Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng
và Nhà nước Việt Nam hướng đến là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập
quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có
sự quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam
lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đólà một kiểu kinh tế
thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường; một kiểu tổ
chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên
cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã
hội, thể hiện trên cả ba mặt: Sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối. Đây không phải là nền
kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và cũng chưa phải là nền kinh tế thị trường
xã hội chủ nghĩa đầy đủ (vì nước ta còn đang trong thời kỳ quá độ).
Như vậy, đã phát triển kinh tế thị trường thì phải tuân theo sự
vận động của các quy luật thị trường. Những người tham gia vào quá trình sản
xuất, kinh doanh cùng đón nhận những cơ hội lẫn thách thức phải đương đầu; có
cơ may thành công lẫn nguy cơ thất bại; giàu lên hay nghèo đi có thể xảy ra.
Phát triển kinh tế thị trường vừa tạo ra động lực, phát huy mọi nguồn lực để
phát triển nền kinh tế nhanh, mạnh; vừa làm cho xã hội phân hóa, phân tầng theo
các tầng/lớp khác nhau về tài sản, mức sống, điều kiện sống, lối sống, văn hóa…
Nếu để cho quá trình này diễn ra tự nhiên thì xã hội ngày càng bị phân hóa,
phân cực giàu - nghèo gay gắt; các tầng lớp yếu thế trong xã hội càng gặp khó
khăn, cùng quẫn; nguy cơ bất ổn xã hội ngày càng cao.
Để định hướng xã hội chủ nghĩa, vai trò lãnh đạo, quản lý của
Đảng và Nhà nước có ý nghĩa quyết định. Một trong những công cụ cơ bản nhất, đó
là thực thi các chính sách xã hội. Với việc thực hiện đồng bộ, hiệu quả các
chính sách xã hội theo phương châm: khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với
nhiệm vụ giúp đỡ, tạo điều kiện cho người nghèo cùng vươn lên trong cuộc sống
bằng việc thực thi hàng loạt các chính sách hỗ trợ về giáo dục - đào tạo, y tế,
lao động, việc làm,vv... là cách làm giúp cho các giai tầng xã hội xích lại gần
nhau, góp phần giảm thiểu khoảng cách chênh lệch giữa các tầng/lớp người trong
xã hội; hướng đến mục tiêu bình đẳng, tiến bộ, phát triển toàn diện…
Ngay từ khi đề ra đường lối đổi mới toàn diện, Đảng đã rất chú trọng
đến việc giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện chính sách xã hội để hướng đến
mục tiêu công bằng, bình đẳng và tiến bộ xã hội; đặc biệt, đến Đại hội XIII,
lần đầu tiên trong Văn kiện, Đảng đã xác định rõ, chính sách xã hội là phương
tiện/công cụ định hướng xã hội chủ nghĩa, với quan điểm: “Nhận
thức đầy đủ và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong các chính sách xã hội”.
Trong bài viết luận bàn về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam, Giáo sư Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, đã luận
giải rằng:“Một
đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọngcủa định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế
thị trường ở Việt Nam là phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính
sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện
tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt
quá trình phát triển”.
Vậy là, trong hoạch định và thực thi các chính sách thì phải đặc
biệt chú ý đến đặc điểm cơ bản của mối quan hệ giữa chính sách xã hội với
chính sách kinh tế là sự thống nhất biện chứng của chúng. Chính sách xã hội và
chính sách kinh tế tuy có mục tiêu riêng - mục tiêu tự thân của nó, song lại có
chung mục tiêu là nhằm phát triển xã hội. Vì vậy, mọi chính sách xã hội và
chính sách kinh tế đều hướng vào mục tiêu trung tâm là phát triển con người,
phát huy nhân tố con người, đem lại cuộc sống tốt đẹp cho con người. Mỗi
chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính
sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế. Đây là một yêu cầu có
tính nguyên tắc để bảo đảm sự phát triển lành mạnh, bền vững, theo định hướng
xã hội chủ nghĩa.
