Thứ Sáu, 1 tháng 7, 2022

Theo dấu chân Người !


Ngày 1-7-1922, trên tờ “Le Paria” (Người cùng khổ) đăng hai bài viết của Nguyễn Ái Quốc: “Những kẻ đi khai hóa” và “Thù ghét chủng tộc”. Cả hai bài báo đều lên án những hành vi man rợ của chủ nghĩa thực dân tại các thuộc địa của Pháp từ châu Phi cho tới Đông Dương và đối với cả những người Pháp đã lên án những hành vi man rợ ấy.
Ngày 1-7-1924, tham dự Đại hội V của Quốc tế Cộng sản, tại phiên họp thứ 22, Nguyễn Ái Quốc lại đăng đàn, thẳng thắn phê bình các đảng của các nước có thuộc địa chưa thi hành một chính sách tích cực và kết luận: “Thưa các đồng chí, vì chúng ta tự coi mình là học trò của Lênin, cho nên chúng ta cần phải tập trung tất cả sức lực và nghị lực để thực hiện trên thực tế những lời di huấn quý báu của Lênin đối với chúng ta về vấn đề thuộc địa cũng như các vấn đề khác”.
Ngày 1-7-1946, tại Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đón tiếp nhiều Việt kiều đến thăm. Họa sĩ Vũ Cao Đàm xin vẽ và nặn tượng Bác. Cùng ngày, nhiều nhà văn, trí thức tiến bộ Pháp đến chào Bác như Louis Aragon, Jean Richard Bloch, Pierre Emmanuel...
Ngày 1-7-1947, Bác viết thư gửi một số vị nhân sĩ họ Đinh ở Hòa Bình đã vận động đồng bào Mường ở địa phương tham gia kháng chiến. Cùng ngày, Bác viết thư động viên nhà thơ Huyền Kiêu đã viết bản trường ca “Hồ Chí Minh-Tinh hoa dân tộc”: “… Tôi mong chú và anh chị em văn nghệ sĩ trong Hội Văn hóa cứu quốc đi sâu hơn nữa vào cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, sáng tác được nhiều tác phẩm phục vụ cuộc kháng chiến lâu dài gian khổ nhưng nhất định thắng lợi của nhân dân ta” .
Ngày 1-7-1954, viết trên Báo Nhân Dân trong bài “Những việc vô lý”, Bác bình luận về những bài viết trên báo chí Pháp đề cập tội ác của quân viễn chinh Pháp để đi đến nhận định với nước Pháp và binh sĩ Pháp: “Cuộc chiến tranh này thật là vô nghĩa... nó đã đưa thực dân Pháp đến Điện Biên Phủ và sẽ đưa chúng đến nhiều Điện Biên Phủ khác nữa”.
Ngày 1-7-1958, Báo Nhân Dân đăng bài viết “Mấy kinh nghiệm Trung Quốc mà chúng ta nên học” nhưng trong lời kết, Bác lại lưu ý: “… Chúng ta phải học những kinh nghiệm quý báu của các nước anh em... Cố nhiên, phải áp dụng những kinh nghiệm ấy một cách sáng tạo, hợp với hoàn cảnh thực tế của nước ta, chứ không nên học một cách máy móc”.
Ngày 1-7-1960, nói chuyện tại Đại hội đảng bộ và các cơ quan dân, chính, đảng Trung ương, Bác vạch rõ: “Tuy cuộc kháng chiến chống ngoại xâm đã xong, nhưng chúng ta còn phải tiếp tục kháng chiến chống một giặc khác, đó là giặc nghèo nàn, lạc hậu... Cho nên đảng viên ta cũng phải có thêm tinh thần như thanh niên: “đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên”./.
vubao12-st
4

VỊ TƯ LỆNH TÀI BA CỦA TUYẾN ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN HUYỀN THOẠI

 

