Thứ Hai, 4 tháng 7, 2022

Vận dụng phương pháp của V.I. Lê-nin trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ở Việt Nam

 

Vận dụng phương pháp của V.I. Lê-nin trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ở Việt Nam

NGUYỄN HỮU CẦN - LƯƠNG THANH DUY
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
22:32, ngày 25-06-2022

TCCS - Trong quá trình hoạt động cách mạng, V.I. Lê-nin luôn kiên quyết đấu tranh chống những trào lưu tư tưởng phi mác-xít chống phá phong trào cách mạng. Đây là vấn đề mang ý nghĩa sống còn đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, góp phần bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác, bảo vệ phong trào cách mạng và đã để lại những bài học có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc về phương pháp đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cho hiện nay.

Đôi nét về phương pháp của V.I.Lê-nin trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

V.I. Lê-nin chỉ rõ, phong trào công nhân cần có một đảng cách mạng lãnh đạo, đó phải là một đảng kiểu mới, thật sự có năng lực xây dựng cương lĩnh chính trị đúng đắn để lãnh đạo cách mạng. V.I. Lê-nin nhấn mạnh, đảng kiểu mới là đảng lấy chủ nghĩa Mác - lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học - làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của mình. Bởi “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng”(1) và “chỉ đảng nào được một lý luận tiên phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiền phong”(2). Quá trình hình thành, phát triển của chủ nghĩa Mác cho thấy, chủ nghĩa Mác không phải ngay từ đầu đã khẳng định được địa vị của mình, mà quá trình đó luôn gắn chặt với cuộc đấu tranh không khoan nhượng chống các trào lưu tư tưởng đối lập cùng thâm nhập vào phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Đây là tính quy luật trong phát sinh, hình thành, phát triển và hoàn thiện của bất cứ một học thuyết cách mạng nào.

Trong quá trình hoạt động cách mạng, V.I. Lê-nin luôn kiên quyết đấu tranh chống những trào lưu tư tưởng phi mác-xít chống phá phong trào cách mạng _Tranh: Tư liệu

Theo Lê-nin, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng chính là cuộc đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác, làm thất bại các trào lưu tư tưởng sai trái, phản động, phản khoa học, khẳng định bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác trong Đảng, trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. “Nếu không có cuộc đấu tranh quyết định và thẳng tay về mọi mặt để chống lại các đảng ấy - hoặc các nhóm ấy, các phái ấy, v.v., cũng vậy thôi - thì không thể nói đến đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, nói đến chủ nghĩa Mác, nói đến phong trào công nhân xã hội chủ nghĩa”(3). Thực tiễn cách mạng đã chứng minh từ năm 1840 đến nửa cuối những năm 70 của thế kỷ XIX, C. Mác và Ph. Ăng-ghen đã phải đấu tranh không khoan nhượng với các trào lưu tư tưởng đối lập, phản động, phản khoa học. Từ phái Hê-ghen trẻ cấp tiến - phái tuyên truyền quan điểm của chủ nghĩa duy tâm triết học, đến lý luận kinh tế, chống chủ nghĩa xã hội không tưởng tiểu tư sản của Pru-đông. Từ các quan điểm vô chính phủ của phái Ba-cu-nin và loại bỏ phái này ra khỏi Quốc tế I, đến tư tưởng Muyn-béc-giơ thuộc phái kinh tế của Lát-xan nổi lên ở Đức... Từ đó, chủ nghĩa Mác đã chiến thắng tất cả những tư tưởng đối lập và chiếm vị trí độc tôn trong phong trào công nhân quốc tế. 

Kế tục sự nghiệp của C. Mác và Ph. Ăng-ghen, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, V.I. Lê-nin luôn đấu tranh chống các trào lưu tư tưởng phi mác-xít, phần tử cơ hội chủ nghĩa biểu hiện dưới nhiều hình thái khác nhau nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng, lý luận của phong trào cách mạng nói chung, của Đảng Cộng sản Nga nói riêng. Đây là một phần không thể thiếu trong quá trình phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Cuộc đấu tranh nhằm bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác của V.I. Lê-nin không những trực tiếp đánh bại mọi trào lưu tư tưởng đối lập, thù địch với chủ nghĩa Mác, nhằm làm cho chủ nghĩa Mác không ngừng phát triển và hoàn thiện, trở thành ngọn cờ tư tưởng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới vì chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, mà còn để lại những bài học có giá trị to lớn về phương pháp đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cho các đảng cộng sản, công nhân quốc tế trên thế giới. Từ thực tiễn đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng của V.I. Lê-nin, có thể khái quát phương pháp của V.I.Lê-nin trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên một số nét chính sau:

Thứ nhất, tuyên truyền, giáo dục về bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác, làm cho chủ nghĩa Mác phát triển không ngừng. Đây là phương pháp cơ bản mà V.I. Lê-nin sử dụng trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, nhằm làm cho quần chúng lao động, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế nhận thức sâu sắc bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác, làm cơ sở “miễn dịch” trước âm mưu, thủ đoạn chống phá tinh vi, xảo quyệt của các thế lực phản động, thù địch. V.I. Lê-nin cho rằng: “Nhiệm vụ của đảng dân chủ - xã hội chính là ở chỗ phải dùng phương pháp tổ chức công nhân, tuyên truyền và cổ động họ để biến cuộc đấu tranh tự phát của họ chống bọn áp bức, thành một cuộc đấu tranh của toàn thể giai cấp, thành cuộc đấu tranh của một đảng chính trị nhất định, để đạt tới những lý tưởng chính trị và xã hội chủ nghĩa nhất định”(4). “Chỉ khi nào mỗi người công nhân riêng rẽ đều có ý thức rằng mình là thành viên của toàn bộ giai cấp công nhân, chỉ khi nào người công nhân đó nhận thấy rằng cuộc đấu tranh hàng ngày cho những yêu sách nhỏ, chống những tên chủ riêng rẽ và những tên quan lại riêng rẽ, là cuộc đấu tranh chống toàn bộ giai cấp tư sản và toàn thể chính phủ, chỉ khi đó cuộc đấu tranh của anh ta mới trở thành đấu tranh giai cấp”(5).

Theo V.I. Lê-nin, muốn phát triển chủ nghĩa Mác thì phải hiểu đúng, sâu sắc, toàn diện chủ nghĩa Mác. Đặc biệt, việc nghiên cứu, tìm hiểu sâu sắc bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác còn là cơ sở để giai cấp công nhân và nhân dân lao động nhận rõ bản chất phản động, âm mưu, thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, phản động. V.I. Lê-nin giải thích rằng, ý thức giác ngộ xã hội chủ nghĩa không phải phát sinh từ phong trào tự phát của công nhân, mà do Đảng Mác-xít cách mạng đưa vào phong trào công nhân. Đồng thời, một nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của đảng vô sản là đấu tranh bảo vệ sự trong sáng của hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, chống ảnh hưởng tư sản trong giai cấp công nhân, chống bọn cơ hội, xét lại - những kẻ truyền bá và là đại diện của hệ tư tưởng tư sản trong phong trào công nhân.

Cùng với việc đi sâu nghiên cứu chủ nghĩa Mác, V.I. Lê-nin còn tích cực phát triển, hiện thực hóa chủ nghĩa Mác, coi đây là biện pháp tốt nhất để đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác. Theo V.I. Lê-nin, vấn đề này đòi hỏi không chỉ lòng dũng cảm, sự cố gắng phi thường, lòng nhiệt huyết cách mạng, mà còn là hành động cách mạng thực sự của quần chúng lao động trong xây dựng chủ nghĩa xã hội. Bởi lẽ, sức sống của chủ nghĩa Mác, khả năng bảo vệ, phát triển của chủ nghĩa Mác không chỉ ở sức mạnh và khả năng tự thân, mà quan trọng hơn là nằm ở hoạt động của triệu triệu quần chúng, cán bộ, đảng viên cộng sản, khi họ đã nhận thức và tin tưởng sâu sắc sự đúng đắn bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác. Điều đó đã tạo nên sức sống mãnh liệt của chủ nghĩa Mác, đem lại sức mạnh cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, làm cơ sở để chiến thắng các tư tưởng đối lập xuất hiện cả ở trong và ngoài phong trào công nhân.

