Chủ Nhật, 3 tháng 7, 2022

KHÔNG CÓ CHUYỆN 20 NĂM "NỘI CHIẾN" Ở VIỆT NAM

 

          Những ngày qua, trên mạng xã hội người dùng xôn xao và phản ứng trước vụ việc nữ ca sĩ Khánh Ly hát ca khúc "Gia tài của mẹ" và điều đáng lưu ý là ca khúc này không nằm trong danh mục 24 bài đăng ký biểu diễn được cơ quan chức năng duyệt trước đó. Phản ứng gay gắt của người dùng mạng xã hội cũng là một lẽ đương nhiên, không có gì lạ. Bởi lẽ, những ca từ trong ca khúc là mang tính chất bịa đặt, xuyên tạc, đánh tráo khái niệm nhằm che đi tội ác của quân xâm lược.

          Trong ca khúc có câu "hai mươi năm nội chiến từng ngày". Rõ ràng đây thật sự là một khái niệm bị đánh tráo, bởi một lẽ đây là cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc của Nhân dân Việt Nam đánh đuổi kẻ thù xâm lược chứ không phải là cuộc nội chiến. Thời điểm năm 1968, trên chiến trường Việt Nam có 541.933 quân Hoa-Kỳ, 7.379 quân Úc, 31 quân Trung-Hoa, 50.355 quân Đại-Hàn, 523 quân Tân-Tây-Lan, 1.825 quân Phi, 12 quân Tây-Ban-Nha, 2.423 quân Thái-Lan, tổng cộng có 604.481 quân của nước ngoài tham chiến. Trong khi đó, lực lượng Quân giải phóng miền Nam thời điểm năm 1968 chỉ có khoảng 130.000 người.

          Với số lượng có 604.481 quân ngoại bang (cả quân xâm lược, cả lính đánh thuê) đối đầu với 130.000 Quân giải phóng miền Nam Việt Nam thì không thể gọi là cuộc "nội chiến" được.

          Lịch sử dân tộc Việt Nam gắn liền với lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Đó là một sự thật không thể chối cải được. Chính vì thế, cái gọi là "NỘI CHIẾN" rõ ràng là một sự đánh tráo khái niệm nhằm che dấu tội ác của quân xâm lược.

          Lịch sử và những con số đã chứng minh rõ cuộc khánh chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta là cuộc chiến chính nghĩa nhằm đánh đuổi đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai bán nước. Dân tộc ta bằng chính ý chí, tinh thần yêu nước của hàng triệu con người Việt Nam đã làm lên đại thắng mùa xuân năm 1975. Có biết bao mồ hôi, xương máu và nước mắt của người dân Việt Nam đã đổ xuống vì nền hòa bình, độc lập của dân tộc. Chính vì thế các bạn trẻ nên học lịch sử để hiểu rõ và biết trân trọng nền hòa bình dân tộc ngày nay, kẻo không sẽ dễ sa vào "cái bẫy" của bọn phản động cho rằng đất nước ta trải qua 20 năm của "cuộc nội chiến", "nồi da xáo thịt", "huynh đệ tương tàn" ...

                                                                                                           Đa22.

“TỰ DO NGÔN LUẬN” HAY “NGÔN LUẬN TỰ DO” ĐỂ XUYÊN TẠC, KÍCH ĐỘNG CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VÀ NHÂN DÂN

