Thứ Tư, 6 tháng 4, 2022

Tổng bí thư: Phải chống các biểu hiện dân túy, mị dân

 

Tổng bí thư: Phải chống các biểu hiện dân túy, mị dân

Chủ quan, tự mãn, say sưa với thắng lợi trước đó thì rất dễ bị vấp váp, bị tụt hậu, thậm chí đi đến sai lầm.

Ngày 6-4, theo TTXVN, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã thăm và làm việc về tình hình, kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XV nhiệm kỳ 2020-2025 tại tỉnh Quảng Ninh.

Không để xảy sai lầm khi bứt tốc phát triển

Sau khi nghe ý kiến của đại diện các ban ngành, địa phương, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng biểu dương sự cố gắng, nỗ lực phấn đấu và những kết quả, thành tựu mà Đảng bộ, chính quyền, nhân dân Quảng Ninh đã đạt được trong thời gian qua. Quảng Ninh trở thành một trong những tỉnh tiêu biểu, đi đầu cả nước trên nhiều lĩnh vực, trở thành một điểm sáng về đổi mới của vùng đồng bằng Bắc bộ, một cực tăng trưởng ở khu vực phía Bắc.

Nhấn mạnh năm 2022 và những năm tới, dự báo tình hình thế giới và khu vực sẽ còn có những diễn biến phức tạp, khó lường, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng lưu ý: “Chúng ta tuyệt đối không được chủ quan, mất cảnh giác; sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới cũng đang đặt ra những yêu cầu mới, cao hơn”.

Tổng bí thư mong muốn Quảng Ninh phát triển mạnh mẽ hơn nữa, toàn diện hơn nữa… nhưng phải bền vững; tránh tư tưởng chủ quan, thỏa mãn, nhất là với một tỉnh có tốc độ phát triển bứt phá như Quảng Ninh.

“Thực tế cho thấy mâu thuẫn này được giải quyết thì mâu thuẫn mới lại nảy sinh, nhiều khi phức tạp hơn, khó giải quyết hơn; nếu chủ quan, tự mãn, say sưa với thắng lợi, không thấy hết những khó khăn ở phía trước thì rất dễ bị vấp váp, bị tụt hậu, thậm chí đi đến sai lầm” - Tổng bí thư nhấn mạnh.

Tổng bí thư hoan nghênh Quảng Ninh vừa qua đã có những đột phá, sáng tạo trong việc thực hiện các chủ trương của Đảng; thực hiện tinh gọn bộ máy, kiêm nhiệm các chức danh phù hợp với chủ trương, định hướng của trung ương.

Tuy nhiên, tỉnh phải rất chú ý việc kiểm soát quyền lực, tăng cường kiểm tra, giám sát, tránh để lạm quyền, lộng quyền; phòng ngừa tình trạng cán bộ vấp ngã, sai lầm. “Thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, chính quyền với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị; lấy sự hài lòng của nhân dân làm thước đo đánh giá hiệu quả hoạt động của cấp ủy, chính quyền các cấp; đồng thời phải chống các biểu hiện dân túy, dân chủ hình thức, mị dân” - Tổng bí thư nói.

Xuất hiện đội ngũ công nhân mới

Tổng bí thư nhấn mạnh kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, chăm lo các vấn đề xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo đảm an sinh xã hội, đặc biệt là đối với người có công, đồng bào dân tộc thiểu số ở miền núi, biên giới, hải đảo, người có thu nhập thấp; bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa, bảo vệ môi trường sinh thái.

“Đây là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng, có vai trò trực tiếp bảo đảm thành công cho chuyển đổi phương thức phát triển từ “nâu” sang “xanh” gắn với chiến lược, chương trình hành động cụ thể. Tổ chức lại không gian phát triển, kiến tạo hành lang phát triển mới gắn với lộ trình chuyển đổi nhiều vùng từ khai thác than sang phát triển du lịch - dịch vụ. Không chỉ đào tạo nguồn nhân lực mà còn phải đổi mới công tác giáo dục từ tư duy, nếp nghĩ, lối sống, nếp sinh hoạt, ý thức chấp hành pháp luật của mọi người dân” - Tổng bí thư nhấn mạnh.

Trước định hướng phát triển kinh tế của Quảng Ninh từ “nâu” sang “xanh”, Tổng bí thư nói: Với đặc thù và tự hào công nhân vùng mỏ đã hình thành hàng trăm năm thì nay tại các khu công nghiệp, dịch vụ mới rất sôi động của Quảng Ninh đã và đang hình thành đội ngũ công nhân mới rất đông đảo.

“Đảng bộ, chính quyền cần chăm lo xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh, thực sự là lực lượng tiên phong trong công cuộc đổi mới và phát triển của Quảng Ninh” - Tổng bí thư nói.

Trong chuyến thăm, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đến dâng hương tưởng niệm đức vua - Phật hoàng Trần Nhân Tông tại Khu di tích lịch sử và danh thắng Yên Tử (TP Uông Bí, Quảng Ninh) và trồng cây lưu niệm tại đây.

Phát triển kinh tế gắn với củng cố biên giới, biển, đảo

Theo Tổng bí thư, các đô thị ở Quảng Ninh đang có tốc độ tăng trưởng nhanh, bên cạnh đó vẫn còn khu vực nông thôn rộng lớn, đồng bào các dân tộc thiểu số, cư dân hải đảo... Vì vậy trong chiến lược phát triển của tỉnh, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cho rằng Quảng Ninh cần hết sức chú trọng xây dựng nông thôn mới, đầu tư phát triển nền nông nghiệp sinh thái xanh - sạch, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh, làm cơ sở cho sự phát triển bền vững.

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu tỉnh Quảng Ninh cần đặc biệt chăm lo xây dựng, củng cố khu vực phòng thủ vững chắc về quốc phòng, an ninh, phòng tuyến hợp tác, cạnh tranh kinh tế quốc tế; giữ vững chủ quyền an ninh biên giới trên đất liền, trên biển, đảo; nắm và dự báo đúng tình hình, không để xảy ra bị động, bất ngờ. Cùng với đó, kịp thời phát hiện và xử lý có hiệu quả mọi tình huống; bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định, hợp tác và phát triển; mở rộng quan hệ hợp tác và nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế.

