Thứ Hai, 10 tháng 10, 2022

Bảo vệ an ninh về tư tưởng và văn hóa giai đoạn hiện nay

Bảo vệ an ninh về tư tưởng và văn hóa là bảo vệ nền tư tưởng, văn hóa của chế độ XHCN, cụ thể là bảo vệ sự phát triển ổn định về tư tưởng và văn hóa đúng định hướng XHCN trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, bao gồm: bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; bảo vệ truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc; bảo vệ sự đồng thuận, nhất trí về chính trị, tinh thần trong nhân dân; xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; đấu tranh có hiệu quả với các trào lưu tư tưởng, văn hóa phản động, độc hại...

Bảo vệ an ninh TT-VH là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân; trong đó các cơ quan, tổ chức thuộc lĩnh vực tư tưởng, văn hóa là nòng cốt trong tổ chức xây dựng nền văn hóa dân tộc, các cơ quan an ninh là nòng cốt trong bảo vệ, chống lại sự phá hoại tư tưởng, văn hóa của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị.

Trong thời đại kỷ nguyên số, vấn đề xây dựng và bảo vệ được nền văn hóa tiên tiến, mang bản sắc riêng biệt của dân tộc đang đứng trước nhiều cơ hội thuận lợi nhưng cũng đang phải đối mặt với không ít những khó khăn, thách thức khó giải quyết. Do đó, công tác bảo vệ an ninh TT-VH hiện nay đang phải đối mặt với những thách thức cơ bản là:

Thách thức trước hết là các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị triệt để sử dụng thành tựu về khoa học, công nghệ để gia tăng các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ; chúng kiên trì thực hiện âm mưu, chiến lược thâm độc “diễn biến hòa bình”. Nội dung chống phá trên tất cả các lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại…, trong đó chúng coi phá hoại về nền tảng TT-VH là mặt trận quan trọng. Cách thức chủ yếu là sử dụng các phương thức liên lạc qua ứng dụng OTT tạo các hội, nhóm kín, móc nối, lôi kéo thành viên; tổ chức các lớp học trực tuyến về “xã hội dân sự”, “dân chủ nhân quyền”, phương pháp đấu tranh bất bạo động; tổ chức các diễn đàn để tác động, chuyển hóa tư tưởng của một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân.

Thứ hai là nhiều nội dung chương trình, phim ảnh của nước ngoài tràn vào Việt Nam có những nội dung phản cảm vi phạm quy định pháp luật, đạo đức, văn hóa, thuần phong, mỹ tục Việt Nam. Công tác đấu tranh phản bác, ngăn chặn các thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch có lúc, có nơi còn bị động, thiếu sắc bén, tính chiến đấu chưa cao. Trong khi đó, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo hành lang pháp lý cho công tác bảo vệ an ninh văn hóa còn gặp nhiều khó khăn...

Đồng thời, thách thức cơ bản thuộc về nguyên nhân chủ quan là một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân chưa có bản lĩnh chính trị vững vàng; chưa thấm nhuần, hiểu sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc; dễ dàng tin vào những quan điểm sai trái thù địch, những thông tin xấu độc vô căn cứ, tiếp nhận những quan điểm chính trị không phù hợp, văn hóa lai căng… Từ đó, vô tình trở thành những cánh tay nối dài tuyên truyền những tư tưởng, văn hóa độc hại, phá hoại an ninh TT-VH mà Đảng và nhân dân ta đang xây dựng.

Nhận thức được vai trò quan trọng, có ý nghĩa sống còn của công tác bảo vệ an ninh TT-VH; đứng trước cơ hội và thách thức to lớn của kỷ nguyên số, chúng ta cần có những giải pháp đồng bộ, toàn diện để tranh thủ cơ hội và vượt qua thách thức để bảo vệ nền tư tưởng, văn hóa XHCN gắn với truyền thống và bản sắc dân tộc, với giải pháp cơ bản sau:

Các cơ quan Đảng, Nhà nước tăng cường trách nhiệm, nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ an ninh TT-VH trong tình hình mới: Tiếp tục nâng cao nhận thức trong toàn Đảng, toàn dân về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và bản sắc văn hóa dân tộc dưới nhiều hình thức; nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của phát triển văn hóa, xây dựng con người trong đổi mới và phát triển bền vững đất nước; xác định phát triển văn hóa và xây dựng con người là nhiệm vụ trọng tâm của các cấp ủy đảng, chính quyền và cả hệ thống chính trị. Đẩy mạnh chuyển đổi số, áp dụng các công nghệ đo lường hiệu quả trong hoạt động chỉ đạo, quản lý báo chí, văn học, nghệ thuật, xuất bản. Các đơn vị chuyên trách bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch; các đơn vị bảo vệ pháp luật phối hợp chặt chẽ, hiệp đồng tác chiến, trao đổi thông tin, kết hợp nhuần nhuyễn để nâng cao hiệu quả công tác nghiệp vụ trong đấu tranh với hoạt động chống phá trên không gian mạng...

Tăng cường quản lý các sản phẩm văn hóa, thông tin, nhất là các nền tảng OTT xuyên biên giới, đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra; kiên quyết xử lý, yêu cầu gỡ bỏ ngay lập tức những nội dung, sản phẩm, thông tin vi phạm; phê phán các sản phẩm văn hóa có nội dung lạc hậu, lai căng không phù hợp… Kiên quyết xử lý nghiêm trước pháp luật những đối tượng trong nước có hành vi vi phạm pháp luật tạo sự răn đe và tăng tính nghiêm minh của pháp luật. Nhanh chóng hoàn thiện hệ thống pháp luật làm hành lang pháp lý hữu hiệu cho công tác bảo vệ an ninh TT-VH.

Xây dựng cơ chế, chính sách thu hút các tập đoàn, công ty công nghệ tham gia phát triển hệ thống hạ tầng dịch vụ OTT, các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật trong việc xây dựng, phát triển các sản phẩm số, quảng bá các phim, ảnh tuyên truyền sự kiện chính trị, lịch sử, truyền thống tốt đẹp của dân tộc, các sản phẩm văn hóa trên nền tảng số. Tăng cường nguồn lực, nhân lực cho mục tiêu tự chủ về an ninh mạng, xây dựng nền công nghiệp an ninh mạng để đảm bảo phục vụ tuyên truyền chính trị và văn hóa trên không gian mạng ở nước ta...

PHAO

Phản bác luận điệu sai trái đối với chủ trương xây dựng nền quốc phòng toàn dân


        Chủ trương xây dựng nền quốc phòng toàn dân là nội dung nhất quán, được thể hiện rõ trong các văn kiện của nhiều kỳ đại hội Đảng và được thực tiễn cách mạng nước ta khẳng định là đúng đắn, sáng tạo. Vậy mà, các thế lực thù địch, phản động lại có cái nhìn phiến diện, sai lệch. Họ cho rằng, trong văn kiện các đại hội Đảng gần đây đã đánh giá: “Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn” thì cần gì phải tập trung xây dựng nền quốc phòng toàn dân; làm như vậy là cản trở sự phát triển của các thành phần kinh tế, ảnh hưởng đến kinh tế thị trường, làm phân tán, lãng phí nguồn lực, thời gian của xã hội; hãy để cho nhân dân tập trung vào nhiệm vụ phát triển kinh tế. Chúng còn xuyên tạc phản khoa học rằng: nền quốc phòng toàn dân chỉ phù hợp với giai đoạn chiến tranh giải phóng trước đây, nó không có giá trị nhiều trong chiến tranh hiện đại; bởi lẽ, dân quân tự vệ và nhân dân không thể đối phó được với vũ khí, trang bị hiện đại của kẻ thù xâm lược. Do đó, trong giai đoạn hiện nay nên tập trung nguồn lực để xây dựng quân đội chuyên nghiệp, hiện đại như các nước phát triển đã làm; điều đó cũng phù hợp với chủ trương xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” như Đảng và Nhà nước đã xác định(!). Một số kẻ còn phủ nhận tính chất hòa bình, tự vệ trong đường lối quốc phòng toàn dân của Đảng ta; cho rằng: đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân của Việt Nam là “đe dọa hòa bình của các nước trong khu vực”(!). Thậm chí, chúng còn bịa đặt rằng: nền quốc phòng ở nước ta chỉ nhằm bảo vệ Đảng và chế độ, không vì lợi ích quốc gia, dân tộc, không phải “của dân, do dân và vì dân”, từ đó phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước đối với nền quốc phòng toàn dân và sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc(!). Không chỉ chống phá về mặt lý luận, chúng còn lợi dụng các vấn đề “nóng” hoặc phát sinh trong thực tiễn để chống phá. Điển hình là, khi tình hình Biển Đông diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch lại tuyên truyền sai lệch rằng: để bảo vệ các vùng biển, đảo xa bờ thì nền quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân không còn hiệu quả; chỉ có các lực lượng hải quân, không quân được trang bị vũ khí hiện đại mới có khả năng tác chiến và hoàn thành được nhiệm vụ bảo vệ biển, đảo(!). Gần đây chúng còn kích động các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam mặc dù đủ điều kiện thành lập lực lượng tự vệ, nhưng không thực hiện các nghĩa vụ về quốc phòng, an ninh theo luật đã quy định, như: không tổ chức thành lập và huấn luyện lực lượng tự vệ, không lập quỹ quốc phòng - an ninh và đóng góp vào quỹ quốc phòng - an ninh. Một số kẻ xấu cố tình lấn chiếm đất quốc phòng, gây rối an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương, điển hình là vụ việc ở Đồng Tâm (Mỹ Đức - Hà Nội). Đáng chú ý là, những luận điệu xuyên tạc, hành động sai trái đó được các đối tượng tiêu cực, bất mãn, cơ hội chính trị trong nước và bọn phản động ở nước ngoài thổi phồng, kích động, chống phá bằng nhiều hình thức, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt. Cùng với tận dụng các phương tiện truyền thông, mạng xã hội, như: youtube, facebook, tiktok, blog, fanpage,... để tuyên truyền, kích động; chúng còn giở chiêu trò kiến nghị, góp ý vào các văn kiện Đại hội Đảng, đòi sửa đổi Hiến pháp và một số văn bản pháp luật(!). Mục đích của các hành động tuyên truyền xuyên tạc đó nhằm làm sai lệch nhận thức, gây hoang mang, dao động, làm mất niềm tin của nhân dân vào đường lối, chủ trương của Đảng, kích động các hành động chống phá. Từ việc chống phá chủ trương xây dựng nền quốc phòng toàn dân của Đảng, dẫn đến làm suy yếu sức mạnh quốc phòng, khả năng phòng thủ của đất nước, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước về quốc phòng, an ninh, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tiến tới xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

        Từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên (02/1930), đến các văn kiện Đại hội Đảng, Đảng ta đã không ngừng bổ sung, phát triển lý luận về xây dựng nền quốc phòng toàn dân và vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp vào thực tiễn từng giai đoạn cách mạng, đạt được những thành tựu to lớn. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân đã không ngừng được củng cố, tăng cường và phát huy hiệu quả, tạo nên sức mạnh tổng hợp với thế vững, lực mạnh cho cách mạng Việt Nam. Đây là yếu tố trực tiếp quyết định để đánh thắng hoàn toàn những đội quân nhà nghề được trang bị tối tân, hiện đại. Trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện chủ trương xây dựng nền quốc phòng toàn dân của Đảng, các tỉnh, thành phố đã tập trung xây dựng thành khu vực phòng thủ vững chắc; kết hợp chặt chẽ giữa đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nhanh, bền vững, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân với tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh. Sự kết hợp đó được thực hiện ngay trong quy hoạch, kế hoạch phát triển ở các cấp, các ngành, các lĩnh vực, đảm bảo “mỗi bước tăng trưởng về kinh tế - xã hội là một bước củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh”; trong đó, ưu tiên phát triển các ngành kinh tế có tiềm năng, thế mạnh và phát triển cơ sở hạ tầng theo hướng hiện đại, lưỡng dụng; quy hoạch nền kinh tế, nhất là các khu kinh tế phù hợp với phương án phòng thủ, bố trí thế trận quân sự của khu vực phòng thủ. Công tác giáo dục quốc phòng và an ninh được triển khai tích cực, phù hợp với từng đối tượng và toàn dân. Các tiềm lực kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại,… phát triển đi vào chiều sâu, sẵn sàng huy động phục vụ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, trên cơ sở nhận định chính xác về tình hình biển, đảo, Đảng ta chủ trương xây dựng nền quốc phòng toàn dân trên đất liền vững mạnh để hỗ trợ, chi viện kịp thời, hiệu quả cho các vùng biển, đảo với phương châm “bờ mạnh - đảo vững”, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên biển vững mạnh, tạo thành thế trận tổng thể hoàn chỉnh của thế trận phòng thủ đất nước. Các phong trào vì biển đảo, như: “Cả nước vì Trường Sa”, “Đồng hành cùng ngư dân trên biển”,... đã góp phần tăng cường tiềm lực, thế trận quốc phòng các vùng biển, đảo xa bờ. Các lực lượng Hải quân, Phòng không - Không quân, Cảnh sát biển, Bộ đội Biên phòng,... và ngư dân tăng cường phối hợp, hiệp đồng giữ vững chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc trong mọi tình huống, v.v. Những hoạt động đó đã góp phần quan trọng củng cố, tăng cường nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống, tạo điều kiện cho kinh tế - xã hội phát triển, nâng tầm vị thế đất nước trong khu vực và trên thế giới.

        Còn vấn đề xây dựng nền quốc phòng toàn dân có phù hợp với chiến tranh hiện đại không? Thực tế các cuộc chiến tranh diễn ra trên thế giới những năm gần đây ở Nam Tư, Syria, Libya, Iraq,... đã minh chứng: nếu quốc gia, dân tộc nào mà chính quyền lãnh đạo huy động được sức mạnh tổng hợp của đất nước; quân và dân cùng đoàn kết chiến đấu thì tổ quốc sẽ được bảo vệ vững chắc. Và ngược lại, nếu chỉ có quân đội, chính quyền lãnh đạo mà không có sự ủng hộ của nhân dân thì sẽ nhanh chóng thất bại. Thực tiễn đó là cơ sở vững chắc, khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo của chủ trương xây dựng nền quốc phòng toàn dân mà Đảng, Nhà nước, Nhân dân ta đã và đang thực hiện. Thực tiễn nêu trên cũng thêm phần khẳng định, các luận điệu chống phá của các thế lực thù địch là sự xuyên tạc, bịa đặt vô căn cứ, phi thực tiễn, phản khoa học, cần được nhận diện và kiên quyết đấu tranh, phản bác kịp thời.

PHAO

Âm mưu tác động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh

  • Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII đã chỉ rõ: “Bước vào giai đoạn phát triển mới,đất nước ta tiếp tục phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, 4 nguy cơ mà Đảng đã chỉ ra vẫn đang hiện hữu, có mặt còn gay gắt hơn; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống,“tự diễn biến”,“tự chuyển hoá”còn diễn biến phức tạp”.
Ngăn chặn âm mưu tác động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh -0

Lợi dụng những vấn đề liên quan đến quốc phòng - an ninh của đất nước, các thế lực thù địch đã và đang đẩy mạnh nhiều hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc chống phá. Mục đích của họ là tuyên truyền, kích động nhằm làm lung lạc, suy giảm hoặc mất niềm tin của nhân dân đối với đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về sự nghiệp an ninh, quốc phòng. Vì vậy, cần phải nhận diện và đề cao cảnh giác.

Người có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh có 3 mức độ, tăng dần về tính chất.

Ở mức độ biểu hiện đầu tiên, người có biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh có thái độ thiếu tin tưởng vào khả năng, sức mạnh quốc phòng, an ninh trong bảo vệ Tổ quốc. Lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã viết nên những trang sử vẻ vang với bao chiến công chói lọi chống lại kẻ thù ngoại xâm. Nhưng đáng buồn thay, một số kẻ đã vội quên đi những chiến thắng oanh liệt được đánh đổi bằng hi sinh, xương máu của các thế hệ cha anh.

Nhìn lại sự kiện giàn khoan Hải Dương 981 năm 2014, khi tình hình biên giới, biển, đảo có diễn biến phức tạp, nhạy cảm, những người này thể hiện sự bi quan, hoang mang. Một số quay sang phê phán đường lối xử lý của Đảng, Nhà nước ta. Thậm chí có quan điểm còn cho rằng, Việt Nam là nước nhỏ nên cần phải nhượng bộ, “chấp nhận” theo sự sắp đặt của các nước lớn. Những biểu hiện ấy dẫn đến sự lệch lạc trong nhìn nhận, xem xét các vấn đề về quốc phòng, an ninh; làm ảnh hưởng tới sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang và đối sách của Đảng, Nhà nước.

Ở mức độ tiếp theo, từ thiếu niềm tin, họ bắt đầu đòi hỏi phải có sự đổi mới nhưng theo hướng dựa vào bên ngoài, xa rời nguyên tắc độc lập, tự chủ. Họ muốn đi theo các nước lớn để nhận được sự giúp đỡ về vũ khí, trang bị kỹ thuật nhằm gia tăng sức mạnh bảo vệ Tổ quốc. Đây là suy nghĩ phiến diện, một chiều, có thể gây ra mối nguy hại về lâu dài cho đất nước. Bởi lẽ, trên thế giới đã có việc nước nhỏ dựa vào nước lớn để trợ giúp về vũ khí, quân sự. Tuy nhiên, sự trợ giúp này không phải là “miễn phí”, mà còn kèm theo những yêu cầu, đòi hỏi từ nước lớn nên thường dẫn tới yếu tố gây mất ổn định chính trị, thậm chí nguy cơ xảy ra xung đột, chiến tranh.

Ở mức độ cuối cùng, họ xuyên tạc, công kích, chống đối đường lối, chính sách quốc phòng, an ninh của Đảng và Nhà nước ta. Đây là mức độ biểu hiện, phản ánh rõ ràng tính chất trầm trọng và đặc biệt nguy hiểm của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Nội dung thông tin và luận điệu xuyên tạc trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh hiện nay hết sức đa dạng, với nhiều biểu hiện khác nhau. Chủ yếu vẫn là: đòi phi chính trị hóa Quân đội và Công an, phủ nhận nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với lực lượng vũ trang và sự nghiệp quốc phòng, an ninh; xuyên tạc mục đích của các hợp đồng mua bán vũ khí, trang bị cho Quân đội và Công an; xuyên tạc mục đích các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta tới các nước và nguyên thủ các nước tới thăm Việt Nam; xuyên tạc, bóp méo tình hình khiếu kiện, mất ổn định và cách giải quyết của lãnh đạo, chính quyền ở một số địa phương; xuyên tạc lịch sử và thực trạng tình hình biên giới, hiện trạng trên biển...

Mục đích của những thông tin và luận điệu xuyên tạc đó là làm xấu hình ảnh của Quân đội và Công an trước nhân dân và dư luận quốc tế; chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tạo ra sự nghi ngờ, hoang mang trong nhân dân; làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào đường lối lãnh đạo, cách thức giải quyết sự việc liên quan đến quốc phòng, an ninh của Đảng và Nhà nước ta. Đồng thời, truyền bá tư tưởng, đạo đức, lối sống phương Tây vào CAND, QĐND hòng làm cho cán bộ, chiến sĩ mơ hồ, lơi lỏng nhiệm vụ, rơi vào lối sống thực dụng, từng bước tác động nhằm làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, xa rời bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc và truyền thống tốt đẹp của CAND và QĐND.

Với vai trò là lực lượng vũ trang nhân dân, “thanh kiếm và lá chắn” bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân, CAND có vị trí đặc biệt quan trọng trong cuộc đấu tranh chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh. Ý thức sâu sắc về trách nhiệm của mình, lực lượng vũ trang đã thực hiện và hoàn thành tốt các nhiệm vụ chính trị quan trọng. Đã chủ động phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và vô hiệu hóa nhiều âm mưu, hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch; tổ chức có hiệu quả công tác đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, gương mẫu đi đầu trong thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII của Đảng“Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”...

