Thứ Hai, 3 tháng 10, 2022

PHÊ PHÁN NHỮNG LUẬN ĐIỆU PHỦ NHẬN CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM Một trong những âm mưu của các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam là đưa ra những quan điểm sai trái nhằm phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam. Sau khi Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở các nước Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch, phản động cấu kết với các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị đưa ra đủ thứ quan điểm, luận điệu xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Luận điệu chúng thường rêu rao là “Việt Nam lựa chọn con đường đi lên CNXH là một sai lầm lịch sử”, là ‘ảo tưởng”, là “thiên đường bánh vẽ”. Chúng cho rằng, nếu lấy mốc thời gian tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” ra đời thì đến nay, đã gần 200 năm mà CNXH không trở thành hiện thực, bị sụp đổ ngay ở nước Nga-quê hương của V.I.Lênin và Cách mạng Tháng Mười. Một khi CNXH ở Liên Xô và Đông Âu không còn tồn tại thì ở Việt Nam cũng sẽ bị sụp đổ. Một câu hỏi chúng tự đặt ra: “Việt Nam quá độ đi đâu?”, rồi lại tự lèo lái dư luận rằng, Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN), lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; đi lên CNXH phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, chặng đường, có sự đấu tranh giữa “cái cũ và cái mới”, thế nên Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam không bao giờ vượt qua được các chặng đường quá độ gian khổ đó và không thể đi đến cái đích của CNXH . Sau khi Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu phấn đấu đến năm 2045 đưa nước ta trở thành nước phát triển theo định hướng XHCN, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cho rằng, đó chỉ là một thứ “mị dân”. Theo lập luận của chúng, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ có vai trò lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, không đủ khả năng lãnh đạo trong công cuộc phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH), vì “những thành tựu đạt được trong công cuộc đổi mới là do các nước tư bản đầu tư vào, chứ không phải do năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”. Dưới chiêu trò “bình mới rượu cũ”, các luận điệu nêu trên chủ yếu dựa vào một số lý thuyết chống cộng, chủ nghĩa duy vật máy móc, lý thuyết “hội tụ”, lý thuyết “xã hội hậu công nghiệp”, lý thuyết các nền văn minh... nhằm biện minh cho sự tồn tại của chế độ TBCN, phủ nhận tính khách quan của thời kỳ quá độ đi lên CNXH trong thời đại ngày nay. Không dừng lại ở đó, một số luận điệu còn tinh vi đánh tráo khái niệm, lấy hiện tượng để đánh đồng với bản chất, triệt để lợi dụng sự sụp đổ mô hình CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu (trước đây) để lớn tiếng tuyên truyền “CNXH chỉ là ảo tưởng”; trong khi lại cố tình khuếch trương, thổi phồng những thành quả của chủ nghĩa tư bản (CNTB) hiện đại, mà không thấy rõ bản chất bóc lột tinh vi của giai cấp tư sản và những bất công chưa thể giải quyết tận gốc trong lòng xã hội tư bản hiện nay. Mục đích chính trị phản động của các quan điểm sai trái phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam nhằm gây hoang mang, mất niềm tin, ru ngủ tinh thần cảnh giác cách mạng của nhân dân; sâu xa hơn, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận khả năng thắng lợi của con đường quá độ bỏ qua chế độ TBCN đi lên CNXH ở Việt Nam, từng bước chuyển hóa Việt Nam theo quỹ đạo của CNTB. Việt Nam đi theo con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử Lịch sử cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua đã khẳng định một chân lý: Đi theo con đường cách mạng XHCN và đi lên CNXH là phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam, phù hợp với khát vọng của toàn thể nhân dân Việt Nam. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã luận giải khoa học về sự thay thế của những hình thái KT-XH từ thấp đến cao là quá trình lịch sử-tự nhiên, là do vận động của những quy luật KT-XH khách quan. Với quan điểm duy vật biện chứng khoa học, các nhà kinh điển Mác-xít đã chỉ ra hình thái KT-XH cộng sản chủ nghĩa tất yếu ra đời và thay thế hình thái KT-XH TBCN. Nó phải trải qua “một thời kỳ và hai giai đoạn”, đó là thời kỳ quá độ, giai đoạn đầu là CNXH, giai đoạn cao là cộng sản chủ nghĩa. Hình thái KT-XH cộng sản chủ nghĩa sẽ phát triển cao hơn và khác về chất so với hình thái KT-XH TBCN nên phải trải qua quá trình cải biến cách mạng lâu dài; không bao giờ tự phát hình thành mà thông qua vận động của các quy luật về KT-XH, con đường đấu tranh cách mạng để xóa bỏ áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản và xây dựng xã hội mới. Hệ thống lý luận cơ bản đó của Chủ nghĩa Mác-Lênin là cách mạng, khoa học, được vận dụng thành công ở nước Nga từ năm 1917. CNXH từ lý luận trở thành hiện thực, từ một nước phát triển thành hệ thống chính trị thế giới đối lập với hệ thống TBCN trong hơn 7 thập