Chủ Nhật, 3 tháng 7, 2022
LẠI MỘT SỰ XUYÊN TẠC TRẮNG TRỢN VỀ NHÂN QUYỀN VIỆT NAM
KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC SỰ THẬT!
Vai trò phương thức lãnh đạo và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị hiện nay
Phương thức lãnh đạo của Đảng thuộc về phương pháp cách mạng; là một bộ phận quan trọng của công tác xây dựng Đảng, có vai trò rất lớn đối với xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, củng cố, nâng cao uy tín chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng. Thực tiễn cho thấy, muốn giành thắng lợi cho cách mạng, Đảng không phải chỉ đề ra được đường lối cách mạng đúng đắn, mà còn phải tìm ra được phương pháp cách mạng thích hợp. Trong phương pháp cách mạng thì phương thức lãnh đạo là nội dung chủ yếu nhất. Nhờ phương thức lãnh đạo đúng đắn, hoạt động của Đảng được thể hiện hiệu quả trong thực tiễn, được nhân dân thừa nhận. Qua đó, uy tín chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng được nâng lên.
Hiện nay, nhiệm vụ của công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là rất to lớn, nặng nề và có nhiều nội dung mới. Đảng không thể sử dụng nguyên phương thức lãnh đạo của các giai đoạn cách mạng trước để lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ đó. V.I. Lênin đã dạy: "Khi tình hình đã thay đổi và chúng ta phải giải quyết nhiệm vụ thuộc loại khác thì không nên nhìn lại đằng sau và sử dụng những phương pháp của ngày hôm qua.
Do đó, để lãnh đạo công cụôc đổi mới thành công, Đảng phải đổi mới và xác định
phương thức lãnh đạo hệ thống chính trị cho phù hợp với yêu cầu mới. Đặc biệt ở
nước ta chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam duy nhất cầm quyền, phương thức lãnh đạo
của Đảng tác động trực tiếp đến hoạt động của tất cả các tổ chức trong hệ thống
chính trị. Phương thức lãnh đạo đúng sẽ tạo động lực cho các tổ chức trong hệ
thống chính trị phát huy vai trò, vị trí của mình; ngược lại, nếu phương thức
lãnh đạo của Đảng không phù hợp, sẽ kìm hãm sự phát huy vai trò của các tổ chức
trong hệ thống chính trị, thậm chí làm biến dạng Đảng và hệ thống chính trị với
những hậu quả khó lường.
Hòa giải để mưu sự lớn
Đau đầu với 'điệp khúc' hết thuốc
Nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả hoạt động của các Ban Chỉ đạo 35 đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đấu tranh chông các luận điệu sai trái, thù địch
Nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả hoạt động của các Ban Chỉ
đạo 35 đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Cần tập trung xây dựng,
kiện toàn tổ chức bộ máy và hoạt động của Ban Chỉ đạo 35 các cấp, đảm bảo không
chồng chéo, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động. Ban Chỉ đạo 35 Trung ương
cần chỉ đạo thường xuyên, tạo sự thống nhất giữa các bộ, ban, ngành và lực
lượng tham gia đấu tranh chống các quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch trên
mặt trận tư tưởng, lý luận; định hướng thông tin, định hướng dư luận kịp thời
trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm nảy sinh đang được dư luận, các tầng lớp
nhân dân quan tâm. Đồng thời, quan tâm xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ
chuyên trách, trong đó tập trung xây dựng quy hoạch đội ngũ cán bộ làm công tác
tư tưởng từ Trung ương đến cơ sở, cả cán bộ cấp chiến lược, các chuyên gia đầu
ngành, đội ngũ kế cận và cán bộ trẻ. Thường xuyên quan tâm nâng cao bản lĩnh
chính trị, trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ
nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị, khoa học xã hội và nhân văn, phóng
viên, biên tập viên các cơ quan báo chí, lực lượng tham gia Ban Chỉ đạo 35 các
cấp. Có cơ chế, chính sách, chế độ đãi ngộ hợp lý, thích đáng nhằm động viên,
khuyến khích đối với những cá nhân, tập thể làm công tác bảo vệ nền tảng tư
tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Đẩy mạnh sử
dụng khoa học, kỹ thuật, công nghệ, phát huy vai trò, thế mạnh của các phương
tiện truyền thông, báo chí, mạng xã hội trong tuyên truyền, quán triệt nghị
quyết, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đấu
tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.
Một số thách thức, nguy cơ đặt ra đối với bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa
Với vị trí địa chính trị quan trọng, Việt Nam đã, đang và luôn luôn sẽ là “trọng điểm” cạnh tranh chiến lược, lợi ích, ảnh hưởng của các nước lớn trong khu vực và phạm vi toàn cầu. Hơn nữa với chế độ xã hội chủ nghĩa, Việt Nam còn là mục tiêu chống phá của các thế lực thù địch… Những nguy cơ, thách thức này cần thiết phải nhận diện chính xác, đầy đủ ở cả hai hướng sau đây:
Một là, nguy cơ, thách thức từ bên ngoài.
Nguy cơ rơi vào thế mắc kẹt giữa các cường quốc hiện nay, thách thức trong triển khai chính sách đối ngoại, đối với các mối đe dọa. Cục diện thế giới, khu vực biến đổi mau lẹ, sự cạnh tranh, mặc cả chiến lược giữa các nước lớn; diễn biến khó lường, các điểm nóng khiến môi trường chính trị, an ninh khu vực ngày càng phức tạp, làm giảm lòng tin chiến lược giữa các quốc gia, kích thích chạy đua vũ trang và tâm lý dân tộc cực đoan, làm gia tăng căng thẳng và phức tạp quá trình giải quyết tranh chấp có liên quan đến lợi ích an ninh quốc gia. Với vị thế địa chính trị chiến lược quan trọng, vai trò tích cực trong các tổ chức quốc tế, khu vực, Việt Nam bị các nước tác động, gây ảnh hưởng, lôi kéo tham gia vào các cơ chế nhằm kiềm chế lẫn nhau, có thể đặt Việt Nam vào tình thế khó khăn trong ứng xử với từng nước và tại các diễn đàn quốc tế.
Thách thức an ninh đối với chủ quyền quốc gia ngày càng lớn, tạo môi trường bất lợi, gia tăng áp lực bảo vệ lợi ích quốc gia. Các tranh chấp lãnh thổ giữa nước ta với các nước lân cận khó có thể giải quyết triệt để, tiềm ẩn nguy cơ xảy ra xung đột. Vấn đề Biển Đông gia tăng, bất ổn, phức tạp do Trung Quốc hành động cứng rắn hơn, phức tạp, khó lường hơn, đặc biệt là sử dụng các biện pháp thô bạo để giải quyết tranh chấp làm tăng nguy cơ trên biển, chủ quyền lãnh thổ bị xâm phạm. Các bên tranh chấp khác không từ bỏ, tăng cường tiềm lực, chạy đua vũ trang khiến tình hình ngày càng phức tạp, tạo ra mối đe dọa với an ninh quốc gia, bảo vệ Tổ quốc, môi trường hòa bình, ổn định, phát triển đất nước.