Bên cạnh những kết quả đạt được, cuộc đấu tranh chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” vẫn còn một số hạn chế, nhất là trong công tác quản lý cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ còn bộc lộ sơ hở, có nơi để xảy ra một số vụ việc cán bộ, chiến sĩ vi phạm kỷ luật của Đảng, của ngành, gây dư luận xấu, ảnh hưởng đến uy tín, danh dự, truyền thống của lực lượng vũ trang. Trong công tác và chiến đấu, một số cán bộ, chiến sĩ còn có tư tưởng trung bình chủ nghĩa, thiếu ý chí rèn luyện, phấn đấu vươn lên, thậm chí có biểu hiện phai nhạt lý tưởng, suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống.

Để đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa” nói chung và “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh nói riêng, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị phải nhận diện chính xác những biểu hiện của “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa”; kiên quyết, kiên trì, chủ động ngăn chặn, phản bác những thông tin, luận điệu sai trái, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Là lực lượng tiên phong, gương mẫu đi đầu, cán bộ, chiến sĩ LLVT cần không ngừng rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị, quyết tâm giữ mình trong sạch; không sa ngã trước những cám dỗ; không để các thế lực thù địch lợi dụng, mua chuộc, lôi kéo, tác động.

PHAO

Cảnh giác trước luận điệu xuyên tạc kệc cỡm công cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng của Đảng hiện nay

 Những luận điệu cho rằng chỉ có “đa nguyên, đa đảng”, “tam quyền phân lập” mới chống được tham nhũng thật nực cười. Bởi nếu chỉ đơn giản vậy, sao nhiều quốc gia được gọi là “đa nguyên, đa đảng”, “xã hội dân sự”, “tam quyền phân lập” mà tham nhũng vẫn tràn lan?

Để đẩy mạnh hơn nữa cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (PCTN, TC), Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã quyết định thành lập Ban chỉ đạo PCTN, TC tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (viết tắt là Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, TC).

Đến nay, tất cả 63 tỉnh, thành phố đã thành lập Ban chỉ đạo PCTN, TC. Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đang xuyên tạc trắng trợn chủ trương đúng đắn này. Chúng nhận định bừa rằng "việc thành lập càng nhiều ban bệ thì càng tham nhũng hơn, thêm một cấp là thêm tham nhũng...". Thực tế đã cho thấy rõ những luận điệu trên của thế lực thù địch là hoàn toàn sai trái, kệch cỡm.

XUYÊN TẠC TRẮNG TRỢN, BẤT CHẤP THỰC TẾ

Bất chấp hiệu quả của công tác đấu tranh PCTN, TC tại Việt Nam thời gian qua được nhân dân và cộng đồng quốc tế ghi nhận, các thế lực thù địch, phản động vẫn cố tình đăng tải, chia sẻ nhiều thông tin sai trái, xuyên tạc, suy diễn, quy chụp chủ trương của Đảng thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, TC. Đặc biệt, các tổ chức phản động như Việt Tân, Hội Anh em dân chủ; các hãng truyền thông nước ngoài và các chương trình có phát sóng bằng tiếng Việt như RFA, VOA, RFI, BBC... tán phát nhiều bài viết, hình ảnh xuyên tạc, công kích, đả phá kịch liệt chủ trương thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, TC của Đảng, Nhà nước ta.

Đài Á Châu Tự Do (RFA), Đài Tiếng nói Hoa Kỳ (VOA)... đưa ra luận điệu: “Vì sao “lò” chống tham nhũng đang cháy mà hàng loạt cán bộ cao cấp vẫn không sợ?”. Những kẻ thiếu tử tế vu khống rằng, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực tại Việt Nam thực chất là việc các phe phái tranh quyền để triệt hạ nhau dưới vở kịch chống tham nhũng. Họ hồ đồ cho rằng, "trên thế giới này, không có quốc gia nào mà người dân lại phải còng lưng đóng thuế để nuôi nhiều cơ quan chống tham nhũng đến vậy"... Hoặc "hơn 10 năm chống tham nhũng, càng chống thì càng tham nhũng, vụ sau lớn hơn vụ trước cả về số tiền của và quan chức với chức vụ cao hơn, diễn ra ở nhiều ngành, nhiều cấp...".

Cá biệt, có đối tượng còn đưa ra luận điệu xuyên tạc, suy diễn vô căn cứ rằng, chính quyền sinh ra tham nhũng rồi lại thành lập Ban chỉ đạo PCTN, TC thì chỉ để làm khổ người dân mà thôi; không cần thiết và tốn tiền, tốn của. Từ đó chúng hô hào, kêu gọi: Muốn chống tham nhũng thì phải thay đổi chế độ, phải “đa nguyên, đa đảng”, phải thực hiện cái gọi là “xã hội dân sự”, “tam quyền phân lập”...

HIỆU QUẢ RÕ RÀNG CỦA CUỘC ĐẤU TRANH PCTN, TC

Đầu tiên có thể thấy rõ ràng rằng, công tác PCTN, TC ở Việt Nam thời gian qua có nhiều bước đột phá mạnh mẽ, mang lại hiệu quả, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, cộng đồng quốc tế ghi nhận.

Theo thông tin được công bố sau Phiên họp thứ 22 của Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC, thời gian qua, nhiều chủ trương, chính sách lớn về xây dựng Đảng và PCTN, TC được ban hành tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động. Công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán được đẩy mạnh. Nhiều cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên vi phạm, cả cán bộ cấp cao, đương chức và nghỉ hưu bị xử lý nghiêm minh. Từ đầu nhiệm kỳ đến nay đã thi hành kỷ luật cán bộ liên quan đến tham nhũng, tiêu cực ở các cấp, trong đó có 56 cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, có 10 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng.

Thời gian qua, Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC đã chỉ đạo triển khai khá toàn diện, đồng bộ, quyết liệt nhiều giải pháp để xây dựng, hoàn thiện thể chế về PCTN, TC cả trong Đảng và Nhà nước. Từ nghiên cứu, ban hành mới đến rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện một số quy định của Đảng và các quy định của pháp luật còn bất cập hoặc chưa phù hợp với thực tiễn, để kịp thời bổ sung, điều chỉnh; từng bước hình thành khuôn khổ pháp lý vững chắc để cán bộ không thể tham nhũng, tiêu cực. Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC đã từng bước gắn kết đồng bộ giữa phòng, chống tham nhũng với phòng, chống tiêu cực. Nếu như ở các nước chỉ có quy định, chế tài xử lý các hành vi tham nhũng, thì tại Việt Nam hiện nay đã có cả quy định, chế tài xử lý các hành vi tiêu cực. Đó là một bước tiến vượt trội!

Từ đầu năm 2022 đến nay, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC đã ban hành gần 30 văn bản về xây dựng Đảng, hệ thống chính trị và PCTN, TC. Đặc biệt, việc ban hành Quy định số 69-QĐ/TW, ngày 6-7-2022 của Bộ Chính trị về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm và Hướng dẫn số 25-HD/BCĐTW, ngày 1-8-2022 của Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC hướng dẫn một số nội dung về công tác phòng, chống tiêu cực đã hình thành cơ chế đấu tranh ngăn chặn, phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực ngày càng đồng bộ, thống nhất, chặt chẽ.

Trong 6 tháng đầu năm 2022, Quốc hội đã thông qua 6 dự án luật; Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành 44 nghị định, 15 quyết định; các bộ, ngành ban hành 216 thông tư, thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý kinh tế-xã hội, kịp thời thể chế hóa các đường lối, chủ trương của Đảng, góp phần phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực. Bên cạnh đó, Quốc hội, Chính phủ cũng đang chỉ đạo rà soát, sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách, pháp luật liên quan đến việc đấu thầu, đấu giá, quy hoạch, quản lý, sử dụng đất, tài sản công, tài chính công, chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp,... theo đề xuất của Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC.

Những luận điệu cho rằng chỉ có “đa nguyên, đa đảng”, “tam quyền phân lập” mới chống được tham nhũng thật nực cười. Bởi nếu chỉ đơn giản vậy, sao nhiều quốc gia được gọi là “đa nguyên, đa đảng”, “xã hội dân sự”, “tam quyền phân lập” mà tham nhũng vẫn tràn lan? Tại sao với chế độ một đảng lãnh đạo, Việt Nam vẫn đang thực hiện hiệu quả công tác PCTN, TC? Có thể thấy, thực tế kết quả công tác PCTN, TC tại Việt Nam thời gian qua đã khiến những luận điệu xuyên tạc của thế lực thù địch trở nên kệch cỡm.

BẢO ĐẢM CÔNG TÁC ĐẤU TRANH PCTN, TC CHẶT CHẼ, THÔNG SUỐT

Việc thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, TC là thực sự cần thiết, phù hợp với thực tiễn hiện nay. Việc làm này thể hiện rõ quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh PCTN, TC ở mọi cấp, mọi ngành, thực hiện cam kết của Việt Nam với cộng đồng quốc tế. Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, TC được thành lập sẽ góp phần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương công tác PCTN, TC, thể hiện tinh thần "trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt", khắc phục tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”. Ban chỉ đạo cấp tỉnh là cánh tay nối dài của Ban chỉ đạo Trung ương nhằm nâng cao sức chiến đấu của Đảng, bảo đảm cho công tác đấu tranh PCTN, TC được liền mạch, chặt chẽ, thống nhất từ Trung ương đến địa phương; kịp thời giải quyết những vướng mắc, bức xúc của nhân dân về tham nhũng, tiêu cực và đưa công tác này tiến lên một bước mới.

Vì vậy, cần phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền sâu rộng hơn nữa trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, kiều bào ta ở nước ngoài, cộng đồng quốc tế về những thành tựu đạt được trong PCTN, TC ở Việt Nam; về sự cần thiết phải thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, TC, từ đó củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân. Cùng với đó, cần tỉnh táo nhận diện và bác bỏ các luận điệu sai trái của các thế lực phản động, thù địch, chống phá cách mạng Việt Nam.