Có chính sách phát triển kinh tế đúng đắn, hợp lý sẽ tạo ra điều
kiện, tiền đề vật chất để giải quyết các vấn đề xã hội. Chính sách xã hội được
xây dựng mà không tính đến khả năng của nền kinh tế, hoặc không quan tâm đến
lợi ích kinh tế thì sẽ cản trở kinh tế phát triển, triệt tiêu yếu tố kinh tế.
Nhưng nếu lấy tăng trưởng kinh tế làm mục tiêu tối thượng thì dẫn đến chỗ khoét
sâu những ngăn cách xã hội. Tăng trưởng kinh tế tự nó không thể giải quyết được
tất cả các vấn đề xã hội và dẫn tới tiến bộ xã hội. Để đạt đến mục tiêu tiến bộ
xã hội thì phải thông qua chính sách xã hội, phải kết hợp chính sách kinh tế
với chính sách xã hội.
Vì vậy, phải xác lập mối quan hệ hợp lý giữa chính sách xã hội với
chính sách kinh tế làm sao để hai mặt đó trở thành tiền đề của nhau. Văn kiện
qua các kỳ Đại hội của Đảng đều khẳng định: Tăng trưởng kinh tế
phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong
suốt quá trình phát triển. Không phát triển kinh tế với bất cứ giá nào, bất chấp hậu
quả xã hội ra sao. Thông thường, sai lầm về kinh tế có thể khắc phục được sau
một thời gian ngắn, có thể sau một vài chu kỳ sản xuất; nhưng những hậu quả về
mặt xã hội có thể đánh đổi hàng trăm năm chưa chắc khắc phục được.
Xuyên suốt các kỳ đại hội, nghị quyết của Đảng đều nhất quán
quan điểm chỉ đạo: “Gắn kết chặt chẽ chính sách kinh tế với chính sách xã hội,
phát triển kinh tế với nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, bảo đảm để
nhân dân được hưởng thụ ngày một tốt hơn thành quả của công cuộc đổi mới, xây
dựng và phát triển đất nước”.
Như vậy, chủ trương “phát triển kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa” của Đảng và Nhà nước Việt Nam không phải là một giải pháp mang
tính tình thế, một ý tưởng nhất thời mà là đường lối phát triển đất nước được
hoạch định và trù liệu công phu, kỹ lưỡng, được dựa trên cơ sở lý luận vững
chắc và phù hợp với tình hình thực tiễn. Là một mô hình phát triển mới lạ nhưng
qua tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, Đảng và Chính phủ đã ngày càng
nhận thức đúng đắn hơn, sâu sắc hơn và đề ra quyết sách chính xác hơn.
Là một nước đi ra từ các cuộc chiến tranh vệ quốc kéo dài vô cùng
tàn khốc, với xuất phát điểm nghèo nàn, lạc hậu (thuộc nhóm nước chậm phát
triển), nhờ thực hiện đường lối: Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa mà Việt Nam đã ra khỏi nhóm nước có thu nhập thấp từ năm
2008. Trong 35 năm đổi mới vừa qua, kinh tế tăng trưởng liên tục, trung bình
khoảng 7% mỗi năm; tỉ lệ hộ nghèo đã giảm từ 58% năm 1993 xuống còn dưới 3% năm
2020 theo tiêu chuẩn nghèo đa chiều. Hiện nay, Việt Nam có 95% người lớn biết
đọc, biết viết; người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và người cao tuổi đều được cấp
bảo hiểm y tế miễn phí. Tuổi thọ trung bình của dân cư tăng từ 62 tuổi
năm 1990 lên 73,7 tuổi năm 2020. Hiện Việt Nam có khoảng 70% dân
số sử dụng Internet, thuộc nhóm nước có tốc độ phát triển công nghệ tin học cao
nhất thế giới; chỉ số phát triển con người (HDI) năm 2019 của Việt Nam đạt mức
0,704 (so với các nước có cùng trình độ phát triển thì nước ta thuộc nhóm nước
có HDI cao của thế giới), lần đầu tiên vào nhóm các nước phát triển con
người cao và xếp thứ 117/189 quốc gia và vùng lãnh thổ. Theo Báo cáo phát triển bền
vững 2020,
Việt Nam là quốc gia Đông Nam Á duy nhất đạt được năm mục tiêu hành động của
Liên hiệp quốc (trong đó có các biện pháp giảm khí thải CO2, thúc đẩy năng
lượng tái tạo và nâng cao khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu). Đời sống
nhân dân được cải thiện, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết; các mặt chính
trị, xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được bảo đảm…
“Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch
sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất
cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ
có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.
