10 năm qua, sự ra đời và hoạt động của Ban Chỉ đạo (BCĐ) Trung ương về phòng, chống tham nhũng (PCTN), tiêu cực đã góp phần quan trọng từng bước kiềm chế, ngăn chặn được tham nhũng, tiêu cực.
Kết quả trong đấu tranh PCTN, tiêu cực góp phần quan trọng vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cảnh tỉnh, răn đe, góp phần ngăn chặn tình trạng "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế-xã hội.
Sự ra đời tất yếu
10 năm trôi qua, nhưng hẳn nhiều người chưa thể quên câu chuyện diễn ra tại Hội nghị Trung ương 6, khóa XI (tháng 10-2012). Đó là hình ảnh Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nghẹn ngào phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương. Trên cương vị người đứng đầu Đảng, thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Tổng Bí thư nhận lỗi trước toàn Đảng, toàn dân về "một số khuyết điểm lớn" cả hiện tại lẫn ở các nhiệm kỳ trước. Bởi, thời điểm trước đó, hàng loạt sai phạm của cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng, gây nhiều hệ lụy, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của đất nước. Tham nhũng, tiêu cực, sai phạm do đội ngũ cán bộ gây ra làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.
Trong hàng ngũ của Đảng khi ấy, nhiều người rất quyết liệt chống tham nhũng, nhưng chống từ đâu, chống bằng cách nào? Để nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh PCTN trong toàn Đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội, chỉ sau Hội nghị Trung ương 6, khóa XI chưa đầy 4 tháng, vào ngày 1-2-2013, Bộ Chính trị ban hành Quyết định số 162-QĐ/TW thành lập BCĐ Trung ương về PCTN, do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng làm Trưởng ban để chỉ đạo toàn diện công tác PCTN trên phạm vi cả nước. Ngay trong phiên họp đầu tiên của BCĐ (ngày 4-2-2013), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắc nhở: “Chúng ta phải cam kết với nhau, mỗi thành viên BCĐ phải là một tấm gương về liêm sáng, trung thực, công tâm, khách quan, nếu không dân không tin”. Thực tiễn 10 năm qua minh chứng: Sự ra đời của BCĐ Trung ương về PCTN là việc làm cần kíp, là sản phẩm trí tuệ, trách nhiệm của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị trước một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng và chế độ.
Khẳng định sứ mệnh đặc biệt
Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác PCTN giai đoạn 2013-2020 (tháng 12-2020) thống nhất đánh giá: Từ khi BCĐ được thành lập đến nay, công tác PCTN có bước tiến mạnh, đột phá, đạt nhiều kết quả rất quan trọng, toàn diện, rõ rệt, để lại dấu ấn tốt, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, hưởng ứng, đánh giá cao, cộng đồng quốc tế ghi nhận.
Chính sự nêu gương, trách nhiệm và quyết tâm chính trị cao trước Đảng, trước dân, các thành viên BCĐ đã thực hiện triệt để, hiệu quả quan điểm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là: “Không có vùng cấm trong đấu tranh PCTN, tiêu cực”, trong 10 năm qua, BCĐ đã thực hiện tốt một số nhiệm vụ, như: Phát hiện và trừng trị những tập thể, cá nhân có hành vi tham nhũng; chỉ đạo tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán; xây dựng và hoàn thiện thể chế về kinh tế-xã hội và PCTN. Kết quả công tác đấu tranh PCTN đã góp phần rất quan trọng củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước.
10 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, trực tiếp là BCĐ, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, thanh tra, kiểm toán của Nhà nước được tăng cường, phát hiện và xử lý nghiêm minh các sai phạm, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, góp phần nâng cao hiệu quả công tác PCTN, tiêu cực. 10 năm qua, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp thi hành kỷ luật hơn 2.700 tổ chức đảng, gần 168.000 đảng viên, trong đó có hơn 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng. Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kỷ luật hơn 170 cán bộ cấp cao diện Trung ương quản lý, trong đó có 33 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, hơn 50 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang... Riêng từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay, đã kỷ luật 50 cán bộ diện Trung ương quản lý, trong đó có 8 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, 20 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang.
Qua công tác thanh tra, kiểm toán đã kiến nghị xử lý trách nhiệm gần 44.700 tập thể, cá nhân sai phạm; kiến nghị thu hồi, xử lý tài chính hơn 975.000 tỷ đồng, gần 76.000ha đất; chuyển cơ quan điều tra gần 1.200 vụ việc có dấu hiệu tội phạm để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật; kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, thay thế hơn 2.000 văn bản pháp luật.
Đặc biệt, BCĐ đã đưa 977 vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm vào diện theo dõi, chỉ đạo ở 3 cấp độ; trong đó BCĐ trực tiếp theo dõi, chỉ đạo 180 vụ án, 133 vụ việc; các cơ quan chức năng đã kết thúc điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm 120 vụ án/1.083 bị cáo, có 37 bị cáo nguyên là cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý.
Đồng chí Phan Đình Trạc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Nội chính Trung ương, Phó trưởng ban Thường trực BCĐ Trung ương về PCTN, tiêu cực, khẳng định: "Có thể nói, chưa bao giờ chúng ta xử lý nghiêm minh nhiều cán bộ cấp cao như vừa qua. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần phát biểu, rất đau xót khi phải xử lý kỷ luật đồng chí, đồng đội của mình, nhưng vì sự nghiêm minh kỷ luật của Đảng, sự nghiêm minh của pháp luật, vì niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ, nên buộc phải làm".
Bước tiến về tầm nhìn và tư duy
Trước thềm Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác PCTN, tiêu cực giai đoạn 2012-2022, đại biểu nhiều địa phương bày tỏ niềm tin tưởng, lạc quan trước quy mô, tầm mức và phương thức tổ chức hội nghị lần này. Đặc biệt, dư luận kỳ vọng, BCĐ Trung ương về PCTN, tiêu cực sẽ tiếp tục có những tham mưu, sáng kiến mới, hiến kế cho Trung ương Đảng, Bộ Chính trị chỉ đạo cuộc đấu tranh đẩy lùi “giặc nội xâm”; đồng thời gửi thông điệp, tạo sự thống nhất, quyết tâm cao hơn nữa cho mọi cấp, mọi ngành và đội ngũ cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân trong đấu tranh PCTN, tiêu cực.
10 năm qua, BCĐ luôn hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của một cơ quan tham mưu chiến lược trong hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách về công tác PCTN, tiêu cực với cách làm bài bản, đồng bộ, khoa học. Sự tham mưu “đúng” và “trúng” là căn cứ quan trọng giúp xây dựng, hoàn thiện cơ chế phòng ngừa chặt chẽ. Trên cơ sở đó, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành hơn 250 văn bản về xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị và PCTN. Từ chủ trương của Trung ương và yêu cầu thực tiễn, Quốc hội sửa đổi, bổ sung, ban hành mới hơn 300 luật, pháp lệnh, nghị quyết; Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành hơn 2.000 nghị định, quyết định; các bộ, ngành, địa phương ban hành hàng nghìn văn bản quy phạm pháp luật để kịp thời thể chế hóa và triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng về quản lý kinh tế-xã hội, PCTN, tiêu cực, góp phần phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý tham nhũng, tiêu cực hiệu quả. Đây chính là việc chúng ta “nhốt quyền lực vào lồng cơ chế”. Và tính hiệu quả của nó được chứng thực rõ rệt, vì gần đây, nhiều hành vi tham nhũng, tiêu cực dù rất tinh vi, xảo quyệt cũng đều bị phơi bày sự thật và xử lý triệt để, nghiêm minh.
