Sáng 4-7, Văn phòng Bộ Quốc phòng tổ chức hội nghị tập huấn nghiệp vụ kiểm soát thủ tục hành chính năm 2022. Thiếu tướng Nguyễn Văn Chính, Phó chánh Văn phòng Bộ Quốc phòng chủ trì hội nghị. Hội nghị được kết nối trực tuyến với 64 điểm cầu trong toàn quân.
Tại hội nghị tập huấn, các đại biểu được nghe giới thiệu 3 chuyên đề: Ứng dụng dữ liệu quốc gia về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường điện tử; thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính; hướng dẫn số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính trong tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính.
Đây là những nội dung trọng tâm về cải cách thủ tục hành chính mà các cơ quan, đơn vị phải triển khai thực hiện theo yêu cầu của Chính phủ, Bộ Quốc phòng, đồng thời cũng là những nội dung mới, khó, phát sinh nhiều vướng mắc. Do vậy, hội nghị tập huấn nhằm thống nhất nhận thức và cách thức triển khai, giải đáp những vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện cho đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm soát thủ tục hành chính trong toàn quân.
Thiếu tướng Nguyễn Văn Chính phát biểu khai mạc hội nghị.
Những năm qua, Quân ủy Trung ương, Thủ trưởng Bộ Quốc phòng thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị toàn quân triển khai toàn diện 6 nội dung cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính và đã đạt được những kết quả quan trọng. Trong đó, đã bảo đảm rút ngắn thời gian, đơn giản hóa thành phần, hồ sơ, trình tự giải quyết thủ tục hành chính; ứng dụng, đẩy mạnh thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử, tạo thuận lợi cho các cá nhân, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp khi thực hiện các thủ tục hành chính.
Tuy nhiên, công tác cải cách thủ tục hành chính ở một số cơ quan, đơn vị chưa thực sự quyết liệt, việc cắt giảm, đơn giản hóa các thủ tục hành chính chưa thực chất, số lượng thủ tục hành chính giải quyết trên môi trường điện tử còn thấp so với yêu cầu và chỉ tiêu đặt ra.
Trước thực tế đó, để đáp ứng mục tiêu cải cách thủ tục hành chính của Chính phủ và Bộ Quốc phòng, công tác tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm soát các thủ tục hành chính được xác định là một nội dung quan trọng, qua đó sẽ góp phần nâng cao nhận thức, trình độ, năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm soát thủ tục hành chính trong toàn quân, làm cơ sở nâng cao chất lượng tham mưu đề xuất cải cách thủ tục hành chính ở các cấp.
Các đại biểu dự hội nghị tập huấn.
Phát biểu khai mạc hội nghị tập huấn, Thiếu tướng Nguyễn Văn Chính cho rằng, công tác cải cách thủ tục hành chính ngày càng đặt ra yêu cầu cấp thiết, nhất là trong bối cảnh Chính phủ đang đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số; thay đổi cách thức thực hiện thủ tục hành chính từ thủ công sang thực hiện trên môi trường điện tử. Yêu cầu đó đòi hỏi các cơ quan, đơn vị phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo sát sao mới hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Vì thế, các cơ quan, đơn vị cần nêu cao tinh thần trách nhiệm tham gia hội nghị tập huấn để tiếp thu, lĩnh hội những kiến thức mà các đồng chí giảng viên giới thiệu; nghiêm túc nghiên cứu, tích cực trao đổi, thảo luận tại hội nghị để đi đến thống nhất, làm cơ sở để về áp dụng vào quá trình thực hiện nhiệm vụ cụ thể tại cơ quan, đơn vị.
- Vận dụng sáng tạo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, Đảng ta luôn coi trọng việc kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn để nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ. Đây là một nội dung rất quan trọng trong công tác cán bộ của Đảng, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ vừa “hồng”, vừa “chuyên”, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới.
Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc với các đại biểu dự Hội nghị trực tuyến toàn quốc quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, ngày 28-3-2021_Ảnh: TTXVN
Bản lĩnh chính trị và nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ
“Bản lĩnh” thường được hiểu là khả năng và ý chí kiên định trước mọi hoàn cảnh(1). Bản lĩnh chính trị (BLCT) của cán bộ là khả năng và ý chí kiên định, vững vàng về lý tưởng, mục tiêu của Đảng, nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, đặc biệt là trước những tình thế khó khăn, phức tạp thì cán bộ luôn bình tĩnh, sáng suốt cùng cấp ủy và tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị xác định được chủ trương, giải pháp đúng đắn để vượt qua tình thế đó, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, góp phần thực hiện thắng lợi đường lối và từng bước hiện thực hóa lý tưởng, mục tiêu của Đảng.
Bản lĩnh chính trị là một bộ phận đặc biệt quan trọng của phẩm chất chính trị của cán bộ; cùng với trình độ trí tuệ và phẩm chất đạo đức, lối sống tạo nên chất lượng của đội ngũ cán bộ; bảo đảm cho đội ngũ cán bộ có khả năng vượt qua những khó khăn, thách thức, quyết tâm hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng.
Bản lĩnh chính trị của cán bộ được tạo nên bởi các yếu tố chủ yếu, như tri thức về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tri thức về các khoa học cần thiết khác; sự giáo dục, rèn luyện của các cấp ủy, tổ chức đảng; sự tham gia của các tổ chức trong hệ thống chính trị (HTCT) và nhân dân vào việc giáo dục, rèn luyện BLCT của cán bộ; tình yêu thương, gắn bó và trách nhiệm đối với nhân dân; sự tu dưỡng, rèn luyện, thử thách trong thực tiễn của cán bộ.