KIÊN ĐỊNH ĐỔI MỚI NHƯNG KHÔNG THAY ĐỔI BẢN CHẤT CHẾ ĐỘ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

     Sau hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nước ta không chỉ đạt được những thành tựu to lớn mà còn tiếp tục đẩy mạnh với những nguồn lực phong phú và hết sức to lớn, trong đó có những nguồn lực không bao giờ cạn.

Trước hết, cần khẳng định bản chất và nhiệm vụ của công cuộc đổi mới. Đổi mới là một cuộc vận động mang tính cách mạng không ngừng để thay cái cũ bằng cái mới tốt hơn. Đổi mới vừa là sự thay thế cái cũ, vừa là sự chọn lựa cái cũ, cái hiện đang còn tác dụng để cải biến cho nó trở nên thích dụng hơn. Đổi mới có thể coi là một sự phủ định biện chứng: Không bao giờ phủ định sạch trơn và không bao giờ quay lại cái cũ. Đổi mới đồng bộ, hài hòa giữa kinh tế và chính trị với mục tiêu giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

 Có người khuyên Việt Nam: “Muốn phát triển thì cần tư nhân hóa nhanh hơn, hội nhập thương mại nhanh hơn, phá giá đồng tiền mạnh hơn”. Lời khuyên đó dẫu có chân thành thì chúng ta cũng không thể làm như thế. Bởi vì, hơn ai hết, chúng ta hiểu rõ tình hình thực tế của đất nước mình và chúng ta thực hiện đổi mới nhưng có nguyên tắc, đổi mới nhưng không thay đổi bản chất chế độ xã hội. Đổi mới là thực hiện bước chuyển từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường, nhưng trong khi thực hiện cơ chế thị trường, Nhà nước phải quản lý và điều hành theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục tình trạng thả nổi thị trường; đổi mới để phát triển kinh tế, nhưng sự phát triển đó phải đi đôi với thực hiện công bằng xã hội, khắc phục tình trạng phân hóa giàu-nghèo. Đổi mới có yêu cầu và gắn với mở cửa, hội nhập. Đổi mới có yêu cầu và gắn với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Toàn bộ công cuộc hội nhập-mở cửa, đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước là để thực hiện chiến lược phát triển nhanh và bền vững; là để xây dựng và tăng cường lực lượng sản xuất, củng cố và phát triển quan hệ sản xuất phù hợp; là để nâng tầm đất nước lên trình độ mới, tầm cao mới. Vậy nên đổi mới chính là để hướng tới chủ nghĩa xã hội, để hiện thực quá độ lên chủ nghĩa xã hội ngày càng được xác lập rõ ràng hơn.

 Đổi mới và cải cách có cùng nội dung hướng tới cái mới, cái tốt đẹp hơn. Nhưng cải cách thường được hiểu là những hành động nhất định, những cuộc vận động nhất định nhằm những mục tiêu nhất định. Khi những hành động cải cách ấy, những cuộc vận động cải cách ấy đã đạt tới mục tiêu đề ra thì phải có hành động cải cách mới, cuộc vận động cải cách mới. Còn đổi mới, theo cách hiểu của chúng ta, tuy cũng nhằm những mục tiêu nhất định trong những thời kỳ nhất định, song do bản chất và tính tất yếu của nó, lại là một quá trình lâu dài. Đổi mới như một dòng chảy liên tục, vận động liên tục của cả guồng máy xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng, phát động và lãnh đạo, tổ chức thực hiện. Từ Đại hội VII đến đại hội XIII của Đảng đều khẳng định tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới để đưa đất nước đi lên. Lời hiệu triệu đó rất phù hợp với yêu cầu của thực tiễn và ý nguyện của nhân dân./.

TMT 07.4

PHÒNG CHỐNG “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY

 Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, những hành vi tham nhũng, tiêu cực không còn là một khái niệm trừu tượng mà đã biểu hiện rất cụ thể trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cả những người giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, cấp cao. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””. Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 của Đảng cũng nhấn mạnh: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức chưa đầy đủ tính chất, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, nói chưa đi đôi với làm, vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật”..

Để nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả việc ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, tham nhũng, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, Đảng phải “không lơi tay” trong thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp; chủ động, kiên quyết, nghiêm minh hơn nữa, trong đó tập trung vào một số nội dung:

- Tăng cường giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân trong đội ngũ cán bộ, đảng viên.

- Phát huy hơn nữa vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu gắn với đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.  

- Giải quyết tốt mối quan hệ giữa tổ chức và cá nhân trong kiểm tra, giám sát cán bộ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, tham nhũng, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

- Phát huy vai trò của nhân dân trong việc ngăn chặn, đẩy lùi, chủ động phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh với sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên.

- Kịp thời phát hiện, vạch trần mọi âm mưu, luận điệu, hoạt động của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, xuyên tạc, chống phá./.

TMT 06.4

ĐOÀN KẾT - SỨC MẠNH NỘI SINH VÀ BÀI HỌC TỪ LỊCH SỬ

Đối với dân tộc Việt Nam, đoàn kết đã trở thành truyền thống quý báu và giá trị văn hóa cốt lõi; là sức mạnh vô địch trong suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, chiến thắng thiên tai, địch họa, định bờ cõi, xưng nền văn hiến, nêu cao độc lập, tự chủ. Đây là sức mạnh nội sinh có tính chủ đạo xuyên suốt, bền vững của dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định chân lý: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công”. Đó là chân lý về sức mạnh vô địch của đoàn kết và phát triển truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

 Theo Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, đoàn kết là cội nguồn sức mạnh để chiến thắng kẻ thù xâm lược và gốc của đoàn kết là chăm lo, gìn giữ sức dân: “Vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, nước nhà góp sức, giặc tự bị bắt... Vả lại, khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy".

Sức mạnh của nhân dân khi kết thành một khối là sức mạnh vô địch. Đó là chân lý được Nguyễn Trãi khẳng định: “Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân, sức dân như nước”. Tư tưởng này là nền tảng quan trọng hội tụ đại đoàn kết toàn dân của Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đập tan ách đô hộ tàn bạo 20 năm của giặc Minh. Trong "Bình Ngô đại cáo", Nguyễn Trãi viết: “Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới/ Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”.

