Thứ Bảy, 3 tháng 9, 2022
ĐÁNH KẺ CHẠY ĐI!
XIN HỎI CÁC ĐỒNG CHÍ LÃNH ĐẠO CÁC TỈNH, THÀNH PHỐ PHÍA NAM?
MỘT CÁN BỘ CAO CẤP VỀ HƯU SUY THOÁI TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ
Ông Nguyễn Đình Bin từng là lãnh đạo cấp cao, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao đã về hưu.
Lẽ ra, một vị trí hậu hĩnh như ông khi về hưu đang còn sức khỏe thì cùng cấp ủy, chính quyền địa phương tham gia công cuộc xây dựng đất nước, xây dựng và bảo vệ Đảng trước những thủ đoạn chuyển hóa chính trị của các thế lực thù địch thì thay vào đó ông lại đi nắm đuôi bọn phản động chống lại sự nghiệp của Đảng, đi ngược lại mục tiêu của đồng chí, đồng bào.
Nguyễn Đình Bin từng là thủ phạm làm dư luận Việt Nam phẫn nộ dậy sóng khi đòi hỏa táng thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh; gọi Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là “cuộc nội chiến, huynh đệ tương tàn”, và đòi vinh danh ngụy Sài Gòn từng làm tay sai cho kẻ xâm lược. Nguyễn Đình Bin còn thể hiện rõ tư tưởng bài xích, tuyên chiến, phỉ báng Chủ nghĩa Mác - Lênin. Mới đây, Sau khi Phạm Đoan Trang bị Tòa án Cao cấp Hà Nội tuyên y án 9 năm tù vì "tội tuyên truyền chống Nhà nước" thì ông ta lại tôn vinh Pham Đoan Trang là "anh hùng" để tiếp tay cho đám cờ vàng ba sọc cấu kết với các thế lực bên ngoài can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.
Ông Nguyễn Đình Bin, với tư cách là 1 đảng viên, cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước mà suy thoái tư tưởng trầm trọng, có nhiều việc làm, phát ngôn vi phạm nghiêm trọng Quy định 37-QĐ của BCH Trung ương về "những điều đảng viên không được làm". Ông ta không khác gì một "hiện tượng" Chu Hảo, cũng từng là Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ về hưu trở cờ chống lại Đảng buộc UBKT Trung ương phải thi hành kỷ luật khai trừ khỏi Đảng, cách hết các chức vụ Đảng và Chính quyền năm 2018.
Có lẽ, với những người lòng dạ không trong sáng như ông Nguyễn Đình Bin, đã đến lúc UBKT Trung ương cũng cần xác minh, làm rõ, xử lý nghiêm không để bức xúc trong dư luận, làm mài mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng ta./.
CÁN BỘ, CHIẾN SỸ QUÂN ĐỘI TA HÃY CẢNH GIÁC VỚI ÂM MƯU "PHI CHÍNH TRỊ HOÁ" CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH!
Thứ Sáu, 2 tháng 9, 2022
Đừng bị “lạc trôi” theo những lời tung hô, kích động
Ngày 25/8, TAND cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm, xét đơn kháng cáo của bị cáo Phạm Thị Đoan Trang (sinh năm 1978, trú tại phường Cát Linh, quận Đống Đa, Hà Nội) trong vụ án “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”.
Cũng tương tự như tại phiên sơ thẩm, các trang mạng truyền thông chống phá Việt Nam ở nước ngoài lại tiếp tục điệp khúc “kêu oan” cho bị cáo Phạm Thị Đoan Trang. Họ đưa ra các bài viết tô vẽ hình tượng, tạo dựng một bị cáo “giữ vững chí khí”, lập luận rằng Phạm Thị Đoan Trang không phạm tội, cần “trả tự do ngay lập tức”!
Cũng với cách tiếp cận này, một số trang mạng còn dùng chiêu “cập nhật diễn biến phiên toà”, đưa thông tin, hình ảnh trong và ngoài phiên toà, thông tin về sức khoẻ, thái độ bị cáo, về thân nhân, việc tranh tụng tại toà… nhằm tạo điểm nhấn gây chú ý như là một sự kiện “bất thường”! Không ít bài viết lấy cớ “minh oan” cho bị cáo, đưa ra lời lẽ phê phán, đả kích phiên toà, đả kích nền tư pháp Việt Nam, từ đó coi đây là “dẫn chứng” để rêu rao trước công luận về “phiên toà bịt miệng”, một thể chế người dân bị bỏ tù vì “dám lên tiếng đấu tranh cho tự do, dân chủ”!
Điều đáng nói, sự tung hô, đánh tráo bản chất vụ án của các trang mạng truyền thông này được sự hậu thuẫn từ những tuyên bố sai lệch của một số cơ quan ngoại giao. Sau khi kết thúc phiên toà, tuyên bố của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ nêu “Hoa Kỳ hết sức lo ngại trước bản án được giữ nguyên và bản án 9 năm tù đối với tác giả và nhà báo Việt Nam nổi tiếng Phạm Thị Đoan Trang”.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Ned Price nói rằng, việc bị cáo Phạm Thị Đoan Trang tiếp tục bị giam giữ là trường hợp mới nhất trong “một mô hình đáng báo động về việc bắt giữ và kết án các cá nhân ở Việt Nam vì đã bày tỏ ý kiến một cách ôn hòa”. Từ đó, bản tuyên bố “kêu gọi chính phủ Việt Nam trả tự do cho bà Trang”!
Trước đó, cũng chính Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã trao cái gọi là “Giải thưởng Phụ nữ Dũng cảm quốc tế (IWOC) năm 2022” cho Phạm Thị Đoan Trang với những lý do rất dễ tạo cớ cho các thế lực chống phá Việt Nam “bấu víu”. Cùng với đó, tuyên bố của người phát ngôn EU cũng đưa ra những thông tin lệch lạc khi cho rằng, tòa phúc thẩm Hà Nội giữ nguyên bản án đối với Phạm Đoan Trang với “tội danh mơ hồ”, “bắt giữ tuỳ tiện”, từ đó đưa ra những bình luận sai trái: “Nhiều vụ bắt giữ và kết án tùy tiện đối với các nhà hoạt động ôn hòa và các nhà báo là trái ngược trực tiếp với luật nhân quyền quốc tế”.
Cũng “té nước theo mưa”, tổ chức Phóng viên Không biên giới (RSF) ra thông cáo bày tỏ “sự bất bình trước bản án phúc thẩm của bà Trang”! Cũng chính RSF từng tung ra trò giải thưởng báo chí rồi “vinh danh” người đoạt giải RSF 2019 về quyền tự do báo chí cho Phạm Thị Đoan Trang. Lần này, RSF lấy cớ phiên phúc thẩm y án 9 năm tù với bị cáo rồi “kêu gọi các đối tác thương mại của Việt Nam, chẳng hạn như EU và Hoa Kỳ, yêu cầu trả tự do cho bà Phạm Đoan Trang như một phần trong thỏa thuận của họ với Hà Nội”.
Ông Daniel Bastard, Giám đốc văn phòng châu Á - Thái Bình Dương của RSF đưa ra những lời lẽ cố tình phớt lờ sự thật để nhằm lấy cớ chỉ trích Việt Nam: “Cuộc chiến của bà Trang cho một nền báo chí tự do cho tất cả mọi người vượt ra ngoài biên giới của đất nước, đó là cuộc chiến cho một quyền phổ biến”.
“Thổi lửa” sự kiện này, Ủy ban Bảo vệ ký giả (CPJ) dẫn lời ông Shawn Crispin, đại diện khu vực Đông Nam Á của tổ chức này: “CPJ mạnh mẽ lên án phán quyết của tòa án ngày hôm nay bác bỏ kháng cáo của nhà báo Phạm Thị Đoan Trang về bản án 9 năm tù của bà. Việt Nam phải trả tự do cho bà Trang và tất cả các nhà báo khác mà nước này giam giữ một cách sai trái sau song sắt”! Cũng chính CPJ mới đây đã ra tuyên bố sẽ trao “Giải thưởng Tự do báo chí Quốc tế (IPFA) năm 2022” cho Phạm Thị Đoan Trang, dự kiến vào cuối năm 2022.
