Thứ Năm, 7 tháng 4, 2022

Nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ Quân đội tham gia thực hiện công tác tôn giáo.

 Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo (với 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được cấp phép hoạt động và có tổng số hơn 26 triệu tín đồ). Đồng bào các tôn giáo là một bộ phận trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, có tinh thần yêu nước, gắn bó với dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đảng ta khẳng định, thực hiện công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Trong đó, Quân đội nhân dân Việt Nam có vai trò đặc biệt trong thực hiện công tác tôn giáo của Đảng, nhất là trong đấu tranh với những âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá sự nghiệp cách mạng. Vì vậy, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ tham gia thực hiện công tác tôn giáo là vấn đề có ý nghĩa quan trọng và cấp thiết hiện nay.

Nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ Quân đội tham gia thực hiện công tác tôn giáo

 

Trung tướng Trần Hoài Trung, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Quân khu 7, trao quà của Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình cho các đại biểu chức sắc tôn giáo.

Từ khóa: cán bộ, chiến sĩ Quân đội; công tác tôn giáo.

Quân đội ta là quân đội kiểu mới, quân đội của dân, do dân và vì dân; thực hiện đồng thời 3 nhiệm vụ là đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất. Những năm qua, quán triệt quan điểm của Đảng, chỉ thị của Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, từng đơn vị và cá nhân mỗi cán bộ, chiến sĩ đã nhận thức ngày càng đầy đủ hơn về công tác tôn giáo của Đảng và vai trò, trách nhiệm trong tham gia thực hiện công tác này, nhất là trong đấu tranh với âm mư­u, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo chống phá sự nghiệp cách mạng. Cán bộ, chiến sĩ cơ bản nhận thức đúng về vấn đề tôn giáo, phân biệt rõ các hoạt động tôn giáo thuần túy, với những thủ đoạn lợi dụng tôn giáo để thực hiện mục đích chính trị phản động của các thế lực thù địch. Phân biệt đư­ợc những hoạt động tôn giáo trong khuôn khổ pháp luật Nhà nước với hoạt động tôn giáo trái pháp luật. Nhờ đó, nhiều đơn vị đã tham gia có hiệu quả công tác đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Bên cạnh đó, các đơn vị quân đội cũng đã thực hiện tốt chức năng tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương các biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo công tác vận động chức sắc, tín đồ, người có uy tín trong các tôn giáo thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tích cực tham gia hỗ trợ đồng bào các tôn giáo phát triển kinh tế; xóa đói, giảm nghèo; nâng cao dân trí; khám chữa bệnh, phòng chống dịch bệnh; xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư; giúp đỡ đồng bào phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, v.v..

Các hình thức tham gia công tác tôn giáo của Quân đội khá phong phú, mang lại hiệu quả thiết thực. Trong đó, nổi bật là việc thực hiện các phong trào: “Hành quân dã ngoại làm công tác dân vận”; giúp đồng bào các tôn giáo phát triển kinh tế hộ gia đình,“Xóa một hộ đói, giảm một hộ nghèo”; “Cảnh sát biển với đồng bào dân tộc, tôn giáo”; “Gắn kết yêu thương, giữa lương và giáo”,v.v.. Cùng với đó, các đơn vị quân đội còn thực hiện tốt công tác quản lý, rèn luyện, giáo dục, bồi dưỡng quân nhân theo các tôn giáo thực hiện nghiêm điều lệnh quản lý bộ đội; tạo điều kiện cho quân nhân theo các tôn giáo phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện nâng cao phẩm chất chính trị... Những hoạt động nêu trên đã góp phần tạo sự đồng thuận, niềm tin của các chức sắc, tín đồ và nhân dân theo các tôn giáo vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở vùng đồng bào có tôn giáo; tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững ổn định chính trị ở cơ sở. Đồng thời, làm cho quần chúng nhân dân hiểu rõ và nâng cao tinh thần cảnh giác, chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo hòng phá hoại sự nghiệp cách mạng nước ta.

Tuy nhiên, do những nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, việc phát huy vai trò của quân đội trong tham gia thực hiện công tác tôn giáo của Đảng còn tồn tại những hạn chế nhất định. Trong đó, nguyên nhân cơ bản dẫn đến hạn chế đó là chất lượng công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ trong thực hiện công tác này còn chưa đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ và thực tiễn sự vận động, biến đổi của tình hình thực tiễn, chư­a thư­ờng xuyên, thậm chí còn có nhận thức xem nhẹ, hoặc chư­a chú trọng đến các nội dung cụ thể. Chính điều này đã dẫn đến còn tình trạng một số cán bộ, chiến sĩ nhận thức chư­a đầy đủ, thiếu kiến thức cần thiết về tôn giáo và công tác tôn giáo nên hiệu quả tham gia công tác vận động đồng bào có tôn giáo còn có những hạn chế nhất định; cá biệt còn có biểu hiện mất cảnh giác, cứng nhắc, hoặc giản đơn.

Dự báo trong những năm tới, tình hình tôn giáo trên thế giới và khu vực tiếp tục có những diễn biến phức tạp, các hiện tượng tôn giáo mới xuất hiện và được truyền bá nhanh chóng, nhất là việc ứng dụng công nghệ thông tin để đẩy mạnh việc phát triển tín đồ. Ở trong nước, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh lợi dụng vấn đề tự do tôn giáo để xuyên tạc, chống phá sự nghiệp cách mạng đất nước, tiềm ẩn những yếu tố khó lường, ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Những vấn đề nêu trên đã đặt ra yêu cầu cấp thiết cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu để đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ trong thực hiện công tác tôn giáo của Đảng nhằm mang lại hiệu quả cao nhất trong quá trình tham gia thực hiện. Trong điều kiện cụ thể hiện nay, cần quan tâm thực hiện tốt một số giải pháp là:

Một là, nâng cao năng lực của cấp ủy, người chỉ huy các đơn vị quân đội trong tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ tham gia thực hiện công tác tôn giáo.

Hiệu quả trong thực hiện công tác tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ trong thực hiện công tác tôn giáo phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó, vai trò, năng lực, trình độ của cấp ủy đảng và người chỉ huy đơn vị có vị trí quan trọng. Vai trò của cấp ủy đảng và người chỉ huy thể hiện trong việc quán triệt các chỉ thị, hướng dẫn của cấp trên về công tác tuyên truyền, giáo dục; có nghị quyết lãnh đạo, chỉ đạo và kế hoạch tổ chức thực hiện phù hợp với tình hình thực tế đơn vị và địa bàn.

Các cấp ủy đảng, người chỉ huy đơn vị cần xác định rõ mục đích, yêu cầu lãnh đạo việc thực hiện quan điểm, chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta nói chung, công tác tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nói riêng về nhiệm vụ này. Theo đó, cần khẳng định đây là một trong những vấn đề quan trọng trong công tác lãnh đạo đơn vị; phải thường xuyên quán triệt chỉ thị, nghị quyết của Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng trong thực hiện công tác tôn giáo hiện nay như: Chỉ thị số 1006-CT/QUTW ngày 27-9-2019 của Quân ủy Trung ương “Về tiếp tục đổi mới và tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo Quân đội thực hiện công tác tôn giáo trong tình hình mới”; Chỉ thị số 18-CT/TW, ngày 10-1-2018 của Bộ Chính trị “Về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về công tác tôn giáo trong tình hình mới”; Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016; Nghị định số 162/2017/NĐ-CP, ngày 30-12-2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo,... Đồng thời, có biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, bảo đảm cho công tác tuyên truyền, vận động quần chúng trong đơn vị, cũng như với đồng bào có đạo trên địa bàn theo đúng quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước. Đối với người chỉ huy đơn vị, phải quán triệt tốt chủ trương của cấp ủy đảng, tổ chức lực lượng, triển khai giao nhiệm vụ cụ thể đến từng người, từng bộ phận và tổ chức chỉ huy đơn vị tiến hành tuyên truyền, giáo dục. Đồng thời, luôn bám sát tình hình cơ sở địa phương, kiểm tra đôn đốc đơn vị, kịp thời chấn chỉnh bổ sung những biện pháp phù hợp, phát hiện và uốn nắn những việc sai trái, những biểu hiện lệch lạc, chủ quan để chỉ đạo đơn vị thực hiện tốt công tác giáo dục, tuyên truyền.

Hai là, cấp ủy, chỉ huy các cấp phải có chương trình, kế hoạch cụ thể trong thực hiện công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ về tham gia thực hiện công tác tôn giáo.