Nguy cơ tụt hậu và phụ thuộc kinh tế vào các nước phát triển, các nước lớn, các định chế quốc tế ngày càng tăng. Những hạn chế trong hội nhập quốc tế như năng lực cạnh tranh thấp, trình độ quản lý chưa theo kịp, thể chế kinh tế thị trường chưa hoàn thiện, cơ chế, chính sách, pháp luật còn thiếu đồng bộ. Việt Nam ngày càng tham gia sâu rộng vào nhiều định chế kinh tế, tài chính quốc tế, chịu nhiều bất lợi và sức ép cải cách chính sách, thể chế, nguy cơ bị các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề kinh tế để can thiệp chủ quyền, xâm phạm an ninh quốc gia. Các nước lớn xác định những vấn đề, tiêu chí tiêu chuẩn cơ bản của biến đổi khí hậu, chuyển đổi số, chuỗi sản phẩm… làm điều kiện, tác động, chi phối, dẫn dắt quan hệ kinh tế quốc tế.
Thách thức phát triển khoa học công nghệ, áp đặt các giá trị, tư tưởng, văn hóa. Các nước phát triển, nước lớn tăng cường sử dụng các ưu thế sức mạnh vượt trội về kinh tế, khoa học, công nghệ để can thiệp, ra điều kiện trong quan hệ kinh tế, áp đặt các giá trị tư tưởng, văn hóa phương Tây vào Việt Nam; phá hoại nền tảng tư tưởng, bản sắc, truyền thống văn hóa dân tộc và những giá trị tinh thần của chủ nghĩa xã hội; nguy cơ an ninh mạng càng hiện hữu.
Các mối đe dọa từ an ninh bên ngoài từng bước chuyển vào nội bộ, bộc lộ rõ nét, tạo thách thức lớn đối với nhiệm vụ duy trì, ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội. Cùng với toàn cầu hóa, xu hướng “dân chủ hóa” trên thế với, các nước lớn đẩy mạnh phổ biến “sức mạnh mềm” thúc đẩy thay đổi chế độ chính trị, kích động phong trào ly khai, tự trị, thúc đẩy “môi trường tự do hóa, dân chủ hóa” theo kiểu phương Tây, làm xuất hiện, mở rộng khuynh hướng tư tưởng phức tạp trong nội bộ, các trào lưu xâm nhập vào Việt Nam, dẫn đến nguy cơ làm xói mòn truyền thống văn hóa dân tộc, phai nhạt lý tưởng, nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Sức ép vấn đề “dân chủ, nhân quyền” ngày càng lớn.
Nguy cơ “diễn biến hòa bình”. Các thế lực thù địch, phản động tăng cường thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”. Chúng triệt để lợi dụng xu hướng toàn cầu hóa, “tự do hóa chính trị”, “dân chủ hóa”, sự khác biệt về thể chế chính trị, pháp luật, những khó khăn, thiếu sót của Việt Nam…để tạo khủng hoảng về tư tưởng, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, gia tăng sức ép, chuyển hóa nội bộ, tác động vào quá trình cải cách tư pháp, lập pháp, thúc đẩy “tự do, dân chủ hóa”, công khai tài trợ, hậu thuẫn hình thành các tổ chức “xã hội dân sự”, hội nhóm khác nhau. Số phần tử cơ hội chính trị hoạt động ngày càng công khai, quyết liệt, phức tạp.
Các vấn đề an ninh phi truyền thống tiếp tục gia tăng. Mối đe dọa an ninh phi truyền thống ngày càng gia tăng với quy mô, tính chất, mức độ ngày càng nghiêm trọng, tác động đến lợi ích, an toàn, an ninh quốc gia Việt Nam, như biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, an ninh năng lượng, an ninh con người…
Hai là, những thách thức, nguy cơ từ bên
trong, nội bộ.
Việc xây dựng đồng bộ hệ thống chiến lược thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc còn chưa đồng bộ. Công tác tham mưu chiến lược chất lượng chưa cao, trên một số mặt chưa đáp ứng được đòi hỏi của tình hình, yêu cầu nhiệm vụ. Đánh giá, dự báo tình hình có mặt chưa được cụ thể, kịp thời, còn bị động, bất ngờ trong một số tình huống. Chỉ đạo điều hành có lúc, có nơi thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị; công tác bảo vệ an ninh nội bộ, an ninh tư tưởng còn nhiều bất cập, sơ hở. Nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân chưa toàn diện; tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, thế trận lòng dân chưa thật vững chắc. Đất nước vẫn tiềm ẩn các nhân tố có thể gây mất ổn định. Việc kếp hợp hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc có lúc, có nơi chưa thật hiệu quả; kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong thực tiễn còn có lúc, có nơi chưa thật hiệu quả, có mặt còn hình thức. Đầu tư cho quốc phòng, an ninh, xây dựng thế trận, khu vực phòng thủ, phát triển khoa học - công nghệ…chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Tình hình an ninh chính trị nội bộ xuất hiện một số biểu hiện tiêu cực. Các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chưa được đẩy lùi, có mặt bộc lộ rõ nét, nghiêm trọng hơn mà Đảng ta chỉ rõ: Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những người giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, cán bộ cấp cao, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tham nhũng, lãng phí…; công tác bảo vệ an ninh chính trị nội bộ còn bộc lộ những sơ hở, để các đối tượng tác động, phân hóa, lôi kéo, chia rẽ, mất đoàn kết. Công tác bảo vệ bí mật nhà nước, tình trạng cung cấp tin, tài liệu bí mật, lũng đoạn nội bộ diễn biến phức tạp, có một số trường hợp bị móc nối làm nội gián, bị lôi kéo, mua chuộc, tham gia các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước. Tư tưởng, lối sống một bộ phận đông đảo, nhất là giới trẻ phai nhạt lý tưởng, đạo đức, lối sống.
An ninh kinh tế tiềm ẩn những bất ổn. Trước tác động của đại dịch, giá nguyên liệu đầu vào tăng cao, các doanh nghiệp tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, nợ xấu, khiến nhiều doanh nghiệp phá sản, lao động thất nghiệp, tiềm ẩn bất ổn xã hội. Tình trạng trốn thuế, trục lợi hoàn thế, vi phạm pháp luật, làm sai quy định với thủ đoạn tinh vi, thao túng thị trường, lĩnh vực cơ bản, như tài chính, chứng khoán, bất động sản của nhiều tổ chức, cá nhân, tập đoàn tư nhân lớn vừa qua gây thất thoát, tác động lớn đến nền kinh tế. Tình trạng các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) lập dự án, xin đất, huy động vốn, đưa được người vào Việt Nam, chuyển giao, chuyển giá, nợ đọng lương, lãn công, biểu tình ở các nhà máy, khu công nghiệp ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, đối ngoại, môi trường đầu tư ở Việt Nam.
An ninh mạng tiếp tục diễn biến phức tạp, khó kiểm soát. Các nước lớn xác định an ninh mạng là “vấn đề cốt lõi”, đe dọa an ninh mạng là đe dọa an ninh quốc gia. Ở Việt Nam, an ninh mạng đặt ra ngày càng cấp bách. Các cơ quan đặc biệt nước ngoài, tin tặc thường xuyên lợi dụng điểm yếu này để tấn công xâm nhập, thu thập thông tin, bí mật nhà nước, cài cắm mã độc, phần mềm gián điệp. Đồng thời, đây là công cụ đắc lực để phá hoại nền tảng tư tưởng, tuyên truyền xuyên tạc, luận điệu sai trái, thù địch. Các tổ chức phản động lưu vong tăng cường xâm nhập, móc nối, mua chuộc, phát triển lực lượng, hình thành tổ chức, hội nhóm chống, phá quyết liệt. Các loại tội phạm mạng, tội phạm công nghệ cao diễn biến phức tạp, hoạt động tinh vi, quy mô, tính chất, mức độ ngày càng nguy hiểm, nghiêm trọng. Công tác bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin còn nhiều sơ hở, quản lý nhà nước, cơ chế kiểm soát bảo đảm an ninh quốc gia, bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng còn có hạn chế, bất cập.