PCTN, TC là cuộc đấu tranh lâu dài, gian nan, vất vả để chống “giặc nội xâm”. Để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh này, không được chủ quan, không nóng vội, không được thỏa mãn và né tránh, cầm chừng mà phải thật kiên trì, đấu tranh không ngừng, không nghỉ; vừa phải kiên quyết phát hiện, xử lý tham nhũng, vừa phải kiên trì giáo dục, quản lý, ngăn ngừa, răn đe, không để xảy ra tham nhũng; đồng thời phải cảnh giác, đấu tranh với những âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phần tử xấu lợi dụng đấu tranh PCTN, TC để kích động, chia rẽ, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta./.

Một số yêu cầu đặt ra về đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta

 Cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận xung quanh mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta đã, đang diễn ra khó khăn, phức tạp. Trong những năm tới, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đi vào chiều sâu, với những diễn biến khó khăn hơn, chịu sự tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, bên trong và bên ngoài,... đan xen một cách phức tạp. Đặc biệt là sự gia tăng những âm mưu, thủ đoạn chống phá tinh vi, xảo quyệt hơn của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Tình hình đó đặt ra những yêu cầu cơ bản, cấp thiết đối với cuộc đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta như sau:

Một là, tạo sự chuyển biến sâu sắc về nhận thức của hệ thống chính trị đối với sự nguy hại của những luận điệu sai trái, xuyên tạc bản chất mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam. Vì sự nghiệp đổi mới càng được đẩy mạnh, mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trở thành mối quan hệ lớn phải được nhận thức và xử lý đúng đắn hơn để tạo động lực trực tiếp cho sự phát triển đất nước. Như Đảng ta chỉ rõ: “Đổi mới càng đi vào chiều sâu, trên quy mô rộng lớn, việc nhận thức đúng và xử lý tốt quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị càng trở nên quan trọng và bức thiết. Giai đoạn tới, cần đặt đúng vị trí vấn đề đổi mới chính trị và đổi mới kinh tế phải đồng bộ, phù hợp, có bước đi thích hợp,... để thúc đẩy đất nước phát triển nhanh và bền vững”(12). Trong khi đó, cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận nói chung, đấu tranh phản bác những quan điểm xuyên tạc mối quan hệ này nói riêng là một hoạt động khó khăn, nhạy cảm, do đó, cần được lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện chặt chẽ trên cơ sở nhận thức đầy đủ, sâu sắc của mọi tổ chức, lực lượng. Chỉ có trên cơ sở tạo sự chuyển biến sâu sắc về nhận thức mới làm cho các tổ chức, các lực lượng xã hội có thái độ đúng, ủng hộ, đồng thuận với Đảng, không bị kẻ xấu lôi kéo, thao túng và phát huy đầy đủ trách nhiệm trong tham gia vào cuộc đấu tranh phản bác, từ đó mới bảo đảm cho nhiệm vụ này được tiến hành một cách chủ động, tích cực, có chất lượng và mang lại hiệu quả cao trong thực tiễn. Tránh không mơ hồ, ảo tưởng, mất cảnh giác; nhưng không tuyệt đối hóa, chủ quan, nóng vội, duy ý chí.

Hai là, tiếp tục có những đột phá mới trong tư duy lý luận của Đảng về giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam trong thời kỳ mới. Theo đó, vấn đề đặt lên hàng đầu và có ý nghĩa quyết định nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam phải tích cực nghiên cứu, tìm tòi, vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; thường xuyên tổng kết thực tiễn công cuộc đổi mới; tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của các nước; bám sát sự vận động, biến đổi của tình hình trong nước, quốc tế để từng bước nhận thức đầy đủ, sáng rõ. Tức là, những vấn đề trên đây đã, đang đòi hỏi ở Đảng ta một tư duy lý luận không chỉ mang tính sáng tạo, độc đáo mà còn có khả năng đột phá và mang lại hiệu quả cao hơn nữa trong việc nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Đây không chỉ là phương thức hữu hiệu nhất để đấu tranh phê phán, bác bỏ các luận điệu xuyên tạc, quan điểm sai trái của các thế lực thù địch chung quanh mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta, mà còn trở thành tiền đề trực tiếp, cơ sở khoa học, kim chỉ nam dẫn dắt cho thành công của sự nghiệp đổi mới đất nước nói chung, đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta nói riêng trong thời gian tới.

Ba là, tăng cường bồi dưỡng nâng cao trình độ và năng lực của lực lượng chuyên trách đấu tranh tư tưởng, lý luận nói chung, phản bác các luận điệu xuyên tạc mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam nói riêng. Tham gia vào cuộc đấu tranh này là trách nhiệm chính trị của các cấp, các ngành, chứ không chỉ là công việc, nhiệm vụ của riêng ai. Tuy nhiên, để giữ thế chủ động, đấu tranh kịp thời, nâng cao chất lượng và hiệu quả đấu tranh đòi hỏi phải xây dựng một lực lượng chuyên trách giữ vai trò nòng cốt, xung kích. Trong điều kiện hiện nay, cần tích cực bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn, trình độ mọi mặt của lực lượng này. Bởi thực tiễn đã chứng minh, lực lượng chuyên trách cũng như bất kỳ cá nhân, tổ chức, lực lượng nào đều không thể đấu tranh có hiệu quả với những quan điểm, tư tưởng, lý luận sai trái, các luận điệu xuyên tạc mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam với một bản lĩnh chính trị non yếu và trên một nền tảng lý luận nghèo nàn; một hệ thống tri thức không đầy đủ, xa rời những vấn đề thực tiễn đang diễn ra...

Do vậy, yêu cầu vừa có tính cấp thiết, vừa cơ bản lâu dài là cần tiếp tục bồi dưỡng lực lượng chuyên trách đấu tranh tư tưởng, lý luận một cách toàn diện, trước tiên phải đào luyện họ trở thành những người có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ tư duy lý luận cao, có phương pháp luận chiến nhạy bén, sắc sảo; thậm chí là những chuyên gia giỏi cả về lý luận lẫn chuyên môn, nghiệp vụ, những cây bút chiến sắc bén, am hiểu thời cuộc./.

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác-Lênin tư tưởng Hồ Chí Minh

 Việt Nam chính thức kết nối với xa lộ thông tin của thế giới vào ngày 19/11/1997. Sau hơn 20 năm phát triển , đến nay Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia có tỷ lệ người dùng Internet cao nhất châu Á, đứng thứ 12/20 quốc gia dẫn đầu thế giới về số người dùng Internet. Internet và mạng viễn thông đã trở thành công cụ vô cùng đắt lực, là một phần tất yếu trong cuộc sống của người dân, góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thế nhưng, vừa qua trên một vài trang mạng xuất hiện các luận điệu không đúng, không phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Đáng lưu ý là gần đây xuất hiện một số tài liệu chống đối, xuyên tạc lịch sử với những luận điệu hết sức phản động; một số phần tử cơ hội chính trị tập trung chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, đòi Đảng từ bỏ quyền lãnh đạo; đòi thực hiện đa nguyên, đa đảng ở Việt Nam theo quan điểm phương Tây… Các thế lực thù địch lợi dụng những tiêu cực nảy sinh trong một số cán bộ, đảng viên mà chúng ta đang lên án phê phán, đấu tranh xử lý các vụ việc tham nhũng, vi phạm quyền dân chủ của Nhân dân và các tệ nạn xã hội khác để gây tâm lý hoang mang, mất lòng tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước. Nhất là trong bối cảnh hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghệ 4.0, việc lợi dụng công nghệ thông tin, mạng xã hội để chống phá cách mạng Việt Nam càng trở nên tinh vi, khó lường với mức độ nguy hiểm cao. Vì vậy để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch trên các trang mạng xã hội là nhiệm vụ vô cùng cấp bách.

Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng lý luận đúng đắn soi đường và dẫn dắt cuộc cách mạng của nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đi đến thắng lợi. Nó không những chỉ ra tính tất yếu, mục tiêu, phương hướng đúng đắn mà cách mạng Việt Nam phải hướng đến, đạt tới, mà còn chỉ ra những nguyên tắc, con đường, biện pháp, cách thức khoa học mà nhân dân Việt Nam phải tuân thủ và thực hiện. Vì thế, nhận thức rõ tầm quan trọng của việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Nghị quyết đã nêu những quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu nhằm củng cố tư tưởng của Đảng trong bối cảnh toàn cầu hóa. Để nâng cao hiệu quả đấu tranh, bảo vệ Cương lĩnh, đường lối lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn hiện nay cần tập trung một số giải pháp sau:

Một là, thường xuyên nâng cao nhận thức, trách nhiệm về cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận trong tình hình mới. Đây là giải pháp, đồng thời là yêu cầu đối với cấp ủy, tổ chức đảng, cả hệ thống chính trị cùng toàn bộ cán bộ, đảng viên và nhân dân cần nhận thức rõ cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận hiện nay là một trong những nhiệm vụ chính trị mang tính cấp bách, thường xuyên và lâu dài. Đây là cuộc đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng, lý luận, quan điểm của Đảng, chủ nghĩa Mác-Leenin, tư tưởng Hồ Chí Minh; bảo vệ những giá trị tư tưởng, lý luận đúng đắn, bảo vệ những giá trị thành quả cách mạng mà nhân dân ta đã dày công xây dựng. Do vậy, Các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách xuyên tạc , phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bằng nhiều phương thức, thủ đoạn, phương tiện rất tinh vi; đặc biệt, chúng triệt để sử dụng các trang mạng xã hội và Internet tán phát nhiều tin, bài với các nội dung quan điểm sai trái, thù địch chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng. Ý đồ của chúng là; nếu chưa xóa bỏ được nền tảng tư tưởng của Đảng thì cũng tạo nên sự mơ hồ, hoài nghi, mất niềm tin của nhân dân vào chủ nghĩa Mác-Lênin , tư tưởng Hồ Chí Minh. Cho nên chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, phát triển hệ thống lý luận, cung cấp luận cứ khoa học về chủ nghĩa Mác-Leenin, tư tưởng Hồ Chí Minh để nâng cao ý thức trách nhiệm của toàn xã hội trước các luận điểm xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch.