Nâng cao BLCT của cán bộ là toàn bộ hoạt động của các cấp ủy, tổ chức và từng cán bộ nhằm phát huy mạnh mẽ vai trò của các yếu tố tạo nên BLCT với sự tham gia của các tổ chức trong HTCT các cấp và nhân dân, để làm cho BLCT của cán bộ được nâng lên, đáp ứng yêu cầu chức trách, nhiệm vụ được giao.
Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng lý luận chính trị của Đảng, cán bộ, đảng viên và nhân dân ta trong cuộc đấu tranh lật đổ các thế lực áp bức, bóc lột, giành chính quyền, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Đường lối của Đảng cũng được coi là bộ phận lý luận chính trị quan trọng, bởi vì phần lớn nội dung trong đường lối của Đảng nhằm giải quyết những mục tiêu chính trị dưới dạng khái quát, cô đọng nhất ở mỗi giai đoạn cách mạng. Như vậy, chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng có quan hệ mật thiết và chi phối các yếu tố khác (những yếu tố tạo nên BLCT của cán bộ) - là cơ sở, yếu tố quan trọng hàng đầu hình thành, phát triển và nâng cao BLCT của cán bộ. Điều này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh luận giải và khẳng định rõ trong các bài viết, bài nói của mình.
Trong tác phẩm “Đường cách mệnh”, khi luận bàn về nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đặt câu hỏi: Cách mệnh trước hết phải có cái gì? Và Người khẳng định: “Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi”(2). Đồng thời, Người chỉ rõ, đảng cách mệnh phải vững vàng, kiên định lý tưởng, mục tiêu và con đường cách mạng đã lựa chọn, xác định đúng đắn đường lối và đề ra các giải pháp lãnh đạo thực hiện hiệu quả nhằm đưa cách mạng đến thắng lợi. Đặc biệt, trong những lúc cách mạng gặp hiểm nguy, đảng cách mạng phải bình tĩnh, sáng suốt, kịp thời đề xuất và thực hiện các giải pháp đúng đắn ấy để đưa cách mạng vượt qua khó khăn, “thác ghềnh”, phong ba, bão táp, đi đến thắng lợi. Tức là, Đảng phải có BLCT vững vàng, như Người từng khẳng định: “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”(3). Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cũng chỉ ra và khẳng định yếu tố đặc biệt quan trọng, mang tính cốt lõi tạo nên sự bình tĩnh, sáng suốt của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng và của đội ngũ cán bộ trong thực hiện nhiệm vụ được giao - yếu tố tạo nên BLCT của Đảng và của đội ngũ cán bộ - chính là chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Người viết: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”(4).
Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục luận giải: “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”(5). Phần lớn hoạt động phát triển và nâng cao BLCT của cán bộ là thông qua hoạt động thực tế của các cấp ủy, tổ chức đảng, các tổ chức trong HTCT và của từng cán bộ. Các hoạt động này chỉ có thể đem lại hiệu quả, phát huy mạnh mẽ vai trò nâng cao BLCT của cán bộ khi được lý luận soi sáng, dẫn đường. Không được lý luận soi sáng, dẫn đường thì những hoạt động nâng cao BLCT của cán bộ sẽ mất phương hướng chính trị, gây hậu quả không tốt cho sự phát triển của từng cán bộ và cả sự nghiệp cách mạng.
Tri thức của cán bộ về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng chỉ có thể được hình thành thông qua việc học tập nghiêm túc của cán bộ ở các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Đảng, Nhà nước, đặc biệt là trong hệ thống trường đảng. Điều này phụ thuộc rất lớn vào chất lượng dạy và học, gồm chất lượng nội dung, chương trình phù hợp với từng đối tượng cán bộ; chất lượng đội ngũ giảng viên; hình thức, phương pháp dạy và học; việc quản lý dạy và học; môi trường học tập ở các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; tinh thần, thái độ của người học. Tri thức của cán bộ về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng còn có được thông qua sinh hoạt đảng, các tổ chức chính trị - xã hội, hoạt động thực tiễn và việc tự giác thường xuyên tự học tập suốt đời của cán bộ.
Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng cùng đồng chí Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương và các đại biểu tham dự Lễ ra mắt cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”_Ảnh: TTXVN
Vai trò của rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn đối với việc nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ
Bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ chỉ có thể được hình thành và từng bước nâng cao thông qua rèn luyện, thử thách bền bỉ, thường xuyên và lâu dài trong thực tiễn, qua những thử thách cam go khi đứng trước những vấn đề gay cấn, phức tạp nảy sinh trong thực tiễn hoạt động của cán bộ. Trong hoạt động thực tiễn, cán bộ phải biết vận dụng sáng tạo những kiến thức lý luận đã học vào thực tiễn, giải quyết đúng đắn những vấn đề nảy sinh, hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. Thực tiễn là “trường học” tốt nhất để củng cố, phát triển và nâng cao BLCT của cán bộ. Thực tế cho thấy, sự rèn luyện, thử thách trong thực tiễn, sự đối mặt với những khó khăn, thách thức, quyết liệt đương đầu với kẻ thù tàn bạo, thâm độc, xảo quyệt đã tôi luyện, nâng cao khả năng, ý chí kiên định, sự linh hoạt, sáng suốt của Đảng và của đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập, tự do để kịp thời đề ra các chủ trương, giải pháp đúng đắn đưa cách mạng đến thắng lợi.
