Chủ Nhật, 3 tháng 7, 2022

LẠI MỘT SỰ XUYÊN TẠC TRẮNG TRỢN VỀ NHÂN QUYỀN VIỆT NAM

Những tổ chức, cá nhân có thâm thù với Việt Nam luôn tìm mọi cách xuyên tạc tình hình nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng; trong đó, có việc thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân. Báo cáo của tổ chức “Ân xá quốc tế” mới đây là một ví dụ.Trung tuần tháng 7-2016, tổ chức “Ân xá quốc tế” (Amnesty International) đã đưa ra bản “báo cáo” về tình trạng tù nhân trong các trại giam ở Việt Nam hiện nay. Cái gọi là “báo cáo” do John Coughlan - “nhà nghiên cứu”, phụ trách về Việt Nam - của tổ chức này chuẩn bị, với nội dung chủ yếu là xuyên tạc thực tế, vu cáo Việt Nam vi phạm quyền con người. Song, việc làm sai trái mang đậm mầu sắc chính trị đó của “Ân xá quốc tế” chỉ có thể lừa gạt được những ai không biết hoặc chưa hiểu rõ tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Và dù vậy, nó cũng không thể phủ nhận được thành tựu, nỗ lực của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam về nhân quyền! Câu hỏi đặt ra là: tại sao một tổ chức nhân danh quốc tế lại làm như vậy, thay vì đưa ra một báo cáo khách quan, trung thực về tình hình ở Việt Nam? Chuyện tưởng lạ song không lạ! Bởi, vấn đề ở chỗ họ là ai. Cái gọi là tổ chức “Ân xá quốc tế” được thành lập năm 1962 ở Anh, bởi luật sư Peter Benenson. Hoạt động chủ yếu của tổ chức này mang động cơ chính trị và tồn tại được là do sự tài trợ của các thế lực tài phiệt quốc tế, phục vụ cho mục đích của họ. Về vấn đề này, Giáo sư luật, của Đại học Illinois, Francis Boyle, người từng là thành viên của Hội đồng Quản trị của Tổ chức Ân xá quốc tế Hoa Kỳ vào đầu những năm 1990, tuyên bố: “tổ chức Ân xá quốc tế đã hành động theo những chủ trương có liên quan chặt chẽ với chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ và Vương quốc Anh”. Đồng thời, nhấn mạnh: “các nhóm ủng hộ Israel tại Hoa Kỳ và Anh đã ngầm đóng góp tài chính tương đối lớn của tổ chức Ân xá quốc tế (Ông ước tính ở mức 20% ngân sách của tổ chức) và dùng nó để khiến tổ chức này có những tuyên bố thiên vị Israel”. Cùng với nhiều kết quả điều tra khác, Ông kết luận: một mặt, “Tổ chức Ân xá quốc tế hoạt động chủ yếu là do động cơ chính trị,…”; mặt khác, “là vì tiền và để thu hút nhiều hơn các thành viên, đồng thời tạo các xung đột nội bộ. Và cuối cùng mới là nhân quyền”. Với bản chất như vậy, hẳn sẽ không còn ai nghi ngờ về tính thiếu khách quan, chính xác của báo cáo về nhân quyền tổ chức “Ân xá quốc tế” đưa ra. Nói cách khác, ở đây không thể có sự khách quan, trung thực - thứ hoàn toàn xa lạ, xa xỉ đối với Tổ chức này. Còn về thuật ngữ “tù nhân lương tâm”, cũng là sản phẩm mà tổ chức “Ân xá quốc tế” sáng tạo ra, nó không phải ngôn từ thông dụng khi đề cập về lĩnh vực nhân quyền. Nhưng phải thừa nhận rằng, một khi muốn thuyết phục ai đó về hành động sai trái, thiếu trung thực thì có lẽ không có ngôn từ nào phù hợp hơn cụm từ “tù nhân lương tâm”. Vì thế, cụm từ này được tổ chức “Ân xá quốc tế” sử dụng cũng không có gì là lạ. Có điều, ở Việt Nam, không có cái gọi là “Tù nhân lương tâm” như tổ chức “Ân xá quốc tế” vẫn rêu rao, mà chỉ có những kẻ bị Nhà nước truy tố vì vi phạm pháp luật với tội danh gây rối, làm mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, chống đối, hòng lật đổ chế độ hiện hành. Đó là sự thật. Và sự thật thì luôn luôn là sự thật, dù bất kỳ ai, sử dụng “mưu mô, chước quỷ” như thế nào hòng thay đổi thì nó vẫn là sự thật. Về phương pháp thực hiện “Báo cáo”, ngày 15-7, trả lời phỏng vấn của BBC tiếng Việt, ông John Coughlan, khẳng định: “Báo cáo này căn cứ trên một năm nghiên cứu, gồm các cuộc phỏng vấn,…” và nhấn mạnh: “Những người chúng tôi phỏng vấn là cựu tù nhân lương tâm, tức là những người đã ra tù trong vòng 5 năm trở lại đây, có 18 người dự phỏng vấn của chúng tôi, 11 nam và 7 nữ. Tuy nhiên chúng tôi cũng thu thập thông tin đối với những tù nhân lương tâm hiện bị giam thông qua các tổ chức nhân quyền và thông tin công cộng khác”. Như vậy là Ông ta ngồi một chỗ, tự nghĩ ra nội dung theo “đơn đặt hàng”, vẽ ra kịch bản để “phỏng vấn” qua điện thoại và thư điện tử(!) Vậy, “Tù nhân lương tâm” ở Việt Nam là ai? Theo họ, đó là một số cá nhân, như: Cù Huy Hà Vũ, Phạm Trí Dũng, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Phạm Viết Đào, Tạ Phong Tần, Trương Duy Nhất, Nguyễn Văn Hải, v.v. Nếu điểm mặt, chỉ tên thì sự thựt đây là những người đã vi phạm pháp luật, hoạt động với mưu đồ chống phá, lật đổ chế độ và bị Nhà nước Việt Nam xử lý bằng pháp luật. Xin hỏi rằng, các cuộc “phỏng vấn qua điện thoại, email” đối với những con người đó liệu có chính xác? Rằng họ sẽ xác thực thành tựu nhân quyền Việt Nam, hay chỉ là những thông tin giả tạo, với sự hằn học, thâm thù? Sẽ là thừa nếu ai đặt câu hỏi: tại sao, Ông ta lại không lấy thông tin từ những tổ chức, cơ quan, cá nhân có trách nhiệm theo quy định của pháp luật Việt Nam? Bởi, nếu đúng như vậy thì đúng là chuyện lạ! Tổ chức của cái gọi là “Ân xá quốc tế” có cùng chung mục đích của những kẻ kỳ thị, chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam! Như vậy, phương pháp của “nhà nghiên cứu” và cái tổ chức “Ân xá quốc tế” là phi khoa học, chứa đựng mưu đồ xấu! Với tâm địa, mục đích và phương pháp như vậy, John Coughlan không xứng đáng là một nhà nghiên cứu! Về nội dung, bản “báo cáo” vẽ ra là: các “tù nhân lương tâm” trong các nhà tù ở Việt Nam luôn bị “tra tấn, ngược đãi” bằng các hình thức như: “biệt giam”, “đánh đập”, “cưỡng bức mất tích” hoặc “bị khước từ chữa bệnh”,…(!) Từ đó, họ “kiến nghị” Chính phủ Việt Nam phải: “chấm dứt việc bắt bớ và lập tức trả tự do cho các tù nhân lương tâm”, “Chấm dứt việc tra tấn và đối xử tàn bạo tại các đồn công an, trại giam”; “sửa đổi Bộ luật Hình sự, Luật Tố tụng hình sự và Luật về Thi hành tạm giữ và tạm giam”, v.v. Đây là một sự vu khống, xuyên tạc trắng trợn về tình hình bảo đảm quyền con người, quyền công dân của Nhà nước Việt Nam; đồng thời, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ Việt Nam. Như mọi người đều biết, quyền tự quyết của các dân tộc đã được ghi trong Hiến chương Liên hợp quốc (năm1945) và Tuyên ngôn thế giới về Quyền con người (năm1948); trong đó, bao gồm: quyền lựa chọn chế độ chính trị, thiết lập thể chế quốc gia, xây dựng hệ thống pháp luật nhằm bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Đây là quyền của mọi quốc gia, dân tộc mà không có tổ chức, cá nhân nào có quyền can thiệp. Việt Nam là một đất nước có chủ quyền, thể chế chính trị, Hiến pháp và pháp luật Việt Nam do nhân dân Việt Nam quyết định. Trên thực tế, với tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, Đảng Cộng sản Việt Nam đã giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tập hợp mọi giai tầng xã hội để thực hiện công cuộc “ba giải phóng”: giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bất công, đem lại độc lập, tự do, thống nhất cho Tổ quốc, hạnh phúc cho người dân. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám - 1945 dẫn đến sự ra đời của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa; Chiến thắng Điện Biên Phủ-1954, Đại thắng mùa Xuân 1975 đất nước hoàn toàn độc lập, thống nhất, tự do; thắng lợi của 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước (1986-2016),… là những thành tựu mang tính lịch sử trong thực hiện “ba giải phóng”. Việt Nam đã “rũ bùn, đứng dậy sáng lòa”, bản lĩnh, phẩm giá, trí tuệ Việt Nam được nhân dân yêu chuộng tiến bộ và hòa bình trên thế giới ghi nhận, đánh giá là “người chiến sĩ tiên phong” trong công cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc, xóa bỏ bất công, áp bức, đói nghèo của thế kỷ XX. Bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế, Việt Nam kiên định với mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, lấy con người làm trung tâm của mọi chiến lược phát triển. Cương lĩnh (Sửa đổi, bổ sung năm 2011) của Đảng Cộng sản Việt Nam ghi rõ: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân”. Nhằm bảo đảm và thúc đẩy các quyền con người phù hợp với Hiến pháp Việt Nam và các chuẩn mực quốc tế, Việt Nam đã là thành viên của 07 Công ước quốc tế cơ bản về quyền con người, đồng thời luôn thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, cam kết, nghĩa vụ của quốc gia thành viên. Các nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực bảo đảm thúc đẩy các quyền con người đã được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Đặc biệt, năm 2014, Việt Nam đã phê chuẩn tham gia: “Công ước về quyền của người khuyết tật”; “Công ước chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người”. Với thành tích bảo vệ nhân quyền, Việt Nam đã được công đồng quốc tế bầu làm thành viên của Hội đồng Nhân Quyền Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2014-2016) và là thành viên của nhiều tổ chức có uy tín khác trên thế giới. Điều này, mặc nhiên khẳng định, Việt Nam không chỉ bảo đảm tốt quyền con người, quyền công dân, mà còn có nhiều đóng góp cho cuộc đấu tranh vì nhân quyền trên thế giới. Thực tế cho thấy, quan điểm bảo vệ, tổ chức thực hiện quyền con người, quyền công dân được thể hiện rõ trong Hiến pháp 2013 và các bộ luật, luật của Nhà nước Việt Nam; đồng thời, trong thực tiễn các quyền của người dân Việt Nam về kinh tế, văn hóa, xã hội,… đều được bảo đảm ngày càng tốt hơn. Đất nước Việt Nam hiện nay rất thanh bình, có nền chính trị ổn định, trật tự, an toàn xã hội được đảm bảo, có nền kinh tế phát triển, đời sống người dân được nâng cao. Việt Nam là điểm sáng của Liên hợp quốc về hòa hợp, hòa giải dân tộc và xóa đói giảm nghèo, về tốc độ và chất lượng phát triển, là điểm đến đầu tư của cộng đồng quốc tế. Đó là sự thật không ai có thể phủ nhận! Thực hiện Hiến pháp năm 2013, Nhà nước Việt Nam đã tiến hành luật hóa các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã phê chuẩn. Thực thi pháp luật, về việc bảo đảm quyền con người đối với phạm nhân, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định 98/2002/NĐ-CP, về “Sửa đổi, bổ sung một số điều của quy chế về tạm giam, tạm giữ năm 1988 của Chính phủ”; trong đó, quy định: “Trại giam phải tổ chức giam phạm nhân theo từng loại riêng, v.v. Phạm nhân là nữ hoặc là người chưa thành niên phải được giam ở khu vực riêng trong từng trại (Điều 7), “Trừ những phạm nhân bị phạt giam ở buồng kỷ luật, còn các phạm nhân khác được ở theo buồng tập thể” (Điều 15); “Trại giam phải được bảo vệ nghiêm ngặt,… có đủ ánh sáng, bảo đảm vệ sinh, môi trường” (Điều 10); “Phạm nhân được hoạt động thể dục, thể thao, văn hóa, văn nghệ,… được đọc sách, nghe Đài Tiếng nói Việt Nam, xem truyền hình” (Điều 18); “Trong thời gian ở trại, phạm nhân được khám sức khỏe định kỳ ít nhất một năm một lần” (Điều 19). Đặc biệt, Điều 21 quy định: “Phạm nhân lao động ngày 8 giờ”, “Nữ phạm nhân có thai được nghỉ trước và sau khi đẻ theo quy định chung của Nhà nước”. Điều 23, quy định: “Kết quả lao động do phạm nhân dùng để đầu tư trở lại mở rộng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất của trại, thưởng cho cán bộ, chiến sĩ của trại có thành tích trong việc tổ chức và quản lý sản xuất; thưởng cho phạm nhân vượt chỉ tiêu”, nếu không đủ, “Nhà nước sẽ cấp bổ sung số kinh phí còn thiếu”. Như vậy, phạm nhân trong nhà tù ở Việt Nam đã được hưởng những quyền cơ bản của con người theo quy định của pháp luật. Họ được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, được dạy nghề, lao động và hưởng thụ thành quả của mình theo quy định. Có thể khẳng định rằng, trong các nhà tù ở Việt Nam, phạm nhân không chỉ được thực hiện quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm, mà còn được giáo dục, cải tạo, dạy nghề để trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội. Cùng với đó, Nhà nước cũng quy định rõ chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của các cá nhân được Nhà nước trao quyền thực thi công vụ một cách rõ ràng, nếu họ vi phạm những quy định đó sẽ bị pháp luật xử lý một cách nghiêm minh. Theo đó, Bộ luật Hình sự (năm 1999) quy định: “Người nào trong khi thi hành công vụ mà làm chết người do dùng vũ lực,…” thì bị phạt tù “từ 02 năm đến 07 năm” (Điều 97); “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” có hình phạt lên đến 07 năm tù (Điều 104), v.v. Với tinh thần nhân đạo, khoan hồng, Nhà nước Việt Nam đã ban hành Luật Đặc xá. Hằng năm, Chính phủ thực hiện đặc xá cho phạm nhân theo nguyên tắc: công khai, minh bạch, dân chủ, đúng người, đúng quy định luật pháp. Trước mỗi đợt đặc xá, phạm nhân được bình bầu dân chủ, chọn những người thành tâm sửa chữa, nỗ lực lao động cải tạo, chấp hành nội quy trại giam,… tốt sẽ được đặc xá trước. Còn những phạm nhân nào chấp hành không nghiêm nội quy trại giam, lười lao động, cải tạo,… thì nhất thiết phải chờ đến hết thời hạn trong tù theo quy định. Từ năm 2009 - 2015, triển khai Luật Đặc xá, Chủ tịch nước đã quyết định thực hiện 05 đợt đặc xá, tha trước thời hạn cho gần 64 nghìn phạm nhân. Cùng với đó, Nhà nước đã thực hiện nhiều chính sách cho người đang thi hành án, trong đó có chính sách dạy nghề. Phần lớn những người được đặc xá năm 2015 đã có trong tay những nghề đơn giản để hội nhập cộng đồng. Như vậy, những nội dung mà tổ chức “Ân xá quốc tế” nêu ra trong cái gọi là “báo cáo” đều không có cơ sở, biểu hiện sự xuyên tạc đường lối, chính sách, pháp luật và thực tiễn ở các trại giam Việt Nam hiện nay. Cũng cần nhấn mạnh rằng, núp dưới danh nghĩa “bảo vệ nhân quyền”, tổ chức “Ân xá quốc tế” đã ngang nhiên bao che, bảo vệ, cổ vũ cho các hành vi phạm tội gây rối trật tự công cộng và xâm phạm an ninh quốc gia. Đó là những cá nhân vi phạm pháp luật, bị truy tố, bắt giữ, đưa vào cải tạo trong nhà tù (mà họ gọi là “tù nhân lương tâm”) thuộc những tội, như: “Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” (Điều 79, Bộ luật Hình sự, năm 1999; “Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”; “Tội lợi dụng các quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” (Điều 258, Bộ luật Hình sự, năm 1999), v.v. Những việc mà tổ chức này đã, đang làm là không thể chấp nhận. Điều này, thể hiện quan điểm chính trị, nhân quyền đi ngược lại với các nguyên tắc của luật pháp quốc tế và luật pháp Việt Nam. Việc “Ân xá quốc tế” chỉ nhăm nhăm bảo vệ những “Tù nhân lương tâm”, chứng tỏ họ không xứng với cái tên và “cái áo” bảo vệ nhân quyền đang mang. Thực ra, những cái gọi là tổ chức, như: “Ân xá quốc tế”, “Tổ chức theo dõi nhân quyền quốc tế” (Human Right Watch - HRW) chỉ là những “cái loa rè”, là công cụ của lực lượng cực hữu trong việc khuyến khích các hoạt động chống phá các nước thể chế dân chủ không theo mô hình phương Tây, trong đó có Việt Nam. Trò xuyên tạc sự thật, bôi nhọ chế độ xã hội chủ nghĩa, vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền chẳng có gì mới, vẫn là việc làm thường xuyên của các thế lực thù địch. Chúng luôn tìm mọi cách để làm giảm sút lòng tin của các tầng lớp nhân dân với chế độ xã hội, gây rối, làm mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, hòng lật đổ chế độ xã hội Việt Nam hiện hành. Dẫu có núp dưới hình thức nào, những kẻ như thế luôn bị nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, nhân dân Việt Nam nhận rõ và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ. Hành động của tổ chức “Ân xá quốc tế” thật sự là hành động lố bịch, chẳng lừa gạt được ai.Top of Form./.