 Trước đó, đối mặt với giặc Minh xâm lược, nhà Hồ xây thành cao, hào sâu nhưng không xây được khối đoàn kết, thống nhất lực lượng toàn dân nên thất bại là tất yếu. Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng từng nói: “Thần không sợ đánh giặc, chỉ sợ lòng dân không theo mà thôi”.

 Thời kỳ Pháp thuộc, triều đình nhà Nguyễn chia rẽ, không quy tụ được sức mạnh đoàn kết dân tộc; nhiều cuộc khởi nghĩa, phong trào yêu nước nổ ra song thường mang tính đơn lẻ, thiếu ngọn cờ tập hợp lực lượng toàn dân nên đều thất bại. Đất nước ta lại chìm trong đêm trường nô lệ trăm năm thuộc Pháp.

          Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán đường lối chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc, tập hợp và phát huy sức mạnh đoàn kết vô địch của toàn dân. Những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội là thắng lợi của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Bài học lớn chính là mục tiêu, lý tưởng, lợi ích của Đảng luôn thống nhất với mục tiêu, lợi ích của dân tộc, nhân dân và Tổ quốc Việt Nam. Sự đoàn kết trong Đảng là hạt nhân của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

          Thế giới đương đại phản ánh sâu sắc sự cạnh tranh gay gắt, kiềm chế lẫn nhau giữa các cường quốc. Xung đột vũ trang, xung đột sắc tộc, tôn giáo, bất ổn chính trị ở nhiều nơi và hiện tại, tình hình chiến sự tại Ukraine đang diễn biến phức tạp... phản ánh rõ nét sự can dự, cạnh tranh của các nước lớn và sự chia rẽ, mâu thuẫn, phân hóa từ bên trong. Do vậy, phòng chống sự chia rẽ, bảo vệ khối đại đoàn kết toàn dân tộc cũng chính là bảo vệ hòa bình và phát triển bền vững đất nước ta trong “những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo” của thế giới hiện nay./.

TMT 07.4

THÀNH TỰU ĐỔI MỚI LÀ BẰNG CHỨNG THỰC TIỄN SINH ĐỘNG NHẤT

 Sau hơn 35 năm đổi mới, “đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, là nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ, phát triển nhanh và bền vững đất nước"

 Nhìn lại những nét chính yếu của hành trình đổi mới, chúng ta thấy rõ nhận định nêu trên của Đại hội XIII là chính xác. Công cuộc đổi mới đã giải phóng sức sản xuất, củng cố và tăng cường quan hệ sản xuất mới, đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng của một nước có thu nhập thấp; đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể; ổn định chính trị-xã hội được bảo đảm; định hướng xã hội chủ nghĩa được giữ vững; vai trò lãnh đạo của Đảng được tăng cường; quốc phòng, an ninh được củng cố vững chắc; quan hệ hợp tác quốc tế ngày càng được đẩy mạnh thêm

Chính đổi mới đã đưa nước ta từ chỗ thiếu thốn, có khi phải nhập lương thực, nay trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới. Chưa bao giờ nhịp độ phát triển và đổi thay từ nông thôn tới thành thị, từ miền núi đến đồng bằng lại nhanh chóng, mạnh mẽ như hiện nay. Cũng chưa bao giờ phong cách sống và làm việc của mọi gia đình và mọi người dân lại có những nét mới mẻ, tươi tắn như hôm nay. Đổi mới giúp chúng ta vừa kế thừa và phát huy những thành quả tốt đẹp đã đạt được trước đây vừa có cách nghĩ khác trước, nghe khác trước, nhìn khác trước, làm khác trước, phù hợp với tình hình đang phát triển. Đổi mới đã đem đến một sức vóc mới cho đất nước, tiếp sức đôi chân chúng ta đi thêm những bước dài trên con đường hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

 Tuy vậy, trong tiến trình đi lên, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, chúng ta không quên rằng đất nước mình vẫn còn nhiều khó khăn, sự phát triển của nền kinh tế chưa vững chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp, còn nhiều yếu tố chưa bảo đảm tăng trưởng cao và lâu bền, còn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định, mà những nhân tố đó còn có phần tăng thêm. Rõ ràng là phía trước của chúng ta không chỉ có thuận lợi và thời cơ mà còn có những khó khăn và nguy cơ không thể xem thường. Càng như vậy càng phải tiếp tục đổi mới, tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức để đất nước tiếp tục phát triển bền vững./.

TMT 06.4

Thế giới 'ảo' và giới hạn của người dùng

 

            Mấy ngày qua, chuyện 'sống ảo' trên mạng xã hội (MXH) hay việc đưa các video clip trái đạo đức, phạm pháp lên mạng xã hội được dư luận 'hâm nóng' sau khi bà Nguyễn Phương Hằng bị Công an TP Hồ Chí Minh khởi tố, bắt tạm giam về hành vi 'Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân' quy định tại Điều 331 Bộ luật Hình sự.

          Tiếp đó là việc một số người livestream, quay phim đăng trên nền tảng YouTube về hoạt động liên quan đến ông Nguyễn Minh Phúc được biết đến là người giả danh tu sĩ Giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng được dư luận dẫn chứng, coi đó là điển hình cho lối “sống ảo” trên MXH. Theo đó, ông này đã tới Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh rồi tự thuê bộ đồ cử nhân chụp hình đưa lên mạng và tự nhận tốt nghiệp trường này. Mới đây, cơ quan Công an đã mời 5 YouTuber lên làm việc và yêu cầu gỡ bỏ tất cả các video clip này khỏi các trang YouTube.

        Trước đó, trên MXH cũng xuất hiện một clip gây phản cảm ghi lại cảnh một nam thanh niên mang áo vest, đầu đội nón đen, ngồi sau xe bán tải liên tục rải nhiều cọc tiền mệnh giá 100 ngàn đồng, 200 ngàn đồng và 500 ngàn đồng xuống đường nhựa trong một khu đất nông nghiệp ở thị trấn Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu với ngụ ý “muốn giàu thì phải nuôi đất, nuôi thì phải cho đất ăn tiền”…

          Có thể thấy, những vụ việc đầy phản cảm kể trên có vẻ ngày càng nở rộ với sự tiếp tay của một bộ phận người vô ý cũng như cả cố ý khi lối “sống ảo” trên MXH đang có phần bị thả nổi thời gian qua.