Kể từ khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi, chính quyền về tay nhân dân, người dân Việt Nam mới biết đến các quyền cơ bản của mình, trong đó có quyền tự do ngôn luận. Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, việc bày tỏ tự do ngôn luận càng được chú trọng, bảo đảm hơn. Tuy nhiên, thông tin trên không gian mạng thật - giả, tốt - xấu khó lường, các thế lực thù địch, phản động luôn tìm mọi cách lợi dụng tự do ngôn luận để phát ngôn tùy tiện, vô lối, nhằm lôi kéo ... “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và biểu đạt; bao gồm tự do giữ ý kiến mà không bị can thiệp, cũng như tự do tìm kiếm, thu nhận và truyền bá thông tin và tư tưởng bằng bất cứ phương tiện truyền thông nào và không giới hạn về biên giới”(1). Đó là nội dung chính của Điều 19, Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (Tuyên ngôn thế giới về quyền con người), được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua và công bố theo Nghị quyết 271A (III), ngày 10-12-1948. Hơn 70 năm tồn tại, Tuyên ngôn vẫn còn nguyên giá trị, được đánh giá là bản tuyên ngôn có ý nghĩa nhân văn cao cả, đã, đang và sẽ còn là mục tiêu phấn đấu của toàn thể nhân loại. Với mỗi quốc gia, dân tộc, việc kế thừa, phát triển, vận dụng, tuân thủ các giá trị của Tuyên ngôn có sự khác nhau nhất định, do chi phối bởi đặc thù về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa,... Nhưng có một điểm chung bắt buộc là, các quyền tự do ấy, phải trong khuôn khổ pháp luật, như chính Điều 29 và 30 của Tuyên ngôn quy định. Các Mác và Ph. Ăng-ghen, trên quan điểm duy vật biện chứng, bằng sự khảo sát khách quan nhân quyền tư sản với tinh thần phê phán, đã đi đến khẳng định: “Quyền không bao giờ có thể ở mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hóa do chế độ kinh tế đó quyết định”(2); tương ứng với những thời đại khác nhau và những cơ sở kinh tế - xã hội khác nhau thì có quyền khác nhau. Theo đó, quan niệm về tự do ngôn luận không bất biến, mà biến đổi trong lịch sử. Ở Việt Nam, với tầm nhìn vượt thời đại, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sớm định hình tư tưởng về tự do ngôn luận. Trong Lời phát biểu tại Đại hội toàn quốc lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp, năm 1921, Người đã tố cáo thực dân Pháp bóp nghẹt quyền tự do ngôn luận đối với nhân dân An Nam: “Chúng tôi không có quyền tự do báo chí và tự do ngôn luận, ngay cả quyền tự do hội họp và lập hội cũng không có. Chúng tôi không có quyền cư trú và du lịch ra nước ngoài; chúng tôi phải sống trong cảnh ngu dốt tối tăm vì chúng tôi không có quyền tự do học tập. Ở Đông Dương, bọn thực dân tìm mọi cách để đầu độc chúng tôi bằng thuốc phiện và làm cho chúng tôi đần độn bằng rượu. Người ta đã làm chết hàng nghìn người An Nam và tàn sát hàng nghìn người khác để bảo vệ những lợi ích không phải của chính họ”(3). Vì vậy, trong Yêu sách của nhân dân An Nam, Nguyễn Ái Quốc kêu gọi các Chính phủ trong khối Đồng minh nói chung và Chính phủ Pháp nói riêng thừa nhận các quyền cơ bản của nhân dân An Nam, trong đó có quyền tự do ngôn luận: “Trong khi chờ cho nguyên tắc dân tộc sẽ từ lĩnh vực lý tưởng chuyển vào lĩnh vực hiện thực do chỗ quyền tự quyết thiêng liêng của các dân tộc được thừa nhận thật sự, nhân dân nước An Nam trước kia, nay là xứ Đông - Pháp, xin trình với các quý Chính phủ trong Đồng minh nói chung và với Chính phủ Pháp đáng kính nói riêng, những yêu sách khiêm tốn sau đây: ... 3. Tự do báo chí và tự do ngôn luận”(4). Nhất quán yêu sách đó, lãnh tụ Hồ Chí Minh trong Chương trình Việt Minh, chủ trương: “Chính phủ nhân dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do Quốc dân đại hội cử lên sẽ thi hành những chính sách sau này: ...2. Ban bố các quyền tự do dân chủ cho nhân dân: Tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại trong nước, tự do xuất dương. Bỏ chế độ bắt phu và các chế độ áp bức do đế quốc đặt ra”(5). Hiện thực hóa tư tưởng về tự do ngôn luận, chỉ hơn 1 năm sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, ngày 9-11-1946, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp gồm 7 chương, 70 điều, kế thừa những tinh hoa văn hóa dân tộc và tư tưởng hiến chính của nhân loại, phù hợp với thực tiễn đất nước; trong đó, quyền tự do ngôn luận được hiến định ở Điều thứ 10: “Công dân Việt Nam có quyền: Tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”. Thực thi Hiến pháp đầu tiên của nước ta nói chung và thực hiện quyền tự do ngôn luận nói riêng, chỉ 3 năm sau, trong bài Trả lời điện phỏng vấn của ông Walter Briggs, tháng 3-1949 đăng trên Báo Cứu quốc, số 1198, ngày 23-3-1949, Hồ Chí Minh đã khẳng định thành tựu quyền tự do ngôn luận rất rõ ràng: “Hỏi: Ở Việt Nam có tự do ngôn luận không (ngoài những ngôn luận phản quốc và thân thực dân Pháp)? Trả lời: Có”. Tiếp tục khẳng định quyền tự do ngôn luận trong Báo cáo về dự thảo Hiến pháp sửa đổi tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đọc ngày 18-12-1959, Người tiếp tục khẳng định, quyền tự do ngôn luận là một trong những quyền cơ bản của công dân... Nét đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền tự do ngôn luận là quyền này phải đi đôi với nghĩa vụ và trách nhiệm cá nhân. Tự do ngôn luận, tự do tư tưởng là một giá trị cơ bản, quan trọng bậc nhất của quyền con người. Người giải thích: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người. Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm thấy chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân lý. Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý. Ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân - tức là phục tùng chân lý”(6). Quán triệt và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền tự do ngôn luận, trong thời kỳ đổi mới, phù hợp với các Hiến pháp năm 1992 và năm 2013, các văn kiện của Đảng, Nhà nước(7) đều khẳng định và hiện thực hóa quyền tự do ngôn luận của công dân. Có thể hiểu rằng, tự do ngôn luận là tự do phát biểu ý kiến của mình bàn bạc một công việc chung; là quyền của công dân được tham gia bàn bạc, thảo luận, đóng góp ý kiến vào những vấn đề chung của xã hội. Thực tế, Việt Nam luôn phải đối mặt với các phần tử và thế lực thù địch cả ở trong và ngoài nước, trên nhiều lĩnh vực, mặt trận khác nhau, trong đó có mặt trận tư tưởng, thông tin. Các thế lực phản động, thù địch luôn tìm mọi cách để xuyên tạc, bịa đặt, bóp méo, vu khống các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trên mọi lĩnh vực, phủ nhận các thành tựu đã đạt được, kể cả những thành tựu được bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, để phù hợp với thực tiễn, trong bối cảnh “thế giới phẳng”, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Việt Nam đã điều chỉnh, bổ sung, xây dựng nhiều đạo luật mới, đề cao, tôn trọng các quyền cơ bản, chính đáng của con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận. Điều 25 Hiến pháp năm 2013 quy định rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Hay như trong các luật được ban hành thời gian gần đây, như Luật Tiếp cận thông tin (năm 2013); Luật Báo chí (năm 2016); Luật An ninh mạng (năm 2018)..., quyền tự do ngôn luận luôn được tôn trọng và bảo đảm. Kể từ khi hòa mạng in-tơ-nét toàn cầu ngày 1-12-1997, Việt Nam liên tục thiết lập những kỷ lục mới, bảo đảm quyền tự do ngôn luận, báo chí, đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu tìm kiếm, trao đổi, thụ hưởng thông tin mọi lúc, mọi nơi, mọi mặt,... của người dân cả trên các phương tiện truyền thông đại chúng, cũng như truyền thông xã hội. Người dân Việt Nam có thể dễ dàng truy cập vào tất cả các trang web, báo chí trên thế giới; có thể bày tỏ mọi suy nghĩ, trăn trở, mong muốn chính đáng, hợp pháp, bảo đảm thuần phong mỹ tục, giá trị nhân văn, đạo đức,... của mình trên mạng xã hội hằng giờ, hằng ngày, thông qua việc viết bài, đăng ảnh, video clip. Mỗi người dân Việt Nam cũng đều có thể tiếp cận tin tức của các cơ quan thông tấn, báo chí lớn trên thế giới hay các trang cá nhân của mọi “công dân toàn cầu” mà không gặp phải bất cứ sự hạn chế, ngăn chặn, cấm đoán nào... Tuy nhiên, in-tơ-nét cũng bị các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lợi dụng chống phá, tạo những “trận địa giả”, những mũi tấn công đầy mưu đồ đen tối trên mặt trận tư tưởng, dưới chiêu bài “tự do ngôn luận”. Nhưng thực ra, đó không phải là một thứ “tự do ngôn luận” theo đúng ý nghĩa của từ này, không vì sự phát triển của xã hội mà là những lời lẽ, dòng chữ, hình ảnh, video clip chụp mũ, thêu dệt, xuyên tạc, áp đặt, chống phá đầy hằn học, hận thù, đen tối. Đó thực sự là thứ “ngôn luận tự do” bịa tạc, phóng tác, bôi nhọ, tô vẽ,... rẻ rúng, không có căn cứ, bất chấp luân thường, đạo lý và luật pháp. Đấu tranh phản bác luận điệu sai trái, thù địch núp dưới những chiêu bài hết sức tinh vi, thâm độc trên không gian mạng của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị_ Không thể chấp nhận những thứ “ngôn luận tự do” bất chấp cả luật pháp và đạo lý... trong xã hội văn minh. Có thể nhận diện, thống kê rất dễ dàng rằng, các phần tử thù địch, cơ hội chính trị luôn tìm mọi cách để tạo dựng những thứ gọi là “tự do ngôn luận” theo cách hiểu ấu trĩ, hạn hẹp, đầy hằn học với mưu đồ xấu xa. Chúng dã tâm, chủ đích lựa chọn, lợi dụng những vấn đề nhiều người dân quan tâm, dễ gây bức xúc, dễ lan truyền rộng rãi trong xã hội để tạo dựng những kịch bản đen tối, chống phá bằng các bài viết, hình ảnh, video clip,... liên quan đến các vụ khiếu kiện đất đai, ô nhiễm môi trường, phản đối trạm thu phí BOT (xây dựng - vận hành - chuyển giao) giao thông, tụ tập đông người núp dưới cái gọi là “hành động yêu nước”,... nhằm gây rối an ninh, trật tự, “bất tuân dân sự”, phá hoại các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước ta; kích động, kêu gọi bạo động, lật đổ... Lấy ví dụ cụ thể từ các vụ tụ tập phản đối tại các trạm thu phí BOT giao thông trong quý I-2019 tại nhiều địa phương trên cả nước. Trong các vụ này, rất nhiều người, trong đó có những người cầm đầu, cố tình liên tục “tường thuật trực tiếp”, thông qua tính năng livestream của mạng xã hội Facebook và xuyên tạc, nói xấu về hình thức đầu tư BOT, thậm chí cả về những quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước... Điều này gây ra sự phản ứng lan truyền mạnh mẽ trên cộng đồng mạng, khiến nhiều trạm thu phí BOT phải “xả trạm” trong nhiều giờ để bảo đảm giao thông được thông suốt, an ninh, trật tự xã hội không bị rối loạn. Hùa vào góp sức, một số báo mạng nước ngoài, những phần tử chống đối ở hải ngoại, cũng như trong nước dưới vỏ bọc mỹ miều là “chống BOT bẩn” liên tục đăng tải những thông tin xuyên tạc, lệch lạc, sai trái,... nhằm mục đích phá hoại. Khi những đối tượng vi phạm pháp luật bị bắt tạm giam, một số báo mạng điện tử nước ngoài thiếu thiện chí, nhất là những báo có phiên bản tiếng Việt và nhiều trang cá nhân trên mạng xã hội Facebook, YouTube,... đã chớp lấy để bình luận đầy hằn học, ác ý, cố tình hướng lái, lật ngược bản chất vấn đề, vu khống, kích động cộng đồng mạng phá hoại, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội, cản trở giao thông cũng như sự phát triển kinh tế - xã hội, đời sống của người dân...Nhìn rộng hơn, thử điểm lại một số vụ tụ tập đông người kích động, chống đối ở Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bình Thuận, Nghệ An, Hà Tĩnh,... trong những năm gần đây, nhất là liên quan đến sự cố môi trường biển ở bốn tỉnh miền Trung để kêu gọi tụ tập đông người, biểu tình, gây mất an ninh, trật tự, chống đối, phá hoại,... thì thấy càng rõ bộ mặt của tổ chức phản động Việt Tân và những mưu đồ đen tối của chúng. Chúng tuyển mộ, đào tạo, lợi dụng những người thiếu hiểu biết, cả tin, bất mãn, có những khúc mắc trong cuộc sống,... để làm thuê cho chúng, thông qua các việc, như tuyên truyền, lôi kéo, kích động các vụ tụ tập đông người và giăng khẩu hiệu phản đối, dùng loa các loại để gào thét vô lối, gây rối, đập phá trụ sở các cơ quan công quyền, nhà máy,... làm mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội... Tại các vụ, việc, nhiều phần tử cực đoan, chống đối, vi phạm pháp luật đã bị bắt để giáo dục, nhiều trường hợp bị khởi tố và tạm giam, bị kết án nghiêm minh, thích đáng...Nhân dịp này, những phần tử chống đối, phá hoại, các thế lực thù địch, vu khống, bịa đặt trắng trợn, rằng “Việt Nam đàn áp tự do ngôn luận”, “Bắt người nói xấu Đảng và tự do ngôn luận”, “Dân oan bị khước từ quyền tự do ngôn luận”, “Chuyện gì đang xảy ra với tự do ngôn luận ở Việt Nam”, “Việt Nam vẫn là quốc gia toàn trị, không có tự do ngôn luận”... Rõ ràng, chỉ thoạt nhìn vào tiêu đề các bài viết đó cũng thấy rõ sự bóp méo, xuyên tạc về quyền tự do ngôn luận tại Việt Nam - một quyền mà ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công đã được chế định trong Hiến pháp năm 1946 và được pháp luật cụ thể hóa kịp thời, phù hợp với tình hình phát triển của đất nước ta qua các thời kỳ, bắt nhịp với các bước tiến mang giá trị phổ quát của luật pháp quốc tế, đáp ứng yêu cầu chính đáng của đông đảo nhân dân...