niên. Về thực tiễn, CNXH hiện thực ra đời đã thể hiện tính ưu việt hơn CNTB. Công cuộc xây dựng CNXH ở nước Nga, sau đó là Liên Xô có thời gian chưa dài, nhưng đã giành được nhiều thành tựu to lớn trên mọi lĩnh vực. Sản lượng công nghiệp chiếm 20% tổng sản lượng công nghiệp thế giới; sản lượng điện đạt 440 tỷ kWh (gấp hơn 300 lần so với năm 1913; bằng 4 nước lớn là Anh, Pháp, Đức, Italy cộng lại); dầu mỏ đạt 353 triệu tấn, than 624 triệu tấn, thép 121 triệu tấn (vượt sản lượng của Mỹ). Có thể thấy, trong một thời gian ngắn, CNXH ra đời ở Liên Xô và nhiều nước XHCN tuy chưa hoàn thiện nhưng đã phát triển lớn mạnh về nhiều mặt, khác hẳn về chất so với CNTB. Điều đó cho thấy, CNXH là một hiện thực, hoàn toàn không phải là “giấc mơ”, cũng chẳng phải là “ảo tưởng về một thiên đường” như các thế lực thù địch rêu rao! Sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu (trước đây) chỉ là sự đổ vỡ của một mô hình cụ thể do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, chứ không phải do Chủ nghĩa Mác-Lênin hay lý tưởng về CNXH đã lỗi thời, lạc hậu. Mặc dù CNTB đạt được những thành tựu to lớn nhưng chủ yếu đem lại lợi ích cho giai cấp tư sản mà không vì lợi ích của quảng đại quần chúng nhân dân lao động. Những mâu thuẫn nội tại và đối kháng trong xã hội TBCN chỉ giải quyết bằng con đường tất yếu là cách mạng XHCN. Trong bối cảnh hiện nay, CNTB đã có những thích nghi, phát triển nhất định nhờ tận dụng được những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại, toàn cầu hóa và kinh tế tri thức. Các nước XHCN đang ở giai đoạn khó khăn tạm thời, song theo quy luật phát triển khách quan của lịch sử, CNTB sẽ bị xóa bỏ, chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn đầu là CNXH ưu việt hơn sẽ ra đời, tồn tại và phát triển. Đối với cách mạng Việt Nam, những năm nửa đầu thế kỷ 20, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã có 30 năm bôn ba ở nước ngoài, đến các nước tư bản phát triển, đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm ra con đường cách mạng đúng đắn để giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức, bóc lột, xâm lược và đô hộ của chủ nghĩa thực dân và phong kiến. Người khẳng định, muốn giành lại được độc lập cho dân tộc thì phải tiến hành con đường cách mạng vô sản và xây dựng chế độ XHCN. Từ năm 1930, “Chánh cương vắn tắt” của Ðảng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và được Hội nghị thành lập Ðảng thảo luận, thông qua đã xác định rõ đường lối của cách mạng Việt Nam là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Năm 1991, Đảng đã ban hành “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH”, trong đó chỉ ra 6 đặc trưng cơ bản của chế độ XHCN ở Việt Nam. Đến Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã phát triển sáng tạo thành 8 đặc trưng của CNXH ở Việt Nam, trong đó đặc trưng bao trùm là “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Hơn 90 năm được rèn giũa, tôi luyện, thử thách trong thực tiễn cách mạng sôi động, phong phú, Đảng Cộng sản Việt Nam có bản lĩnh chính trị, có trí tuệ, có khả năng lãnh đạo thành công công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam. Đảng lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc lớn trong thế kỷ 20, thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Khi chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu (trước đây) bị khủng hoảng, sụp đổ thì Đảng ta vẫn kiên định con đường đi lên CNXH, kiên trì đường lối đổi mới, giữ vững nguyên tắc “đổi mới nhưng không đổi màu”. Trải qua gần 40 năm tiến hành đổi mới, Đảng ta lãnh đạo nhân dân ta đã đạt được thành tựu rất to lớn, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và có ý nghĩa lịch sử. Đại hội XIII của Đảng đánh giá khái quát: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay... Tiếp tục khẳng định con đường đi lên CNXH của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại”(1). Trong những chặng đường tới, Đảng ta đã có dự báo khoa học về 4 nguy cơ, những thách thức không nhỏ từ bên ngoài và ở trong nước đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Với phương châm vượt qua thách thức, tận dụng những cơ hội, phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để thúc đẩy công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam phát triển nhanh và bền vững hơn, Đảng ta đặt ra mốc: “Phấn đấu đến giữa thế kỷ 21, nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng XHCN”(2) là hoàn toàn có cơ sở khoa học đúng đắn và có tính khả thi. Với trí tuệ, khả năng và kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo cách mạng, được sự ủng hộ của nhân dân thì việc kiên định lựa chọn con đường đi lên CNXH cũng không ngoài mục đích nhân văn cao đẹp là tiếp nối truyền thống, xứng đáng với các thế hệ cha anh đã chiến đấu anh dũng, hy sinh vì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; đồng thời đáp ứng lòng mong đợi và phù hợp với khát vọng, mong muốn của gần 100 triệu người dân Việt Nam.