An ninh xã hội có nhiều yếu tố mất ổn định. Các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tôn giáo gia tăng hoạt động, công khai chống phá quyết liệt. Số đối tượng cực đoan trong các tôn giáo tuyên truyền, xuyên tạc, kêu gọi quốc tế gây sức ép, can thiệp vấn đề “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền”, “tự do tôn giáo”; cổ vũ, kích động, chỉ đạo, ủng hộ tinh thần, vật chất, hình thành tổ chức, hội nhóm chống phá. Hoạt động của các “đạo lạ”, “tà đạo”, “hiện tượng tôn tín ngưỡng, tôn giáo mới” có chiều hướng phát triển, lây lan phức tạp, gây mất an ninh trật tự. Tình hình tranh chấp, khiếu kiện diễn biến phức tạp, bị phần tử xấu lợi dụng, gây rối trật tự công cộng. An ninh các địa bàn chiến lược Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ.
Tình hình tội phạm diễn biến phức tạp. Hoạt động của các loại tội phạm vẫn diễn ra
hết sức phức tạp, tính chất, mức độ phạm tội ngày càng nghiêm trọng. Tội phạm
xâm phạm thân thể hành vi gây án ngày càng dã man, tàn bạo. Tình trạng chống
người thi hành công vụ, nhất là cán bộ công an, hành vi chống đối manh động,
liều lĩnh. Tội phạm kinh tế, tham nhũng nổi lên trong nhiều lĩnh vực, nhất là
tài chính, ngân hàng, đất đai - bất động sản, y tế, cố ý làm trái tại các công
ty, tập đoàn kinh tế tư nhân gây thất thoát, lãng phí lớn.
Một số vấn đề mang tính phương pháp luận, định hướng giải pháp thực hiện bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước khi nước chưa nguy
Trong những năm tới, tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp và có nhiều yếu tố không thuận lợi, dễ gây mất ổn định. Các nước lớn tăng cường điều chỉnh chiến lược, tranh giành ảnh hưởng; chiến tranh thương mại, công nghệ, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ diễn ra gay gắt; xung đột vũ trang, khủng bố, tấn công mạng gây bất ổn ở nhiều quốc gia. Đặc biệt, trên Biển Đông tiềm ẩn nhiều nguy cơ bất ổn về an ninh, chính trị và chủ quyền đất nước. Các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” Quân đội; đối tác, đối tượng chuyển hóa mau lẹ, khó đoán định; tình hình an ninh, chính trị một số địa phương, cơ sở chưa thật sự ổn định vững chắc; việc mở cửa, hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện trên các lĩnh vực, đặt ra không ít khó khăn, thách thức cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trước tình hình đó, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta cần nhận thức ý nghĩa, nhất quán quan điểm “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”, “giữ nước từ khi nước chưa nguy” cần quán triệt một số vấn đề sau đây:
Một là, phát huy sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh tổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc. Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước. Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Ứng phó kịp thời với các đe dọa an ninh phi truyền thống, nhất là nhiệm vụ cứu nạn, cứu hộ, phòng chống thiên tại, dịch bệnh. Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa, giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển.
Hai là, tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng, củng cố và phát huy hiệu quả “thế trận lòng dân” trong “nền quốc phòng toàn dân”, “nền an ninh nhân dân”. Kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và ngược lại. Cụ thể hóa và thực hiện hiệu quả hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; quán triệt, thực hiện hiệu quả chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, từng địa phương, vùng, địa bàn chiến lược và trong từng nhiệm vụ, chương trình, kế hoạch.
Ba là, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu đến 2030 xây dựng Quân đội, Công an cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Quân đội, Công an tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân, có lý tưởng, năng lực, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống. Quan tâm xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu và dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp trên các vùng, miền, trên biển. Xây dựng lực lượng bảo đảm trật tự, an toàn xã hội cơ sở, đáp ứng đòi hỏi của nhiệm vụ giữ vững an ninh, trật tự ở cơ sở. Xây dựng, củng cố biên giới trên bộ hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển.
Bốn là, xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh hiện đại, lưỡng dụng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc vừa góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và củng cố các tuyến phòng thủ biên giới, biển, đảo; có cơ chế huy động nguồn lực từ địa phương và nguồn lực xã hội cho xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh tại khu vực, tuyến phòng thủ. Nâng cao năng lực dự báo chiến lược, giữ vững thế chủ động chiến lược, không để bị động, bất ngờ. Chủ động chuẩn bị về mọi mặt, sẵn sàng các phương án bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trong mọi tình huống.
Năm là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội, công an đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân mạnh về chính trị, làm nòng cốt trong sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, của các cấp, các ngành, của mỗi cán bộ, đảng viên và người dân đối với nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguyCủng cố niềm tin trong đấu tranh các quan điểm sai trái, thù địch
Luận cứ của cuộc đấu tranh tư tưởng phải hướng vào chủ đích là củng cố niềm tin, sao cho toàn thể cán bộ, đảng viên, nhân dân tin vào sự tất thắng của sự nghiệp cách mạng, quyết tâm thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Một điều rất hiển nhiên là, triển vọng phát triển của đất nước phụ thuộc đáng kể vào tư tưởng và nhận thức của con người. Khi tư tưởng đã thông, thống nhất một cách nghĩ sẽ biến ý chí thành hành động, làm cho triệu người đồng lòng chung sức, tạo thành lực lượng vật chất to lớn thúc đẩy xã hội tiến lên. Yếu tố cốt lõi đưa tới thống nhất tư tưởng và hành động là niềm tin. Niềm tin trong mỗi con người là sự chắt lọc từ nhận thức và nằm trong chiều sâu nhận thức, nhưng lại có ý nghĩa vô cùng lớn lao đối với việc định hướng tư tưởng và định hướng hành động. Niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân là keo gắn trong Đảng và giữa Đảng với nhân dân, tạo thành động lực to lớn giúp chúng ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Để xác lập và củng cố niềm tin, điều cần thiết nhất là phải nâng cao trình độ
giác ngộ, trình độ hiểu biết cho cán bộ đảng viên và nhân dân. Trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tiếp tục đổi mới, mở cửa, hội
nhập quốc tế, đối với mỗi chúng ta, chỉ có tình cảm là không đủ, mà phải là
tình cảm cách mạng dựa trên cơ sở lý luận khoa học vững chắc. Có như vậy mới
định hướng đúng cho mình khi gặp những điều kiện và biến cố phức tạp trong một
thế giới đầy xáo động, ngổn ngang, bất trắc khôn lường. Có như vậy mới đủ kiên
định trước mọi thử thách của thời cuộc.
Yêu cầu nhìn nhận tổng thể trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch
Để hình thành các luận cứ khoa học phải có cách nhìn tổng thể, không được phiến diện, tuyệt đối hóa một chiều và không công thức hóa. Phiến diện và tuyệt đối hóa sẽ dẫn tới làm mất đi tính khoa học của lý luận và tính phong phú của thực tế, làm cho lý luận bị ngưng đọng và không đủ uyển chuyển để tìm ra những luận cứ đấu tranh. Như khi luận bàn về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, chúng ta có lúc đánh giá nhìn nhận quá cao tác dụng “mở đường” của quan hệ sản xuất; lúc khác thì chỉ để ý đến vấn đề lợi ích, đến việc phát huy các yếu tố của lực lượng sản xuất nên coi nhẹ, thậm chí quên mất việc quan hệ sản xuất phù hợp cũng có những tác động chủ động và tích cực đối với lực lượng sản xuất. Vấn đề sở hữu cũng vậy, trước đây trong lý thuyết chúng ta chú trọng hết sức đến hai hình thức sở hữu trong xã hội chúng ta là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, coi đó là điều tuyệt đối đúng, là hình thức cơ bản đặc trưng của chủ nghĩa xã hội. Cho đến hiện nay, khi xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì xuất hiện những nhận thức lửng lơ, phó mặc, ít chú trọng tới việc củng cố, hoàn thiện các thành phần kinh tế mang tính chủ đạo, nền tảng là kinh tế nhà nước và hợp tác xã.