PCTN đã thực sự trở thành phong trào hành động cách mạng rộng khắp trong Đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội. Công tác phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực ở địa phương, cơ sở được quan tâm nhiều hơn, từng bước khắc phục biểu hiện "trên nóng, dưới lạnh". Riêng năm 2021, tất cả địa phương đã khởi tố những vụ án mới về tham nhũng. Một số địa phương phát hiện, khởi tố vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực lớn như: Hà Nội, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Đà Nẵng, Phú Yên, Khánh Hòa, TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, An Giang, Thái Nguyên...
Việc PCTN, tiêu cực được triển khai toàn diện cả theo trục dọc lẫn chiều ngang, trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong đó, PCTN, tiêu cực trong công tác cán bộ có nhiều đổi mới, dân chủ, công khai, minh bạch; nhiều vấn đề tồn tại trước đây trong công tác cán bộ được chỉ đạo giải quyết quyết liệt.
Như vậy, qua 10 năm hoạt động, dưới sự chỉ đạo của Tổng Bí thư, Trưởng BCĐ, hoạt động của BCĐ có nhiều đổi mới, nền nếp, bài bản, khoa học, quyết liệt và hiệu quả. Vừa tập trung lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thiện thể chế, phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực; vừa quyết liệt chỉ đạo xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực, với nhiều cơ chế, giải pháp, cách làm bài bản, hiệu quả và không chịu tác động không trong sáng của tổ chức, cá nhân nào; vừa chọn những khâu yếu, việc khó trong công tác PCTN, tiêu cực để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo khắc phục.
Đặc biệt, ngày 16-9-2021, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 32-QĐ/TW bổ sung, mở rộng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của BCĐ để chỉ đạo cả công tác PCTN và công tác phòng, chống tiêu cực.
Mới đây, thực hiện kết luận của Hội nghị Trung ương 5, khóa XIII, Ban Bí thư ban hành Quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, chế độ làm việc, quan hệ công tác của BCĐ PCTN, tiêu cực cấp tỉnh. Hiện nay, tất cả các tỉnh ủy, thành ủy đang khẩn trương quyết định thành lập và triển khai hoạt động của BCĐ cấp tỉnh nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa trong công tác PCTN, tiêu cực ở địa phương, cơ sở. Tính đến ngày 27-6-2022, đã có 34 tỉnh, thành phố thành lập BCĐ PCTN, tiêu cực cấp tỉnh.
Dù đã đạt được những kết quả quan trọng, nhưng công bằng mà nói, tham nhũng, tiêu cực trên một số lĩnh vực hiện nay vẫn còn nghiêm trọng, phức tạp, có sự cấu kết, móc nối giữa cán bộ thoái hóa, biến chất với các doanh nghiệp, tổ chức để trục lợi, gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Vì vậy, hôm nay (30-6), Bộ Chính trị tổ chức Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác PCTN, tiêu cực giai đoạn 2012-2022 sẽ là cơ hội để cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy trao đổi nhằm tiếp tục thống nhất nhận thức, trao đổi kinh nghiệm, đề xuất giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn, bất cập trong công tác PCTN, tiêu cực; đồng thời thể hiện quyết tâm chính trị trong cuộc chiến với “giặc nội xâm” của toàn Đảng, hệ thống chính trị và toàn dân.
Khắc phục những khó khăn, trở ngại của dịch bệnh và tình hình địa bàn, 3 năm qua, Đảng bộ Quân sự tỉnh Phú Thọ đã có nhiều chủ trương, giải pháp sáng tạo để đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống. Trong đó, việc nêu gương của đội ngũ cán bộ với phương châm: “Trên làm gương mẫu mực, dưới tích cực làm theo” thực sự là yếu tố quyết định, mang lại hiệu quả rõ rệt.
Để cụ thể hóa chủ trương, nghị quyết của các cấp ủy đảng, Đảng bộ Quân sự tỉnh Phú Thọ tập trung sức lãnh đạo nhằm dấy lên phong trào thi đua nêu gương sôi nổi, thực chất, thu hút đông đảo cán bộ, đảng viên thực hành. Chủ trương đó được hiện thực thông qua các mô hình: “Tự soi, tự sửa”, “Chủ trương một, giải pháp mười”... Qua đó, vai trò nêu gương, nhất là việc nêu gương trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ chủ trì, chủ chốt các cấp được phát huy tốt.
Hằng năm, các tổ chức đảng thuộc Đảng bộ Quân sự tỉnh đều xác định tiêu chí cụ thể về tác phong, lề lối làm việc đối với cán bộ, đảng viên theo hướng dẫn của cơ quan chức năng các cấp; trong đó, đặc biệt coi trọng tiêu chí về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; lấy kết quả hoàn thành nhiệm vụ làm thước đo, đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của đảng viên, tổ chức đảng.
Theo Đại tá Nguyễn Trọng Liễu, Chủ nhiệm Chính trị Bộ CHQS tỉnh Phú Thọ, sau đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020-2025, đại dịch Covid-19 gây ảnh hưởng, tác động lớn đến mọi mặt đời sống xã hội và nhiệm vụ quân sự, quốc phòng của LLVT tỉnh. Các cơ quan, đơn vị đồng thời triển khai, tổ chức thực hiện nhiều nhiệm vụ, trong đó có những nhiệm vụ đột xuất, gian khổ, nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe, song cán bộ, chiến sĩ LLVT tỉnh luôn phát huy tinh thần đoàn kết, xung kích đi đầu, phối hợp chặt chẽ với các sở, ban, ngành, địa phương hoàn thành mọi nhiệm vụ; được cấp ủy, chính quyền và nhân dân đánh giá cao. Đội ngũ cán bộ thể hiện rõ vai trò, trách nhiệm, không ngại khó khăn, gian khổ, hiểm nguy... để xung kích, dẫn dắt toàn đơn vị hoàn thành tốt các nhiệm vụ.
Đảng ủy Quân sự tỉnh lãnh đạo các cơ quan, đơn vị làm tốt công tác tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương thực hiện hiệu quả nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; xây dựng khu vực phòng thủ và thế trận phòng thủ vững chắc; xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững mạnh; tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân phát triển kinh tế, văn hóa xã hội. Bên cạnh việc ra nghị quyết lãnh đạo nhiệm vụ thường xuyên, Đảng ủy Quân sự tỉnh xây dựng, ban hành các nghị quyết chuyên đề lãnh đạo thực hiện các khâu đột phá; ban hành quy chế lãnh đạo các mặt công tác trọng yếu... bảo đảm sát thực tiễn. “Sau khi cấp ủy có nghị quyết, người chỉ huy xây dựng kế hoạch triển khai tổ chức thực hiện; tiến hành phổ biến, quán triệt nghị quyết, chủ trương của cấp ủy đến 100% cán bộ, đảng viên và quần chúng, tạo sự đồng thuận từ trên xuống dưới”, Đại tá Nguyễn Trọng Liễu nhấn mạnh.
Phong trào nêu gương của cán bộ các cấp trong Đảng bộ Quân sự tỉnh Phú Thọ trở thành tự nguyện, tự giác, được thể hiện rõ thông qua việc phân cấp, phân quyền cả trong lãnh đạo, theo dõi và chịu trách nhiệm. Cán bộ chủ trì các cấp phát huy vai trò nêu gương trong lối sống và việc làm; đáp ứng được các tiêu chí cơ bản về phẩm chất đạo đức, lối sống, trình độ, năng lực, phương pháp, tác phong công tác. Đó là tiêu chí duy nhất để đánh giá, cân nhắc, bổ nhiệm cán bộ, cũng là căn cứ để phê bình, kỷ luật cán bộ một cách nghiêm khắc.