Là Tư lệnh bộ đội Trường Sơn, chỉ huy hơn 120.000 quân đảm bảo mạch máu tiếp tế cho cách mạng miền Nam, trung tướng Đồng Sỹ Nguyên để lại những dấu ấn đậm nét trên tuyến đường Trường Sơn huyền thoại.
Tham gia cách mạng từ năm 12 tuổi, tham gia khởi nghĩa giành chính quyền năm 1945 rồi kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, nhưng sự nghiệp của trung tướng Đồng Sỹ Nguyên gắn liền với tuyến đường Trường Sơn huyền thoại của 30 năm kháng chiến chống Mỹ - nơi ông đảm trách vị trí tư lệnh của hơn 120.000 ngàn quân trong suốt những năm 1967 - 1976.
Thời điểm ông được Bác Hồ và Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ Tư lệnh bộ đội Trường Sơn (1.1.1967) là thời kỳ Mỹ đang đánh phá quyết liệt, bom đạn Mỹ đổ xuống Trường Sơn ác liệt nhất. Đây cũng là lúc chúng ta quyết định chuyển hướng từ vận chuyển bằng gùi, thồ, bằng phương tiện thô sơ sang hoạt động cơ giới. Trước những khó khăn bước đầu, nhiều ý kiến cho rằng, không thể vận chuyển bằng cơ giới được vì nếu địch ngăn chặn, đánh phá, ta sẽ không bảo toàn được lực lượng.
Tuy nhiên, tại cuộc họp Bộ Tư lệnh 559 (từ 1970 gọi là Bộ Tư lệnh Trường Sơn), chính tướng Đồng Sỹ Nguyên đã nêu quan điểm, muốn thắng địch, muốn phát triển lực lượng để cân bằng với địch, để cách mạng miền Nam có thể giành được thắng lợi, thì phải vận chuyển bằng cơ giới. Đó là quyết tâm chuyển hướng táo bạo, quyết đoán và cũng là dấu ấn thể hiện bản lĩnh chỉ huy của tướng Đồng Sỹ Nguyên. Trong suốt thời gian giữ chức Tư lệnh Trường Sơn, ông đã kiên định thực hiện chủ trương này. Khi vào Trường Sơn, tướng Đồng Sỹ Nguyên có 5 tiểu đoàn xe với 750 xe, chia thành 4 binh trạm, việc chi viện vào chiến trường miền Nam còn rất khó khăn. Thế nhưng, chỉ 8 năm sau, đến đầu 1975, tướng Nguyên đã nói với Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh: "Cần bao nhiêu gạo, đạn, xăng và xe chở quân cũng có đủ". Lúc này, chỉ riêng vận tải cơ giới, Trường Sơn có 2 sư đoàn với hơn 10.000 xe.
Một dấu ấn nữa của tướng Đồng Sỹ Nguyên là tư tưởng chỉ đạo dũng cảm, táo bạo mà kiên cường. Lúc đầu, để bảo toàn lực lượng, bộ đội ở Trường Sơn chủ yếu là “phòng tránh”, các lán trại cũng đặt cách đường vận chuyển 2 - 3 cây số. Ngay sau khi nhận nhiệm vụ, tướng Đồng Sỹ Nguyên đã trực tiếp nghiên cứu, khảo sát thì thấy rằng, cách hoạt động như vậy không ổn. Ông cho rằng, đánh địch phải bám thắt lưng địch mà đánh, nên bố trí của bộ đội Trường Sơn như vậy sẽ không hiệu quả, gây khó khăn cho việc chỉ huy cũng như hoàn thành nhiệm vụ của các lực lượng. Chính vì vậy, tướng Nguyên đã quyết định yêu cầu tất cả các binh trạm, các chỉ huy, đơn vị phải trực tiếp bám đường, bám trận địa, trực tiếp ngăn chặn sự phá hoại của quân thù với quan điểm “đánh định mà đi, mở đường mà tiến”.
Tướng Nguyên cũng là người chỉ huy rất sáng tạo để tháo gỡ những khó khăn trên chiến trường. Là tư lệnh nhưng ông luôn đi đầu, sát chiến trường, sát trận địa, sát với anh em chiến sĩ để tìm hiểu tình hình từ đó đưa ra những giải pháp hiệu quả cho chiến trường. Khi ấy, Mỹ đánh phá rất ác liệt, đặc biệt là chúng dùng máy bay C-130 ném bom, gây cản trở rất lớn cho lực lượng vận chuyển của ta. Nhiều anh em chiến sĩ khi ấy lo lắng và cho rằng, nếu cứ tiếp tục sẽ hy sinh lớn.
Trước tình hình đó, tướng Đồng Sỹ Nguyên đã bàn với lãnh đạo, chỉ huy của Bộ Tư lệnh Trường Sơn và đề xuất biện pháp giải quyết bằng cách tạo ra “con đường kín”. Con đường kín ấy giúp chúng ta chạy được cả ban ngày mà địch không thể phát hiện được, từ đó giúp chúng ta tăng được cả tốc độ lẫn lưu lượng vận chuyển.
-:- Báo QĐND -:-
vubao11-st
6