Như vậy, từ những phát ngôn của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, EU với những thông tin sai lệch về vụ án cũng như đưa ra những tuyên bố, kêu gọi phi thực tế, các tổ chức chống phá Việt Nam như RSF, CPJ… được dịp “lên đồng” với các tuyên bố, thông cáo cố tình xuyên tạc sự thật, chỉ trích, miệt thị nền tư pháp, chỉ trích Đảng, Nhà nước Việt Nam dưới chiêu bài nhân quyền, tự do báo chí, tự do ngôn luận. Hành động này cũng thể hiện tương tự như tại phiên toà sơ thẩm hồi năm ngoái, dù nội dung, bản chất vụ án đã được thể hiện rất rõ và thông tin cụ thể trên các phương tiện truyền thông.
Đây là vụ án xét xử công khai, hoàn toàn không có gì “mập mờ” hay “tuỳ tiện” như những phán xét nói trên. Việc xét xử phúc thẩm là dựa trên kháng cáo của bị cáo và TAND cấp cao tại Hà Nội đã mở thủ tục phiên toà theo đúng trình tự pháp luật tố tụng hình sự. Cáo trạng tại phiên phúc thẩm một lần nữa nêu rõ, trong khoảng thời gian từ ngày 16/11/2017 đến 5/12/2018, bị cáo Phạm Thị Đoan Trang có hành vi làm, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, bài viết có nội dung nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Ngoài ra, bị cáo Đoan Trang còn trả lời phỏng vấn trên truyền thông nước ngoài với nội dung xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước, phỉ báng chính quyền nhân dân, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân. Cụ thể, Phạm Thị Đoan Trang có hành vi tàng trữ các tài liệu: “Báo cáo tóm tắt về thảm họa môi trường biển Việt Nam”; “Đánh giá chung về tình hình nhân quyền tại Việt Nam”; "Báo cáo đánh giá về luật tôn giáo và tín ngưỡng năm 2016 liên quan đến việc thực hiện quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng ở Việt Nam”. Cơ quan tố tụng xác định, các tài liệu trên có nội dung tuyên truyền, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân, tuyên truyền thông tin xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.
Vào giữa tháng 12/2021, TAND thành phố Hà Nội đã xét xử sơ thẩm vụ án và tuyên án phạt 9 năm tù đối với bị cáo Phạm Thị Đoan Trang về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”. Cần thấy rằng, việc toà phúc thẩm có giảm nhẹ hình phạt hay không phải căn cứ hồ sơ, tài liệu, có tình tiết mới nào là căn cứ giảm nhẹ hình phạt hay thái độ của bị cáo có ăn năn, hối lỗi so phiên sơ thẩm? Tuy nhiên, diễn biến tại phiên toà cho thấy, dù cáo trạng đã nêu rõ tính chất, mức độ phạm tội, các căn cứ kết án, bị cáo Phạm Thị Đoan Trang vẫn giữ thái độ như trước đó, tiếp tục cho rằng mình không phạm tội và kêu oan. Khi được HĐXX giải thích, bị cáo Phạm Thị Đoan Trang không thành khẩn khai báo, có thái độ chống đối tại phiên tòa. Trong khi đó, trên cơ sở xét hỏi công khai tại phiên phúc thẩm, căn cứ lời khai, tài liệu, kết quả giám định, tòa phúc thẩm nhận định, đủ cơ sở để kết luận hành vi phạm tội của bị cáo. Toà phúc thẩm đánh giá, việc tòa sơ thẩm tuyên án phạt 9 năm tù đối với bị cáo Phạm Thị Đoan Trang về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” là đúng người, đúng tội, không oan, hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội. HĐXX xác định hành vi của bị cáo Phạm Thị Đoan Trang là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý xâm phạm chế độ và Nhà nước trên lĩnh vực tư tưởng-văn hóa, xã hội, xâm phạm đến sự vững mạnh của chính quyền nhân dân. Bản thân bị cáo là người có trình độ nhận thức nhất định. Bị cáo hiểu và biết rõ hậu quả hành vi vi phạm của mình nhưng vẫn tích cực thực hiện trong một thời gian dài, do vậy cần phải xử phạt nghiêm minh. Vì vậy, toà phúc thẩm tuyên y án 9 năm tù đối với bị cáo.
Rõ ràng, khi không có tình tiết nào làm thay đổi tính chất vụ án, bị cáo là người có nhận thức, hiểu hành động mình làm nhưng vẫn quanh co chối tội và có thái độ chống đối thì không có căn cứ nào để giảm nhẹ hình phạt. Căn cứ quan trọng nhất là thái độ thì đến phiên phúc thẩm, bị cáo vẫn không có dấu hiệu nào cho thấy sự hối lỗi, ăn năn về hành vi phạm tội của mình thì HĐXX lấy cơ sở nào để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo so bản án sơ thẩm.
Rõ ràng, chính bị cáo đã tự tước lấy cơ hội giảm nhẹ hình phạt với thái độ ngoan cố của mình. Bị cáo hay nếu ai đó còn suy nghĩ chờ đợi những tung hô, kêu gọi của các tổ chức, cá nhân bên ngoài để được giảm án, xoá án hay để thành “thần tượng”, thành tâm điểm của sự chú ý nào đó thì đây là lúc họ cần nghĩ lại, nhìn nhận lại.
“Đánh người chạy đi, không ai đánh người chạy lại”, luật pháp nghiêm khắc nhưng cũng nhân văn, khoan hồng với những ai biết lỗi lầm mà ăn năn sám hối, điều đó tùy thuộc ý thức và hành động của chính mình chứ không phải ở sự tung hô nào khác.
Màn kịch “kêu oan” sau phiên toà phúc thẩm xét xử Trịnh Bá Phương, Nguyễn Thị Tâm
Tung tin giả, tô vẽ hình tượng để kêu oan cho các bị cáo trước, trong và sau phiên tòa đã trở thành chiêu trò quen thuộc của những đối tượng chống phá Việt Nam. Đây cũng là thời cơ để các đối tượng “mượn gió bẻ măng” nhằm tuyên truyền xuyên tạc, bôi nhọ ngành Tư pháp và chế độ.
Ngay sau khi TAND cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm 2 bị cáo Trịnh Bá Phương (sinh năm 1985) và Nguyễn Thị Tâm (sinh năm 1972), cùng trú tại phường Dương Nội, quận Hà Đông, Hà Nội về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”, các đối tượng tự xưng “nhà dân chủ”, các trang báo như BBC, RFA, VOA... đã đồng loạt lên tiếng “bẻ lái” vụ án, tìm cách tẩy trắng tội danh nhằm “kêu oan” cho các đối tượng.
Vở kịch này khởi nguồn từ bài viết của một nhân vật với danh nghĩa luật sư, tung lên trên mạng xã hội. Nội dung của bài viết phản ánh về quá trình diễn ra phiên tòa xét xử phúc thẩm, trong đó chủ yếu tập trung ngòi bút của mình để “ca ngợi” bị cáo Trịnh Bá Phương và Nguyễn Thị Tâm với những lời lẽ thật mĩ miều như: “tại phiên tòa, tâm thế của các bị cáo rất hiên ngang, mạnh mẽ và bình tĩnh trong phiên đối chấp trước tòa”! Và cũng theo tác giả này, biểu hiện đó của các bị cáo cho thấy “khả năng xử lý thật đáng làm người ta phải kinh ngạc”!?
Các “nhà dân chủ” giả hiệu ở trong và ngoài nước cho đến các trang báo điện tử thiếu thiện chí với Việt Nam như BBC, VOA, RFA... cũng “té nước theo mưa”, tạo nên làn sóng phản đối tẩy chay phiên tòa, “tẩy trắng” tội danh cho các đối tượng.