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC SỰ THẬT!

Lâu nay, mỗi khi Đảng ta quyết định xử lý những cán bộ cấp cao do vi phạm pháp luật, điều lệ Đảng, lập tức xuất hiện những suy luận hàm hồ, vô căn cứ của các phần tử phản động, thù địch nhằm chống phá, cố tình gây hiểu sai về công tác cán bộ của Đảng. Mới đây, Ủy ban Kiểm tra Trung ương xem xét, xử lý kỷ luật một số tập thể và cá nhân vi phạm, thì những luận điệu xuyên tạc lại trơ trẽn xuất hiện. Chúng suy diễn công tác cán bộ của Đảng là sai lầm nên mới nhiều cán bộ hư hỏng, bị kỷ luật như vậy, bịa đặt đây là việc giải quyết phe phái nên khi xử lý sai phạm thiếu công tâm, thiên vị, "bên nặng, bên nhẹ"... Trước tiên phải nhắc lại, lịch sử hơn 90 năm rèn luyện phấn đấu, xây dựng và trưởng thành cho thấy, Đảng ta luôn đặc biệt coi trọng công tác xây Đảng, coi đây là "nhiệm vụ then chốt", trong đó công tác cán bộ là "then chốt của then chốt". Bởi "cán bộ là cái gốc của mọi công việc", "Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém" như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy. Công tác xây dựng Đảng được triển khai thực hiện thường xuyên, liên tục và lần lượt trên cả hai mặt "xây" và "chống", trong đó "xây" là cơ bản, lâu dài, "chống" là quan trọng, cấp bách. Hai nhiệm vụ này luôn song hành, kết hợp nhuần nhuyễn nhằm làm trong sạch đội ngũ, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng. Còn nguyên tắc, tư tưởng nhất quán và việc làm thường xuyên của Đảng ta đối với cán bộ, đảng viên là: Làm tốt thì biểu dương, khen thưởng; làm chưa tốt thì nhắc nhở, phê bình; vi phạm sẽ phải xử lý nghiêm minh, kết luận rõ đến đâu xử lý đến đó, không có "vùng cấm", hoặc ngoại lệ. Cũng thẳng thắn nhìn nhận, dù Đảng rất coi trọng công tác cán bộ và Nhà nước pháp quyền luôn nêu cao tính nghiêm túc thượng tôn pháp luật song, buồn và nhức nhối là trước tác động mặt trái của cơ chế thị trường, mở cửa hội nhập, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thời gian qua đã sa ngã, thoái hóa, biến chất. Điều này có thể thấy từ nhiều vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thời gian qua, nhất là gần đây như vụ án "Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng; Đưa hối lộ; Nhận hối lộ; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ", xảy ra tại Công ty Việt Á; vụ án "Tham ô tài sản; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ và Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng" xảy ra tại Học viện Quân y, Bộ Quốc phòng. Hay như vụ án buôn bán thuốc giả với việc nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế Trương Quốc Cường bị tuyên án phạt 4 năm tù…Không chỉ vậy, Ủy ban Kiểm tra Trung ương thời gian gần đây đã liên tiếp "điểm tên" các tập thể và cá nhân ở các cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang có dấu hiệu vi phạm pháp luật, điều lệ Đảng. Điển hình là mới đây, tại Kỳ họp thứ 15, nhiều quyết định kỷ luật quan trọng được Ủy ban Kiểm tra Trung ương đưa ra. Quyết định này căn cứ qua xem xét kết quả kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với Ban cán sự đảng Bộ Khoa học và Công nghệ và Ban cán sự đảng Bộ Y tế nhiệm kỳ 2016 - 2021 liên quan đến vụ tiêu cực tại Công ty cổ phần công nghệ Việt Á. Như Ủy ban Kiểm tra Trung ương nêu rõ tại Kỳ họp thứ 15, những vi phạm đó đã gây hậu quả nghiêm trọng, thiệt hại tiền và tài sản của Nhà nước, gây bức xúc trong xã hội, ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức đảng, của Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Y tế, đến mức phải xem xét, xử lý kỷ luật. Thế nên, một số lãnh đạo, cán bộ ở hai bộ này cùng chịu trách nhiệm về những vi phạm, khuyết điểm nêu trên; chịu trách nhiệm cá nhân về những vi phạm, khuyết điểm trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Từ những sự việc nêu trên nhìn rộng ra, chưa bao giờ tính nghiêm túc thượng tôn pháp luật của Nhà nước pháp quyền được nêu cao như hiện nay. Đảng đang quyết tâm không ngừng nghỉ trong đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực. Đặc biệt, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta đang mở ra trên nhiều lĩnh vực mới, khó, tồn tại lâu dài như: đất đai, tài chính, thị trường chứng khoán... Việc này thể hiện rất rõ ở Quy định số 32-QĐ/TW của Bộ Chính trị với việc, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng có thêm nhiệm vụ mới là phòng, chống tiêu cực và được đổi tên thành Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Tại Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thống nhất chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Những người đứng đầu Đảng, Nhà nước, Chính phủ cũng thể hiện rõ quan điểm không bao che, dung túng, tiếp tay cho các hành vi sai phạm. Như khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, là "không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai". Trước những quyết định mạnh tay từ các cơ quan Đảng, Nhà nước trong xử lý cán bộ sai phạm, dư luận xã hội đã rất tin tưởng, ủng hộ. Phản hồi từ nhân dân và chính nội bộ đảng viên đã cho thấy sự đồng tình trước chế tài xử lý, hình thức xử phạt đối với những cán bộ thoái hóa, biến chất. Bởi lẽ mức phạt đó rất nghiêm khắc, vừa cân xứng giữa hành vi phạm tội và hình phạt, lại đủ sức giáo dục, răn đe và cảnh tỉnh. Ấy vậy mà trong bối cảnh đó, lại xuất hiện những giọng điệu lạc lõng, hàm hồ, cố tình gây hiểu sai trong nhân dân về công tác cán bộ của Đảng. Mục đích của chúng là gì? Không khó để nhìn ra âm mưu từ những suy diễn vô căn cứ nhưng rất nguy hiểm của chúng! Chúng bóp méo sự thật nhằm phủ nhận công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xuyên tạc chủ trương, đường lối, thực tiễn công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng. Chúng cố tình gây hiểu sai trong dư luận nhân dân về công tác cán bộ của Đảng nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết của chúng ta. Chúng gây tâm lý mơ hồ, hoài nghi trong suy nghĩ của cán bộ, đảng viên, nhân dân vào vai trò lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Từ đó, chúng kích động sự chống đối của nhân dân với Đảng, đòi thay đổi chế độ chính trị, yêu cầu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thế nhưng "cây ngay bóng thẳng". Những luận điệu lòe bịp không thể xuyên tạc sự thật! Ai cũng hiểu rằng, những hành động cụ thể, kiên quyết đó của Đảng, Nhà nước chính là nhằm góp phần nâng cao uy tín và củng cố niềm tin trong nhân dân. Tất cả đều hướng tới mục đích xây dựng Đảng và làm trong sạch bộ máy Nhà nước. Như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định: "Thật đau xót, nhưng không thể không làm, không có cách nào khác! Tất cả là vì sự nghiệp chung của Đảng, của đất nước, của nhân dân". Thế nên dù các thế lực thù địch muốn bôi đen, xuyên tạc thế nào thì cuối cùng, chân lý vẫn là sự thật, lòng dân tin Đảng không thể thay đổi!.