Qua tìm hiểu được biết, khoảng hai năm trước, doanh trại, nơi ăn ở, làm việc của Trung đoàn 753 gặp rất nhiều khó khăn, phần nào tác động đến việc tổ chức thực hiện các nghị quyết của cấp ủy đảng, nhất là từ khi trung đoàn thực hiện quyết định của cấp trên tiến hành sáp nhập với Trường Quân sự tỉnh Phú Thọ. Cùng thời điểm, đơn vị thực hiện nhiều nhiệm vụ đan xen, phức tạp. Đảng ủy, chỉ huy trung đoàn đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, khơi dậy tinh thần tự nguyện, tự giác của từng cán bộ, đảng viên.
Quá trình tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng ủy và các chi bộ đều có sự giám sát, theo dõi của cơ quan chính trị và hội đồng thi đua-khen thưởng, tổ thi đua các cấp. Các tổ chức như hội đồng quân nhân, hội phụ nữ đều xây dựng chương trình hành động sát thực tiễn thực hiện nhiệm vụ của đơn vị. Đảng bộ Trung đoàn 753 vận dụng công nghệ thông tin để triển khai thực hiện nghị quyết và một số nhiệm vụ như tăng gia, chăn nuôi, vệ sinh doanh trại. Tổ chức phát động Phong trào Thi đua Quyết thắng theo từng giai đoạn, từng nhiệm vụ để động viên, khích lệ mọi quân nhân cùng thực hiện.
“Cuối tháng, các chi bộ tổng hợp kết quả lãnh đạo nhiệm vụ và phương hướng tháng tới để Đảng ủy trung đoàn tổng hợp làm cơ sở đánh giá và ra nghị quyết tháng của Đảng bộ trung đoàn. Thông qua kết quả chấm điểm thi đua hằng tuần của tổ thi đua và đối chiếu với nghị quyết, nếu chi bộ nào chưa hoàn thành nhiệm vụ trong tháng đều bị nhắc nhở, phê bình và yêu cầu thực hiện bằng được chỉ tiêu, kế hoạch đề ra; Đảng bộ trung đoàn tổ chức phân công, giao nhiệm vụ, đồng thời gắn trách nhiệm của bí thư, phó bí thư chi bộ, cấp ủy viên được phân công phụ trách trên từng mặt công tác, do vậy chất lượng đưa nghị quyết vào cuộc sống từng bước được nâng cao”, Thượng tá Nhữ Đình Khoe, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Trung đoàn 753 cho biết.
Với cách làm sáng tạo và nhất quán quan điểm “rèn cán, luyện binh” nên việc triển khai các nhiệm vụ được vận hành nhịp nhàng, toàn diện trên cơ sở đề cao trách nhiệm của đội ngũ cán bộ các cấp. Đó là “bí quyết” giúp Đảng bộ Quân sự tỉnh Phú Thọ lãnh đạo LLVT tỉnh gặt hái nhiều thắng lợi trong thời gian qua.
Tuần trước tôi về quê. Vừa về đến nhà, bố tôi kể luôn chuyện về một đại tá-cựu chiến binh trong xã nhiều lần vận động ông đứng ra thành lập “Hội cán bộ cao cấp”.
Tiêu chí tham gia hội là cán bộ quân đội và công an về nghỉ hưu tại xã, có cấp hàm từ thượng tá trở lên. Chẳng là xã tôi có gần 20 cán bộ quân đội và công an nghỉ hưu có cấp bậc quân hàm như thế.
Bố tôi không tán thành, nhưng ông này tiếp tục năn nỉ: “Vì bác là đại tá nâng lương, lại được cán bộ và dân chúng trong làng, trong xã nể trọng, thôi thì bác cứ cho chúng em lấy cái danh của bác đứng ra thành lập hội, còn mọi việc, mọi hoạt động sau này để chúng em lo tất”. Bố tôi cũng không đồng ý.
Lần sau, đại tá-cựu chiến binh nọ lại đi cùng một cựu thượng tá công an đến nhà tiếp tục vận động bố tôi. Lần này hai “cán bộ cao cấp” xuống thang, hy vọng bố tôi chấp thuận-“Thôi không yêu cầu bác đứng ra thành lập hội và không làm chủ tịch hội, nhưng đề nghị bác chỉ cần tham gia hội cũng được, cũng tạo thuận lợi cho chúng em...”.
Nghe xong, bố tôi đã bày tỏ rõ quan điểm và những lời khuyên chân tình với những người mong muốn thành lập “Hội cán bộ cao cấp”. Rằng, chúng ta là cán bộ nghỉ hưu nhưng chúng ta vẫn là những đảng viên của Đảng, vì thế nhất nhất phải chấp hành nghiêm điều lệ và kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt những điều đảng viên không được làm. Việc đảng viên tự đứng ra thành lập hội, nhóm là vi phạm nguyên tắc lãnh đạo và xây dựng Đảng.
Hiện chúng ta đang là hội viên của nhiều tổ chức hội, như: Hội cựu chiến binh, hội người cao tuổi; có người còn là thành viên của hội giáo chức, hội sinh vật cảnh... thì hãy làm tốt vai trò hội viên, thành viên của tổ chức hội đó. Trước đây ai có cấp bậc, chức vụ gì thì cán bộ và người dân cũng biết cả, chứ không phải ai tham gia “Hội cán bộ cao cấp” người dân mới biết là trước đây ông ấy, bà ấy làm to!”. Cái quý nhất, nể trọng nhất của cán bộ, nhân dân địa phương dành cho những người về hưu là ở sự gương mẫu, tiếp tục cống hiến, xây dựng quê hương, chứ không phải trước đó người ấy làm ông to, bà lớn gì. Việc thành lập hội và ai tham gia “Hội cán bộ cao cấp” là tự tách mình ra với các hội, đoàn chính thống, với người dân, chẳng lợi ích gì mà kẻ xấu lại dễ suy diễn, chụp mũ, ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, của chế độ và mối quan hệ giữa Đảng với dân...
Sau hôm ấy, nghe bố tôi nói vậy, chắc những người chủ định thành lập “Hội cán bộ cao cấp” ở xã tôi đã thấm nên không còn ai có ý định thành lập và tham gia cái hội ấy nữa.
Việt Nam sẵn sàng chia sẻ thông tin, kinh nghiệm của mình với Trung Quốc về việc tham gia Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng đã khẳng định như vậy tại buổi họp báo thường kỳ diễn ra theo hình thức trực tuyến chiều 23-9.
Trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng trước việc Trung Quốc chính thức nộp đơn xin gia nhập CPTPP, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng cho biết: “CPTPP là một hiệp định thương mại tự do mở với các cam kết toàn diện nhằm thúc đẩy hợp tác kinh tế - thương mại giữa các nền kinh tế thành viên. Việc Hiệp định CPTPP được các nền kinh tế khác quan tâm và mong muốn trở thành thành viên cho thấy vai trò ngày càng tăng của Hiệp định trong thúc đẩy hợp tác và liên kết kinh tế, thương mại khu vực và quốc tế. Theo các quy định về thủ tục liên quan, các nền kinh tế muốn gia nhập cần đáp ứng các tiêu chuẩn của Hiệp định cũng như tuân thủ các quy trình, thủ tục gia nhập đối với các thành viên mới. Việt Nam sẵn sàng chia sẻ thông tin, kinh nghiệm của mình với Trung Quốc về việc tham gia Hiệp định này”.