Cấp ủy đảng, người chỉ huy phải nắm chắc tình hình tôn giáo và nhiệm vụ, khả năng thực lực của đơn vị, có nghị quyết lãnh đạo, đề ra kế hoạch chi tiết để tổ chức đơn vị thực hiện tốt việc giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ trong tham gia thực hiện công tác tôn giáo tại địa bàn. Trong tổ chức thực hiện phải phát huy vai trò của người chỉ huy, cơ quan chức năng, của mọi cán bộ, chiến sĩ.

Cần thường xuyên bám sát chủ trương của Đảng, Nhà nước, kế hoạch, hướng dẫn về công tác tôn giáo của cấp trên cũng như chính quyền địa phương để kịp thời triển khai thực hiện. Lựa chọn, cử cán bộ, chiến sĩ tham gia các khóa đào tạo, đào tạo lại, các lớp bồi dưỡng, cập nhật thông tin, kiến thức liên quan đến tôn giáo do các cơ quan chuyên môn tổ chức nhằm kịp thời bổ sung những kiến thức về vấn đề tôn giáo còn khuyết thiếu để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra.

Trong quá trình lãnh đạo và tổ chức thực hiện tuyên truyền, phải tăng cường công tác đôn đốc, kiểm tra, kịp thời tổ chức rút kinh nghiệm trong đơn vị, phát hiện, giải quyết các vấn đề nảy sinh trong thực hiện, bổ sung những biện pháp vào công tác tuyên truyền, giáo dục báo cáo hoặc xin ý kiến chỉ đạo của cấp trên.

Ba là, phát huy vai trò của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên trong nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác tôn giáo.

Để tổ chức thực hiện tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, từng đơn vị phải có sự lựa chọn, tổ chức bồi dưỡng và sử dụng tốt đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên làm công tác tuyên truyền, giáo dục những kiến thức về công tác tôn giáo đến toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị. Việc lựa chọn, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên này có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng công tác giáo dục, tuyên truyền. Cho nên, đòi hỏi đội ngũ cán bộ, chiến sĩ làm công tác này không chỉ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức trong sáng, hiểu biết sâu sắc về quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, mà còn phải am hiểu sâu rộng các vấn đề xã hội, có năng lực và phương pháp công tác tốt, linh hoạt xử lý các tình huống xảy ra.

Ngoài ra, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên về công tác tôn giáo còn cần có các yêu cầu cụ thể như: Có trình độ văn hóa, năng lực công tác và phẩm chất tốt, có khả năng giao tiếp, vận động thuyết phục, nhiệt tình, chịu khó, tận tâm với công việc, không sợ khó ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, nhanh nhẹn, hoạt bát khắc phục khó khăn, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ theo chức trách được phân công. Có kiến thức tuyên truyền và phong tục, tập quán ở địa phương. Là người luôn gương mẫu và tự giác chấp hành nghiêm pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội, quy định của đơn vị, nhất là kỷ luật quan hệ, tiếp xúc với nhân dân, được tất cả cán bộ, đảng viên và quân nhân khác tín nhiệm.

Sau khi đã lựa chọn được đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên về công tác tôn giáo của Đảng và Nhà nước, cần phải tạo mọi điều kiện tốt nhất để họ phát huy được vị trí, vai trò và nhiệm vụ của mình. Cùng với việc lãnh đạo, chỉ đạo tập trung thống nhất của cấp ủy đảng, chỉ huy đơn vị, phải thường xuyên hướng dẫn, bồi dưỡng kiến thức, nghiệp vụ cho bộ phận này. Thực hiện đúng tinh thần Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 10-1-2018 của Bộ Chính trị “Về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về công tác tôn giáo trong tình hình mới”. Trong đó, khẳng định: “Sắp xếp hợp lý, củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về tôn giáo; tăng cường cán bộ làm công tác tôn giáo..., tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ công tác tôn giáo để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thực tiễn, nâng cao năng lực quản lý, thực thi pháp luật; bảo đảm kinh phí hoạt động và có chế độ, chính sách khuyến khích, thu hút cán bộ làm công tác tôn giáo”.

Bốn là, sử dụng đa dạng, phong phú hình thức tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ về thực hiện công tác tôn giáo.

Cần đưa các nội dung tuyên truyền, giáo dục về công tác tôn giáo của Đảng và Nhà nước vào các chương trình học tập chính trị tại đơn vị hàng năm; gắn kết giữa huấn luyện quân sự với việc giáo dục truyền thống đoàn kết dân tộc, đoàn kết quân dân, đoàn kết lương - giáo, làm rõ sức mạnh to lớn và vai trò của nhân dân (trong đó có đồng bào các tôn giáo) đối với sự nghiệp cách mạng để mọi cán bộ, chiến sĩ trong cơ quan, đơn vị thấy rõ sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc là vô địch, là cội nguồn của mọi thắng lợi và cũng là cội nguồn sức mạnh và những chiến thắng của Quân đội. Từ đó, giúp cán bộ, chiến sĩ tự giác nhận thức vai trò, trách nhiệm trong thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng, Nhà nước ta.

Cần đặc biệt chú trọng sử dụng hình thức tổ chức các hoạt động diễn đàn, tọa đàm, trao đổi với chủ đề xung quanh nhận thức về công tác tôn giáo của Đảng, Nhà nước; tổ chức các cuộc thi tìm hiểu quan điểm về tôn giáo và công tác tôn giáo trong tư tưởng của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, của Đảng và Nhà nước ta; thi tìm hiểu về truyền thống đấu tranh anh dũng của Quân đội trước các hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo phá hoại sự nghiệp cách mạng đất nước cũng như những tấm gương tiêu biểu của cán bộ, chiến sĩ Quân đội trong công tác vận động, giúp đỡ đồng bào có tôn giáo phát triển kinh tế, văn hóa,... Từ đó, khơi dậy lòng tự hào, giúp mỗi cán bộ, chiến sĩ hiểu rõ hơn về ý thức, trách nhiệm cá nhân trong tham gia thực hiện công tác tôn giáo trên cương vị, chức trách nhiệm vụ được giao.

Cần kết hợp song song giữa học tập, tuyên truyền, giáo dục nhận thức vể quan điểm, chủ trương, đường lối công tác tôn giáo của Đảng, Nhà nước cho cán bộ, chiến sĩ với việc giữ nghiêm kỷ luật trong quan hệ với nhân dân, nhất là quan hệ đối với đồng bào có tôn giáo; giữ gìn truyền thống “Trung với Đảng, hiếu với dân” và hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, không ngừng bồi đắp tình cảm yêu mến, trân trọng của đồng bào cả nước nói chung, của đồng bào có tôn giáo nói riêng đối với Quân đội. Quá trình giáo dục cần sử dụng nhiều kênh thông tin, các phương tiện nghe, nhìn như: Báo chí, đài phát thanh, truyền hình, thông qua mạng xã hội, qua sinh hoạt tập trung,... với nội dung thiết thực, bổ ích để giáo dục. Phối hợp nhiều lực lượng như: Tổ chức lãnh đạo, chỉ huy, tổ chức đoàn thể, mời các chuyên gia, người giàu kinh nghiệm về công tác tôn giáo cùng tham gia tuyên truyền, giáo dục. Có như vậy, công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ về công tác tôn giáo mới thiết thực, đạt hiệu quả.

Trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, công tác tôn giáo được xác định là nhân tố quan trọng, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Tham gia thực hiện công tác tôn giáo của Đảng là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng của Quân đội trong tình hình mới. Để nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ trong tham gia thực hiện công tác tôn giáo, đòi hỏi phải tiến hành một cách đồng bộ các giải pháp. Trong đó, phải luôn bám sát tình hình thực tiễn để có sự điều chỉnh một cách phù hợp. Có như vậy mới mang lại hiệu quả cao trong quá trình tổ chức thực hiện, đáp ứng yêu cầu thực tiễn công tác tôn giáo trong tình hình mới.

Tư duy mới của Đảng về tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc.

 - Tư duy mới của Đảng về tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc thể hiện trong đường lối, chủ trương, chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ đặt ra vừa cấp bách vừa có tính chiến lược lâu dài. Bởi vậy, tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh cần được quán triệt, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo trong giai đoạn cách mạng mới.

