhân tài, sáng tạo những công trình có giá trị về tư tưởng và nghệ thuật, nhiều sản phẩm chất lượng cao, có sức cạnh tranh; từng bước nâng cao trình độ khoa học và công nghệ của đất nước vươn lên tiếp cận với trình độ của khu vực và thế giới. Cùng với sự phát triển của đất nước, đội ngũ trí thức đã tăng nhanh về số lượng, nâng lên về chất lượng; góp phần trực tiếp cùng toàn dân đưa nước ta rạ khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, từng bước xóa đói, giảm nghèo, phát triển đất nước, nâng cao chất lượng cuộc sống. Nhiều trí thức trẻ thể hiện tính năng động, sáng tạo thích ứng nhanh với kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Đa số trí thức Việt Nam ở nước ngoài luôn hướng vê Tổ quốc; nhiều người đã về nước làm việc, hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau, có những đóng góp thiết thực vào sự nghiệp phát triển đất nước”.

Đào tạo và sử dụng có hiệu quả đội ngũ trí.thức, nhất là đội ngũ trí thức trẻ phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thực hiện giải pháp này, đòi hỏi Đảng và Nhà nước cần có các biện pháp và chủ trương chính sách về đào tạo và sử dụng đội ngũ trí thức một cách khoa học và hợp lý nhất cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cụ thể là: Xã hội hóa công tác đào tạo và sử dụng đội ngũ trí thức, nhất là trí thức trẻ, làm tốt biện pháp này, tránh được lãng phí đội ngũ trí thức giảm được chi phí đào tạo từ ngân sách và đa dạng hóa trí thức, sớm ban hành các chính sách thu hút và sử dụng người tài vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội: Tuân thù triệt để nguyên tắc vì việc mà tìm người, không nên vì người mà bố trí việc. Kiên quyết không để tình trạng người thực tài bị vùi dập còn kẻ bất tài trở thành “vĩ nhân” , bởi những hiện trạng này nếu để kéo dài thì không thể giáo dục, thuyết phục thế hệ trẻ, đặc biệt là trí thức trẻ./.

TRƯỜNG TỒN