          Gần đây, để kiếm tiền, câu view, câu like, nhiều người đã bất chấp đưa những clip trái đạo đức, sai sự thật, quay lén chuyện riêng tư tế nhị của người khác, phạm pháp lên MXH. “Sống ảo” trên mạng, theo nhiều chuyên gia là lối sống, cách sống không giống với hoàn cảnh thực ngoài đời. Thoạt đầu là những màn PR bản thân, khoe nhà, xe, quần áo, nữ trang… với mục đích để người khác thích thú, tặng cho nhiều “like và share”.

          Theo thời gian, người sống ảo bắt đầu đưa lên MXH những việc không thật, không phân biệt được mối liên hệ giữa con người trong đời thật và hình ảnh bản thân tự vẽ ra. Cứ thế, lối “sống ảo” càng lan mạnh, lên ngôi, dần hình thành sự dối trá, giả tạo, háo danh, thích “nổ”, biến bản thân thành người “hai mặt”. Và vì sống theo lối “sống ảo” mà một số người ảo tưởng về sức mạnh bản thân, không kiểm soát được hành vi trong đời sống thực, nguy hại hơn nữa là đánh mất nhân cách, vi phạm pháp luật.

          Thực tế, ngoài những vụ việc nổi bật kể trên, hiện nay trên các MXH, không khó để thấy có rất nhiều blogger, streamer, vlogger sử dụng các nền tảng khác nhau để phát tán những thông tin sai lệch, bịa đặt lên MXH để thu hút người theo dõi nhằm trục lợi cá nhân.

          Thời gian qua, Công an các tỉnh thành trên cả nước đã điều tra, làm rõ nhiều vụ việc liên quan tới hành vi đăng tải, chia sẻ các thông tin sai sự thật trên MXH. Thông tin sai lệch do những đối tượng “sống ảo” đưa lên MXH đã nhận được chia sẻ, bình luận của không ít người khác khiến công chúng hiểu sai bản chất vụ việc, bình luận chửi bới, xúc phạm lực lượng chức năng. Chỉ đến khi được cơ quan chức năng mời làm việc, chứng minh, phân tích đúng sai, những đối tượng “sống ảo” mới thừa nhận thông tin mình đưa ra là không đúng sự thật, “cốt chỉ để câu view”, thừa nhận hành vi vi phạm, xóa bỏ các bài viết đã đăng tải và cam kết không tái phạm.

          Theo Công an quận 12, TP Hồ Chí Minh, cùng với những lợi ích được người sử dụng khai thác, thì MXH cũng có những mặt trái của nó, mà mỗi người chúng ta cần phải cẩn trọng để chọn lọc, sử dụng MXH một cách thông minh để không bị sa đà chìm đắm trong “môi trường ảo”, mà quên đi đời sống thực, thậm chí vi phạm pháp luật.

          Người sử dụng MXH phải luôn có ý thức thận trọng, tỉnh táo, nhận thức được trách nhiệm của cá nhân trước khi đưa bất kỳ thông tin gì lên MXH. Trách nhiệm ở đây là nghiêm túc tuân thủ quy định của luật pháp, đặc biệt là các Luật An ninh mạng và Nghị định 72 của Chính phủ về xử lý vi phạm trên môi trường mạng. Không đăng tải thông tin sai trái, bịa đặt, nhất là thông tin gây hại cho người khác, vi phạm quyền nhân thân, uy tín của tổ chức, cá nhân. Những thông tin dự định đưa lên mạng phải chân thật, khách quan…

          Đồng thời, người sử dụng MXH cần lựa chọn đối tượng kết bạn phù hợp; Không click (nhấp chuột), like (thích), share (chia sẻ) những thông tin độc hại, không rõ nguồn gốc thông tin, vì chính điều này có thể dẫn người sử dụng MXH vướng vào những rắc rối không đáng có như click vào tin độc hại có thể người sử dụng bị lấy cắp thông tin cá nhân phục vụ cho các ý đồ phạm tội hoặc làm “bay mất” tài khoản Facebook…

          Nếu “like, share” hoặc đăng tải những thông tin phản động, những thông tin không đúng sự thật, những thông tin quảng cáo, giới thiệu các hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ không phù hợp quy định của pháp luật, trái với thuần phong, mỹ tục, lối sống văn minh, tiến bộ; những thông tin cá nhân, riêng tư, xúc phạm danh dự nhân phẩm của người khác (kể cả là vô ý, vì có nhiều thông tin có vỏ bọc gắn với những chi tiết, sự kiện, cá nhân có thật nên người xem có thể dễ dàng tin theo mà không nhận ra các ẩn ý bên trong hoặc không nhận thức được những nội dung xuyên tạc, bóp méo trong đó… ) thì cũng bị pháp luật xử lý.

          Cơ quan Công an khuyến cáo người dùng MXH cần phải tự kiểm chứng nguồn gốc của thông tin để tránh bị kẻ xấu lợi dụng dẫn đến bản thân vi phạm pháp luật mà không biết. Có tinh thần trách nhiệm trong việc chia sẻ thông tin trên mạng xã hội. Có như vậy, MXH mới thực sự trở thành công cụ đắc lực để lan tỏa những điều tốt đẹp trong không gian mạng và trong cuộc sống.

NHỮNG KẺ A DUA, HOANG TƯỞNG VỀ CHÍNH TRỊ

 

Đây là những người bất mãn trong cuộc sống, những người nhẹ dạ cả tin, suy thoái về đạo đức, lối sống, công thần, ngạo mạn, chỉ coi mình là trên hết, coi thường lãnh tụ, coi thường tổ chức, theo thuyết âm mưu. Họ là những người vô tình, hay cố ý tán phát quan điểm sai trái, thù địch hoặc tung tin sai sự thật, suy luận vô căn cứ. Những quan điểm này tuy không có sức công phá mạnh nhưng có thể làm rối loạn xã hội, mất ổn định về tư tưởng chính trị.