* Liên quan tới câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam trước việc ngày 21-9, Tổ chức Freedom House ra báo cáo tiếp tục xếp Việt Nam vào nhóm các quốc gia không có tự do trên Internet, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng nêu rõ: “Đây không phải là lần đầu tiên tổ chức Freedom House đưa ra những đánh giá thiếu khách quan, định kiến dựa trên những thông tin sai sự thật về Việt Nam. Thực tế, những nỗ lực thúc đẩy và bảo đảm quyền con người ở Việt Nam được các nước, tổ chức quốc tế đánh giá cao tại Cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc qua các chu kỳ. Do đó, báo cáo của Freedom House là vô giá trị và tôi thấy không cần thiết phải bình luận thêm”.
* Trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết quan điểm của Việt Nam về Australia, Anh và Hoa Kỳ thiết lập Quan hệ Đối tác An ninh tăng cường ba bên (AUKUS), người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng nêu rõ: “Việt Nam luôn quan tâm theo dõi các diễn biến của tình hình khu vực. Chúng tôi cho rằng hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực cũng như trên thế giới là mục tiêu chung của tất cả các quốc gia và các nước có trách nhiệm đóng góp vào mục tiêu này”.
Từ lâu, một số cơ quan truyền thông phương Tây, nhất là các trang tiếng Việt của những “ông lớn” như VOA, RFA, RFI, BBC... luôn nhân danh tự do, bảo vệ tự do báo chí, tự do ngôn luận để vi phạm một cách trắng trợn hoặc tinh vi, bóp méo sự thật khiến thông tin bị sai lệch, gây phương hại đến sự phát triển của quốc gia khác, ảnh hưởng không tốt đến quan hệ quốc tế...
Sự sai lệch và chủ đích không xây dựng
Thử điểm qua một số tiêu đề trong thời gian gần đây của Đài châu Á Tự do (RFA), một đài phát thanh tư nhân của Hoa Kỳ, xem họ thông tin gì về tình hình Việt Nam. Ví như: “Nước cộng sản Lào khủng hoảng, báo chí Việt tránh đưa tin”, “Thuốc đặc trị chữa tham nhũng: Thay đổi thể chế!”...
Đây nữa, cũng là một số tiêu đề bài báo trên một cơ quan báo chí khác của Mỹ là Đài Tiếng nói Hoa Kỳ (VOA), ví như: “Đảng CS nhắm kỷ luật cựu Chủ tịch TP HCM Nguyễn Thành Phong”, “Xây dựng chủ nghĩa xã hội, xã hội hóa và ơn... đảng”, “Báo chí cách mạng Việt Nam cần cởi mở hơn”, “Dân mong nhà nước mau giảm giá xăng, chớ “so sánh” nữa”...
Không riêng gì hai cơ quan báo chí kể trên, một số cơ quan báo chí ở châu Âu cũng xuất bản trang tiếng Việt với những chủ đích không hề dựa trên nguyên tắc cơ bản nhất của báo chí là sự thật, nhất là việc tôn trọng sự thật khách quan. Có thể kể đến BBC tiếng Việt (Anh), RFI tiếng Việt (Pháp). Có lẽ, cũng không cần phải dẫn thêm những ví dụ về các tiêu đề lệch lạc, không đúng bản chất kiểu này nữa. Bởi chưa cần đọc những bài báo đó viết về vấn đề gì, tính chính xác đến đâu, nhưng chỉ nhìn riêng các tiêu đề đã thấy sự quy kết, chụp mũ những vấn đề chính trị quan trọng, cũng như sự dễ dãi, tùy tiện, “chợ búa” trong cách dùng từ ngữ...
Có một điểm chung nữa hết sức nguy hiểm của các cơ quan báo chí phương Tây kể trên, đó là sự phiến diện, mất cân bằng, mất công bằng trong thông tin. Điều này thể hiện thông qua việc họ chỉ nhăm nhăm vào những thông tin tiêu cực, những hạn chế, khiếm khuyết trong các lĩnh vực mà đào bới, xoáy sâu vào phản ánh. Họ coi những hiện tượng cá biệt ấy là bản chất, là sự phổ biến. Họ cố tình quên những thành quả to lớn mà Việt Nam đạt được trong suốt chiều dài lịch sử hình thành và phát triển, nhất là từ khi đổi mới năm 1986 đến nay. Là một nhà báo, một cơ quan báo chí, lẽ nào họ không biết các tổ chức quốc tế đánh giá khách quan, chân xác về sự phát triển vượt bậc của Việt Nam, là mức sống của người dân được nâng lên đáng kể, là các quyền tự do về ngôn luận, báo chí, tôn giáo, tín ngưỡng, nhân quyền... đều được đề cao, bảo đảm.
Những thông tin quan trọng về thành tựu của Việt Nam thì họ không bao giờ đưa. Ví dụ, ngày 7-6-2022, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã đồng thuận bầu Việt Nam làm Phó chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 77 đại diện châu Á-Thái Bình Dương. Trước đó, Việt Nam đã hai lần được bầu làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (các nhiệm kỳ: 2008-2009, 2020-2021), 5 lần được bầu làm thành viên Hội đồng Chấp hành Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (các nhiệm kỳ: 1978-1983, 2001-2005, 2009-2013, 2015-2019 và 2021-2025), thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2014-2016), thành viên Hội đồng Kinh tế-Xã hội Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2016-2018)...
Trong hơn hai năm qua, khi đại dịch Covid-19 hoành hành khiến cả thế giới chao đảo, Việt Nam đã rất thành công trong phòng, chống đại dịch, sớm kiểm soát được dịch bệnh, đưa mọi hoạt động trở lại trạng thái bình thường mới. Việt Nam đã “mở cửa bầu trời” quốc nội và quốc tế, hoạt động kinh tế nói chung, du lịch nói riêng đã tấp nập trở lại với những mức tăng trưởng đầy khích lệ, hết sức lạc quan. Cuối tháng 6-2022, Ngân hàng UOB (Singapore) đã công bố Báo cáo tăng trưởng kinh tế và dự báo quý kế tiếp cho các thị trường, trong đó có Việt Nam. Báo cáo của UOB vẫn giữ nguyên dự báo tăng trưởng GDP năm 2022 của Việt Nam ở mức 6,5%, bởi đà tăng trưởng cơ bản của Việt Nam vẫn giữ nguyên trong quý II-2022...
Trước đó, vào đầu tháng 6-2022, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam sẽ phục hồi ở mức 6,5% năm 2022 và đạt 6,7% năm 2023. Trong khi đó, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) hạ dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2022 xuống mức 3,6%, nhưng tin rằng tiến trình phục hồi kinh tế tại Việt Nam sẽ mạnh lên từ việc thực thi Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội. Ông Francois Painchaud-Trưởng đại diện IMF tại Việt Nam-cho rằng, GDP Việt Nam sẽ tăng trưởng ở mức 6% trong năm 2022 và 7,2% trong năm 2023...
Có lẽ, chỉ cần đưa những dẫn chứng hết sức cụ thể, khách quan kể trên, theo sự nhìn nhận, đánh giá của thế giới cũng đủ sức thuyết phục về sự tăng trưởng kinh tế, cũng như uy tín, vị thế của Việt Nam hiện nay! Xin được nhắc lại lời khẳng định nhiều lần của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, rằng: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay”.
Sự thật cần phải được tôn trọng!