KHÔNG PHẢI NGƯỜI XUẤT SẮC MỚI TỰ KỶ LUẬT MÀ LÀ TỰ KỶ LUẬT MỚI TRỞ THÀNH NGƯỜI XUẤT SẮC

 

1. VÌ SAO CẦN PHẢI TỰ KỶ LUẬT?
Hầu hết chúng ta chỉ nhìn vào kết quả mà người khác đạt được nhưng lại bỏ quên nỗ lực đằng sau thành công đó.
Có thể bạn cho rằng: Những người giữ nguyên tắc cứng nhắc đều thật là nhàm chán! Khi người ta rong chơi vui vẻ thì họ kiếm một chỗ vùi đầu đọc sách. Khi người ta thưởng thức của ngon vật lạ thì họ lại đổ mồ hôi như mưa trong phòng tập thể hình. Ngày cuối tuần, người ta lười biếng ngủ nướng đến tận trưa thì họ vẫn kiên trì như mọi ngày: Dậy sớm, chạy bộ, đọc sách, làm việc… Người như vậy thật chẳng có gì thú vị, thậm chí cứ như là đang ngược đãi bản thân vậy, cuộc sống cũng chẳng còn chút thoải mái, tự do nào.
Nhưng sự thật là: người tự kỷ luật lại tự do hơn nhiều so với người vô kỷ luật.
Nếu một người chỉ luôn làm những gì mình muốn, coi trọng hưởng thụ mà không biết nỗ lực, thì rõ ràng họ không có trách nhiệm với bản thân mình. Hiện tại dường như là tự do, nhưng một ngày nào đó, họ sẽ nhận ra rằng mình đã trì trệ quá lâu, không còn theo kịp những người tự kỷ luật nữa rồi.
Khoảng cách giữa người tự kỷ luật và người không kỷ luật là rất nhỏ. Một ngày, hai ngày có thể bạn sẽ không nhìn ra. Một tháng, hai tháng e rằng vẫn chưa thể nhận ra. Nhưng một năm, hai năm, thậm chí mười năm, hai mươi năm, chắc chắn bạn sẽ nhìn thấy sự khác biệt rõ ràng. Người tự kỷ luật và người không kỷ luật cuối cùng rồi sẽ đi trên những con đường hoàn toàn khác nhau.
Càng tự kỷ luật, lời nói càng có trọng lượng, đường đời càng thành công và cuộc sống càng hạnh phúc
Còn mỗi một hành vi vô kỷ luật, đều là tự làm khổ bản thân mình.
Không cam chịu làm nô lệ của ham muốn tầm thường, sự tự kỷ luật sẽ thúc đẩy chúng ta sống tích cực và thành công hơn.
2. CÓ THỂ KIÊN TRÌ ĐƯỢC, ĐÓ CHÍNH LÀ KỶ LUẬT
Tác gia Haruki Murakami bắt đầu viết từ năm 30 tuổi, đến nay ông đã viết gần 40 năm, sáng tác một lượng lớn tác phẩm kinh điển nổi tiếng cả trong và ngoài Nhật Bản.
Haruki Murakami có thói quen chỉ viết 4.000 từ mỗi ngày, 400 từ một trang, và khi viết được 10 trang thì dừng lại. Ngày nào cũng đều đặn như vậy
Jack Ma, mặc dù đã là một ông chủ thành danh, nhưng ông vẫn học tập không ngừng, sợ rằng không học tập thì chính mình sẽ lạc hậu. Ông vẫn luôn giữ thói quen đọc sách mỗi ngày trước khi đi ngủ.
Bill Gates cũng đặc biệt yêu thích đọc sách. Suốt mấy chục năm qua ông đều kiên trì mỗi tuần đọc xong ít nhất hai cuốn sách. Phải yêu cầu bản thân nghiêm khắc, ông mới duy trì được thói quen ấy thường hằng.
3. KHÔNG PHẢI NGƯỜI XUẤT SẮC MỚI TỰ KỶ LUẬT MÀ LÀ TỰ KỶ LUẬT MỚI TRỞ THÀNH NGƯỜI XUẤT SẮC
Những người có thể chân chính vươn đến đỉnh cao, chắc chắn luôn là người chuyên tâm dồn chí, luôn luôn kiên trì tiến lên phía trước.
Muốn thành công không thể đi đường gần, lại càng không thể hấp tấp vội vàng. Mỗi bước đi hãy luôn là những bước chắc chắn. Tự kỷ luật bản thân, chúng ta có thể trở thành hình tượng mà mình yêu thích, sống cuộc sống mà mình mong muốn.
Thay vì để những giấc mơ bị b.ó.p n.g.h.ẹ.t, hãy tự yêu cầu bản thân nỗ lực trong tất cả mọi việc. Càng chăm chỉ, càng nỗ lực, càng kỷ luật, càng xuất sắc. Đây chính là lý do vì sao chúng ta nên tự kỷ luật bản thân mình.
vubao10-st
Có thể là hình ảnh về văn bản cho biết 'ON A NGƯỜI OFF THÀNH CÃNG KHÔNG PHẢI NGƯỜI XUẤT SẮC MỚI TỰ KỶ LUẬT MÀ LÀ TỰ KỲ LUẬT MỚI TRỞ THÀNH NGƯỜI XUẤT SẮC'
3

ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP VÀ CUỘC GIẢI PHÓNG TRƯỜNG SA

 