Tư duy mới của Đảng về tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc

1. Tầm nhìn và quan điểm chỉ đạo của Đảng

Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Trước tình hình thế giới và khu vực có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, chúng ta đã coi trọng củng cố, tăng cường sức mạnh quốc phòng và an ninh, chủ động xử lý thành công các tình huống, không để bị động, bất ngờ. An ninh chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và trật tự, an toàn xã hội được giữ vững. Hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế được đẩy mạnh, không ngừng mở rộng và đi vào chiều sâu; kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia - dân tộc”(1). Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN ngày càng nặng nề, phức tạp hơn. Đảng ta nhấn mạnh: trong những năm tới “tình hình thế giới và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen, đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới nặng nề, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi toàn Đảng tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, có quyết tâm chính trị cao, dự báo chính xác, kịp thời diễn biến của tình hình, chủ động ứng phó kịp thời với mọi tình huống, nỗ lực hơn nữa để tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, không ngừng gia tăng tiềm lực mọi mặt của quốc gia, bảo vệ vững chắc Tổ quốc và những thành quả phát triển đã đạt được, đưa đất nước vững bước tiến lên, phát triển nhanh và bền vững”(2). Đây là sự bổ sung, phát triển tư duy lý luận mới trong việc xác định sức mạnh của quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc khi tình hình khu vực và quốc tế dự báo sẽ có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường.

Quốc phòng, an ninh mang bản chất chính trị, giai cấp sâu sắc. Đó là bản chất của giai cấp công nhân, do Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam thực hiện, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Quốc phòng, an ninh là lĩnh vực trực tiếp diễn ra cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc quyết liệt, phức tạp. Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, bản chất đó được biểu hiện ở mục tiêu, nhiệm vụ của quốc phòng, an ninh là: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Giữ vững an ninh chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương”(3). Đây vừa là định hướng chiến lược, vừa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt. Điều đó thể hiện sự phát triển tư duy lý luận của Đảng về tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới với đặc điểm nổi bật là: tình hình thế giới diễn biến phức tạp, khó lường; tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ, biên giới, biển đảo, nhất là ở biển Đông diễn ra gay gắt; các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động chống phá cách mạng nước ta bằng những âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt,...

Trong khi đó, các tình huống quốc phòng, an ninh cùng những thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống đối với nước ta ngày một gia tăng, nhất là âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của các thế lực thù địch. Trong bối cảnh đó, tăng cường quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh càng có ý nghĩa quan trọng, với những nhiệm vụ mới, cần được nghiên cứu, quán triệt sâu sắc, làm cơ sở để triển khai thực hiện có hiệu quả.

Với quan điểm: Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN, Đảng ta nhấn mạnh: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo động lực mạnh mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”(4).

2. Về nhiệm vụ của quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc

Phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh thời đại để bảo vệ Tổ quốc, “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân”(5). Quán triệt và thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, trong những năm qua, sự nghiệp quốc phòng, an ninh nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân tiếp tục được tăng cường; sức mạnh về mọi mặt của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân không ngừng được nâng cao. Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được giữ vững và tăng cường; quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đạt nhiều thành tựu nổi bật”(6). Vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc tiếp tục được tăng cường, tiềm lực quốc phòng, an ninh được củng cố; thế trận quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc được xây dựng vững chắc. Thế bố trí chiến lược quốc phòng, an ninh được quy hoạch, điều chỉnh phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Năng lực công nghiệp quốc phòng, an ninh của đất nước không ngừng phát triển toàn diện, cả về chiều rộng lẫn chiều sâu...

Bên cạnh những thuận lợi, sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc của chúng ta đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Nhận thức về quốc phòng, an ninh bảo vệ Tổ quốc của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân chưa đầy đủ. Các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, chống phá cách mạng nước ta, nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang. Vấn đề giữ vững an ninh chính trị, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biển đảo, bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển đất nước đang đặt ra nhiều vấn đề mới phải giải quyết. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: “Các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại còn một số mặt hạn chế”(7).

Tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Trong khi luôn đặt lên hàng đầu phát triển kinh tế - xã hội, chúng ta phải thường xuyên coi trọng nhiệm vụ giữ vững độc lập, tự chủ, tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế. Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân. “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số, quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”(8); kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Đây là quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta về quốc phòng, an ninh qua các kỳ Đại hội của Đảng.

Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, nhiệm vụ của quốc phòng, an ninh là: “Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; phát hiện sớm và xử lý kịp thời những yếu tố bất lợi, nhất là những yếu tố, nguy cơ gây đột biến; đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị”(9). Đây vừa là định hướng chiến lược quốc phòng, an ninh, vừa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và toàn dân, trong đó xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân, cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có số lượng hợp lý, với chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu cao là sự cụ thể hóa mối quan hệ biện chứng giữa hai nhiệm vụ chiến lược. Điều đó thể hiện sự phát triển tư duy lý luận của Đảng về tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

3. Giải pháp cơ bản tăng cường quốc phòng, an ninh

Để tiếp tục tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong giai đoạn cách mạng mới, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, tập trung vào những giải pháp cơ bản sau:

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Đây vừa là giải pháp cơ bản, vừa là định hướng chỉ đạo giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân và Công an nhân dân; tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh là giải pháp có ý nghĩa quyết định để thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc.

Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định bản chất cách mạng, toàn dân, toàn diện, sức mạnh quốc phòng, an ninh của Việt Nam, quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc, phải thường xuyên quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào thực hiện nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh. Điều chỉnh, bổ sung hoàn chỉnh hệ thống, cơ cấu tổ chức, lãnh đạo, chỉ đạo nhiệm vụ quốc phòng, an ninh thống nhất từ Trung ương đến các địa phương. Tiếp tục hoàn chỉnh cơ chế lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, các ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương đối với nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn cách mạng mới.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, các cấp, các ngành, mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh. Đây vừa là giải pháp, vừa là yêu cầu tiếp tục đổi mới, nâng cao tính thiết thực, chất lượng, hiệu quả của công tác tuyên truyền, giáo dục, nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, các cấp, các ngành, mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh bảo vệ Tổ quốc. Tăng cường bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho toàn dân, trước hết là cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành trong hệ thống chính trị và học sinh, sinh viên. Phổ cập những vấn đề cơ bản về xây dựng, hoạt động của khu vực phòng thủ cho các đối tượng, nhất là cán bộ chủ chốt cấp tỉnh, huyện. Đẩy mạnh tuyên truyền, coi trọng phổ biến kinh nghiệm hay, cách làm sáng tạo, hiệu quả của các địa phương; tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động trong cả hệ thống chính trị và toàn dân đối với nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc.

Củng cố vững chắc nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh, có sức chiến đấu cao. Đây là giải pháp có tính nguyên tắc trong công tác tổ chức. Triển khai đồng bộ, thống nhất sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước giàu mạnh, gắn với xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân vững chắc. Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước, nhất là xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần, “thế trận lòng dân”; kết hợp chặt chẽ thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân. Chuẩn bị chu đáo các phương án động viên nhân tài, vật lực cho nhiệm vụ quốc phòng, an ninh khi cần thiết. Xây dựng kế hoạch bảo đảm quốc phòng, an ninh thống nhất, đồng bộ từ thời bình, kịp thời điều chỉnh khi có chiến tranh; sẵn sàng chuyển nền kinh tế sang thời chiến. Nâng cao chất lượng xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững chắc toàn diện. Phát triển sâu rộng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, củng cố thế trận an ninh nhân dân. Tiếp tục xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, nâng cao sức mạnh chiến đấu, thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, lực lượng nòng cốt bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ “vững mạnh, rộng khắp”. Tăng cường quan hệ phối hợp giữa Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và các ngành, các địa phương trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Đây vừa là giải pháp, vừa là nhiệm vụ kết hợp phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, là chủ trương nhất quán, xuyên suốt của Đảng ta đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh phải được thể hiện ngay trong chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển trong từng lĩnh vực, từng vùng. Xây dựng kế hoạch bảo đảm quốc phòng, an ninh thống nhất, đồng bộ từ thời bình và kịp thời điều chỉnh khi có nguy cơ chiến tranh, sẵn sàng huy động mọi tiềm năng, nguồn lực của đất nước, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Tăng cường công tác bảo đảm an ninh kinh tế, đặc biệt là an ninh tài chính - tiền tệ, an ninh môi trường, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực và an toàn thực phẩm. Chú trọng bảo đảm an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng, các tầng lớp dân cư, thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, dân tộc, tôn giáo tại các địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người, biên giới, hải đảo. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, phòng, chống các loại tệ nạn xã hội, tập trung giải quyết dứt điểm các vụ việc phức tạp về an ninh, trật tự.