Vấn đề công thức hóa cũng vậy. Khi nói về kết cấu và bản chất của chủ nghĩa xã hội, đôi khi chúng ta mô tả nó một cách công thức đơn giản, hời hợt, sơ lược, coi như không có mâu thuẫn; không nhìn thấy hết và không quan tâm hết đến các hệ thống lợi ích khác nhau của các tầng lớp xã hội. Tất cả những điều đó đã vô tình hạ thấp vị trí và vai trò của hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa và trên thực tế sẽ tạo ra những cơ chế kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.Xây dựng tư duy khoa học và sáng tạo trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái thù địch
Để có sức thuyết phục, mọi lý lẽ được sử dụng phải mang tính khoa học và sáng tạo. Chúng ta đều thấy rằng: Một mặt, lý thuyết về chủ nghĩa xã hội và xã hội xã hội chủ nghĩa được hình thành một cách khoa học, có khảo sát, phân tích thấu đáo trên cơ sở vận dụng những qui luật khách quan. Nhưng mặt khác, đôi khi chúng ta không chú ý hoặc vô tình bỏ qua một vấn đề quan trọng là những luận thuyết về chủ nghĩa xã hội được xác lập dựa vào những phương pháp trừu tượng rất cao. Phải tìm tòi và gạt bỏ những vấn đề, những yếu tố đặc thù, hoặc không cơ bản để đi sâu vào lý giải những vấn đề cốt lõi. Lý thuyết nguyên bản cội nguồn đó khi được áp dụng vào những tình huống cụ thể, lẽ ra phải tính tới sự gắn kết những điều kiện bên ngoài với bên trong và phải được soi rọi từ thực tế thì sự vận dụng nhiều khi biệt lập, không cân nhắc đến khía cạnh đó nên dễ bị khiên cưỡng và thường gặp những vướng mắc khó có thể tháo gỡ.
Tính trừu tượng cao của chủ nghĩa xã hội khoa học chính là những nguyên lý
chung nhất, mang tính phổ biến nhất có thể áp dụng cho mọi nơi, mọi nước. Tuy
nhiên, trong quá trình vận dụng để xây dựng chủ nghĩa xã hội, không thể không
tính đến, thậm chí phải hết sức tính đến những điều kiện đặc thù. Chủ tịch Hồ
Chí Minh là tấm gương mẫu mực về sự vận dụng một cách sáng tạo như thế. Trên cơ
sở nắm bắt sâu sắc bản chất cách mạng và khoa học, tinh thần biện chứng và nhân
đạo của học thuyết Mác-Lênin, Người đã vận dụng sáng tạo học thuyết đó cùng với
việc kế thừa chủ nghĩa yêu nước, truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa
văn hóa nhân loại để đưa ra những tư tưởng phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện
của Việt Nam. Trong khi giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí
Minh đã góp phần phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin trên nhiều vấn đề quan trọng,
đặc biệt là lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã
hội ở các nước thuộc địa. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã và đang soi đường cho cách
mạng Việt Nam giành nhiều thắng lợi, trở thành nền tảng tư tưởng bền vững của
dân tộc và có sức lan tỏa ra thế giới.
Những khó khăn, vướng mắc trong đấu tranh chống các quan điếm sai trái ở Việt Nam
Trong việc xây dựng các luận cứ cho cuộc đấu tranh lý luận, cần nhận rõ sự phức tạp trên con đường cách mạng nước ta vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Trên con đường đó, chúng ta gặp không ít khó khăn, không ít lực cản. Có những khó khăn do chính bản thân chúng ta không lường hết, khó khăn nội tại do chủ quan duy ý chí hoặc do bảo thủ trì trệ dẫn tới sự đình đốn thậm chí vấp ngã. Từ đó dẫn tới sự lúng túng và thiếu lý lẽ thậm chí bế tắc trong lập luận. Sự kiện ở Liên Xô trước đây và Đông Âu - những nơi mà chủ nghĩa xã hội hiện thực tưởng như rất vững chắc, nhưng đã bị tan rã một cách nhanh chóng, đã cho ta bài học sâu cả về tính phức tạp của thế giới đương đại và những trắc trở, khó khăn của con đường đi tới tương lai của loài người. Vấn đề đặt ra là vận mệnh của chủ nghĩa xã hội sẽ phụ thuộc vào chính việc nhìn nhận rõ và khắc phục tốt những vướng mắc bên trong của xã hội xã hội chủ nghĩa, nhất là khi chủ nghĩa xã hội chưa được xây dựng một cách hoàn hảo. Đó là những vấn đề nảy sinh từ tính phức tạp của thực tiễn mà ta chưa lường hết và có trường hợp từ sai lầm về nhận thức dẫn tới sai lầm về hành động, từ sự thiếu hiểu biết mà làm sai, làm ẩu; sự thiếu nhạy cảm nên chậm chạp để mất thời cơ, sự vi phạm nguyên tắc dẫn tới sự chệch hướng.
Thực tiễn quá trình cách mạng của chúng ta hiện nay cũng chứa đựng những vấn đề
không đơn giản. Phát triển kinh tế thị trường trong điều kiện toàn cầu hóa, mở
cửa hội nhập quốc tế là những nhiệm vụ tất yếu mà chúng ta đang tiến hành.
Nhưng ai cũng biết, mặc dù chúng ta luôn giữ định hướng xã hội chủ nghĩa nhưng
phát triển kinh tế thị trường càng mạnh thì tính tự phát của khuynh hướng tư
bản chủ nghĩa cũng sẽ tăng lên. Chúng ta lại đang ở thời kỳ quá độ, trong đó
nền kinh tế và cả xã hội cũng có những vấn đề quá độ đan xen nhau rất khó rạch
ròi. Quá trình mở cửa hội nhập, chủ động làm ăn với các nước tư bản chủ nghĩa
lại sử dụng những giải pháp và cách thức phát triển của chủ nghĩa tư bản để xây
dựng chủ nghĩa xã hội đặt ra nhiều thách đố đối với công tác lý luận và đặc
biệt là công tác đấu tranh về lý luận để bảo vệ những nguyên lý và quan điểm,
định hướng của chúng ta.