Thứ hai, kiểm tra, phát hiện kịp thời, thanh lọc nhằm loại bỏ những phần tử cơ hội chủ nghĩa trong nội bộ Đảng, xây dựng chính đảng kiểu mới, trong sạch, vững mạnh của giai cấp công nhân. Đây là phương pháp chủ yếu, hàng đầu được V.I. Lê-nin tiến hành khi đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Tư tưởng đó của Người được thể hiện trong nhiều tác phẩm kinh điển, các bài viết chỉ đạo phong trào cách mạng của giai cấp công nhân trên toàn thế giới nói chung, ở nước Nga nói riêng. Theo V.I. Lê-nin, các phần tử cơ hội chủ nghĩa thường len lỏi vào trong hàng ngũ những người cộng sản để phá hoại tổ chức đảng từ bên trong; hành động chống phá của các phần tử này rất nguy hiểm, đe dọa trực tiếp đến sự trong sạch, vững mạnh của tổ chức đảng. Người chỉ rõ: “bộ máy nhà nước của chúng ta, trong một mức độ rất lớn, vẫn còn là một tàn dư của thời trước, và rất hiếm được sửa đổi một cách ít nhiều đáng kể. Bộ máy ấy chỉ mới được tô điểm sơ qua bên ngoài; ngoài ra, nó vẫn là điển hình thật sự của bộ máy nhà nước cũ ở ta”(6). “Ở nước ta, vẫn còn không ít những phần tử tệ hại nhất của giới trí thức tư sản đã “luồn lỏi” vào trong Chính quyền xô-viết: tống cổ chúng đi”(7).

Khi đảng cộng sản đã nắm quyền lãnh đạo đất nước, V. I. Lê nin chỉ ra và cảnh báo về những căn bệnh đã và đang trở thành nguy cơ hiện hữu đe dọa sự tồn vong của chế độ xã hội mới và để kẻ thù lợi dụng hòng xóa bỏ mọi thành quả của cách mạng. Đó là những căn bệnh kiêu ngạo cộng sản, quan liêu, tham nhũng, hối lộ, xa hoa, lãng phí... Người chỉ rõ: “Tính kiêu ngạo cộng sản chủ nghĩa, có nghĩa là một người ở trong đảng cộng sản, và chưa bị thanh trừ ra khỏi đảng, tưởng rằng chỉ bằng những pháp lệnh cộng sản là có thể giải quyết được tất cả mọi nhiệm vụ của mình”(8) và “nếu còn có một hiện tượng như nạn hối lộ, nếu còn có thể hối lộ được, thì cũng không thể nói đến chính trị được. Trong trường hợp này, thậm chí cũng không thể nói đến làm chính trị được, vì mọi biện pháp đều sẽ lơ lửng trên không trung, sẽ hoàn toàn không mang lại kết quả gì cả”(9).

V.I. Lê-nin đã đưa ra quan điểm dứt khoát về quá trình thanh lọc bộ máy nhà nước: “phải vĩnh viễn vứt bỏ ngay tất cả những tiêu chuẩn chung về số lượng nhân viên của các cơ quan thuộc bộ ấy. Chúng ta phải lựa chọn đặc biệt cẩn thận những cán bộ của Bộ dân ủy thanh tra công nông, căn cứ vào một sự kiểm tra nghiêm ngặt nhất, chứ không khác được”(10). Điều đó nghĩa là, phải lựa chọn những người thực sự ưu tú trong chế độ xã hội để sử dụng trong bộ máy của Nhà nước, nhất là đối với những thành viên của Ủy ban Thanh tra Trung ương. Sử dụng con người phải đúng việc, cân nhắc thận trọng, coi việc thiết lập Bộ Dân ủy thanh tra công nông mới là cần thiết. Vì vậy, V.I. Lê-nin khẳng định, Đảng cần kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng để tẩy sạch các phần tử tha hóa, biến chất trong tổ chức của mình, nhằm làm trong sạch Đảng. Người cũng chỉ ra, cần lựa chọn những cán bộ cách mạng có phẩm chất cách mạng và tri thức tốt để phục vụ cách mạng.

Thứ ba, phê phán, đấu tranh không khoan nhượng, trực diện, trực tiếp với những quan điểm, tư tưởng, âm mưu, thủ đoạn chống phá của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, phản động, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, của phong trào cách mạng. Đây là phương pháp cơ bản, quan trọng, thường xuyên được V.I. Lê-nin sử dụng trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. V.I. Lê-nin là lãnh tụ của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, là người tiên phong trong đấu tranh làm thất bại những đòn tiến công hiểm độc của các thế lực thù địch, phản động trên mặt trận tư tưởng, lý luận. Tuy nhiên, ở mỗi thời kỳ, nội dung, hình thức, lực lượng, phương tiện, thủ đoạn chống phá của chúng đối với chủ nghĩa Mác không giống nhau. Do vậy, để đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác có hiệu quả, V.I. Lê-nin lưu ý trước hết cần nhận rõ mục đích, âm mưu, thủ đoạn, lực lượng, phương tiện mà các thế lực thù địch, phản động, phản khoa học sử dụng để chống phá chủ nghĩa Mác.

Với tư duy luận chiến sắc sảo, V.I. Lê-nin đã đấu tranh trực tiếp, trực diện với từng quan điểm, tư tưởng chống phá chủ nghĩa Mác. Người yêu cầu những người cộng sản chân chính phải tỏ rõ thái độ dứt khoát, không mơ hồ, thỏa hiệp, kiên quyết đấu tranh trực diện, trực tiếp với chính những quan điểm, tư tưởng phản động của các thế lực thù địch. Chẳng hạn, trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, bằng việc điểm mặt, chỉ tên rõ các phần tử cơ hội chủ nghĩa, V.I. Lê-nin đã trực tiếp luận chiến, vạch trần âm mưu, bản chất phản động của chúng. Người khẳng định: “Và chính hồi đó, vị lãnh tụ của Quốc tế II, ông Cau-xky đã cho xuất bản một cuốn sách về chuyên chính vô sản, nghĩa là về cách mạng vô sản, một cuốn sách còn trăm lần đê tiện, đáng ghét và phản bội hơn cuốn sách lừng danh “Những tiền đề của chủ nghĩa xã hội” của Bécstanh”(11) và “Cau-xky đã vứt bỏ... “đấu tranh giai cấp” áp dụng vào chế độ dân chủ! Cau-xky đã trở thành một tên phản bội hoàn toàn, một tên đày tớ của giai cấp tư sản”(12). Trong cuộc đấu tranh chống Crít-sép-xki, Mác-tư-nốp cùng đồng bọn cổ vũ cho sự phát triển của chủ nghĩa công liên, V.I. Lê-nin đã đấu tranh trực diện với các phần tử cơ hội chủ nghĩa đó: “Tôi không hề có ý nghi ngờ sự trong sạch của các ý định của ông; tôi đã nói rằng người ta cũng có thể trở thành người mị dân chỉ vì ngây thơ về chính trị thôi. Nhưng tôi đã vạch rõ rằng ông đã tự để cho mình rơi vào chỗ mị dân. Và tôi sẽ không ngừng nhắc lại rằng những người mị dân là kẻ thù tệ hại nhất của giai cấp công nhân”(13).

Bốn là, kiên quyết khắc phục những biểu hiện sai trái trong nhận thức, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác. Hoạt động nhận thức, vận dụng chủ nghĩa Mác của mỗi người cộng sản vừa phản ánh kết quả tuyên truyền, giáo dục, vừa thể hiện sức sống của chủ nghĩa Mác trong hiện thực. Những nhận thức sai trái, vận dụng không đúng đắn trong thực tiễn ảnh hưởng rất lớn đến uy tín, sức sống của chủ nghĩa Mác cũng như khả năng đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Ảnh hưởng tiêu cực này càng lớn nếu phạm vi nhận thức, vận dụng sai trái đó ở quy mô lớn, thời gian dài, nhất là đối với những đảng viên giữ vị trí, vai trò quan trọng trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. V.I.Lê-nin kịch liệt lên án cách hiểu chủ nghĩa Mác một cách giáo điều, máy móc, ở trình độ cảm tính, tư duy kinh nghiệm. Họ quy giản chủ nghĩa Mác vào một số nguyên lý, quy luật, phạm trù; vi phạm nguyên tắc khách quan. Hậu quả của tình trạng này sẽ làm suy giảm nghiêm trọng uy tín, sức sống của chủ nghĩa Mác, thậm chí trực tiếp tạo ra những phần tử cơ hội chống phá cách mạng.

Giai đoạn năm 1895 - 1898, phái “kinh tế” bao gồm các phần tử cơ hội, thỏa hiệp đầu tiên trong hàng ngũ các tổ chức mác-xít ở Nga. V.I. Lê-nin coi luận điệu tuyên truyền của phái “kinh tế” là phản lại chủ nghĩa Mác, là phủ nhận sự cần thiết phải thành lập một chính đảng độc lập của giai cấp công nhân; là mưu mô muốn biến giai cấp công nhân thành vật phụ thuộc về chính trị của giai cấp tư sản. V.I. Lê-nin cho rằng, phái “kinh tế” là trung tâm của chính sách thỏa hiệp và chủ nghĩa cơ hội; trong phong trào công nhân, nếu phái “kinh tế” thắng nghĩa là phong trào cách mạng tan rã và chủ nghĩa Mác thất bại. Do đó, muốn thành lập được chính đảng của giai cấp vô sản thì phải đánh bại phái “kinh tế”. 