Xuất hiện những bài viết có nội dung ca ngợi, xây dựng các bị cáo trở thành những “người hùng”, coi đó là biểu tượng của những những người “dám đấu tranh cho sự phản kháng quật cường trước các vấn đề trong xã hội”! Nhưng “vải thưa không che được mắt thánh”, đối chiếu với những bằng chứng về các hành vi phạm tội của các đối tượng, chúng ta thấy rõ những thông tin, luận giải của những “nhà dân chủ” nêu trên là trò hề, là vở hài kịch được vẽ ra để tung hứng.
Trò diễn kịch bấy lâu nay, các đối tượng tung ra hòng lừa bịp những người còn thiếu hiểu biết, nhẹ dạ cả tin nhằm cố tạo làn sóng ngược dòng, thể hiện chút nghĩa tình với các bị cáo đã bị sa vào vòng lao lý, không bỏ rơi những “chân rết” của mình trong “cuộc đấu tranh vì dân chủ”! Hoặc cũng có thể là họ cố tình đóng vai những người “đạo đức”, tỏ ra bênh vực, đồng cảm để bày tỏ sự quan tâm, động viên, khích lệ tới thân nhân của các đối tượng chống đối.
Thực tế quá trình đấu tranh, xử lý các đối tượng chống phá Đảng, Nhà nước, nhân dân, hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia cho thấy, không ít người đã lầm tưởng dẫn tới sự tự tin thái quá khi được các tổ chức, cá nhân thù địch, chống phá Việt Nam hậu thuẫn, chống lưng hoặc được các trang báo điện tử thiếu thiện chí ở nước ngoài dùng làm trò tiêu khiển như những quân cờ.
Khi được những tổ chức, cá nhân thù địch “hỏi quan điểm” dưới dạng trao đổi, phỏng vấn, đánh giá về vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền, số “chân rết” này ảo tưởng về sự bao bọc, đãi ngộ vật chất nên mặc nhiên trả lời theo chủ ý của kẻ xấu, xuyên tạc tình hình thực tế mà không nghĩ đến hậu quả của sự xảo trá, bôi nhọ do mình gây ra.
Đã có nhiều “tấm gương mờ” vì ảo tưởng và động cơ tiêu cực mà tiếp tay cho kẻ xấu. Việc xét xử được thông tin công khai, rộng rãi trên các phương tiện truyền thông đại chúng nhằm nâng cao ý thức cảnh giác, sự răn đe, cảnh tỉnh cho những người lầm đường lạc lối. Thế nhưng, bên cạnh những người đã kịp thức tỉnh “quay đầu là bờ” thì vẫn còn có một số người vẫn ngoan cố, bảo thủ, không nhận ra lỗi lầm của mình, bị những lợi ích vật chất làm lu mờ tâm trí, để các thế lực xấu dần biến họ trở thành những “con rối” để sai khiến thực hiện các hành vi xâm hại đến an ninh, trật tự.
Trường hợp của bị cáo Trịnh Bá Phương là một ví dụ điển hình cho điều này. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Tâm đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo Tâm thừa nhận hành vi lợi dụng mạng xã hội Facebook, thực hiện việc phát trực tiếp các video, đăng tải các bài viết, trạng thái, chia sẻ trên tài khoản cá nhân các nội dung liên quan đến sự việc ở xã Đồng Tâm. Từ đó, bị cáo Tâm mong muốn tòa phúc thẩm xem xét, giảm nhẹ. Thế nhưng bị cáo Trịnh Bá Phương tiếp tục không thừa nhận hành vi phạm tội, không thành khẩn, vẫn quanh co chối tội và có hành vi chống đối.
Trong khi đó, các tài liệu chứng cứ phản ánh về hành vi phạm tội của Trịnh Bá Phương đã được làm rõ. Ngoài tuyên truyền, xuyên tạc vụ Đồng Tâm, Trịnh Bá Phương còn có hành vi tàng trữ tài liệu dạng sách gồm 278 trang mà kết quả giám định cho thấy có nội dung tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân; tuyên truyền thông tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân. Như vậy, cùng trong một vụ án, cùng tính chất, hành vi phạm tội nhưng bị cáo Nguyễn Thị Tâm đã biết ăn năn hối cải, nhận tội và mong được pháp luật khoan hồng để sửa sai nhưng người còn lại là Trịnh Bá Phương thì ngoan cố, không chịu nhận tội, còn thể hiện hành vi chống đối ngay tại phiên tòa.
Đối với trường hợp của Trịnh Bá Phương, việc bị cáo này không nhận tội cho thấy ý thức chống đối đến cùng. Các thế lực xấu nhân cơ hội đó đã tìm cách tung hô, cổ suý, coi bị cáo Phương như “người hùng”, ca ngợi “dũng cảm, bản lĩnh”! Qua những gì đã thể hiện, bản thân Trịnh Bá Phương luôn ảo tưởng về con đường mà mình đang theo đuổi nên từ trước đến nay, dù đã được các cơ quan chức năng nhiều lần răn đe, giáo dục nhưng Phương không những không nhận thức được những hành vi sai trái mình đã phạm phải mà ngược lại, thường tìm cách quanh co, chối bỏ sự thật, cố tình thực hiện các hành vi chống đối manh động hơn.
Do đó, trong phiên tòa phúc thẩm, dù những chứng cứ buộc tội quá rõ ràng nhưng bị cáo vẫn bảo thủ, bao biện hành vi phạm tội của mình. Và một nguyên nhân khác dẫn tới việc bị cáo ngoan cố chối tội chính là tâm lý ảo tưởng, luôn mong chờ về sự can thiệp từ bên ngoài, cho rằng phủ nhận tội trạng sẽ được các tổ chức, cá nhân bên ngoài can thiệp, từ đó chờ đợi ngày được “minh oan”, được trao thưởng kiểu “giải nhân quyền”, tìm đường ra hải ngoại như các đối tượng Trần Thị Nga, Nguyễn Văn Đài, Bạch Hồng Quyền, Tạ Phong Tần, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh...
Quốc có quốc pháp, gia có gia quy, những ai cố tình lấy lợi ích cá nhân đặt trên lợi ích của xã hội, bán rẻ lương tâm, làm tay sai, quân cờ cho các thế lực thù địch để chống phá Đảng, Nhà nước thì tất yếu phải bị xử lý. Đây vừa là biện pháp mang tính răn đe, vừa là biện pháp phòng ngừa chung. Do vậy, các cá nhân đã, đang hoặc nuôi ý tưởng thực hiện hành vi phạm pháp, lợi dụng chiêu bài dân chủ, nhân quyền để chống phá lợi ích của Đảng, Nhà nước và nhân dân thì hãy biết dừng lại, biết “quay đầu là bờ” trước khi quá muộn.
Luận điệu bôi nhọ công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta
Thời gian qua, với quan điểm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, thoái hóa, biến chất đã được Đảng, Nhà nước ta tiến hành một cách công khai, minh bạch, quyết liệt từ Trung ương đến cơ sở. Hàng loạt cán bộ cấp cao sai phạm thuộc diện Trung ương và địa phương quản lý đều đã bị xử lý về các hành vi tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất.
Chỉ trong chưa đầy một năm trở lại đây, có 3 ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII bị cách chức hoặc bị khởi tố và 2 ủy viên Trung ương Đảng khác đang bị đề nghị xem xét, kỷ luật vì có những vi phạm nghiêm trọng, làm thiệt hại lớn về tiền, tài sản của Nhà nước. Dưới sự chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và sự tham gia của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, thoái hóa, biến chất đã được nhân dân hết sức đồng tình, tin tưởng, ủng hộ; uy tín của chế độ ngày càng được củng cố.
Với âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước, trên diễn đàn mạng xã hội, một số cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí đã lợi dụng công cuộc chống tham nhũng, tiêu cực, chống suy thoái, biến chất của Đảng, Nhà nước ta để xuyên tạc, bóp méo, cho đó là “cuộc đấu tranh thanh trừng nội bộ giữa các phe phái và các nhóm lợi ích”, vu cáo Đảng, Nhà nước ta đang ở thế “lưỡng nan đối nghịch” với hàm ý chống tham nhũng nhưng ngại thay đổi thể chế chính trị! Lợi dụng một số vụ việc tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên được phát hiện trong thời gian gần đây, đặc biệt là liên quan đến vụ kit test Việt Á, các cá nhân, tổ chức thù địch đã lấy hiện tượng làm bản chất, quy chụp rằng toàn bộ đội ngũ cán bộ của Đảng, Nhà nước “đang rơi vào tình trạng tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, thoái hóa, biến chất”. Họ vu cáo rằng, đó là bản chất, là “căn bệnh nan y, kinh niên” của chế độ độc đảng cầm quyền.