Trong thời kỳ đổi mới hiện nay, đội ngũ cán bộ tuy không phải trực tiếp đối mặt với kẻ thù tàn bạo, phản động, tội phạm (trừ cán bộ là lực lượng vũ trang); song, họ lại phải đối mặt với những tác động, thử thách không hề nhỏ. Đó là những cám dỗ của tiền tài, vật chất, tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường, quá trình mở cửa, hội nhập quốc tế; sự cám dỗ của địa vị, quyền lực; sự lôi kéo, mua chuộc của các thế lực thù địch, phản động với âm mưu, thủ đoạn rất thâm độc, xảo quyệt hòng làm cho người cán bộ suy giảm hoặc đánh mất BLCT, gây thiệt hại cho Đảng và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.
Những thử thách nêu trên đối với cán bộ không kém phần gay gắt, nghiệt ngã so với những thử thách trong chiến đấu chống quân thù giành độc lập dân tộc. Vì thế, rèn luyện trong thực tiễn và nỗ lực vượt qua được những thách thức hiện nay có vai trò rất to lớn trong việc củng cố, phát triển và nâng cao BLCT của cán bộ.
Từ tư tưởng Hồ Chí Minh về huấn luyện cán bộ đến bài học có giá trị lớn trong công tác cán bộ của Đảng ta
Bản lĩnh chính trị của người cán bộ là một nội dung rất quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng. Theo Người, đạo đức cách mạng của người cán bộ được thể hiện ở những phẩm chất, như trung với nước, hiếu với dân; thương yêu con người; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng... đây cũng là những biểu hiện của BLCT của người cán bộ, trong đó sự liêm chính là biểu hiện rõ nhất.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng:“LIÊM là không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ”(6). Quang minh chính đại trong khái niệm “LIÊM” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những đặc trưng của BLCT của người cán bộ. Người chỉ rõ: “Chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Điều gì không đứng đắn, thẳng thắn, tức là tà”(7). Đây là một đặc trưng cơ bản của BLCT của cán bộ, là sự chính trực của cán bộ và trên thực tế, người cán bộ chính trực thường được gọi là cán bộ có BLCT.
Cán bộ và công tác cán bộ là những vấn đề nhận được sự quan tâm đặc biệt, xuyên suốt trong tư tưởng và hành động của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác xây dựng Đảng. Đặc biệt, huấn luyện cán bộ là một nội dung rất quan trọng, thể hiện trong các luận điểm nổi tiếng của Người: “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”(8); “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”(9); “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”(10).
Huấn luyện cán bộ gồm nhiều nội dung, trong đó huấn luyện lý luận chính trị có vai trò quan trọng hàng đầu. Mọi cán bộ đều phải được huấn luyện lý luận chính trị. Huấn luyện cán bộ gồm huấn luyện ở nhà trường qua các lớp đào tạo cơ bản, các lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kinh nghiệm công tác; qua sinh hoạt đảng, đoàn thể; sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, sự kèm cặp của cán bộ chủ chốt ở cơ quan, đơn vị trong quá trình làm việc; qua thực tiễn công tác và việc tự học tập của cán bộ... Như vậy, học tập lý luận chính trị phải được kết hợp chặt chẽ với hoạt động thực tiễn của cán bộ thì mới đem lại hiệu quả, thiết thực.
Khi được trang bị tri thức lý luận chính trị và vận dụng vào trong công việc thực tế, cán bộ sẽ vững vàng, tự tin xử lý có kết quả những vấn đề nảy sinh, vượt qua những khó khăn, thách thức, kể cả những khó khăn lớn, thách thức quyết liệt, gay cấn để thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao; qua đó, họ từng bước trưởng thành. Đây là sự kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa việc học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách trong thực tiễn, tạo nên sự trưởng thành của cán bộ, trong đó có sự trưởng thành về BLCT và được nâng cao qua từng thời kỳ cách mạng. Sự trưởng thành của cán bộ nhờ rèn luyện, thử thách trong thực tiễn sau khi học tập lý luận chính trị được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Lúc học rồi, họ có thể tự mình tìm ra phương hướng chính trị có thể làm những công việc thực tế, có thể trở nên người tổ chức và lãnh đạo. Thế là lý luận thiết thực, có ích”(11). Như vậy, sự kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách trong thực tiễn sẽ đem lại hiệu quả về nhiều mặt đối với cán bộ, mà điều quan trọng hàng đầu chính là góp phần nâng cao BLCT của đội ngũ này.
Cách mạng luôn luôn vận động, phát triển không ngừng và ngày càng đặt ra yêu cầu cao hơn đòi hỏi Đảng, từng cán bộ phải không ngừng nâng cao BLCT để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của từng thời kỳ cách mạng. Vì thế, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm và đặt lên hàng đầu việc giáo dục, rèn luyện, giữ vững và nâng cao BLCT của cán bộ; nhờ đó, chất lượng đội ngũ cán bộ ngày càng được nâng lên, góp phần đưa cách mạng nước ta vượt qua những khó khăn, thách thức lớn, nhất là khi cách mạng chuyển sang giai đoạn mới với nhiệm vụ mới mẻ, phức tạp, nặng nề hơn trước, để đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Nhận thức sâu sắc vai trò đặc biệt quan trọng của đội ngũ cán bộ đối với thắng lợi của cách mạng, trước khi Đảng ta ra đời, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chỉ đạo chọn những thanh niên ưu tú, “những hạt giống đỏ” đưa đi học tập lý luận chính trị ở Quảng Châu, Trung Quốc tại những lớp do Người trực tiếp biên soạn bài giảng và giảng dạy. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã truyền đạt những nội dung lý luận rất sâu sắc, thiết thực, với cách giảng dạy rất khoa học cho học viên; trong đó, Người rất coi trọng việc gắn chặt lý luận với thực tiễn cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động ở các nước trên thế giới và với thực tiễn cách mạng nước ta. Nhờ đó, việc học tập lý luận chính trị đã nhanh chóng đem lại hiệu quả, có tác dụng rất to lớn, thiết thực đối với lớp cán bộ tiền bối của Đảng.