Định hướng vận dụng phương pháp của V.I. Lê-nin trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay

Một là, nâng cao nhận thức cho toàn Đảng, toàn dân, mỗi cán bộ, đảng viên về bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là định hướng cơ bản trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Bởi vì, nếu đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng không kiên định, thiếu nhận thức hoặc nhận thức không đúng đắn về bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ là cơ hội cho sự gia tăng hệ tư tưởng tư sản trong Đảng và xã hội. Đối với vấn đề này, V.I. Lê-nin từng nhấn mạnh: “vấn đề đặt ra chỉ là như thế này: hệ tư tưởng tư sản hoặc hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Không có hệ tư tưởng trung gian. Vì vậy, mọi sự coi nhẹ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, mọi sự xa rời hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa đều có nghĩa là tăng cường hệ tư tưởng tư sản”(14). Sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô (trước đây) và các nước Đông Âu là bài học minh chứng cho sự thiếu kiên định vào chủ nghĩa Mác - Lê-nin;  các đảng cộng sản ở các nước Đông Âu và Liên Xô bị khủng hoảng sâu sắc về tư tưởng và tổ chức, chuyển hướng sang đảng xã hội dân chủ.

Hơn nữa, đây còn là vấn đề nguyên tắc trong xây dựng Đảng. Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng. Văn kiện Đại hội VII của Đảng đã khẳng định: “Kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin là vấn đề có tính nguyên tắc số một đối với Đảng ta”(15). Chỉ có như vậy Đảng mới thống nhất, đoàn kết về chính trị, tư tưởng, tổ chức, mới làm tròn vai trò lãnh đạo cách mạng để đi đến thắng lợi cuối cùng. Vì rằng, bản chất chính trị của một đảng bao giờ cũng phụ thuộc vào tính chất và nội dung hệ tư tưởng, lý luận mà đảng đó lựa chọn làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Nếu không có hệ tư tưởng, lý luận dẫn đường, đảng chính trị chỉ là một tập hợp ngẫu nhiên, rời rạc, thiếu thống nhất và không có sức mạnh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”(16). Nếu không kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thì chính là sự thay đổi bản chất chính trị, giai cấp của Đảng; không còn giữ được tính chất cộng sản, không còn là đội tiên phong của giai cấp công nhân.

Đảng ta kiên định lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng (Trong ảnh: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng gặp gỡ các đại biểu dự Đại hội XIII của Đảng, tháng 1-2021) _Ảnh: Tư liệu

Để bảo đảm sự kiên định đó, đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ nhiều nội dung, biện pháp phù hợp, khoa học, trong đó tập trung vào các nội dung, biện pháp chủ yếu là: nâng cao chất lượng học tập, nghiên cứu, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; làm cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo về chính trị, tư tưởng trong Đảng và toàn xã hội. Kiên định các nguyên lý nền tảng, nguyên tắc, quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Đây là biện pháp đặc biệt quan trọng, giúp Đảng ta luôn giữ vững bản chất chính trị, không dao động trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào, nhất là trước các luận điệu xuyên tạc, chống phá của các phần tử cơ hội chủ nghĩa và các thế lực thù địch, phản động.

Hai là, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải tuân thủ nghiêm ngặt những vấn đề có tính nguyên tắc đó là: Giữ vững nguyên tắc tính Đảng Cộng sản Việt Nam trong đấu tranh tư tưởng, lý luận; vận dụng nhuần nhuyễn nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn; tính chính trị và tính khoa học trong đấu tranh tư tưởng, lý luận; kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; chủ động, sáng tạo, thường xuyên, liên tục, kiên trì, bền bỉ, chiến đấu không khoan nhượng trong đấu tranh tư tưởng, lý luận. Thực hiện định hướng này sẽ bảo đảm hoạt động đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng của mọi tổ chức, lực lượng luôn giữ vững định hướng chính trị, hướng tới hoàn thành mục tiêu của cuộc đấu tranh, làm cho chất lượng, hiệu quả của cuộc đấu tranh đó không ngừng được nâng cao. Đồng thời, khắc phục được tư tưởng, hành động tùy tiện, vô nguyên tắc, kém thuyết phục, kém hiệu quả; không vô tình hoặc cố ý cổ súy, phát tán những quan điểm sai trái, thù địch trên các phương tiện thông tin.

Quán triệt và thực hiện nghiêm túc yêu cầu này trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đòi hỏi mọi tổ chức, mọi lực lượng phải đặt dưới sự lãnh đạo chặt chẽ của các cấp ủy; phải trung thành tuyệt đối và nắm vững đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng, giữ vững bản chất giai cấp công nhân, không mơ hồ về bản chất giai cấp công nhân của Đảng ta. Cùng với đó, đòi hỏi khi tham gia đấu tranh chống các quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch, cho dù ở hình thức, phương pháp nào cũng phải chủ động bám sát tình hình thực tiễn, nghiên cứu lý luận phải xuất phát từ thực tiễn. Khi đấu tranh, không được xa rời mục tiêu, nguyên tắc chính trị, vững vàng về bản lĩnh chính trị, đồng thời gia tăng hàm lượng khoa học trong từng hình thức, phương pháp đấu tranh. Kiên định những nguyên tắc lý luận, phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh phải khẳng định bản chất khoa học, cách mạng của học thuyết, tư tưởng đó;  đồng thời, phải vạch trần tính chất phản khoa học, phản động của những quan điểm, tư tưởng sai trái đã, đang và sẽ xuất hiện ngày càng nhiều trên các phương tiện thông tin hiện nay.

Các tổ chức, lực lượng tham gia đấu tranh phải luôn quán triệt tư tưởng cách mạng không ngừng, chủ động tiến công, đồng thời luôn luôn sáng tạo, linh hoạt về phương pháp, kiên quyết giành thắng lợi và không khoan nhượng, thỏa hiệp với các quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch; phải nâng cao tính dự báo, tính kế hoạch, chủ động tổ chức các lực lượng đấu tranh; đấu tranh thường xuyên, liên tục, bền bỉ, gia tăng về phạm vi, chiều sâu, tầm cao; thường xuyên nêu cao cảnh giác, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.

Ba là, phát huy sức mạnh các tổ chức, các lực lượng trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Sức mạnh của cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là sức mạnh tổng hợp của cả đất nước, dân tộc, của mọi cấp, mọi ngành, mọi lực lượng, mọi nguồn lực của quốc gia. Không thể có bất kỳ một lực lượng riêng lẻ nào có thể tiến hành thành công cuộc đấu tranh này nếu không có sự phối kết hợp chặt chẽ với các lực lượng, nguồn lực khác của cả hệ thống chính trị. Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ hết sức khó khăn, phức tạp đòi hỏi phải phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các lực lượng của cả hệ thống chính trị. Nắm vững yêu cầu này, triển khai linh hoạt và sáng tạo trong thực tiễn cuộc đấu tranh sẽ tạo thêm những xung lực mới, giúp các tổ chức, các lực lượng đấu tranh ngày càng thiết thực và hiệu quả hơn.

Thực tế đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ở nước ta cho thấy, “Một số cấp ủy chưa thật sự quan tâm và coi trọng công tác tư tưởng; có biểu hiện hữu khuynh, nể nang, né tránh đối với những quan điểm sai trái có tính nguyên tắc”(17). Do đó, để thực hiện tốt định hướng này cần nâng cao trách nhiệm, phát huy vai trò của các cấp ủy trong tổ chức, chỉ đạo, lãnh đạo cuộc đấu tranh; vai trò của các ban chỉ đạo từ Trung ương đến các địa phương trong tham mưu, hướng dẫn, điều hành; vai trò của các chủ thể và lực lượng đấu tranh gián tiếp và đấu tranh trực tiếp, nhất là lực lượng nòng cốt, như đội ngũ cán bộ lý luận, cán bộ nghiên cứu của Đảng, các nhà khoa học, các chuyên gia đầu ngành, các cơ quan, viện nghiên cứu, thông tấn, báo chí, đài truyền thanh, truyền hình; vai trò của các công cụ và phương tiện, thiết chế giáo dục và tuyên truyền... Các cấp, các ngành, các lực lượng trong hệ thống chính trị phải có sự phối hợp và tổ chức chặt chẽ với nhau, tạo thành thế trận liên hoàn đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đạt hiệu quả cao.