Đảng ta chỉ rõ: “Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu và dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp trên các vùng miền, trên biển. Quan tâm xây dựng lực lượng bảo đảm trật tự, an toàn xã hội cơ sở đáp ứng đòi hỏi của nhiệm vụ giữ vững an ninh, trật tự ở cơ sở. Xây dựng, củng cố đường biên giới trên bộ hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; nâng cao năng lực thực thi pháp luật của các lực lượng làm nhiệm vụ ở biên giới, biển, đảo”(10). Cùng với đó, “Tiếp tục nghiên cứu phát triển lý luận về quốc phòng, quân sự, an ninh, nghệ thuật quân sự, nghệ thuật bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh xã hội trong tình hình mới. Nâng cao năng lực dự báo chiến lược, giữ vững thế chủ động chiến lược; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống”(11). Thường xuyên bổ sung, hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách về quốc phòng, an ninh và những vấn đề liên quan đến quốc phòng, an ninh trong điều kiện mới. Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân và Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh. Đây là sự kế thừa những bài học kinh nghiệm quý, kế sách giữ nước đặc sắc của dân tộc và được bổ sung phát triển đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới.

Xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng, an ninh hiện đại, lưỡng dụng. Đây là giải pháp quan trọng. Để “xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng, an ninh hiện đại, lưỡng dụng, vừa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc vừa góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội”, cần tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc chủ trương, quan điểm của Đảng về phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh: Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 22-3-2018 của Bộ Chính trị về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Thông báo kết luận số 25-TB/TW ngày 11-4-2017 của Bộ Chính trị về Đề án đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Nghị định số 63/2020/NĐ-CP ngày 8-6-2020 của Thủ tướng Chính phủ quy định về công nghiệp an ninh.

Tập trung xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh theo hướng lưỡng dụng, trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia theo hướng độc lập, tự chủ, làm chủ được khoa học, công nghệ hiện đại và phù hợp với quá trình hội nhập quốc tế. Đẩy mạnh việc ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong hoạt động nghiên cứu, phát triển, tạo bước chuyển biến và hình thành các sản phẩm có tính đột phá về khoa học, công nghệ; đổi mới công nghệ sản xuất, sửa chữa, cải tiến, hiện đại hóa vũ khí trang bị kỹ thuật.

Tiếp tục bổ sung, điều chỉnh cơ chế, chính sách, chiến lược phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh; tăng cường đầu tư đào tạo nguồn nhân lực công nghiệp quốc phòng, an ninh chất lượng cao. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế, liên doanh, liên kết, chuyển giao công nghệ, từng bước hình thành thị trường công nghiệp quốc phòng, an ninh; đồng thời tiếp tục sắp xếp lại các doanh nghiệp, đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa doanh nghiệp tạo nguồn kinh phí phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh.

Vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước.

 Sợi chỉ đỏ xuyên suốt tinh thần Đại hội XIII của Đảng là “vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân” trong chiến lược phát triển đất nước. Điều này được thể hiện rõ nét trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại... Đây là bước hoàn thiện lý luận đổi mới của Đảng ta về nhân dân là mục tiêu, động lực, nguồn lực, là chủ thể và trung tâm của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc cũng như chiến lược phát triển đất nước. Bài viết tập trung phân tích làm rõ quan điểm Đại hội XIII về “vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân” trong chiến lược phát triển đất nước.

Vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước

Trên cơ sở tổng kết 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII, quan điểm của Đại hội XIII về vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước được thể hiện sâu sắc và toàn diện.

Một là, quan điểm “dân là gốc” được Đảng, Nhà nước ta quán triệt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày càng sâu sắc hơn

Trong Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng do đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trình bày đã rút ra bài học kinh nghiệm vô cùng quý báu. Đó là “trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”(1).

Bài học này của Đảng không chỉ là sự kế thừa, vận dụng sáng tạo tinh hoa trong quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quần chúng nhân dân vào thực tiễn Việt Nam mà còn là kết quả tổng kết thực tiễn Đảng lãnh đạo nhân dân trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc XHCN. Trong đó, có những điểm được bổ sung mới thể hiện quan điểm của Đảng ta về vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đã được bổ sung thêm “dân giám sát, dân thụ hưởng”. Vấn đề không phải đơn thuần là thêm sáu chữ mà quan trọng hơn là nhận thức về vai trò chủ thể, vị trí của nhân dân trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Đảng ta sâu sắc hơn, đầy đủ hơn, phù hợp thực tiễn hơn. Đây vừa là kết quả của tổng kết từ thực tiễn vừa là xuất phát từ yêu cầu thực tiễn. Bởi lẽ, nhân dân là trung tâm thì quan trọng là nhân dân có toàn quyền quyết định. Trong đó có quyền giám sát, quyền thụ hưởng thành quả của công cuộc đổi mới. Điều đó cũng là lẽ đương nhiên vì mục tiêu đổi mới của Đảng xét đến cùng là “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, nghĩa là mang lại hạnh phúc cho nhân dân.

Hai là, phát huy hiệu quả vai trò của nhân dân là động lực và nguồn lực phát triển đất nước

Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng tỏ nhân dân có sức mạnh vĩ đại trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc cũng như trong chiến lược phát triển đất nước. Nếu khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh cũng như khát vọng phát triển đất nước của toàn thể nhân dân thì đây sẽ là động lực và nguồn lực to lớn cho sự phát triển đất nước. Chính vì vậy, Đại hội XIII của Đảng đã “Đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước”(2). Trên tinh thần quan điểm này, Đảng ta chủ trương phát huy tính tích cực chính trị - xã hội, quyền và trách nhiệm của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường, quản lý xã hội, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Đại hội XIII chỉ rõ: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ XHCN, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”(3). Trên tinh thần quan điểm này, định hướng thứ tư trong 12 định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030 của Đại hội XIII chỉ rõ: “Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Tăng đầu tư cho phát triển sự nghiệp văn hóa. Xây dựng, phát triển, tạo môi trường và điều kiện xã hội thuận lợi nhất để khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước”(4). Định hướng này xác định, sức mạnh của nhân dân Việt Nam thể hiện ở sức mạnh văn hóa dân tộc, sức mạnh của con người Việt Nam. Đó chính là sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

Ba là, vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển kinh tế

Đại hội XIII đề ra nhiệm vụ đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế phải chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên tăng năng suất, tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhân lực chất lượng cao(5). Những yếu tố này muốn được phát huy thì phải dựa vào nhân dân.

Khi đề ra nhiệm vụ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên nền tảng của tiến bộ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, Đại hội XIII xác định phải chú ý “Phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh kết hợp phục vụ dân sinh”(6). Nghĩa là phải quan tâm đến các ngành công nghiệp phục vụ cuộc sống của nhân dân. Đối với xây dựng nông thôn mới, phát triển kinh tế nông thôn theo hướng “nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại và nông dân văn minh”(7); “nâng cao, xây dựng đời sống văn hóa, nông thôn mới kiểu mẫu và bảo vệ môi trường sinh thái”(8) để phục vụ nhân dân.

Đề cập nhiệm vụ hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, Đại hội XIII tiếp tục yêu cầu nhận thức về kinh tế thị trường định hướng XHCN là mô hình kinh tế ngoài các đặc trưng hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường thì có đặc trưng quan trọng là “có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước”(9). Chính các tiêu chí “có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng XHCN vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” thể hiện rõ nhất nhân dân Việt Nam là chủ thể, là trung tâm, mục tiêu phục vụ của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam.

Bốn là, vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển con người

Đại hội XIII yêu cầu “Chú trọng hơn giáo dục đạo đức, nhân cách, năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi, nhất là giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc tốt đẹp của người Việt Nam; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”(10). Bởi chính nhân dân mới là người sáng tạo ra các giá trị văn hóa dân tộc, chính họ là người trao truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác và cũng chính họ là người nhân lên và phát huy có hiệu quả sức mạnh các giá trị tinh thần này của dân tộc.

Đại hội XIII cũng yêu cầu “tạo tiền đề và bảo đảm điều kiện thuận lợi để mỗi người dân có cơ hội được hưởng thụ công bằng thành quả của nền giáo dục”(11). Quan điểm này vô cùng đúng đắn, bởi lẽ nhân dân phải là người được hưởng lợi từ thành quả của đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

Đại hội XIII còn đặt ra yêu cầu “Hoàn thiện cơ chế, chính sách để đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục và đào tạo đúng hướng, hiệu quả”(12), nghĩa là phát huy vai trò của nhân dân trong phát triển giáo dục và đào tạo. Đồng thời, Đại hội XIII cũng đặt ra nhiệm vụ “Thực hiện có hiệu quả các chính sách xã hội trong giáo dục và đào tạo”(13), để không người dân nào bị bỏ lại trong giáo dục và đào tạo. Đây là quan điểm đúng đắn của Đảng ta về vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển con người.