Nhờ kết hợp chặt chẽ việc học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách trước những cam go, thách thức quyết liệt của cách mạng nước ta trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền, BLCT của đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng khi đó được nâng cao, đáp ứng tốt yêu cầu của cách mạng. Mặc dù gặp nhiều khó khăn, gian khổ và phải đối mặt với sự ác liệt của cuộc đấu tranh giành chính quyền, song Đảng ta luôn tìm ra các giải pháp phù hợp, hiệu quả để huấn luyện, trang bị lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; đồng thời, coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo việc kết hợp chặt chẽ, hiệu quả việc học tập lý luận chính trị với tăng cường rèn luyện, thử thách đội ngũ cán bộ, đảng viên trong thực tiễn để nâng cao chất lượng về mọi mặt, trong đó có BLCT của họ. Những hoạt động này, cùng với sự nêu gương, sự dẫn dắt, lan tỏa của những cán bộ tiền bối, BLCT của đội ngũ cán bộ ngày càng được nâng cao. Với BLCT vững vàng, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng khi đó (chỉ khoảng 5.000 đảng viên) đã cùng toàn thể dân tộc giành thắng lợi to lớn trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, Đảng ta trở thành đảng cầm quyền, nhân dân Việt Nam từ kiếp nô lệ thành người làm chủ đất nước.
Đội ngũ cán bộ tiếp tục được Đảng huấn luyện về mọi mặt, coi trọng huấn luyện lý luận chính trị kết hợp chặt chẽ với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn, đã đem lại hiệu quả thiết thực; nhờ đó, BLCT của cán bộ luôn được nâng cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của các thời kỳ cách mạng tiếp theo. Đây là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi to lớn trong các cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược và bọn tay sai và trong khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc sau khi thống nhất đất nước.
Nâng cao bản lĩnh chính trị của cán bộ đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới
Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta luôn chú trọng việckết hợp chặt chẽ, hiệu quả học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thựctiễn để nâng cao BLCT của cán bộ. Qua đó, BLCT của đội ngũ cán bộ nước ta được nâng lên một bước mới, cùng Đảng vững vàng lãnh đạo nhân dân ta vượt qua những khó khăn, thách thức mới, quyết liệt chưa từng có, tận dụng những thời cơ và thuận lợi để đưa sự nghiệp đổi mới đất nước giành được những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử, mở ra thời kỳ phát triển mới của đất nước. Điều này đã được Đại hội XIII của Đảng chỉ ra và khẳng định: “Nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(12).
Tuy nhiên, công cuộc đổi mới đất nước trong những thập niên tới sẽ còn gặp những khó khăn, phức tạp, thách thức không nhỏ: “tình hình thế giới tiếp tục có những diễn biến rất nhanh, phức tạp, khó dự báo… Bốn nguy cơ mà Đảng đã chỉ ra vẫn còn tồn tại, có mặt gay gắt hơn; các mối đe dọa độc lập, chủ quyền, lợi ích chiến lược của đất nước, nhất là trên Biển Đông; vấn đề an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, cạn kiệt tài nguyên, xu hướng già hóa dân số; tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; sự chống, phá quyết liệt của các thế lực thù địch, các tổ chức phản động”(13). Tình hình đó đặt ra yêu cầu phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; trong đó, nâng cao BLCT của đội ngũ cán bộ là vấn đề quan trọng hàng đầu.
Nâng cao BLCT của đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới đất nước trong thời kỳ phát triển mới được Đảng ta xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm; thể hiện trong các văn kiện quan trọng của Đảng và sự lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện quyết liệt. Cụ thể là:
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” xác định mục tiêu: “Kiên quyết khắc phục những yếu kém trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, trách nhiệm, năng lực và động cơ đúng đắn, thực sự tiên phong, gương mẫu, luôn đặt lợi ích của tập thể, quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, thực sự là cán bộ của dân, phục vụ nhân dân”(14). Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa XII “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”, nhấn mạnh: “Xây dựng đồng bộ, toàn diện các đối tượng cán bộ ở các cấp. Chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, tính chuyên nghiệp, tinh thần phục vụ nhân dân của cán bộ, công chức, viên chức”(15).
Các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng cùng Bí thư Tỉnh ủy Quảng Bình Vũ Đại Thắng cứu trợ người dân vùng rốn lũ gặp hoàn cảnh khó khăn ở huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình (năm 2020)_Ảnh: TTXVN
Đại hội XIII của Đảng xác định: “Tiếp tục nâng cao lập trường, bản lĩnh chính trị, trí tuệ, tính chiến đấu của toàn Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp, nhất là cấp chiến lược”(16). “Nâng cao bản lĩnh chính trị, trí tuệ, sự gương mẫu, tinh thần vì nhân dân phục vụ của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt và người đứng đầu các cấp”(17). Đặc biệt, Đại hội XIII bổ sung và nhấn mạnh những đặc trưng cơ bản rất quan trọng mà đội ngũ cán bộ cần có, đó là “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”(18). Những đặc trưng này, cũng là những đặc trưng rất cơ bản của BLCT của đội ngũ cán bộ trong giai đoạn hiện nay.