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Ban Tuyên giáo Trung ương, Hội đồng Lý luận Trung ương, Tạp chí Cộng sản, Báo Nhân dân và Hội Nhà báo Việt Nam phối hợp tổ chức họp báo phát động Cuộc thi viết chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch lần thứ hai, năm 2022 _Ảnh: TTXVN

Bốn là, sử dụng đa dạng các hình thức, phương pháp đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đây là định hướng rất quan trọng, nhất là trong bối cảnh cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận chịu sự chi phối và tác động sâu sắc từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Quán triệt và thực hiện hiệu quả định hướng này sẽ khơi dậy và phát huy cao độ khả năng, thế mạnh, sở trường của các tổ chức, các lực lượng trong tham gia cuộc đấu tranh phức tạp này; trực tiếp nâng cao hiệu quả đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi các quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch. Hiện nay, hoạt động chống phá trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận vô cùng phong phú, đa dạng, phức tạp, triển khai trên diện rộng và chiều sâu, diễn biến rất nhanh chóng, khó lường. Đây là cuộc chiến không tiếng súng, đánh vào trái tim, khối óc con người, rất nguy hiểm, phức tạp, khó nhận biết và ngày càng tinh vi, hiểm  độc. Chúng chống phá trên mọi lĩnh vực, bằng mọi thủ đoạn, nội dung, hình thức, phương pháp. Nếu các lực lượng tham gia đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng chỉ theo một chiều khuôn sáo, theo công thức định sẵn, không chú ý đến các vấn đề mới nảy sinh từ thực tiễn, không sử dụng đa dạng các hình thức, phương pháp đấu tranh phù hợp, sẽ khó có thể đủ sức thuyết phục, đồng thời không khơi dậy và phát huy được tính độc lập, sáng tạo của các lực lượng tham gia đấu tranh, làm cho cuộc đấu tranh khó đạt được mục tiêu đã xác định.

Thực hiện định hướng này, đòi hỏi các tổ chức, các lực lượng tham gia đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải thường xuyên trau dồi, nâng cao tri thức khoa học, bản lĩnh chính trị, kỹ năng nhận diện và đấu tranh trên các mặt trận tư tưởng, lý luận; thường xuyên bám sát thực tiễn của cuộc đấu tranh, nhất là hoạt động chống phá của các thế lực thù địch để lựa chọn hình thức, phương pháp đấu tranh phù hợp, hiệu quả; tổ chức tốt việc sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm, trao đổi, truyền thụ kinh nghiệm giúp cho các chủ thể tìm ra hình thức, phương pháp tổ chức đấu tranh có hiệu quả hơn./.

----------------

Học tập phương pháp tư duy Hồ Chí Minh để nâng cao năng lực tư duy cho đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay

 

Học tập phương pháp tư duy Hồ Chí Minh để nâng cao năng lực tư duy cho đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay

TS. NGUYỄN DUY QUỲNH
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
20:09, ngày 29-06-2022

TCCS - Tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những tài sản tinh thần vô giá của dân tộc Việt Nam. Hiểu rõ những nội dung cơ bản của phương pháp tư duy Hồ Chí Minh - một nội dung trong di sản của Người - để vận dụng vào nâng cao năng lực tư duy cho đội ngũ cán bộ, đảng viên là biện pháp quan trọng góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị, đóng góp vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước hiện nay.

Những nội dung cơ bản của phương pháp tư duy Hồ Chí Minh

Đề cao tinh thần độc lập, tự chủ và sáng tạo

Đây là nội dung bao trùm và điển hình nhất trong phương pháp tư duy Hồ Chí Minh. Trong phương pháp tư duy của Người, độc lập đồng nghĩa với không phụ thuộc, không bắt chước, không theo đuôi bất kỳ một lý luận nào nếu không có sự đánh giá cẩn trọng, khoa học của chủ thể. Mặc dù con đường nhận thức chân lý bao giờ cũng có sự kế thừa, nhưng là sự kế thừa biện chứng, kế thừa và phát triển với tính độc lập của chủ thể nhận thức, không phải là sự bắt chước, rập khuôn cách máy móc. Tự chủ có nghĩa là xuất phát từ vị trí, vai trò của mình, chủ thể tự thân làm chủ mọi suy nghĩ, hành vi của mình, làm chủ công việc của mình, tự thấy mình phải có trách nhiệm với tập thể, với quốc gia, với dân tộc mình. Sáng tạo là sẵn sàng từ bỏ những cái cũ, cái lạc hậu, cái không còn phù hợp đang cản trở sự phát triển; đồng thời, tìm kiếm, học hỏi, đề xuất những cái mới có khả năng đáp ứng những đòi hỏi của cuộc sống.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Xưởng may 10, Người góp ý về cách cắt may sao cho nhanh, tiết kiệm, bảo đảm chất lượng, ngày 8-1-1959_Nguồn: hochiminh.vn

Tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo trong phương pháp tư duy Hồ Chí Minh hình thành từ sớm, bộc lộ càng rõ trong quá trình Người tìm đường cứu nước. Đến khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp cận với chủ nghĩa Mác - Lê-nin thì tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo càng được nâng cao, đã trở thành một phẩm chất bền vững, được thể hiện trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Chính điều đó đã làm cho tư duy của Chủ tịch Hồ Chí Minh khác biệt so với tư duy của các nhà yêu nước tiền bối và đương thời, như Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường... về con đường cứu nước, mặc dù không ai phủ nhận các ông đều mong muốn giành độc lập cho đất nước, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao tinh thần độc lập, tự chủ và sáng tạo trong mọi hoạt động thực tiễn của mình. Người đã tư duy để đối chiếu, so sánh, chắt lọc và tổng hợp những dữ liệu, những kinh nghiệm mà cuộc sống đã đem lại, những tư tưởng của các thế hệ đi trước đã gợi mở, để từ đó đi đến những nhận định mới, những kết luận mới và những tư tưởng mới. Phương pháp tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh dựa trên cơ sở tính cách mạng triệt để, tính biện chứng chặt chẽ và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Từ đó, Người đã từng bước xác lập cả một hệ thống tư tưởng, luận điểm sáng tạo của riêng mình.

Quyết tâm vượt lên mọi thành kiến tư tưởng

Đối với mỗi con người, để vượt qua được những thành kiến do lối mòn tư tưởng cũ chi phối là một việc không dễ. Trong khi đó, khác với tất cả những nhà yêu nước đương thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn biết vượt lên những thành kiến tư tưởng và thể hiện năng lực làm chủ bản thân rất cao. Không đi theo con đường cứu nước mà các vị tiền bối đã thực hiện, Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định đi ra nước ngoài, tới chính đất nước của kẻ thù đang giày xéo, đặt ách thống trị lên Tổ quốc mình để tìm đường cứu nước, cứu dân, mang lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, để tìm hiểu xem những gì ẩn giấu “đằng sau khẩu hiệu “tự do, bình đẳng, bác ái là gì?”. Liệu người dân ở đó có được tự do, bình đẳng và hạnh phúc thực sự hay không?

Ngay từ năm 1921, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh không đồng tình với ý kiến cho rằng, Đông Dương chưa thể tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lê-nin do giai cấp vô sản ở Đông Dương chưa phát triển. Cùng với đó, Người đã tích cực tiếp thu, vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận cách mạng vô sản của V.I. Lê-nin và kiên quyết đấu tranh cho tư tưởng này được hiện thực hóa trên thực tế. Nguyễn Ái Quốc đề nghị: “Đảng phải tuyên truyền chủ nghĩa xã hội trong tất cả các nước thuộc địa”(1). Từ những điều kiện lịch sử - xã hội của các nước phương Đông, Người nhận thấy chủ nghĩa cộng sản hoàn toàn có thể thâm nhập, tồn tại và phát triển ở châu Á, thậm chí còn dễ dàng hơn so với châu Âu: “những lý do lịch sử cho phép chủ nghĩa cộng sản thâm nhập vào châu Á dễ dàng hơn là ở châu Âu”(2).

Trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945 khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn bản Tuyên ngôn độc lập của Mỹ cũng như bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp. Tuy nhiên, Người không chỉ dừng lại ở việc trích dẫn 2 bản tuyên ngôn đó, khẳng định quyền tự do của mỗi cá nhân như tinh thần của 2 bản tuyên ngôn này, mà còn khẳng định quyền độc lập, tự do và quyền bình đẳng cho các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.

Gắn lý trí với những tình cảm trong sáng, tình yêu thương con người, thực hiện công cuộc xây dựng và cải tạo xã hội

Cốt lõi của tình cảm cách mạng là đạo đức cách mạng. Tình cảm cách mạng là khởi nguồn để có sáng tạo cách mạng. Khi tình cảm đã nhạt phai thì trí tuệ cũng sẽ chịu ảnh hưởng không tốt. Ngược lại, tình cảm mù quáng thì lý trí sẽ mất phương hướng. Tình cảm có những quy luật riêng của mình. Nếu là xúc cảm nhất thời, nó thường đi đôi với nhận thức cảm tính, bồng bột, thoáng qua và thiếu bền vững. Song ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, những tình cảm trong sáng, rất mãnh liệt bao giờ cũng chịu sự điều chỉnh, hướng dẫn chặt chẽ của lý trí. Đó là bởi, tình cảm của Người dựa trên sự thấu hiểu sâu sắc về con người, điều chỉ có ở một nhân cách lớn. Cả cuộc đời của Người là một tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng, về sự thống nhất giữa lý trí với những tình cảm trong sáng, thấm đẫm tình yêu thương con người.