Nhiều bài viết còn phủ nhận những kết quả về công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong đội ngũ cán bộ của Đảng, Nhà nước ta khi cho rằng, Đảng, Nhà nước đã phát động chống tham nhũng, suy thoái nhưng đều thất bại, không thành công, tệ nạn ngày càng gia tăng. Từ đó, số này đưa ra quan điểm, chỉ có thể chống được tham nhũng khi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập” để kiểm soát quyền lực, kêu gọi phải thay đổi thể chế thì mới có thể chống tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất.
Điển hình như trên trang RFA (Đài Á châu tự do) ngày 24/6/2022 đã đăng bài viết “Thuốc đặc trị chữa tham nhũng: thay đổi thể chế”. Bài viết đánh lận vấn đề rằng, “Việt Nam từ nhiều năm qua ra quyết tâm chống tham nhũng nhưng vẫn có hàng trăm cán bộ cấp cao bị kỷ luật bằng nhiều hình thức do tham nhũng. Liệu có diệt được tham nhũng trong thể chế hiện hành hay không?”.
Tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất là hiện tượng mang tính xã hội, nó tồn tại ở các quốc gia, do quyền lực nhà nước bị thao túng, tha hóa gây ra, không phân biệt chế độ xã hội, thể chế chính trị nào, chế độ đa đảng hay một đảng lãnh đạo. Chế độ một đảng lãnh đạo cầm quyền không phải là nguyên nhân sinh ra tệ nạn tham nhũng, suy thoái, biến chất trong đội ngũ cán bộ. Tổ chức Minh bạch quốc tế (AI) đã từng cho rằng tham nhũng là tệ nạn nhức nhối, xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong số đó, đa số là các quốc gia thực hiện chế độ đa đảng lãnh đạo, tam quyền phân lập, do giai cấp tư sản lãnh đạo. Một số quốc gia có biểu hiện nguy hiểm khi tình trạng tham nhũng đã leo đến tận các nguyên thủ quốc gia như Hàn Quốc, Brazil Colombia, Malaysia; một số quốc gia thuộc nhóm “nước tham nhũng nghiêm trọng” đều theo thể chế đa đảng, không do Đảng Cộng sản cầm quyền, lãnh đạo.
Do đó, việc RFA cũng như các cá nhân, tổ chức thù địch, thiếu thiện chí cho rằng, tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất là “căn bệnh nan y”, chỉ xảy ra ở các quốc gia do Đảng Cộng sản lãnh đạo hay ở quốc gia do một đảng lãnh đạo, cầm quyền là hoàn toàn không đúng với thực tế, là sự quy chụp, suy diễn. Âm mưu của chúng là nhằm gây ra tình trạng nghi ngờ, hoang mang, gây lầm tưởng tham nhũng phức tạp là do chế độ một đảng lãnh đạo, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với chế độ. Đồng thời, thông qua đó, các đối tượng nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội, Nhà nước; gây tâm lý hoài nghi, dao động, thiếu niềm tin.
Thực tế, từ khi ra đời đến nay, Đảng, Nhà nước ta đã luôn nhận thức rõ tính nguy hiểm của tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất trong đội ngũ cán bộ. Đảng, Nhà nước đã luôn có quyết tâm chính trị cao và kiên quyết phòng, chống, khắc phục tham nhũng, suy thoái, biến chất trong đảng viên và cán bộ Nhà nước. Đảng, Nhà nước ta luôn coi tham nhũng, tiêu cực là “giặc nội xâm”, một trong các nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ, cản trở tiến trình phát triển của đất nước, phải kiên quyết đấu tranh loại ra khỏi đời sống xã hội. Đảng ta cũng xác định phải chủ động phòng ngừa, không để xảy ra tham nhũng, lãng phí; xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi tham nhũng, lãng phí, hành vi bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng. Kết hợp giữa xây và chống, phòng ngừa gắn liền với xử lý nghiêm minh mọi hành vi tham nhũng; không có ngoại lệ, không có “vùng cấm” trong chống tham nhũng ở Việt Nam.
Minh chứng rõ cho điều đó là các văn kiện của Đại hội Đảng, các chỉ thị, nghị quyết về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Đồng thời, việc xử lý nghiêm minh mọi hành vi tham nhũng, tiêu cực, không có ngoại lệ, không có “vùng cấm” đã được thể hiện rõ kết quả trong báo cáo tại Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực giai đoạn 2012-2022 được Bộ Chính trị tổ chức vào ngày 30/6/2022 vừa qua.
Trong 10 năm qua, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 2.700 tổ chức đảng, gần 168.000 đảng viên, trong đó có hơn 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng. Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kỷ luật hơn 170 cán bộ cấp cao diện Trung ương quản lý, trong đó có 33 ủy viên, nguyên ủy viên Trung ương Đảng, hơn 50 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang. Chỉ tính từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay, đã kỷ luật 50 cán bộ diện Trung ương quản lý, trong đó có 8 ủy viên, nguyên ủy viên Trung ương Đảng, 20 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang.
Vậy nên, những luận điệu cho rằng, tham nhũng, tiêu cực, suy thoái của cán bộ trong Đảng, Nhà nước ta là phổ biến, là “căn bệnh kinh niên, nan y không thể chữa trị của chế độ độc đảng cầm quyền” hay đó là cuộc “đấu tranh, thanh trừng nội bộ giữa các phe phái”… là hoàn toàn sai trái. Đó là những quan điểm cố tình bôi đen, xuyên tạc nhằm làm sai lệch bản chất, ý nghĩa công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta, cố tình lấy cớ để chống phá, can thiệp vào công việc nội bộ, làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ.
Bắt đúng bệnh, đồng bộ nhiều biện pháp
Ngăn ngừa, phòng chống, loại bỏ bệnh “tô hồng” báo cáo, giấu giếm khuyết điểm là công cuộc lâu dài, kiên trì, khó khăn. Để làm được điều đó, đòi hỏi phải triển khai đồng bộ nhiều biện pháp, trong đó chú trọng thay đổi nhận thức, xây dựng nền đạo đức chính trị, liêm chính, công minh...
Công việc cấp bách
Khẳng định đề cao tính trung thực trong báo cáo vừa là một nguyên tắc đã được luật định, vừa là trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân. Mọi biểu hiện báo cáo giả dối, báo cáo “vống”, báo cáo “khống” đều trái với đạo đức của người cách mạng. Bởi vậy, việc cần kíp hiện nay là phải kiên trì, kiên quyết loại bỏ thói khoe mẽ, huênh hoang, “đánh bóng” tên tuổi, “tô hồng” thành tích của cán bộ, đảng viên, xây dựng nền đạo đức chính trị, liêm chính, công minh.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”.
Trong vòng 10 năm qua, Đảng ta mà đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã kiên quyết kỷ luật, khai trừ khỏi Đảng hơn 167.700 cán bộ, đảng viên bị kỷ luật; trong đó có 170 cán bộ diện Trung ương quản lý, có 4 Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị... Điều đáng nói, nhiều cá nhân, tập thể trước đó đều được ngợi ca là những “tấm gương sáng” trong lao động, công tác.
Điều này cho thấy, Đảng ta rất thẳng thắn khi nhận khuyết điểm trước nhân dân, nhưng cũng rất cương quyết trong công cuộc chống lại các căn bệnh suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên mắc phải căn bệnh thành tích, háo danh, phô trương, che giấu khuyết điểm, thổi phồng thành tích, "đánh bóng" tên tuổi, đúng như tâm tư của người đứng đầu Đảng ta-Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Không thích thú gì việc kỷ luật đồng chí, đồng đội của mình, thậm chí rất đau xót, nhưng buộc phải làm. Như Bác Hồ đã nói, phải cắt bỏ một vài cành cây sâu mọt để cứu cả cây”.