Khi đại dịch Covid -19 diễn biến phức tạp, nhất là biến chủng
Delta lây lan với tốc độ nhanh trên nhiều tỉnh/thành của cả nước thì Đảng và
Chính phủ đã đưa ra các quyết sách trên tinh thần nhân văn cao cả, đó là hi
sinh tăng trưởng kinh tế để cứu người. Nếu không thẩm thấu tinh thần, lý tưởng
cao đẹp của chủ nghĩa xã hội thì không có những chủ trương, quyết sách thấm đẫm
tinh thần nhân văn, nhân bản vì con người như vậy.
Những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội nói trên vừa khẳng
định đường lối đúng đắn cùng sự lãnh đạo, quản lý tài tình của Đảng và Nhà
nước; vừa là minh chứng để đập tan mọi loại quan điểm sai trái, thù địch.
Đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa thực sự là một đột phá tư duy rất cơ bản và sáng tạo của Ðảng, là thành
quả phát triển lý luận và thực tiễn của Việt Nam qua quá trình đổi mới toàn
diện đất nước.
Về nền kinh tế thị trường, đã được hình thành và phát triển từ lâu
trong lịch sử nhân loại. Theo quan điểm chủ nghĩa Mác, kinh tế thị trường là
một giai đoạn phát triển tất yếu của lịch sử mà bất cứ nền kinh tế nào cũng
phải trải qua để đạt tới nấc thang cao hơn trên con đường phát triển; và nền
kinh tế tư bản chủ nghĩa chính là nền kinh tế thị trường phát triển đến trình
độ phổ biến và hoàn chỉnh. Nấc thang cao hơn chính là nền kinh tế cộng sản chủ
nghĩa mà giai đoạn đầu là nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.
Như vậy, kinh tế thị trườnglà một nấc thang tất yếu, mang tính phổ
biến cho mọi quốc gia trong tiến trình phát triển, là thành quả của văn
minh nhân loại chứ không phải là sản phẩm riêng có của tư bản chủ nghĩa như một
số ý kiến ngộ nhận. Kinh tế thị trường đã phát triển không duy nhất một mô
hình mà đã phát triển theo các mô hình như: (1) Mô hình kinh tế thị trường tự do, phổ biến ở
các nước Tây Âu và Bắc Mỹ; (2) Mô hình kinh tế thị trường - xã hội, phổ biến ở
một số nước ở Tây - Bắc Âu như Đức, Thụy Điển, Na uy, phần Lan…; (3) Mô hình
kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc và định hướng xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam.
Dù phát triển theo mô hình nào thì nền kinh tế thị
trường đều gắn với những quy luật mang tính đặc trưng sau đây:
Quy luật giá trị quy định việc sản xuất và trao đổi hàng
hoá phải căn cứ vào hao phí lao động xã hội cần thiết; trao đổi theo nguyên tắc
ngang giá. Giá trị của sản phẩm/dịch vụ đều do thị trường định đoạt. Người
sản xuất kinh doanh nào có chi phí lao động xã hội cho một đơn vị sản phẩm thấp
hơn trung bình thì người đó có lợi nhất.
Quy luật cung - cầu là sự điều chỉnh của thị trường với một
mức giá cân bằng và một lượng giao dịch cân bằng sẽ được xác định. Ở đâu
có thị trường thì ở đó có quy luật cung – cầu tồn tại và hoạt động một cách
khách quan. Cầu xác định cung, những hàng hoá nào được tiêu thụ thì mới được
tái sản xuất. Cung cũng tạo ra cầu, kích thích tăng cầu thông qua phát triển số
lượng, chất lượng, chủng loại hàng hoá, hình thức, quy cách và giá cả của nó.