Ngay từ khi còn nhỏ, Người đã xúc động trước tình cảnh người dân trên quê hương mình bị thực dân Pháp áp bức, bóc lột, hành hạ một cách dã man. Có thể thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, cho nên đi tới đâu Người cũng chú ý tới hai cảnh sống trái ngược giữa nhân dân lao động với tầng lớp thống trị, giữa người bóc lột và người bị bóc lột; đồng thời, luôn có sự thấu cảm sâu sắc trước những khó khăn, tủi nhục, vất vả của những người bị bóc lột và cuộc sống lầm than của nhân dân lao động.

Tình yêu thương đồng bào, Tổ quốc và tình yêu thương con người đã đưa Người đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Đồng thời, chính lý luận cách mạng Mác - Lê-nin cũng nâng tầm những tình cảm trong sáng của Người, giúp Người có thêm nghị lực để vượt qua mọi khó khăn, gian khổ và luôn lạc quan, tin tưởng vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp giải phóng dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh am hiểu rất sâu sắc và độc đáo về chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Người cho rằng, lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin không chỉ bao gồm các khái niệm trừu tượng, các quy luật, phạm trù và chỉ thuộc về nhận thức lý trí, mà còn bao hàm cả tình nghĩa, tức là gồm cả phương diện đạo đức. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin”(3).

Lý luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gắn với những phong trào hành động nhằm xây dựng và cải tạo xã hội. Người cho rằng, tư duy lành mạnh tự nó bao giờ cũng hướng tới hành động cải tạo thực tiễn, cải thiện cuộc sống con người. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng đầy sôi nổi, phong phú và gian khổ của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nắm vững mục tiêu chiến lược, đồng thời biết vận dụng sách lược một cách khôn khéo để đưa cách mạng tới thắng lợi hoàn toàn. Trong bức thư gửi các bạn cùng hoạt động ở Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Chúng ta phải làm gì? Chúng ta không thể đặt vấn đề ấy một cách máy móc. Điều đó tùy hoàn cảnh của mỗi dân tộc chúng ta. Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”(4).

Coi trọng, gắn kết điều kiện khách quan với phát huy nỗ lực chủ quan, kết hợp hài hòa giữa lý luận, thực tiễn và có tính tự giác cao

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm tới những điều kiện khách quan của cách mạng, đồng thời phát huy tính tích cực của nhân tố chủ quan để đề ra cương lĩnh chiến lược cách mạng một cách phù hợp. Chánh cương vắn tắt của Đảng (năm 1930) do Người soạn thảo có đoạn viết: “Tư bản bản xứ đã thuộc tư bản Pháp, vì tư bản Pháp hết sức ngăn trở sức sinh sản làm cho công nghệ bản xứ không thể mở mang được. Còn về nông nghệ một ngày một tập trung đã phát sinh ra lắm khủng hoảng, nông dân thất nghiệp nhiều. Vậy tư bản bản xứ không có thế lực gì ta không nên nói cho họ đi về phe đế quốc được, chỉ bọn đại địa chủ mới có thế lực và đứng hẳn về phe đế quốc chủ nghĩa nên chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”(5). Sau này, các văn kiện của Đảng đã ấn định phương hướng phát triển của cách mạng Việt Nam là, tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến thẳng lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, không qua chế độ tư bản chủ nghĩa.

Khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, nhận định về tình hình đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, ở một nước thuộc địa nhỏ, với sự lãnh đạo của giai cấp vô sản và đảng của nó, dựa vào quần chúng nhân dân rộng rãi... với sự đồng tình và ủng hộ của phong trào cách mạng thế giới, trước hết là của phe xã hội chủ nghĩa hùng mạnh, nhân dân nước đó nhất định thắng lợi”(6)Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dựa trên những điều kiện khách quan, kết hợp với nhân tố chủ quan, trong đó có năng lực cá nhân xuất chúng, nhãn quan sắc bén để đề ra các chủ trương, đường lối đúng đắn, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đặc biệt coi trọng công tác tổng kết lý luận; bởi vì, theo Người, đó là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người trên tất cả mọi lĩnh vực. Người cho rằng: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử”(7). Do đó, nếu kế thừa được những kinh nghiệm đã được tổng kết thành lý luận, mỗi cá nhân sẽ có điều kiện nâng cao năng lực của bản thân để phát triển tốt hơn.

Phương pháp tư duy của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn được thể hiện ở việc xem trọng nhân tố tự giác. Người cho rằng, nền đạo đức mới chỉ có thể được xây dựng trên cơ sở tự giác tu dưỡng đạo đức của mỗi cá nhân trong xã hội. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong mỗi con người đều có hai mặt đối lập: Thiện và ác, hay và dở, tốt và xấu,... Do vậy, điều quan trọng là, mỗi người phải dám nhìn thẳng vào bản thân mình, tự giác tu dưỡng, rèn luyện, phát huy những cái thiện, cái hay, cái tốt, đồng thời khắc phục cái ác, cái dở, cái xấu. Trong lần nói chuyện với thanh niên sinh viên tại Đại hội sinh viên Việt Nam lần thứ II năm 1958, Người nhấn mạnh: “Thanh niên bây giờ là một thế hệ vẻ vang, vì vậy cho nên phải tự giác tự nguyện mà tự động cải tạo tư tưởng của mình để xứng đáng với nhiệm vụ của mình. Tức là thanh niên phải có đức, có tài”(8).

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tham quan trưng bày Cuộc thi “Học sinh, sinh viên với ý tưởng khởi nghiệp” (SV_STARTUP)_Ảnh: TTXVN

Thường xuyên tổng kết kinh nghiệm và chủ động nắm lấy những tri thức mới

Quá trình tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh là quá trình không ngừng học tập, rèn luyện qua thực tiễn cách mạng. Trong quá trình đó, Người thường xuyên tổng kết kinh nghiệm và luôn có ý thức tìm tòi, nắm lấy những tri thức mới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người rất nhạy cảm về chính trị. Sau khi gửi Bản yêu sách gồm tám điều của dân tộc Việt Nam tới Hội nghị Véc-xây (Pháp), Người đã nhận ra “cái bánh vẽ” chính trị mà chủ nghĩa đế quốc Mỹ đưa ra để gạ gẫm các dân tộc. Người nhấn mạnh “chủ nghĩa Uynxơn” chỉ là một trò bịp bợm lớn. Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới(9). Kết luận quan trọng này là tiền đề tư tưởng quan trọng của chiến lược “dựa vào sức mình là chính” của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân, kết tinh đỉnh cao của tinh thần dân tộc, của chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam, khi tin tưởng tuyệt đối vào sức mạnh của nhân dân, đoạn tuyệt với quan điểm “cầu viện” để giải phóng dân tộc. Năm 1920, sau khi đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lê-nin, Người đã đứng hẳn về Quốc tế III, về phía V.I. Lê-nin, kiên quyết đấu tranh chống khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa trong nội bộ Đảng Xã hội Pháp, và đã trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Đối với Người, mỗi lần phê phán cái sai lầm là mỗi lần tổng kết và rút ra được kinh nghiệm quý báu cho bản thân cũng như để hướng dẫn những cộng sự của mình.

Không bằng lòng với những tri thức thu lượm được ở đất Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bôn ba khắp các châu lục để khám phá, tìm hiểu, thâu thái thêm những tri thức mới. Người đã chứng kiến cuộc sống khổ nhục của những người dân mất nước dưới chế độ thuộc địa nửa phong kiến ở Đông Dương. Người đã phẫn nộ lên án chế độ tự xưng là “văn minh” nhất nhân loại ở Anh, Pháp, Mỹ. Đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh vui mừng khi thấy cuộc sống mới trên quê hương Cách mạng Tháng Mười Nga. Đi đến đâu, Người cũng quan sát và suy nghĩ, chiêm nghiệm để tự rút ra những bài học kinh nghiệm cho bản thân mình. Bằng sự nghiên cứu nghiêm túc nhất, với tinh thần trách nhiệm cao nhất trước dân tộc và giai cấp, Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản. Việc thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương là Đảng đã giương cao ngọn cờ cách mạng dân tộc dân chủ lại càng chứng tỏ rõ rệt vai trò của giai cấp vô sản và đảng của nó trong phong trào giải phóng dân tộc”(10).