Những chủ trương, quan điểm và chỉ dẫn của Đảng là cơ sở và căn cứ rất quan trọng để nâng cao nhận thức và xác định chủ trương, giải pháp đúng đắn để nâng cao BLCT của đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của thời kỳ phát triển mới của đất nước. Trong đó, cần tập trung thực hiện những giải pháp nhằm kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn để nâng cao BLCT của đội ngũ cán bộ trong thời gian tới, cụ thể như sau:
Một là, nâng cao nhận thức sâu sắc, thống nhất và trách nhiệm của các cấp ủy, đội ngũ cán bộ, đảng viên về việc kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn để nâng cao BLCT của cán bộ, trước hết là những cán bộ của cơ quan, đơn vị mình.
Hai là, tiếp tục cụ thể hóa tiêu chuẩn chức danh cán bộ các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị, trong đó coi trọng xác định rõ tiêu chuẩn cụ thể về BLCT của chức danh cán bộ, làm cơ sở và định hướng cho việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ về mọi mặt, nhất là về lý luận chính trị và về rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn cũng như việc kết hợp chặt chẽ, hiệu quả các hoạt động này.
Ba là, đổi mới mạnh mẽ, nâng cao chất lượng dạy và học lý luận chính trị; việc lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đối với việc rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn, tạo cơ sở cho việc kết hợp chặt chẽ, hiệu quả học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn để nâng cao BLCT của cán bộ.
Bốn là, tiếp tục thực hiện quyết liệt, hiệu quả Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””; đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; trong đó, cần coi trọng việc học tập và làm theo tư tưởng của Người về đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư...
Năm là, cổ vũ, động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ tự giác học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị, tự rèn luyện trong thực tiễn; từng cán bộ thực hiện kết hợp việc tự học tập lý luận chính trị với việc tự rèn luyện trong thực tiễn đạt kết quả để nâng cao BLCT.
Sáu là, phát huy mạnh mẽ vai trò của các tổ chức trong hệ thống chính trị và sự tham gia của nhân dân vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đối với việc kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn để góp phần nâng cao BLCT của đội ngũ cán bộ trong thời kỳ mới./.
------------------
(1) Nguyễn Như Ý (chủ biên): Đại từ điển tiếng Việt, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 1998, tr. 93 (2), (3), (4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 2, tr. 289 (5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 273 – 274 (6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 292 (7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 129 (8), (9), (10), (11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 309, 313, 309, 312 (12) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 103 - 104 (13) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. II, tr. 227 - 228 (14) Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 34 - 35 (15) Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2018, tr. 68 (16), (17), (18) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. II, tr. 231, 24, 243
Phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng
Với hàng nghìn năm hình thành và phát
triển, Việt Nam là một trong những quốc gia có truyền thống văn hóa lâu đời.
Chính văn hóa đã góp phần làm nên sức mạnh, làm cho tiềm lực, vị thế và uy tín
của Việt Nam ngày càng tăng trên trường quốc tế. Vì vậy, phát huy sức mạnh mềm
văn hóa Việt Nam là nhiệm vụ quan trọng, để văn hóa thực sự trở thành nền tảng
tinh thần vững chắc của xã hội, thành động lực, sức mạnh nội sinh quan trọng
bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Một trong những nội dung quan trọng của
định hướng xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam
được Đại hội XIII của Đảng đề ra là “Khẩn trương triển khai phát
triển có trọng tâm, trọng điểm ngành công nghiệp văn hóa và dịch vụ văn
hóa trên cơ sở xác định và phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam”(1).
Hiểu một cách khái quát, sức
mạnh mềm là khả năng đạt được những gì mà một quốc gia mong muốn thông
qua việc gây ảnh hưởng, tạo sự hấp dẫn bởi những yếu tố tạo nên sức mạnh mềm.
Đó là hệ giá trị văn hóa; hệ giá trị chính trị - xã hội; mô hình nhà nước và
chính sách (đối nội cũng như đối ngoại) của quốc gia đó. Trong đó, hệ giá trị
văn hóa (hiểu theo nghĩa rộng) có vai trò đặc biệt quan trọng. Nó “thẩm thấu”
vào hệ giá trị chính trị - xã hội, mô hình nhà nước và chính sách quốc gia.
Khác với sức mạnh cứng (uy hiếp về quân sự, ép buộc bằng kinh tế, áp đặt bằng
luật, lệ...) để buộc người khác, quốc gia khác đi theo thì đặc trưng cơ bản của
sức mạnh mềm là sự hấp dẫn, lôi cuốn, thu hút, thuyết phục, cảm hóa đối tác để
họ thay đổi nhận thức, hành vi và tự nguyện, tự giác hợp tác, đi theo chủ thể
sở hữu.
Sức mạnh mềm không nhất thành bất biến,
mà phụ thuộc vào bối cảnh tiếp nhận và chủ thể sở hữu. Chủ thể sở hữu sức mạnh
mềm có đại biểu cho xu hướng phát triển, tiến bộ hay không? khả năng làm cho
sức lan tỏa, ảnh hưởng của nó trong đời sống xã hội như thế nào? giá trị văn
hóa cũng như các giá trị căn bản của quốc gia hay mô hình nhà nước và chính
sách đối nội, đối ngoại của quốc gia đó được các nước khác biết đến ít hay
nhiều... Điều này phụ thuộc rất lớn vào công tác truyền thông, quảng bá, khả
năng thuyết phục, chấp nhận thông tin do chủ thể sở hữu nắm giữ.
Sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam
Có thể hiểu, sức mạnh mềm văn hóa Việt
Nam là khả năng đạt được những gì mà dân tộc, nhân dân Việt Nam mong muốn thông
qua việc gây dựng ảnh hưởng, tạo sự hấp dẫn bởi giá trị văn hóa Việt Nam, hệ
giá trị chính trị - xã hội và mô hình nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam với
chính sách đối nội và đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và
phát triển.
Như nhiều quốc gia - dân tộc khác, Việt
Nam cũng có nền văn hóa của riêng mình. Đó là “thành quả hàng nghìn năm lao
động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân
tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thụ tinh hoa của nhiều nền văn minh
thế giới để không ngừng hoàn thiện mình. Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên
tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của
dân tộc”(2).
Văn hóa Việt Nam - như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhấn mạnh - là sợi chỉ đỏ
xuyên suốt toàn bộ lịch sử của dân tộc Việt Nam, làm nên sức sống mãnh liệt,
giúp cộng đồng dân tộc Việt Nam vượt qua biết bao sóng gió và thác ghềnh tưởng
chừng không thể vượt qua được, để không ngừng phát triển và lớn mạnh, viết nên
những trang sử lạ lùng bởi tính kiên cường trong hoạn nạn, bởi khí phách hào
hùng trong giữ nước và dựng nước; “chất văn hóa... là tinh hoa của dân tộc, của
quý nhất mà ngày nay mọi người Việt Nam chúng ta tự hào là người thừa kế và
phát triển(3).
Trải qua biết bao biến cố và thăng trầm
của lịch sử, chịu ảnh hưởng của nhiều nền văn hóa khác nhau, nhưng văn hóa Việt
Nam không bị đồng hóa, mà vẫn giữ vững bản sắc và thể hiện sức sống mãnh liệt
của mình trong khả năng tiếp biến linh hoạt và đầy sáng tạo. Khả năng “Việt
hóa” hay sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo là những
minh chứng cho sự tiếp biến đầy sáng tạo và sức sống mãnh liệt của sức mạnh mềm
văn hóa Việt Nam.
Dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, nhất
là sau khi công bố Đề cương văn hóa Việt Nam (năm 1943)và
triển khai thực hiện Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 16-7-1998, của Hội nghị Trung
ương 5 khóa VIII, “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc”; Nghị quyếtsố 33-NQ/TW, ngày 9-6-2014, của Hội
nghị Trung ương 9 khóa XI, “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt
Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, sự nghiệp xây dựng và phát
triển văn hóa, con người Việt Nam đã có chuyển biến tích cực, đạt được những
kết quả quan trọng. “Nhận thức về văn hóa, xã hội, con người ngày càng toàn
diện, sâu sắc hơn. Các lĩnh vực, loại hình, sản phẩm văn hóa phát triển
ngày càng đa dạng, đáp ứng nhu cầu mới, nhiều mặt của đời sống xã hội. Nhiều
giá trị văn hóa truyền thống và di sản văn hóa được kế thừa, bảo tồn và phát
huy”(4),
góp phần quan trọng trong việc quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam
đến với bạn bè thế giới.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập
quốc tế hiện nay, văn hóa Việt Nam càng có nhiều cơ hội để lan tỏa ra thế giới.
Cái hay, cái đẹp trong ngôn ngữ, trong âm nhạc, trong các loại hình nghệ thuật
Việt Nam hay tính nhân văn trong văn hóa ứng xử, văn hóa giao tiếp... của người
Việt Nam không chỉ là sức mạnh nội sinh đối với sự phát triển bền vững của đất
nước, mà còn có sức lan tỏa đến nhiều nền văn hóa, nhiều quốc gia, thu hút hàng
triệu trái tim, khối óc của người dân đến từ nhiều quốc gia - dân tộc khác nhau
trên thế giới. Không ít đoàn nghệ thuật của Việt Nam đi công diễn ở nước ngoài
được đón nhận một cách nồng nhiệt; không ít tác phẩm văn học của các tác giả
Việt Nam được dịch ra nhiều thứ tiếng, như thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí
Minh, kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du hay Dế mèn
phiêu lưu ký của Tô Hoài...
Đến nay, Việt Nam có hàng chục di sản
văn hóa được UNESCO vinh danh. Trong đó, không ít loại hình nghệ thuật, nhất là
nghệ thuật biểu diễn của Việt Nam, được UNESCO vinh danh là kiệt tác truyền khẩu,
là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, như: Không gian văn hóa
Cồng chiêng Tây Nguyên được công nhận năm 2005; Nhã nhạc cung đình Huế được
công nhận năm 2008; Dân ca Quan họ, Ca trù được công nhận năm 2009; Hội Gióng
tại đền Sóc và đền Phù Đổng, Hà Nội được công nhận năm 2010; di sản Thực hành
hát Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam được công nhận năm 2019. Các di
sản văn hóa này có sức lan tỏa và hấp dẫn lớn đối với người dân nhiều nước trên
thế giới, góp phần làm phong phú thêm văn hóa, văn minh nhân loại, đúng như C.