Năm là, vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển giao, ứng dụng và phát triển mạnh khoa học và công nghệ

Đại hội XIII đề ra nhiệm vụ “Phát triển một số ngành khoa học và công nghệ mũi nhọn, trực tiếp góp phần giải quyết các vấn đề cấp bách, phù hợp với điều kiện, nguồn lực của đất nước”(14). Xuất phát từ tình hình thực tế đất nước cũng như tiềm lực, khả năng, yêu cầu mà Đại hội XIII yêu cầu phát triển một số ngành khoa học và công nghệ góp phần giải quyết những vấn đề cấp bách liên quan tới bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và đời sống của nhân dân. Phù hợp với nhiệm vụ này, Đại hội XIII cũng đề ra nhiệm vụ tiếp theo là “Ưu tiên chuyển giao, ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ vào các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, con người, quốc phòng, an ninh trọng yếu”(15). Nghĩa là, Đại hội XIII vẫn ưu tiên cho phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, con người, quốc phòng, an ninh - những vấn đề liên quan thiết thực tới đời sống hàng ngày của nhân dân. Nói khác đi, nhân dân vẫn là chủ thể được phục vụ, được hướng tới của chiến lược thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển giao, ứng dụng và phát triển mạnh khoa học và công nghệ.

Đại hội XIII chủ trương “Phát triển hạ tầng số và bảo đảm an ninh mạng, tạo điều kiện cho người dân và các doanh nghiệp thuận lợi, an toàn tiếp cận nguồn tài nguyên số, xây dựng cơ sở dữ liệu lớn”(16). Nghĩa là trong chiến lược phát triển hạ tầng kỹ thuật số phục vụ cho phát triển kinh tế số, xây dựng dữ liệu lớn thì nhân dân vẫn là chủ thể chính được tạo điều kiện thuận lợi, an toàn tiếp cận tài nguyên số. Quan điểm này thể hiện vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong phát triển kinh tế số của Đảng ta rất rõ ràng, đúng đắn.

Sáu là, vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam

Đại hội XIII yêu cầu tăng cường giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân; thực hiện các giải pháp đột phá nhằm ngăn chặn có hiệu quả sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, đẩy lùi tiêu cực xã hội. Đồng thời, Đại hội XIII đề ra nhiệm vụ “Bảo vệ và phát huy các giá trị tốt đẹp, bền vững trong truyền thống văn hóa Việt Nam. Đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ. Từng bước vươn lên khắc phục các hạn chế của con người Việt Nam; xây dựng con người Việt Nam thời đại mới, gắn kết chặt chẽ hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại”(17). Cùng với cải thiện điều kiện hưởng thụ văn hóa của nhân dân, phải “Phát huy ý thức tự giác của toàn dân xây dựng và thực hiện các chế tài, quy định, quy ước xã hội, bảo đảm công bằng về cơ hội và thụ hưởng văn hóa”(18). Như vậy, một lần nữa, Đại hội XIII khẳng định nhân dân là chủ thể tích cực trong xây dựng và thực hiện các chế tài, quy định, quy ước xã hội, bảo đảm công bằng về cơ hội và thụ hưởng văn hóa của chính nhân dân. Nói khác đi, nhân dân vừa là chủ thể vừa là đối tượng của việc tạo dựng thể chế bảo đảm công bằng về cơ hội và hưởng thụ về văn hóa.

Đại hội XIII cũng xác định trong điều kiện hội nhập quốc tế, giao lưu văn hóa sâu rộng như hiện nay thì chính nhân dân là chủ thể tích cực “Tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại phù hợp với thực tiễn Việt Nam, đồng thời chủ động nâng cao sức đề kháng của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh, thiếu niên đối với các văn hóa phẩm ngoại lai độc hại; từng bước đưa văn hóa Việt Nam đến với thế giới”(19).

Bảy là, vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược quản lý phát triển xã hội bền vững, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội

Đại hội XIII nhấn mạnh, bảo đảm định hướng XHCN trong các chính sách xã hội, kiểm soát phân tầng xã hội, “xử lý kịp thời, hiệu quả các rủi ro, mâu thuẫn, xung đột xã hội, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Gắn chính sách phát triển kinh tế với chính sách xã hội, quan tâm lĩnh vực công tác xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân”(20). “Phát triển hệ thống an sinh xã hội toàn diện, tiến tới bao phủ toàn dân với các chính sách phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro cho người dân, bảo đảm trợ giúp cho các nhóm đối tượng yếu thế”(21). Thực thi có hiệu quả chính sách dân số và phát triển, nâng cao chất lượng dân số, nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe, khám, chữa bệnh cho nhân dân(22),v.v.. Rõ ràng, ba định hướng trên mà Đại hội XIII đề ra đã xác định rõ vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược quản lý phát triển xã hội bền vững, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội của Đảng ta.

Tám là, vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN

Kế thừa tinh thần các Đại hội trước, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục xác định, củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân(23).

Đại hội XIII đề ra nhiệm vụ “xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân”(24). “Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của mỗi cán bộ, đảng viên và người dân đối với nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc”(25).

Ngoài các chiến lược xây dựng, phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc nêu trên, vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân còn được thể hiện trong chính sách và hoạt động đối ngoại. Đó là quan điểm xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại Đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân.  Trong xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, Đại hội XIII nhấn mạnh phải “lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp làm trọng tâm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển nhanh, bền vững”(26). Việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chính phủ, nền hành chính, nền tư pháp Việt Nam đều phải lấy phục vụ nhân dân làm trọng tâm. Với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Đại hội XIII nhấn mạnh phải thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Đặc biệt, Đại hội XIII yêu cầu: “Tổ chức có hiệu quả, thực chất việc nhân dân tham gia giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị; phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng viên”(27).

Việt Nam đã đạt thỏa thuận về công nhận hộ chiếu vaccine với 19 quốc gia

 

Chiều 7-4, tại họp báo thường kỳ Bộ Ngoại giao, thông tin cập nhật về công nhận hộ chiếu vaccine lẫn nhau, Phó Phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng nêu rõ: Tính đến nay, Việt Nam đã đạt được thỏa thuận về công nhận hộ chiếu vaccine lẫn nhau với 19 nước, bao gồm: Nhật Bản, Hoa Kỳ, Anh, Australia, Ấn Độ, Belarus, Campuchia, Philippines, Palestine, Maldives, New Zealand, Sri Lanka, Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ, Singapore, Saint Lucia, Hàn Quốc, Iran và Malaysia.

Công tác bảo đảm an ninh quốc gia trong tình hình mới.

 - Hiện nay, Việt Nam đang phải đối diện với nhiều thách thức trong lĩnh vực an ninh quốc gia, trong đó có cả những vấn đề an ninh phi truyền thống bên cạnh an ninh chủ quyền hay an ninh chính trị. Để hoàn thành tốt nhiệm vụ chống lại các thách thức này, công tác bảo vệ an ninh quốc gia là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo. 

 

Công tác bảo đảm an ninh quốc gia trong tình hình mới

Ảnh minh họa. Nguồn: antv.gov.vn

1. Những thách thức an ninh quốc gia trong bối cảnh mới 

Các quốc gia trên thế giới đều có quan niệm về an ninh quốc gia khác nhau xuất phát từ vị thế và trình độ phát triển của quốc gia đó. Trong một quốc gia thì quan niệm về an ninh quốc gia ở mỗi giai đoạn lịch sử cũng có những nội dung mới phù hợp với thực tiễn tình hình của từng thời điểm khác nhau.