Yêu cầu đối với việc xây dựng luận cứ phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong đấu tranh tư tưởng ở Việt Nam
Đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch là một phần quan trọng của cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, là bộ phận cốt yếu của cuộc đấu tranh tư tưởng, có tác động to lớn tới sự ổn định và phát triển của chế độ xã hội. Đảng ta luôn khẳng định đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng là một nhiệm vụ cấp thiết giúp chúng ta khẳng định quan điểm, lập trường và niềm tin vào sự nghiệp cách mạng, để đất nước ta dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng - lý luận hiện nay đang diễn ra trong bối cảnh mới, có nhiều thuận lợi mới và không ít khó khăn, thách thức mới. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng để chúng ta vững bước đi lên. Điều đó làm cho công tác lý luận có một cơ sở thực tế mới, có một “cốt vật chất” vững chắc để thực hiện những nhiệm vụ của mình. Tuy nhiên, tình hình trong nước hiện nay vẫn tồn đọng một số vấn đề đáng được quan tâm giải quyết và cũng là những khó khăn đối với công tác lý luận và đấu tranh lý luận.Bên cạnh đó, những thách thức đối với công tác lý luận từ bên ngoài tác động vào Việt Nam cũng không hề nhỏ. Đó là những nghịch lý và những diễn biến khó lường và khó dự báo của thế giới hiện nay. Ngay cả những giá trị cao đẹp và đích thực mà nhân loại dày công tạo dựng, vun đắp như hòa bình, độc lập, chủ quyền, công bằng, tiến bộ xã hội ... cũng bị những thế lực đế quốc phản động dùng mọi mưu mô đánh phá. Đã thế, có một tình hình là thông tin về mọi mặt đời sống chính trị - kinh tế - văn hóa - xã hội ở mọi nơi trên thế giới và trong nước, cả mặt thuận và mặt trái, đều có thể hấp thụ được qua nhiều cách, nhiều chiều trên nhiều phương diện. Từ đó trong cuộc đấu tranh này, chúng ta phải kế thừa những cách thức và phương pháp vốn có, đồng thời phải có cách làm đổi mới, sáng tạo để tìm ra được những luận cứ sắc bén. Điều căn bản nhất là thấy hết những yêu cầu mới đặt ra trong khi xây dựng các luận cứ mang tính khoa học và có tính thuyết phục để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh lý luận hiện nay.
CẢM NHẬN CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM TA!
Những âm mưu và thủ đoạn mới trong hoạt động chống phá của các thế lực thù địch chong phá Việt Nam
Chống phá chủ nghĩa xã hội, trong đó có cách mạng Việt Nam là âm mưu lâu dài,
nhất quán và hoạt động thường xuyên của các thế lực thù địch. Hiện nay, một số
thế lực chuyển hướng chống phá cách mạng nước ta bằng phương thức phi vũ trang
thông qua chiến lược “diễn biến hòa bình”. “Diễn biến hòa bình” là một bộ phận
trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của các thế lực thù địch với những
phương thức hành động tổng lực, phức hợp, rộng lớn; được tiến hành trên mọi
lĩnh vực chính trị, kinh tế, tư tưởng, văn hóa, xã hội bằng mọi biện pháp. Âm
mưu thâm độc mới mà các thế lực thù địch đang tăng cường là sử dụng con đường
ngắn nhất để lôi kéo Việt Nam theo họ, dùng chính trị tác động đến thể chế xã
hội, dùng kinh tế để chi phối sự lãnh đạo của Đảng, dùng văn hóa phương Tây để
làm lu mờ bản sắc văn hóa và tinh thần dân tộc Việt Nam, dùng quần chúng để làm
tăng sự đối lập giữa quần chúng với Đảng, với chế độ.
Với ý đồ đó, các thế lực thù địch thực hiện một loạt các bước chống phá được
che đậy trong các hoạt động như ngoại giao thân thiện, chi phối đầu tư, viện
trợ kinh tế, cấp học bổng cho sinh viên, nghiên cứu sinh, trao các giải thưởng
cho các văn nghệ sĩ biến chất, tiếp cận và lôi kéo các phần tử thoái hóa để
lũng đoạn nội bộ ta. Chúng ráo riết chống phá bằng các chiêu trò vừa công khai,
vừa bí mật, kết hợp bên trong với bên ngoài ra sức tuyên truyền những quan điểm
phản động hòng làm thay đổi quan điểm, lập trường chính trị của một số phần tử
và phổ biến lan truyền nhân rộng đối tượng, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”,
“tự chuyển hóa” trong nội bộ, làm xói mòn và suy giảm niềm tin của nhân dân với
Đảng, làm suy yếu hệ thống chính trị của chúng ta.
Thời gian qua, các thế lực phản động gia tăng các hoạt động “diễn biến hòa
bình” trên các phương tiện thông tin đại chúng và Internet. Chúng duy trì sử
dụng 63 đài phát thanh có chương trình Việt ngữ, trên 400 báo, tạp chí, 88 nhà
xất bản tiếng Việt, hàng nghìn Website, blog. Trên các phương tiện đó, chúng
đăng tải hàng ngàn, thậm chí hàng vạn tin, bài xuyên tạc các chủ trương, đường
lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Chúng thúc đẩy hình thành các
hội, nhóm “xã hội dân sự” trong nước, hậu thuẫn cho những hoạt động tuyên
truyền phá hoại tư tưởng chống chế độ; ủng hộ, cổ vũ, tài trợ cho các tổ chức,
cá nhân có biểu hiện hoạt động chống đối trong nước, tạo điều kiện kết nối với
các mạng lưới phản động ngoài nước, tìm cách đưa người ra nước ngoài huấn luyện
và tung về nước hoạt động chống phá.
Cảnh báo nguy cơ xảy ra một cuộc khủng hoảng y tế mới
Ngày 23/6, Giám đốc điều hành Quỹ Toàn cầu phòng chống HIV/AIDS, lao và sốt rét Peter Sands cảnh báo cuộc khủng hoảng lương thực toàn cầu bắt nguồn từ cuộc xung đột ở Ukraine có thể sẽ làm hàng triệu người trên thế giới thiếu ăn khiến họ dễ mắc các bệnh truyền nhiễm, từ đó có thể gây ra một thảm họa y tế mới trên toàn cầu.
Theo ông
Sands, cuộc khủng hoảng lương thực sẽ khiến nhiều người thiệt mạng không những
bởi chết đói mà còn vì các bệnh truyền nhiễm do khả năng bảo vệ của cơ thể họ
trở nên yếu đi vì bị suy dinh dưỡng.
Phát biểu
bên lề Hội nghị bộ trưởng y tế Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi hàng
đầu thế giới (G20) diễn ra ở thành phố Yogyakarta (Indonesia), ông Sands nói:
"Tôi nghĩ, chúng ta có thể đã bắt đầu một cuộc khủng hoảng y tế tiếp theo
(sau đại dịch COVID-19). Đây không phải là nguồn bệnh mới, mà là những người bị
suy dinh dưỡng sẽ dễ bị lây nhiễm hơn trước những căn bệnh đang hoành hành hiện
nay".
Ông Sands
dự báo sẽ có thêm hàng triệu người tử vong do tác động kết hợp của các bệnh
truyễn nhiễm, tình trạng thiếu lương thực và khủng hoảng năng lượng...
Theo ông,
chính phủ các nước trên thế giới cần giảm thiểu tác động của cuộc khủng hoảng
lương thực bằng cách cử các nhân viên y tế tuyến đầu tới các cộng đồng nghèo
nhất bởi đây là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương nhất. Ông nói: "Điều này
có nghĩa là tập trung vào chăm sóc sức khỏe cơ bản để y tế có thể tới được các
bản làng và cộng đồng".
Theo số
liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), cuộc chiến phòng chống dịch COVID-19 trên
thế giới đã lấy đi nguồn lực của cuộc chiến phòng chống lao - nguyên nhân khiến
1,5 triệu người tử vong trong năm 2020.
Ông Sands
nói: "Đây là một thảm họa đối với bệnh lao. Năm 2020, chúng ta chứng kiến
1,5 triệu người trên thế giới nhận không được điều trị đầy đủ đối với căn bệnh
này". Theo chuyên gia y tế này, chính phủ các nước cần khẩn cấp giải quyết
cuộc khủng hoảng lương thực, để từ đó hỗ trợ cho công tác phòng chống lao, căn
bệnh truyền nhiễm gây chết người lớn thứ hai trên thế giới.