Quy luật cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể, các tổ
chức kinh tế trong việc giành giật thị trường và khách hàng và các điều kiện
thuận lợi trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh. Thực chất của cạnh tranh là
sự tranh giành về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể tham gia thị trường. Kết quả
cạnh tranh sẽ loại bỏ được các các cơ sở sản xuất, kinh doanh yếu kém và giúp
phát triển các cơ sở làm ăn có hiệu quả hơn.
Những quy luật nói trên của nền kinh tế thị trường vừa tạo ra động
lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển, vừa làm cho xã hội phân hóa thành những
tầng/lớp giàu nghèo khác nhau. Tầng lớp giàu có nắm giữ lợi thế tiếp cận mọi
nhu cầu, lợi ích của xã hội; tầng lớp nghèo khó chịu nhiều thua thiệt trong
việc thụ hưởng các nhu cầu cuộc sống.
Đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước Việt Nam là phát triển nền
kinh tế thị trường để phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh, giải phóng sức sản xuất
nhằm tạo tăng trưởng kinh tế không ngừng, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa,
hướng đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Về xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang
phấn đấu xây dựng, được Cương lĩnh xây dựng
đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm
2011) khẳng định là một xã hội: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực
lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh
phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam
bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản
lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới. Đây là hệ giá trị có
tính bản chất của xã hội xã hội chủ nghĩa, nó thể hiện sự tiến bộ hơn hẳn của
chế độ xã hội chủ nghĩa so với các chế độ xã hội trước đó. Chẳng hạn, xã hội tư
bản có thể có điều kiện sống vật chất, tiện nghi rất cao; dân có thể giàu, nước
có thể mạnh, nhưng từ trong bản chất của chế độ xã hội tư bản, ở đó không thể
có công bằng và dân chủ: nhà nước là nhà nước tư sản; giàu có là cho nhà tư
bản; sự giàu mạnh có được bằng quan hệ bóc lột. Trong xã hội như vậy, người dân
không thể là chủ và làm chủ xã hội.
Sinh thời, Bác Hồ luôn dành tình cảm đặc biệt và sự quan tâm
ân cần đến sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ Việt Nam. Bác dành rất nhiều tâm huyết
cho việc tổ chức, dẫn dắt các thế hệ thanh niên đến với cách mạng, tham gia vào
quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc…
Trong thư gửi thanh niên Việt Nam, tháng 4-1951, Bác viết: “…
Thanh niên phải xung phong làm gương mẫu trong công tác, trong học hỏi, trong
tiến bộ, trong đạo đức cách mạng”
Thấm nhuần và quán triệt tư tưởng của Người, Đảng, Nhà nước ta
luôn đề cao vai trò của thanh niên và có nhiều nghị quyết, chỉ thị, chính sách
tạo điều kiện để phát triển toàn diện thanh niên Việt Nam. Đoàn TNCS Hồ Chí
Minh và tuổi trẻ Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh, trưởng thành cùng sự nghiệp
cách mạng của Đảng, của dân tộc, hun đúc nên truyền thống vẻ vang; được Đảng,
Nhà nước ghi nhận, xã hội đánh giá cao; xứng đáng là trường học XHCN của tuổi
trẻ, là đội dự bị tin cậy của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tiếp nối truyền thống của lớp lớp thế hệ cha anh đi trước, thế
hệ thanh niên Việt Nam ngày nay trung thành tuyệt đối và tin tưởng vào sự lãnh
đạo của Đảng, nêu cao lòng yêu nước, sẵn sàng dấn thân vì sự nghiệp cách mạng,
tình nguyện vì cộng đồng, đến những nơi khó khăn, đảm nhận những việc mới, việc
khó, tiên phong trong ứng dụng khoa học-công nghệ, xung kích trong xây dựng xã
hội học tập, góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Là một bộ phận quan trọng của thanh niên Việt Nam, thanh niên
quân đội có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ của các
đơn vị. Do đó, sức mạnh tổng hợp, trình độ SSCĐ, kết quả hoàn thành nhiệm vụ
của quân đội liên quan mật thiết đến chất lượng và khả năng tập hợp, phát huy
vai trò xung kích, sáng tạo của thanh niên quân đội. Muốn vậy, tổ chức đoàn
phải tuân thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người
chỉ huy, hướng dẫn của cơ quan chính trị các cấp; quan tâm, chăm lo đến nhu cầu,
nguyện vọng và lợi ích chính đáng của thanh niên; tạo điều kiện để thanh niên
có cơ hội cống hiến và trưởng thành. Ban Chấp hành Đoàn, đội ngũ cán bộ, đoàn
viên, thanh niên quân đội nêu cao tinh thần trách nhiệm, tích cực học tập, xây
dựng bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng, phẩm chất, đạo đức, lối sống
trong sáng, động cơ, thái độ, trách nhiệm đúng đắn; có tri thức, trình độ kỹ
chiến thuật, chuyên môn nghiệp vụ và sức khỏe tốt, thực sự là lực lượng xung
kích, nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam, bảo vệ Tổ
quốc trong tình hình mới.