Xưa nay, ai làm báo chí-truyền thông, thậm chí bất kể người dân bình thường nào cũng có thể dễ dàng hiểu rằng, tiêu đề là phần quan trọng nhất của bài báo, đó chính là phần nội dung đáng chú ý nhất, nêu bật bản chất sự kiện, vấn đề, hiện tượng mà tác phẩm báo chí đề cập đến. Thế nên, chỉ cần nhìn vào các tiêu đề với nội dung gì được nêu ra, ngôn ngữ được sử dụng như thế nào, đã đủ để hình dung được dụng ý sâu xa, bản chất của nhà báo, cũng như cơ quan báo chí. Vậy thử một lần nữa quay lại nhìn một số tiêu đề mà các cơ quan báo chí có phiên bản tiếng Việt đặt, chúng ta sẽ thấy ngay đâu là sự thật ẩn giấu đằng sau những nội dung, ngôn từ giật gân, câu khách, gây sự chú ý bằng những thủ pháp ẩn chứa thông điệp kích động, chống phá, hằn học, gièm pha, giễu nhại... hết sức phi lý.
Thiết nghĩ, cũng như con người vậy, các cụ đã đúc kết “trông mặt mà bắt hình dong”, với hàm ý rằng, chỉ cần chú ý đến hình dáng khuôn mặt của người khác, bạn cũng có thể biết được phần nào, thậm chí rất rõ đặc trưng tính cách, bản chất của con người đó, đặc biệt là những người “lộ tướng”. Và với việc chỉ cần nhìn các tiêu đề bài báo, cũng có thể nhận ra ngay mục đích thực sự của các nhà báo, cơ quan báo chí kể trên đã nhắm đến sự lệch lạc, thiếu tôn trọng sự thật khách quan, quy chụp về đất nước, con người, quốc gia khác. Điều này càng rõ ràng hơn khi sự tiếp cận, những góc nhìn, cùng hệ thống luận điểm, luận cứ đưa ra đã trường diễn suốt bao năm qua.
Chúng ta đều biết rằng, trong "Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền" được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua và công bố theo Nghị quyết 217A (III) ngày 10-12-1948, có Điều 19 khẳng định rằng: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và biểu đạt; bao gồm tự do giữ ý kiến mà không bị can thiệp, cũng như tự do tìm kiếm, thu nhận và truyền bá thông tin và tư tưởng bằng bất cứ phương tiện truyền thông nào và không giới hạn về biên giới”. Rõ ràng, những gì mà các cơ quan báo chí phương Tây nói về Việt Nam, dù bằng bất cứ loại hình báo chí-truyền thông nào, từ báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử đến truyền thông xã hội (ví như YouTube, Facebook...) là không hề bị cấm, không hề bị can thiệp.
Nhưng tuyên ngôn có ý nghĩa nhân văn cao cả ấy đâu chỉ dừng lại ở Điều 19 mà các cơ quan báo chí phương Tây có thể hoàn toàn tự do phóng tác, thêu dệt, mượn một phần sự thật để hướng lái nhằm làm sai lệch bản chất thông tin. Họ quên mất rằng, chính Điều 29 và Điều 30 của "Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền" khẳng định một điểm chung bắt buộc, đó là các quyền tự do ấy phải trong khuôn khổ pháp luật! Mà pháp luật ấy, là của từng quốc gia độc lập, trên cơ sở thượng tôn luật pháp quốc tế, chứ không thể có một thứ gọi là tự do tùy tiện, bất chấp mà chà đạp lên tất cả chỉ để thỏa ý thích nói về cái gọi là “sự thật” theo quan niệm của họ mà thiếu đi sự thật.
Người phương Tây có câu ngạn ngữ rằng, “một nửa cái bánh mì vẫn là bánh mì, nhưng một nửa sự thật thì chưa hẳn là sự thật”. Điều này không có gì phải bàn cãi. Đặc biệt, đối với báo chí-truyền thông, một trong những nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong hoạt động của mình là phản ánh sự thật khách quan, tôn trọng sự thật một cách tuyệt đối, toàn vẹn. Chính vì thế, những kiểu nhân danh tự do để vi phạm tự do ngôn luận, tự do báo chí một cách trắng trợn, tinh vi, có hệ thống, cần phải bị phê phán thích đáng, bất kể chúng ở đâu, nói về vấn đề gì đi chăng nữa. Chỉ một lẽ đơn giản, sự thật cần phải được đề cao, bảo đảm và tôn trọng một cách trọn vẹn!
Chủ nghĩa Mác-Lênin là học thuyết, một hệ thống lý luận khoa học mở, được phát triển không ngừng. Sự nghiệp CM Việt Nam, Đảng ta và CT Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta. Người khẳng định: "Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin". Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết hợp sáng tạo giữa nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và thực tiễn sinh động, lịch sử cụ thể của Việt Nam.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, khẳng định: Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta.
Đó là cơ sở để mỗi chúng ta hãy đề cao cảnh giác, đấu tranh loại bỏ những quan điểm phủ nhận giá trị khoa học, đúng đắn của CN Mác-Lênin./.
Trong giai đoạn hiện nay trước sự phát triển của internet, mạng xã hội thì những tin giả, thông tin bịa đặt chống phá sự nghiệp CM nước ta xuất hiện nhiều trong đời sống xã hội.
Tin giả, thông tin bịa đặt, xấu độc như một loại vi trùng độc hại, xâm nhập, gây rối dư luận, gây mất lòng tin, thậm chí làm khủng hoảng niềm tin. Các thế lực phản động, thù địch và cơ hội chính trị lợi dụng điều này để xuyên tạc, kích động chống phá hòng gây mất ổn định đất nước ta. Vì thế, phải đấu tranh mạnh mẽ để loại bỏ mối hiểm họa thật sự này. Tin giả nhưng hiểm họa lại thật. Tin giả thực sự là một loại vi trùng độc hại, tác động xấu đến nhận thức, hành vi cá nhân, từ đó làm ảnh hưởng đến an ninh, an toàn xã hội. Đặt ra cho mỗi chúng ta cần tự mình có trách nhiệm sàng lọc, tiếp nhận những thông tin tốt, phủ nhận thông tin xuyên tạc, giả mạo để cuộc sống ngày càng tươi đẹp./.
“Nếu mọi người học tập thấm nhuần tinh thần anh dũng và chí khí kiên cường, học được ở Viện bảo tàng, mà quyết tâm làm đúng chính sách của Đảng, đi đúng đường lối quần chúng, đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng, thì chúng ta nhất định thắng lợi trong mọi việc”.
Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài: “Xem Viện bảo tàng cách mạng”, đăng trên Báo Nhân dân, số 1936, ngày 04 tháng 7 năm 1959. Đây là thời kỳ miền Bắc bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, thực hiện kế hoạch 3 năm cải tạo và bước đầu phát triển kinh tế, văn hóa sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Qua đây, Hồ Chí Minh muốn nhắc nhở mọi người về truyền thống tốt đẹp của dân tộc và trách nhiệm phải phát huy truyền thống đó trong điều kiện mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Mỗi người phải thấm nhuần được tinh thần anh dũng, chí khí kiên cường của dân tộc, của con người Việt Nam được kết tinh trong những hiện vật ở bảo tàng và biết vận dụng tạo nguồn lực tinh thần, nỗ lực thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã phát huy cao độ truyền thống yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, không sợ gian khổ, hi sinh, đoàn kết, đồng lòng, anh dũng chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, giải phóng đất nước và giành được những thành tựu bước đầu quan trọng trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa - hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Học tập và làm theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp trong quân đội luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn và triển khai thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục chính trị, giáo dục truyền thống, xây dựng cho bộ đội có bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng, tuyệt đối tin tưởng và chấp hành nghiêm đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; yêu nước, yêu chế độ, trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc, với Nhân dân; tinh thần quyết chiến, quyết thắng, ý chí vượt qua khó khăn, gian khổ, hiểm nguy, sự gan dạ, dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu và công tác; tinh thần đoàn kết nội bộ, tình đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn, tình đoàn kết máu thịt quân - dân; tính kỷ luật tự giác, nghiêm minh, tinh thần quốc tế cao cả... Mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội có trách nhiệm giữ gìn, vun đắp, tô thắm truyền thống của dân tộc, của quân đội và đơn vị, mãi mãi xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”./.