Mác và Ph. Ăng-ghen từng viết trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản rằng:
“Những thành quả của hoạt động tinh thần của một dân tộc trở thành tài sản
chung của tất cả các dân tộc... và từ những nền văn học dân tộc và địa phương,
muôn hình muôn vẻ, đang nảy nở ra một nền văn học toàn thế giới”(5).
Từ chỗ chưa có tên trên bản đồ thế giới,
đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với gần 200 quốc gia và vùng
lãnh thổ thuộc các châu lục khác nhau. Tham gia và tham gia ngày càng tích cực
vào nhiều tổ chức và diễn đàn khu vực và toàn cầu, trong đó có Liên hợp quốc,
Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình
Dương (APEC), ASEAN, Đại hội đồng Liên nghị viện Hiệp hội các quốc gia Đông Nam
Á (AIPA), Diễn đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM)... Tổ chức thành công nhiều hội
nghị, đàm phán tầm quốc tế, như Hội nghị cấp cao ASEM; đảm nhiệm thành công vai
trò chủ nhà của APEC năm 2006 và 2017; Hội nghị Cấp cao ASEAN năm 2010; hay
cuộc gặp thượng đỉnh Mỹ - Triều Tiên năm 2019... Qua kênh ngoại giao văn hóa và
nhiều kênh khác, thế giới biết nhiều hơn về một Việt Nam giàu đẹp, hiếu khách,
kiên cường, hòa hiếu, thủy chung với hàng nghìn năm văn hiến; uy tín và ảnh
hưởng của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng tăng; dấu ấn Việt Nam ngày
càng sâu đậm; sức mạnh mềm của Việt Nam nói chung, của văn hóa Việt Nam nói
riêng ngày càng được nhân lên gấp bội, trở thành một trong những động lực thúc
đẩy kinh tế, xã hội Việt Nam ngày càng phát triển. Tại Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XIII, Đảng ta khẳng định: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ,
tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.
Có thể khẳng định, trong bất cứ hoàn
cảnh nào, chiến tranh hay hòa bình, bao vây cấm vận hay hội nhập, sức sống Việt
Nam nói chung, văn hóa Việt Nam nói riêng không ngừng phát triển và lớn mạnh,
luôn luôn trỗi dậy với một sức mạnh phi thường. Với lợi thế của mình, sức mạnh
mềm văn hóa Việt Nam đã góp phần làm sâu sắc thêm giá trị nhân văn, hun đúc nên
tâm hồn, cốt cách, khí phách, bản lĩnh con người Việt Nam, tô thắm lịch sử
vẻ vang của dân tộc.
Tuy nhiên, so với những thành tựu mà
chúng ta đạt được trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối
ngoại..., thành tựu trong lĩnh vực văn hóa chưa tương xứng. “Văn hóa chưa
được quan tâm tương xứng với kinh tế và chính trị, chưa thật sự trở thành nguồn
lực, động lực nội sinh của sự phát triển bền vững đất nước”(6).
Mức đầu tư cho văn hóa mới chỉ bảo đảm duy trì hoạt động “ổn định”, chứ chưa
thực sự có sự đột phá ưu tiên. So với tổng chi thường xuyên của ngân sách Trung
ương, chi cho văn hóa (trong cả giai đoạn 2010 - 2017) cũng chỉ chiếm trung
bình 1,16% và bằng khoảng 0,1% GDP, tức là bằng khoảng 1/5 - 1/6 mức chi cho sự
nghiệp kinh tế và bảo vệ môi trường(7). Một số cơ chế, chính sách về kinh tế trong văn hóa,
văn hóa trong kinh tế, về huy động, quản lý các nguồn lực cho văn hóa còn thiếu
cụ thể, chưa rõ ràng. Hệ thống thiết chế văn hóa và cơ sở vật chất, kỹ thuật
cho hoạt động văn hóa nhìn chung còn thiếu và yếu, có nơi xuống cấp, thiếu đồng
bộ, hiệu quả sử dụng thấp. Đặc biệt, chúng ta vẫn còn có ít tác phẩm văn học,
nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật; chưa có nhiều tác phẩm có
sức lan tỏa lớn ra cộng đồng thế giới.
Một số giải pháp trong thời gian tới
Thứ nhất, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa trong nhận
thức về sự cần thiết phải xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Thực sự coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã
hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Bảo vệ và phát huy các
giá trị tốt đẹp, bền vững trong truyền thống văn hóa Việt Nam. Đó là lòng yêu
nước nồng nàn; lòng tự tôn, tự cường dân tộc; tinh thần cộng đồng gắn kết cá
nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái bao dung, trọng nghĩa tình,
đạo lý; đức tính cần cù sáng tạo trong lao động; là đức hy sinh cao thượng tất
cả vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân; là sự tế nhị trong ứng xử,
tính giản dị trong lối sống(8). Các giá trị này cần được thể hiện trong văn học,
nghệ thuật; trong văn hóa ứng xử, giao tiếp; trong văn hóa ngoại giao..., thu
hút sự quan tâm, tạo nên sức hấp dẫn đối với đông đảo bạn bè trên thế giới. Bên
cạnh đó, “Tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc
gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ
giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới”(9), “Chú trọng nâng cao giá trị tư tưởng, nghệ thuật,
đồng thời bảo đảm tự do, dân chủ trong sáng tạo văn học, nghệ thuật; khuyến
khích những tìm tòi mới làm phong phú thêm bản sắc văn hóa Việt Nam; hạn chế
các lệch lạc, các biểu hiện chạy theo thị hiếu tầm thường”(10).