Hai là, thường xuyên đổi mới phương thức huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng đấu tranh phản bác luận điệu sai trái của các thế lực thù địch. Đây là giải pháp cơ bản nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong đấu tranh phản bác các quan điểm, luận điệu xuyên tạc trên mạng xã hội. Đa dạng hóa hoạt động đấu tranh theo hướng thiết lập và sử dụng các trang web, blog, diễn đàn để đăng tải các bài viết với nội dung tuyên truyền các quan điểm chính thống, định hướng dư luận, phản bác hoặc tiến hành đấu tranh phản bác ngay tại các trang mạng “độc hại” được đối tượng sử dụng. Xây dựng và mở rộng đội ngũ cộng tác viên đưa tin, viết bài, bình luận; nâng cao chất lượng bài viết với các luận cứ khoa học, mang tính thuyết phục cao. Kết hợp chặt chẽ các biện pháp đấu tranh trực tiếp với gián tiếp; giữa xây và chống, trong đó lấy xây là chính; chủ động cung cấp thông tin và phối hợp với các cơ quan báo chí để đấu tranh, ngăn chặn kịp thời và có hiệu quả.

Ba là, chủ động bám sát các vấn đề, sự kiện, cung cấp thông tin, định hướng tư tưởng trong mặt trận đấu tranh trên mạng xã hội. Với phương châm chỉ đạo công tác tư tưởng phải đi trước, đón đầu; không để ‘khoảng trống” thông tin để các thế lực thù địch lợi dụng, xuyên tạc chống phá. Các cơ quan chức năng cần quan tâm nghiên cứu biên soạn các tài liệu chuyên khảo, tham khảo để phục vụ công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, kỹ năng đấu tranh cho các lực lượng. Nhận thức tính chất nguy hiểm của các luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh hòng phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng Sản và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương, biện pháp đẩy mạnh đấu tranh phản bác lại những quan điểm sai trái, thù địch. Nghị quyết Đại hộ Đảng toàn quốc lần thứ X khẳng định “chủ động và kiên quyết phê phán những quan điểm sai trái, bác bỏ những luận điệu phản động, góp phần làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình”, của các thế lực thù địch; chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch.

Bốn là, tăng cường quản lý, chủ động sử dụng các biện pháp kỹ thuật, ngăn chặn việc truy cập vào các trang mạng “độc hại” một cách hiệu quả. Các cơ quan chức năng chủ động phối hợp Bộ Thông tin Và Truyền thông triển khai các biện pháp kỹ thuật, công nghệ nhằm rà soát, sàng lọc, ngăn chặn các thông tin, tài liệu có nội dung xấu, phản động chống phá Việt Nam do các thế lực thù địch tuyên truyền, xâm nhập vào trong nước qua Internet, wed, blog, các tài khoản mạng xã hội Face-book, Youtube… để xây dựng quy chế phối hợp nhằm Chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng đối với cấp ủy, tổ chức đảng, của cả hệ thống chính trị và mọi cán bộ, đảng viên; các chủ trương, giải pháp cơ bản cần được triển khai đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm và có hệ thống, với hoạt động này.


Nhận diện các quan điểm chống phá, thủ đoạn tung tin chia rẽ mối quan hệ Đảng-Dân

 Các quan điểm chống phá, thủ đoạn tung tin của các thế lực thù địch

Với nhiều phương thức tung tin chống phá, trực tiếp hoặc qua các phương tiện truyền thông, như đài nước ngoài bằng tiếng Việt (VOA, RFA (Mỹ), BBC (Anh), RFI (Pháp), các trang mạng của tổ chức khủng bố (Việt Tân, “Nhật ký yêu nước”), hay rất nhiều các tài khoản nhóm và cá nhân trên mạng xã hội Facebook, Google, YouTube (Nguyễn Văn Đài, Lisa Phạm, Lê Văn Sơn, Lê Dũng Vova, blog “Bà Đẩm Xòe”), sách, bài viết, bài nói của một số cá nhân..., các thế lực thù địch đã bộc lộ các quan điểm và thủ đoạn như sau:
- Xuyên tạc thể chế nhất nguyên chính trị, một đảng cầm quyền ở Việt Nam. Theo chúng, đó là thể chế “phi dân chủ”, đi ngược lại quy luật phổ biến trong quan hệ “kinh tế quyết định chính trị” là đa thành phần kinh tế thì phải đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Chúng cho rằng “không thể có dân chủ trong chế độ một đảng cộng sản duy nhất cầm quyền ở Việt Nam”, vì thế cần “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”. Chúng kêu gọi nếu Đảng không tự mình rời bỏ vị trí “độc quyền” lãnh đạo, thì nhân dân hãy dùng quyền phúc quyết để xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp, tức xóa bỏ sự hiến định vị thế cầm quyền của Đảng.
- Xuyên tạc mô hình và cơ chế vận hành của hệ thống chính trị (HTCT) - Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Chúng lập luận: cơ chế này “lường gạt” vai trò làm chủ của nhân dân, làm sao nhân dân làm chủ được khi Đảng ra chủ trương, đường lối, rồi người của Đảng được bố trí vào các cơ quan nhà nước, giữ các vị trí trọng yếu, quyết định hết các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Các quyền đó theo Hiến pháp là thống nhất, thì không thể kiểm soát quyền lực được, nên hãy “tam quyền phân lập”. Chúng còn ráo riết đưa người ứng cử tự do vào Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp. Khi các vòng hiệp thương do Mặt trận Tổ quốc chủ trì loại chúng ra khỏi danh sách ứng cử (vì không đủ tiêu chuẩn và không được tín nhiệm), thì chúng yêu cầu “phải xóa bỏ cơ chế hiệp thương”. Chúng kêu gào xây dựng “xã hội dân sự”, để các tổ chức quần chúng hoạt động độc lập, như là lực lượng đối trọng, đối lập với đảng cầm quyền, để kiểm soát quyền lực của Đảng, Nhà nước, để xây dựng cơ sở xã hội cho các đảng đối lập ở Việt Nam.
Xuyên tạc các quyết sách chính trị của Đảng trong lịch sử cũng như trong phát triển kinh tế - xã hội hiện nay. Về hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, các nhân vật “lật sử” cho rằng Đảng phát động chiến tranh nhân dân là sai lầm, gây ra bao tổn thất; nếu không đánh Pháp, đuổi Nhật, chống Mỹ thì đã không có hàng triệu người dân hy sinh, đất nước tan hoang vì chiến tranh... Lập luận này đánh vào nỗi đau sau chiến tranh của mọi người dân Việt Nam, nếu bị kích động, sẽ gây ra sự “oán trách” Đảng Cộng sản trong một bộ phận người dân nhận thức hạn chế. Hiện tại, hầu như tất cả các nội dung trong Cương lĩnh xây dựng đất nước, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, các chủ trương, chính sách cụ thể trên từng lĩnh vực trong từng nhiệm kỳ Đại hội Đảng đều bị tấn công xuyên tạc, với giọng điệu dè bỉu, chê bai, “cảnh báo” nhân dân “đừng tin”. Như: kinh tế thị trường là của chủ nghĩa tư bản, Đảng Cộng sản gán ghép “định hướng XHCN” để “mị dân”; phát triển kinh tế tư nhân, nhưng nhà nước bỏ mặc doanh nhân tự xoay xở, chỉ tập trung nguồn lực (từ thuế của dân) cho doanh nghiệp nhà nước; nói tự do tôn giáo, nhưng hạn chế, cản trở tôn giáo hoạt động, truyền bá, phát triển; nói đảm bảo quyền con người, nhưng vi phạm nhân quyền, bỏ tù các “tù nhân lương tâm” khi họ đứng lên đấu tranh...
- Nâng hiện tượng lên thành bản chất, quy kết hành vi sai phạm của một bộ phận cán bộ, đảng viên thành chủ trương của các cấp ủy, chính quyền trong thực hiện quyết sách chính trị của Đảng. Khi Đảng chưa lôi hết được “một bộ phận không nhỏ” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, tham nhũng, tiêu cực, thì chúng lu loa đó là “vùng cấm”, là “nội bộ o bế, bảo vệ nhau”; khi sai phạm của “bộ phận không nhỏ” bị đưa ra ánh sáng, thì chúng lập luận là “phe phái đánh nhau”. Khi dịch bệnh do Covid-19 hoành hành phải thực hiện giãn cách xã hội, cách ly y tế, phong tỏa thì chúng nguýt ngoáy là “vi phạm Hiến pháp về quyền tự do đi lại, cư trú”. Khi một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội không đạt theo nghị quyết, một số dự án chậm tiến độ bị thu hồi, hoặc sai phạm bị đình chỉ, điều tra... thì chúng loa lên Đảng “không đủ khả năng”, “hết vai trò” trong lãnh đạo, và đề nghị: Đảng Cộng sản hãy lùi lại phía sau, để lực lượng chính trị khác có khả năng hơn lãnh đạo đất nước.
- Bóp méo, làm giả sự việc, hình ảnh của các lực lượng chức năng trong thực hiện nhiệm vụ rồi vu cáo đàn áp nhân dân. Đây là thủ đoạn rất phổ biến, gây hoang mang trong nhân dân, làm “mồi lửa” để một bộ phận người dân vì nhẹ dạ, cả tin mà bị kích động, lôi kéo vào các hoạt động chống phá chính quyền. Điển hình như bạo loạn ở Tây Nguyên những năm 2000 - 2004 do Tin Lành Đề-ga kích động, xúi giục đồng bào dân tộc thiểu số đòi “đất Tây Nguyên phải trả lại cho người Tây Nguyên”, “thiết lập nhà nước Đềga” của người dân tộc Tây Nguyên. Hay vụ việc Đồng tâm, với chiêu trò vu cáo “quân đội chiếm đất của dân”, “chính quyền đưa vũ khí về đàn áp dân”. Trong những ngày chống dịch Covid-19 khốc liệt này, không ngày nào trên mạng xã hội không xuất hiện các hình ảnh, video bị làm giả, bóp méo, như: “Shiper quỳ lạy xin lực lượng trực chốt”; “Bộ đội đang làm màu?”, “Thành phố Hồ Chí Minh đang thiết quân luật”, "Chống dịch hay chống dân; kẽm gai, quân đội, công an, pháo đài … sẽ còn thêm gì nữa?", “người nghèo không được hỗ trợ”, “không thấy Đảng, Nhà nước giúp dân”, “chỉ có dân giúp dân, không thấy chính quyền đâu”. Thậm chí chúng còn kêu gọi biểu tình phản đối phòng dịch, đốt sạch khu cách ly để “tự cứu nếu không muốn chết vì Covid”...