Danh dự làm nên phẩm hạnh con người, là thước đo giá trị của mỗi
người trong xã hội. Với một người bình thường, danh dự đã là cao quý. Là cán
bộ, đảng viên, người lãnh đạo, quản lý, danh dự càng cao quý, thiêng liêng. Bác
Hồ vẫn thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải luôn giữ gìn, bồi đắp đạo
đức, nhân cách. Người căn dặn: "Hạnh dục phương", nghĩa là đức hạnh,
đạo đức phải vuông vắn, ngay thẳng, không làm điều gì khuất tất. Phải tránh xa
những thói xấu “lười biếng, gian giảo, tham ô”. Phải biết sống “ngay thẳng,
không có việc gì phải giấu Đảng”, “không tham địa vị. Không tham tiền tài”...
Đó là phẩm chất, đức hạnh, danh dự của người cộng sản. Cán bộ, đảng viên phải
biết giữ “thanh danh của Đảng” và “danh giá của mình”.
Trong nhiều bài viết và nhiều lần phát biểu, Tổng Bí thư Nguyễn
Phú Trọng đã nhắc nhở, phân tích sâu sắc về tư cách, đạo đức cách mạng, về liêm
sỉ và danh dự của người cán bộ, đảng viên. Tại Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện
Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng,
đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh mỗi
cán bộ, đảng viên phải giữ thanh liêm, giữ liêm sỉ và danh dự của người đảng
viên. "Nếu không liêm thì của gì cũng cả gan lấy. Không sỉ thì việc gì
cũng bất chấp làm. Người mà đến như thế không chỉ rước họa làm “thân bại danh
liệt” và thử hỏi còn tai họa nào mà chẳng đến. Huống chi, kẻ làm quan mà cái gì
cũng rắp tâm mưu đoạt, việc gì cũng bằng mọi thủ đoạn mà làm thì sao mà thiên
hạ không loạn, quốc gia không mất cho được. Khi không có tài đức mà dám cầm
trọng trách để cho cơ đồ tan hoang, đổ vỡ. Khi mình đã ở cấp lãnh đạo mà không
làm cho đạo đức được thi hành, quốc pháp được tuân thủ. Những người chuyên sống
xảo trá, quỷ quyệt, ăn cắp quốc khố là vô hình trung đã vứt bỏ mất danh dự,
liêm sỉ, tức là lòng hổ thẹn của mình rồi”, Tổng Bí thư nhấn mạnh.
Những năm qua, nhìn vào số lượng cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ
luật liên quan đến tham nhũng, tiêu cực khiến nhiều người không khỏi lo lắng.
Các chuyên gia cho rằng, kết quả chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua mới
chỉ là “phần nổi của tảng băng trôi”. Trong nhiều vụ việc, kết quả xử lý những
"mảng chìm tiêu cực" mới chỉ được một phần rất nhỏ.