Vai trò phương thức lãnh đạo và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị hiện nay

 

    Phương thức lãnh đạo của Đảng thuộc về phương pháp cách mạng; là một bộ phận quan trọng của công tác xây dựng Đảng, có vai trò rất lớn đối với xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, củng cố, nâng cao uy tín chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng. Thực tiễn cho thấy, muốn giành thắng lợi cho cách mạng, Đảng không phải chỉ đề ra được đường lối cách mạng đúng đắn, mà còn phải tìm ra được phương pháp cách mạng thích hợp. Trong phương pháp cách mạng thì phương thức lãnh đạo là nội dung chủ yếu nhất. Nhờ phương thức lãnh đạo đúng đắn, hoạt động của Đảng được thể hiện hiệu quả trong thực tiễn, được nhân dân thừa nhận. Qua đó, uy tín chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng được nâng lên.   

    Hiện nay, nhiệm vụ của công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là rất to lớn, nặng nề và có nhiều nội dung mới. Đảng không thể sử dụng nguyên phương thức lãnh đạo của các giai đoạn cách mạng trước để lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ đó. V.I. Lênin đã dạy: "Khi tình hình đã thay đổi và chúng ta phải giải quyết nhiệm vụ thuộc loại khác thì không nên nhìn lại đằng sau và sử dụng những phương pháp của ngày hôm qua.

    Do đó, để lãnh đạo công cụôc đổi mới thành công, Đảng phải đổi mới và xác định phương thức lãnh đạo hệ thống chính trị cho phù hợp với yêu cầu mới. Đặc biệt ở nước ta chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam duy nhất cầm quyền, phương thức lãnh đạo của Đảng tác động trực tiếp đến hoạt động của tất cả các tổ chức trong hệ thống chính trị. Phương thức lãnh đạo đúng sẽ tạo động lực cho các tổ chức trong hệ thống chính trị phát huy vai trò, vị trí của mình; ngược lại, nếu phương thức lãnh đạo của Đảng không phù hợp, sẽ kìm hãm sự phát huy vai trò của các tổ chức trong hệ thống chính trị, thậm chí làm biến dạng Đảng và hệ thống chính trị với những hậu quả khó lường.

Hòa giải để mưu sự lớn

Với chuyến thăm Ả Rập Xê Út, Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan chính thức hòa giải với đối phương sau 5 năm khúc mắc vì vụ nhà báo Jamal Khashoggi bị sát hại ở cơ quan ngoại giao Ả Rập Xê Út ở Istanbul hồi năm 2018. Cả hai bên đều có nhu cầu hòa giải để giải quyết những vấn đề nội bộ và đồng thời gây dựng ảnh hưởng chính trị khu vực. Thổ Nhĩ Kỳ cần Ả Rập Xê Út để vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội hiện tại mà ông Erdogan cần xử lý ổn thỏa để củng cố địa vị quyền lực nội bộ. Ả Rập Xê Út cần hòa giải để khôi phục thể diện và thanh danh vốn bị tổn hại nghiêm trọng sau vụ sát hại nhà báo Khashoggi. Hai bên hòa giải còn bởi chỉ khi hợp tác, hoặc ít nhất không xung khắc với nhau, thì mới có thể gây dựng được vai trò và ảnh hưởng ở khu vực Trung Đông, vùng Vịnh và Bắc Phi. Ở khu vực này trong thời gian vừa qua có những diễn biến làm thay đổi cục diện tình hình và tương quan lực lượng như liên thủ giữa Israel với một số quốc gia Ả Rập, như chấm dứt cuộc chiến tranh chính trị, ngoại giao và kinh tế, thương mại giữa Ai Cập, Ả Rập Xê Út cùng một vài thành viên của tổ chức Hội đồng hợp tác vùng Vịnh với Qatar, như cuộc chiến tranh của Ả Rập Xê Út và đồng minh ở Yemen vẫn dai dẳng, hoặc hòa giải giữa Iran với một số nước trong khu vực đang tiến triển. Rồi chiến sự ở Ukraine buộc tất cả các nước phải nhìn nhận lại tình hình chính trị an ninh thế giới và quan hệ quốc tế, đồng thời khiến việc đảm bảo an ninh năng lượng thêm cấp bách. Trong bối cảnh đó, Ả Rập Xê Út và Thổ Nhĩ Kỳ đồng hành với nhau sẽ làm thay đổi cuộc chơi ở khu vực.

Đau đầu với 'điệp khúc' hết thuốc

Trong những bệnh viện chuyên sâu tuyến cuối lớn nhất cả nước, mỗi ngày có hàng ngàn lượt bệnh nhân ở nhiều tỉnh, thành đến khám và điều trị.Trong nhiều ngày qua, rất nhiều bệnh nhân ung thư phản ánh với Thanh Niên thuốc hóa trị ở Bệnh viện Chợ Rẫy đã hết nên phải ra ngoài mua. Tùy tình trạng bệnh mà có người phải trả từ 1 - 2 triệu đồng/đợt hóa trị, có người phải trả 5 triệu đồng/đợt. Nếu bệnh viện có thuốc theo danh mục BHYT thì bệnh nhân sẽ đỡ khổ rất nhiều. Ngày 3.7, bác sĩ Nguyễn Thành Dũng, Giám đốc Bệnh viện Bệnh nhiệt đới TP.HCM, cho biết hiện bệnh viện đang điều trị cho gần 400 ca sốt xuất huyết. Nhưng hiện nay, các dịch đại phân tử để truyền hiệu quả trong chống sốc sốt xuất huyết như Dextran 40 và 70, HESS 200.000 dalton thì không có hàng. “Giờ trong đơn thuốc của mình có 5 loại, nhưng hiện tại 3 loại ở đây hết rồi, mình ra ngoài mua nhé, mình có mua 2 loại kia không, đồng ý thì sang đóng tiền nhé”. “Đơn của anh 4 loại ngoài danh mục BHYT mà ở đây còn 2 loại 789.000 đồng, còn 2 loại em đánh dấu trong đơn, anh ra ngoài mua nha”. “Người nhà bệnh nhân P.V.T ở Trà Vinh đâu ạ, đơn thuốc của mình có loại thuốc số 2 là hết rồi, giờ con tư vấn mình mua loại khác tương tự dùng nha, mình đồng ý thì sang bên cạnh đóng tiền, tiền thuốc là 3,3 triệu đồng nha cô”... Đó là những thông báo quen thuộc với nhiều bệnh nhân khi đến mua thuốc tại quầy thuốc số 2 trong Bệnh viện Chợ Rẫy. Chị N.T.M (23 tuổi, ngụ TP.HCM) chạy đôn đáo khắp nơi để tìm mua thuốc bổ thận cho cha mình. Cha của chị đang điều trị bệnh suy tim tại Bệnh viện Chợ Rẫy, căn bệnh suy tim của ông gây ảnh hưởng đến thận. Do bệnh viện thiếu thuốc, chị M. tìm khắp các nhà thuốc bên ngoài để mua. Theo ghi nhận của PV Thanh Niên, nhiều bệnh nhân phản ánh gặp nhiều khó khăn vì ra bên ngoài bệnh viện mua thuốc thì giá rất cao.Để giải quyết tình trạng thiếu thuốc, vật tư y tế đang gây ảnh hưởng đến quyền lợi bệnh nhân, Ban giám đốc Bệnh viện Chợ Rẫy vừa có văn bản với 6 kiến nghị gửi Bộ Y tế tháo gỡ các vướng mắc còn kéo dài, trong đó chủ yếu vẫn là cơ chế giá (giá thực tế cao hơn nhiều so với giá kế hoạch) khiến việc đấu thầu thuốc và vật tư y tế bị “đứng bánh”…Chia sẻ với PV Thanh Niên, đại diện Bệnh viện Chợ Rẫy cho biết bệnh viện đang thiếu thuốc, có mặt hàng đứt hàng, có mặt hàng chưa được gia hạn giấy phép. Bệnh viện cũng đang thiếu một số vật tư tiêu hao vì vướng quy định mua “giá rẻ”. Như túi câu nước tiểu, đấu thầu mãi không ra kết quả, vì nếu chọn giá tốt thì tiêu chí kỹ thuật sản phẩm không đạt. Sản phẩm đạt thì giá cao 4 - 5 lần, mà đấu thầu là phải lấy giá rẻ nhất nên bệnh viện không mua được. Nhưng khi chọn được nhà thầu bán với giá 4.600 đồng/cái, thì họ không bán vì giá bây giờ đã lên rồi. Rốt cuộc bệnh viện không có hàng. “Đáng lẽ áp thầu thì có thuốc ngay, đằng này từ đầu năm 2022, Bộ Y tế lại ra văn bản yêu cầu đấu thầu rộng rãi nên các bệnh viện không áp thầu nữa”, đại diện Bệnh viện Chợ Rẫy nói./.

Nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả hoạt động của các Ban Chỉ đạo 35 đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đấu tranh chông các luận điệu sai trái, thù địch

 

Nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả hoạt động của các Ban Chỉ đạo 35 đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Cần tập trung xây dựng, kiện toàn tổ chức bộ máy và hoạt động của Ban Chỉ đạo 35 các cấp, đảm bảo không chồng chéo, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động. Ban Chỉ đạo 35 Trung ương cần chỉ đạo thường xuyên, tạo sự thống nhất giữa các bộ, ban, ngành và lực lượng tham gia đấu tranh chống các quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch trên mặt trận tư tưởng, lý luận; định hướng thông tin, định hướng dư luận kịp thời trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm nảy sinh đang được dư luận, các tầng lớp nhân dân quan tâm. Đồng thời, quan tâm xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ chuyên trách, trong đó tập trung xây dựng quy hoạch đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng từ Trung ương đến cơ sở, cả cán bộ cấp chiến lược, các chuyên gia đầu ngành, đội ngũ kế cận và cán bộ trẻ. Thường xuyên quan tâm nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị, khoa học xã hội và nhân văn, phóng viên, biên tập viên các cơ quan báo chí, lực lượng tham gia Ban Chỉ đạo 35 các cấp. Có cơ chế, chính sách, chế độ đãi ngộ hợp lý, thích đáng nhằm động viên, khuyến khích đối với những cá nhân, tập thể làm công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Đẩy mạnh sử dụng khoa học, kỹ thuật, công nghệ, phát huy vai trò, thế mạnh của các phương tiện truyền thông, báo chí, mạng xã hội trong tuyên truyền, quán triệt nghị quyết, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Một số thách thức, nguy cơ đặt ra đối với bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa

 

Với vị trí địa chính trị quan trọng, Việt Nam đã, đang và luôn luôn sẽ là “trọng điểm” cạnh tranh chiến lược, lợi ích, ảnh hưởng của các nước lớn trong khu vực và phạm vi toàn cầu. Hơn nữa với chế độ xã hội chủ nghĩa, Việt Nam còn là mục tiêu chống phá của các thế lực thù địch… Những nguy cơ, thách thức này cần thiết phải nhận diện chính xác, đầy đủ ở cả hai hướng sau đây:

 Một là, nguy cơ, thách thức từ bên ngoài.

Nguy cơ rơi vào thế mắc kẹt giữa các cường quốc hiện nay, thách thức trong triển khai chính sách đối ngoại, đối với các mối đe dọa. Cục diện thế giới, khu vực biến đổi mau lẹ, sự cạnh tranh, mặc cả chiến lược giữa các nước lớn; diễn biến khó lường, các điểm nóng khiến môi trường chính trị, an ninh khu vực ngày càng phức tạp, làm giảm lòng tin chiến lược giữa các quốc gia, kích thích chạy đua vũ trang và tâm lý dân tộc cực đoan, làm gia tăng căng thẳng và phức tạp quá trình giải quyết tranh chấp có liên quan đến lợi ích an ninh quốc gia. Với vị thế địa chính trị chiến lược quan trọng, vai trò tích cực trong các tổ chức quốc tế, khu vực, Việt Nam bị các nước tác động, gây ảnh hưởng, lôi kéo tham gia vào các cơ chế nhằm kiềm chế lẫn nhau, có thể đặt Việt Nam vào tình thế khó khăn trong ứng xử với từng nước và tại các diễn đàn quốc tế.

Thách thức an ninh đối với chủ quyền quốc gia ngày càng lớn, tạo môi trường bất lợi, gia tăng áp lực bảo vệ lợi ích quốc gia. Các tranh chấp lãnh thổ giữa nước ta với các nước lân cận khó có thể giải quyết triệt để, tiềm ẩn nguy cơ xảy ra xung đột. Vấn đề Biển Đông gia tăng, bất ổn, phức tạp do Trung Quốc hành động cứng rắn hơn, phức tạp, khó lường hơn, đặc biệt là sử dụng các biện pháp thô bạo để giải quyết tranh chấp làm tăng nguy cơ trên biển, chủ quyền lãnh thổ bị xâm phạm. Các bên tranh chấp khác không từ bỏ, tăng cường tiềm lực, chạy đua vũ trang khiến tình hình ngày càng phức tạp, tạo ra mối đe dọa với an ninh quốc gia, bảo vệ Tổ quốc, môi trường hòa bình, ổn định, phát triển đất nước.

Nguy cơ tụt hậu và phụ thuộc kinh tế vào các nước phát triểncác nước lớn, các định chế quốc tế ngày càng tăng. Những hạn chế trong hội nhập quốc tế như năng lực cạnh tranh thấp, trình độ quản lý chưa theo kịp, thể chế kinh tế thị trường chưa hoàn thiện, cơ chế, chính sách, pháp luật còn thiếu đồng bộ. Việt Nam ngày càng tham gia sâu rộng vào nhiều định chế kinh tế, tài chính quốc tế, chịu nhiều bất lợi và sức ép cải cách chính sách, thể chế, nguy cơ bị các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề kinh tế để can thiệp chủ quyền, xâm phạm an ninh quốc gia. Các nước lớn xác định những vấn đề, tiêu chí tiêu chuẩn cơ bản của biến đổi khí hậu, chuyển đổi số, chuỗi sản phẩm… làm điều kiện, tác động, chi phối, dẫn dắt quan hệ kinh tế quốc tế.

Thách thức phát triển khoa học công nghệ, áp đặt các giá trị, tư tưởng, văn hóa. Các nước phát triển, nước lớn tăng cường sử dụng các ưu thế sức mạnh vượt trội về kinh tế, khoa học, công nghệ để can thiệp, ra điều kiện trong quan hệ kinh tế, áp đặt các giá trị tư tưởng, văn hóa phương Tây vào Việt Nam; phá hoại nền tảng tư tưởng, bản sắc, truyền thống văn hóa dân tộc và những giá trị tinh thần của chủ nghĩa xã hội; nguy cơ an ninh mạng càng hiện hữu.

Các mối đe dọa từ an ninh bên ngoài từng bước chuyển vào nội bộ, bộc lộ rõ nét, tạo thách thức lớn đối với nhiệm vụ duy trì, ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội. Cùng với toàn cầu hóa, xu hướng “dân chủ hóa” trên thế với, các nước lớn đẩy mạnh phổ biến “sức mạnh mềm” thúc đẩy thay đổi chế độ chính trị, kích động phong trào ly khai, tự trị, thúc đẩy “môi trường tự do hóa, dân chủ hóa” theo kiểu phương Tây, làm xuất hiện, mở rộng khuynh hướng tư tưởng phức tạp trong nội bộ, các trào lưu xâm nhập vào Việt Nam, dẫn đến nguy cơ làm xói mòn truyền thống văn hóa dân tộc, phai nhạt lý tưởng, nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Sức ép vấn đề “dân chủ, nhân quyền” ngày càng lớn.

Nguy cơ “diễn biến hòa bình”. Các thế lực thù địch, phản động tăng cường thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”. Chúng triệt để lợi dụng xu hướng toàn cầu hóa, “tự do hóa chính trị”, “dân chủ hóa”, sự khác biệt về thể chế chính trị, pháp luật, những khó khăn, thiếu sót của Việt Nam…để tạo khủng hoảng về tư tưởng, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, gia tăng sức ép, chuyển hóa nội bộ, tác động vào quá trình cải cách tư pháp, lập pháp, thúc đẩy “tự do, dân chủ hóa”, công khai tài trợ, hậu thuẫn hình thành các tổ chức “xã hội dân sự”, hội nhóm khác nhau. Số phần tử cơ hội chính trị hoạt động ngày càng công khai, quyết liệt, phức tạp.

Các vấn đề an ninh phi truyền thống tiếp tục gia tăng. Mối đe dọa an ninh phi truyền thống ngày càng gia tăng với quy mô, tính chất, mức độ ngày càng nghiêm trọng, tác động đến lợi ích, an toàn, an ninh quốc gia Việt Nam, như biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, an ninh năng lượng, an ninh con người…

Hai là, những thách thức, nguy cơ từ bên trong, nội bộ.

Việc xây dựng đồng bộ hệ thống chiến lược thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc còn chưa đồng bộ. Công tác tham mưu chiến lược chất lượng chưa cao, trên một số mặt chưa đáp ứng được đòi hỏi của tình hình, yêu cầu nhiệm vụ. Đánh giá, dự báo tình hình có mặt chưa được cụ thể, kịp thời, còn bị động, bất ngờ trong một số tình huống. Chỉ đạo điều hành có lúc, có nơi thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị; công tác bảo vệ an ninh nội bộ, an ninh tư tưởng còn nhiều bất cập, sơ hở. Nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân chưa toàn diện; tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, thế trận lòng dân chưa thật vững chắc. Đất nước vẫn tiềm ẩn các nhân tố có thể gây mất ổn định. Việc kếp hợp hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc có lúc, có nơi chưa thật hiệu quả; kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong thực tiễn còn có lúc, có nơi chưa thật hiệu quả, có mặt còn hình thức. Đầu tư cho quốc phòng, an ninh, xây dựng thế trận, khu vực phòng thủ, phát triển khoa học - công nghệ…chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

 Tình hình an ninh chính trị nội bộ xuất hiện một số biểu hiện tiêu cực. Các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chưa được đẩy lùi, có mặt bộc lộ rõ nét, nghiêm trọng hơn mà Đảng ta chỉ rõ: Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những người giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, cán bộ cấp cao, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tham nhũng, lãng phí…; công tác bảo vệ an ninh chính trị nội bộ còn bộc lộ những sơ hở, để các đối tượng tác động, phân hóa, lôi kéo, chia rẽ, mất đoàn kết. Công tác bảo vệ bí mật nhà nước, tình trạng cung cấp tin, tài liệu bí mật, lũng đoạn nội bộ diễn biến phức tạp, có một số trường hợp bị móc nối làm nội gián, bị lôi kéo, mua chuộc, tham gia các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước. Tư tưởng, lối sống một bộ phận đông đảo, nhất là giới trẻ phai nhạt lý tưởng, đạo đức, lối sống.

An ninh kinh tế tiềm ẩn những bất ổn. Trước tác động của đại dịch, giá nguyên liệu đầu vào tăng cao, các doanh nghiệp tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, nợ xấu, khiến nhiều doanh nghiệp phá sản, lao động thất nghiệp, tiềm ẩn bất ổn xã hội. Tình trạng trốn thuế, trục lợi hoàn thế, vi phạm pháp luật, làm sai quy định với thủ đoạn tinh vi, thao túng thị trường, lĩnh vực cơ bản, như tài chính, chứng khoán, bất động sản của nhiều tổ chức, cá nhân, tập đoàn tư nhân lớn vừa qua gây thất thoát, tác động lớn đến nền kinh tế. Tình trạng các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) lập dự án, xin đất, huy động vốn, đưa được người vào Việt Nam, chuyển giao, chuyển giá, nợ đọng lương, lãn công, biểu tình ở các nhà máy, khu công nghiệp ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, đối ngoại, môi trường đầu tư ở Việt Nam.

An ninh mạng tiếp tục diễn biến phức tạp, khó kiểm soát. Các nước lớn xác định an ninh mạng là “vấn đề cốt lõi”, đe dọa an ninh mạng là đe dọa an ninh quốc gia. Ở Việt Nam, an ninh mạng đặt ra ngày càng cấp bách. Các cơ quan đặc biệt nước ngoài, tin tặc thường xuyên lợi dụng điểm yếu này để tấn công xâm nhập, thu thập thông tin, bí mật nhà nước, cài cắm mã độc, phần mềm gián điệp. Đồng thời, đây là công cụ đắc lực để phá hoại nền tảng tư tưởng, tuyên truyền xuyên tạc, luận điệu sai trái, thù địch. Các tổ chức phản động lưu vong tăng cường xâm nhập, móc nối, mua chuộc, phát triển lực lượng, hình thành tổ chức, hội nhóm chống, phá quyết liệt. Các loại tội phạm mạng, tội phạm công nghệ cao diễn biến phức tạp, hoạt động tinh vi, quy mô, tính chất, mức độ ngày càng nguy hiểm, nghiêm trọng. Công tác bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin còn nhiều sơ hở, quản lý nhà nước, cơ chế kiểm soát bảo đảm an ninh quốc gia, bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng còn có hạn chế, bất cập.