Để bảo đảm tự do cho người này mà không phương hại đến tự do người khác, tất yếu phải có quy định của pháp luật. Quốc hội đã thông qua Luật An ninh mạng, bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1-1-2019, nhưng các thế lực thù địch lại rêu rao rằng Luật này “chống lại loài người”, “triệt tiêu dân chủ”, “đàn áp bất đồng chính kiến”, “mất quyền tự do ngôn luận”. Chúng cố tình không hiểu rằng “tự do được thừa nhận về mặt pháp lý tồn tại trong nhà nước dưới hình thức luật pháp. Luật pháp không phải là những biện pháp đàn áp chống lại tự do... Ngược lại, luật pháp là những tiêu chuẩn khẳng định rõ ràng, phổ biến, trong đó tự do có một số sự tồn tại vô ngã, có tính chất lý luận, không phụ thuộc vào sự tùy tiện của cá nhân riêng lẻ. Bộ luật là kinh thánh của tự do của nhân dân”. Ngày 3-4-2019, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc ký Quyết định số 362/QĐ-TTg, Phê duyệt Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025. Đây là quyết định đã được chuẩn bị từ lâu, kỹ lưỡng, phù hợp với sự phát triển trong tình hình hiện nay. Quy hoạch báo chí là hết sức cần thiết, khi không ít cơ quan báo chí có những biểu hiện lệch lạc, xa rời tôn chỉ, mục đích, thương mại hóa, thông tin phiến diện, chỉ chú trọng những mặt trái, tiêu cực,... trong xã hội, thiếu tính giáo dục, thậm chí phản tác dụng, lan truyền những điều xấu. Việc tiến hành quy hoạch, sắp xếp lại hệ thống báo chí tại Việt Nam là để báo chí hoạt động chuyên nghiệp, lớn mạnh hơn, bắt kịp sự phát triển của báo chí thế giới... Thế nhưng, ngay lập tức, lại xuất hiện trên mạng xã hội, đặc biệt là các phiên bản tiếng Việt của một số cơ quan báo chí nước ngoài những thông tin hết sức quy chụp, thiếu căn cứ... Họ ra sức bịa đặt, vu khống rằng: “Quy hoạch báo chí đến năm 2025: Giảm số lượng, vẫn kiểm soát chặt” (RFA, ngày 3-4-2019), “Quy hoạch báo chí ‘theo kiểu coi báo chí là công cụ’?” (BBC, ngày 9-4-2019), “Quy hoạch báo chí “vi hiến”, sẽ “làm thất nghiệp” hàng nghìn nhà báo?” (VOA, ngày 9-4-2019)... Tương tự, các trang mạng xã hội của các cá nhân, tổ chức chống đối, gây rối, phản động, cũng hùa theo rằng, “Việt Nam không có nền báo chí độc lập”, “Quy hoạch báo chí gây tranh cãi”, “Quy hoạch báo chí - phóng viên mất việc, độc giả mất lựa chọn?”... Để phản bác, khẳng định những thứ “ngôn luận tự do” vô lối mà các phần tử, thế lực thù địch, phản động bóp méo, thổi phồng, lan truyền rộng rãi trên không gian mạng, không gì thuyết phục hơn là nêu ra những kết quả, thành tựu mà Việt Nam đã đạt được, được bàn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.Việt Nam đã từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật, về cơ bản đáp ứng được yêu cầu đặt ra cho việc thúc đẩy, bảo vệ và phát triển quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do ngôn luận. Vì lẽ đó, Việt Nam được bầu làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2008 - 2009), thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2014 - 2016), thành viên Hội đồng Kinh tế - Xã hội Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2016 - 2018), thành viên Hội đồng Chấp hành Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2015 - 2019). Theo kết quả bầu chọn tại khóa họp thứ 73 Đại hội đồng Liên hợp quốc công bố ngày 7-6-2019, Việt Nam nhận được 192/193 phiếu ủng hộ, vượt xa mốc tối thiểu 129/193, chính thức trúng cử vào ghế Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021. Đó là những bằng chứng thuyết phục nhất khẳng định ở Việt Nam có tự do ngôn luận, phản bác những kẻ rắp tâm phá hoại đất nước bằng thứ “ngôn luận tự do” đầy hằn học, xấu xa, thiếu căn cứ...Trong khi tình hình thế giới biến động phức tạp, khó lường về nhiều mặt thì sự phát triển kinh tế - xã hội, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Việt Nam vẫn luôn đạt mức tăng trưởng tốp đầu so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Đặc biệt, trong 9 tháng đầu năm 2019, GDP tăng 6,98% - mức tăng cao nhất trong vòng 9 năm qua. Lạm phát tiếp tục được kiểm soát ở mức thấp, bình quân 9 tháng tăng 2,5% - mức tăng thấp nhất trong 3 năm qua. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng 10,3%, đặc biệt khu vực ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng 45,3%, tăng 16,9%. Vốn FDI thực hiện cao nhất trong nhiều năm trở lại đây, ước đạt 14,2 tỷ USD, tăng 7,3%. Thu ngân sách nhà nước tăng cao (10,1%), bội chi còn 3,4% GDP, nợ công còn dưới 57% GDP... Đó là những số liệu minh chứng một cách thuyết phục về sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, cũng như môi trường đầu tư thuận lợi, an toàn, hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là sự xuất hiện ngày càng nhiều các tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới...Lâu nay, câu nói “một nửa cái bánh mì vẫn là bánh mì, nhưng một nửa sự thật thì không phải là sự thật” đã rất quen thuộc, được thừa nhận rộng rãi trên thế giới. Điều này không có gì phải bàn cãi. Và với báo chí - truyền thông, một trong những nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong hoạt động của mình là phản ánh sự thật khách quan, tôn trọng sự thật một cách tuyệt đối, toàn vẹn. Chính vì thế, việc những đối tượng, tổ chức phản động lợi dụng, nhân danh “một nửa sự thật” kiểu cắt xén để tô vẽ, thêm thắt, đắp bồi,... theo sự tưởng tượng, kịch bản mà chúng sắp đặt sẵn, cố tình tạo ra thì rõ ràng đó là sự dối trá, bịp bợm, cố tình xuyên tạc nhằm mục đích chống phá xấu xa.Trên tinh thần xây dựng đất nước, rõ ràng, mỗi người Việt Nam đều có quyền bày tỏ lòng yêu nước của mình, góp ý, phản biện những chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước... Thế nhưng, việc phát ngôn tự do, vô lối, xuyên tạc, kích động gây rối, đập phá tài sản, vi phạm pháp luật là những hành động đáng lên án, cần phải ngăn chặn kịp thời, xử lý nghiêm minh. Bởi con người biết tuân theo pháp luật mới là con người nhận thức được đầy đủ về tự do. Kiểm soát được hành vi của mình một cách có ý thức thì con người mới thật sự có tự do. Tự do là quyền của con người nhưng đó không phải là tự do vô lối, tùy tiện, vô chính phủ, mà nó chỉ được bảo đảm khi con người nhận thức đúng đắn quy luật khách quan và hành động phù hợp pháp luật - giao kèo, thỏa ước về tự do của tập thể, của cộng đồng, của xã hội.Phải thừa nhận rằng, ở bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới cũng luôn tồn tại những hạn chế, yếu kém nhất định, bên cạnh sự tiến bộ, phát triển, do chế định của điều kiện cụ thể. Vấn đề là mỗi quốc gia sẽ có sự nhìn nhận, khắc phục những mặt hạn chế đó một cách kịp thời, thấu đáo, toàn diện, quyết liệt,... để luôn tạo ra môi trường tốt đẹp cho sự phát triển, tiến bộ, vững bền, tránh bị xuyên tạc, bóp méo, lợi dụng nhằm công kích, phá hoại... Tại Việt Nam, qua những sự việc gần đây có thể thấy rằng, người dân cũng cần phải được vận động, tuyên truyền nâng cao nhận thức về tự do một cách đúng đắn, xác định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ công dân, biết phân biệt đúng - sai, tốt - xấu, xây dựng - phá hoại,... để từ đó tự trang bị, bảo vệ mình trước những kẻ lợi dụng lòng yêu nước, lợi dụng bức xúc của nhân dân để kích động chống phá. Phải làm cho người dân thấy rõ rằng, tự do không có nghĩa là tùy tiện, vô lối, muốn làm gì thì làm. Tự do ngôn luận đích thực phản ánh năng lực nhận thức và khả năng tự chủ bản thân cả về mặt phát ngôn và hành động. Suy cho cùng, hành động đúng đắn mới là thước đo chính xác về giá trị đích thực của tự do ngôn luận. Không thể nói “tự do nguôn luận” mà hành động lại phá hoại tự do của người khác, tự do xã hội. Tự do chỉ mở rộng cùng nhịp bước với nâng cao hiểu biết của con người về các quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy của con người, phải vận động cùng chiều với quyền và lợi ích chính đáng của quốc gia - dân tộc, để từ đó làm chủ chính mình và hành động tự do. Tự do được hình thành, tồn tại trong mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, cá nhân và Nhà nước. Lòng yêu nước cần phải được thể hiện với thái độ đúng mực, bình tĩnh, kiềm chế, được kiểm soát,... để không tái diễn những hành vi quá khích, đập phá, hủy hoại tài sản của Nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nước, đi ngược lại những chủ trương, chính sách đúng đắn trong phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước ta.Một số giải pháp trước mắt...Trước những diễn biến mới trên mặt trận tư tưởng, ngày 22-10-2018, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Tiếp đó, ngày 25-3-2019, Ban Bí thư ban hành Kế hoạch số 14-KH/TW thực hiện Nghị quyết số 35. Theo Kế hoạch số 14, việc tổ chức thực hiện Nghị quyết số 35 cần gắn với việc tiếp tục quán triệt, tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định của Đảng có liên quan. Riêng vấn đề chống lại việc lợi dụng “tự do ngôn luận” để tùy ý “ngôn luận tự do” nhằm lôi kéo, kích động, gây bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, phản động, chúng tôi xin đề xuất một số giải pháp cơ bản như sau: Thứ nhất, sớm kiện toàn việc xây dựng lực lượng chuyên trách theo hướng tinh gọn, đủ mạnh theo tinh thần Nghị quyết số 35-NQ/TW. Đồng thời, phát huy cao nhất trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, trước hết là của người đứng đầu trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch... Lực lượng chuyên trách là những người chủ lực, tiên phong trong việc thực hiện nhất quán, đồng bộ, hiệu quả các mục tiêu, quan điểm cũng như các nhiệm vụ, giải pháp đã được nêu rõ trong Nghị quyết số 35-NQ/TW, với kế hoạch trước mắt, lâu dài, cùng lộ trình ngắn hạn, trung hạn, dài hạn và những trường hợp đột xuất phù hợp với tình hình thực tiễn một cách linh động, khoa học, sát hợp.Việc hình thành lực lượng chuyên trách, tinh nhuệ trên mọi lĩnh vực, để có thể kịp thời phát hiện, bóc trần những âm mưu, thủ đoạn mà thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cố tình gây ra và đấu tranh chống lại những âm mưu đen tối bằng nhiều phương thức khác nhau, trên cả các phương tiện truyền thông đại chúng, cũng như trên không gian mạng, giúp đông đảo người dân hiểu rõ bản chất của thông tin, miễn nhiễm với thứ “ngôn luận tự do” vô lối, trái pháp luật và nhận ra, hiểu rõ dã tâm của những phần tử quá khích, kích động, chống phá... Thứ hai, các cơ quan, đơn vị được giao nhiệm vụ có trách nhiệm tăng cường công tác tuyên truyền nội dung của Nghị quyết số 35-NQ/TW, Kế hoạch số 14-KH/TW một cách thường xuyên, sáng tạo, khoa học, dễ nhớ, dễ hiểu, tránh khô cứng, sáo mòn, giáo điều, khó đi vào cuộc sống. Cần tuyên truyền sâu rộng, thiết thực 4 nhiệm vụ thường xuyên tại Kế hoạch số 14-KH/TW đã được xác định rõ, đó là: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tăng cường thông tin tích cực; đẩy mạnh công tác nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong tình hình mới; đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức lý luận chính trị; tăng cường quản lý, giáo dục cán bộ, đảng viên, xử lý nghiêm minh những trường hợp vi phạm... Đồng thời, các cấp, các ngành chức năng cần kịp thời cung cấp thông tin chính xác, khách quan để đấu tranh phản bác, định hướng dư luận trước những thông tin trái với chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, giúp cấp ủy cơ sở có sự định hướng kịp thời... Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện thể chế chính sách, đặc biệt là về hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế, công bằng xã hội,... để tạo gốc rễ, nền tảng vững chắc góp phần đẩy mạnh công cuộc phát triển đất nước. Có như thế, mới không tạo ra những “kẽ hở”, những “khoảng trống” cho việc hình thành, phát sinh, tồn tại “nhóm lợi ích”, những quan tham, tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực trong xã hội... Bên cạnh đó, cần phát huy những kết quả tích cực đã đạt được trong phát triển kinh tế - xã hội những năm qua, để tạo đà cho những sự bứt phá tiếp theo, với kỳ vọng sẽ đạt được những thành tựu nổi bật hơn nữa trong thúc đẩy đà tăng trưởng, nâng cao đời sống, bảo đảm an sinh xã hội cho người dân, rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền trong cả nước... Thứ tư, đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực từ Trung ương đến địa phương, tránh tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”. Có thể khẳng định rằng, việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả tích cực, lấy lại niềm tin của đông đảo quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước. Rõ ràng, đây là vấn đề hệ trọng, là mối quan tâm lớn của toàn Đảng, toàn dân nên không thể nóng vội, mắc sai lầm. Nhưng cũng vì thế mà không thể “chùng xuống”, không thể thiếu quyết liệt trong chỉ đạo, thực hiện, nhất là việc đẩy nhanh tiến độ xác minh, điều tra, xử lý các vụ, việc, vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, được nhân dân quan tâm. Thứ năm, xây dựng, thiết lập hệ thống các giải pháp tuyên truyền đồng bộ, sát hợp, hiệu quả trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên không gian mạng, góp phần nhận diện, chủ động đấu tranh sớm, kịp thời, hiệu quả trước mọi thủ đoạn tấn công, phá hoại của các thế lực thù địch. Các cơ quan báo chí cần tổ chức thông tin cân bằng hơn, tăng cường thông tin về các mặt tích cực, tốt đẹp trong xã hội, tránh tình trạng mất cân bằng thông tin, khiến các thế lực thù địch, phản động dựa vào đó và nhân danh “tự do ngôn luận” để xuyên tạc, vu khống đất nước bằng những gam màu xám... Các cơ quan báo chí cần tăng cường thời lượng cho các chuyên mục đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, tránh chỉ dồn việc cho vài cơ quan báo chí vốn lâu nay chuyên đảm trách vấn đề này... Đồng thời, cần thiết phải hình thành, duy trì hoạt động hiệu quả các trang thông tin trên mạng xã hội, nhất là trên mạng xã hội Facebook được tổ chức khoa học, bài bản, với đội ngũ phụ trách chuyên nghiệp nhằm kịp thời, chủ động nhận diện, đấu tranh bài bản, khoa học, xác đáng, thuyết phục, hiệu quả trước các âm mưu, thủ đoạn, hành động chống phá của các thế lực thù địch, phản động... Thứ sáu, cần kịp thời phát hiện, nhận diện để đấu tranh, nghiêm trị những phần tử phá hoại núp dưới danh nghĩa “yêu nước”, “nhân quyền”, “đòi công lý cho nhân dân” để kích động, tạo lập các mầm mống gây bạo loạn, lật đổ,... trên tất cả các phương diện, hình thức khác nhau. Phải khu biệt, cô lập, xác định đúng đối tượng phản động, phá hoại, kích động, chủ mưu trong từng vụ, việc, cũng như đã cố tình vi phạm cả thời gian dài, có hệ thống để đưa ra xét xử nghiêm minh trước pháp luật...Có như thế, việc “tự do ngôn luận” ở Việt Nam mới không bị lợi dụng, xuyên tạc, bóp méo, tùy ý chuyển tải thứ “ngôn luận tự do” vô lối nhằm lôi kéo, kích động gây mất an ninh trật tự, phá hoại đất nước, kêu gọi bạo loạn lật đổ... Rồi dần dần, bằng sức đề kháng mạnh mẽ của mọi tầng lớp nhân dân, thứ “ngôn luận tự do” rẻ tiền, hằn học, chống đối đó mới không còn khả năng tồn tại và bị triệt tiêu, trả lại môi trường lành mạnh cho tự do ngôn luận chân chính, vì sự phát triển bền vững của đất nước./.