Tự do, dân chủ, nhân quyền dưới góc nhìn bình đẳng giới ở Việt Nam
Tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người là quan điểm nhất quán, xuyên suốt mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu trong bảo đảm quyền con người như:
Vai trò của phụ nữ Việt Nam đã được thể hiện
rõ nét từ Quốc hội khóa I, chỉ với 10 đại biểu nữ (chiếm 3%) các nữ đại biểu đã
thể hiện xuất sắc vai trò của mình. Trong phiên họp đầu tiên của Quốc hội khóa
I, bà Lê Thị Xuyến đã được bầu làm Ủy viên Thường trực Quốc hội. Đến năm 1950,
tại Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ nhất, bà được bầu làm Hội trưởng. Trong
những năm tháng kháng chiến chống Pháp, bà Lê Thị Xuyến đã đảm nhiệm cùng lúc
cả hai vị trí: Ủy viên Thường trực Quốc hội và Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ
Việt Nam. Bà Nguyễn Thị Thập là một trong mười nữ đại biểu đầu tiên của Quốc
hội Việt Nam. Trong 18 năm bà là Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, đồng
thời bà được bầu làm Phó Chủ tịch Quốc hội và giữ cương vị này liên tục trong
21 năm, từ khóa III đến khóa VI (1960-1981).
Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV để lại dấu ấn đặc
biệt trong lịch sử Quốc hội Việt Nam vì đây là lần đầu tiên chúng ta có một nữ
Chủ tịch Quốc hội là bà Nguyễn Thị Kim Ngân, đồng thời có một Phó Chủ tịch
Thường trực Quốc hội là bà Tòng Thị Phóng.
Quốc hội Việt Nam khóa XV được bầu ra ngày
23/5/2021 có 499 đại biểu, trong đó có 151 đại biểu nữ, chiếm 30,26%. Đây là
lần thứ hai số nữ đại biểu Quốc hội của nước ta đạt trên 30% (lần đầu tiên là
Quốc hội khoá V, đạt 32,31%). Số đại biểu nữ tham gia Quốc hội ngày càng nhiều
và đảm nhiệm những vị trí quan trọng trong Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội.
Tỉ lệ nữ ủy viên thường vụ và chủ nhiệm các ủy ban của Quốc hội trong 3 khóa
gần đây tăng lên. Số đại biểu nữ giữ các vị trí lãnh đạo trong Quốc hội kỳ này
chiếm gần 40%. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản
Việt Nam, trong số ủy viên Trung ương Đảng chính thức được bầu có 18 đại biểu
nữ (chưa tính 1 ủy viên dự khuyết), tăng 1 đại biểu so với nhiệm kỳ khóa XII.
Vai trò của phụ nữ Việt Nam trong các cấp
chính quyền với số nữ đại biểu HĐND cấp tỉnh đạt 26,5% (tăng 1,37% so với nhiệm
kỳ trước); cấp huyện đạt 27,9% (tăng 3,2% so với nhiệm kỳ trước). Trong 63 Bí
thư tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương nhiệm kỳ 2020-2025 có 9 người là nữ
tại các tỉnh: Lạng Sơn, Lai Châu, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hà Nam,
Ninh Bình, Quảng Ngãi và An Giang. Đây là số lượng nữ Bí thư tỉnh ủy nhiều nhất
từ trước đến nay.
Theo thống kê của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt
Nam, trong nhiệm kỳ này, ở cấp cơ sở, số nữ tham gia cấp ủy đạt 21%, tăng 2%;
cấp trên cơ sở đạt 17%, tăng 2%. Đối với các đảng bộ trực thuộc Trung ương, tỷ
lệ nữ đạt 16%, tăng 3% so với nhiệm kỳ trước.
Với những chủ trương, đường lối đúng đắn phù
hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước, nên trong lĩnh vực bình đẳng
giới nói chung và bình đẳng giới trong tham gia lãnh đạo quản lý nói riêng đã
đạt được nhiều thành tựu được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Việt Nam đứng ở vị
trí thứ 51 trên thế giới, thứ 4 ở châu Á và đứng đầu trong Hội đồng Liên minh
nghị viện Hiệp hội Các nước Đông Nam Á về tỉ lệ nữ đại biểu Quốc hội. Chỉ số
bình đẳng giới không ngừng được cải thiện. Năm 2020, Việt Nam xếp vị trí 87
trên tổng số 153 quốc gia được khảo sát trên thế giới về thu hẹp khoảng cách
giới. Với những nỗ lực không ngừng nghỉ trong suốt nhiều năm qua, Việt Nam đã
đạt được nhiều thành tựu trong công tác bình đẳng giới, được thế giới công nhận
là một trong 10 quốc gia thực hiện tốt nhất mục tiêu số 5 về thúc đẩy bình đẳng
giới và trao quyền cho tất cả phụ nữ và trẻ em gái trong các mục tiêu phát
triển bền vững của Liên hợp quốc. Những thành tựu đạt được cũng trở thành tiền
đề, thành động lực mạnh mẽ để Việt Nam tiếp tục thực hiện các mục tiêu về bình
đẳng giới, góp phần đạt được các Mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030.
Với những thống kê trên, một lần nữa khẳng
định những thành tựu mà Việt Nam đã và đang nỗ lực đạt được trong việc đảm bảo
quyền tự do, dân chủ, nhân quyền nói chung và thúc đẩy bình đẳng giới nói
riêng. Thực tiễn đó bác bỏ những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch
và các cá nhân, tổ chức chống đối trong và ngoài nước.
CHỦ ĐỘNG TRONG ĐẤU TRANH TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG LÀ TRÁCH NHIỆM CỦA MỌI CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN VÀ NGƯỜI DÂN!
CÁN BỘ CÓ CHỨC, QUYỀN VÀ Ý THỨC TỰ GIÁO DỤC LIÊM CHÍNH, RÈN LUYỆN BẢN LĨNH VỮNG VÀNG
Kết quả công tác kiểm tra, giám sát, thi hành
kỷ luật đảng thời gian qua đã chỉ ra tình trạng cán bộ, đảng viên suy thoái tư
tưởng chính trị, đạo đức, lối sống không còn mơ hồ, chung chung mà hiện hữu ở
nhiều lĩnh vực, cấp, ngành, địa phương, đơn vị, với mức độ ngày càng nghiêm
trọng, cần được loại bỏ triệt để.