An ninh xã hội có nhiều yếu tố mất ổn định. Các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tôn giáo gia tăng hoạt động, công khai chống phá quyết liệt. Số đối tượng cực đoan trong các tôn giáo tuyên truyền, xuyên tạc, kêu gọi quốc tế gây sức ép, can thiệp vấn đề “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền”, “tự do tôn giáo”; cổ vũ, kích động, chỉ đạo, ủng hộ tinh thần, vật chất, hình thành tổ chức, hội nhóm chống phá. Hoạt động của các “đạo lạ”, “tà đạo”, “hiện tượng tôn tín ngưỡng, tôn giáo mới” có chiều hướng phát triển, lây lan phức tạp, gây mất an ninh trật tự. Tình hình tranh chấp, khiếu kiện diễn biến phức tạp, bị phần tử xấu lợi dụng, gây rối trật tự công cộng. An ninh các địa bàn chiến lược Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ.

 Tình hình tội phạm diễn biến phức tạp. Hoạt động của các loại tội phạm vẫn diễn ra hết sức phức tạp, tính chất, mức độ phạm tội ngày càng nghiêm trọng. Tội phạm xâm phạm thân thể hành vi gây án ngày càng dã man, tàn bạo. Tình trạng chống người thi hành công vụ, nhất là cán bộ công an, hành vi chống đối manh động, liều lĩnh. Tội phạm kinh tế, tham nhũng nổi lên trong nhiều lĩnh vực, nhất là tài chính, ngân hàng, đất đai - bất động sản, y tế, cố ý làm trái tại các công ty, tập đoàn kinh tế tư nhân gây thất thoát, lãng phí lớn.

Một số vấn đề mang tính phương pháp luận, định hướng giải pháp thực hiện bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước khi nước chưa nguy

Trong những năm tới, tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp và có nhiều yếu tố không thuận lợi, dễ gây mất ổn định. Các nước lớn tăng cường điều chỉnh chiến lược, tranh giành ảnh hưởng; chiến tranh thương mại, công nghệ, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ diễn ra gay gắt; xung đột vũ trang, khủng bố, tấn công mạng gây bất ổn ở nhiều quốc gia. Đặc biệt, trên Biển Đông tiềm ẩn nhiều nguy cơ bất ổn về an ninh, chính trị và chủ quyền đất nước. Các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” Quân đội; đối tác, đối tượng chuyển hóa mau lẹ, khó đoán định; tình hình an ninh, chính trị một số địa phương, cơ sở chưa thật sự ổn định vững chắc; việc mở cửa, hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện trên các lĩnh vực, đặt ra không ít khó khăn, thách thức cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trước tình hình đó, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta cần nhận thức ý nghĩa, nhất quán quan điểm “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”, “giữ nước từ khi nước chưa nguy” cần quán triệt một số vấn đề sau đây:

Một là, phát huy sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh tổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc. Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước. Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Ứng phó kịp thời với các đe dọa an ninh phi truyền thống, nhất là nhiệm vụ cứu nạn, cứu hộ, phòng chống thiên tại, dịch bệnh. Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa, giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển.

Hai là, tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng, củng cố và phát huy hiệu quả “thế trận lòng dân” trong “nền quốc phòng toàn dân”, “nền an ninh nhân dân”. Kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và ngược lại. Cụ thể hóa và thực hiện hiệu quả hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; quán triệt, thực hiện hiệu quả chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, từng địa phương, vùng, địa bàn chiến lược và trong từng nhiệm vụ, chương trình, kế hoạch.

Ba là, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu đến 2030 xây dựng Quân đội, Công an cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Quân đội, Công an tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân, có lý tưởng, năng lực, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống. Quan tâm xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu và dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp trên các vùng, miền, trên biển. Xây dựng lực lượng bảo đảm trật tự, an toàn xã hội cơ sở, đáp ứng đòi hỏi của nhiệm vụ giữ vững an ninh, trật tự ở cơ sở. Xây dựng, củng cố biên giới trên bộ hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển.

Bốn là, xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh hiện đại, lưỡng dụng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc vừa góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và củng cố các tuyến phòng thủ biên giới, biển, đảo; có cơ chế huy động nguồn lực từ địa phương và nguồn lực xã hội cho xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh tại khu vực, tuyến phòng thủ. Nâng cao năng lực dự báo chiến lược, giữ vững thế chủ động chiến lược, không để bị động, bất ngờ. Chủ động chuẩn bị về mọi mặt, sẵn sàng các phương án bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trong mọi tình huống.

Năm là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội, công an đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân mạnh về chính trị, làm nòng cốt trong sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, của các cấp, các ngành, của mỗi cán bộ, đảng viên và người dân đối với nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy

Củng cố niềm tin trong đấu tranh các quan điểm sai trái, thù địch

  Luận cứ của cuộc đấu tranh tư tưởng phải hướng vào chủ đích là củng cố niềm tin, sao cho toàn thể cán bộ, đảng viên, nhân dân tin vào sự tất thắng của sự nghiệp cách mạng, quyết tâm thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Một điều rất hiển nhiên là, triển vọng phát triển của đất nước phụ thuộc đáng kể vào tư tưởng và nhận thức của con người. Khi tư tưởng đã thông, thống nhất một cách nghĩ sẽ biến ý chí thành hành động, làm cho triệu người đồng lòng chung sức, tạo thành lực lượng vật chất to lớn thúc đẩy xã hội tiến lên. Yếu tố cốt lõi đưa tới thống nhất tư tưởng và hành động là niềm tin. Niềm tin trong mỗi con người là sự chắt lọc từ nhận thức và nằm trong chiều sâu nhận thức, nhưng lại có ý nghĩa vô cùng lớn lao đối với việc định hướng tư tưởng và định hướng hành động. Niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân là keo gắn trong Đảng và giữa Đảng với nhân dân, tạo thành động lực to lớn giúp chúng ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. 

    Để xác lập và củng cố niềm tin, điều cần thiết nhất là phải nâng cao trình độ giác ngộ, trình độ hiểu biết cho cán bộ đảng viên và nhân dân. Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tiếp tục đổi mới, mở cửa, hội nhập quốc tế, đối với mỗi chúng ta, chỉ có tình cảm là không đủ, mà phải là tình cảm cách mạng dựa trên cơ sở lý luận khoa học vững chắc. Có như vậy mới định hướng đúng cho mình khi gặp những điều kiện và biến cố phức tạp trong một thế giới đầy xáo động, ngổn ngang, bất trắc khôn lường. Có như vậy mới đủ kiên định trước mọi thử thách của thời cuộc.

Yêu cầu nhìn nhận tổng thể trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch

    Để hình thành các luận cứ khoa học phải có cách nhìn tổng thể, không được phiến diện, tuyệt đối hóa một chiều và không công thức hóa. Phiến diện và tuyệt đối hóa sẽ dẫn tới làm mất đi tính khoa học của lý luận và tính phong phú của thực tế, làm cho lý luận bị ngưng đọng và không đủ uyển chuyển để tìm ra những luận cứ đấu tranh. Như khi luận bàn về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, chúng ta có lúc đánh giá nhìn nhận quá cao tác dụng “mở đường” của quan hệ sản xuất; lúc khác thì chỉ để ý đến vấn đề lợi ích, đến việc phát huy các yếu tố của lực lượng sản xuất nên coi nhẹ, thậm chí quên mất việc quan hệ sản xuất phù hợp cũng có những tác động chủ động và tích cực đối với lực lượng sản xuất. Vấn đề sở hữu cũng vậy, trước đây trong lý thuyết chúng ta chú trọng hết sức đến hai hình thức sở hữu trong xã hội chúng ta là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, coi đó là điều tuyệt đối đúng, là hình thức cơ bản đặc trưng của chủ nghĩa xã hội. Cho đến hiện nay, khi xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì xuất hiện những nhận thức lửng lơ, phó mặc, ít chú trọng tới việc củng cố, hoàn thiện các thành phần kinh tế mang tính chủ đạo, nền tảng là kinh tế nhà nước và hợp tác xã. 

    Vấn đề công thức hóa cũng vậy. Khi nói về kết cấu và bản chất của chủ nghĩa xã hội, đôi khi chúng ta mô tả nó một cách công thức đơn giản, hời hợt, sơ lược, coi như không có mâu thuẫn; không nhìn thấy hết và không quan tâm hết đến các hệ thống lợi ích khác nhau của các tầng lớp xã hội. Tất cả những điều đó đã vô tình hạ thấp vị trí và vai trò của hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa và trên thực tế sẽ tạo ra những cơ chế kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Xây dựng tư duy khoa học và sáng tạo trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái thù địch

     Để có sức thuyết phục, mọi lý lẽ được sử dụng phải mang tính khoa học và sáng tạo. Chúng ta đều thấy rằng: Một mặt, lý thuyết về chủ nghĩa xã hội và xã hội xã hội chủ nghĩa được hình thành một cách khoa học, có khảo sát, phân tích thấu đáo trên cơ sở vận dụng những qui luật khách quan. Nhưng mặt khác, đôi khi chúng ta không chú ý hoặc vô tình bỏ qua một vấn đề quan trọng là những luận thuyết về chủ nghĩa xã hội được xác lập dựa vào những phương pháp trừu tượng rất cao. Phải tìm tòi và gạt bỏ những vấn đề, những yếu tố đặc thù, hoặc không cơ bản để đi sâu vào lý giải những vấn đề cốt lõi. Lý thuyết nguyên bản cội nguồn đó khi được áp dụng vào những tình huống cụ thể, lẽ ra phải tính tới sự gắn kết những điều kiện bên ngoài với bên trong và phải được soi rọi từ thực tế thì sự vận dụng nhiều khi biệt lập, không cân nhắc đến khía cạnh đó nên dễ bị khiên cưỡng và thường gặp những vướng mắc khó có thể tháo gỡ. 

    Tính trừu tượng cao của chủ nghĩa xã hội khoa học chính là những nguyên lý chung nhất, mang tính phổ biến nhất có thể áp dụng cho mọi nơi, mọi nước. Tuy nhiên, trong quá trình vận dụng để xây dựng chủ nghĩa xã hội, không thể không tính đến, thậm chí phải hết sức tính đến những điều kiện đặc thù. Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực về sự vận dụng một cách sáng tạo như thế. Trên cơ sở nắm bắt sâu sắc bản chất cách mạng và khoa học, tinh thần biện chứng và nhân đạo của học thuyết Mác-Lênin, Người đã vận dụng sáng tạo học thuyết đó cùng với việc kế thừa chủ nghĩa yêu nước, truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại để đưa ra những tư tưởng phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của Việt Nam. Trong khi giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã góp phần phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin trên nhiều vấn đề quan trọng, đặc biệt là lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội ở các nước thuộc địa. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã và đang soi đường cho cách mạng Việt Nam giành nhiều thắng lợi, trở thành nền tảng tư tưởng bền vững của dân tộc và có sức lan tỏa ra thế giới.

Những khó khăn, vướng mắc trong đấu tranh chống các quan điếm sai trái ở Việt Nam

    Trong việc xây dựng các luận cứ cho cuộc đấu tranh lý luận, cần nhận rõ sự phức tạp trên con đường cách mạng nước ta vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Trên con đường đó, chúng ta gặp không ít khó khăn, không ít lực cản. Có những khó khăn do chính bản thân chúng ta không lường hết, khó khăn nội tại do chủ quan duy ý chí hoặc do bảo thủ trì trệ dẫn tới sự đình đốn thậm chí vấp ngã. Từ đó dẫn tới sự lúng túng và thiếu lý lẽ thậm chí bế tắc trong lập luận. Sự kiện ở Liên Xô trước đây và Đông Âu - những nơi mà chủ nghĩa xã hội hiện thực tưởng như rất vững chắc, nhưng đã bị tan rã một cách nhanh chóng, đã cho ta bài học sâu cả về tính phức tạp của thế giới đương đại và những trắc trở, khó khăn của con đường đi tới tương lai của loài người. Vấn đề đặt ra là vận mệnh của chủ nghĩa xã hội sẽ phụ thuộc vào chính việc nhìn nhận rõ và khắc phục tốt những vướng mắc bên trong của xã hội xã hội chủ nghĩa, nhất là khi chủ nghĩa xã hội chưa được xây dựng một cách hoàn hảo. Đó là những vấn đề nảy sinh từ tính phức tạp của thực tiễn mà ta chưa lường hết và có trường hợp từ sai lầm về nhận thức dẫn tới sai lầm về hành động, từ sự thiếu hiểu biết mà làm sai, làm ẩu; sự thiếu nhạy cảm nên chậm chạp để mất thời cơ, sự vi phạm nguyên tắc dẫn tới sự chệch hướng.