Những quan điểm của họ thường không chặt chẽ, nhiều sơ hở, cộng với những hạn chế về đạo đức, lối sống nên chúng ta có thể sử dụng các biện pháp tuyên truyền, giáo dục để cảm hóa, thuyết phục kết hợp các biện pháp quản lý hành chính, kỷ luật và công tác kiểm tra, giám sát./.

TMT 07.4

Để mãi là hình tượng đẹp, biểu trưng văn hóa của dân tộc

 

Để tiếp tục gìn giữ, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong điều kiện mới, một mặt, chúng ta phải tích cực nhận diện, đấu tranh không khoan nhượng với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực phản động, chống phá; mặt khác, phải thường xuyên giáo dục tinh thần tự giác học tập và tổ chức rèn luyện để mỗi cán bộ, chiến sĩ đề cao trách nhiệm, tự giác tu dưỡng, làm cho phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ mãi trở thành hình tượng đẹp-biểu trưng văn hóa của dân tộc Việt Nam.

KẺ THÙ CỦA CÁCH MẠNG

 

Chiến thắng của cách mạng đồng thời cũng tạo ra những kẻ thù của cách mạng. Họ là những kẻ đã thất bại trong các cuộc kháng chiến. Sự thất bại luôn đi cùng với mất mát, thiệt hại về sinh mạng, quyền lực chính trị, tinh thần và của cải nên họ rất khó xóa bỏ được tư tưởng thù hận, tham vọng khôi phục những quyền lợi đã mất. Vì vậy, lực lượng này đương nhiên sẽ rất hậm hực khi chứng kiến những thành tựu của công cuộc đổi mới và rất hả hê khi chúng ta gặp khó khăn, thất bại. Mặc dù kẻ thù giai cấp luôn tận dụng, cấu kết với kẻ thù cách mạng để chống phá, nhưng nhìn chung, các quan điểm sai trái, thù địch của lực lượng này thường không sâu sắc, bài bản, hệ thống như kẻ thù giai cấp. Quan điểm chống phá của họ thường nặng về cảm xúc, dễ thay đổi và tính thuyết phục không cao. Lớp người thù hận cũng sẽ dần dần ít đi vì tuổi tác. Tuy nhiên, phần lớn trong số họ là người Việt nên nắm được tâm lý, tâm linh, văn hóa của người Việt Nam. Các quan điểm sai trái, thù địch của họ dễ thông qua con đường tình cảm gia đình, dòng họ để thẩm thấu vào Việt Nam.

Nếu chúng ta biết được nguồn gốc, lịch sử của họ, chúng ta sẽ chỉ cho cán bộ, đảng viên, quần chúng biết họ là ai và lý do vì sao họ lại có quan điểm như vậy, đồng thời chúng ta có thể cảm hóa, lôi kéo họ trở về với dân tộc, đóng góp cho đất nước./.

TMT 07.4

VỮNG TIN VÀ TIẾP BƯỚC CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

          Chúng ta biết, những năm đầu thế kỷ XX, Đảng ta và Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể, tìm ra con đường cách mạng đúng đắn cho dân tộc, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối. Vì thế, ngay khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930), trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã xác định đường lối chiến lược cơ bản của cách mạng Việt Nam là, làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản. Đây là một định hướng chính trị hết sức quan trọng, phương châm hành động để Đảng ta lãnh đạo nhân dân trong tiến trình cách mạng. Để đường lối đó trở thành hiện thực, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã không quản gian khổ, hy sinh đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, thu giang sơn về một mối, thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

          Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới. Như vậy, dù trong điều kiện, hoàn cảnh nào, Đảng và Nhân dân ta dứt khoát lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Đó là sự nghiên cứu, vận dụng trung thành, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội vào điều kiện cụ thể cách mạng Việt Nam.

          Từ ngày ra đời đến nay, nhất là qua 36 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 31 năm thực hiện cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, mặc dù các thế lực thù địch ra sức công kích chủ nghĩa xã hội, khuyếch trương cho cái gọi là “lối sống tốt đẹp của phương Tây”, đòi “đa nguyên, đa đảng”, song Đảng và Nhân dân ta vẫn kiên định con đường, mục tiêu đã lựa chọn với quyết tâm chính trị cao; lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Sự nghiệp đổi mới được tiến hành toàn diện cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả bằng những quan niệm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội, với những hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp. Quan điểm lấy “dân làm gốc” và phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” luôn được quán triệt sâu sắc; công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị được chú trọng; công tác cán bộ thực sự là “then chốt của then chốt”. Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực chuyển biến mạnh mẽ, đạt kết quả nổi bật, ngày càng đi vào chiều sâu, “xây” đi liền “chống”. Thể chế phát triển được ưu tiên xây dựng đồng bộ, bảo đảm hài hòa giữa kiên định và đổi mới, kế thừa và phát triển; giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, văn hóa, xã hội; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, con người, giải quyết hài hòa các vấn đề xã hội; quốc phòng - an ninh luôn được củng cố, tăng cường; quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và hiệu quả, v.v. Đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện; chế độ an sinh, công bằng xã hội được thực hiện hài hòa với quá trình phát triển; thế và lực của đất nước, sức mạnh tổng hợp, uy tín của quốc gia không ngừng được nâng cao trên trường quốc tế.

          Trước những diễn biến phức tạp của đại dịch Covid-19, với quan điểm lấy người dân làm trung tâm, cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của Chính phủ đã mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần dập tắt những điểm nóng, kiềm chế sự lây lan của dịch bệnh, đưa mọi hoạt động của xã hội trở lại trạng thái bình thường mới. Điều đó, đã thể hiện rõ bản chất ưu việt của chế độ, được nhân dân tin tưởng, ủng hộ, cộng đồng quốc tế, Tổ chức Y tế thế giới và các tổ chức quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Hình ảnh đất nước Việt Nam nhân văn, bản lĩnh, có trách nhiệm với nhân dân và cộng đồng quốc tế lan tỏa sâu rộng.

          Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đã tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; bản chất ưu việt của chủ nghĩa xã hội ngày càng được thể hiện sinh động, rõ nét trên đất nước Việt Nam. Cả về lý luận và thực tiễn đã minh chứng sự lựa chọn đó là hoàn toàn đúng đắn chứ đâu phải theo một học thuyết “lạc đường” như các thế lực thù địch đang công kích. Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng trong chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vững bước trên con đường đi lên xã hội chủ nghĩa./.

 

 

“VỀ LÃNH ĐẠO, CÁN BỘ PHẢI THẬT SỰ ĐOÀN KẾT, NHẤT TRÍ, PHẢI ĐI SÂU ĐI SÁT, PHẢI LÃNH ĐẠO THIẾT THỰC VÀ TOÀN DIỆN”

 

          Lời huấn thị trên được trích trong thông báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nội dung đợt chỉnh huấn cho toàn Đảng, toàn dân, do Trung ương phát động, khi Người về thăm và nói chuyện với đồng bào, cán bộ tỉnh Bắc Giang ngày 6-4-1961.

          Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn yêu cầu đội ngũ cán bộ phải đề cao và thực hành đoàn kết, nhất trí, giữ gìn sự đoàn kết, nhất trí như giữ gìn con ngươi của mắt mình, phải rèn luyện phong cách lãnh đạo sâu sát, tỉ mỉ, gắn bó với cơ sở, gần dân, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, phải thiết thực và toàn diện, tránh phô trương, hình thức. Theo Bác, sau khi nghị quyết được ban hành, phải tổ chức tốt việc thực hiện nghị quyết, để nghị quyết đi vào cuộc sống. Muốn vậy, đòi hỏi người cán bộ phải sâu sát, tỉ mỉ, phải “đi tận nơi, xem tận chỗ”.

          Thực hiện lời Bác dạy, Đảng ta luôn nhận thức sâu sắc ý nghĩa to lớn của việc xây dựng, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, xem đây là vấn đề quan trọng hàng đầu, là nhiệm vụ sống còn của Đảng, của dân tộc. Đặc biệt, trong thời kỳ mới, Đảng luôn quan tâm lãnh đạo công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất; kiên quyết chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

          Sự nghiệp đổi mới đất nước đã thu được kết quả rất quan trọng, tiếp tục nâng cao vị thế, khẳng định năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Đại bộ phận cán bộ, đảng viên của Đảng đã luôn giữ gìn sự đoàn kết nhất trí, phấn đấu hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Tuy nhiên, cũng còn một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng…

          Để tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, giữ gìn sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng, kiên quyết đấu tranh, khắc phục những hạn chế, yếu kém, mỗi cán bộ, đảng viên trong Đảng nói chung, trong Đảng bộ Quân đội nói riêng, luôn gương mẫu đi đầu thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, hiệu quả, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của địa phương, đơn vị, chức trách, nhiệm vụ được giao. Cán bộ, đảng viên phải có tác phong dân chủ, quần chúng, sâu sát, gần gũi, chân thành lắng nghe tâm tư, nguyện vọng và thành tâm tiếp thu sự phê bình của quần chúng, luôn đề cao tự phê bình và phê bình.

50 NĂM BỨC ẢNH"EM BÉ NAPALM" CỦA NICK ÚT!

     Trở về Việt Nam những ngày đầu tháng 4-2022, nhiếp ảnh gia Nick Út không khỏi bồi hồi xúc động, nhớ lại khoảnh khắc chụp bức ảnh "Em bé Napalm" ngày 6-8-1972, tại Trảng Bàng, Tây Ninh trong cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Việt Nam.

Đến nay, đã tròn 50 năm bức ảnh "Em bé Napalm"- tác phẩm đã làm quặn đau trái tim bao người dân Việt Nam và thế giới bởi chiến tranh đã để lại đau thương cho đồng bào Việt Nam.

Bức ảnh ghi lại khoảnh khắc cô bé Phan Thị Kim Phúc khi đó mới 9 tuổi, hoảng loạn bỏ chạy cùng một số đứa trẻ khác bởi bị trúng bom Napalm.

Trả lời phỏng vấn phóng viên Báo Quân đội nhân dân Điện tử, nhiếp ảnh gia Nick Út cho biết: Cô bé Phan Thị Kim Phúc năm xưa giờ đây đã là Đại sứ hòa bình của UNESCO. Người phụ nữ này đã có nhiều hoạt động thiện nguyện, giúp đỡ trẻ em nghèo, bệnh tật trên thế giới.

Giờ đây, chiến tranh đã qua đi nhưng những di chứng của bom đạn hiện vẫn còn trên thân thể nhân vật trong bức ảnh. Những mảng da  bị bỏng ở lưng và cánh tay của chị Phan Thị Kim Phúc đã có nhiều bác sĩ trên thế giới khám và điều trị nhưng không thể chữa khỏi bởi da đã bị cháy khô. Vào những ngày thời tiết thay đổi, nóng quá hoặc lạnh quá thì vết thương chiến tranh năm xưa lại tái phát khiến cho chị vô cùng khó chịu.

“50 năm qua, nhiều lần ngồi một mình nhìn bức ảnh, nước mắt tôi cứ trào ra. Đã từng chứng kiến sự tàn phá khốc liệt và di chứng của chiến tranh, tôi luôn mong ước hòa bình sẽ hiện hữu mãi mãi trên trái đất”, nhiếp ảnh gia Nick Út bày tỏ.

Bức ảnh lịch sử "Cô bé Napalm" của tác giả Nick Út, người Việt Nam đầu tiên trong thế kỷ 20 đã được trao giải ảnh báo chí Pulitzer (Mỹ) năm 1973. Bức ảnh được xếp thứ 41 trong 100 bức ảnh có tầm ảnh hưởng nhất thế kỷ 20 do Đại học Columbia bình chọn./.

Ảnh 1: "Em bé Napalm".
Ảnh2: Nhiếp ảnh gia Nick Út và Phan Thị Kim Phúc hiện nay. 
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU LỊCH SỬ GIÚP BẠN: STALIN VIẾT CHO NGA VÀ UKRAINA HÔM NAY!