Với tinh thần đó, ngày 25-10-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ký ban hành Quy định số 37-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm, thay thế Quy định 47 năm 2011. Một trong những điều đảng viên không được làm được Quy định 37 nêu rất rõ trong Điều 11, đó là: “Vi phạm đạo đức công vụ, bao che, báo cáo sai sự thật khi thực hiện nhiệm vụ; thiếu trách nhiệm để cơ quan, đơn vị, địa phương, cá nhân do mình trực tiếp quản lý xảy ra tình trạng mất đoàn kết, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và các vi phạm khác”.
Điều này có nghĩa rằng, nơi nào có bệnh thành tích, tệ “tô hồng” báo cáo, báo cáo không trung thực thì phải xử lý kỷ luật nghiêm khắc tổ chức đảng và đoàn thể nơi đó, đặc biệt là xử lý người đứng đầu. Cần phải coi những báo cáo không trung thực là những văn bản nhằm dối trên, lừa dưới rất đáng xấu hổ trước nhân dân, trước lương tri và chân lý!
Rõ ràng, quyết tâm của Đảng ta rất cao và đi vào những mục tiêu, biện pháp cụ thể. Thế nhưng, để phát hiện ra những “cái kim”, những “bàn tay nhung” ẩn giấu, đòi hỏi sự kiên trì với nhiều “phương thuốc” hữu hiệu trong từng giai đoạn với những bước đi phù hợp, lâu dài, không thể một sớm một chiều.
Đúng như trước đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng mong mỏi, kỳ vọng đồng bào cùng Chính phủ quyết tâm dẹp bỏ những căn bệnh đó: “Xin đồng bào hãy phê bình, giúp đỡ giám sát công việc Chính phủ. Còn những việc làm, mà chưa làm được thì xin đồng bào nguyên lượng. Vì nếu có nấu cơm cũng 15 phút mới chín, huống chi là sửa chữa cả một nước đã 80 năm nô lệ, người tốt có, người xấu có, một đám ruộng có lúa lại có cỏ, muốn nhổ cỏ thì cũng vài ba giờ mới xong”.
Trách nhiệm người đứng đầu
Rõ ràng trong công cuộc phòng, chống bệnh suy thoái đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, chúng ta đã có cơ chế và không ngừng hoàn thiện để phù hợp với thực tiễn. Nhưng vì sao tệ báo cáo được "tô hồng”, bệnh “hữu danh vô thực”, giấu giếm khuyết điểm vẫn diễn ra như căn bệnh di căn, khó chữa trong nếp nghĩ của nhiều cán bộ, đảng viên, rồi “mắc tội” với Đảng, với dân?
Để giải quyết câu hỏi này, trước hết, cấp ủy và chính quyền các cấp cần tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền, giúp cán bộ, đảng viên và quần chúng có cái nhìn sâu sắc về bản chất, biểu hiện thiếu lành mạnh, hệ lụy do “thổi phồng” thành tích gây ra.
Các cụ ta luôn dạy: Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng”, hàm ý nhắc nhở người đời xây dựng, phát triển danh tiếng tốt, tiếng lành thì rất khó khăn, nhưng đôi khi chỉ cần một hành động xấu cũng có thể đánh mất hết những uy tín, vì vậy, cần hành xử sao cho đúng mực, biết giữ chữ tín, mọi lời ăn tiếng nói cần đúng mực, tránh huênh hoang, phô trương, tô vẽ.
Thực tế, không phải ai cũng nhận thức được căn bệnh này, điều này đòi hỏi cấp ủy, chỉ huy các cấp, nhất là người đứng đầu phải thay đổi nhận thức, tăng cường tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, xem tệ báo cáo không trung thực, giấu giếm khuyết điểm là trái với đạo đức người cách mạng. Mỗi cán bộ, đảng viên cần suy ngẫm nâng cao lòng tự trọng, gột rửa tâm lý háo danh, kèn cựa, thay vào đó là nỗ lực phấn đấu, cống hiến bằng tài năng, đức độ của mình.
Làm được điều này, không chỉ giúp cán bộ, đảng viên tiến bộ chân chính mà còn góp phần làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn các anh hùng, chiến sĩ thi đua: “Thành tích là thành tích của tập thể, tách rời tập thể thì dù tài giỏi mấy, một cá nhân cũng không làm gì được, cho nên càng có thành tích thì càng phải cố gắng, càng phải khiêm tốn, tuyệt đối chớ tự mãn, tự túc”.
Như đã đề cập ở trên, bệnh “tô hồng” báo cáo, giấu giếm khuyết điểm, “thổi phồng” thành tích, “đánh bóng” tên tuổi một phần là do công tác thi đua ở nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương chưa thực chất, nặng về hình thức. Việc tổ chức đánh giá, kiểm soát về chất lượng còn hời hợt, không kỹ càng đã tạo kẽ hở và điều kiện cho hành vi “làm láo, báo cáo hay”, “chạy thành tích”, “chạy danh hiệu”. Vì vậy, cấp ủy, chính quyền các cấp cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, đặc biệt cần kiên quyết loại bỏ những biểu hiện gian dối, “chạy” thi đua.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” viết năm 1947: “Kiểm soát khéo bao nhiêu, khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa, kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi”. Để kiểm tra có hiệu quả, thực chất cần coi trọng công tác kiểm tra chéo trong chính nội bộ các cơ quan, đơn vị, địa phương. Thông qua công tác kiểm tra, thanh tra phát hiện, loại khỏi đội ngũ những cán bộ, đảng viên cố tình gian dối, báo cáo không trung thực, cố ý “chạy” thành tích, háo danh.
Bên cạnh đó, cần phải siết chặt các lỗ hổng về phong tặng danh hiệu để mọi cá nhân, tổ chức không có cơ hội “chạy” thành tích, khen thưởng và danh hiệu! Mặt khác, thanh tra, kiểm tra phải dựa vào “tai, mắt” của nhân dân, bởi nhân dân ta có “hàng triệu đôi tai, đôi mắt để nghe thấy, nhìn thấy mọi sự ở đời”, từ những góp ý của nhân dân mà có những biện pháp phù hợp.
Không thể phủ nhận, hiện nay trong sinh hoạt Đảng các cấp, sức chiến đấu của nhiều tổ chức đảng, của cán bộ, đảng viên còn yếu. Nhiều nơi vẫn còn xảy ra hiện tượng ở 3 trạng thái: “Im lặng là vàng”, “một người nói ít người nghe”, “tâng bốc nhau để tìm lợi ích”. Ít tiếng nói thể hiện chính kiến, thái độ đấu tranh.
Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII cũng chỉ rõ: “Trong tự phê bình thì giấu giếm, không dám nhận khuyết điểm; khi có khuyết điểm thì thiếu thành khẩn, không tự giác nhận kỷ luật”. Vì vậy, để phòng, chống căn bệnh thành tích, “tô hồng” báo cáo, “đánh bóng” tên tuổi, trong sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt cấp ủy cần phải có thái độ nghiêm túc, kiểm điểm đánh giá đúng ưu điểm, khuyết điểm.
Bên cạnh đó, cấp ủy, chính quyền các cấp cần giữ vững những nguyên tắc trong tổ chức và hoạt động của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, phát huy dân chủ nội bộ, tăng cường kỷ luật, kỷ cương. Đồng thời mở rộng dân chủ, phát huy quyền giám sát của các tổ chức chính trị-xã hội và quần chúng trong mọi công việc. Bởi việc mở rộng dân chủ sẽ giúp phát hiện ra những cán bộ, đảng viên cơ hội, suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống.
Mặt khác, để chữa bệnh “tô hồng” báo cáo, giấu giếm khuyết điểm, nhất thiết phải đề cao vai trò, trách nhiệm của những cán bộ lãnh đạo chủ chốt, bởi tất cả mọi công việc báo cáo, tổng kết đều gắn liền với người đứng đầu. Vì vậy, người đứng đầu cần phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, có nhiệt huyết, làm việc đúng nguyên tắc, kỷ cương, kỷ luật, có lý, có tình; luôn đặt lợi ích tập thể và lợi ích của Tổ quốc, của Đảng lên trên hết.