Dù không nằm trong kế hoạch chiến lược ban đầu của cuộc Tổng tiến công mùa xuân năm 1975, nhưng khi thời cơ đến, nhận định đúng tình hình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Quân ủy trung ương đã kịp thời kiến nghị Bộ Chính trị cho phép tiến công giải phóng quần đảo Trường Sa, trước sự lăm le nhòm ngó của nước ngoài.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên và chính ủy Đặng Tính thăm đường 20
“Điều đó cho thấy tầm nhìn chiến lược cao rộng của anh Văn - người mà lịch sử đã trao cho sứ mệnh làm tổng tư lệnh quân đội để bảo vệ vẹn toàn Tổ quốc với “tam sơn, tứ hải, nhất phần điền” mà cha ông để lại” - thiếu tướng, anh hùng Mai Năng - nguyên tư lệnh Binh chủng đặc công, người chỉ huy cuộc tiến công giải phóng Trường Sa tháng 4-1975, nói.
“Nếu chậm, có thể quân nước ngoài chiếm trước”
Trong tác phẩm Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã dành riêng một chương “Giải phóng Trường Sa” để hồi tưởng sự kiện này.
Ông viết: “Ngay sau chiến thắng Buôn Ma Thuột, Quân ủy Trung ương kiến nghị với Bộ Chính trị Trung ương Đảng: Vừa chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, vừa tiến hành giải phóng các đảo và quần đảo quân ngụy đang chiếm giữ. Kiến nghị này đã được ghi vào Nghị quyết Bộ Chính trị ngày 25-3-1975”. Ông cho biết đây là “sự kiện đặc biệt đã diễn ra ngoài kế hoạch chiến lược ban đầu”.
Ông Mai Năng, khi ấy đeo quân hàm thượng tá, chỉ huy Đoàn 126 đặc công nước huyền thoại, đang ém quân ở Hải Phòng chờ lệnh tiến về Sài Gòn, kể lại: “Phải nói rằng khi ấy trong tâm tưởng mỗi người lính và chỉ huy chúng tôi thì mục tiêu là được tham gia đoàn quân tiến về Sài Gòn, thực hiện nhiệm vụ thiêng liêng thống nhất đất nước.
Cuối tháng 3-1975, tôi bất ngờ nhận được mật lệnh: lập tức chuyển quân vào Đà Nẵng, chọn lực lượng tinh nhuệ, chuẩn bị giải phóng quần đảo Trường Sa. Tôi tuyển lựa khoảng 250 chiến sĩ tinh nhuệ, sẵn sàng cho trận tiến công lịch sử ngoài biển khơi bao la. Sau này tôi mới biết chính anh Văn là người thay mặt Quân ủy trung ương kiến nghị Bộ Chính trị cho phép giải phóng Trường Sa và trực tiếp dặn dò, chỉ thị cặn kẽ các tình huống tác chiến trên biển…”.