Chủ tịch Hồ Chí Minh hội tụ đầy đủ phẩm chất của một lãnh tụ thiên tài, đồng thời Người còn là hiện thân của một lãnh tụ kiểu mới của nhân dân: Vĩ đại mà không cao xa; thanh cao mà lại vô cùng giản dị, gần gũi, thân thiết, tin tưởng và gắn bó với quần chúng, hết lòng, hết sức chăm lo cho nhân dân. Người thường xuyên giáo dục cán bộ phải nêu cao tinh thần phục vụ, tinh thần trách nhiệm trước nhân dân và chính bản thân Người là tấm gương tiêu biểu.
Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, một học trò xuất sắc và là một cộng sự thân thiết, gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “…Đó là cuộc đời oanh liệt, đầy gian khổ hy sinh, vô cùng cao thượng và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ”.
Tư tưởng và tấm gương suốt đời hy sinh chiến đấu, tận tụy phục vụ, vì nước, vì dân của Bác Hồ càng thúc giục chúng ta CB,CS Quân đội quyết tâm học tập noi theo Người trên mọi cương vị, chức trách cũng như mọi nhiệm vụ được giao, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng Quân đội ta cách mạng, chính quy, tình nhuệ và từng bước hiện đại./.
Vụ trưởng Vụ Quản lý khoa học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
06:07, ngày 03-07-2022
TCCS - Vận dụng sáng tạo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, Đảng ta luôn coi trọng việc kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn để nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ. Đây là một nội dung rất quan trọng trong công tác cán bộ của Đảng, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ vừa “hồng”, vừa “chuyên”, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới.
Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc với các đại biểu dự Hội nghị trực tuyến toàn quốc quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, ngày 28-3-2021_Ảnh: TTXVN
Bản lĩnh chính trị và nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ
“Bản lĩnh” thường được hiểu là khả năng và ý chí kiên định trước mọi hoàn cảnh(1). Bản lĩnh chính trị (BLCT) của cán bộ là khả năng và ý chí kiên định, vững vàng về lý tưởng, mục tiêu của Đảng, nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, đặc biệt là trước những tình thế khó khăn, phức tạp thì cán bộ luôn bình tĩnh, sáng suốt cùng cấp ủy và tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị xác định được chủ trương, giải pháp đúng đắn để vượt qua tình thế đó, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, góp phần thực hiện thắng lợi đường lối và từng bước hiện thực hóa lý tưởng, mục tiêu của Đảng.
Bản lĩnh chính trị là một bộ phận đặc biệt quan trọng của phẩm chất chính trị của cán bộ; cùng với trình độ trí tuệ và phẩm chất đạo đức, lối sống tạo nên chất lượng của đội ngũ cán bộ; bảo đảm cho đội ngũ cán bộ có khả năng vượt qua những khó khăn, thách thức, quyết tâm hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng.
Bản lĩnh chính trị của cán bộ được tạo nên bởi các yếu tố chủ yếu, như tri thức về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tri thức về các khoa học cần thiết khác; sự giáo dục, rèn luyện của các cấp ủy, tổ chức đảng; sự tham gia của các tổ chức trong hệ thống chính trị (HTCT) và nhân dân vào việc giáo dục, rèn luyện BLCT của cán bộ; tình yêu thương, gắn bó và trách nhiệm đối với nhân dân; sự tu dưỡng, rèn luyện, thử thách trong thực tiễn của cán bộ.
Nâng cao BLCT của cán bộ là toàn bộ hoạt động của các cấp ủy, tổ chức và từng cán bộ nhằm phát huy mạnh mẽ vai trò của các yếu tố tạo nên BLCT với sự tham gia của các tổ chức trong HTCT các cấp và nhân dân, để làm cho BLCT của cán bộ được nâng lên, đáp ứng yêu cầu chức trách, nhiệm vụ được giao.
Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng lý luận chính trị của Đảng, cán bộ, đảng viên và nhân dân ta trong cuộc đấu tranh lật đổ các thế lực áp bức, bóc lột, giành chính quyền, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Đường lối của Đảng cũng được coi là bộ phận lý luận chính trị quan trọng, bởi vì phần lớn nội dung trong đường lối của Đảng nhằm giải quyết những mục tiêu chính trị dưới dạng khái quát, cô đọng nhất ở mỗi giai đoạn cách mạng. Như vậy, chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng có quan hệ mật thiết và chi phối các yếu tố khác (những yếu tố tạo nên BLCT của cán bộ) - là cơ sở, yếu tố quan trọng hàng đầu hình thành, phát triển và nâng cao BLCT của cán bộ. Điều này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh luận giải và khẳng định rõ trong các bài viết, bài nói của mình.
Trong tác phẩm “Đường cách mệnh”, khi luận bàn về nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đặt câu hỏi: Cách mệnh trước hết phải có cái gì? Và Người khẳng định: “Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi”(2). Đồng thời, Người chỉ rõ, đảng cách mệnh phải vững vàng, kiên định lý tưởng, mục tiêu và con đường cách mạng đã lựa chọn, xác định đúng đắn đường lối và đề ra các giải pháp lãnh đạo thực hiện hiệu quả nhằm đưa cách mạng đến thắng lợi. Đặc biệt, trong những lúc cách mạng gặp hiểm nguy, đảng cách mạng phải bình tĩnh, sáng suốt, kịp thời đề xuất và thực hiện các giải pháp đúng đắn ấy để đưa cách mạng vượt qua khó khăn, “thác ghềnh”, phong ba, bão táp, đi đến thắng lợi. Tức là, Đảng phải có BLCT vững vàng, như Người từng khẳng định: “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”(3). Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cũng chỉ ra và khẳng định yếu tố đặc biệt quan trọng, mang tính cốt lõi tạo nên sự bình tĩnh, sáng suốt của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng và của đội ngũ cán bộ trong thực hiện nhiệm vụ được giao - yếu tố tạo nên BLCT của Đảng và của đội ngũ cán bộ - chính là chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Người viết: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”(4).
Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục luận giải: “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”(5). Phần lớn hoạt động phát triển và nâng cao BLCT của cán bộ là thông qua hoạt động thực tế của các cấp ủy, tổ chức đảng, các tổ chức trong HTCT và của từng cán bộ. Các hoạt động này chỉ có thể đem lại hiệu quả, phát huy mạnh mẽ vai trò nâng cao BLCT của cán bộ khi được lý luận soi sáng, dẫn đường. Không được lý luận soi sáng, dẫn đường thì những hoạt động nâng cao BLCT của cán bộ sẽ mất phương hướng chính trị, gây hậu quả không tốt cho sự phát triển của từng cán bộ và cả sự nghiệp cách mạng.