Đồng thời, cần đẩy mạnh công tác thi đua tuyên truyền, nêu gương người tốt-việc tốt, lên án cái xấu, cái tiêu cực, những biểu hiện phô trương hình thức, sáo rỗng, không thiết thực, sùng bái cá nhân, thích khen hơn chê; biểu dương và bảo vệ những cán bộ "4 dám": Dám nói, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước tổ chức, cơ quan đơn vị theo tinh thần của Kết luận số 14-KL/TW ngày 22-9-2021 của Bộ Chính trị về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung.
Nhận thức đúng và phát hiện bệnh “tô hồng” báo cáo, giấu giếm khuyết điểm để kịp thời ngăn ngừa, không lây lan trầm trọng hơn là điều cấp thiết, cần kíp lúc này của Đảng ta. Đó là phần việc quan trọng, góp phần cùng với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong công cuộc phòng, chống suy thoái về đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII đã chỉ ra.
Làm cán bộ, đừng “đẽo cày giữa đường”
Thấy đúng không bảo vệ! Thấy sai lờ đấu tranh! Cấp trên nói gì cũng vâng! Cấp dưới, quần chúng ý kiến gì cũng gật! Khi cần đưa ra quyết định thì lừng chừng, đùn đẩy trách nhiệm cho tập thể...
Phong cách làm việc kiểu “đẽo cày giữa đường” khiến không ít cán bộ mắc sai lầm, khuyết điểm trong lãnh đạo, quản lý, gây hậu quả nghiêm trọng. Những biểu hiện suy thoái ấy cần được nhận diện, kiên quyết đấu tranh để khắc phục, loại bỏ...
“Đẽo cày giữa đường” và những hệ lụy
Phiên tòa do Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội mở, xét xử vụ án thâu tóm “đất vàng” tại tỉnh Bình Dương vừa khép lại. Đây được coi là một “đại án”, thu hút sự chú ý đặc biệt của công luận suốt thời gian dài, bởi số lượng bị cáo đông, lên đến 28 người, phạm tội có tổ chức, gây hậu quả nghiêm trọng cả về kinh tế, uy tín chính trị của cán bộ, ảnh hưởng tâm lý xã hội nặng nề. Trong vụ án này, cựu Bí thư Tỉnh ủy Bình Dương Trần Văn Nam và cựu Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương Trần Thanh Liêm cùng bị tuyên phạt 7 năm tù. Theo dõi diễn biến quá trình điều tra, xét xử vụ án, dư luận xã hội thấy rõ quá trình phạm tội của hai cựu quan chức từng giữ cương vị lãnh đạo cao nhất tỉnh Bình Dương. Một trong những nguyên nhân mấu chốt khiến họ vướng vòng lao lý trong vụ án này chính là sự thiếu bản lĩnh, thiếu kiên quyết, thiếu tư duy độc lập, không thể hiện rõ chính kiến của người lãnh đạo, để cho doanh nghiệp, cấp dưới tham mưu sai, dẫn đến sai phạm kéo dài; khi xảy ra hậu quả lại hùa theo cấp dưới và doanh nghiệp, chỉ đạo xử lý văn bản trái pháp luật. Đó chính là kiểu “đẽo cày giữa đường”, biến cái sai này thành cái sai khác, đi từ sai phạm nhỏ đến sai phạm lớn, gây hậu quả rất nghiêm trọng. Chính bị cáo Trần Văn Nam khi tự bào chữa trước tòa đã thừa nhận điều này, rằng: "... Còn chậm trễ khi không quyết liệt và làm việc rõ ràng với Tổng công ty 3-2 để cho sai phạm kéo dài...". Nhìn lại các vụ án trọng điểm về tham nhũng, tiêu cực được các cấp đưa ra xét xử trong thời gian qua, chúng ta thấy, không ít cựu cán bộ vì kiểu làm việc “đẽo cày giữa đường” nên đã bị “lợi ích nhóm” chi phối, lũng đoạn, tự đánh mất vị thế, vai trò cá nhân. Một số bị cáo khi nhận bản án nghiêm khắc của pháp luật, được nói lời sau cùng trước tòa, đã rất ân hận bày tỏ, do thiếu bản lĩnh, thiếu kiên quyết, nể nang, nghe theo ý kiến tham mưu của cấp dưới và doanh nghiệp nên không nhận thức được hậu quả. Cũng từ kiểu làm việc đó mà rất nhiều dự án liên tục phải điều chỉnh, bổ sung, đội vốn, thi công sai thiết kế... và cuối cùng là “đắp chiếu”, vừa gây hậu quả nặng nề về kinh tế, vừa tạo hệ lụy cho môi trường và đời sống xã hội.
Trong công tác xây dựng Đảng cũng vậy. Không ít cán bộ vì nghe quá nhiều ý kiến, góp ý nên cứ phải “xoay như chong chóng”, “tiền hậu bất nhất”, không thể hiện chính kiến cá nhân, đùn đẩy trách nhiệm sang cho tập thể, tự đánh mất vai trò của người chủ trì, người đứng đầu. Tình trạng này gây ra những hệ lụy không nhỏ về tư tưởng chính trị, làm cho nội bộ cơ quan, đơn vị rối ren, cán bộ, đảng viên dè chừng lẫn nhau, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, dẫn đến chia bè kéo cánh, mất đoàn kết nội bộ.
Tuân thủ nguyên tắc, sử dụng “vũ khí” hiệu quả
Để xảy ra tình trạng “đẽo cày giữa đường” trong công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành trong một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay có nhiều nguyên nhân. Một trong những nguyên nhân đó là cán bộ sợ sai, sợ trách nhiệm. Trong bối cảnh Đảng ta đang đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn đội ngũ, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, suy thoái trong nội bộ, tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm càng dễ bộc lộ. Trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), Đảng ta đã chỉ rõ nguyên nhân của biểu hiện này, đó là: Lập trường tư tưởng không vững vàng, hoang mang, dao động trước những tác động từ bên ngoài... Không làm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình trước Đảng, trước dân... “Đẽo cày giữa đường”, tự đánh mất vai trò cá nhân cũng chính là biểu hiện của “đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức”.
Biết lắng nghe, phát huy dân chủ là một thuộc tính của khoa học lãnh đạo mà bất cứ cán bộ nào, ở cấp nào cũng cần có. Tuy nhiên, nếu lắng nghe mà không có chọn lọc, dân chủ mà thiếu tập trung thì sẽ dẫn đến quá tả hoặc quá hữu trong tư duy và phương pháp lãnh đạo. Trong lĩnh vực quản lý kinh tế, nếu cán bộ chủ trì có những biểu hiện này sẽ rất dễ bị các thành phần có tư tưởng cá nhân chủ nghĩa lợi dụng. Họ sẽ khoét sâu vào “gót chân Achilles” của cán bộ để duy trì lợi ích nhóm, nhằm thực hiện các hành vi tham ô, tham nhũng, tiêu cực. Những vụ án kinh tế lớn, nguyên nhân do cán bộ “thiếu trách nhiệm, gây hậu quả nghiêm trọng” trong thời gian qua là những dẫn chứng, bài học nhãn tiền. Trong công tác xây dựng Đảng, nhất là công tác cán bộ, nếu người đứng đầu “đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức”, không thể hiện được vai trò, chính kiến, uy tín cá nhân... thì rất khó để tạo ra một tập thể mạnh, rất khó duy trì đoàn kết thực chất.
Làm thế nào để cán bộ khắc phục, nói không với kiểu lãnh đạo, quản lý “đẽo cày giữa đường”? Bài học, vũ khí, phương tiện... của khoa học lãnh đạo, nghệ thuật lãnh đạo là không hề thiếu, nếu không muốn nói là hiện nay cán bộ đã được Đảng “vũ trang” đầy đủ. Vấn đề căn cốt vẫn là cách vận dụng trên thực tế. Nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách của Đảng chính là kim chỉ nam, là cơ sở bảo đảm cho cán bộ có tư duy đúng, hành động đúng, nhằm phát huy cao nhất trí tuệ tập thể, ý chí tập thể trước khi cá nhân đưa ra các quyết định.