Nhìn từ những sai phạm
của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên liên quan các vụ án xảy ra tại Công ty cổ
phần Công nghệ Việt Á; Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao; các kết luận gần đây của Ủy
ban Kiểm tra Trung ương kiểm tra dấu hiệu vi phạm đối với Ban Cán sự đảng Ủy
ban nhân dân thành phố Cần Thơ nhiệm kỳ 2016-2021; Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ đội
Biên phòng tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu các nhiệm kỳ 2015-2020, 2020-2025; Ban Thường
vụ Đảng ủy Bộ đội Biên phòng tỉnh Trà Vinh các nhiệm kỳ 2015-2020, 2020-2025…
cho thấy một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, sa vào chủ
nghĩa cá nhân, không giữ được liêm chính trước cạm bẫy lợi quyền. Nghiêm trọng
hơn khi những người được giao quyền hạn, trách nhiệm đã lợi dụng tình trạng
khẩn cấp trong phòng, chống dịch bệnh, bất chấp kỷ cương, phép nước, đạo đức xã
hội để thực hiện hành vi vơ vét, trục lợi cá nhân. Qua các vụ án, vụ việc liên quan
tham nhũng, tiêu cực vừa qua cho thấy, số lượng tổ chức đảng và đảng viên bị kỷ
luật đảng, kỷ luật hành chính và truy cứu trách nhiệm pháp lý ở mức đáng lo
ngại, với tính chất, mức độ, phạm vi, hậu quả rất nghiêm trọng. Phần lớn cán
bộ, đảng viên vi phạm bị kỷ luật đều là những người có chức, có quyền, nắm giữ
những vị trí trọng trách, người đứng đầu cấp ủy, đơn vị ở nhiều cấp, ngành, địa
phương. Trước mỗi quyết định kỷ luật, câu hỏi thường được đặt ra là vì đâu nên
nỗi, khi rất nhiều trong số đó là những cán bộ, đảng viên được đào tạo bài bản,
có trình độ học vấn, trình độ lý luận chính trị cao, có quá trình trưởng thành
từ thực tiễn. Trên cương vị của mình, hơn ai hết họ phải là người hiểu rõ về
các quy định, quy chế làm việc, thẩm quyền, mối quan hệ trách nhiệm cá nhân-tập
thể, quy trình xử lý công việc… Nhưng tất cả đã bị bỏ qua chỉ vì danh lợi trước
mắt, vì lợi ích cá nhân đã đặt lên trên hết, cao hơn cả tự trọng của chính
mình. Trong các quyết định gần đây của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị,
Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương về thi hành kỷ luật tổ chức đảng, đảng
viên vi phạm, đã chỉ ra cái gốc của vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng, làm thất
thoát lớn ngân sách nhà nước, ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng, Nhà nước, suy
giảm niềm tin trong nhân dân, chính là bắt nguồn từ sự suy thoái về tư tưởng,
chính trị, đạo đức, lối sống. Điều này khẳng định, suy thoái là nguyên nhân của
mọi nguyên nhân, là căn nguyên vi phạm kỷ luật Đảng và pháp luật Nhà nước. Tình
trạng suy thoái như Trung ương đã cảnh báo, chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất
ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế
lực xấu, thù địch, cơ hội, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của
Đảng và dân tộc. Trong các nguyên nhân dẫn đến suy thoái, Trung ương đã nhận
định, có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó nguyên nhân chủ quan
là chủ yếu, bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân, từ việc bản thân cán bộ, đảng viên
thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng; sa vào chủ
nghĩa cá nhân, quên mất trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước dân. Không thể
ngụy biện, suy diễn bi quan mà đổ lỗi cho cơ chế, bởi không có cơ chế, chế tài
nào có thể kiểm soát hết được diễn biến nội tại trong mỗi con người, cũng không
thể cưỡng chế lòng tham khi họ cố tình vi phạm.
Các quyết định kỷ luật
nghiêm khắc tổ chức đảng, đảng viên vi phạm thời gian qua thể hiện sự nghiêm
minh, nhất quán trong chỉ đạo và hành động của Đảng, thống nhất giữa nói và
làm, cấp trên làm gương cho cấp dưới. Đây là những bản án nghiêm khắc, đúng
người, đúng tội được dư luận đánh giá cao về tính công khai, minh bạch, khẩn
trương trong kiểm tra, điều tra, xử lý. Đó tiếp tục là bài học đắt giá trong
công tác xây dựng Đảng nói chung, đối với mỗi tổ chức đảng nói riêng; là bài
học cảnh tỉnh cho mỗi đảng viên, nhất là những cán bộ lãnh đạo, quản lý về tự
soi, tự sửa, tự tu dưỡng, rèn luyện chính mình. Đấu tranh với sai phạm làm
trong sạch nội bộ, củng cố đoàn kết trong Đảng để hướng tới mục tiêu cuối cùng
là xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh, đội ngũ
cán bộ, đảng viên đủ tâm, đủ tầm. Điều đó đòi hỏi hành động của mỗi cấp ủy, cán
bộ người có vị trí càng cao càng phải làm gương về tự giáo dục liêm chính, rèn
luyện bản lĩnh vững vàng, phải đặt lợi ích quốc gia, dân tộc, nhân dân và của
Đảng lên trên hết
CHIÊU BÀI “NHÂN QUYỂN” – MŨI TIẾN CÔNG THÂM ĐỘC CỦA CÁC THẾ LỰC CHỐNG PHÁ
Quyền con người là những quyền tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Tại Việt Nam, từ khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến nay, cả hệ thống chính trị Việt Nam đã luôn nỗ lực để bảo đảm quyền con người ở mức cao nhất có thể. Thế nhưng, có những đối tượng, tổ chức, ngày đêm chống phá, xuyên tạc, bôi nhọ đất nước ta về mọi mặt, trong đó có vấn đề nhân quyền. Việt Nam là đất nước đa dân tộc, đa văn hóa với 54 dân tộc anh em. Các dân tộc không phân biệt đa số hay thiểu số, trình độ phát triển cao hay thấp đều ngang nhau về quyền lợi và nghĩa vụ và được bảo đảm bằng Hiến pháp và pháp luật. Thực tế đã cho thấy rõ điều ấy. Thế nhưng, chính tính đa dân tộc đã được các đối tượng phản động tìm mọi cách khoét sâu, gây chia rẽ, điển hình là những thông tin sai lệch, bịa đặt, vu cáo rằng Đảng, Nhà nước Việt Nam vi phạm quyền của đồng bào dân tộc thiểu số. Những luận điệu vẫn xuất hiện từ nhiều thập kỷ qua như: Vu cáo Đảng và Nhà nước Việt Nam “Đàn áp tàn bạo”, tước đoạt quyền làm người của đồng bào; Bỏ qua những khó khăn khách quan để thổi phồng khoảng cách giàu nghèo. Xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đây là mục tiêu cả mà dân tộc Việt Nam hướng tới khi kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Những con đường kết nối khu vực miền núi, những công trình nước sạch vùng cao, những ngôi trường nội trú dành riêng cho con em đồng bào… minh chứng cho quan điểm “một xã hội phát triển thực sự vì con người”, để không bỏ ai lại phía sau.. chứ không vì phục vụ lợi ích kinh tế. Theo nghiên cứu của các chuyên gia về vấn đề nhân quyền, có một số thủ đoạn chính mà các thế lực thù địch thường sử dụng để chống phá chế độ về các vấn đề liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số. Đó là lợi dụng sự khó khăn khách quan của đồng bào dân tộc; lợi dụng một số phong tục, tập quán còn lạc hậu của bà con; trích dẫn các báo cáo không có căn cứ của các tổ chức quốc tế về tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Nguy hiểm nhất, là họ đồng nhất khái niệm quyền dân tộc tự quyết là quyền của quốc