Luật an ninh quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ sáu thông qua ngày 3-12-2004, khẳng định an ninh quốc gia chính là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. An ninh quốc gia có hai mặt cơ bản: 1) Sự ổn định và phát triển bền vững của chế độ và Nhà nước; 2) Sự bất khả xâm phạm về độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ. Hai yếu tố này có quan hệ hữu cơ với nhau, ảnh hưởng, thậm chí quy định lẫn nhau; giải quyết mặt này sẽ tăng cường củng cố mặt kia và ngược lại. Bảo vệ an ninh quốc gia là phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống lại mọi hoạt động xâm hại an ninh quốc gia; là nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân, trong đó công an nhân dân và quân đội nhân dân là những lực lượng nòng cốt.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng ngày nay, Đại hội XIII của Đảng đã xác định: vấn đề an ninh quốc gia cần được hiểu một cách toàn diện hơn, rộng hơn, sâu hơn, không chỉ có các vấn đề an ninh chính trị, quân sự truyền thống, mà còn bao quát cả những vấn đề an ninh phi truyền thống, như: an ninh mạng; khủng bố, tội phạm có tổ chức, tội phạm xuyên quốc gia; an ninh tài chính - tiền tệ; an ninh năng lượng; an ninh lương thực; an ninh môi trường (thảm họa thiên nhiên, biến đổi khí hậu, an ninh nguồn nước...), dịch bệnh; thậm chí cũng cần phải bàn đến “an ninh chính quyền”, “an ninh chế độ”… Đây là, những vấn đề an ninh nổi lên bắt nguồn từ những nguy cơ mới, tác động đa chiều của quá trình hội nhập quốc tế và phát triển. Theo đó, an ninh quốc gia bao gồm: an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh quân sự, an ninh biên giới, biển, đảo, an ninh đối ngoại, an ninh tư tưởng - văn hóa, an ninh xã hội, an ninh thông tin, an ninh kết nối, an ninh mạng, an ninh doanh nghiệp, an ninh tài chính - tiền tệ, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh dân cư, an ninh dân số, an ninh cơ sở dữ liệu, an ninh môi trường, an ninh con người

Ngày nay, vấn đề bảo đảm an ninh quốc gia của Việt Nam phải đối diện với nhiều thách thức nghiêm trọng trong bối cảnh Việt Nam ngày một hội nhập sâu rộng với thế giới cũng như tác động tiêu cực từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư:

Thứ nhất, sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn khiến Việt Nam trở thành tâm điểm dễ bị lôi kéo, từ đó ảnh hưởng lớn đến đảm bảo an ninh quốc gia.

Trỗi dậy của Trung Quốc khiến cho mức độ cạnh tranh giữa Trung Quốc với Mỹ và các cường quốc khác trở nên gay gắt hơn. Sau khi cải cách, mở cửa (năm 1978), Trung Quốc duy trì tốc độ tăng trưởng trên 2 con số trong ba thập niên, trở thành công xưởng sản xuất của thế giới, dự trữ ngoại hối lên tới hàng nghìn tỷ USD, sức mạnh kinh tế vì thế gia tăng nhanh chóng. Cuối năm 2010, quy mô của kinh tế Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản để trở thành nền kinh tế số 2 thế giới. Sự phát triển mạnh mẽ kinh tế của Trung Quốc khiến cho cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng quyết liệt hơn, nhất là quan hệ Trung - Mỹ. Hai nước vừa là bạn hàng thương mại lớn nhất, vừa cạnh tranh nhau trên các lĩnh vực như thương mại, khoa học, công nghệ. Mỹ xem Trung Quốc là nền kinh tế “phi thị trường” khi thao túng đồng nội tệ, hỗ trợ doanh nghiệp nhà nước, trợ giá cho xuất khẩu, tạo rào cản cho doanh nghiệp đầu tư vào Trung Quốc, khiến cho thâm hụt thương mại giữa hai nước ngày càng lớn bất lợi cho Mỹ.

Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn đã vượt ra khỏi lĩnh vực kinh tế vươn sang các lĩnh vực phi kinh tế. Biển Đông là khu vực không chỉ thuần túy tranh chấp lãnh thổ, biển đảo giữa các nước láng giềng mà còn chồng xếp, đan xen các lợi ích của cạnh tranh địa - chiến lược giữ các cường quốc. Mỹ đề ra chính sách xây dựng khu vực “Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương mở và tự do”, nhằm đảm bảo an ninh hàng hải và hàng không ở khu vực này, thách thức các tuyên bố chủ quyền phi lý ở Trung Quốc ở châu Á - Thái Bình Dương. Các nước lớn khác cũng can dự sâu hơn vào tình hình Biển Đông, như Nhật với hành động trợ giúp nâng cao năng lực hàng hải cho các nước có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc, Ấn Độ với chính sách Hướng Đông, Australia hợp tác chặt chẽ với Mỹ trong vấn đề kiềm chế Trung Quốc.

Điều đó thúc đẩy cục diện cạnh tranh địa - chiến lược khốc liệt tại châu Á - Thái Bình Dương mà Biển Đông trở thành địa bàn cọ xát giữa các cường quốc với nhiều lớp quan hệ đan xen, chồng xếp: tranh giành lãnh thổ, biển đảo giữa các nước láng giềng; an ninh khu vực (trọng tâm là an ninh, an toàn, tự do hàng hải) và Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn. Cạnh tranh gay gắt hơn về tính chất, sâu rộng hơn về quy mô, phức tạp hơn về đối tượng tham, đa dạng hơn hình thức tiến hành.

Thứ hai, các thế lực thù địch luôn tìm cách đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, tăng cường sử dụng các biện pháp “tấn công mềm”, tập trung làm chuyển biến về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; kích động, chia rẽ, đòi “phi chính trị hóa quân đội”; hạ thấp, phủ nhận vai trò, uy tín lãnh đạo của Đảng nhằm xóa bỏ mục tiêu con đường đi lên CNXH. Đặc biệt thông qua hợp tác để thâm nhập sâu vào nội địa Việt Nam, tác động chuyển hóa bằng phương thức “diễn biến hòa bình”, ngoài việc tăng cường các hoạt động tình báo, gián điệp tuyên truyền phá hoại tư tưởng, phá hoại kinh tế, các thế lực thù địch triệt để tấn công ta trên lĩnh vực dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền. Lợi dụng những sơ hở, thiếu sót của Việt Nam trong quá trình đổi mới, hội nhập, các thế lực thù địch gia tăng hoạt động vào việc tác động vào cơ sở hạ tầng nhất là tác động vào việc hình thành một xã hội dân sự đồng thời với việc tác động vào kiến trúc thượng tầng đặc biệt là quá trình xây dựng pháp luật Việt Nam.

Thứ ba, Việt Nam phải đối diện với những thách thức an ninh phi truyền thống mang tính toàn cầu. Dịch bệnh bùng phát ở Trung Quốc đầu năm 2020, và hiện nay đã lan ra toàn cầu với những ảnh hưởng nghiêm trọng về mọi mặt của đời sống con người đã minh chứng cho mức độ ảnh hưởng ghê gớm của các vấn đề an ninh phi truyền thống. Cùng với việc tiếp tục phải phòng chống, chịu ảnh hưởng tiêu cực từ đại dịch Covid-19, Việt Nam được dự báo là một trong số các nước sẽ chịu ảnh hưởng nhiều nhất những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu toàn cầu, nước biển dâng và nhiều vấn đề an ninh phi truyền thống khác. Các áp lực về chuyển đổi phương thức phát triển trong bối cảnh khó khăn, thiếu hụt về tài nguyên, năng lượng,… rất có thể sẽ đặt nền kinh tế Việt Nam trước những thách thức, từ đó dẫn đến nguy cơ mất ổn định.

 2. Công tác bảo đảm an ninh quốc gia trong bối cảnh mới

Công tác bảo vệ an ninh quốc gia là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo. Năm 1998, lần đầu tiên Đảng ta ban hành nghị quyết về Chiến lược an ninh quốc gia, lần đầu tiên Đảng ta hệ thống nhận diện những nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia và đề ra các chủ trương, giải pháp cơ bản chỉ đạo về bảo vệ an ninh quốc gia. Trong an ninh quốc gia, an ninh kinh tế được xác định là nền tảng, là nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội. Để tăng cường bảo đảm an ninh kinh tế, Bộ Chính trị lần đầu tiên ban hành Chỉ thị số 12 ngày 05-01-2017 về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm an ninh kinh tế trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế”.

Đại hội XIII đã bổ sung thêm nhiều điểm mới về an ninh quốc gia cũng như nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia. Triển khai chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về bảo đảm an ninh quốc gia cần thực hiện tốt các yêu cầu sau:

Thứ nhất, luôn bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng. Kiên định và giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với sự nghiệp đảm bảo an ninh quốc gia và nguyên tắc Đảng lãnh đạo Công an nhân dân Việt Nam tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt. Do vậy, phải chú trọng xây dựng các cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo toàn diện và sức chiến đấu cao, thật sự là hạt nhân lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ. Tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, thực hiện nghiêm cơ chế kiểm tra, giám sát; tiếp tục hoàn thiện phương thức, cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh. Đồng thời, chú trọng kiện toàn cơ quan, đội ngũ cán bộ làm công tác an ninh ở các bộ, ngành; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về an ninh, động viên, khuyến khích toàn dân tham gia thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc.