         105 trước, 12/1917, Stalin đã từng viết, như tiên đoán những gì đang diễn ra hiện nay:
“Giữa dân tộc Ukraina và dân tộc Nga không có và không thể xảy ra xung đột.

Dân tộc Ukraina và Nga, giống như các dân tộc còn lại của Nga, được tạo nên từ công nhân và nông dân, binh lính và thủy thủ. Tất cả bọn họ đã cùng nhau chiến đấu chống lại Sa hoàng và chính phủ Kerensky, chống lại địa chủ và tư bản, chống lại chiến tranh và chủ nghĩa đế quốc. 

 Họ đã cùng nhau đổ máu vì đất đai và hòa bình, vì tự do và chủ nghĩa xã hội. Trong cuộc chiến chống chủ đất và tư bản, họ là anh em, đồng chí. Trong cuộc đấu tranh vì các lợi ích sát sườn, họ không và không thể có xung đột.

Tất nhiên, kẻ thù của người dân lao động có lợi khi tưởng tượng ra sự xung đột giữa người Nga và người Ukraina, và với sự tưởng tượng đó, dễ nhất là làm cho công nhân và nông dân các dân tộc anh em chống lại nhau trước sự mừng vui của những kẻ áp bức họ. 

Nhưng không có lẽ những người công nhân và nông dân có nhận thức lại không hiểu rằng, những gì có lợi cho chúng lại là điều có hại cho chính dân tộc của họ?” 

(I.V.. Stalin. "Câu trả lời cho các đồng chí Ukraina ở hậu phương và tiền tuyến”(Ответ товарищам украинцам в тылу и на фронте), bài viết ngày 12/12/1917, NXB Chính trị Quốc gia, Moskva, 1947, tập 4, trang 6-14)./.
Yêu nước ST.

ĐÓ LÀ TINH THẦN DÂN TỘC VÀ CHƯA BAO GIỜ DÂN TỘC VIỆT NAM ĐÁNH MẤT ĐI BẢN SẮC RIÊNG CỦA MÌNH CẢ!

         Có một nhà báo Mỹ đã từng hỏi Hồ Chủ tịch: Làm thế nào để Việt Nam có thể duy trì cuộc chiến tranh chống lại người Pháp khi mà Việt Nam không có đủ vũ khí, nhất là vũ khí tối tân, cuộc chiến như vậy là vô vọng? 

Và đây là câu trả lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh:
Không, nó không phải là không có hy vọng... Nhân dân Việt Nam sẽ thắng trong cuộc chiến tranh đó. Bởi vì Việt Nam có một thứ vũ khí cũng mạnh như loại pháo hiện đại nhất, đó là TINH THẦN DÂN TỘC...

Nếu người Mỹ có cái thứ gọi là văn hóa Mỹ thì người Việt Nam chúng tôi, dân tộc Việt Nam chúng tôi cũng có cái gọi là ''Văn hóa dân tộc'' nó được biểu trưng bởi cái gọi là tự hào dân tộc, bởi những truyền thống được truyền lại cả nghìn năm tuổi, những truyền thống mà qua khoảng thời gian gấp mấy chục lần cái thời gian mà nước Mỹ lập quốc đến nay vẫn không bao giờ thay đổi, chính cái đó làm nên sức mạnh của chúng tôi.

Người Mỹ luôn tìm câu trả lời cho câu hỏi của chính mình: ''Vì sao chúng ta thua cuộc chiến ở Việt Nam''. Câu trả lời là vì Mỹ chưa bao giờ hiểu về Việt Nam cả. Thực tế, người Mỹ, người Pháp, thậm chí ngay cả người Trung Quốc chưa bao giờ hiểu được văn hóa tinh thần của chúng ta, và thực tế, họ tự chuốc lấy thất bại vì điều đó.

 Họ chẳng thể lý giải nổi tại sao một dân tộc bị đô hộ suốt 1.000 năm mà không bị đồng hóa, một dân tộc nghèo đói, lạc hậu lại chiến thắng những đất nước được coi là mạnh hàng đầu thế giới. Nhưng câu trả lời thì mỗi người Việt ai cũng biết.

 Phương Tây làm việc rất khoa học, họ tin tuyệt đối vào những con số và phân tích, điều đó cũng có những ưu điểm của nó, nhưng họ quên mất một điều, điều quyết định nhất không nằm ở con số mà nằm ở con người. Nếu phân tích và nghiên cứu của phương Tây luôn đúng thì Mỹ sẽ không bao giờ thua ở cuộc chiến tại Việt Nam. 

Văn hóa Việt Nam có thể sẽ thay đổi cho hợp thời thế, sẽ có những thứ mất đi, những thứ thêm vào, như tập tục ăn trầu dần biến mất, và trà đá lại thành một nét văn hóa, tuy nhiên, cái cốt lõi để giúp dân tộc Việt Nam tồn tại trong suốt mấy nghìn năm qua sẽ không biến mất, CHƯA BAO GIỜ, CHƯA BAO GIỜ DÂN TỘC VIỆT NAM ĐÁNH MẤT ĐI BẢN SẮC RIÊNG CỦA MÌNH CẢ.

Sự kiện Bánh Mỳ, và vụ việc phân biệt chủng tộc tại Mỹ với người Việt là ví dụ điển hình, không ai, không một ai có thể chà đạp lên văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên còn nhiều điều mình còn tiếc nuối với văn hóa, văn vật, cổ vật dân tộc mà mình sẽ đề cập ở 1 bài khác...

Mình cũng chẳng thích văn vẻ nhiều hoặc dùng những câu từ giống trong sách giáo khoa hay giáo dục về lòng yêu nước làm gì cả, xin khép lại bài viết bằng 1 câu nói KINH ĐIỂN của Bác như sau:

"Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của dân tộc ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ Quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”./.
Yêu nước ST.

44 NĂM TRƯỚC, CÓ MỘT CUỘC THẢM SÁT 3.157 DÂN THƯỜNG BỊ THẾ GIỚI THỜ Ơ VÀ LÃNG QUÊN...!

         Ba Chúc, nỗi đau này của đất nước và nhân dân Việt Nam: Liên Hiệp Quốc ở đâu? Luật pháp quốc tế ở đâu? Công lý ở đâu? Tòa án Quốc tế ư? Nhân quyền ư ? Những kẻ hay nói đạo lý, rao giảng lương tâm ở đâu?...