Tri thức của cán bộ về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng chỉ có thể được hình thành thông qua việc học tập nghiêm túc của cán bộ ở các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Đảng, Nhà nước, đặc biệt là trong hệ thống trường đảng. Điều này phụ thuộc rất lớn vào chất lượng dạy và học, gồm chất lượng nội dung, chương trình phù hợp với từng đối tượng cán bộ; chất lượng đội ngũ giảng viên; hình thức, phương pháp dạy và học; việc quản lý dạy và học; môi trường học tập ở các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; tinh thần, thái độ của người học. Tri thức của cán bộ về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng còn có được thông qua sinh hoạt đảng, các tổ chức chính trị - xã hội, hoạt động thực tiễn và việc tự giác thường xuyên tự học tập suốt đời của cán bộ.
Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng cùng đồng chí Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương và các đại biểu tham dự Lễ ra mắt cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”_Ảnh: TTXVN
Vai trò của rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn đối với việc nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ
Bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ chỉ có thể được hình thành và từng bước nâng cao thông qua rèn luyện, thử thách bền bỉ, thường xuyên và lâu dài trong thực tiễn, qua những thử thách cam go khi đứng trước những vấn đề gay cấn, phức tạp nảy sinh trong thực tiễn hoạt động của cán bộ. Trong hoạt động thực tiễn, cán bộ phải biết vận dụng sáng tạo những kiến thức lý luận đã học vào thực tiễn, giải quyết đúng đắn những vấn đề nảy sinh, hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. Thực tiễn là “trường học” tốt nhất để củng cố, phát triển và nâng cao BLCT của cán bộ. Thực tế cho thấy, sự rèn luyện, thử thách trong thực tiễn, sự đối mặt với những khó khăn, thách thức, quyết liệt đương đầu với kẻ thù tàn bạo, thâm độc, xảo quyệt đã tôi luyện, nâng cao khả năng, ý chí kiên định, sự linh hoạt, sáng suốt của Đảng và của đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập, tự do để kịp thời đề ra các chủ trương, giải pháp đúng đắn đưa cách mạng đến thắng lợi.
Trong thời kỳ đổi mới hiện nay, đội ngũ cán bộ tuy không phải trực tiếp đối mặt với kẻ thù tàn bạo, phản động, tội phạm (trừ cán bộ là lực lượng vũ trang); song, họ lại phải đối mặt với những tác động, thử thách không hề nhỏ. Đó là những cám dỗ của tiền tài, vật chất, tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường, quá trình mở cửa, hội nhập quốc tế; sự cám dỗ của địa vị, quyền lực; sự lôi kéo, mua chuộc của các thế lực thù địch, phản động với âm mưu, thủ đoạn rất thâm độc, xảo quyệt hòng làm cho người cán bộ suy giảm hoặc đánh mất BLCT, gây thiệt hại cho Đảng và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.
Những thử thách nêu trên đối với cán bộ không kém phần gay gắt, nghiệt ngã so với những thử thách trong chiến đấu chống quân thù giành độc lập dân tộc. Vì thế, rèn luyện trong thực tiễn và nỗ lực vượt qua được những thách thức hiện nay có vai trò rất to lớn trong việc củng cố, phát triển và nâng cao BLCT của cán bộ.
Từ tư tưởng Hồ Chí Minh về huấn luyện cán bộ đến bài học có giá trị lớn trong công tác cán bộ của Đảng ta
Bản lĩnh chính trị của người cán bộ là một nội dung rất quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng. Theo Người, đạo đức cách mạng của người cán bộ được thể hiện ở những phẩm chất, như trung với nước, hiếu với dân; thương yêu con người; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng... đây cũng là những biểu hiện của BLCT của người cán bộ, trong đó sự liêm chính là biểu hiện rõ nhất.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng:“LIÊM là không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ”(6). Quang minh chính đại trong khái niệm “LIÊM” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những đặc trưng của BLCT của người cán bộ. Người chỉ rõ: “Chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Điều gì không đứng đắn, thẳng thắn, tức là tà”(7). Đây là một đặc trưng cơ bản của BLCT của cán bộ, là sự chính trực của cán bộ và trên thực tế, người cán bộ chính trực thường được gọi là cán bộ có BLCT.
Cán bộ và công tác cán bộ là những vấn đề nhận được sự quan tâm đặc biệt, xuyên suốt trong tư tưởng và hành động của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác xây dựng Đảng. Đặc biệt, huấn luyện cán bộ là một nội dung rất quan trọng, thể hiện trong các luận điểm nổi tiếng của Người: “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”(8); “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”(9); “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”(10).
Huấn luyện cán bộ gồm nhiều nội dung, trong đó huấn luyện lý luận chính trị có vai trò quan trọng hàng đầu. Mọi cán bộ đều phải được huấn luyện lý luận chính trị. Huấn luyện cán bộ gồm huấn luyện ở nhà trường qua các lớp đào tạo cơ bản, các lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kinh nghiệm công tác; qua sinh hoạt đảng, đoàn thể; sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, sự kèm cặp của cán bộ chủ chốt ở cơ quan, đơn vị trong quá trình làm việc; qua thực tiễn công tác và việc tự học tập của cán bộ... Như vậy, học tập lý luận chính trị phải được kết hợp chặt chẽ với hoạt động thực tiễn của cán bộ thì mới đem lại hiệu quả, thiết thực.
Khi được trang bị tri thức lý luận chính trị và vận dụng vào trong công việc thực tế, cán bộ sẽ vững vàng, tự tin xử lý có kết quả những vấn đề nảy sinh, vượt qua những khó khăn, thách thức, kể cả những khó khăn lớn, thách thức quyết liệt, gay cấn để thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao; qua đó, họ từng bước trưởng thành. Đây là sự kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa việc học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách trong thực tiễn, tạo nên sự trưởng thành của cán bộ, trong đó có sự trưởng thành về BLCT và được nâng cao qua từng thời kỳ cách mạng. Sự trưởng thành của cán bộ nhờ rèn luyện, thử thách trong thực tiễn sau khi học tập lý luận chính trị được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Lúc học rồi, họ có thể tự mình tìm ra phương hướng chính trị có thể làm những công việc thực tế, có thể trở nên người tổ chức và lãnh đạo. Thế là lý luận thiết thực, có ích”(11). Như vậy, sự kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách trong thực tiễn sẽ đem lại hiệu quả về nhiều mặt đối với cán bộ, mà điều quan trọng hàng đầu chính là góp phần nâng cao BLCT của đội ngũ này.
Cách mạng luôn luôn vận động, phát triển không ngừng và ngày càng đặt ra yêu cầu cao hơn đòi hỏi Đảng, từng cán bộ phải không ngừng nâng cao BLCT để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của từng thời kỳ cách mạng. Vì thế, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm và đặt lên hàng đầu việc giáo dục, rèn luyện, giữ vững và nâng cao BLCT của cán bộ; nhờ đó, chất lượng đội ngũ cán bộ ngày càng được nâng lên, góp phần đưa cách mạng nước ta vượt qua những khó khăn, thách thức lớn, nhất là khi cách mạng chuyển sang giai đoạn mới với nhiệm vụ mới mẻ, phức tạp, nặng nề hơn trước, để đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Nhận thức sâu sắc vai trò đặc biệt quan trọng của đội ngũ cán bộ đối với thắng lợi của cách mạng, trước khi Đảng ta ra đời, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chỉ đạo chọn những thanh niên ưu tú, “những hạt giống đỏ” đưa đi học tập lý luận chính trị ở Quảng Châu, Trung Quốc tại những lớp do Người trực tiếp biên soạn bài giảng và giảng dạy. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã truyền đạt những nội dung lý luận rất sâu sắc, thiết thực, với cách giảng dạy rất khoa học cho học viên; trong đó, Người rất coi trọng việc gắn chặt lý luận với thực tiễn cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động ở các nước trên thế giới và với thực tiễn cách mạng nước ta. Nhờ đó, việc học tập lý luận chính trị đã nhanh chóng đem lại hiệu quả, có tác dụng rất to lớn, thiết thực đối với lớp cán bộ tiền bối của Đảng.