Thứ hai, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân.Chúng ta cần không ngừng chăm lo, củng cố, xây dựng “thế trận lòng dân” tạo ra nền tảng chính trị - tinh thần vững chắc, sức mạnh tổng hợp để bảo vệ an ninh quốc gia. Chăm lo xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng, củng cố mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân; lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; xây dựng sự đồng thuận xã hội. Tăng cường công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức an ninh cho cán bộ, công chức và toàn dân. Chăm lo phát huy quyền làm chủ của nhân dân gắn với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, đẩy mạnh công cuộc phòng, chống tham nhũng, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, không ngừng nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện “lấy dân làm gốc”, phát huy tinh thần yêu nước, trách nhiệm, sự cống hiến, sức sáng tạo của nhân dân đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia. Sinh thời Bác Hồ đã dạy lực lượng công an nhân dân cần phải biết dựa vào dân thì mới hoàn thành được nhiệm vụ, vì nhân dân là tai mắt của công an để “Khi nhân dân giúp đỡ ta nhiều thì thành công nhiều, giúp đỡ ta ít thì thành công ít, giúp đỡ ta hoàn toàn thì thắng lợi hoàn toàn”(1).

Thứ ba, đẩy mạnh ngoại giao đa phương, tăng cường hợp tác với đối tác và tổ chức quốc tế.Đại hội VII của Đảng (tháng 6-1991) lần đầu tiên đưa ra chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ quốc tế nhằm phá thế bao vây, cấm vận, đưa đất nước hội nhập ngày càng sâu rộng với khu vực và thế giới. Hiện nay, Việt Nam triển khai đối ngoại đa phương với thế và lực ngày càng vững chắc hơn. Chúng ta có quan hệ ngoại giao với 187 quốc gia, xây dựng quan hệ đối tác chiến lược và toàn diện với 25 nước, trong đó bao gồm cả 5 thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc... Điều đó thể hiện mối quan hệ ngày càng rộng mở và tin cậy giữa nước ta với các nước bạn bè trên thế giới, đem lại cho Việt Nam nhiều cơ hội phát triển mới. Việt Nam và Trung Quốc đã giải quyết phân chia biên giới trên đất liền và vùng Vịnh Bắc Bộ, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển thương mại giữa hai nước. Trong thời gian gần đây, khi tình hình Biển Đông “nóng lên” với những tuyên bố chủ quyền phi lý của Trung Quốc và những hoạt động ngày càng mạnh mẽ của Mỹ ở khu vực. Quan điểm nhất quán của Việt Nam là giải quyết hòa bình vấn đề tranh chấp này dựa trên Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), không sử dụng vũ lực cũng như đe dọa sử dụng vũ lực. Tư tưởng nhất quán này của Việt Nam được nhiều quốc gia trong và ngoài khu vực ủng hộ mạnh mẽ, điều này góp phần quan trọng vào làm “lạnh” những cái đầu “nóng”, tránh để tình hình khu vực phức tạp thêm.

Có thể nói, trong thời gian qua công tác bảo đảm an ninh quốc gia dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng đã đạt được những thành tựu quan trọng: “Phòng ngừa và ứng phó kịp thời với các mối đe dọa an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống; làm thất bại âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, phản động”(2). Tuy nhiên, với tình hình quốc tế và trong nước ngày càng diễn biến phức tạp, việc bảo đảm an ninh quốc gia là yêu cầu thiết yếu để bảo đảm các yêu cầu, điều kiện hòa bình phát triển đất nước.

Quán triệt quan điểm Đại hội XIII vào giáo dục quốc phòng, an ninh.

 - Tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của cách mạng Việt Nam. Bài viết khái quát nhận thức, tư duy mới trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng về mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN và đề xuất giải pháp tăng cường giáo dục quốc phòng, an ninh. 

Quán triệt quan điểm Đại hội XIII vào giáo dục quốc phòng, an ninh

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì Hội nghị Quân uỷ Trung ương lần thứ ba - Ảnh: baochinhphu.vn

Tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc là nhiệm vụ quan trọng, luôn được đề cập trong văn kiện các Ðại hội Ðảng. Qua mỗi kỳ Ðại hội, quan điểm của Ðảng về tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc luôn có sự bổ sung, phát triển, ngày càng hoàn thiện, phù hợp với tình hình thực tiễn của từng giai đoạn cách mạng, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới. 

Trên cơ sở đánh giá tình hình trong nước, khu vực, quốc tế và xu thế của thời đại, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định, bổ sung, phát triển những quan điểm cơ bản về tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong thời kỳ mới.

1. Về mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc

Đại hội XIII xác định: “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(1)

Như vậy, mục tiêu, yêu cầu và nhiệm vụ của quốc phòng an ninh tiếp tục được Đảng ta khẳng định nhất quán, xuyên suốt nhưng có sự bổ sung rõ hơn, toàn diện hơn về nội hàm và phạm vi bảo vệ. 

Đại hội XIII đã chỉ rõ, mục tiêu bảo vệ Tổ quốc không đơn thuần là để đối phó với chiến tranh, mà vấn đề quan trọng và thiết yếu là tạo ra sức mạnh để giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình nhằm xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng XHCN. Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng, là sự vận dụng nhuần nhuyễn lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; bảo vệ phải gắn với xây dựng, xây dựng phải đi đôi với bảo vệ. 

Mục tiêu của bảo vệ là để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho xây dựng và phát triển đất nước; và xây dựng phát triển đất nước tạo cơ sở, tiền đề bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Bảo vệ Tổ quốc về mặt tự nhiên - lịch sử với việc bảo vệ Tổ quốc về mặt chính trị - xã hội là mối quan hệ biện chứng trong tính chỉnh thể thống nhất. Vì vậy, phải gắn chặt việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ với bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và bảo vệ chế độ XHCN. Phải gắn chặt việc giữ vững ổn định chính trị, xã hội với bảo vệ môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Đây là quan điểm biện chứng khách quan, cụ thể, lịch sử và phát triển, đáp ứng sự phát triển của tình hình thế giới, khu vực, của đất nước và yêu cầu, nhiệm vụ quốc phòng an ninh trong tình hình mới. 

Điểm mới trong văn kiện lần này là việc khẳng định, bảo đảm an ninh con người, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước. Đây là vấn đề quan trọng trong mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay, phản ánh đúng xu thế và đặc điểm tình hình đất nước. Bởi suy cho cùng, mọi vấn đề đều xuất phát từ con người và tất cả mọi vấn đề lại đều quay trở về với con người. Con người là vấn đề có tính chiến lược, là trung tâm của mọi hoạt động, là mục tiêu và động lực phát triển đất nước, và bản chất chế độ XHCN mà nước ta đang xây dựng đều hướng đến bảo vệ cuộc sống bình yên, đem lại đời sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Vì vậy, trong bối cảnh mới hiện nay, vấn đề bảo đảm an ninh con người, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để mang lại hạnh phúc thực sự cho nhân dân là đặc biệt quan trọng. Xét ở khía cạnh trình bày, nét mới trong văn kiện lần này là các nội dung, vấn đề trong mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ quốc phòng an ninh được đặt trong một tổng thể chung, quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại theo một trục thống nhất, không tách rời. Đây là cơ sở và định hướng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới.

2. Về phương thức và giải pháp tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

Đại hội XIII của Đảng tiếp tục có những bước phát triển mới trong tư duy về phương thức và giải pháp bảo vệ Tổ quốc XHCN: “Xác định: “chủ động phòng ngừa” là chính. Ứng phó kịp thời, hiệu quả với các đe doạ an ninh phi truyền thống, nhất là nhiệm vụ cứu nạn, cứu hộ, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh. Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hoà bình phù hợp với luật pháp quốc tế”(2). Đây là sự kế thừa, vận dụng sáng tạo bài học kinh nghiệm “giữ nước từ lúc chưa nguy”, phát triển tư tưởng bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa” để xác định rõ phương thức, giải pháp “chủ động phòng ngừa” là chính. Bước phát triển này cũng thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược của Đảng về quốc phòng an ninh trong tình hình mới, nhằm chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi, giải tỏa các điểm nóng, các nguy cơ dẫn đến xung xung đột vũ trang; nhất là việc chủ động ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống đang ngày càng hiện hữu và đe dọa trực tiếp đối với toàn cầu hiện nay. 

Đại hội XIII của Đảng cũng khẳng định: “xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân. Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại”(3)

Quan điểm trên vừa thể hiện sự nhất quán với các quan điểm trước đó của Đảng, đồng thời nhấn mạnh việc phát huy mạnh mẽ và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, coi đó là một trong những phương thức hữu hiệu để bảo vệ Tổ quốc.

Điểm mới ở kỳ Đại hội lần này là Đảng ta đã đặt các thành tố kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng an ninh trong một chỉnh thể gắn kết, thống nhất. Đây cũng là bước phát triển, bổ sung mới về phương thức bảo vệ Tổ quốc, làm tăng khả năng phát huy nội lực, tiềm năng, bản sắc và truyền thống của dân tộc Việt Nam trong bảo vệ Tổ quốc cũng như trong xây dựng đất nước hiện nay; phát huy và làm sâu sắc thêm tính chất toàn dân, toàn diện của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc XHCN. 