Giá trị vận dụng trong quá trình tăng cường học tập và nâng cao năng lực tư duy của đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay

Qua hơn 35 năm đổi mới, Việt Nam đã gặt hái được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên tất cả các lĩnh vực, chính trị luôn ổn định, an ninh quốc phòng được giữ vững. Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao, đời sống của các tầng lớp nhân dân được cải thiện đáng kể. Theo đó, tư duy của đội ngũ cán bộ, đảng viên đã có những đổi mới nhất định (về trình độ cũng như phương pháp tư duy). Tuy nhiên, sự phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện thế giới có nhiều thay đổi khó lường, đặc biệt là sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo, còn gặp nhiều khó khăn, thách thức. Trong khi đó, trình độ hiểu biết về lý luận, thực tiễn của nhiều cán bộ, đảng viên hiện nay còn nhiều hạn chế. Phong cách tư duy của một bộ phận cán bộ, đảng viên vẫn còn biểu hiện của lối tư duy giáo điều, bảo thủ, trì trệ, khuôn sáo, máy móc. Đó là những suy nghĩ chủ quan, duy ý chí, chưa thật sự dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn. Lối tư duy nôn nóng, giản đơn, đại khái, yếu về logic, thiếu hệ thống, luôn chạy theo mong muốn chủ quan của cá nhân vẫn còn tồn tại; đặc biệt, một số cán bộ, đảng viên có những biểu hiện của sự tách rời giữa tình cảm, đạo đức cách mạng và lý trí khoa học.

Do đó, yêu cầu bức thiết đặt ra hiện nay là phải xây dựng phương pháp tư duy khoa học cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, cụ thể như sau:

Một là, chú trọng nâng cao tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Sau khi thấm nhuần phương pháp tư duy Hồ Chí Minh, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng phải có khả năng dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, không lệ thuộc, rập khuôn, bắt chước người khác; có năng lực và bản lĩnh bảo vệ được quan điểm, chính kiến của mình; tự mình làm chủ mọi suy nghĩ, hành động, không bị a dua theo người khác; tự giác tìm tòi để sáng tạo, sẵn sàng tiếp thu cái mới, từ bỏ cái đã lỗi thời. Từ đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên sẽ nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị.

Hai là, khắc phục những thành kiến trong tư duy của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Thực chất vấn đề này là, chống chủ nghĩa giáo điều - giáo điều sách vở, giáo điều trong việc học tập kinh nghiệm của người khác; qua đó, giúp họ vượt lên trên những thành kiến, không lệ thuộc vào tập quán cũ, lạc hậu, biết giữ gìn và phát triển những tư tưởng truyền thống còn phù hợp, tiếp thu một cách có chọn lọc những tư tưởng mới, chủ động đề xuất những sáng kiến, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ được giao.

Ba là, nâng cao nhận thức, giáo dục, giúp cán bộ, đảng viên biết kết hợp giữa lý trí với tình cảm trong sáng, làm điều gì cũng luôn đặt lợi ích của tập thể, lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, trước hết. Biết yêu thương con người, luôn sẵn sàng giúp đỡ, hỗ trợ người khác, coi niềm vui, hạnh phúc của người khác cũng là niềm vui và hạnh phúc của mình. Lịch sử đã chứng minh rằng, những cá nhân nặng về lý trí mà thiếu tình cảm thì sớm hay muộn họ cũng sẽ rời bỏ con đường mà mình đã chọn. Không ít người vì thiếu một tình yêu trong sáng và mãnh liệt, không biết yêu thương, nghĩ đến người khác nên họ đã bị những cám dỗ ích kỷ, tầm thường trong cuộc sống cá nhân, dễ dẫn đến thoái hóa, biến chất, hư hỏng, trở thành những kẻ cơ hội, hại nước, hại dân, đi ngược lại lợi ích của nhân dân, của dân tộc.

Bốn là, trang bị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên phương pháp tư duy thúc đẩy tính tự giác cao, phát huy tối đa năng lực chủ quan và coi trọng điều kiện khách quan, có khả năng kết hợp hài hòa giữa lý luận và thực tiễn, góp phần bổ sung phát triển lý luận trên cơ sở hoạt động thực tiễn và phù hợp với điều kiện thực tiễn để hoàn thành tốt mọi công việc được giao. Khi nắm vững phương pháp tư duy Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên sẽ luôn có tính tự giác cao và biết vận dụng, thường chủ động xây dựng các kế hoạch, đề ra biện pháp cụ thể để triển khai công việc của mình một cách khoa học, hiệu quả.

Năm là, tăng cường tổng kết, đúc kết những kinh nghiệm hay, cách làm sáng tạo; phát hiện những gương điển hình tiên tiến để giáo dục, nêu gương cho đảng viên và quần chúng noi theo; xem xét kinh nghiệm, cách làm hay của cán bộ, đảng viên và cá nhân khác để áp dụng cho phù hợp với bản thân mình. Bên cạnh đó, phương pháp tư duy Hồ Chí Minh cũng giúp cho đội ngũ cán bộ, đảng viên có khả năng tìm tòi, suy nghĩ, chủ động tiếp thu tri thức mới để bổ sung vào kinh nghiệm đã tích lũy, từ đó có phương pháp phù hợp để thực hiện tốt các mục tiêu đề ra.

Hiện nay, đứng trước những nhiệm vụ cách mạng mới, để giải quyết những vấn đề phong phú, sinh động, phức tạp mà cuộc sống đặt ra, không có con đường nào khác ngoài con đường nâng cao phương pháp tư duy, nhất là tư duy lý luận. Trong đó, phương pháp tư duy Hồ Chí Minh là một mẫu mực, vẫn còn giữ nguyên giá trị và lợi ích thiết thực. Do vậy, việc nghiên cứu, học tập, vận dụng phương pháp tư duy Hồ Chí Minh để nâng cao năng lực tư duy của đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay là một yêu cầu bức thiết, cần được triển khai một cách toàn diện, sâu sắc và có hệ thống./.

Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn để nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ

 

Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn để nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ

PGS, TS. ĐINH NGỌC GIANG
Vụ trưởng Vụ Quản lý khoa học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
06:07, ngày 03-07-2022

TCCS - Vận dụng sáng tạo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, Đảng ta luôn coi trọng việc kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn để nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ. Đây là một nội dung rất quan trọng trong công tác cán bộ của Đảng, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ vừa “hồng”, vừa “chuyên”, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc với các đại biểu dự Hội nghị trực tuyến toàn quốc quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, ngày 28-3-2021_Ảnh: TTXVN

Bản lĩnh chính trị và nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ

“Bản lĩnh” thường được hiểu là khả năng và ý chí kiên định trước mọi hoàn cảnh(1). Bản lĩnh chính trị (BLCT) của cán bộ là khả năng và ý chí kiên định, vững vàng về lý tưởng, mục tiêu của Đảng, nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, đặc biệt là trước những tình thế khó khăn, phức tạp thì cán bộ luôn bình tĩnh, sáng suốt cùng cấp ủy và tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị xác định được chủ trương, giải pháp đúng đắn để vượt qua tình thế đó, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, góp phần thực hiện thắng lợi đường lối và từng bước hiện thực hóa lý tưởng, mục tiêu của Đảng.

Bản lĩnh chính trị là một bộ phận đặc biệt quan trọng của phẩm chất chính trị của cán bộ; cùng với trình độ trí tuệ và phẩm chất đạo đức, lối sống tạo nên chất lượng của đội ngũ cán bộ; bảo đảm cho đội ngũ cán bộ có khả năng vượt qua những khó khăn, thách thức, quyết tâm hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng.

Bản lĩnh chính trị của cán bộ được tạo nên bởi các yếu tố chủ yếu, như tri thức về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tri thức về các khoa học cần thiết khác; sự giáo dục, rèn luyện của các cấp ủy, tổ chức đảng; sự tham gia của các tổ chức trong hệ thống chính trị (HTCT) và nhân dân vào việc giáo dục, rèn luyện BLCT của cán bộ; tình yêu thương, gắn bó và trách nhiệm đối với nhân dân; sự tu dưỡng, rèn luyện, thử thách trong thực tiễn của cán bộ.

Nâng cao BLCT của cán bộ là toàn bộ hoạt động của các cấp ủy, tổ chức và từng cán bộ nhằm phát huy mạnh mẽ vai trò của các yếu tố tạo nên BLCT với sự tham gia của các tổ chức trong HTCT các cấp và nhân dân, để làm cho BLCT của cán bộ được nâng lên, đáp ứng yêu cầu chức trách, nhiệm vụ được giao.        

Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng lý luận chính trị của Đảng, cán bộ, đảng viên và nhân dân ta trong cuộc đấu tranh lật đổ các thế lực áp bức, bóc lột, giành chính quyền, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Đường lối của Đảng cũng được coi là bộ phận lý luận chính trị quan trọng, bởi vì phần lớn nội dung trong đường lối của Đảng nhằm giải quyết những mục tiêu chính trị dưới dạng khái quát, cô đọng nhất ở mỗi giai đoạn cách mạng. Như vậy, chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng có quan hệ mật thiết và chi phối các yếu tố khác (những yếu tố tạo nên BLCT của cán bộ) - là cơ sở, yếu tố quan trọng hàng đầu hình thành, phát triển và nâng cao BLCT của cán bộ. Điều này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh luận giải và khẳng định rõ trong các bài viết, bài nói của mình.