Đề cao cảnh giác trước âm mưu thủ đoạn thúc đẩy "xã hội dân sự" trong tình hình hiện nay

Chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) được thực hiện bằng nhiều phương thức, thủ đoạn rất tinh vi, xảo quyệt hướng tới một mục đích cuối cùng là làm sụp đổ chế độ XHCN, làm tan rã các Đảng Cộng sản, thiết lập chế độ đa nguyên, đa đảng. Trong quá trình này, “xã hội dân sự” được họ sử dụng như một công cụ quan trọng. Thực tiễn sự sụp đổ của chế độ XHCN ở Đông Âu và Liên Xô trước đây là diễn ra theo kịch bản này.

 1. Nhận diện xã hội dân sự:

Tuy có nhiều cách tiếp cận nhìn nhận, đánh giá và quan niệm khác nhau về “xã hội dân sự” (civil society) tùy thuộc và mỗi giai đoạn lịch sử và những hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của từng giai đoạn lịch sử đó, nhưng các quan điểm của các học giả phương Tây đều gặp nhau ở những điểm cốt lõi, đó là:

Về tổ chức, xã hội dân sự là một tổ hợp của các thiết chế chính trị - xã hội phù hợp với hệ thống dân chủ, tự do và kinh tế thị trường, bao gồm: các tổ chức cộng đồng, các tổ chức quần chúng, các hội nghề nghiệp, các tổ chức phi chính phủ. Trong một không gian công cộng, các thiết chế này được hình thành một cách tự nguyện, độc lập, có thể thảo luận, tranh luận với nhau; độc lập hoặc cùng nhau thảo luận, tranh luận với nhà nước về các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội để tạo ra sự đồng thuận trong những vấn đề của đời sống xã hội đặt ra.

Về bản chất, xã hội dân sự là xã hội tự lập phi nhà nước, được hình thành và vận hành trong không gian công cộng và tư nhân, nằm ngoài vùng ảnh hưởng trực tiếp của yếu tố nhà nước. Đó là sự khác biệt giữa “xã hội dân sự” với “xã hội quân sự” hay “xã hội chính trị” (nhà nước), nhưng xã hội dân sự có thể được nhà nước hậu thuẫn. Những vấn đề xã hội dân sự không tự giải quyết được thì thuộc chức năng của nhà nước.

Là những nhà triết học duy vật biện chứng, C.Mác và Ph.Ăngghen quan niệm “Xã hội dân sự theo đúng nghĩa của nó được sinh ra từ xã hội tư sản. Nó được hình thành bởi những chế định lịch sử - xã hội, bởi những hình thức quan hệ sản xuất đặc biệt, bởi những hình thức quan hệ và đấu tranh giai cấp và được bảo vệ bởi những cơ chế chính trị - pháp lý tương ứng”… Về bản chất của xã hội dân sự, theo C.Mác, chủ quyền của nhân dân phải trở thành vấn đề trung tâm trong một xã hội dân sự đích thực, làm cơ sở cho một chế độ dân chủ và một nhà nước dân chủ chân chính. Đó là tư tưởng cách mạng sâu sắc có tính định hướng cho việc nhìn nhận, đánh giá và xác định tính đúng đắn của một số tổ chức được coi là xã hội dân sự và cơ sở, tiêu chí để khẳng định những thiết chế chính trị xã hội lợi dụng danh nghĩa “xã hội dân sự” để chống đối chính quyền nhân dân.

Xã hội dân sự ở Việt Nam phát triển từ đầu thế kỷ XX, khi người Pháp đưa khái niệm dân chủ và quyền công dân vào nước ta. Quá trình phát triển xã hội dân sự ở Việt Nam cùng trải qua một chặng đường dài thăng trầm do sự biến động của thời cuộc và sự lạm dụng vai trò, chức năng của một số tổ chức xã hội dân sự cũng như âm mưu của các thế lực đế quốc, phản động lợi dụng xã hội dân sự xâm phạm an ninh và lợi ích quốc gia.

Pháp luật Việt Nam đã quy định các điều kiện cụ thể để thành lập một tổ chức xã hội dân sự, đó là phải xác định rõ tôn chỉ, mục đích, điều lệ của tổ chức; thành phần ban sáng lập, hội viên, nguồn tài chính để hoạt động và phương thức hoạt động… Hiện nay ở nước ta, bên cạnh các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, nhiều hội, tổ chức phi chính phủ đã và đang được thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân hoạt động công khai hợp pháp. Hiện có khoảng gần 400 hội đang hoạt động trên phạm vi cả nước, trên 600 tổ chức hội, đoàn đang hoạt động trên phạm vi các địa phương; hàng ngàn hiệp hội, câu lạc bộ hoạt đông trên các lĩnh vực khác nhau. Bên cạnh đó còn có khoảng trên 600 tổ chức phi chính phủ nước ngoài có quan hệ với Việt Nam, trong đó gần 400 tổ chức có các chương trình, dự án đang triển khai tại nước ta. Về cơ bản, các tổ chức xã hội dân sự đồng thuận với xã hội, đóng vai trò tích cực trong phát triển kinh tế văn hóa - xã hội.

2. "Xã hội dân sự"  và âm mưu của các thế lực thù địch

Những năm qua, âm mưu, hoạt động lợi dụng một số tổ chức “xã hội dân sự” kiểu phương Tây chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đối với Việt Nam tập trung vào các hướng sau đây:

Thứ nhất là, đề cao và nhấn mạnh vai trò “phản biện xã hội” của các tổ chức “xã hội dân sự”, triệt để khai thác tính đa dạng về thành phần, mục tiêu thành lập. lợi ích của tổ chức và các thành viên, đa nguyên về tư tưởng, chính kiến để hướng lái hoạt động của các tổ chức “xã hội dân sự” đã hình thành hoặc chuẩn bị hình thành vào các khuynh hướng tư tưởng chính trị khác nhau, từ đa nguyên về tư tưởng, dẫn tới đa nguyên về chính trị và mục đích cuối cùng là đối lập về tư tưởng chính trị. Vì vậy, do tác động, hướng lái của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, bản chất đích thực của một số tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam mất dần, thay thế vào đó là cho ra đời các tổ chức “xã hội dân sự” kiểu phương Tây như ở Đông Âu và Liên Xô trước đây.

Thứ hai là, thúc đẩy xu hướng thoát ly sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Một số tổ chức “xã hội dân sự” mang tính giai cấp rõ rệt, những người sáng lập không đứng trên lập trường của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, thay vì đặt mục tiêu hoạt động nhằm góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đã hướng lái tổ chức phục vụ lợi ích của một số tầng lớp, một nhóm người, đối lập với lợi ích của dân tộc, quốc gia. Vì vậy, họ luôn tìm cách tách hoạt động của tổ chức khỏi sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và các cơ quan chức năng. Tổ chức “xã hội dân sự” của họ chỉ là vỏ bọc, thực chất đó là những tổ chức mang màu sắc chính trị, ẩn chứa trong mục đích thành lập và hoạt động là động cơ và mục đích chính trị. Về lâu dài, đây sẽ là diễn đàn đấu tranh giai cấp trên mọi phương diện: chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế… Những người sáng lập một số tổ chức “xã hội dân sự” thường là những người các thế lực thù địch gọi là “bất đồng chính kiến”; những người cơ hội chính trị, có quan điểm trái chiều, đối lập với đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, công khai yêu cầu Đảng ta từ bỏ vai trò lãnh đạo, xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp; đòi đổi tên Đảng, tên nước, từ bỏ con đường xây dựng CNXH mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã lựa chọn.

Thứ ba là, lợi dụng chiêu bài “dân chủ, nhân quyền” để hướng lái xã hội dân sự vào các hoạt động trái với tôn chỉ, mục đích. Một số tổ chức “xã hội dân sự” có khuynh hướng đi theo mục tiêu chính trị, đề cao các “giá trị” tự do, dân chủ, nhân quyền của chủ nghĩa tư bản. Những người sáng lập tìm cách tuyên truyền, tác động, lôi kéo một số trí thức, văn nghệ sĩ, học sinh, sinh viên, luật sư tham gia, mở rộng phạm vi, không gian hoạt động trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, phụ họa và tiếp tay cho các thế lực bên ngoài chống phá Việt Nam. Một số người công khai viết, tán phát tài liệu, sách, sử dụng các trang mạng truyền bá những quan điểm, tư tưởng trái chiều, tạo diễn đàn đối lập với Đảng, Nhà nước. Họ triệt để lợi dụng những sai sót, yếu kém trong phát triển kinh tế - xã hội, những chủ trương, chính sách chưa hợp lòng dân, các vấn đề phức tạp nổi lên về an ninh, trật tự để phê phán đường lối của Đảng, đổ lỗi, quy kết trách nhiệm cho Đảng ta trong các vấn đề hạn chế, tồn tại của đất nước, nhất là trong phát triển kinh tế - xã hội, quan hệ đối ngoại và hợp tác quốc tế trong bảo vệ chủ quyền biên giới, biển đảo… Nhiều bài viết, tài liệu công khai cổ vũ, đề cao mô hình “xã hội dân sự” kiểu phương Tây và yêu cầu, hô hào, tác động áp dụng mô hình này vào xã hội Việt Nam để mở rộng diễn đàn dân chủ, phát huy đa nguyên… Từ đa nguyên chính kiến trong “phản biện chính sách”, “phản biện xã hội” dưới danh nghĩa ủng hộ quan điểm mở rộng dân chủ ở cơ sở, đảm bảo quyền con người để tuyên truyền, vận động có thêm lực lượng, tổ chức xã hội, đoàn thể quần chúng, các tổ chức phi chính phủ tham gia, từng bước hình thành các “phong trào”, “mặt trận” dân chủ, trở thành lực lượng đối trọng, đối lập với Đảng và Nhà nước ta trong tương lai.