KHAI MẠC HỘI NGHỊ LẦN THỨ SÁU BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XIII.


Hội nghị Trung ương lần thứ 6 nhằm hoàn thành về cơ bản việc triển khai nhiệm vụ quán triệt, thực hiện các nội dung, vấn đề lớn, cốt yếu của Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.
Sáng 3/10, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã khai mạc trọng thể tại Thủ đô Hà Nội. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì, phát biểu khai mạc Hội nghị.
Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc điều hành Phiên khai mạc.
Tại Hội nghị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tập trung thảo luận, cho ý kiến và quyết định về các báo cáo, đề án liên quan đến một số vấn đề lớn, rất cơ bản và quan trọng: Về tình hình kinh tế-xã hội, ngân sách nhà nước năm 2022, dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, dự toán ngân sách nhà nước năm 2023 và kế hoạch tài chính-ngân sách nhà nước 3 năm 2023-2025; định hướng Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới; tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa X về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị và một số vấn đề quan trọng khác.
Hội nghị Trung ương lần này nhằm hoàn thành về cơ bản việc triển khai nhiệm vụ quán triệt, thực hiện các nội dung, vấn đề lớn, cốt yếu của Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.
Hầu hết các vấn đề cần bàn và quyết định đều rất quan trọng, nhưng cũng rất khó, phức tạp và nhạy cảm. Nhiều vấn đề đã có chủ trương, chính sách và đã được tiến hành từ lâu nhưng đến nay, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, cần tiếp tục được thực hiện ở tầm mức mới với những quyết tâm mới, quyết sách mới, nhằm đáp ứng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới. Theo chương trình, hội nghị làm việc đến ngày 9/10./.