Trong tác phẩm “Đường cách mệnh”, khi luận bàn về nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đặt câu hỏi: Cách mệnh trước hết phải có cái gì? Và Người khẳng định: “Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi”(2). Đồng thời, Người chỉ rõ, đảng cách mệnh phải vững vàng, kiên định lý tưởng, mục tiêu và con đường cách mạng đã lựa chọn, xác định đúng đắn đường lối và đề ra các giải pháp lãnh đạo thực hiện hiệu quả nhằm đưa cách mạng đến thắng lợi. Đặc biệt, trong những lúc cách mạng gặp hiểm nguy, đảng cách mạng phải bình tĩnh, sáng suốt, kịp thời đề xuất và thực hiện các giải pháp đúng đắn ấy để đưa cách mạng vượt qua khó khăn, “thác ghềnh”, phong ba, bão táp, đi đến thắng lợi. Tức là, Đảng phải có BLCT vững vàng, như Người từng khẳng định: “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”(3). Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cũng chỉ ra và khẳng định yếu tố đặc biệt quan trọng, mang tính cốt lõi tạo nên sự bình tĩnh, sáng suốt của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng và của đội ngũ cán bộ trong thực hiện nhiệm vụ được giao - yếu tố tạo nên BLCT của Đảng và của đội ngũ cán bộ - chính là chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Người viết: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”(4).

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục luận giải: “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”(5). Phần lớn hoạt động phát triển và nâng cao BLCT của cán bộ là thông qua hoạt động thực tế của các cấp ủy, tổ chức đảng, các tổ chức trong HTCT và của từng cán bộ. Các hoạt động này chỉ có thể đem lại hiệu quả, phát huy mạnh mẽ vai trò nâng cao BLCT của cán bộ khi được lý luận soi sáng, dẫn đường. Không được lý luận soi sáng, dẫn đường thì những hoạt động nâng cao BLCT của cán bộ sẽ mất phương hướng chính trị, gây hậu quả không tốt cho sự phát triển của từng cán bộ và cả sự nghiệp cách mạng.  

Tri thức của cán bộ về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng chỉ có thể được hình thành thông qua việc học tập nghiêm túc của cán bộ ở các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Đảng, Nhà nước, đặc biệt là trong hệ thống trường đảng. Điều này phụ thuộc rất lớn vào chất lượng dạy và học, gồm chất lượng nội dung, chương trình phù hợp với từng đối tượng cán bộ; chất lượng đội ngũ giảng viên; hình thức, phương pháp dạy và học; việc quản lý dạy và học; môi trường học tập ở các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; tinh thần, thái độ của người học. Tri thức của cán bộ về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng còn có được thông qua sinh hoạt đảng, các tổ chức chính trị - xã hội, hoạt động thực tiễn và việc tự giác thường xuyên tự học tập suốt đời của cán bộ.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng cùng đồng chí Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương  và các đại biểu tham dự Lễ ra mắt cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”_Ảnh: TTXVN

Vai trò của rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn đối với việc nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ

Bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ chỉ có thể được hình thành và từng bước nâng cao thông qua rèn luyện, thử thách bền bỉ, thường xuyên và lâu dài trong thực tiễn, qua những thử thách cam go khi đứng trước những vấn đề gay cấn, phức tạp nảy sinh trong thực tiễn hoạt động của cán bộ. Trong hoạt động thực tiễn, cán bộ phải biết vận dụng sáng tạo những kiến thức lý luận đã học vào thực tiễn, giải quyết đúng đắn những vấn đề nảy sinh, hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. Thực tiễn là “trường học” tốt nhất để củng cố, phát triển và nâng cao BLCT của cán bộ. Thực tế cho thấy, sự rèn luyện, thử thách trong thực tiễn, sự đối mặt với những khó khăn, thách thức, quyết liệt đương đầu với kẻ thù tàn bạo, thâm độc, xảo quyệt đã tôi luyện, nâng cao khả năng, ý chí kiên định, sự linh hoạt, sáng suốt của Đảng và của đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập, tự do để kịp thời đề ra các chủ trương, giải pháp đúng đắn đưa cách mạng đến thắng lợi.

Trong thời kỳ đổi mới hiện nay, đội ngũ cán bộ tuy không phải trực tiếp đối mặt với kẻ thù tàn bạo, phản động, tội phạm (trừ cán bộ là lực lượng vũ trang); song, họ lại phải đối mặt với những tác động, thử thách không hề nhỏ. Đó là những cám dỗ của tiền tài, vật chất, tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường, quá trình mở cửa, hội nhập quốc tế; sự cám dỗ của địa vị, quyền lực; sự lôi kéo, mua chuộc của các thế lực thù địch, phản động với âm mưu, thủ đoạn rất thâm độc, xảo quyệt hòng làm cho người cán bộ suy giảm hoặc đánh mất BLCT, gây thiệt hại cho Đảng và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Những thử thách nêu trên đối với cán bộ không kém phần gay gắt, nghiệt ngã so với những thử thách trong chiến đấu chống quân thù giành độc lập dân tộc. Vì thế, rèn luyện trong thực tiễn và nỗ lực vượt qua được những thách thức hiện nay có vai trò rất to lớn trong việc củng cố, phát triển và nâng cao BLCT của cán bộ.

Từ tư tưởng Hồ Chí Minh về huấn luyện cán bộ đến bài học có giá trị lớn trong công tác cán bộ của Đảng ta 

Bản lĩnh chính trị của người cán bộ là một nội dung rất quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng. Theo Người, đạo đức cách mạng của người cán bộ được thể hiện ở những phẩm chất, như trung với nước, hiếu với dân; thương yêu con người; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng... đây cũng là những biểu hiện của BLCT của người cán bộ, trong đó sự liêm chính là biểu hiện rõ nhất.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: LIÊM là không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ”(6). Quang minh chính đại trong khái niệm “LIÊM” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những đặc trưng của BLCT của người cán bộ. Người chỉ rõ: “Chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Điều gì không đứng đắn, thẳng thắn, tức là tà”(7). Đây là một đặc trưng cơ bản của BLCT của cán bộ, là sự chính trực của cán bộ và trên thực tế, người cán bộ chính trực thường được gọi là cán bộ có BLCT. 

Cán bộ và công tác cán bộ là những vấn đề nhận được sự quan tâm đặc biệt, xuyên suốt trong tư tưởng và hành động của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác xây dựng Đảng. Đặc biệt, huấn luyện cán bộ là một nội dung rất quan trọng, thể hiện trong các luận điểm nổi tiếng của Người: “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”(8); “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”(9); “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”(10).

Huấn luyện cán bộ gồm nhiều nội dung, trong đó huấn luyện lý luận chính trị có vai trò quan trọng hàng đầu. Mọi cán bộ đều phải được huấn luyện lý luận chính trị. Huấn luyện cán bộ gồm huấn luyện ở nhà trường qua các lớp đào tạo cơ bản, các lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kinh nghiệm công tác; qua sinh hoạt đảng, đoàn thể; sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, sự kèm cặp của cán bộ chủ chốt ở cơ quan, đơn vị trong quá trình làm việc; qua thực tiễn công tác và việc tự học tập của cán bộ... Như vậy, học tập lý luận chính trị phải được kết hợp chặt chẽ với hoạt động thực tiễn của cán bộ thì mới đem lại hiệu quả, thiết thực.

Khi được trang bị tri thức lý luận chính trị và vận dụng vào trong công việc thực tế, cán bộ sẽ vững vàng, tự tin xử lý có kết quả những vấn đề nảy sinh, vượt qua những khó khăn, thách thức, kể cả những khó khăn lớn, thách thức quyết liệt, gay cấn để thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao; qua đó, họ từng bước trưởng thành. Đây là sự kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa việc học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách trong thực tiễn, tạo nên sự trưởng thành của cán bộ, trong đó có sự trưởng thành về BLCT và được nâng cao qua từng thời kỳ cách mạng. Sự trưởng thành của cán bộ nhờ rèn luyện, thử thách trong thực tiễn sau khi học tập lý luận chính trị được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Lúc học rồi, họ có thể tự mình tìm ra phương hướng chính trị có thể làm những công việc thực tế, có thể trở nên người tổ chức và lãnh đạo. Thế là lý luận thiết thực, có ích(11). Như vậy, sự kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách trong thực tiễn sẽ đem lại hiệu quả về nhiều mặt đối với cán bộ, mà điều quan trọng hàng đầu chính là góp phần nâng cao BLCT của đội ngũ này.