Thứ tư là, các thế lực thù địch bên ngoài gia tăng các hoạt động móc nối, liên kết, hậu thuẫn cho những người “bất đồng chính kiến” trong nước, những người bất mãn trong một bộ phận văn nghệ sĩ, trí thức, luật sư… hoạt động theo khuynh hướng “độc lập”, hình thành “xã hội dân sự” đối lập theo mô hình của phương Tây, các nước Đông Âu và Liên Xô trước khi sụp đổ, tan rã.

Trong các nhóm đã được thành lập, có những hội, nhóm, câu lạc bộ, viện nghiên cứu thành phần tham gia khá phức tạp. Được sự cổ vũ, khích lệ của các thế lực chống CNXH ở bên ngoài, họ thường xuyên gặp gỡ bàn bạc, biên soạn, phát tán tài liệu có nội dung phê phán đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Một số tổ chức thông qua hoạt động nghiên cứu, phản biện, tư vấn để truyền bá quan điểm, tư tưởng sai trái, phê phán đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, cổ súy cho một phong trào “xã hội dân sự” độc lập. Họ còn tổ chức các cuộc tọa đàm, hội thảo, trả lời phỏng vấn, đăng tải trên trang mạng các bài viết phủ nhận thành quả cách mạng, yêu cầu Đảng ta từ bỏ vai trò lãnh đạo; tổ chức dịch, phát hành hàng chục đầu sách của các tác giả nước ngoài có nội dung nhạy cảm về chính trị, đề cập đến sự tan rã của Liên Xô, sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu như những tài liệu phổ biến kinh nghiệm biểu tình, lật đổ, tiến hành “cách mạng đường phố”, “cách mạng màu”, cổ vũ cho “xã hội dân sự” đối lập…

Nhận diện hoạt động của các thế lực thù địch đối với vấn đề "xã hội dân sự"

 Trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch tập trung tuyên truyền cổ vũ cho chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập tại Việt Nam. Luận điệu của họ là trong nền chính trị Việt Nam phải tồn tại các nhóm chính trị, các chính đảng khác nhau để đa dạng hóa đường lối cho nhân dân lựa chọn thông qua bầu cử tự do thì mới đảm bảo cho một nền dân chủ. Vì vậy, những năm qua các phần tử chống CNXH luôn tìm mọi cách tập hợp lực lượng, cho ra đời tổ chức, đảng phái chính trị đối lập trong nước.

Thời gian tới, hoạt động của các thế lực thù địch đối với vấn đề “xã hội dân sự” ở Việt Nam sẽ được đẩy mạnh theo các hướng sau:

Một là, gia tăng hoạt động truyền bá tư tưởng “xã hội dân sự” của phương Tây, đề cao và tuyệt đối hóa để gây áp lực xã hội đối với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, làm tiền đề cho sự ra đời, phát triển của “xã hội dân sự” Việt Nam - mầm mống của đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

Hai là, tập trung tuyên truyền tác động phá hoại nội bộ, thúc đẩy quá trình suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nhằm tạo dựng, phát triển lực lượng chống đối, bổ sung nhân sự cho việc hình thành các tổ chức “xã hội dân sự” chính trị, đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ba là, gia tăng các hoạt động móc nối, tác động chuyển hóa các tổ chức xã hội dân sự đích thực ở Việt Nam, nhất là các hội, các tổ chức phi chính phủ trở thành các tổ chức “xã hội dân sự” kiểu phương Tây, làm mất dần bản chất đích thực, vai trò quan trọng của các tổ chức xã hội dân sự hiện nay. Từ đó sẽ trực tiếp chi phối, khích lệ các hoạt động chống đối chế độ, đòi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập ở nước ta. Đây là bước chuẩn bị điều kiện nhân sự, tổ chức cho sự ra đời của đảng chính trị đối lập, từng bước công khai hóa, hợp thức hóa, quốc tế hóa trở thành đối trọng với Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua đấu tranh chính trường, từng bước gạt Đảng Cộng sản Việt Nam khỏi vũ đài chính trị, chiếm đoạt quyền lực, đưa nước ta theo quỹ đạo của phương Tây.

Bốn là, sử dụng các tổ chức “xã hội dân sự” chính trị làm công cụ tuyên truyền tác động tư tưởng, lôi kéo quần chúng, những người có tâm tư bất mãn trong các giai tầng xã hội, các phần tử chống chủ nghĩa xã hội để tập hợp lực lượng quần chúng, chuẩn bị điều kiện kết hợp với các hoạt động gây mất ổn định chính trị - xã hội để phát động một cuộc “cách mạng đường phố”, thay đổi chế độ chính trị ở Việt Nam.

Đấu tranh ngăn chặn, vô hiệu hóa âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng “xã hội dân sự” chống phá Việt Nam trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài. Trước hết, phải xác định đây là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, các ngành, các cấp, các lực lượng vũ trang.

Vấn đề đầu tiên đặt ra là phải thống nhất và nâng cao nhận thức về xã hội dân sự, phân biệt và đánh giá đúng vai trò, vị trí, tầm quan trọng của các tổ chức xã hội dân sự đích thực để tập trung lãnh đạo, định hướng cho các tổ chức này tuân thủ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tích cực đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia, cảnh giác trước âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, không để bị tác động, lôi kéo vào các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Không đánh đồng các tổ chức xã hội dân sự đích thực với các tổ chức “xã hội dân sự” theo mô thức của phương Tây.

Làm tốt công tác thông tin tuyên truyền, nâng cao tinh thần cảnh giác cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân các giai tầng xã hội để thấy rõ âm mưu của các thế lực thù địch trong việc cổ súy và sử dụng các tổ chức “xã hội dân sự” vào mục đích thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam. Các cơ quan chức năng cần làm tốt công tác nắm tình hình, tham mưu cho các cấp ủy đảng, chính quyền, tổ chức chính trị, đoàn thể quần chúng bảo vệ vai trò lãnh đạo của Đảng, không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, không để hình thành tổ chức chính trị đối trọng với Đảng và Nhà nước. Kiên quyết giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, phục vụ đất nước ổn định và phát triển đúng định hướng./.

Nhận diện và đấu tranh với luận điệu đòi "Đa nguyên, đan đảng mới có dân chủ"

 Lâu nay, các phần tử cơ hội chính trị, chống đối cho rằng, Việt Nam không có dân chủ vì thực hiện chế độ nhất nguyên, nhất đảng nên “vừa đá bóng, vừa thổi còi” và vì thế dẫn đến dân chủ hình thức hoặc mất dân chủ. Trong khi đó, các tổ chức nhân danh dân chủ phương Tây đã và đang tìm cách cổ suý “tiêu chuẩn nhân quyền” kiểu phương Tây vào Việt Nam, đồng thời tung tin bịa đặt với các luận điệu cho rằng: “Việt Nam thiếu văn hóa dân chủ, không có dân chủ, hạn chế quyền riêng tư của công dân”, “Việt Nam vi phạm nghiêm trọng quyền con người”, “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội tức là theo chế độ đảng trị, bằng “đảng chủ”; “một đảng cầm quyền thì không thể có dân chủ, chỉ dẫn đến độc tài, độc trị”; “chế độ một đảng lãnh đạo, độc quyền là trái với nguyên tắc nhà nước pháp quyền”; “chế độ nhất nguyên chính trị, một đảng cầm quyền ở Việt Nam là “vừa đá bóng, vừa thổi còi” dẫn đến ở Việt Nam không có dân chủ hoặc dân chủ hình thức”.

Đây là những luận điệu phản khoa học, hết sức nguy hiểm bởi nó cố tình đánh đồng giữa vấn đề đa nguyên, đa đảng với dân chủ, phát triển của đất nước, dân tộc. Thực chất luận điệu trên là muốn phủ nhận vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội, tiến tới thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập để đi đến xóa bỏ định hướng XHCN ở nước ta. Vấn đề mấu chốt trong học thuyết “dân chủ, nhân quyền kiểu phương Tây cần áp dụng đối với Việt Nam” là xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với cách mạng Việt Nam. Như vậy, chiêu bài dân chủ thực chất là các thế lực thù địch nhằm phá hoại Đảng, Nhà nước và định hướng XHCN ở nước ta.

Trên thế giới hiện nay có ba chế độ dân chủ: Dân chủ tư sản, dân chủ nhân dân, dân chủ xã hội chủ nghĩa. Mỗi chế độ dân chủ nói trên đều có những thiết chế khác nhau, nhưng đều có những yếu tố chung: (1) Sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của công dân (bao gồm tất cả thành viên xã hội); (2) bầu cử tự do và theo nhiệm kỳ bầu ra các cơ quan, người lãnh đạo đất nước; (3) quyền lực của nhà nước được chia làm ba nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp. Mỗi cơ quan trên có chức năng riêng: Hiến pháp và pháp luật được xem là tối thượng; các quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân được tôn trọng và bảo đảm.

Chế độ dân chủ sau Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam là chế độ dân chủ Nhân dân hướng theo con đường xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa. Một trong những đặc trưng của chế độ dân chủ ở Việt Nam là do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và cầm quyền. Tuy nhiên, vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam phải tuân thủ nguyên tắc Hiến định: “Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội; Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình; các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” (Điều 4, Hiến pháp năm 2013).

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước Việt Nam ngày càng hoàn thiện các quan điểm về dân chủ, nhân quyền, coi nỗ lực thể chế hóa, luật hóa quan điểm dân chủ, nhân quyền là yêu cầu bức thiết của phát triển. Năm 1998, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, khẳng định “phải phát huy quyền làm chủ của dân, thu hút nhân dân tham gia quản lý nhà nước, khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, mất dân chủ và nạn tham nhũng”. Sau đó, Chính phủ ban hành Nghị định 29/1998/NĐ-CP (đến năm 2003 thay thế bằng Nghị định số 79/2003/NĐ-CP) kèm theo Quy chế thực hiện dân chủ ở xã quy định về nội dung, phương thức, trách nhiệm của chính quyền cấp xã trong việc thực hiện quyền dân chủ của Nhân dân. Năm 2007, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XI thông qua Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn... Đây là các bước đi thống nhất, đồng bộ về chủ trương kết hợp hành động cụ thể tạo điều kiện “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.