    Thực tiễn quá trình cách mạng của chúng ta hiện nay cũng chứa đựng những vấn đề không đơn giản. Phát triển kinh tế thị trường trong điều kiện toàn cầu hóa, mở cửa hội nhập quốc tế là những nhiệm vụ tất yếu mà chúng ta đang tiến hành. Nhưng ai cũng biết, mặc dù chúng ta luôn giữ định hướng xã hội chủ nghĩa nhưng phát triển kinh tế thị trường càng mạnh thì tính tự phát của khuynh hướng tư bản chủ nghĩa cũng sẽ tăng lên. Chúng ta lại đang ở thời kỳ quá độ, trong đó nền kinh tế và cả xã hội cũng có những vấn đề quá độ đan xen nhau rất khó rạch ròi. Quá trình mở cửa hội nhập, chủ động làm ăn với các nước tư bản chủ nghĩa lại sử dụng những giải pháp và cách thức phát triển của chủ nghĩa tư bản để xây dựng chủ nghĩa xã hội đặt ra nhiều thách đố đối với công tác lý luận và đặc biệt là công tác đấu tranh về lý luận để bảo vệ những nguyên lý và quan điểm, định hướng của chúng ta. 

Yêu cầu đối với việc xây dựng luận cứ phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong đấu tranh tư tưởng ở Việt Nam

     Đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch là một phần quan trọng của cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, là bộ phận cốt yếu của cuộc đấu tranh tư tưởng, có tác động to lớn tới sự ổn định và phát triển của chế độ xã hội. Đảng ta luôn khẳng định đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng là một nhiệm vụ cấp thiết giúp chúng ta khẳng định quan điểm, lập trường và niềm tin vào sự nghiệp cách mạng, để đất nước ta dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

    Cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng - lý luận hiện nay đang diễn ra trong bối cảnh mới, có nhiều thuận lợi mới và không ít khó khăn, thách thức mới. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng để chúng ta vững bước đi lên. Điều đó làm cho công tác lý luận có một cơ sở thực tế mới, có một “cốt vật chất” vững chắc để thực hiện những nhiệm vụ của mình. Tuy nhiên, tình hình trong nước hiện nay vẫn tồn đọng một số vấn đề đáng được quan tâm giải quyết và cũng là những khó khăn đối với công tác lý luận và đấu tranh lý luận.
    Bên cạnh đó, những thách thức đối với công tác lý luận từ bên ngoài tác động vào Việt Nam cũng không hề nhỏ. Đó là những nghịch lý và những diễn biến khó lường và khó dự báo của thế giới hiện nay. Ngay cả những giá trị cao đẹp và đích thực mà nhân loại dày công tạo dựng, vun đắp như hòa bình, độc lập, chủ quyền, công bằng, tiến bộ xã hội ... cũng bị những thế lực đế quốc phản động dùng mọi mưu mô đánh phá.         Đã thế, có một tình hình là thông tin về mọi mặt đời sống chính trị - kinh tế - văn hóa - xã hội ở mọi nơi trên thế giới và trong nước, cả mặt thuận và mặt trái, đều có thể hấp thụ được qua nhiều cách, nhiều chiều trên nhiều phương diện. Từ đó trong cuộc đấu tranh này, chúng ta phải kế thừa những cách thức và phương pháp vốn có, đồng thời phải có cách làm đổi mới, sáng tạo để tìm ra được những luận cứ sắc bén. Điều căn bản nhất là thấy hết những yêu cầu mới đặt ra trong khi xây dựng các luận cứ mang tính khoa học và có tính thuyết phục để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh lý luận hiện nay. 

CẢM NHẬN CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM TA!

         Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau khi nhìn nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ta.
     Với hiểu biết và suy nghĩ của một người bình thường như tôi, thiết nghĩ:
       Đảng ta, Nhân dân ta lựa chọn con đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam là sự lựa chọn duy nhất đúng, phù hợp với quy luật khách quan, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại và lịch sử phát triển của dân tộc, bởi lẽ:
     Đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam là sự lựa chọn đúng đắn của lịch sử. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 03/02/1930 là sự kiện lịch sử, có ý nghĩa trọng đại đối với cách mạng Việt Nam. Nhờ có sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta phát triển theo con đường cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đảng đã lãnh đạo Nhân dân kiên định mục tiêu con đường đã lựa chọn, thu được hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Sau hơn 35 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn: chính trị - xã hội ổn định, kinh tế phát triển, đời sống của Nhân dân, của cán bộ, chiến sĩ trong QĐ ta ngày càng được nâng cao, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được khẳng định. Đó là sự thật không thể phủ nhận.     
     Đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam là sự lựa chọn hoàn toàn đúng đắn.
Chủ nghĩa xã hội vẫn là sự lựa chọn của nhân loại tiến bộ. Sự sụp đổ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu đó là sự sụp đổ của một mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực, hoàn toàn không phải là sự sụp đổ của một học thuyết khoa học và cách mạng như chủ nghĩa Mác - Lênin.
Việt Nam và một số nước vẫn kiên định với con đường chủ nghĩa xã hội đã lựa chọn, trên thực tế đã vươn lên mạnh mẽ, đạt được nhiều thành tựu quan trọng. 
Vậy thì những nhìn nhận đánh giá về thành quả của CNXH ở nước ta hiện nay là gặp may, là lỗi thời, là không xứng tầm, là rồi sẽ thất bại của một số người thì chẳng có cơ sở lý luận và thực tiễn nào cả. Những luận điệu kiểu như vậy chúng ta sẽ vẫn còn phải nghe. Nhưng hãy nhìn vào con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, hãy nhìn nhận một điều khách quan rằng: đó là con đường đúng đắn, con đường lịch sử lựa chọn và “chúng ta nhất định sẽ thành công”./.


Môi trường ST.

Những âm mưu và thủ đoạn mới trong hoạt động chống phá của các thế lực thù địch chong phá Việt Nam

 

    Chống phá chủ nghĩa xã hội, trong đó có cách mạng Việt Nam là âm mưu lâu dài, nhất quán và hoạt động thường xuyên của các thế lực thù địch. Hiện nay, một số thế lực chuyển hướng chống phá cách mạng nước ta bằng phương thức phi vũ trang thông qua chiến lược “diễn biến hòa bình”. “Diễn biến hòa bình” là một bộ phận trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của các thế lực thù địch với những phương thức hành động tổng lực, phức hợp, rộng lớn; được tiến hành trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, tư tưởng, văn hóa, xã hội bằng mọi biện pháp. Âm mưu thâm độc mới mà các thế lực thù địch đang tăng cường là sử dụng con đường ngắn nhất để lôi kéo Việt Nam theo họ, dùng chính trị tác động đến thể chế xã hội, dùng kinh tế để chi phối sự lãnh đạo của Đảng, dùng văn hóa phương Tây để làm lu mờ bản sắc văn hóa và tinh thần dân tộc Việt Nam, dùng quần chúng để làm tăng sự đối lập giữa quần chúng với Đảng, với chế độ.
    Với ý đồ đó, các thế lực thù địch thực hiện một loạt các bước chống phá được che đậy trong các hoạt động như ngoại giao thân thiện, chi phối đầu tư, viện trợ kinh tế, cấp học bổng cho sinh viên, nghiên cứu sinh, trao các giải thưởng cho các văn nghệ sĩ biến chất, tiếp cận và lôi kéo các phần tử thoái hóa để lũng đoạn nội bộ ta. Chúng ráo riết chống phá bằng các chiêu trò vừa công khai, vừa bí mật, kết hợp bên trong với bên ngoài ra sức tuyên truyền những quan điểm phản động hòng làm thay đổi quan điểm, lập trường chính trị của một số phần tử và phổ biến lan truyền nhân rộng đối tượng, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, làm xói mòn và suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng, làm suy yếu hệ thống chính trị của chúng ta.
    Thời gian qua, các thế lực phản động gia tăng các hoạt động “diễn biến hòa bình” trên các phương tiện thông tin đại chúng và Internet. Chúng duy trì sử dụng 63 đài phát thanh có chương trình Việt ngữ, trên 400 báo, tạp chí, 88 nhà xất bản tiếng Việt, hàng nghìn Website, blog. Trên các phương tiện đó, chúng đăng tải hàng ngàn, thậm chí hàng vạn tin, bài xuyên tạc các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Chúng thúc đẩy hình thành các hội, nhóm “xã hội dân sự” trong nước, hậu thuẫn cho những hoạt động tuyên truyền phá hoại tư tưởng chống chế độ; ủng hộ, cổ vũ, tài trợ cho các tổ chức, cá nhân có biểu hiện hoạt động chống đối trong nước, tạo điều kiện kết nối với các mạng lưới phản động ngoài nước, tìm cách đưa người ra nước ngoài huấn luyện và tung về nước hoạt động chống phá.

Cảnh báo nguy cơ xảy ra một cuộc khủng hoảng y tế mới

 Ngày 23/6, Giám đốc điều hành Quỹ Toàn cầu phòng chống HIV/AIDS, lao và sốt rét Peter Sands cảnh báo cuộc khủng hoảng lương thực toàn cầu bắt nguồn từ cuộc xung đột ở Ukraine có thể sẽ làm hàng triệu người trên thế giới thiếu ăn khiến họ dễ mắc các bệnh truyền nhiễm, từ đó có thể gây ra một thảm họa y tế mới trên toàn cầu.

Theo ông Sands, cuộc khủng hoảng lương thực sẽ khiến nhiều người thiệt mạng không những bởi chết đói mà còn vì các bệnh truyền nhiễm do khả năng bảo vệ của cơ thể họ trở nên yếu đi vì bị suy dinh dưỡng.

 

Phát biểu bên lề Hội nghị bộ trưởng y tế Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi hàng đầu thế giới (G20) diễn ra ở thành phố Yogyakarta (Indonesia), ông Sands nói: "Tôi nghĩ, chúng ta có thể đã bắt đầu một cuộc khủng hoảng y tế tiếp theo (sau đại dịch COVID-19). Đây không phải là nguồn bệnh mới, mà là những người bị suy dinh dưỡng sẽ dễ bị lây nhiễm hơn trước những căn bệnh đang hoành hành hiện nay". 

 

Ông Sands dự báo sẽ có thêm hàng triệu người tử vong do tác động kết hợp của các bệnh truyễn nhiễm, tình trạng thiếu lương thực và khủng hoảng năng lượng... 

 

Theo ông, chính phủ các nước trên thế giới cần giảm thiểu tác động của cuộc khủng hoảng lương thực bằng cách cử các nhân viên y tế tuyến đầu tới các cộng đồng nghèo nhất bởi đây là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương nhất. Ông nói: "Điều này có nghĩa là tập trung vào chăm sóc sức khỏe cơ bản để y tế có thể tới được các bản làng và cộng đồng".

 

Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), cuộc chiến phòng chống dịch COVID-19 trên thế giới đã lấy đi nguồn lực của cuộc chiến phòng chống lao - nguyên nhân khiến 1,5 triệu người tử vong trong năm 2020.