CẦN RÕ “ĐƯỜNG ĐI” CỦA NGHỊ QUYẾT


Làm thế nào để đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống là câu hỏi khó đối với nhiều cấp ủy, tổ chức đảng cơ sở. Thậm chí, ở nhiều nơi, cán bộ cơ sở, nhất là bí thư đảng ủy, phó bí thư đảng ủy xã, phường, thị trấn... còn không ít băn khoăn, trăn trở khi trong cùng một thời điểm lại có quá nhiều nghị quyết (các cấp, các ngành) được ra đời và triển khai trên địa bàn nên khó tránh khỏi sự dồn tắc, chậm trễ, hoặc chồng lấn, hoặc phân tán sự tập trung sức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng.
Cơ sở trăn trở như vậy là đúng. Bởi lẽ, khảo sát cho thấy, nghị quyết (các cấp) được triển khai về xã, phường, thị trấn (trong một tháng, quý, năm) có số lượng khá nhiều và tạo nên sự lúng túng cho những người có trách nhiệm. Không khó để thấy, cơ sở đang hiện hữu tình trạng nghị quyết này vừa được ban hành, đang tổ chức học tập, thì nghị quyết khác đã ra đời và tiếp tục triển khai... Thành thử, nghị quyết cứ gối lên nghị quyết, khi ở cấp Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã... đều ban hành nghị quyết thường kỳ; cùng với đó là hàng loạt nghị quyết chuyên đề; cộng thêm một số lượng không nhỏ kết luận, quy định, quy chế, đề án, chuyên đề, chương trình... về các lĩnh vực lãnh đạo, nhiệm vụ đặc thù.
Cơ sở càng thêm lúng túng khi có nhiều nghị quyết cứ thế ra đời, nhưng cấp trung gian thường chỉ triển khai theo lối “sao y bản chính” rồi "giao" về cơ sở quán triệt, tổ chức thực hiện. Thành thử, khi có quá nhiều nghị quyết, văn bản hành chính... đổ dồn về cơ sở thì người quán triệt, tổ chức thực hiện sẽ gặp lúng túng là chuyện hết sức bình thường, nhất là ở khâu xác định đâu là nghị quyết trọng yếu, cấp thiết đối với địa phương để tổ chức thực hiện. Thậm chí, vì có quá nhiều văn bản, nghị quyết nên ở một số nơi, cán bộ còn nảy sinh biểu hiện "phương phưởng luận" trong quán triệt, triển khai; không nắm rõ các nội dung, tinh thần nghị quyết, số nghị quyết; có nơi, việc học tập nghị quyết buộc phải vận hành theo lối đối phó, nặng về hình thức...
Để giải bài toán cùng lúc cơ sở phải quán triệt, triển khai nhiều nghị quyết, văn bản khác nhau, một số đảng bộ cấp huyện, thị xã, thành phố có cách làm khá mới là tiến hành “lược hóa nghị quyết”. Theo đó, những người có trách nhiệm sẽ lựa chọn nội dung cần thiết gắn với địa phương rồi “lược hóa” nghị quyết thành các nội dung dễ nhớ, dễ thuộc, dễ thực hiện; hoặc kết hợp tinh thần của một số nghị quyết vào một “nghị quyết dùng chung” (hay văn bản cụ thể) để cơ sở đảng cấp xã, phường, thị trấn... dễ quán triệt, triển khai, vận dụng. Tất nhiên, phần việc này đòi hỏi công sức, trí tuệ và sự dấn thân của cán bộ cấp huyện, thị xã, thành phố... nếu không muốn tinh thần nghị quyết bị méo mó, nội dung bị rơi rớt, thiếu toàn diện.
Cùng với cách làm khá hiệu quả nêu trên, hiện nay, đội ngũ cán bộ cơ sở mạnh dạn kiến nghị các cấp chỉ nên ban hành nghị quyết khi thật sự cấp thiết, cấp bách; cần quyết liệt đấu tranh, khắc phục triệt để hiện tượng nghị quyết chồng lên nghị quyết, chủ trương "giẫm" lên chủ trương; đẩy lùi các hiện tượng học tập nghị quyết thiếu thực chất, đối phó, học vẹt.
Nhiều cán bộ cơ sở còn bày tỏ mong muốn, tại Hội nghị Trung ương 6, khóa XIII của Đảng lần này, việc bàn thảo, quyết nghị các vấn đề về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng cần đi sâu vào những nội dung cốt lõi, thực chất. Trong đó, việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng bằng nghị quyết phải tập trung tháo gỡ cho bằng được “điểm nghẽn” khi có quá nhiều nghị quyết cùng lúc triển khai về cơ sở, gây ách tắc, chồng lấn chủ trương và phân tán sự tập trung sức lãnh đạo của tổ chức đảng. Cụ thể hơn là mong muốn Trung ương và cấp có thẩm quyền sớm nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế, có những văn bản hướng dẫn một cách cụ thể, “phác họa” cho bằng được hình dáng con đường đi của nghị quyết một cách nhịp nhàng, ăn khớp, hiệu quả từ Trung ương về cơ sở.

XÓT XA CHO GIÁO VIÊN KHI ĐỨNG TRƯỚC MUÔN TRÙNG ÁP LỰC!

 