Ngày 9-4, khi Cục Quân báo phát hiện quân đội Sài Gòn bắt đầu rút quân khỏi các đảo, Quân ủy trung ương đã phát đi bức điện tối khẩn vào Quân khu 5, người nhận là Võ Chí Công, Chu Huy Mân và Hoàng Hữu Thái: "Các anh cho kiểm tra lại ngay và chỉ thị cho lực lượng ta hành động kịp thời theo phương án đã định. Nếu để chậm, có thể quân nước ngoài chiếm trước, vì hiện nay một số nước ngoài đang có ý đồ xâm chiếm".
Ngày 13-4, Đại tướng Võ Nguyên Giáp điện cho tướng Chu Huy Mân dặn dò rất cụ thể: “Thời cơ cụ thể đánh chiếm là: a) Nếu địch đã rút toàn bộ hoặc rút đại bộ phận thì đánh chiếm ngay. Nếu quân nước ngoài đánh chiếm trước thì đánh chiếm lại; b) Nếu địch mới có triệu chứng rút hoặc bắt đầu rút thì theo dõi, kịp thời đánh chiếm khi địch rút đại bộ phận; c) Khi tình hình chung của địch nguy khốn, nhất là tình hình địch ở trọng điểm, thì đánh chiếm ngay. Hai thời cơ cụ thể trên do anh theo dõi và quyết định. Thời cơ cụ thể thứ ba tôi sẽ kịp thời báo anh khi xuất hiện".
Tướng Mai Năng, nay là một cựu binh đã 84 tuổi, người từng tham gia cả hai cuộc kháng chiến, nói về vai trò của tướng Giáp: “Nếu chúng ta đến Trường Sa chậm một vài ngày, thậm chí chỉ chậm một vài giờ khi quân đội Sài Gòn đã rệu rã, choáng váng vì các tin tức thất trận trong đất liền, thì nước ngoài có thể thừa cơ mà chiếm lấy quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của chúng ta. Trong giờ khắc lịch sử ấy, bộ óc thiên tài Võ Nguyên Giáp thật anh minh, sáng suốt nhận định tình hình và kịp thời đưa ra những chỉ đạo rất trúng”.
Ra khơi…
Tư tưởng mà những người tham gia cuộc tiến công giải phóng Trường Sa nhận được từ vị Đại tướng Tổng tư lệnh của họ là: Trên mặt trận biển Đông, hành động cũng phải "Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng".
Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết về cuộc tiến công này như sau: “Nhận các chỉ thị, mệnh lệnh của Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh, anh Hoàng Hữu Thái ra lệnh cho các tàu hải quân ngụy trang giả dạng tàu đánh cá, xuất phát vào lúc trời chưa sáng.
Bằng phương tiện nhỏ và ít, đối mặt với tàu chiến lớn của địch và đại dương mênh mông, quân ta đánh theo kiểu của mình: bí mật tiếp cận, nhanh chóng đổ bộ, bất ngờ đánh chiếm mục tiêu.
Đúng 4g30 sáng 14-4, sau hơn 1 giờ tổ chức đổ bộ, ta nổ súng tiến công, nhanh chóng tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch, giải phóng đảo Song Tử Tây, kéo lá cờ Tổ quốc lên đỉnh cột cờ trên đảo. Tiếp đó, ngày 25-4, quân ta tiến công đánh chiếm đảo Sơn Ca.