 

Ông Sands nói: "Đây là một thảm họa đối với bệnh lao. Năm 2020, chúng ta chứng kiến 1,5 triệu người trên thế giới nhận không được điều trị đầy đủ đối với căn bệnh này". Theo chuyên gia y tế này, chính phủ các nước cần khẩn cấp giải quyết cuộc khủng hoảng lương thực, để từ đó hỗ trợ cho công tác phòng chống lao, căn bệnh truyền nhiễm gây chết người lớn thứ hai trên thế giới.

 

Tự do, dân chủ, nhân quyền dưới góc nhìn bình đẳng giới ở Việt Nam

 

Tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người là quan điểm nhất quán, xuyên suốt mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu trong bảo đảm quyền con người như:

Vai trò của phụ nữ Việt Nam đã được thể hiện rõ nét từ Quốc hội khóa I, chỉ với 10 đại biểu nữ (chiếm 3%) các nữ đại biểu đã thể hiện xuất sắc vai trò của mình. Trong phiên họp đầu tiên của Quốc hội khóa I, bà Lê Thị Xuyến đã được bầu làm Ủy viên Thường trực Quốc hội. Đến năm 1950, tại Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ nhất, bà được bầu làm Hội trưởng. Trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp, bà Lê Thị Xuyến đã đảm nhiệm cùng lúc cả hai vị trí: Ủy viên Thường trực Quốc hội và Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Bà Nguyễn Thị Thập là một trong mười nữ đại biểu đầu tiên của Quốc hội Việt Nam. Trong 18 năm bà là Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, đồng thời bà được bầu làm Phó Chủ tịch Quốc hội và giữ cương vị này liên tục trong 21 năm, từ khóa III đến khóa VI (1960-1981).

Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV để lại dấu ấn đặc biệt trong lịch sử Quốc hội Việt Nam vì đây là lần đầu tiên chúng ta có một nữ Chủ tịch Quốc hội là bà Nguyễn Thị Kim Ngân, đồng thời có một Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội là bà Tòng Thị Phóng.

Quốc hội Việt Nam khóa XV được bầu ra ngày 23/5/2021 có 499 đại biểu, trong đó có 151 đại biểu nữ, chiếm 30,26%. Đây là lần thứ hai số nữ đại biểu Quốc hội của nước ta đạt trên 30% (lần đầu tiên là Quốc hội khoá V, đạt 32,31%). Số đại biểu nữ tham gia Quốc hội ngày càng nhiều và đảm nhiệm những vị trí quan trọng trong Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội. Tỉ lệ nữ ủy viên thường vụ và chủ nhiệm các ủy ban của Quốc hội trong 3 khóa gần đây tăng lên. Số đại biểu nữ giữ các vị trí lãnh đạo trong Quốc hội kỳ này chiếm gần 40%. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong số ủy viên Trung ương Đảng chính thức được bầu có 18 đại biểu nữ (chưa tính 1 ủy viên dự khuyết), tăng 1 đại biểu so với nhiệm kỳ khóa XII.

Vai trò của phụ nữ Việt Nam trong các cấp chính quyền với số nữ đại biểu HĐND cấp tỉnh đạt 26,5% (tăng 1,37% so với nhiệm kỳ trước); cấp huyện đạt 27,9% (tăng 3,2% so với nhiệm kỳ trước). Trong 63 Bí thư tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương nhiệm kỳ 2020-2025 có 9 người là nữ tại các tỉnh: Lạng Sơn, Lai Châu, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hà Nam, Ninh Bình, Quảng Ngãi và An Giang. Đây là số lượng nữ Bí thư tỉnh ủy nhiều nhất từ trước đến nay.

Theo thống kê của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, trong nhiệm kỳ này, ở cấp cơ sở, số nữ tham gia cấp ủy đạt 21%, tăng 2%; cấp trên cơ sở đạt 17%, tăng 2%. Đối với các đảng bộ trực thuộc Trung ương, tỷ lệ nữ đạt 16%, tăng 3% so với nhiệm kỳ trước.

Với những chủ trương, đường lối đúng đắn phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước, nên trong lĩnh vực bình đẳng giới nói chung và bình đẳng giới trong tham gia lãnh đạo quản lý nói riêng đã đạt được nhiều thành tựu được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Việt Nam đứng ở vị trí thứ 51 trên thế giới, thứ 4 ở châu Á và đứng đầu trong Hội đồng Liên minh nghị viện Hiệp hội Các nước Đông Nam Á về tỉ lệ nữ đại biểu Quốc hội. Chỉ số bình đẳng giới không ngừng được cải thiện. Năm 2020, Việt Nam xếp vị trí 87 trên tổng số 153 quốc gia được khảo sát trên thế giới về thu hẹp khoảng cách giới. Với những nỗ lực không ngừng nghỉ trong suốt nhiều năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong công tác bình đẳng giới, được thế giới công nhận là một trong 10 quốc gia thực hiện tốt nhất mục tiêu số 5 về thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho tất cả phụ nữ và trẻ em gái trong các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc. Những thành tựu đạt được cũng trở thành tiền đề, thành động lực mạnh mẽ để Việt Nam tiếp tục thực hiện các mục tiêu về bình đẳng giới, góp phần đạt được các Mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030.

Với những thống kê trên, một lần nữa khẳng định những thành tựu mà Việt Nam đã và đang nỗ lực đạt được trong việc đảm bảo quyền tự do, dân chủ, nhân quyền nói chung và thúc đẩy bình đẳng giới nói riêng. Thực tiễn đó bác bỏ những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch và các cá nhân, tổ chức chống đối trong và ngoài nước.

CHỦ ĐỘNG TRONG ĐẤU TRANH TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG LÀ TRÁCH NHIỆM CỦA MỌI CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN VÀ NGƯỜI DÂN!

         Trước những diễn biến mới của tình hình và nhiệm vụ cách mạng, cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, phản bác những luận điệu xuyên tạc, những quan điểm sai trái, thù địch ngày càng diễn biến phức tạp. Nhưng bằng sự chủ động, tích cực của toàn Đảng, toàn dân, công tác đấu tranh phản bác thời gian qua đã đạt được những kết quả tích cực. Tuy nhiên, thẳng thắn nhìn lại trong cuộc đấu tranh này vẫn còn không ít những hạn chế, bất cập. Điều này được Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, chỉ rõ: “Nhiều tổ chức đảng, đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; việc đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị còn bị động, thiếu sắc bén và hiệu quả chưa cao”.
     Các thế lực thù địch không từ bất cứ âm mưu, thủ đoạn nào nhằm chống phá Việt Nam trên mọi lĩnh vực. Trước tình hình ấy, Ðảng ta đã xác định đấu tranh, phản bác có hiệu quả với luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên của toàn bộ hệ thống chính trị, của mỗi cán bộ, đảng viên và của mọi công dân. Chúng ta phải tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp, trong đó cần đặc biệt nhấn mạnh tính chủ động.
    Tính chủ động trước hết trong nhận thức. Hiện nay một số lượng rất lớn các trang mạng xã hội của nhiều tổ chức, hội nhóm phản động lưu vong được chúng huy động để tuyên truyền bóp méo, xuyên tạc tình hình nhằm chống phá Việt Nam. Từ thực tế ấy, vấn đề đặt ra là chúng ta phải chủ động đẩy mạnh tuyên truyền để nhân dân hiểu rõ những luận điệu xuyên tạc, những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Chỉ khi nào nhận thức rõ, được cập nhật thường xuyên về tình hình và những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; tính chất nguy hiểm, phức tạp của cuộc đấu tranh thì mọi người dân mới đề cao cảnh giác, không bị động, lúng túng trước những luận điệu và âm mưu, thủ đoạn chống phá; ý thức rõ trách nhiệm xây dựng thế trận chủ động đấu tranh./.


Môi trường ST.

CÁN BỘ CÓ CHỨC, QUYỀN VÀ Ý THỨC TỰ GIÁO DỤC LIÊM CHÍNH, RÈN LUYỆN BẢN LĨNH VỮNG VÀNG

 


Kết quả công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng thời gian qua đã chỉ ra tình trạng cán bộ, đảng viên suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống không còn mơ hồ, chung chung mà hiện hữu ở nhiều lĩnh vực, cấp, ngành, địa phương, đơn vị, với mức độ ngày càng nghiêm trọng, cần được loại bỏ triệt để.

Nhìn từ những sai phạm của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên liên quan các vụ án xảy ra tại Công ty cổ phần Công nghệ Việt Á; Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao; các kết luận gần đây của Ủy ban Kiểm tra Trung ương kiểm tra dấu hiệu vi phạm đối với Ban Cán sự đảng Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ nhiệm kỳ 2016-2021; Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ đội Biên phòng tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu các nhiệm kỳ 2015-2020, 2020-2025; Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ đội Biên phòng tỉnh Trà Vinh các nhiệm kỳ 2015-2020, 2020-2025… cho thấy một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, sa vào chủ nghĩa cá nhân, không giữ được liêm chính trước cạm bẫy lợi quyền. Nghiêm trọng hơn khi những người được giao quyền hạn, trách nhiệm đã lợi dụng tình trạng khẩn cấp trong phòng, chống dịch bệnh, bất chấp kỷ cương, phép nước, đạo đức xã hội để thực hiện hành vi vơ vét, trục lợi cá nhân. Qua các vụ án, vụ việc liên quan tham nhũng, tiêu cực vừa qua cho thấy, số lượng tổ chức đảng và đảng viên bị kỷ luật đảng, kỷ luật hành chính và truy cứu trách nhiệm pháp lý ở mức đáng lo ngại, với tính chất, mức độ, phạm vi, hậu quả rất nghiêm trọng. Phần lớn cán bộ, đảng viên vi phạm bị kỷ luật đều là những người có chức, có quyền, nắm giữ những vị trí trọng trách, người đứng đầu cấp ủy, đơn vị ở nhiều cấp, ngành, địa phương. Trước mỗi quyết định kỷ luật, câu hỏi thường được đặt ra là vì đâu nên nỗi, khi rất nhiều trong số đó là những cán bộ, đảng viên được đào tạo bài bản, có trình độ học vấn, trình độ lý luận chính trị cao, có quá trình trưởng thành từ thực tiễn. Trên cương vị của mình, hơn ai hết họ phải là người hiểu rõ về các quy định, quy chế làm việc, thẩm quyền, mối quan hệ trách nhiệm cá nhân-tập thể, quy trình xử lý công việc… Nhưng tất cả đã bị bỏ qua chỉ vì danh lợi trước mắt, vì lợi ích cá nhân đã đặt lên trên hết, cao hơn cả tự trọng của chính mình. Trong các quyết định gần đây của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương về thi hành kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, đã chỉ ra cái gốc của vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng, làm thất thoát lớn ngân sách nhà nước, ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng, Nhà nước, suy giảm niềm tin trong nhân dân, chính là bắt nguồn từ sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống. Điều này khẳng định, suy thoái là nguyên nhân của mọi nguyên nhân, là căn nguyên vi phạm kỷ luật Đảng và pháp luật Nhà nước. Tình trạng suy thoái như Trung ương đã cảnh báo, chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, cơ hội, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Trong các nguyên nhân dẫn đến suy thoái, Trung ương đã nhận định, có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân, từ việc bản thân cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng; sa vào chủ nghĩa cá nhân, quên mất trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước dân. Không thể ngụy biện, suy diễn bi quan mà đổ lỗi cho cơ chế, bởi không có cơ chế, chế tài nào có thể kiểm soát hết được diễn biến nội tại trong mỗi con người, cũng không thể cưỡng chế lòng tham khi họ cố tình vi phạm.