Trong xã hội phong kiến ngày xưa người thầy được đặt ở vị trí thứ hai trong mối quan hệ “Quân - Sư - Phụ”. “Quân - Sư - Phụ” là quan niệm được Khổng Tử nêu ra từ 2.500 năm trước. Theo Khổng Tử, địa vị của người thầy được nâng lên trên cả địa vị của người cha trong gia đình - sau ông vua là đến ông thầy rồi sau hết mới đến người cha. Người cha cũng có bổn phận dạy dỗ con cái của mình, nhưng trong xã hội xưa, người dạy dỗ con mình nhiều nhất, sát nhất, cả mặt kiến thức và đạo đức chính là người thầy.
Trong thời đại ngày nay, khi đất nước không còn chế độ phong kiến, nghĩa là không còn Vua thì khái niệm đó cần được hiểu là: “Quân có thể hiểu là “Đất nước”, là “Tổ quốc”, là “Pháp luật”; ngày xưa “Quân” đồng nhất với “Quốc” nhưng bây giờ thì Tổ quốc mới là trên hết; pháp luật vẫn ở nấc thang trên cùng vì pháp luật mang tính biểu trưng một cách chính thức cho quốc gia, dân tộc. Cũng như một quan niệm khác của Khổng Tử giờ vẫn được ghi trang trọng ở các trường học: “Tiên học lễ, hậu học văn”. “Lễ” ở đây không phải là “Tam cương, ngũ thường” như trước mà là đạo đức, nếp sống mới, nền nếp văn hóa, pháp luật hiện thời, phương pháp ứng xử trong các mối quan hệ… Nghĩa là, dù xem xét ở góc độ nào, theo quan niệm nào, vai trò của người thầy vẫn xứng đáng và phải được đặt một vị trí trang trọng trong xã hội nói chung và trong giáo dục nói riêng. Không vì chủ nghĩa dân túy để rồi thầy giáo, cô giáo phải chịu cảnh “lưỡng đầu thọ địch”, nghĩa là trên thì Ban Giám hiệu đe nếu dạy dỗ “không ra sao”, để cho học sinh yếu kém cả kiến thức và đạo đức; dưới thì hàng hàng lớp lớp những phụ huynh sẵn sàng ăn thua đủ với thầy cô giáo; nhà chức trách sẵn sàng tuyên bố kiểu “quan điểm của chúng tôi là đuổi việc” nếu chẳng may lỡ tay răn đe học sinh, khi chúng hỗn láo, làm sai.
Tôi có xem qua câu chuyện của người xưa: có một nhà giáo ở Nam kỳ kiện cha một học sinh. Nguyên nhân học sinh này lười biếng, không chịu học lại nghịch ngợm, bị thầy rầy và bắt quỳ gối nên mắc cỡ với bạn, uất ức về méc lại với cha. Ông này là người có địa vị trong tỉnh nên đã nổi giận, dắt con lại nhà thầy giáo để mắng thầy và làm thầy mất mặt. Thầy giáo đâm đơn kiện và vị thẩm phán cấp tỉnh đã xử cho ông giáo thắng, lại “tặng” cho người cha hồ đồ, bênh con vô lối kia một bài luân lý về phép xử sự với thầy của con.
Trông xưa lại ngẫm đến nay, nghĩ mà buồn cho “thân phận của người thầy” trong thời buổi ngày nay! Trong những năm qua, nhiều vụ việc mà thầy cô giáo dạy học trò hư hỏng bằng cách yêu cầu quỳ, véo tai, hay nói nặng lời...thời buổi, khi mà giáo dục chịu ảnh hưởng rất lớn từ lối “ÂU HÓA”, đặc biệt là khi mạng xã hội Facebook xuất hiện thì thầy cô giáo cũng đứng trước áp lực rất ghê gớm từ nhiều phía. Chưa nơi đâu dưới gầm trời này lại có nhiều “quan tòa” như ở Việt Nam; chỉ cần nhìn qua sự việc chưa cần xem xét kỹ bản chất vấn đề nhưng những “quan tòa” đã vội vàng “phán xét, kết án, luận tội” giáo viên. Đã thế, Phòng Giáo dục và Đào tạo, Ban Giám hiệu nhà trường cũng tỏ ra khiếp sợ những “quan tòa facebook” và cánh lều báo nên chưa cần kiểm tra, làm rõ vấn đề đã vội đăng đàn tuyên bố kiểu “Quan điểm của chúng tôi là buộc thôi việc”, “vụ này phải xử lý thật nặng”, “thật không thể chấp nhận được”…