Vấn đề một đảng hay nhiều đảng lãnh đạo, cầm quyền không phải là vấn đề mới và vấn đề này phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Về khách quan, vấn đề này phụ thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh lịch sử của mỗi nước, mỗi đảng khi lên lãnh đạo, cầm quyền. Về chủ quan, nó phụ thuộc tương quan so sánh lực lượng giữa các giai cấp, các bộ phận trong một xã hội, mà mỗi nước có thể có một đảng hoặc nhiều đảng.

Đảng là tổ chức chính trị của giai cấp, mang tính chất giai cấp, là sự liên kết tự nguyện của những người cùng chí hướng và cùng quyền lợi. Bản chất của đảng chính trị chính là bản chất giai cấp mà đảng ấy đại diện. Lịch sử hiện đại đã chứng minh rằng, trình độ dân chủ và sự phát triển của đất nước không tỷ lệ thuận với sự gia tăng của số lượng đảng phái chính trị. Trong xã hội có sự phân chia giai cấp, mỗi giai cấp khác nhau có đảng khác nhau, thậm chí trong cùng một giai cấp cũng có thể có nhiều đảng khác nhau. Những đảng của cùng một giai cấp sẽ có cùng bản chất của giai cấp, có lợi ích gắn liền với giai cấp sinh ra nó, chúng chỉ khác nhau về hình thức tổ chức, phương thức hoạt động và những mục tiêu cụ thể mà không đối lập về bản chất.

Những đảng của các giai cấp khác nhau hoặc đối lập nhau thì không chỉ khác nhau về tôn chỉ, mục đích, phương cách hoạt động, nguyên tắc tổ chức mà còn đối lập về bản chất của đảng. Như vậy, sự đa đảng cũng có nhiều sắc thái khác nhau. Có hiện tượng đa đảng nhưng vẫn nhất nguyên chính trị, có hiện tượng đa đảng đồng thời là đa nguyên chính trị.

Quan điểm một đảng thì mất dân chủ, cản trợ sự phát triển, còn đa đảng đồng nghĩa với dân chủ, phát triển là luận điệu sai trái. Cho đến nay chưa có cơ sở khoa học nào chứng minh điều này. Bởi đất nước có dân chủ hay phát triển không phụ thuộc vào chế độ một đảng hay đa đảng mà phụ thuộc vào đảng cầm quyền đó có mang bản chất cách mạng, tiên phong hay không, có bảo vệ quyền và lợi ích cho đa số nhân dân lao động hay chỉ cho một bộ phận thiểu số người trong xã hội đó.

Thực tiễn cho thấy, dân chủ và sự phát triển của một nước không tỷ lệ thuận với số lượng các đảng mà quốc gia đó có. Vì thực tiễn nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay, đa đảng nhưng vẫn mất dân chủ, vẫn là những nước nghèo, kém phát triển. Trong khi, nhiều quốc gia chỉ có một đảng lãnh đạo nhưng dân chủ được bảo đảm, kinh tế-xã hội phát triển, đời sống nhân dân được bảo đảm, nhân dân cảm thấy hạnh phúc, ấm no và có vị thế trên thế giới. Vấn đề thuộc về bản chất của các đảng, lợi ích xã hội mà nó đại diện, bảo vệ; uy tín và năng lực tập hợp, liên kết, lãnh đạo các lực lượng xã hội cùng thực hiện mục tiêu chung của quốc gia - dân tộc. Nếu một đảng chỉ phục vụ cho lợi ích riêng của đảng mình, giai cấp mình thì đảng đó khó có thể được các giai tầng khác chấp thuận làm lực lượng lãnh đạo xã hội, lãnh đạo đất nước. Một đảng đại diện cho lợi ích của giai cấp, của nhân dân và dân tộc, vì dân vì nước mà hành động, chắc chắn sẽ được nhân dân suy tôn, ủy thác làm lãnh đạo. Điều đó là bằng chứng hùng hồn, là minh chứng khẳng định đa nguyên, đa đảng không phải là cứu cánh cho dân chủ và sự phát triển.

Điển hình như hiện nay, Armenia có khoảng 40 đảng, Hà Lan có 25 đảng, Na Uy có 23 đảng... nhưng rõ ràng chúng ta không thể kết luận Armenia dân chủ hơn Hà Lan hay Na Uy. Trên thế giới hiện nay có hơn 30 quốc gia, vùng lãnh thổ theo chế độ một đảng. Điều đó cho thấy rằng, chế độ chính trị do một đảng cầm quyền không phải là đặc điểm chỉ có ở các nước XHCN do Đảng Cộng sản lãnh đạo và không phải các nước theo chế độ một đảng không bảo đảm dân chủ, đất nước không phát triển.

Ngay trong chủ nghĩa tư bản, có những thời kỳ một số quốc gia và vùng lãnh thổ theo chế độ một đảng duy nhất cầm quyền vẫn bảo đảm dân chủ và phát triển mạnh mẽ. Điển hình như vào cuối những năm 1980, Singapore, Hàn Quốc... vẫn theo chế độ một đảng duy nhất cầm quyền nhưng đất nước vẫn phát triển mạnh mẽ và ngược lại, ở một số quốc gia đa đảng vẫn không thực hiện tốt dân chủ. Đồng thời, trong hệ thống chính trị đa đảng, tại một giai đoạn chính trị nhất định cũng chỉ có một đảng thực chất cầm quyền và thậm chí ngay cả trường hợp khi liên minh đảng cầm quyền để thành lập chính phủ, đảng nào chiếm số ghế nhiều hơn trong nghị viện sẽ có quyền quyết định trong các chính sách phát triển của đất nước. Ở một số quốc gia khác (điển hình là Mỹ), mặc dù có nhiều đảng nhưng chỉ có hai đảng luân phiên cầm quyền là Đảng Cộng hoà và Đảng Dân chủ. Những đảng này đại diện cho giai cấp tư sản thì tất yếu phải hướng đến phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản chứ không thể là một “chính quyền của tất cả mọi người”.

Trải qua hơn 90 năm ra đời và lãnh đạo, Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn khẳng định được vị trí, vai trò không thể thay thế đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Những thành tựu to lớn và ý nghĩa lịch sử kết tinh sức sáng tạo của Đảng và Nhân dân Việt Nam đã khẳng định con đường đi lên CNXH của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đồng thời, đó cũng là minh chứng rõ nét rằng bản chất của một nền dân chủ không phụ thuộc vào chế độ đa đảng hay một đảng và đối với Việt Nam dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, nền dân chủ trong xã hội không những không bị mất đi, không bị hạn chế mà còn được bảo đảm, được phát huy sâu rộng trong thực tế.

 

“Khuyết điểm nặng nhất của cán bộ và nhân dân là chủ quan”.

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài viết “Phải thi đua chống hạn, diệt sâu, để nắm chắc vụ mùa thắng lợi”, bút danh Trần Lực, đăng trên Báo Nhân dân, số 1672, ngày 11 tháng 10 năm 1958.
Trong hoàn cảnh ngành nông nghiệp đứng trước nhiều thách thức, hạn hán, sâu bệnh, ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất tại nhiều địa phương trên cả nước. Qua nghe báo cáo và thực tế kiểm tra, Bác nhận thấy nhân dân và các cán bộ thấy lúa tốt thì ít săn sóc, thấy sâu nhiều thì ngại khó, đấy là một sự chủ quan hết sức nguy hiểm, Người đã viết bài để kịp thời nhắc nhở, phê bình và chấn chỉnh cán bộ và nhân dân không được chủ quan coi thường sâu bệnh, hạn hán để có được vụ mùa thắng lợi.
Nếu cán bộ, đảng viên mắc căn bệnh chủ quan, duy ý chí sẽ dẫn đến đề ra các chủ trương, quyết sách lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý điều hành xã hội xa rời thực tiễn; đường lối, chủ trương, quyết sách không phản ánh lợi ích của tập thể, không thể hiện được ý chí của quần chúng nhân dân. Mặt khác căn bệnh chủ quan, duy ý chí sẽ khiến con người ta tuyệt đối hóa vai trò cá nhân, biện pháp mệnh lệnh hành chính, hành động bất chấp quy luật khách quan. Đặc biệt đối với những người có chức, có quyền mắc bệnh chủ quan, duy ý chí sẽ dẫn tới tình trạng lạm dụng chức quyền, mất dân chủ, thờ ơ với tâm tư, nguyện vọng của quần chúng... Những hệ lụy tiêu cực từ căn bệnh chủ quan, duy ý chí đối với đời sống kinh tế-xã hội là hết sức khó lường.
Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng phải thường xuyên rèn luyện cho mình phương pháp, tác phong công tác khoa học, thiết thực và hiệu quả, để từ đó không mắc vào căn bệnh chủ quan, duy ý chí. Mặt khác, phải đề cao ý thức tự chủ, phát huy tốt dân chủ, thực hiện tốt quyền dân chủ của quần chúng nhân dân. Đề cao dân chủ sẽ giúp cho cán bộ, đảng viên chống được căn bệnh gia trưởng, độc đoán, chuyên quyền, phát huy tốt tính tích cực, năng động, sáng tạo của quần chúng nhân dân và trí tuệ của tập thể trong thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ.
Thấu triệt lời Bác Hồ dạy, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta phải luôn rèn luyện và thực hành tốt tính sâu sát, tỉ mỉ, cụ thể, phải mắt thấy, tay sờ, tai nghe... nhất là trong chiến đấu. Có như vậy mới biết địch, biết ta, mới đưa ra được cách đánh phù hợp nhằm tiêu diệt, tiêu hao nhiều nhất vũ khí, sinh lực địch, hạn chế thấp nhất thương vong cho bộ đội và nhân dân để giành thắng lợi trong chiến đấu cũng như trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới. Cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam luôn sắc son lời thề danh dự “... thắng không kiêu, bại không nạn, gian lao khổ hạnh cũng không sờn lòng, vào sống ra chết cũng không nản chí, “nhiệm vụ vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” mãi mãi xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”. (Sưu tầm)