Các quyết định kỷ luật nghiêm khắc tổ chức đảng, đảng viên vi phạm thời gian qua thể hiện sự nghiêm minh, nhất quán trong chỉ đạo và hành động của Đảng, thống nhất giữa nói và làm, cấp trên làm gương cho cấp dưới. Đây là những bản án nghiêm khắc, đúng người, đúng tội được dư luận đánh giá cao về tính công khai, minh bạch, khẩn trương trong kiểm tra, điều tra, xử lý. Đó tiếp tục là bài học đắt giá trong công tác xây dựng Đảng nói chung, đối với mỗi tổ chức đảng nói riêng; là bài học cảnh tỉnh cho mỗi đảng viên, nhất là những cán bộ lãnh đạo, quản lý về tự soi, tự sửa, tự tu dưỡng, rèn luyện chính mình. Đấu tranh với sai phạm làm trong sạch nội bộ, củng cố đoàn kết trong Đảng để hướng tới mục tiêu cuối cùng là xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh, đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ tâm, đủ tầm. Điều đó đòi hỏi hành động của mỗi cấp ủy, cán bộ người có vị trí càng cao càng phải làm gương về tự giáo dục liêm chính, rèn luyện bản lĩnh vững vàng, phải đặt lợi ích quốc gia, dân tộc, nhân dân và của Đảng lên trên hết

 

CHIÊU BÀI “NHÂN QUYỂN” – MŨI TIẾN CÔNG THÂM ĐỘC CỦA CÁC THẾ LỰC CHỐNG PHÁ

      Quyền con người là những quyền tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Tại Việt Nam, từ khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến nay, cả hệ thống chính trị Việt Nam đã luôn nỗ lực để bảo đảm quyền con người ở mức cao nhất có thể. Thế nhưng, có những đối tượng, tổ chức, ngày đêm chống phá, xuyên tạc, bôi nhọ đất nước ta về mọi mặt, trong đó có vấn đề nhân quyền. Việt Nam là đất nước đa dân tộc, đa văn hóa với 54 dân tộc anh em. Các dân tộc không phân biệt đa số hay thiểu số, trình độ phát triển cao hay thấp đều ngang nhau về quyền lợi và nghĩa vụ và được bảo đảm bằng Hiến pháp và pháp luật. Thực tế đã cho thấy rõ điều ấy. Thế nhưng, chính tính đa dân tộc đã được các đối tượng phản động tìm mọi cách khoét sâu, gây chia rẽ, điển hình là những thông tin sai lệch, bịa đặt, vu cáo rằng Đảng, Nhà nước Việt Nam vi phạm quyền của đồng bào dân tộc thiểu số. Những luận điệu vẫn xuất hiện từ nhiều thập kỷ qua như: Vu cáo Đảng và Nhà nước Việt Nam “Đàn áp tàn bạo”, tước đoạt quyền làm người của đồng bào; Bỏ qua những khó khăn khách quan để thổi phồng khoảng cách giàu nghèo. Xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đây là mục tiêu cả mà dân tộc Việt Nam hướng tới khi kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Những con đường kết nối khu vực miền núi, những công trình nước sạch vùng cao, những ngôi trường nội trú dành riêng cho con em đồng bào… minh chứng cho quan điểm “một xã hội phát triển thực sự vì con người”, để không bỏ ai lại phía sau.. chứ không vì phục vụ lợi ích kinh tế. Theo nghiên cứu của các chuyên gia về vấn đề nhân quyền, có một số thủ đoạn chính mà các thế lực thù địch thường sử dụng để chống phá chế độ về các vấn đề liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số. Đó là lợi dụng sự khó khăn khách quan của đồng bào dân tộc; lợi dụng một số phong tục, tập quán còn lạc hậu của bà con; trích dẫn các báo cáo không có căn cứ của các tổ chức quốc tế về tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Nguy hiểm nhất, là họ đồng nhất khái niệm quyền dân tộc tự quyết là quyền của quốc gia, dân tộc với quyền của các dân tộc thiểu số để kích động, lôi kéo bà con đòi thành lập nhà nước riêng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tháng trước, tài khoản Youtube của tổ chức phản động lưu vong Việt Tân lan truyền clip rêu rao rằng chính quyền sách nhiễu một thánh lễ ở Vụ Bản, Hòa Bình. Không ít tài khoản Facebook hùa theo đơm đặt là chính quyền bố trí cả công an để trấn áp. Với những lời lẽ kích động, họ thổi phồng rằng cấp ủy, chính quyền xâm phạm tự do tôn giáo. Là người có mặt tại buổi mục vụ hôm 20/2, bà Đào Thị Vụ cho biết thực chất chỉ có Bí thư và Phó Chủ tịch thị trấn với tư cách là Ban Chỉ đạo phòng chống dịch ở địa phương đến đề nghị nhà thờ thực hiện đúng các qui định để đảo bảo an toàn cho người dân. Sự thật đã bị bóp méo với ý đồ xấu. Ở Việt Nam quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của các công dân; các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Tôn trọng và bảo đảm hoạt động của các tôn giáo nhưng cũng giống như nhiều quốc gia khác, Việt Nam không chấp nhận việc lợi dụng vấn đề này để xuyên tạc, kích động li khai, chia rẽ các dân tộc, tôn giáo, gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến an ninh quốc gia. Cùng với tấn công vào quyền của các dân tộc thiểu số, các đối tượng thù địch cũng đưa ra các luận điệu xuyên tạc việc thực hiện quyền trẻ em tại Việt Nam. Trẻ em không chỉ là lực lượng đông đảo của hiện tại, mà còn là nguồn nhân lực và là chủ nhân tương lai của đất nước. Lợi dụng quyền trẻ em thì dễ tạo nên những phản ứng, bức xúc trong xã hội. Xỉa xói Việt Nam là thế, nhưng các cá nhân, tổ chức này lại lờ đi những thực tế khác, cho thấy một tiêu chuẩn kép. Như là cứ 5 trẻ ở châu Âu thì có 1 em là nạn nhân của một hình thức xâm hại tình dục; hay tại một quốc gia nơi sở hữu súng là hợp pháp, năm 2020, có trên 5.100 trẻ em và thiếu niên dưới 17 tuổi bị giết hoặc bị thương. Hãy thừa nhận rằng, mảng tối, khiếm khuyết luôn tồn tại, kể cả trong những thể chế được cho là thượng tôn pháp luật nhất, dân chủ nhất. Do đó, nếu đánh giá, hãy toàn diện, khách quan, chứ xuyên tạc, dẫn dắt dư luận với ý đồ đen tối thì sớm muộn gì cũng bị lôi ra ánh sáng. Tấn công quyền trẻ em còn chưa đủ, các lực lượng chống đối còn nhẫn tâm đưa cả người khuyết tật ra che chắn cho luận điệu chống phá mình. Trở lại với thời điểm dịch COVID-19 còn diễn biến phức tạp, tại thành phố Hồ Chí Minh xảy ra một vụ tự thiêu. Ngay lập tức các đối tượng thù địch lu loa rằng “Chống dịch hay chống dân” và đây là vụ việc người dân tự thiêu để phản đối cách thức chống dịch của chính quyền. Thực tế thì đây là trường hợp người tự thiêu do bệnh lý thần kinh, không kiểm soát được hành vi. Và còn rất nhiều những ví dụ khác cho thấy, tại Việt Nam, dù khó khăn còn nhiều, nhưng bảo đảm quyền cho người khuyết tật luôn được nỗ lực thực hiện. Bởi tại Việt Nam, có câu nói: Không để ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển.

Bất chấp những thành tựu Việt Nam đạt được, lá bài “nhân quyền” vẫn được các đối tượng sử dụng để xuyên tạc mọi mặt của đời sống như Việt Nam không bảo vệ quyền trẻ em, vi phạm quyền của đồng bào dân tộc thiểu số, quyền của người khuyết tật. Vẫn chưa đủ, khi Nhà nước Việt Nam phòng chống dịch COVID-19, bảo vệ sức khỏe, tính mạng người dân, họ cáo buộc vi phạm nhân quyền. Chấm dứt hoạt động của các tà giáo, tổ chức tôn giáo bất hợp pháp… vi phạm nhân quyền. Rồi xét xử những kẻ vi phạm pháp luật Việt Nam, cũng vi phạm nhân quyền nốt. Những luận điệu lợi dụng nhân quyền lặp đi lặp lại nhiều đến mức lố bịch. Thế nhưng tại sao chiêu bài nhân quyền lại được dùng nhiều đến như vậy? Câu trả lời rất đơn giản, đây là một trong những mũi tấn công nguy hiểm nhất. Một thủ đoạn đáng lưu ý là việc trao giải thưởng và danh hiệu cho các đối tượng trong nước. Một số ví dụ, đó là những giải thưởng nhân quyền, hay giải thưởng tự do báo chí. Nhưng sự thực, đứng sau giải thưởng này là một số tổ chức dưới danh nghĩa nhân quyền, tự tạo nên các giải thưởng mà tiêu chí là thành tích chống phá càng dày thì càng có khả năng được trao giải. Kết quả, là hầu hết những người được đề cử và trao giải, đến từ nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ, lại chính là những đối tượng có hoạt động chống lại lợi ích quốc gia và dân tộc ở quốc gia của họ. Cùng với cổ súy cho những kẻ vi phạm pháp luật, những tổ chức nhân quyền thiếu thiện chí liên tục vu cáo, bôi nhọ Đảng, Nhà nước Việt Nam trên lĩnh vực nhân quyền. Như Báo cáo mới nhất của Tổ chức theo dõi nhân quyền liệt kê hàng loạt vi phạm về quyền con người như tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, quyền của phụ nữ và trẻ em. Tổ chức Ngôi nhà tự do thì hoang tưởng với luận điệu “Việt Nam không có tự do internet”. Tổ chức phóng viên không biên giới thì nhai lại điệp khúc cũ mèm: “Việt Nam chẳng quan tâm gì đến tự do báo chí”. Nhưng nếu tình hình nhân quyền tại Việt Nam tệ đến thế, thì tại sao vào năm 2013, 184/193 nước bỏ phiếu bầu Việt Nam vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc cho nhiệm kỳ 2014 – 2016. Lý do gì Liên hợp quốc đánh giá cao và ủng hộ những nỗ lực, sáng kiến của Việt Nam trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Đánh giá về nhân quyền của Việt Nam, cần có sự khách quan, trung thực, chứ những tổ chức đội lốt “nhân quyền”, có cái nhìn thù hằn, thiếu thiện chí thì làm gì đủ tư cách. Chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Trên cơ sở này, Việt Nam đã nghiêm túc triển khai các nghĩa vụ và cam kết quốc tế trong lĩnh vực quyền con người, cũng như ưu tiên dành nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống, đảm bảo các quyền dân sự chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của mọi đối tượng trong xã hội. Cũng như các nước trên thế giới, pháp luật Việt Nam cũng có những quy định cấm các tổ chức, cá nhân phá hoại độc lập và đoàn kết dân tộc. Bất kỳ hành vi nào lợi dụng quyền tự do của bản thân để xâm phạm lợi ích Nhà nước, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân đều chịu xử lý của pháp luật và trật tự. Pháp luật được thượng tôn thì kỷ cương của đất nước được giữ vững, tạo cơ sở cho sự phát triển ổn định của đất nước, và cũng là tiền đề thúc đẩy, bảo đảm và phát huy các giá trị về quyền con người. Mỗi đất nước có quyền lựa chọn con đường riêng của mình, tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của các quốc gia đó. Không thể chấp nhận được việc áp đặt, xuyên tạc, vu cáo dân chủ, nhân quyền của quốc gia khác vì đó là xâm phạm vào công việc nội bộ của một quốc gia. Cũng như vậy, việc ủng hộ, dung túng, cổ vũ những hành vi chống đối dựa vào tấm áo khoác nhân quyền là điều cần phải lên án và loại bỏ.