Không ai cổ súy cho bạo lực học đường hay xâm phạm thân thể học sinh nhưng nếu chỉ dừng lại ở mức chấp nhận được như bắt quỳ, đứng úp mặt vào tường, thậm chí là dùng thước đánh vào mông đối với những học sinh cá biệt, không chịu học tập thiết nghĩ chẳng có gì quá to tát. Thế rồi, nhà chức trách thay vì xem xét kỹ bản chất vụ việc để có biện pháp xử lý cho minh tường thì lại chạy theo vuốt đuôi quần chúng! Quả là rất “anh minh và sáng suốt”; bảo sao mà học trò lại vô luân, bại lý, đánh cả thầy cô giáo; bảo sao mà một số phụ huynh chẳng nhảy chồm lên ngồi xổm trên đầu, trên cổ giáo viên! Chưa bao giờ nghề làm thầy lại bạc như thế! buồn cho những kẻ “chạy theo đuôi quần chúng”! Buồn cho các đại quan nhân “thấy đúng không biết bảo vệ, thấy sai chẳng biết đấu tranh”!
Cổ nhân có câu “ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học bất tri lý”, ngọc thô phải được mài dũa thì mới sáng, vàng càng luyện lại càng trong. Còn nhỏ mà không lo uốn nắn, sai phạm lại được người lớn bao che, dung túng, cổ súy; vậy khi lớn lên nó sẽ thành loại người gì? Giờ cái gì cũng phạt người giáo viên được! Đánh, mắng để răn đe thì bảo bạo hành nó, phạt nó quỳ thì bảo làm nhục nó, không đếm xỉa tới thì bảo không quan tâm đến thế hệ tương lai! Thử hỏi dạy nó bằng cách nào, bằng lời ngon tiếng ngọt, bằng sự tâng bốc để ra đời thành gánh nặng cho xã hội hay sao? Làm một giáo viên đã khó, làm một giáo viên tận tâm còn khó hơn ngàn lần! người xưa các thầy dạy học trò hư hỏng bằng đòn roi, thậm chí đánh toét cả đít, vậy mà khi lớn lên họ vụt lớn thành người có ích cho xã hội, thậm chí trở thành những con người thuộc lớp “xưa nay hiếm” cả về trí tuệ và đạo đức. Những vụ việc trên thì sao? Chẳng trách đạo đức đối với một bộ phận không nhỏ của lớp thanh, thiếu niên ngày nay xuống cấp đến thế! Nhỏ không dạy đến khi lớn lên hư hỏng, sa vào tệ nạn, thậm chí là đâm cha, giết chú thì lúc đó ngửa mặt lên trời mà khóc than liệu có ích chi đây!
Người xưa dạy người rất chú trọng đến cái tâm, cái nết của con trẻ, lấy tâm làm nền tảng để giáo dục, uốn nắn con người. Đặc biệt là lúc còn có thể uốn nắn cũng như cây non thì có thể uốn, tạo hình tùy ý nhưng khi đã gì thì không thể. Hình thức bên ngoài cũng rất quan trọng nhưng nội tâm mới là yếu tố quyết định. Giáo dục một con người trở nên hoàn thiện phải từ nơi chính tâm, biết điều hay, lẽ phải có thế khi lớn lên mới mong tu thân, tề gia, trị quốc và bình thiên hạ. Cây có ngay thì bóng mới thẳng, phải đào tạo thế hệ kế thừa có tâm hồn trong sáng và cao thượng mới có thể mong hình thành nên nhân cách lớn, làm nguyên khí của quốc gia, nhân tài cho đất nước. Muốn dạy trẻ thẳng ngay thì đôi khi phải có biện pháp răn đe chúng, phạt trẻ quỳ, úp mặt vào tường thậm chí là đánh đít chẳng có gì là sai trái cả. Có chăng, cái sai lớn nhất là cổ súy cho cái sai mà thôi. Trẻ con phải được giáo dục, phải được sự chung tay từ gia đình, nhà trường và xã hội; khuyến khích những việc làm tốt, trách phạt những việc làm sai; để rồi khi lớn lên nó biết đâu là đục, là trong; đâu là vinh là nhục; chứ không phải là bảo vệ tất cả những gì chúng làm; làm như thế là giết chết cả một thế hệ! đáng buồn thay!
ST
Có thể là ảnh chế về 6 người, mọi người đang đứng và văn bản cho biết 'Nước mắt giáo viên dọa của học sinh: CÔ CÓ NGON THÌ ĐÁNH EM ĐI, EM KIỆN CÃ LIỀN TRÊN MẠNG GIÁO VIÊN ĐÁNH HỌC SINH BỊ BẮT NGHỈ DẠY NHIỀU LẮM NOƯỜI ĐÀM PHÁN'