Ông chẳng, bà chuộc' trong chuyện kiểm soát súng đạn

Vào cùng thời điểm và trong cùng bối cảnh tình hình, bên lập pháp và phía tư pháp ở Mỹ đưa ra quyết định hoàn toàn trái chiều nhau về cùng vấn đề kiểm soát súng đạn trong dân chúng. Tòa án Tối cao Mỹ bác bỏ bộ luật liên quan tồn tại hơn 100 năm nay ở bang New York và cho phép người dân Mỹ luôn mang theo bên mình một khẩu súng lục, kể cả khi ở nơi công cộng. Trong khi đó, lưỡng viện lập pháp Mỹ thông qua bộ luật - lần đầu tiên kể từ năm 1994 - siết một phần việc bán súng đạn cho người dân. Cả hai quyết sách này được đưa ra trong bối cảnh liên tiếp xảy ra những vụ xả súng chấn động người dân Mỹ. Tư pháp nới lỏng luật trong khi lập pháp siết chặt luật. Tư pháp mở rộng quyền trong khi lập pháp hạn chế quyền. Sự trái ngược chiều hướng này rõ ràng đến mức không còn có thể trái ngược hơn được nữa. Nó cho thấy vấn đề sở hữu và sử dụng súng đạn ngày càng thêm nhức nhối và nan giải, Mỹ sẽ còn tiếp tục phải trả giá đắt cho vấn đề này. Đây là một trong những vấn đề phản ánh rõ nét nhất và đầy đủ nhất mức độ phân rẽ sâu sắc trên chính trường và trong nội bộ xã hội Mỹ hiện tại mà hệ lụy trực tiếp là bạo lực và thù hằn gia tăng. Chuyện súng đạn này sẽ là chủ đề nội dung được cử tri quan tâm đến nhiều trong cuộc vận động tranh cử hướng đến bầu cử giữa nhiệm kỳ vào đầu tháng 11 tới. Nó khích lệ cử tri với quan điểm ủng hộ hay chống đối đi bỏ phiếu để ủng hộ chiều hướng quan điểm của Tòa án Tối cao - hiện do các thẩm phán thiên về phe Cộng hòa chi phối - hoặc hậu thuẫn nỗ lực của phe Dân chủ và Tổng thống Joe Biden về siết chặt hơn nữa việc kiểm soát mua và sử dụng súng đạn

BÁC SĨ VIỆT NAM THAM GIA CỨU NGƯỜI Ở CAMPUCHIA

 Bắt đầu đi vào hoạt động từ năm 2014, Bệnh viện Chợ Rẫy Phnom Pênh được coi là “đứa con chung” của Chính phủ Việt Nam và Campuchia, trở thành công trình đầu tiên về hợp tác đầu tư giữa hai nước trong lĩnh vực y tế. Với mô hình này, lực lượng nhân sự nòng cốt phụ trách chuyên môn được điều chuyển trực tiếp từ Bệnh viện Chợ Rẫy Thành phố Hồ Chí Minh sang và nguồn nhân lực y tế tuyển dụng tại Campuchia. Trong những năm qua, hàng trăm lượt y bác sĩ chuyên môn cao đã sang Campuchia, vừa tham gia trực tiếp điều trị bệnh, vừa đào tạo cho đội ngũ y bác sĩ nước sở tại. Có những người trở về nước sau thời gian công tác, nhưng cũng có những người quyết định ở lại Campuchia tiếp tục sứ mệnh cứu người, coi nước bạn như nhà mình. (HD)

Nguồn: TTXVN.

CẦN NHẬN THỨC ĐÚNG NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ LĨNH VỰC QUỐC PHÒNG - AN NINH - CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

          Lợi dụng những vấn đề liên quan đến quốc phòng - an ninh của đất nước, Thời gian qua, các thế lực thù địch đã và đang đẩy mạnh nhiều hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc chống phá nhằm kích động niềm tin của nhân dân vào đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Vì vậy, cần phải nhận diện và đề cao cảnh giác.

          Thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam, các thế lực thù địch xác định lĩnh vực quốc phòng - an ninh và lực lượng vũ trang là một trong những mục tiêu trọng yếu phải tập trung phá hoại, làm suy yếu. Luận điệu xuyên tạc chủ yếu của chúng vẫn là: đòi “phi chính trị hóa” quân đội, phủ nhận nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với lực lượng vũ trang và sự nghiệp quốc phòng, an ninh; xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng về công tác quốc phòng, an ninh, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, nhất là “thế trận lòng dân”; chúng còn rêu rao rằng: Việt Nam tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh để chống lại một nước thứ ba, khơi mào cho một cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực; xuyên tạc, bóp méo tình hình khiếu kiện, mất ổn định và cách giải quyết của lãnh đạo, chính quyền ở một số địa phương; xuyên tạc lịch sử và thực trạng tình hình biên giới, hiện trạng trên biển. Chúng đặc biệt chú ý đến trạng thái tâm lý của quân và dân ta, của dư luận xã hội để tuyên truyền, xuyên tạc vị trí, chức năng, nhiệm vụ của quân đội; đặt lợi ích kinh tế đối lập với lợi ích quốc phòng - an ninh; đối lập giữa hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhằm phủ định vai trò của quốc phòng, an ninh trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, v.v.

          Quán triệt quan điểm của Đảng: Chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; ngăn chặn, phản bác những thông tin, luận điệu sai trái…, mỗi cán bộ, chiến sĩ cần nâng cao nhận thức, nêu cao tinh thần cảnh giác của nhân dân trước những thông tin và luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch liên quan đến lĩnh vực quốc phòng - an ninh. Đồng thời, thường xuyên tiếp nhận và cung cấp thông tin chính thống về lĩnh vực quốc phòng - an ninh đến quần chúng nhân dân một cách kịp thời, chính xác, khách quan, trung thực; tích cực đấu tranh phản bác những thông tin bịa đặt, xuyên tạc về quốc phòng - an ninh; cảnh giác, tỉnh táo, chủ động đấu tranh nhằm làm thất bại âm mưu chống phá của các thế lực thù địch trên mọi mặt trận, nhất là lĩnh vực quốc phòng - an ninh trong tình hình hiện nay./.

PHÒNG, CHỐNG MA TÚY PHẢI LÀM LIÊN TỤC, QUANH NĂM, KHÔNG KỂ NGÀY ĐÊM

Đó là phát biểu của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam tại lễ mít tinh hưởng ứng Tháng hành động, phòng, chống ma túy; Ngày quốc tế và Ngày toàn dân phòng, chống ma túy 26/6, diễn ra vào ngày 23/6, với chủ đề "Nâng cao hiệu quả công tác cai nghiện ma túy, quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy - Vì một cộng đồng khỏe mạnh và an toàn". Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam và lãnh đạo các Bộ, ngành, đại diện các đoàn thể, nhân dân thực hiện nghi thức phát động Tháng hành động, phòng, chống ma túy. Trong những năm qua, do tác động trực tiếp của tình hình tội phạm ma túy trong khu vực và trên thế giới, đặc biệt là khu vực "Tam giác vàng", tình hình tội phạm và tệ nạn ma túy ở Việt Nam diễn biến rất phức tạp, nhất là trên các tuyến, địa bàn trọng điểm. Phương thức, thủ đoạn hoạt động của tội phạm ma túy ngày càng tinh vi, sử dụng công nghệ cao, mạng xã hội và các thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 để thực hiện hành vi phạm tội. Đáng chú ý, tội phạm ma túy hoạt động xuyên quốc gia có dấu hiệu phức tạp trở lại sau thời gian thực hiện giãn cách xã hội do dịch COVID-19. Trong 6 tháng đầu năm 2022, tình hình người nghiện ma túy, sử dụng trái phép chất ma túy diễn biến phức tạp ở nhiều địa phương trên cả nước. Theo thống kê, hiện nay toàn quốc có trên 217.059 người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý; 59.537 người sử dụng trái phép chất ma túy. Đây là "nguồn cầu" tiêu thụ ma túy rất lớn và có xu hướng gia tăng qua từng năm, là nguy cơ tiềm ẩn gây mất an ninh trật tự, bức xúc trong nhân dân. Công tác cai nghiện, phục hồi và quản lý sau cai tiếp tục được quan tâm chỉ đạo; một số địa phương đã có nhiều sáng kiến khắc phục những khó khăn trong việc lập hồ sơ đưa người nghiện vào các cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trong 6 tháng đầu năm, các cơ sở cai nghiện ma túy trên cả nước đã điều trị, cai nghiện cho gần 42.000 người, trong đó tiếp nhận mới gần 4.500 người theo quy định mới của Luật Phòng, chống ma túy 2021; 100% các địa phương tổ chức quản lý sau cai nghiện tại cộng đồng; đã tổ chức nghiên cứu, triển khai thí điểm một số mô hình cai nghiện ma túy hoạt động hiệu quả theo Đề án đổi mới công tác cai nghiện của Chính phủ. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, tình hình tội phạm và tệ nạn ma túy còn diễn biến phức tạp và là một nguy cơ an ninh phi truyền thống mang tính xuyên quốc gia; lượng ma túy từ nước ngoài vận chuyển vào nước ta còn nhiều; số người nghiện vẫn ở mức cao; hiệu quả công tác cai nghiện chưa được phát huy; tỉ lệ tái nghiện cao; tình trạng người nghiện, người sử dụng trái phép chất ma túy vi phạm pháp luật và phạm tội nghiêm trọng gây lo lắng, bức xúc trong nhân dân… Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam ghi nhận những nỗ lực, phấn đấu, hy sinh của các lực lượng phòng, chống ma túy.Thay mặt Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban Quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam ghi nhận, biểu dương Bộ Công an, Bộ LĐ-TB&XH, các bộ, ngành, đoàn thể, người dân và gửi lời cám ơn tới các tổ chức quốc tế, các quốc gia bè bạn đã cùng với Việt Nam và thế giới kiểm soát mức độ nhất định tệ nạn ma túy. Ở vị trí rất nhạy cảm về án ma túy nhưng các lực lượng phòng, chống ma túy, các bộ, ngành, địa phương, người dân… đã nỗ lực phấn đấu để Việt Nam không trở thành điểm trung chuyển. Mặc dù cả nước có khoảng 270.000 người nghiện ma túy nhưng tỉ lệ người nghiện trên 100 người dân ở Việt Nam chỉ bằng 1/3 mức trung bình của khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, Phó Thủ tướng nhấn mạnh không thể thỏa mãn và buông lỏng khi hằng ngày, hằng giờ ma túy vẫn rình rập, đe dọa tất cả mọi người, nhất là độ tuổi người bị ảnh hưởng bởi ma túy ngày càng trẻ.Người nghiện không chỉ hủy hoại sức khỏe bản thân, cuộc sống của bản thân mà ảnh hưởng đến cả người thân, gia đình. Người nghiện ma túy rất dễ liên quan đến tội phạm ma túy, nhất là khi bị ảo giác do ma túy thậm chí có thể gây ra những tội ác không tưởng tượng nổi."Công cuộc phòng, chống ma túy phải làm liên tục, quanh năm, không kể ngày đêm", Phó Thủ tướng nói và trân trọng ghi nhận sự phấn đấu, hy sinh của các lực lượng phòng, chống ma tuý.Theo Phó Thủ tướng, cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể… cần tích cực triển khai "đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng người", không chỉ phát hiện người có liên quan đến mà túy mà còn kết hợp tuyên truyền, vận động về tác hại khôn lường của ma túy. Đây là công tác rất quan trọng, thường xuyên và liên tục; các cấp chính quyền, đoàn thể dưới sự lãnh đạo của các cấp uỷ đảng và toàn dân cùng tiếp tục hành động quyết liệt hơn nữa để bảo vệ cuộc sống an toàn của từng người, từng gia đình và toàn xã hội./.

Cảnh giác trước luận điệu xuyên tạc về chính sách đất đai

 

            Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nội dung này được đông đảo người dân đồng tình, ủng hộ. Bất chấp thực tế đó, các thế lực thù địch, phản động, cực đoan thường xuyên tuyên truyền những luận điệu sai trái, xuyên tạc chính sách đất đai của Việt Nam, âm mưu làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

          Điều 53 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Xét từ góc độ lý luận và thực tiễn cho thấy chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam hiện nay thể hiện tính đúng đắn, phù hợp điều kiện cụ thể của nước ta cũng như định hướng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta lựa chọn.

          Trong thời kỳ quá độ, Việt Nam phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chấp nhận đa thành phần kinh tế, đa hình thức sở hữu để phù hợp trình độ không đồng đều của lực lượng sản xuất nhằm giải phóng sức sản xuất, thúc đẩy kinh tế phát triển. Tuy nhiên, ngay từ đầu, mục tiêu phát triển kinh tế của Việt Nam là bảo đảm kết quả tăng trưởng kinh tế phục vụ cho lợi ích của tất cả mọi giai tầng trong xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Trong nền kinh tế Việt Nam, chế độ công hữu tư liệu sản xuất chủ yếu giữ vai trò chủ đạo bởi như vậy mới giúp tạo ra sự bình đẳng về kinh tế, tạo cơ sở để người dân thực hiện quyền bình đẳng và quyền làm chủ của mình trên các lĩnh vực khác của đời sống. Do đó, đất đai với tư cách là một trong những loại tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng có tính chất quyết định trong phát triển kinh tế cũng thuộc quyền sở hữu toàn dân.

          Từ đây có thể thấy, quan điểm cho rằng Việt Nam phát triển kinh tế đa thành phần, nhiều hình thức sở hữu thì phải thừa nhận chế độ đa sở hữu về đất đai (tức là thừa nhận sở hữu tư nhân về đất đai) như nhiều nước trên thế giới mới phù hợp và bảo đảm dân chủ, công bằng là hết sức võ đoán và phi lý. Ở nhiều nước tư bản hiện nay thực hiện chế độ đa sở hữu về đất đai gồm: sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể, sở hữu của các cơ quan nhà nước, tuy nhiên đa phần diện tích đất ở và đất sản xuất, kinh doanh đều thuộc sở hữu tư nhân, mà chủ yếu là các nhà tư bản.