Mấy ngày nay, chính trường thế giới dậy sóng về thảm sát Bucha (Ukraine) khiến khoảng 300 người dân thiệt mạng. Đây là một cuộc thảm sát gây tranh cãi về tính xác thực khi các bên đổ lỗi cho nhau. Mặc dù chưa vào cuộc điều tra và cho ra kết quả cuối cùng, phương Tây đã vội đã đưa ra các lệnh trừng phạt mới nhắm vào Nga trên các phương diện kinh tế, chính trị, quân sự và xã hội.

Vào giữa tháng 4 ở 44 năm trước (04/1978) đã diễn thảm sát Ba Chúc - một trong những cuộc thảm sát tập trung lớn nhất thế giới hậu chiến tranh Việt Nam. Thảm sát đã cướp đi tính mạng của hơn 3000 người, tức là gấp 10 lần thảm sát Bucha (nếu thảm sát Bucha có thật).

Đó cuộc thảm sát tập trung tàn bạo nhất tại miền Nam Việt Nam do chế độ Khmer Đỏ gây ra. Nhưng vẫn chỉ là một góc của những gì Khmer Đỏ đã gây ra cho dân thường Việt Nam. Từ 1975 đến 1978, hơn 30 ngàn người Việt ở vùng biên giới đã bị kết thúc cuộc đời một cách dã man, chưa kể hàng chục ngàn người Việt sinh sống tại Campuchia. Vậy, thế giới hay nói đúng hơn là phương Tây có lên án thảm sát Ba Chúc hay những tội ác mà Khmer Đỏ đã gây ra cho người dân Việt Nam? Điều đáng buồn là gói gọn trong ba chữ “không gì cả”.

Vụ việc Ba Chúc đáng nhẽ có thể được đưa ra trước Đại hội đồng Liên Hợp Quốc nhưng lại bị Trung Quốc và Hoa Kỳ ngăn cản. Một số lý do được đưa ra là các bằng chứng của Việt Nam không thực sự thuyết phục, có thể là ngụy tạo, hoặc được lấy từ cuộc chiến Việt Nam trước năm 1975. Phần lớn các quốc gia phương Tây không phản bác thông tin từ Ba Chúc nhưng họ cho rằng Việt Nam “không nên làm phức tạp hóa tình hình” và đánh giá các thông tin về một cuộc thảm sát Ba Chúc có thể “không có thật vì không có một bên thứ ba ghi nhận”. 

Chình vì thái độ có phần dửng dưng này của LHQ, một loạt các vụ việc Thiện Ngôn, Xa Mát, Lò Gò, Thiện Hưng, Hưng Phước… cướp đi tính mạng của hàng ngàn dân Việt Nam vô tội.

Trong cuộc họp Đại hội đồng LHQ diễn ra vào 09/1979, Liên Hợp Quốc thừa nhận một số thành tích tồi tệ về nhân quyền ở Campuchia nhưng từ chối chọn lọc các bằng chứng của phía Việt Nam về các vụ thảm sát Khmer Đỏ - trong đó có thảm sát Ba Chúc. Các quốc gia trong cuộc họp ấy cũng lên án Việt Nam xâm lược Campuchia một cách rất gay gắt. 

Rất nhiều năm sau, Ba Chúc mới được nhìn nhận một cách đúng đắn rằng đây là một cuộc thảm sát có thật, không phải ngụy tạo, càng không phải là một cái cớ được Việt Nam dọn sẵn để đưa quân tiến đánh Khmer Đỏ.

Bộ Quốc phòng Úc ghi lại rằng vào 18/04/1978, Khmer Đỏ đánh phủ đầu bằng cuộc tấn công vào vùng biên giới Việt Nam trong đó có thị trấn Ba Chúc. Khmer đã tận diệt khoảng 3155 người, chỉ còn duy nhất 2 người còn sống. Sau những tội ác gây ra với người Việt và Campuchia, Khmer Đỏ vẫn giữ ghế tại LHQ cho đến năm 1993 vì hành động của thế giới là không đủ lớn và quyết liệt.

Andrew Mertha, nhà nghiên cứu thuộc ĐH Cornell Hoa Kỳ cho biết trong cuốn “Brothers in Arms: Chinese Aid to the Khmer Rouge, 1975-1979” rằng cuộc chiến Việt Nam - Khmer sẽ không diễn ra và hàng triệu người Campuchia có thể sẽ còn sống nếu như phương Tây hành động nhanh, mạnh hơn. Mãi vào cuối những năm 80 của thế kỷ trước, phương Tây mới nhận ra những sự kiện ở Ba Chúc, Choeung Ek… là có thật, chứ không phải ngụy tạo, bịa đặt như họ đã từng khẳng định.

Nhà nghiên cứu thuộc ĐH Michigan John D. Ciorciari cho biết Trung Quốc và các đối tác (phương Tây) đã làm ngơ cho các đợt thanh trừng 100 ngàn dân ở miền Đông Campuchia và miền Tây Việt Nam nhất là trong giai đoạn Xuân 1978.

Biên niên sử Liên Hợp Quốc ghi rằng quân đội Việt Nam cùng với những người nổi dậy Campuchia đã lật đổ chế độ diệt chủng, chấm dứt cơn ác mộng của người dân Campuchia. Nhưng Khmer Đỏ vẫn tồn tại ở Liên Hợp Quốc bất chấp những tội ác được gây ra với người dân Campuchia và Việt Nam, lý do cho sự việc này nằm ở những hành động ngoại giao đã cản trở các tiến trình bàn giao vị trí đại diện cho Cộng hòa Nhân dân Campuchia.

Sau 44 năm, Ba Chúc đã yên bình và những gì còn lại đã được đặt trong một góc trang trọng của lịch sử. Thời gian đã qua lâu, nhưng bài học từ Ba Chúc về ngoại giao, sự công bằng của các nước lớn thì vẫn còn mãi.

Ảnh: Vết máu của người dân vô tội bị quân Khmer Đỏ thảm sát tại chùa Phi Lai, Ba Chúc, tỉnh An Giang./.
Yêu nước ST.