3 ỦY VIÊN TRUNG ƯƠNG THÔI THAM GIA BAN CHẤP HÀNH KHÓA XIII

 

Trung ương cho thôi tham gia Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII với 3 ông: Nguyễn Thành Phong, Huỳnh Tấn Việt, Bùi Nhật Quang. Cả 3 ông này đã bị Bộ Chính trị kỷ luật cảnh cáo.
Tại Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương vào sáng 3/10, Trung ương thảo luận và quyết định một số nội dung về công tác cán bộ; trong đó, có việc cho 3 Ủy viên Trung ương thôi tham gia Ban Chấp hành khóa XIII.
Căn cứ quyết định hiện hành, ý kiến của các cơ quan liên quan và chủ trương của Bộ Chính trị về bố trí công tác đối với cán bộ sau khi bị kỷ luật; trên cơ sở đề nghị của cấp ủy, tổ chức đảng, ý kiến của các cơ quan chức năng và xem xét nguyện vọng của cán bộ; Ban Chấp hành Trung ương Đảng biểu quyết, thống nhất để 3 ông: Nguyễn Thành Phong, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Kinh tế Trung ương; Bùi Nhật Quang, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; Huỳnh Tấn Việt, Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng uỷ Khối các cơ quan Trung ương thôi tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII.
Theo Thông báo kết luận về chủ trương bố trí công tác đối với cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý sau khi bị kỷ luật, Bộ Chính trị khuyến khích cán bộ bị kỷ luật cảnh cáo hoặc khiển trách mà năng lực hạn chế, uy tín giảm sút tự nguyện xin từ chức. Nếu không tự nguyện xin từ chức thì cấp có thẩm quyền xem xét miễn nhiệm theo quy định.
Trước đó, cả 3 ông: Nguyễn Thành Phong, Huỳnh Tấn Việt, Bùi Nhật Quang đã bị Bộ Chính trị kỷ luật cảnh cáo.
Cụ thể, ông Nguyễn Thành Phong đã bị Bộ Chính trị quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo vào ngày 8/7 vừa qua. Lý do, ông Phong trong thời gian giữ chức vụ Phó Bí thư Thành uỷ, Bí thư Ban cán sự đảng, Chủ tịch UBND TP.HCM đã vi phạm Quy định về những điều đảng viên không được làm, Quy định về trách nhiệm nêu gương.
Ông Phong còn chịu trách nhiệm chính, trách nhiệm người đứng đầu đối với các vi phạm, khuyết điểm của Ban cán sự đảng và UBND TP.HCM nhiệm kỳ 2016 - 2021; chịu trách nhiệm trực tiếp, trách nhiệm cá nhân về những vi phạm, khuyết điểm trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.
Bộ Chính trị đánh giá vi phạm, khuyết điểm của ông Nguyễn Thành Phong đã gây hậu quả nghiêm trọng, khó khắc phục, làm thất thoát rất lớn tài sản nhà nước; gây dư luận xấu, bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân; ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng bộ, chính quyền, sự phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố và cá nhân ông Nguyễn Thành Phong.
Ông Bùi Nhật Quang bị Bộ Chính trị quyết định thi hành kỷ luật cảnh cáo vào ngày 30/9. Lý do, ông Quang chịu trách nhiệm chính, trách nhiệm người đứng đầu về những vi phạm, khuyết điểm của Ban Thường vụ Đảng ủy Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nhiệm kỳ 2015 - 2020 (giai đoạn từ tháng 11/2019 đến tháng 8/2020) và nhiệm kỳ 2020 - 2025.
Ông Quang còn vi phạm nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng, Quy chế làm việc của Đảng ủy dẫn đến nội bộ Ban Thường vụ Đảng ủy, tập thể lãnh đạo Viện Hàn lâm mất đoàn kết; vi phạm Quy định về những điều đảng viên không được làm, về trách nhiệm nêu gương, về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, chống chạy chức, chạy quyền.
Ngoài ra, ông Quang còn thiếu trách nhiệm, buông lỏng chỉ đạo, quản lý; thiếu kiểm tra, giám sát để Viện Hàn lâm và một số đơn vị trực thuộc có nhiều vi phạm kéo dài trong công tác cán bộ, quản lý sử dụng tài chính, tài sản, đầu tư công; quản lý nghiên cứu khoa học, đào tạo; giải quyết khiếu nại, tố cáo; không thực hiện nghiêm chỉ đạo, kết luận của các tổ chức đảng cấp trên.
Vi phạm, khuyết điểm của ông Bùi Nhật Quang gây hậu quả nghiêm trọng, mất đoàn kết nội bộ, bức xúc trong cán bộ, đảng viên, ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức đảng, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam và bản thân.
Ông Huỳnh Tấn Việt cũng bị Bộ Chính trị quyết định thi hành kỷ luật cảnh cáo vào ngày 22/7. Lý do ông Huỳnh Tấn Việt trong thời gian giữ chức vụ Bí thư Tỉnh uỷ, Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch HĐND tỉnh Phú Yên chịu trách nhiệm chính, trách nhiệm người đứng đầu về những vi phạm, khuyết điểm của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Thường trực Tỉnh uỷ nhiệm kỳ 2015 - 2020, Đảng đoàn HĐND tỉnh nhiệm kỳ 2016 - 2021; chịu trách nhiệm trực tiếp, trách nhiệm cá nhân trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.
Những vi phạm, khuyết điểm của ông Huỳnh Tấn Việt đã gây hậu quả nghiêm trọng, gây thiệt hại lớn ngân sách nhà nước, làm giảm sút uy tín của cấp uỷ, chính quyền địa phương, gây dư luận xấu, bức xúc trong xã hội.
VNE
Có thể là hình ảnh về 3 người
147
52 bình luận
11 lượt chia sẻ
Thích
Bình luận
Chia sẻ