          Đây là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tình trạng phân hóa giàu nghèo, phân hóa xã hội ngày càng sâu sắc tại các quốc gia này. Tất nhiên, theo quy định pháp luật khi cần Nhà nước cũng có thể thu hồi đất của tư nhân để phục vụ phát triển kinh tế-xã hội hay thực hiện nhiệm vụ quốc phòng-an ninh. Nhưng Nhà nước tư sản do giai cấp tư sản lập nên và sử dụng để bảo vệ tối đa cho quyền và lợi ích của mình, do đó, nếu có thu hồi, trưng dụng đất tư vì bất cứ mục đích gì thì cũng không nằm ngoài phạm vi bảo vệ và phục vụ tốt hơn cho lợi ích cho giai cấp tư sản.

          Cho nên, sở hữu tư nhân, đa sở hữu về đất đai không thể trở thành cơ sở để bảo đảm mục tiêu phát triển kinh tế vì con người, gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội như chế độ công hữu về đất đai, tất cả mọi người dân đều là chủ sở hữu của đất đai như ở Việt Nam hiện nay. Điều này đồng nghĩa với việc đòi hỏi từ bỏ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai để thừa nhận sở hữu tư nhân hay chế độ đa sở hữu về đất đai là nhằm mưu đồ đòi hỏi từ bỏ những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa, theo đúng ý đồ của các thế lực thù địch.

          Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Theo đó, Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu có thể thực hiện vai trò kiểm soát, quản lý và điều tiết các quan hệ đất đai trên cơ sở bảo đảm sự bình đẳng của người dân trong việc thực hiện các quyền với tư cách là chủ sở hữu thật sự đối với tài nguyên đất nhằm hưởng lợi tối đa từ nguồn tài nguyên này một cách công bằng; khắc phục và hạn chế ở mức thấp nhất những vấn đề liên quan đến sự phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng về thu nhập từ đất đai. Hơn nữa, việc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý cũng tạo điều kiện thuận lợi cho Nhà nước Việt Nam có thể sử dụng nguồn tài nguyên này phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội.

          Như vậy, Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý về đất đai là nhằm mục đích để tài nguyên đất được sử dụng một cách hợp lý và hiệu quả nhất phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì lợi ích của nhân dân. Do đó, việc các thế lực thù địch đưa ra luận điệu cho rằng “sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam là thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trên hình thức còn thực tế đã tước quyền sở hữu của nhân dân bởi thực chất, đất đai thuộc quyền sở hữu, quản lý của Nhà nước, của các cơ quan, tổ chức và những người trong bộ máy Nhà nước” là đánh tráo khái niệm nhằm mục đích dẫn đến cách hiểu sai lầm về bản chất của chế độ sở hữu đất đai ở Việt Nam.

          Bên cạnh đó, với chế độ sở hữu toàn dân về đất đai do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, luật pháp Việt Nam nhất là Luật Đất đai năm 2013 đã cung cấp những căn cứ để phân định rõ ràng quyền hạn cũng như trách nhiệm của người sử dụng đất (người được giao đất và người thuê đất) và người đại diện chủ sở hữu toàn dân, thống nhất quản lý đất (cơ quan nhà nước các cấp). Cụ thể: Điều 5 của Luật Đất đai năm 2013 quy định: Người sử dụng đất gồm: tổ chức trong nước; hộ gia đình, cá nhân trong nước; cộng đồng dân cư; cơ sở tôn giáo; tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Điều 7, 8 của Luật Đất đai cũng quy định rõ cá nhân nào có đủ tư cách là đại diện pháp lý trong các giao dịch đất đai của các chủ thể sử dụng đất theo Điều 5; đồng thời luật cũng phân định rõ ràng các quyền hạn và trách nhiệm của Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai (từ Điều 13 đến Điều 21).

          Như vậy, không có chuyện như các thế lực thù địch vẫn rêu rao, xuyên tạc đó là sở hữu đất đai toàn dân thì “mù mờ về pháp lý”, không tìm thấy các chủ thể trong các quan hệ pháp lý về đất đai, đặc biệt khi có những tranh chấp, xung đột, mâu thuẫn… về đất đai xảy ra thì không có cơ sở pháp lý để giải quyết đúng đắn, công bằng. Và càng không thể có chuyện phải chuyển từ sở hữu toàn dân sang đa sở hữu về đất đai, thừa nhận sở hữu tư nhân thì mới giải quyết được tình trạng này.

          Ở các nước trên thế giới khi thực hiện chế độ đa sở hữu về đất đai, thừa nhận sở hữu tư nhân thì những tiêu cực, mâu thuẫn, tranh chấp, xung đột vẫn xảy ra khá phổ biến vì nhiều lý do mà một trong số đó là bởi Nhà nước vẫn có quyền thu hồi, trưng dụng đất tư trong những trường hợp cần thiết. Điều đó cũng rất dễ nảy sinh tình trạng lạm quyền, tiêu cực dẫn đến các tranh chấp, mâu thuẫn, xung đột đất đai gây bức xúc trong dư luận xã hội. Thực tế, ở nhiều nước chính quyền đã mang xe ủi đi cưỡng chế giải tỏa đất đai cho mục tiêu phát triển kinh tế của mình.

          Điều này đồng nghĩa với việc sở hữu toàn dân không phải là căn nguyên của tình trạng tiêu cực, mâu thuẫn, tranh chấp, xung đột hay những điểm nóng về đất đai ở nước ta hiện nay. Muốn giải quyết những tiêu cực, bức xúc, tranh chấp, điểm nóng về đất đai thì phải bắt đầu từ sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách, pháp luật, quy định về quản lý, sử dụng đất; có những biện pháp tổ chức thực hiện hiệu quả chứ không phải là nằm ở việc thay đổi chế độ sở hữu.

          Có thể thấy, tất cả những quan điểm phê phán chế độ sở hữu đất đai toàn dân ở Việt Nam hiện nay là mục đích thu hẹp dần và tiến tới loại bỏ vai trò của Nhà nước Việt Nam trong quản lý đất đai, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng với hoạt động đất đai để làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Do đó, đòi hỏi chúng ta phải tỉnh táo nhận diện, cảnh báo người dân không bị lôi kéo, tin nghe theo các thông tin sai sự thật liên quan đến vấn đề đất đai; kịp thời đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc chế độ sở hữu toàn dân về đất đai./.

          Nguồn: nhandan.vn

Ông chẳng, bà chuộc' trong chuyện kiểm soát súng đạn

Vào cùng thời điểm và trong cùng bối cảnh tình hình, bên lập pháp và phía tư pháp ở Mỹ đưa ra quyết định hoàn toàn trái chiều nhau về cùng vấn đề kiểm soát súng đạn trong dân chúng. Tòa án Tối cao Mỹ bác bỏ bộ luật liên quan tồn tại hơn 100 năm nay ở bang New York và cho phép người dân Mỹ luôn mang theo bên mình một khẩu súng lục, kể cả khi ở nơi công cộng. Trong khi đó, lưỡng viện lập pháp Mỹ thông qua bộ luật - lần đầu tiên kể từ năm 1994 - siết một phần việc bán súng đạn cho người dân. Cả hai quyết sách này được đưa ra trong bối cảnh liên tiếp xảy ra những vụ xả súng chấn động người dân Mỹ. Tư pháp nới lỏng luật trong khi lập pháp siết chặt luật. Tư pháp mở rộng quyền trong khi lập pháp hạn chế quyền. Sự trái ngược chiều hướng này rõ ràng đến mức không còn có thể trái ngược hơn được nữa. Nó cho thấy vấn đề sở hữu và sử dụng súng đạn ngày càng thêm nhức nhối và nan giải, Mỹ sẽ còn tiếp tục phải trả giá đắt cho vấn đề này. Đây là một trong những vấn đề phản ánh rõ nét nhất và đầy đủ nhất mức độ phân rẽ sâu sắc trên chính trường và trong nội bộ xã hội Mỹ hiện tại mà hệ lụy trực tiếp là bạo lực và thù hằn gia tăng. Chuyện súng đạn này sẽ là chủ đề nội dung được cử tri quan tâm đến nhiều trong cuộc vận động tranh cử hướng đến bầu cử giữa nhiệm kỳ vào đầu tháng 11 tới. Nó khích lệ cử tri với quan điểm ủng hộ hay chống đối đi bỏ phiếu để ủng hộ chiều hướng quan điểm của Tòa án Tối cao - hiện do các thẩm phán thiên về phe Cộng hòa chi phối - hoặc hậu thuẫn nỗ lực của phe Dân chủ và Tổng thống Joe Biden về siết chặt hơn nữa việc kiểm soát mua và sử dụng súng đạn