Ngày 27-4, ta giải phóng đảo Nam Yết và đảo Sinh Tồn. Ngày 28-4, quân ta giải phóng đảo Trường Sa, đảo An Bang, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao trong vòng nửa tháng với những cố gắng lớn nhất”.
Lực lượng của ta tiến ra Trường Sa chỉ gồm ba chiếc tàu vận tải của Đoàn 125 - đoàn tàu không số huyền thoại và Đoàn 126 đặc công nước do thượng tá Mai Năng chỉ huy.
Trước giờ ra khơi, ông Hoàng Hữu Thái (phó đô đốc, nguyên tư lệnh Hải quân) khi ấy là chuẩn đô đốc, phó tư lệnh Hải quân, đã hỏi ông Mai Năng: “Trận này đánh có khó không?”.
Ông Mai Năng trả lời: “Cái khó trước hết đây là vấn đề mới của đặc công nước. Bởi đặc công nước chuyên đánh tàu, chưa quen đánh căn cứ, cứ điểm. Cái khó thứ hai là đặc công phải tiếp cận và đánh ngay, đây là điều không đơn giản. Lâu nay truyền thống của đặc công là đánh gần, mà đánh gần thì đảm bảo bí mật, bất ngờ, luồn sâu, ém sát, hay nói cách khác là mắt thấy, tai nghe, tay sờ, chân phải đến; nhưng Trường Sa thì địa bàn rất rộng lớn và quân ta chưa thông thuộc địa hình…”.
“Vậy không đánh được à?” - ông Thái hỏi. “Tôi trả lời là đánh được, nhưng phải có phương pháp mới, đánh theo phương pháp trinh sát vũ trang, có nghĩa là trinh sát đến đâu đánh đến đó, không chuẩn bị trước” - ông Mai Năng kể.
“Bằng mọi cách phải giải phóng bằng được các đảo, không được để bất cứ lực lượng nào chiếm” - ông Mai Năng nhớ như in mệnh lệnh của cấp trên trước lúc lên đường.
Rạng sáng 14-4-1975, khi mặt trời chưa mọc, quân của ông Mai Năng đã nổ phát súng đầu tiên ngoài Trường Sa, đổ bộ lên đảo Song Tử Tây. Binh lính của quân đội Sài Gòn nhanh chóng đầu hàng. Gặp người chỉ huy quân đội Sài Gòn tại đây, ông Mai Năng hỏi “Tại sao các cậu đã có lời thề giữ đảo đến chết mà lại đầu hàng?”, người chỉ huy phía bên kia đã đáp rằng: “Nếu là lực lượng khác đến chiếm thì chúng tôi sẽ chiến đấu đến giọt máu cuối cùng, nhưng khi nghe các ông kêu hàng thì chúng tôi muốn bàn giao đảo cho quân giải phóng…”.
“Vĩnh biệt anh Văn. Nơi anh chọn để an giấc ngàn thu là cửa biển quê nhà, tựa vào dãy Trường Sơn và hướng ra biển Đông bao la - ở đó vẫn còn những con sóng dữ thử thách sức bền của dân tộc chúng ta…” - người tướng già Mai Năng xúc động
vubao9-st