gia, dân tộc với quyền của các dân tộc thiểu số để kích động, lôi kéo bà con đòi thành lập nhà nước riêng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tháng trước, tài khoản Youtube của tổ chức phản động lưu vong Việt Tân lan truyền clip rêu rao rằng chính quyền sách nhiễu một thánh lễ ở Vụ Bản, Hòa Bình. Không ít tài khoản Facebook hùa theo đơm đặt là chính quyền bố trí cả công an để trấn áp. Với những lời lẽ kích động, họ thổi phồng rằng cấp ủy, chính quyền xâm phạm tự do tôn giáo. Là người có mặt tại buổi mục vụ hôm 20/2, bà Đào Thị Vụ cho biết thực chất chỉ có Bí thư và Phó Chủ tịch thị trấn với tư cách là Ban Chỉ đạo phòng chống dịch ở địa phương đến đề nghị nhà thờ thực hiện đúng các qui định để đảo bảo an toàn cho người dân. Sự thật đã bị bóp méo với ý đồ xấu. Ở Việt Nam quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của các công dân; các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Tôn trọng và bảo đảm hoạt động của các tôn giáo nhưng cũng giống như nhiều quốc gia khác, Việt Nam không chấp nhận việc lợi dụng vấn đề này để xuyên tạc, kích động li khai, chia rẽ các dân tộc, tôn giáo, gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến an ninh quốc gia. Cùng với tấn công vào quyền của các dân tộc thiểu số, các đối tượng thù địch cũng đưa ra các luận điệu xuyên tạc việc thực hiện quyền trẻ em tại Việt Nam. Trẻ em không chỉ là lực lượng đông đảo của hiện tại, mà còn là nguồn nhân lực và là chủ nhân tương lai của đất nước. Lợi dụng quyền trẻ em thì dễ tạo nên những phản ứng, bức xúc trong xã hội. Xỉa xói Việt Nam là thế, nhưng các cá nhân, tổ chức này lại lờ đi những thực tế khác, cho thấy một tiêu chuẩn kép. Như là cứ 5 trẻ ở châu Âu thì có 1 em là nạn nhân của một hình thức xâm hại tình dục; hay tại một quốc gia nơi sở hữu súng là hợp pháp, năm 2020, có trên 5.100 trẻ em và thiếu niên dưới 17 tuổi bị giết hoặc bị thương. Hãy thừa nhận rằng, mảng tối, khiếm khuyết luôn tồn tại, kể cả trong những thể chế được cho là thượng tôn pháp luật nhất, dân chủ nhất. Do đó, nếu đánh giá, hãy toàn diện, khách quan, chứ xuyên tạc, dẫn dắt dư luận với ý đồ đen tối thì sớm muộn gì cũng bị lôi ra ánh sáng. Tấn công quyền trẻ em còn chưa đủ, các lực lượng chống đối còn nhẫn tâm đưa cả người khuyết tật ra che chắn cho luận điệu chống phá mình. Trở lại với thời điểm dịch COVID-19 còn diễn biến phức tạp, tại thành phố Hồ Chí Minh xảy ra một vụ tự thiêu. Ngay lập tức các đối tượng thù địch lu loa rằng “Chống dịch hay chống dân” và đây là vụ việc người dân tự thiêu để phản đối cách thức chống dịch của chính quyền. Thực tế thì đây là trường hợp người tự thiêu do bệnh lý thần kinh, không kiểm soát được hành vi. Và còn rất nhiều những ví dụ khác cho thấy, tại Việt Nam, dù khó khăn còn nhiều, nhưng bảo đảm quyền cho người khuyết tật luôn được nỗ lực thực hiện. Bởi tại Việt Nam, có câu nói: Không để ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển.
Bất chấp những thành tựu
Việt Nam đạt được, lá bài “nhân quyền” vẫn được các đối tượng sử dụng để xuyên
tạc mọi mặt của đời sống như Việt Nam không bảo vệ quyền trẻ em, vi phạm quyền
của đồng bào dân tộc thiểu số, quyền của người khuyết tật. Vẫn chưa đủ, khi Nhà
nước Việt Nam phòng chống dịch COVID-19, bảo vệ sức khỏe, tính mạng người dân,
họ cáo buộc vi phạm nhân quyền. Chấm dứt hoạt động của các tà giáo, tổ chức tôn
giáo bất hợp pháp… vi phạm nhân quyền. Rồi xét xử những kẻ vi phạm pháp luật
Việt Nam, cũng vi phạm nhân quyền nốt. Những luận điệu lợi dụng nhân quyền lặp
đi lặp lại nhiều đến mức lố bịch. Thế nhưng tại sao chiêu bài nhân quyền lại
được dùng nhiều đến như vậy? Câu trả lời rất đơn giản, đây là một trong những
mũi tấn công nguy hiểm nhất. Một thủ đoạn đáng lưu ý là việc trao giải thưởng
và danh hiệu cho các đối tượng trong nước. Một số ví dụ, đó là những giải
thưởng nhân quyền, hay giải thưởng tự do báo chí. Nhưng sự thực, đứng sau giải
thưởng này là một số tổ chức dưới danh nghĩa nhân quyền, tự tạo nên các giải
thưởng mà tiêu chí là thành tích chống phá càng dày thì càng có khả năng được
trao giải. Kết quả, là hầu hết những người được đề cử và trao giải, đến từ
nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ, lại chính là những đối tượng có hoạt động chống
lại lợi ích quốc gia và dân tộc ở quốc gia của họ. Cùng với cổ súy cho những kẻ
vi phạm pháp luật, những tổ chức nhân quyền thiếu thiện chí liên tục vu cáo,
bôi nhọ Đảng, Nhà nước Việt Nam trên lĩnh vực nhân quyền. Như Báo cáo mới nhất
của Tổ chức theo dõi nhân quyền liệt kê hàng loạt vi phạm về quyền con người như
tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, quyền của phụ nữ và trẻ em. Tổ chức Ngôi nhà
tự do thì hoang tưởng với luận điệu “Việt Nam không có tự do internet”. Tổ chức
phóng viên không biên giới thì nhai lại điệp khúc cũ mèm: “Việt Nam chẳng quan
tâm gì đến tự do báo chí”. Nhưng nếu tình hình nhân quyền tại Việt Nam tệ đến
thế, thì tại sao vào năm 2013, 184/193 nước bỏ phiếu bầu Việt Nam vào Hội đồng
Nhân quyền Liên hợp quốc cho nhiệm kỳ 2014 – 2016. Lý do gì Liên hợp quốc đánh
giá cao và ủng hộ những nỗ lực, sáng kiến của Việt Nam trong bảo vệ và thúc đẩy
quyền con người. Đánh giá về nhân quyền của Việt Nam, cần có sự khách quan,
trung thực, chứ những tổ chức đội lốt “nhân quyền”, có cái nhìn thù hằn, thiếu
thiện chí thì làm gì đủ tư cách. Chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là
bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Trên cơ sở này, Việt Nam đã nghiêm túc
triển khai các nghĩa vụ và cam kết quốc tế trong lĩnh vực quyền con người, cũng
như ưu tiên dành nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống,
đảm bảo các quyền dân sự chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của mọi đối tượng
trong xã hội. Cũng như các nước trên thế giới, pháp luật Việt Nam cũng có những
quy định cấm các tổ chức, cá nhân phá hoại độc lập và đoàn kết dân tộc. Bất kỳ
hành vi nào lợi dụng quyền tự do của bản thân để xâm phạm lợi ích Nhà nước, lợi
ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân đều chịu xử lý của pháp luật và trật tự.
Pháp luật được thượng tôn thì kỷ cương của đất nước được giữ vững, tạo cơ sở
cho sự phát triển ổn định của đất nước, và cũng là tiền đề thúc đẩy, bảo đảm và
phát huy các giá trị về quyền con người. Mỗi đất nước có quyền lựa chọn con
đường riêng của mình, tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của các quốc gia đó. Không
thể chấp nhận được việc áp đặt, xuyên tạc, vu cáo dân chủ, nhân quyền của quốc
gia khác vì đó là xâm phạm vào công việc nội bộ của một quốc gia. Cũng như vậy,
việc ủng hộ, dung túng, cổ vũ những hành vi chống đối dựa vào tấm áo khoác nhân
quyền là điều cần phải lên án và loại bỏ.