Cách mạng luôn luôn vận động, phát triển không ngừng và ngày càng đặt ra yêu cầu cao hơn đòi hỏi Đảng, từng cán bộ phải không ngừng nâng cao BLCT để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của từng thời kỳ cách mạng. Vì thế, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm và đặt lên hàng đầu việc giáo dục, rèn luyện, giữ vững và nâng cao BLCT của cán bộ; nhờ đó, chất lượng đội ngũ cán bộ ngày càng được nâng lên, góp phần đưa cách mạng nước ta vượt qua những khó khăn, thách thức lớn, nhất là khi cách mạng chuyển sang giai đoạn mới với nhiệm vụ mới mẻ, phức tạp, nặng nề hơn trước, để đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Nhận thức sâu sắc vai trò đặc biệt quan trọng của đội ngũ cán bộ đối với thắng lợi của cách mạng, trước khi Đảng ta ra đời, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chỉ đạo chọn những thanh niên ưu tú, “những hạt giống đỏ” đưa đi học tập lý luận chính trị ở Quảng Châu, Trung Quốc tại những lớp do Người trực tiếp biên soạn bài giảng và giảng dạy. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã truyền đạt những nội dung lý luận rất sâu sắc, thiết thực, với cách giảng dạy rất khoa học cho học viên; trong đó, Người rất coi trọng việc gắn chặt lý luận với thực tiễn cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động ở các nước trên thế giới và với thực tiễn cách mạng nước ta. Nhờ đó, việc học tập lý luận chính trị đã nhanh chóng đem lại hiệu quả, có tác dụng rất to lớn, thiết thực đối với lớp cán bộ tiền bối của Đảng.

Nhờ kết hợp chặt chẽ việc học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách trước những cam go, thách thức quyết liệt của cách mạng nước ta trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền, BLCT của đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng khi đó được nâng cao, đáp ứng tốt yêu cầu của cách mạng. Mặc dù gặp nhiều khó khăn, gian khổ và phải đối mặt với sự ác liệt của cuộc đấu tranh giành chính quyền, song Đảng ta luôn tìm ra các giải pháp phù hợp, hiệu quả để huấn luyện, trang bị lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; đồng thời, coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo việc kết hợp chặt chẽ, hiệu quả việc học tập lý luận chính trị với tăng cường rèn luyện, thử thách đội ngũ cán bộ, đảng viên trong thực tiễn để nâng cao chất lượng về mọi mặt, trong đó có BLCT của họ. Những hoạt động này, cùng với sự nêu gương, sự dẫn dắt, lan tỏa của những cán bộ tiền bối, BLCT của đội ngũ cán bộ ngày càng được nâng cao. Với BLCT vững vàng, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng khi đó (chỉ khoảng 5.000 đảng viên) đã cùng toàn thể dân tộc giành thắng lợi to lớn trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, Đảng ta trở thành đảng cầm quyền, nhân dân Việt Nam từ kiếp nô lệ thành người làm chủ đất nước. 

Đội ngũ cán bộ tiếp tục được Đảng huấn luyện về mọi mặt, coi trọng huấn luyện lý luận chính trị kết hợp chặt chẽ với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn, đã đem lại hiệu quả thiết thực; nhờ đó, BLCT của cán bộ luôn được nâng cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của các thời kỳ cách mạng tiếp theo. Đây là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi to lớn trong các cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược và bọn tay sai và trong khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc sau khi thống nhất đất nước.

Nâng cao bản lĩnh chính trị của cán bộ đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới

Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta luôn chú trọng việc kết hợp chặt chẽ, hiệu quả học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn để nâng cao BLCT của cán bộ. Qua đó, BLCT của đội ngũ cán bộ nước ta được nâng lên một bước mới, cùng Đảng vững vàng lãnh đạo nhân dân ta vượt qua những khó khăn, thách thức mới, quyết liệt chưa từng có, tận dụng những thời cơ và thuận lợi để đưa sự nghiệp đổi mới đất nước giành được những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử, mở ra thời kỳ phát triển mới của đất nước. Điều này đã được Đại hội XIII của Đảng chỉ ra và khẳng định: “Nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay(12).

Tuy nhiên, công cuộc đổi mới đất nước trong những thập niên tới sẽ còn gặp những khó khăn, phức tạp, thách thức không nhỏ: “tình hình thế giới tiếp tục có những diễn biến rất nhanh, phức tạp, khó dự báo… Bốn nguy cơ mà Đảng đã chỉ ra vẫn còn tồn tại, có mặt gay gắt hơn; các mối đe dọa độc lập, chủ quyền, lợi ích chiến lược của đất nước, nhất là trên Biển Đông; vấn đề an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, cạn kiệt tài nguyên, xu hướng già hóa dân số; tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; sự chống, phá quyết liệt của các thế lực thù địch, các tổ chức phản động”(13). Tình hình đó đặt ra yêu cầu phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; trong đó, nâng cao BLCT của đội ngũ cán bộ là vấn đề quan trọng hàng đầu.

Nâng cao BLCT của đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới đất nước trong thời kỳ phát triển mới được Đảng ta xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm; thể hiện trong các văn kiện quan trọng của Đảng và sự lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện quyết liệt. Cụ thể là:

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” xác định mục tiêu: “Kiên quyết khắc phục những yếu kém trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, trách nhiệm, năng lực và động cơ đúng đắn, thực sự tiên phong, gương mẫu, luôn đặt lợi ích của tập thể, quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, thực sự là cán bộ của dân, phục vụ nhân dân”(14). Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa XII “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”, nhấn mạnh: “Xây dựng đồng bộ, toàn diện các đối tượng cán bộ ở các cấp. Chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, tính chuyên nghiệp, tinh thần phục vụ nhân dân của cán bộ, công chức, viên chức”(15).

Các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng cùng Bí thư Tỉnh ủy Quảng Bình Vũ Đại Thắng cứu trợ người dân vùng rốn lũ gặp hoàn cảnh khó khăn ở huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình (năm 2020)_Ảnh: TTXVN

Đại hội XIII của Đảng xác định: “Tiếp tục nâng cao lập trường, bản lĩnh chính trị, trí tuệ, tính chiến đấu của toàn Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp, nhất là cấp chiến lược”(16). “Nâng cao bản lĩnh chính trị, trí tuệ, sự gương mẫu, tinh thần vì nhân dân phục vụ của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt và người đứng đầu các cấp”(17). Đặc biệt, Đại hội XIII bổ sung và nhấn mạnh những đặc trưng cơ bản rất quan trọng mà đội ngũ cán bộ cần có, đó là “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”(18). Những đặc trưng này, cũng là những đặc trưng rất cơ bản của BLCT của đội ngũ cán bộ trong giai đoạn hiện nay.

Những chủ trương, quan điểm và chỉ dẫn của Đảng là cơ sở và căn cứ rất quan trọng để nâng cao nhận thức và xác định chủ trương, giải pháp đúng đắn để nâng cao BLCT của đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của thời kỳ phát triển mới của đất nước. Trong đó, cần tập trung thực hiện những giải pháp nhằm kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn để nâng cao BLCT của đội ngũ cán bộ trong thời gian tới, cụ thể như sau:

Một là, nâng cao nhận thức sâu sắc, thống nhất và trách nhiệm của các cấp ủy, đội ngũ cán bộ, đảng viên về việc kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn để nâng cao BLCT của cán bộ, trước hết là những cán bộ của cơ quan, đơn vị mình. 

Hai là, tiếp tục cụ thể hóa tiêu chuẩn chức danh cán bộ các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị, trong đó coi trọng xác định rõ tiêu chuẩn cụ thể về BLCT của chức danh cán bộ, làm cơ sở và định hướng cho việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ về mọi mặt, nhất là về lý luận chính trị và về rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn cũng như việc kết hợp chặt chẽ, hiệu quả các hoạt động này.

Ba là, đổi mới mạnh mẽ, nâng cao chất lượng dạy và học lý luận chính trị; việc lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đối với việc rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn, tạo cơ sở cho việc kết hợp chặt chẽ, hiệu quả học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn để nâng cao BLCT của cán bộ.

Bốn là, tiếp tục thực hiện quyết liệt, hiệu quả Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””; đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; trong đó, cần coi trọng việc học tập và làm theo tư tưởng của Người về đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư...

Năm là, cổ vũ, động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ tự giác học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị, tự rèn luyện trong thực tiễn; từng cán bộ thực hiện kết hợp việc tự học tập lý luận chính trị với việc tự rèn luyện trong thực tiễn đạt kết quả để nâng cao BLCT.

Sáu là, phát huy mạnh mẽ vai trò của các tổ chức trong hệ thống chính trị và sự tham gia của nhân dân vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đối với việc kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn để góp phần nâng cao BLCT của đội ngũ cán bộ trong thời kỳ mới./.