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 04/10


“Cán bộ chăm chỉ làm việc chưa đủ, cần phải biết làm việc cho có phương pháp. Phải cần mà phải cẩn nữa”.
Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết “Thiếu óc tổ chức - một khuyết điểm lớn trong các ủy ban nhân dân”, bút danh Chiến Thắng, đăng trên Báo Cứu quốc, số 58, ngày 04 tháng 10 năm 1945. Ngày này, trên báo Cứu Quốc đăng hai bài viết của Bác. Trong bài “Chống nạn thất học”, nhân danh Chủ tịch Chính phủ lâm thời, tác giả viết: “Nay chúng ta đã giành được quyền độc lập. Một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc trong lúc này, là nâng cao dân trí... Quốc dân Việt Nam! Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân mạnh nước giàu, mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ...”.
Còn trong bài “Thiếu óc tổ chức - một khuyết điểm lớn trong các Ủy ban nhân dân”, Bác đã phân tích thực tiễn đang tồn tại trong các Ủy ban nhân dân để đưa ra những nhận định và giải pháp khắc phục tình trạng lộn xộn, kém khoa học: “Có kế hoạch làm việc nhưng sắp đặt công việc không khéo, phân công không sáng suốt thì việc cũng đến hỏng. Người nói giỏi lại cho vào việc chỉ cần khéo chân tay, người viết giỏi lại cho làm việc về lao động thì nhất định không thể nào thành công được. Việc dùng nhân tài, ta không nên căn cứ vào những điều kiện quá khắt khe... Tài to ta dùng làm việc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ, ai có năng lực về việc gì, ta đặt ngay vào việc ấy. Biết dùng người như vậy, ta sẽ không lo gì thiếu cán bộ... Cán bộ chăm chỉ làm việc chưa đủ, cần phải biết làm việc cho có phương pháp. Phải cần mà phải cẩn nữa”.
Đây là thời điểm đất nước mới giành được độc lập, chính quyền cách mạng mới được thiết lập, phải đối diện với một khối lượng lớn công việc cần được giải quyết, đòi hỏi đội ngũ cán bộ các cấp phải dốc hết tâm huyết, nhiệt tình, trách nhiệm, song cần phải có sự tổ chức khoa học, hiệu quả. Do vậy, Bác đã viết bài để căn dặn đội ngũ cán bộ các cấp chỉ làm việc chăm chỉ là chưa đủ, mà phải làm việc khoa học, mới mang lại hiệu quả cao trong tổ chức, sắp xếp công việc của chính quyền mới.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém” và “Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”. Thấu suốt quan điểm của Người, trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng ta luôn coi cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của dân tộc, chế độ; là khâu then chốt trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nên đã dày công tổ chức, đào tạo, rèn luyện, xây dựng được đội ngũ cán bộ tận tụy, kiên cường, chất lượng ngày càng cao, là nhân tố quan trọng đóng góp vào những thành quả vĩ đại của cách mạng Việt Nam.
Đội ngũ cán bộ quân đội được giao trọng trách lãnh đạo, chỉ huy, quản lý từ cấp cơ sở đến toàn quân; là lực lượng nòng cốt trong thực hiện đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng, nhân tố có vai trò quyết định trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của Quân đội ta. Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã có nhiều chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Quân đội làm nòng cốt để toàn quân hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Chất lượng toàn diện cả về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực, tác phong, phong cách lãnh đạo, chỉ huy của đội ngũ cán bộ ngày càng được nâng lên, có phương pháp, tác phong công tác khoa học, luôn nêu cao tính đảng, tính chiến đấu, nói và làm theo chỉ thị, nghị quyết. Luôn chủ động, sáng tạo, quyết đoán, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, có ý thức kỷ luật cao, tận tâm, tận lực với công việc, gương mẫu cả trong lời nói và việc làm, có khả năng xử lý những vấn đề phức tạp do thực tiễn đặt ra, có uy tín cao trước bộ đội, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.
Có thể là hình ảnh về 1 người, đang đứng và văn bản cho biết 'ĐẨY MẠNH HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH CHỦ TỊCH Há CHÍ MINH'

Sáng kiến nhỏ, lợi ích lớn

 

Thời gian qua, từ thực tế vừa chống dịch, vừa chăm sóc sức khỏe người dân, nhiều nhân viên y tế đã có sáng kiến được ứng dụng hiệu quả trong điều trị, góp phần thay đổi diện mạo, uy tín của bệnh viện, hướng đến sự hài lòng của người bệnh.

Ươm mầm khát vọng

 

Trên hành trình chinh phục khoa học-công nghệ, Trung tá Nguyễn Tất Nam, Trưởng phòng Giám định chất lượng (GĐCL) điện-điện tử, Trung tâm GĐCL, Cục Tiêu chuẩn-Đo lường-Chất lượng (Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam) có hàng chục sáng kiến cải tiến được áp dụng, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả trong thực hiện nhiệm vụ.

Người cựu chiến binh-Bí thư chi bộ tận tụy, hết lòng vì công việc

 

Dù đã lớn tuổi, nhưng cựu chiến binh, thương binh 4/4, Bí thư chi bộ Đặng Đình Chiến, Tổ dân phố 11, phường Ngọc Lâm, quận Long Biên (Hà Nội), vẫn luôn nhiệt huyết, tận tụy với công việc.

Khẩn trương giúp nhân dân dọn lũ

 

Sau đợt lũ diện rộng do mưa lớn kéo dài vì ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 4, ngày 1-10, một số địa phương tại tỉnh Nghệ An nước lũ bắt đầu rút.

Bão qua... tình người ở lại

 

Bão số 4 đã đi qua nhưng người dân Quảng Nam vẫn còn đó những nỗi lo. Tuy bão không gây thiệt hại về người, song thiệt hại nhiều về tài sản, hoa màu... Thế nhưng từ trong mưa bão, hình ảnh cán bộ, chiến sĩ quân đội sát cánh cùng các lực lượng phòng chống, khắc phục hậu quả đã để lại những tình cảm sâu đậm trong lòng nhân dân.