Trên thực tế, vẫn còn một phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đang
tự đánh mất phẩm giá, làm hoen ố danh dự của người cộng sản. Họ đã không kiên
tâm, bền chí nuôi dưỡng, bồi đắp và bảo toàn danh dự hai tiếng “đảng viên”;
không vượt qua được cám dỗ “mồi phú quý, bả vinh hoa”. Cũng bởi thế, từ đầu
nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, trong nhiều bài viết, bài phát biểu của mình,
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đặc biệt nhấn mạnh đến lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí
Minh đối với cán bộ, đảng viên là phải kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá
nhân. Chủ nghĩa cá nhân làm cho không ít cán bộ nảy sinh căn bệnh tham ô, tư
túi, đặt lợi ích của cá nhân lên trên lợi ích tập thể, trên cả lợi ích của quốc
gia, dân tộc.
Những bài học đau đớn, xót xa từ rất nhiều cán bộ, đảng viên chỉ
vì chút lợi ích vật chất tầm thường mà đánh mất phẩm giá, danh dự, uy tín vẫn
còn nguyên giá trị, là tấm gương để chúng ta tự mình soi chiếu, tự mình suy
ngẫm và có hành động đúng đắn. Mỗi cán bộ, đảng viên cần phải luôn khắc cốt ghi
tâm rằng, một khi đánh mất nhân phẩm và danh dự là mất đi giá trị làm người.
Hơn thế, giữ gìn phẩm giá, danh dự, uy tín của một người đảng viên không chỉ là
giữ gìn cho mình mà đó còn là giữ gìn và bảo vệ danh thơm, tiếng tốt của Đảng
một cách bền vững nhất.
Ngày 7-4-1965, với bút danh là Lê Nông, trên Báo Nhân Dân, Bác
viết bài “Chúng ta rất có thể đạt hơn 5 tấn thóc cả năm/một héc-ta” để biểu
dương một số hợp tác xã đã đạt chỉ tiêu này và khẳng định có thể đạt năng suất
cao hơn nữa nếu quan tâm đến việc cải tiến khoa học - kỹ thuật, thực hành cần
kiệm xây dựng và tự lực cánh sinh, chi bộ lãnh đạo chặt chẽ, đảng viên gương
mẫu xung phong, xã viên đoàn kết nhất trí. “Phải coi nhân tố con người là vấn
đề số một”.
Tôn trọng và phát huy sức mạnh của nhân tố con người với tư cách
là chủ thể sáng tạo của lịch sử luôn là bài học kinh nghiệm thực tiễn phong phú
mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho Đảng ta. Bác luôn coi trọng việc giáo dục
về chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, về đạo đức
cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đây là nguồn sức mạnh tinh thần,
vật chất to lớn để giành được những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp cách mạng
dưới sự lãnh đạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Tư tưởng quân sự của Bác với triết lý “người trước, súng sau” đã
xây dựng được đội ngũ cán bộ, chiến sĩ quân đội có bản lĩnh chính trị kiên định
vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc, nhân dân, sẵn sàng chiến
đấu, hy sinh bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ
Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, kiên quyết và bền bỉ, thắng không kiêu,
bại không nản, dù gian lao khổ hạnh cũng không sờn lòng, vào sống ra chết cũng
không nản chí, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù
nào cũng đánh thắng.
Để hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Đảng,
Nhà nước chủ trương xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ,
từng bước hiện đại. Bên cạnh việc đầu tư mới vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện
đại, Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng luôn đặt lên hàng đầu
việc xây dựng nhân tố con người, coi đây là khâu then chốt, có ý nghĩa quan
trọng, quyết định đến sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của quân đội ta.
Học tập và làm theo đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thì đã rõ.
Nếu học tập mà không làm theo thì chỉ có hiểu biết trên giấy tờ. Học tập và làm
theo là học đi đôi với hành. Học mà không hành thì chỉ là học suông, nói suông.
Việc đẩy mạnh “Học tập và làm theo đạo đức, phong cách Hồ Chí
Minh” đã được phát động và thực hiện trong Đảng, trong dân ta từ
lâu, không phải chỉ mấy nhiệm kỳ Đại hội của Đảng gần đây. Trong phong trào thi
đua xây dựng Đời sống mới, Bác Hồ đã nói: “Cần, Kiệm, Liêm,
Chính là nền tảng của Đời sống mới, nền
tảng của Thi đua ái quốc.
Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc. Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Thiếu một mùa, thì không thành trời. Thiếu một phương, thì không thành đất. Thiếu một đức, thì không thành người”(4).