Nông dân lao đao vì phân bón, thuốc bảo vệ thực vật giả

Phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và giống cây trồng là 3 yếu tố sống còn của nông dân. Nhưng 2/3 yếu tố đó hiện đang bị làm giả tràn lan trên thị trường khiến nhiều hộ nông dân ở Tây Ninh lâm vào cảnh lao đao. Tại Tây Ninh hiện có 10 doanh nghiệp sản xuất và 465 cơ sở kinh doanh về phân bón, thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) với 2.824 sản phẩm lưu thông trên địa bàn (khoảng 164 sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất trong tỉnh và 2.660 sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất ngoài tỉnh).Chất những trái khổ qua vừa hái khỏi giàn vào túi ni lông để chuyển lên xe, chị Nguyễn Thị Hà (ngụ xã Ninh Điền, H.Châu Thành) nhẩm tính, phân bón NPK trước có 700.000 - 800.000 đồng/bao, giờ tăng lên 1,2 - 1,4 triệu đồng/bao. Trong khi thuốc trừ sâu, tro, diêm thì giá đội gấp đôi. Cả tháng cắt khổ qua mới được mười mấy triệu đồng, không đủ tiền phân bón, thuốc trừ sâu. Tiền công gia đình tự làm nên không tính. Nói rồi chị Hà chỉ tay sang đám ruộng èo uột bên cạnh, buồn bã nói: “Bón nhầm phân bón giả nên cây đứng luôn thế này. Mua trúng phân giả thì giờ chỉ biết né chỗ bán đó ra chứ biết kêu ai”. Ông Nguyễn Thanh Bình (ngụ xã Thành Long, H.Châu Thành) ngao ngán: “Mua phân về bón, 3 - 4 tháng thấy không phát triển mới tá hỏa biết là phân bón giả. Khi phát hiện thì mọi chuyện cũng đã muộn rồi”. Không riêng phân bón giả, bà Hà, ông Bình cũng từng nhiều lần mua phải thuốc BVTV giả. “Cây gặp sâu bệnh sợ mất năng suất nên bỏ tiền mua thuốc về cứu, nhưng càng xịt thì sâu bệnh càng nhiều. Đến nỗi thuốc cứu cho cây cũng bị làm giả thì còn gì táng tận lương tâm bằng. Tôi nghĩ, cơ quan chức năng cần tăng cường kiểm tra và xử lý hình sự những người làm giàu bất nghĩa trên mồ hôi nước mắt của bà con nông dân”, ông Bình bức xúc. Bà Võ Thị Nuôi, Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc Hợp tác xã xoài tứ quý Thạnh Bắc (H.Tân Biên), cho rằng các ngành chức năng cần buộc các đại lý, nhà sản xuất vật tư nông nghiệp nếu bán phân bón giả, kém chất lượng phải bồi thường thiệt hại cho người dân. Hiện nay, quy định của nhà nước chỉ chế tài xử phạt hành chính, rồi thu tiền nộp vào ngân sách mà chưa đề cập đến vấn đề đền bù cho người dân. Trong khi đó, bà con nông dân là đối tượng bị thiệt hại chính do mua phải hàng giả, hàng kém chất lượng. Đáng nói là đa số nông dân vốn đã nghèo, mua phải phân bón giả, thuốc BVTV giả thì lại càng nghèo thêm. 30% phân bón, thuốc bảo vệ thực vật kém chất lượng đang lưu hành. Theo ông Nguyễn Đình Xuân, Giám đốc Sở NN-PTNT Tây Ninh, qua các đợt kiểm tra vừa qua cho thấy, có khoảng 30% phân bón, thuốc BVTV kém chất lượng đang lưu hành trên thị trường hiện nay ở địa phương. Theo ông Xuân, hiện nay các công ty sản xuất, cơ sở kinh doanh vật tư nông nghiệp giả, kém chất lượng hoạt động ngày càng tinh vi, chủ yếu lưu giữ hàng trong kho kín. Khi có người mua mới trực tiếp mang ra bán, do đó số lượng bày bán ít hơn trước, nhằm né tránh cơ quan kiểm tra. Thậm chí, nếu bị cơ quan chức năng phát hiện thì mức xử phạt vẫn thấp hơn so với lợi nhuận thu được. Mặt khác, các công ty sản xuất vật tư nông nghiệp đa phần trụ sở không đóng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh, mà chỉ thông qua đại lý để bán sản phẩm. Do đó khi phát hiện sai phạm chỉ xử phạt được đại lý kinh doanh sản phẩm đó và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định. Cũng theo ông Xuân, việc thông tin các công ty có sản phẩm vi phạm đến nơi công ty đăng ký sản xuất đã được thực hiện, nhưng hiệu quả chưa cao, do phần lớn phụ thuộc vào trách nhiệm của các địa phương nơi công ty trú đóng, và hiện nay cũng chủ yếu dừng lại ở việc cung cấp thông tin và chưa có biện pháp xử lý cụ thể nào. Theo ông Xuân, từ đầu năm 2022 đến nay, Thanh tra Sở NN-PTNT đã xử phạt vi phạm hành chính 5 cơ sở vi phạm kinh doanh sản phẩm phân bón về điều kiện kinh doanh, nhãn hàng hóa với số tiền 143 triệu đồng. Ngoài ra, có 3 cơ sở vi phạm kinh doanh thuốc BVTV bị phạt với số tiền 7,5 triệu đồng. Đồng thời, đơn vị này cũng xử phạt 16 cơ sở sản xuất phân bón với trên 396 triệu đồng và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả (thu hồi toàn bộ số tiền đã bán) trên 81 triệu đồng; 5 cơ sở kinh doanh thuốc BVTV với số tiền 16 triệu đồng. Ông Xuân cũng cho biết thêm, Sở đã yêu cầu các đơn vị, địa phương, lực lượng chức năng từ nay đến cuối năm đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra các doanh nghiệp sản xuất, đại lý kinh doanh vật tư nông nghiệp trên địa bàn tỉnh. Mục tiêu kéo giảm một nửa tỷ lệ phân bón, thuốc BVTV giả, kém chất lượng như hiện nay./.

Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và hiện đại

 

          Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện là yếu tố trung tâm, trọng điểm, cần nhấn mạnh đến vấn đề xây dựng các hệ giá trị cốt lõi làm mục tiêu cho quá trình xây dựng. Trong đó cần chú trọng hơn giáo dục đạo đức, nhân cách, năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi, nhất là giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống và lich sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc tốt đẹp của con người Việt Nam…

          Con người luôn là yếu tố trung tâm, trọng điểm trong sự phát triển. Dù là lĩnh vực hoạt động nào, khía cạnh nào được bàn đến cũng tập trung vào bàn bạc và tìm ra giải pháp nhằm tạo ra các điều kiện để phục vụ cho sự phát triển toàn diện của con người. Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng khẳng định: “Phát huy tối đa nhân tố con người; con người là trung tâm, chủ thể, là nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển. Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại”.      Trong đó, phát triển toàn diện, bao gồm đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, môi trường văn hóa, đời sống văn hóa phong phú, đa dạng, văn minh, lành mạnh; vừa phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và động lực đột phá cho phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế. Như vậy có thể hiểu, vấn đề xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện phải gắn chặt với phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, một nền văn hóa mới gắn liền với sự phát triển của con người mới.

          Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện là yếu tố trung tâm, trọng điểm, cần nhấn mạnh đến vấn đề xây dựng các hệ giá trị cốt lõi làm mục tiêu cho quá trình xây dựng. Trong đó cần chú trọng hơn giáo dục đạo đức, nhân cách, năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi, nhất là giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống và lich sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc tốt đẹp của con người Việt Nam; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Gắn giáo dục tri thức, đạo đức, thẩm mỹ, kỹ năng sống với giáo dục thể chất, nâng cao tầm vóc con người Việt Nam.

          Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện cũng là một trong những nhiệm vụ và giải pháp được đặt ra tại Quyết định số 1909/QĐ-TTgngày 12/11/2021 Chính phủ ban hành phê duyệt Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030, để thực hiện Chiến lược là phải xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện.Từng bước hình thành các giá trị chuẩn mực góp phần phát triển toàn diện con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế, thích ứng với những tác động của thiên tai, dịch bệnh, khủng hoảng…nâng cao sức mạnh nội sinh nhằm khắc phục những hạn chế, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái đạo đức xã hội.

          Những yếu tố mang tính toàn diện trong quá trình xây dựng con người Việt Nam được kể trên là kết quả của quá trình hình thành và phát triển quan điểm của Đảng và Nhà nước qua những giai đoạn cách mạng khác nhau. Với những nội hàm nêu trên, rõ ràng phát triển con người toàn diện là một định hướng tích cực, nhân văn. Đây là một quá trình lâu dài, cần thực hiện kiên trì với nhiều giải pháp đồng bộ. Và muốn thực hiện được một cách đồng bộ các yếu tố đó cần phải xây dựng và cụ thể hóa các hệ giá trị, có lộ trình cụ thể, chi tiết để hiện thực hóa các yếu tố, mục tiêu. Tuy nhiên cần phải nhớ rằng trong quá trình xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, phải gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại.

          Những giá trị truyền thống và những giá trị hiện đại, là những yếu tố trong việc xây dựng, phát triển một nền văn hóa gắn với con người, là hoạt động có chủ đích của các chủ thể văn hóa tác động vào môi trường tự nhiên và xã hội làm nảy sinh những giá trị mới của nền văn hóa theo hướng chân, thiện, mỹ, thấm nhuần sâu sắc tinh thần dân tộc, khoa học, nhân văn, dân chủ, tiến bộ. Do vậy, xây dựng, phát triển văn hóa suy cho cùng cũng là vì con người, vì sự phát triển toàn diện của con người. Còn xây dựng, phát triển con người là quá trình tác động có chủ đích của các chủ thể để tạo điều kiện và cơ hội cho con người phát triển toàn diện cả về trí tuệ, đạo đức, thể lực và năng lực thẩm mỹ. Vì vậy, xây dựng, phát triển con người là vấn đề trung tâm của xây dựng, phát triển văn hóa.

          Nhận thức tầm quan trọng và mối quan hệ gắn kết giữa xây dựng, phát triển văn hóa, con người nên trong suốt quá trình thực hiện đổi mới đất nước, Đảng ta đã có nhiều văn kiện định hướng nhiệm vụ xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam. Tại Văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng đã trình bày trong phần phương hướng xây dựng, phát triển văn hóa, con người: “xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện phải trở thành một mục tiêu chiến lược phát triển. Đúc kết và xây dựng hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị chuẩn mực của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; tạo môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật ”.

          Trong điều kiện hiện nay, thực hiện các yêu cầu xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại, có nhiều điều kiện thuận lợi nhưng cũng có không ít khó khăn đan xen.