Xét trong tính tổng thể, các phương thức đấu tranh bảo vệ Tổ quốc được sử dụng một cách tổng hợp, linh hoạt, mềm dẻo, đặt trong mối quan hệ và sự tương tác lẫn nhau để huy động sức mạnh tổng hợp và vai trò của mọi lĩnh vực, mọi lực lượng, mọi người và các tổ chức trên các phương diện của đời sống xã hội để bảo vệ Tổ quốc, thể hiện sâu sắc tính chất toàn dân, toàn diện của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới. 

Một nét mới khác về phương thức và giải pháp tăng cường quốc phòng an ninh, bảo vệ Tổ quốc, đó là việc Đảng xác định rõ: Xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh hiện đại, lưỡng dụng, vừa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, vừa góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng và củng cố các tuyến phòng thủ biên giới, biển, đảo; có cơ chế huy động nguồn lực từ địa phương và nguồn lực xã hội cho xây dựng tiềm lực quốc phòng an ninh. Đó là bước phát triển mới về mặt tư duy trong định hướng phát triển công nghiệp quốc phòng an ninh, phản ánh đúng yêu cầu thực tiễn. Giải quyết tốt vấn đề này sẽ tạo sức mạnh tổng hợp cho cả quốc phòng an ninh và các nhiệm vụ khác, tạo ra nguồn lực lớn cho việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của tình hình mới. 

3. Về lực lượng và sức mạnh quốc phòng an ninh bảo vệ Tổ quốc

Đại hội XIII của Đảng khẳng định nhất quán “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt”(4). Đặc biệt, trong văn kiện lần này, Đảng đã xác định rõ phương hướng: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại”(5); tiếp tục nhấn mạnh và chỉ rõ việc xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân “vững mạnh về chính trị”. Quan điểm trên thể hiện đúng ý chí, quyết tâm và nỗ lực của Đảng ta trong suốt các nhiệm kỳ Đại hội trước đó, nhằm xây dựng lực lượng vũ trang tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Ở văn kiện lần này, Đảng đã xác định rõ các mốc thời gian cụ thể: Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Đây là định hướng đặc biệt quan trọng để phát triển tiềm lực và sức mạnh của Quân đội và Công an đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Để xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh toàn diện, phải lấy xây dựng vững mạnh về chính trị làm cơ sở, bảo đảm lực lượng vũ trang luôn tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN, gắn bó máu thịt với nhân dân; không mơ hồ, chủ quan, mất cảnh giác; tích cực đấu tranh làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa lực lượng vũ trang” của các thế lực thù địch. 

Một điểm nhấn quan trọng nữa, đó là Đảng ta đã xác định rõ: “Tiếp tục triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược an ninh mạng quốc gia và các chiến lược quốc phòng, an ninh chuyên ngành khác”(6). Trải qua quá trình nghiên cứu và đúc kết từ thực tiễn, chúng ta đã xây dựng được tổng thể và đồng bộ các chiến lược để bảo vệ vững chắc Tổ quốc trên mọi phương diện. Đây là các chiến lược rất quan trọng và là một thể thống nhất, liên quan mật thiết với nhau, tác động trực tiếp đến việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi phải thực hiện toàn diện và đồng bộ. Các chiến lược đó phản ánh tư duy chiến lược toàn diện của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc, thể hiện quan điểm quốc phòng an ninh toàn diện, tổng hợp của đất nước. Vì vậy, việc triển khai đồng bộ các chiến lược đó sẽ tạo ra thế và lực, lực lượng và sức mạnh để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới. 

4. Quán triệt quan điểm Đại hội XIII về quốc phòng an ninh, nâng cao chất lượng giáo dục quốc phòng an ninh

Giáo dục quốc phòng an ninh là một bộ phận quan trọng của nền giáo dục quốc dân, một nội dung cơ bản trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong công tác quốc phòng của Đảng, Nhà nước nhằm bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, khơi dậy lòng yêu nước, niềm tự hào, tự tôn của dân tộc, nâng cao ý thức, trách nhiệm, tự giác thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Quán triệt quan điểm Đại hội XIII về quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN gắn với nâng cao chất lượng giảng dạy, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng an ninh, cần chú trọng thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:

Quán triệt sâu sắc quan điểm mới của Đại hội XIII về quốc phòng an ninh trong tình hình mới là yêu cầu cơ bản, là yếu tố quan trọng, quyết định chất lượng giảng dạy, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng an ninh cho học viên trong các nhà trường hiện nay. Đặc biệt, cần tiếp tục quán triệt sâu sắc Nghị quyết Trung ương tám khóa XI “Về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, những điểm mới trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng về nhiệm vụ quốc phòng an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Luật Giáo dục quốc phòng và các thông tư, chỉ thị của Bộ giáo dục và đào tạo, Bộ Quốc phòng về giáo dục quốc phòng an ninh. Nâng cao hơn nữa vai trò của các cấp ủy Đảng, hệ thống chỉ huy các cấp trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, giáo dục, quán triệt nhiệm vụ bồi dưỡng, giáo dục kiến thức quốc phòng an ninh cho các đối tượng. 

Mặt khác, từng cán bộ, giảng viên, học viên cần nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác bồi dưỡng, giáo dục kiến thức quốc phòng an ninh, trên cơ sở đó nêu cao ý thức, trách nhiệm trong việc học tập, quán triệt nắm vững những kiến thức quốc phòng an ninh, coi đây là trách nhiệm của tập thể và từng cá nhân.

Đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy, giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng an ninh. Đây là giải pháp quan trọng để chuyển tải nội dung giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng an ninh. Trên cơ sở nội dung, chương trình khung giáo dục quốc phòng an ninh, cần cụ thể hóa chương trình, kế hoạch bồi dưỡng kiến thức quốc phòng sát với từng đối tượng cụ thể. Do tính đặc thù chương trình giáo dục quốc phòng an ninh thường “khô cứng”, người học dễ nhàm chán; bởi vậy, cùng với việc cập nhật kịp thời, bổ sung sự phát triển mới của nhiệm vụ quốc phòng an ninh, bảo vệ Tổ quốc vào nội dung giảng dạy, các nhà trường cần đẩy mạnh đổi mới nội dung, chương trình theo hướng thiết thực, hiệu quả, phù hợp với từng đối tượng và sự phát triển của nhiệm vụ quốc phòng an ninh. Bám sát chương trình theo quy định, mỗi giảng viên cần đề cao trách nhiệm, tích cực, chủ động nghiên cứu cập nhật, bổ sung nội dung từng chuyên đề cho phù hợp với tình hình thực tiễn; trong đó, tập trung cả phần kiến thức quốc phòng an ninh chung và những vấn đề thực tiễn đặt ra về nhiệm vụ quốc phòng - an ninh và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. 

Cùng với đổi mới nội dung, chương trình, cần đẩy mạnh đổi mới phương pháp theo hướng phát huy tính sáng tạo, tích cực của người học. Theo đó, trước hết cần nâng cao chất lượng soạn giáo án, ứng dụng công nghệ thông tin vào nghiên cứu, trao đổi, cập nhật, khai thác thông tin, tư liệu trong biên soạn giáo án điện tử, tạo sự sinh động, hấp dẫn, lôi cuốn người học. Mặt khác, trong quá trình lên lớp, giảng viên cần sử dụng linh hoạt các phương pháp giảng dạy, huấn luyện, tích hợp các phương pháp dạy - học trong cùng một bài giảng; khắc phục lối truyền thụ một chiều, tăng tính đối thoại, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học, rèn luyện cho người học năng lực tư duy, vận dụng kiến thức vào thực hành và thông qua thực hành để tiếp thu kiến thức lý thuyết. 

Tăng cường bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới, góp phần nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, giảng viên, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ giáo dục quốc phòng an ninh. Đây là yếu tố quan trọng, quyết định chất lượng giảng dạy, bồi dưỡng, giáo dục kiến thức quốc phòng an ninh. Đội ngũ giảng viên giữ vai trò quyết định chất lượng giáo dục, đào tạo. Tăng cường hoạt động bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, trao đổi kinh nghiệm, phương pháp giảng dạy, qua đó nâng cao năng lực và phương pháp, kỹ năng sư phạm. Đồng thời, động viên, khuyến khích và tạo điều kiện cho đội ngũ giảng viên học tập, nghiên cứu cập nhật những kiến thức, thông tin mới về quốc phòng an ninh để không ngừng nâng cao trình độ.