Quy định số 08-QĐi/TW của Bộ Chính trị về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên đã chỉ rõ, mỗi cán bộ phải luôn giữ vững nguyên tắc, dân chủ, công tâm, khách quan, công khai, minh bạch...; chủ động, tích cực phát hiện, thu hút, trọng dụng người có đức, có tài, khát khao cống hiến; bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì sự nghiệp của Đảng, vì lợi ích quốc gia-dân tộc.
Tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Kết luận và Quy định của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng diễn ra ngày 9-12-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ đạo: Thực hiện tốt chủ trương khuyến khích, bảo vệ những cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, luôn nỗ lực hành động vì lợi ích chung. Cán bộ dù ở vị trí nào cũng phải luôn luôn có ý thức đầy đủ về trách nhiệm của mình, làm "đúng vai, thuộc bài", thật sự có chất lượng, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tin yêu, quý trọng. Kết luận số 14-KL/TW của Bộ Chính trị về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung ban hành trong giai đoạn hiện nay có ý nghĩa như là “tấm khiên”, “lá chắn” vững chắc để bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm. Các nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận... của Đảng đang triển khai hiện nay chính là những loại “vũ khí”, phương tiện của phương pháp lãnh đạo, khoa học lãnh đạo, nghệ thuật lãnh đạo... bảo đảm cho cán bộ giữ vững nguyên tắc, phát huy vai trò cá nhân trong sức mạnh tập thể.
Như vậy, cán bộ dù ở cấp nào, trong hoàn cảnh nào cũng cần nhận thức đầy đủ, thấu đáo hai mặt của một vấn đề có tính biện chứng, đó là mối quan hệ giữa cá nhân với tập thể, giữa người đứng đầu với cấp ủy, tổ chức Đảng, giữa cấp trên với cấp dưới, giữa người chủ trì với các cơ quan, bộ phận tham mưu, giữa dân chủ với tập trung... để không phải “đẽo cày giữa đường”.
Đấu tranh chống sự phá hoại, xuyên tạc lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện từ mùa xuân năm 1930 và đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, nhờ đó đất nước Việt Nam “có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(1).
Hiện thực lịch sử vẻ vang đó được toàn dân tộc thừa nhận, tự hào và bạn bè quốc tế khâm phục, quý trọng. Đó là sự thật, không ai có thể phủ nhận. Nhưng vẫn có những thế lực thù địch, phản động ở trong nước và ở nước ngoài cố tình xuyên tạc lịch sử Đảng hòng hạ thấp và chống phá sự lãnh đạo của Đảng.
1. Có một số thế lực cố tình phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và tầm vóc, giá trị lịch sử của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Họ coi đó chỉ là sự “ăn may” của cộng sản, Việt Minh. Thực tế lịch sử đã khẳng định Cách mạng Tháng Tám là kết quả tổng hợp của các phong trào cách mạng diễn ra liên tục suốt 15 năm với sự lãnh đạo của Đảng từ cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh, phong trào dân chủ 1936-1939 đến phong trào giải phóng dân tộc 1939-1945.
Trong phong trào giải phóng dân tộc, Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã phát triển, hoàn thiện đường lối, đặt mục tiêu giành độc lập dân tộc lên hàng đầu; xây dựng lực lượng chính trị rộng lớn, đoàn kết toàn dân tộc trong Mặt trận Việt Minh; xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang, căn cứ địa cách mạng rộng khắp trên cả nước; xác định phương pháp đấu tranh đi từ khởi nghĩa từng phần đến tổng khởi nghĩa giành độc lập và chính quyền; dự báo và nắm bắt thời cơ cách mạng. Đó là những điều căn bản và quyết định thắng lợi của cách mạng.
Điểm nổi bật có giá trị lý luận và thực tiễn của Cách mạng Tháng Tám là Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xử lý đúng đắn vấn đề tranh thủ thời cơ, đẩy lùi nguy cơ. Thời cơ bảo đảm cho cách mạng nổ ra và giành thắng lợi là: Cao trào cách mạng của nhân dân cả nước phát triển mạnh mẽ (Đảng đã phát động cao trào kháng Nhật cứu nước ngay sau khi Nhật đảo chính Pháp ngày 9-3-1945); kẻ địch lâm vào khủng hoảng, hoang mang, mất sức chiến đấu (Pháp chạy, Nhật hàng Đồng minh); các tổ chức đảng và Việt Minh đủ mạnh trên cả nước, quyết tâm lãnh đạo đưa quần chúng vào hành động cách mạng. Cùng với nắm bắt thời cơ, Đảng đã chỉ rõ nguy cơ: Quân Đồng minh (Anh và Trung Hoa dân quốc) kéo vào giải giáp quân Nhật và lợi dụng danh nghĩa đó để xâm chiếm Việt Nam; lợi dụng sự thất bại của Nhật, quân Pháp quay lại áp đặt sự cai trị như trước ngày 9-3-1945. Đảng đã lãnh đạo cách mạng thắng lợi trước khi quân Đồng minh vào và trước khi quân Pháp quay lại.
Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào, Tuyên Quang từ ngày 14 đến 15-8-1945 quyết định tổng khởi nghĩa với nguyên tắc chỉ đạo: Tập trung, thống nhất, kịp thời và nhanh chóng giành thắng lợi trong nửa cuối tháng 8-1945. Cách mạng Tháng Tám là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đã xóa bỏ chế độ thuộc địa gần một thế kỷ và chế độ quân chủ phong kiến hàng nghìn năm, mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc, kỷ nguyên độc lập, tự do với bản Tuyên ngôn Độc lập lịch sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mở đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
2. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ (1945-1954) do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo là cuộc kháng chiến thần thánh với những chiến công vẻ vang mà đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu”. Bạn bè quốc tế nhắc đến Điện Biên Phủ gắn liền với Việt Nam-Hồ Chí Minh-Võ Nguyên Giáp. Vậy mà đến nay vẫn có thế lực cố tình xuyên tạc. Họ cho rằng có thể tránh được cuộc chiến tranh "nếu phía Việt Nam không hiếu chiến".
Sự thật đã bác bỏ quan điểm sai trái đó. Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa”.
Lập trường hòa bình và sự nhân nhượng của Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa rất rõ ràng. Khi kháng chiến diễn ra ở Nam Bộ, ngày 6-3-1946, Hồ Chí Minh đã ký với J.Sainteny, Ủy viên Cộng hòa Pháp tại Hà Nội bản Hiệp định Sơ bộ cho phép 15.000 quân Pháp ra miền Bắc thay thế quân đội Trung Hoa dân quốc; Pháp công nhận Việt Nam là quốc gia tự do có Chính phủ, Nghị viện, quân đội và tài chính riêng trong liên bang Đông Dương và thuộc khối liên hiệp Pháp. Đó là sự nhân nhượng rất lớn nhưng cần thiết mặc dù Pháp chưa công nhận Việt Nam độc lập và còn phải ở trong khối liên hiệp Pháp. Nhân nhượng đó thể hiện mong muốn hòa bình và quan hệ thân thiện với nước Pháp. Để thúc đẩy quá trình đó, ngày 25-4-1946, đoàn Quốc hội Việt Nam do đồng chí Phạm Văn Đồng dẫn đầu thăm nước Pháp. Ngày 31-5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Hà Nội thăm chính thức nước Pháp với mong muốn hòa bình và hợp tác giữa hai nước. Ngày 6-7-1946, cuộc đàm phán Việt-Pháp bắt đầu ở Fontainebleau (Pháp). Do phía Pháp không thành thật muốn đàm phán nên giải pháp hòa bình không thành. Trước khi trở về nước ngày 14-9-1946, Hồ Chí Minh ký bản Tạm ước với Bộ trưởng Hải ngoại Pháp Moutet nhân nhượng một số quyền lợi của Pháp ở Việt Nam. Ngày 18-10-1946, về đến cảng Cam Ranh, Hồ Chí Minh gặp Cao ủy Pháp D’Argenlieu trao đổi về thực hiện Tạm ước 14-9.