          Vì vậy, để góp phần nâng cao khả năng xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại, có thể dựa trên một số giải pháp sau đây:

          Thứ nhất, cần phải có chiến lược phát triển con người Việt Nam thời đại mới một cách thật chi tiết, cụ thể, có lộ trình rõ ràng. Đảng ta đã nhận thức rõ vấn đề này và khẳng định: “Sớm có chiến lược quốc gia về xây dựng gia đình Việt Nam, góp phần giữ gìn và phát triển những giá trị truyền thống của văn hóa, con người Việt Nam, nuôi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ. Đoàn kết và xây dựng hệ giá trị chung của con người Việt Nam trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”. Chủ trương, chính sách này phải cụ thể, rõ ràng trong việc xác định mục đích, tiêu chuẩn, nguyên tắc cho các tổ chức, cá nhân theo đó thực hiện. Vì vậy, trước hết, cần phải đổi mới tư duy và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với việc xây dựng con người trong thời đại mới, coi đó là một nhiệm vụ trọng tâm. Đồng thời, xây dựng cơ chế phối hợp và chia sẻ trách nhiệm giữa các lĩnh vực chính trị, kinh tế và văn hóa để nâng cao chất lượng và hiệu của việc xây dựng con người. Và xây dựng được ý thức, cũng như sức mạnh của cả xã hội, cả dân tộc vào mục tiêu xây dựng toàn diện con người Việt Nam thời đại mới.

          Thứ hai, cần xây dựng hệ giá trị chuẩn của con người Việt Nam, tức là phải: “Đúc kết và xây dựng hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị chuẩn mực của con người Việt Nam thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”. Phải xây dựng được hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị chuẩn mực của con người Việt Nam trong thời đại mới thì mới có căn cứ để xây dựng con người. Các hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị chuẩn mực của con người Việt Nam phải vừa phù hợp với những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, vừa phải phù hợp với những giá trị văn hóa của thời đại nhằm xây dựng con người Việt Nam với đầy đủ phẩm chất và năng lực, vừa phải mang tính dân tộc, hiện đại, nhân văn; vừa có khả năng đảm nhiệm những trọng trách mới trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

          Thứ ba, chủ động tiếp nhận và tận dụng tối đa mọi điều kiện trong quá trình hội nhập toàn diện hiện nay đã đem lại để phát triển con người Việt Nam.

          Theo đó, chủ động, tích cực tham gia quá trình hội nhập quốc tế là yêu cầu tất yếu khách quan; là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng, vừa cấp bách vừa lâu dài của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; tận dụng có hiệu quả các cơ hội do công cuộc hội nhập đem lại để thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nhân lực chất lượng cao; nâng cao chất lượng cuộc sống, phúc lợi của người dân. Cần tập trung tận dụng mọi thành tựu để phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập, nâng cao mức sống cho nhân dân, qua đó tạo ra những điều kiện vật chất phục vụ cho con người phát triển. Đây là những cơ hội cho con người cải thiện điều kiện sinh hoạt vật chất của mình làm nền tảng để phát triển toàn diện. Tuy nhiên, phát triển kinh tế phải gắn với phát triển văn hóa mới tạo ra sự phát triển bền vững, như vậy, đi đôi với việc phát triển kinh tế phải phát triển văn hóa.

          Thứ tư, phải chăm lo phát triển văn hóaVăn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là sức mạnh nội sinh làm cho xã hội phát triển bền vững, văn hóa còn nuôi dưỡng các giá trị của con người, là thước đo trình độ phát triển con người, làm cho con người phát triển toàn diện. Từ vai trò của văn hóa đối với sự phát triển con người và xã hội, phải quán triệt và thực hiện tốt 5 mục tiêu, 6 nhiệm vụ và 4 giải pháp mà Nghị quyết TW 9 khóa XI đề ra, trong đó tập trung: “Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa. Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với các đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo”. Như vậy, để có thể tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực văn hóa cần phải tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng văn hóa trong kinh tế và chính trị, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Xây dựng, hoàn thiện đi đôi với nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hóa.

          Thứ năm, kiên trì thực hiện đổi mới toàn diện nền giáo dục Việt Nam.

          Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đòi hỏi những con người có năng lực tư duy và sáng tạo, đổi mới, có kĩ năng phân tích và tổng hợp thông tin, có khả năng làm việc độc lập và ra quyết định dựa trên cơ sở phân tích các dữ liệu. Như vậy, trong quá trình giáo dục phải trang bị cho người học khả năng vận dụng kiến thức trong nhiều lĩnh vực khác nhau để giải quyết một vấn đề nan giải. Dành nhiều thời gian dạy người học về phương pháp, kĩ năng, cách tự học, dạy cách sử dụng, khai thác các thiết bị, gắn lí thuyết với thực hành,… và dạy làm người với mục đích người được đào tạo có khả năng thích ứng nhanh với hoàn cảnh, có khả năng học tập suốt đời và có trách nhiệm cao với gia đình, xã hội và Tổ quốc.

          Nguồn: Tuyên giáo

MUỐN CHỐNG THAM NHŨNG, YÊU CẦU ĐẦU TIÊN ĐẶT RA LÀ PHẢI ĐẢM BẢO TÍNH CÔNG KHAI, MINH BẠCH

Đó là phát biểu của Viện trưởng VKSND tối cao Lê Minh Trí tại buổi tiếp xúc cử tri các Quận 5, 8, 11 tại TP. Hồ Chí Minh vào sáng ngày 21/6/2022 cùng các thành viên Tổ Đại biểu Quốc hội - đơn vị số 3. Địa điểm tiếp xúc tại điểm cầu chính thuộc Văn phòng Quận ủy Quận 11.Đóng góp ý kiến hoàn thiện Đề án chiến lược xây dựng nhà nước pháp quyền. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ ra mắt chuyên trang "XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT" Tại buổi tiếp xúc, các cử tri đã đưa ra những đóng góp liên quan đến các vấn đề đang được đông đảo dư luận quan tâm như sai phạm liên quan đến Công ty Cổ phần Công nghệ Việt Á và yêu cầu công khai, minh bạch trong đấu thầu mua sắm thuốc, trang thiết bị y tế; sự cần thiết phải phát huy vai trò tổ chức Đảng cơ sở cũng như quy chế dân chủ cơ sở trong đấu tranh phòng chống tiêu cực, tham nhũng. Cử tri cũng đề xuất với đại biểu Quốc hội nhiều giải pháp đảm bảo việc thành lập và hoạt động của Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh tiến hành có hiệu quả, nhịp nhàng và thông suốt. Cụ thể, kiến nghị BộGiao thông vận tải sớm tháo gỡ ách tắc trong xúc tiến xây dựng các tuyến cao tốc đã được phê duyệt trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh; tiếp tục tăng cường, quyết tâm cao hơn nữa để công cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực đạt được nhiều kết quả. Bên cạnh đó, phải quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thực sự có bản lĩnh vững vàng, liêm chính; có dũng khí bảo vệ cái đúng, đấu tranh với cái sai; có kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng chuyên sâu; nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Phát biểu tại buổi tiếp xúc, Viện trưởng VKSND tối cao Lê Minh Trí cảm ơn cử tri các Quận 5, 8, 11 đã lắng nghe nội dung thông tin kết quả kỳ họp, đồng thời ghi nhận tất cả 15 ý kiến của cử tri và cam kết sẽ trả lời hoặc truyền tải đến các cơ quan có thẩm quyền theo đúng quy định.Viện trưởng VKSND tối cao Lê Minh Trí cho biết, khi sửa đổi "Luật phòng, chống bạo lực gia đình”, Quốc hội khoá XV sẽ cập nhật những quy định liên quan đến nội dung phản ánh của cử tri để đảm bảo Luật đi vào thực chất hơn, nhất là xây dựng các chế tài đủ sức răn đe nhằm hỗ trợ cho việc duy trì gia đình văn hóa, hạnh phúc, vững bền…Liên quan đến vấn đề được quan tâm trong lĩnh vực y tế, Viện trưởng VKSND tối cao Lê Minh Trí đánh giá, thời gian qua chúng ta đã có nhiều quy định pháp luật điều chỉnh. Tuy nhiên, trong tình hình đại dịch COVID-19 diễn ra căng thẳng và yêu cầu phải huy động một nguồn lực lớn trong thời gian ngắn, đã dẫn đến nhiều lỗ hổng trong vận hành hệ thống chống dịch, khiến những phấn đấu, đóng góp của lực lượng tuyến đầu vốn được toàn xã hội ghi nhận, trân trọng đã bị lu mờ vì những sai phạm bị phát hiện. Tình trạng nhiều cá nhân trong ngành Y tế lợi dụng dịch bệnh thực hiện các hành vi tiêu cực, gây thiệt hại đến ngân sách nhà nước và lòng tin của nhân dân, gây ảnh hưởng đến hình ảnh, uy tín ngành Y tế. Sắp tới đây, chúng ta sẽ tiếp tục ban hành những quy định chặt chẽ hơn, vừa đảm bảo được việc mua sắm trang thiết bị, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân được tiến hành minh bạch, rõ ràng, vừa tạo điều kiện cho hệ thống y tế hoạt động tốt hơn. Trao đổi về công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng, Viện trưởng VKSND tối cao Lê Minh Trí khẳng định, muốn chống tham nhũng yêu cầu đầu tiên đặt ra là phải đảm bảo tính công khai, minh bạch. Đồng thời, cần triển khai nhiều giải pháp đồng bộvề thể chế và hệthống pháp luật, hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước để ngăn chặn tham nhũng. Ngoài ra, phải xây dựng chế tài tiếp tục xử lý nghiêm những vụ việc nghiêm trọng và cố ý làm trái, bên cạnh việc tạo điều kiện về cơ chế làm việc và nâng cao thu nhập cho cán bộ, công chức để ngăn chặn, hạn chế tình trạng tham nhũng, tiêu cực… Về việc thành lập Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh, đồng chí Lê Minh Trí cho biết đây là giải pháp hiệu quả giúp tăng cường sự chỉ đạo và sức chiến đấu cho hệ thống cơ quan đấu tranh phòng chống tham nhũng tiêu cực tại địa phương trong giai đoạn hiện nay, tránh tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”, từ đó tiến hành xử lý nghiêm những sai phạm để lấy lại niềm tin trong nhân dân./.