ĐOÀN CHUYÊN GIA THƯ VIỆN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM THỰC HIỆN CHUYẾN CÔNG TÁC SANG GIÚP THƯ VIỆN QUÂN ĐỘI LÀO VÀ CỤC KHOA HỌC - LỊCH SỬ QUÂN SỰ LÀO


Nhằm thắt chặt mối quan hệ đoàn kết gắn bó giữa hai quân đội Việt Nam – Lào. Theo đề nghị của Thư viện Quân đội và Cục Khoa học - Lịch sử Quân sự (CKH-LSQS) Lào, được sự đồng ý của thủ trưởng Bộ quốc phòng, thủ trưởng TCCT Đoàn chuyên gia Thư viện (CGTV) do Thượng tá Nguyễn Thuý Cúc - Trưởng phòng Phục vụ Bạn đọc, Thư viện Quân đội nhân dân Việt Nam (Trưởng đoàn) sang giúp bạn cài đặt phần mềm thư viện điện tử, trang web, hướng dẫn tổ chức sắp xếp thư viện...
Trong đợt công tác này, Đoàn chuyên gia Thư viện Quân đội nhân dân Việt Nam sẽ hỗ trợ việc cài đặt phần mềm Thư viện điện tử, trang web cho Thư viện quân đội và CKH-LSQS Lào; hướng dẫn sử dụng phần mềm Thư viện điện tử, trang web; tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ, nhân viên của hai đơn vị, tư vấn sắp xếp thư viện sao cho khoa học, hợp lý. Cũng trong thời gian làm việc tại Lào, Đoàn CGTV quân đội nhân dân Việt Nam sẽ có các hoạt động trao đổi, khảo sát các hoạt động thực tế của Thư viện Quân đội nhân dân Lào và CKH-LSQS Lào để có những đề xuất với cấp trên có những hỗ trợ, giúp đỡ hai đơn vị trong những năm tiếp theo.
Chiều ngày 21/6/1011, Thiếu tướng Phumi Dalaphet, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị quân đội Nhân dân Lào đã tiếp đón Đoàn CGTV Quân đội Nhân dân Việt Nam. Thủ trưởng TCCT Quân đội nhân dân Lào tin tưởng rằng chuyến công tác của Đoàn CGTV quân đội Việt Nam sẽ góp phần tăng cường hơn nữa mối quan hệ hợp tác giữa quân đội hai nước, củng cố mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, tình đoàn kết đặc biệt giữa hai Đảng, hai Nhà nước và Quân đội Việt Nam – Lào. Đặc biệt năm 2022 là năm kỷ niệm 60 năm thiết lập Quan hệ ngoại giao Việt Nam – Lào (05/9/1962 – 05/9/2022) và kỷ niệm 45 năm ngày ký hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa hai nước Việt Nam – Lào (18/7/1977 – 18/7/2022).
Thay mặt Đoàn CGTV quân đội nhân dân Việt Nam, Thượng tá Nguyễn Thúy Cúc báo cáo tình hình, nội dung kế hoạch hoạt động của đoàn sẽ cố gắng để hoàn thành tốt mục đích yêu cầu để ra, đồng thời khẳng định, Thư viện Quân đội nhân dân Việt Nam luôn coi trọng việc giúp đỡ Thư viện Quân đội nhân dân Lào, cũng như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy “giúp bạn là tự giúp mình”.
Tin, ảnh: Nguyễn Thúy Cúc
vubao8-st
Có thể là hình ảnh về 5 người, mọi người đang ngồi và mọi người đang đứng
3