Thứ hai, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa có
đủ phẩm chất, năng lực và tăng cường nguồn lực cho phát triển văn hóa. Chủ thể
của văn hóa là con người, văn hóa là sản phẩm của con người, do con người và vì
con người. Do đó, muốn xây dựng và phát triển văn hóa nhất định phải có con
người làm (hoạt động) văn hóa, trong đó đội ngũ lãnh đạo, quản lý văn hóa đóng
vai trò hết sức quan trọng. Các giá trị tốt đẹp, bền vững trong văn hóa Việt
Nam có được giữ gìn, phát huy và quảng bá rộng rãi trên thế giới hay không, có
tạo được sự hấp dẫn, thán phục với đông đảo người thụ hưởng văn hóa hay
không... phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ những người làm công tác văn hóa, văn
nghệ, đặc biệt là những cán bộ chủ chốt - với tư cách là chủ thể văn hóa. Do
đó, trong thời gian tới, tập trung: “Đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ lãnh
đạo, chỉ đạo, quản lý, tham mưu trong lĩnh vực văn hóa, văn nghệ, nhất là cán
bộ chủ chốt thực sự am hiểu về văn hóa, có phẩm chất, bản lĩnh,
năng lực chuyên môn, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ”(11).
Trước mắt, cần “Rà soát toàn bộ hệ thống các trường đào tạo văn hóa, văn nghệ,
đổi mới và hiện đại hóa quy trình, nội dung, phương thức đào tạo để trong
5 - 10 năm tới khắc phục về cơ bản sự thiếu hụt đội ngũ cán bộ làm công
tác văn hóa”(12).
Đồng thời, “Tăng cường đầu tư, khai thác và phát huy tối đa các nguồn lực văn
hóa đi đôi với đổi mới nội dung, phương thức quản lý, khắc phục tình trạng
đầu tư dàn trải, kém hiệu quả; tăng cường kiểm tra, giám sát, bảo đảm hiệu quả
đầu tư cao trong lĩnh vực văn hóa”(13).
Thứ ba, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế về văn hóa. Đây
là xu thế của thời đại, toàn cầu hóa và hội nhập thế giới đang thu hút nhiều
quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia, trong đó có Việt Nam. Đại hội XIII của Đảng
nhấn mạnh: “Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về văn hóa, xây dựng Việt
Nam thành địa chỉ hấp dẫn về giao lưu văn hóa quốc tế. Tiếp thu có chọn lọc
tinh hoa văn hóa nhân loại phù hợp với thực tiễn Việt Nam, đồng thời chủ động
nâng cao sức đề kháng của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh, thiếu niên
đối với các văn hóa phẩm ngoại lai độc hại; từng bước đưa văn hóa Việt Nam đến
với thế giới”(14).
Theo đó, đẩy mạnh việc quảng bá, giao lưu, phổ biến văn hóa Việt Nam ra thế
giới, nhất là yếu tố “mềm” của văn hóa (hệ giá trị, chuẩn mực, niềm tin...);
xây dựng một số trung tâm văn hóa Việt Nam ở nước ngoài và trung tâm dịch
thuật; chủ động mở rộng và tích cực hợp tác văn hóa với các nước, thực hiện đa
dạng các hình thức văn hóa đối ngoại, đưa các quan hệ quốc tế về văn hóa đi vào
chiều sâu, đạt hiệu quả thiết thực.
Cùng với việc tiếp thu có chọn lọc các
giá trị nhân văn, khoa học, tiến bộ của văn hóa các nước trên thế giới, cần
khắc phục những tác động xấu, tiêu cực len lỏi vào văn hóa Việt Nam, nhất là
tình trạng nhập khẩu, quảng bá, tiếp thu dễ dãi, thiếu chọn lọc sản phẩm văn
hóa nước ngoài có tác động tiêu cực đến đời sống văn hóa của một bộ phận nhân
dân. “Kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc,
phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị - xã hội, thuần phong mỹ tục”(15).
Thứ tư,
trong điều kiện công nghệ số và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cần
“phát triển có trọng tâm, trọng điểm ngành công nghiệp văn hóa và dịch vụ văn
hóa..., vận dụng có hiệu quả các giá trị, tinh hoa và thành tựu mới của văn
hóa, khoa học, kỹ thuật, công nghệ của thế giới”(16);
gắn phát triển văn hóa với phát triển du lịch và dịch vụ văn hóa, đưa du lịch
thành một ngành kinh tế mũi nhọn, tạo thế đan xen lợi ích và độ tin cậy để văn
hóa Việt Nam ngày càng lan tỏa sâu, rộng hơn ra thị trường văn hóa thế giới; để
thế giới biết nhiều hơn, chính xác hơn về đất nước, con người Việt Nam tươi
đẹp, giàu bản sắc./.
Nguồn: TCCS
(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I,
tr. 145
(2) Văn
kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr. 40
(3) Phạm Văn Đồng: Văn
hóa và đổi mới, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994,
tr. 17
(4) Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd,
t. I, tr. 64
(5) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb.
Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2002, t. 4, tr. 602
(6) Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd,
t. I, tr. 84
(7) Ngô Thắng Lợi: “Tác động của tăng trưởng kinh tế đến phát triển văn hóa ở
Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 12-6-2019, http://tapchicongsan.org.vn/nghien-cu/-/2018/495217/tac-dong-cua-tang-truong-kinh-te-den-phat-trien-van-hoa-o-viet-nam-hien-nay.aspx
(8)Văn kiện Hội nghị lần
thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Sđd, tr. 10 - 11
(9), (10) Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd,
t. I, tr. 143, 145