Nhờ kết hợp chặt chẽ việc học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách trước những cam go, thách thức quyết liệt của cách mạng nước ta trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền, BLCT của đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng khi đó được nâng cao, đáp ứng tốt yêu cầu của cách mạng. Mặc dù gặp nhiều khó khăn, gian khổ và phải đối mặt với sự ác liệt của cuộc đấu tranh giành chính quyền, song Đảng ta luôn tìm ra các giải pháp phù hợp, hiệu quả để huấn luyện, trang bị lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; đồng thời, coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo việc kết hợp chặt chẽ, hiệu quả việc học tập lý luận chính trị với tăng cường rèn luyện, thử thách đội ngũ cán bộ, đảng viên trong thực tiễn để nâng cao chất lượng về mọi mặt, trong đó có BLCT của họ. Những hoạt động này, cùng với sự nêu gương, sự dẫn dắt, lan tỏa của những cán bộ tiền bối, BLCT của đội ngũ cán bộ ngày càng được nâng cao. Với BLCT vững vàng, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng khi đó (chỉ khoảng 5.000 đảng viên) đã cùng toàn thể dân tộc giành thắng lợi to lớn trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, Đảng ta trở thành đảng cầm quyền, nhân dân Việt Nam từ kiếp nô lệ thành người làm chủ đất nước.
Đội ngũ cán bộ tiếp tục được Đảng huấn luyện về mọi mặt, coi trọng huấn luyện lý luận chính trị kết hợp chặt chẽ với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn, đã đem lại hiệu quả thiết thực; nhờ đó, BLCT của cán bộ luôn được nâng cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của các thời kỳ cách mạng tiếp theo. Đây là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi to lớn trong các cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược và bọn tay sai và trong khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc sau khi thống nhất đất nước.
Nâng cao bản lĩnh chính trị của cán bộ đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới
Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta luôn chú trọng việckết hợp chặt chẽ, hiệu quả học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thựctiễn để nâng cao BLCT của cán bộ. Qua đó, BLCT của đội ngũ cán bộ nước ta được nâng lên một bước mới, cùng Đảng vững vàng lãnh đạo nhân dân ta vượt qua những khó khăn, thách thức mới, quyết liệt chưa từng có, tận dụng những thời cơ và thuận lợi để đưa sự nghiệp đổi mới đất nước giành được những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử, mở ra thời kỳ phát triển mới của đất nước. Điều này đã được Đại hội XIII của Đảng chỉ ra và khẳng định: “Nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(12).
Tuy nhiên, công cuộc đổi mới đất nước trong những thập niên tới sẽ còn gặp những khó khăn, phức tạp, thách thức không nhỏ: “tình hình thế giới tiếp tục có những diễn biến rất nhanh, phức tạp, khó dự báo… Bốn nguy cơ mà Đảng đã chỉ ra vẫn còn tồn tại, có mặt gay gắt hơn; các mối đe dọa độc lập, chủ quyền, lợi ích chiến lược của đất nước, nhất là trên Biển Đông; vấn đề an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, cạn kiệt tài nguyên, xu hướng già hóa dân số; tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; sự chống, phá quyết liệt của các thế lực thù địch, các tổ chức phản động”(13). Tình hình đó đặt ra yêu cầu phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; trong đó, nâng cao BLCT của đội ngũ cán bộ là vấn đề quan trọng hàng đầu.
Nâng cao BLCT của đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới đất nước trong thời kỳ phát triển mới được Đảng ta xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm; thể hiện trong các văn kiện quan trọng của Đảng và sự lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện quyết liệt. Cụ thể là:
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” xác định mục tiêu: “Kiên quyết khắc phục những yếu kém trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, trách nhiệm, năng lực và động cơ đúng đắn, thực sự tiên phong, gương mẫu, luôn đặt lợi ích của tập thể, quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, thực sự là cán bộ của dân, phục vụ nhân dân”(14). Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa XII “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”, nhấn mạnh: “Xây dựng đồng bộ, toàn diện các đối tượng cán bộ ở các cấp. Chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, tính chuyên nghiệp, tinh thần phục vụ nhân dân của cán bộ, công chức, viên chức”(15).
Các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng cùng Bí thư Tỉnh ủy Quảng Bình Vũ Đại Thắng cứu trợ người dân vùng rốn lũ gặp hoàn cảnh khó khăn ở huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình (năm 2020)_Ảnh: TTXVN
Đại hội XIII của Đảng xác định: “Tiếp tục nâng cao lập trường, bản lĩnh chính trị, trí tuệ, tính chiến đấu của toàn Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp, nhất là cấp chiến lược”(16). “Nâng cao bản lĩnh chính trị, trí tuệ, sự gương mẫu, tinh thần vì nhân dân phục vụ của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt và người đứng đầu các cấp”(17). Đặc biệt, Đại hội XIII bổ sung và nhấn mạnh những đặc trưng cơ bản rất quan trọng mà đội ngũ cán bộ cần có, đó là “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”(18). Những đặc trưng này, cũng là những đặc trưng rất cơ bản của BLCT của đội ngũ cán bộ trong giai đoạn hiện nay.
Những chủ trương, quan điểm và chỉ dẫn của Đảng là cơ sở và căn cứ rất quan trọng để nâng cao nhận thức và xác định chủ trương, giải pháp đúng đắn để nâng cao BLCT của đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của thời kỳ phát triển mới của đất nước. Trong đó, cần tập trung thực hiện những giải pháp nhằm kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn để nâng cao BLCT của đội ngũ cán bộ trong thời gian tới, cụ thể như sau:
Một là, nâng cao nhận thức sâu sắc, thống nhất và trách nhiệm của các cấp ủy, đội ngũ cán bộ, đảng viên về việc kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn để nâng cao BLCT của cán bộ, trước hết là những cán bộ của cơ quan, đơn vị mình.
Hai là, tiếp tục cụ thể hóa tiêu chuẩn chức danh cán bộ các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị, trong đó coi trọng xác định rõ tiêu chuẩn cụ thể về BLCT của chức danh cán bộ, làm cơ sở và định hướng cho việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ về mọi mặt, nhất là về lý luận chính trị và về rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn cũng như việc kết hợp chặt chẽ, hiệu quả các hoạt động này.
Ba là, đổi mới mạnh mẽ, nâng cao chất lượng dạy và học lý luận chính trị; việc lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đối với việc rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn, tạo cơ sở cho việc kết hợp chặt chẽ, hiệu quả học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn để nâng cao BLCT của cán bộ.
Bốn là, tiếp tục thực hiện quyết liệt, hiệu quả Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””; đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; trong đó, cần coi trọng việc học tập và làm theo tư tưởng của Người về đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư...
Năm là, cổ vũ, động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ tự giác học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị, tự rèn luyện trong thực tiễn; từng cán bộ thực hiện kết hợp việc tự học tập lý luận chính trị với việc tự rèn luyện trong thực tiễn đạt kết quả để nâng cao BLCT.
Sáu là, phát huy mạnh mẽ vai trò của các tổ chức trong hệ thống chính trị và sự tham gia của nhân dân vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đối với việc kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn để góp phần nâng cao BLCT của đội ngũ cán bộ trong thời kỳ mới./.