Sau khi ra miền Bắc, quân đội Pháp liên tiếp gây hấn, vi phạm Hiệp định Sơ bộ 6-3. Ngày 20-11-1946, Valluy, Quyền Cao ủy Pháp, ra lệnh cho quân Pháp tấn công Hải Phòng. Ở Hà Nội, quân Pháp trắng trợn dùng vũ lực và đòi kiểm soát thành phố. Trước hành động chiến tranh của Pháp, dân tộc Việt Nam buộc phải chiến đấu bảo vệ nền độc lập non trẻ. Sau ngày toàn quốc kháng chiến, Hồ Chí Minh nhiều lần gửi thư cho Chính phủ, Quốc hội Pháp mong muốn chấm dứt chiến sự, nối lại đàm phán nhưng phía Pháp không đáp lại. Bàn tay hòa bình của Việt Nam đưa ra nhưng phía Pháp đã không đáp lại bằng thái độ hòa bình. Chính phủ Pháp đã lao sâu vào cuộc chiến tranh mà chính người Pháp gọi là chiến tranh phi nghĩa, “chiến tranh bẩn thỉu” để cuối cùng nhận lấy thất bại đau đớn.
3. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) phải vượt qua nhiều gian khổ, hy sinh mới đi đến Ngày toàn thắng 30-4-1975, thực hiện khát vọng hòa bình, độc lập hoàn toàn và thống nhất Tổ quốc. Chính giới Hoa Kỳ và các tướng lĩnh Mỹ thừa nhận hành vi chiến tranh của họ ở Việt Nam, những bài học và nguyên nhân thất bại của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam. Nhiều cựu binh Mỹ đã trở lại Việt Nam có lời sám hối về cuộc chiến tranh phi nghĩa của Chính phủ Mỹ và những tội ác do họ gây ra, mong muốn được góp phần khắc phục hậu quả chiến tranh, nhất là sự tàn phá của chất độc da cam/dioxin. Vậy mà vẫn có những tiếng nói lạc lõng, trắng trợn, coi chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam là cuộc “nội chiến” giữa phe cộng sản và phe quốc gia. Đó là sự xuyên tạc lố bịch nhất.
Năm 1950 mở đầu sự can thiệp của Mỹ khi tàu chiến Mỹ đến cảng Sài Gòn và ngày 19-3-1950, 30 vạn nhân dân Sài Gòn biểu tình chống Mỹ can thiệp. Sau thảm bại của Pháp ở Điện Biên Phủ (7-5-1954), tháng 6-1954, Mỹ đưa Ngô Đình Diệm lên làm Thủ tướng trong Chính phủ Bảo Đại do Pháp dựng lên từ ngày 13-6-1949. Đó là sự chuẩn bị để Mỹ thay thế Pháp ở Việt Nam. Sau Hiệp định Geneva được ký kết (tháng 7-1954), Việt Nam tạm chia làm hai miền với Vĩ tuyến 17. Ở miền Nam, Mỹ chính thức thay chân Pháp khi quân Pháp rút hết về nước (28-4-1956). Mỹ dựng lên chính quyền Việt Nam Cộng hòa do Ngô Đình Diệm làm Tổng thống, thực hiện chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, từ chối hiệp thương với miền Bắc để tổng tuyển cử thống nhất đất nước như quy định của Hiệp định Geneva, mưu toan chia cắt lâu dài nước Việt Nam.
Chính quyền Việt Nam Cộng hòa do Mỹ dựng lên là bất hợp pháp, giả hiệu; là phản dân, hại nước. Ngụy là giả. Vì vậy, chính quyền và quân đội do Mỹ xây dựng được gọi là ngụy quyền, ngụy quân. Họ không đại diện cho quốc gia, dân tộc dù họ tự gọi mình là "chính phủ quốc gia", “chính nghĩa quốc gia”. Ngày 13-5-1957, tại Mỹ, Ngô Đình Diệm trắng trợn tuyên bố: “Biên giới của Hoa Kỳ kéo dài đến Vĩ tuyến 17”(2). Lời tuyên bố đó và cả hành động thực tế đã cho thấy bản chất của một chính quyền tay sai, bán nước, công cụ chiến tranh của Mỹ, hoàn toàn lệ thuộc vào Mỹ suốt đến sau này. Khi chính quyền đó không đáp ứng được lợi ích của Mỹ thì Mỹ sẵn sàng gạt bỏ, “thay ngựa giữa dòng”. Cái chết bi thảm của Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu trong cuộc đảo chính ngày 1-11-1963 đã chứng tỏ điều đó.
Mỹ đã lần lượt thất bại trong mô hình thực dân mới ở miền Nam Việt Nam; trong “Chiến tranh đặc biệt” 1961-1964, “Chiến tranh cục bộ” 1965-1968 và “Việt Nam hóa chiến tranh” 1969-1975. Có những hành động chiến tranh vô cùng tàn bạo của Mỹ như rải chất độc hóa học hủy diệt sự sống ở miền Nam (10-8-1961); ném bom miền Bắc từ ngày 5-8-1964; ồ ạt đưa quân Mỹ tham chiến ở miền Nam (8-3-1965); sử dụng lượng vũ khí lớn ở Thành cổ Quảng Trị; ném bom hủy diệt Hà Nội, Hải Phòng 12 ngày đêm cuối tháng 12-1972. Cuối cùng, quân Mỹ đã thất bại, chấp nhận ký Hiệp định Paris (27-1-1973), rút hết quân Mỹ về nước. Cách mạng Việt Nam phát triển, đánh sập ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
4. Vào những năm 1988-1991, các nước xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Do chủ nghĩa xét lại, cơ hội, sự suy thoái trong các Đảng Cộng sản cầm quyền và sự phản bội đã dẫn tới sự sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội ở các nước Đông Âu và Liên Xô. Lợi dụng tình hình đó, các thế lực thù địch, phản động ở Việt Nam cho rằng Chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội đã thất bại. Họ coi việc truyền bá lý luận Mác-Lênin vào Việt Nam, thành lập Đảng Cộng sản, lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa là sai lầm. Họ đòi Đảng Cộng sản Việt Nam từ bỏ sự lãnh đạo, thực hiện chế độ đa đảng và đa nguyên chính trị, xóa bỏ con đường xã hội chủ nghĩa.
Đảng đã tỏ rõ bản lĩnh, trí tuệ và kinh nghiệm thực tiễn, đề ra các nguyên tắc chỉ đạo đổi mới kiên định con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Bác Hồ dứt khoát lựa chọn từ năm 1930; trung thành và vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, bác bỏ đa nguyên, đa đảng. Đảng đề ra "Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội" (1991) và bổ sung, phát triển năm 2011. Nhờ vậy, công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Kinh tế phát triển, chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững, hội nhập quốc tế và đối ngoại ngày càng mở rộng, đời sống về mọi mặt của nhân dân không ngừng được nâng cao.
Việt Nam vẫn vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng. Năm 2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã công bố tác phẩm quan trọng: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”. Đó là công trình tổng kết quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là trong thời kỳ đổi mới, làm sáng tỏ mục tiêu, mô hình chủ nghĩa xã hội của Việt Nam, các giải pháp và quy luật đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với lý luận khoa học và thực tiễn Việt Nam, đóng góp vào kho tàng lý luận về chủ nghĩa xã hội trên thế giới. Bản chất của chủ nghĩa xã hội Việt Nam là vì nhân dân, vì con người. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người”(3).
Đất nước và dân tộc Việt Nam do Đảng lãnh đạo đang phát triển mạnh mẽ, vững chắc trên con đường đúng đắn dựa trên cơ sở khoa học và hiện thực. Mọi sự phá hoại, xuyên tạc lịch sử Đảng và sự lãnh đạo của Đảng không cản trở được khát vọng hòa bình, độc lập, thống nhất, hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc của dân tộc Việt Nam.