Lời nói ấy của Bác đã nhập tâm trong cán bộ và nhân dân ta thời
đó.
Nói học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh là theo nghĩa nào?
Tư tưởng Hồ Chí Minh nói ở đây không phải là tư tưởng Hồ Chí Minh với tư cách
một học thuyết chính trị, cách mạng mà là những tư tưởng, những lời chỉ dạy cụ
thể của Bác dù đề cập dưới góc độ chính trị, tư tưởng hay văn hóa, đạo đức.
Ví dụ, Bác nói: “Nước ta là nước dân chủ, nghĩa là nước nhà do
nhân dân làm chủ. Nhân dân có quyền lợi làm chủ, thì phải có nghĩa vụ làm tròn
bổn phận công dân, giữ đúng đạo đức công dân”. “Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa
là tất cả các cán bộ, từ Trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ
ở cấp nào, ngành nào - đều phải là người đầy tớ trung thành của nhân dân”. “Cán
bộ Đảng cũng như cán bộ chính quyền, ngay cả Bác là cán bộ cao nhất đều là đầy
tớ của nhân dân, phải hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, phải cần, kiệm, liêm,
chính. Muốn thế phải gần gũi nhân dân, khuyến khích nhân dân, lãnh đạo nhân
dân”.
Bác còn nói: “Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo
đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”.
“Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to
tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình hủ hóa, xấu xa thì
còn làm nổi việc gì?”.
Bác nhiều lần nhắc nhở: Muốn thực sự làm người lãnh đạo, người
chỉ huy, người đứng đầu cơ quan, đơn vị, phải hết sức giữ gìn và nêu gương về
mặt đạo đức, nếu không thì rồi sẽ hỏng cả… Muốn thế thì: Tự mình phải chỉnh
trước mới giúp được người khác chỉnh. Mình không chỉnh mà muốn người khác chỉnh
là vô lý.
Có lẽ gì cán bộ, đảng viên chúng ta lại không làm theo những lời
chỉ dạy ấy?
Liên hệ với tình hình hiện nay, trong Văn kiện Đại hội XIII của
Đảng, khi nói về nhiệm vụ “Tập trung xây dựng Đảng về đạo đức”, đã nêu rõ: “Đẩy
mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, thực hiện thường xuyên, sâu rộng, có hiệu quả
việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với việc
thực hiện các nhiệm vụ chính trị. Thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về
trách nhiệm nêu gương, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, trước hết là Ủy
viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. Đảng
viên tự giác nêu gương để khẳng định vị trí lãnh đạo, vai trò tiên phong, gương
mẫu, tạo sự lan tỏa, thúc đẩy các phong trào cách mạng”.
Vì vậy, từ những lập luận trên, có thể khẳng định:
Thứ nhất, tư tưởng Hồ Chí Minh là một học thuyết cách mạng vô giá
của Việt Nam, là ngọn cờ chiến đấu và chiến thắng của đất nước và dân tộc ta.
Tư tưởng đó phải được học tập, kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo,
tuyệt đối không giáo điều, dập khuôn hay ngả nghiêng, dao động.
Thứ hai, học tập và làm theo tư tưởng,
đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một phong trào hành động cách mạng, vì sự
nghiệp phát triển văn hóa và xây dựng con người, phát huy năng lực nội sinh của
đất nước. Phong trào đó phải được tiến hành một cách bài bản, thường xuyên.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho nhân dân ta một kho tàng di
sản văn hóa đồ sộ. Đó là các tác phẩm tiêu biểu, như “Bản án chế độ thực dân
Pháp” (năm 1925), “Đường Cách mệnh” (năm 1927), “Tuyên ngôn Độc lập”
(năm 1945), “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” (năm 1946), “Sửa đổi
lối làm việc” (năm 1947), “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ
nghĩa cá nhân” (năm 1969) và bản “Di chúc” thiêng liêng bất hủ (năm
1969) được coi là những kiệt tác, những bảo vật quốc gia vô cùng quý giá. Bao
trùm lên tất cả là tư tưởng Hồ Chí Minh, kết tinh của trí tuệ và tinh hoa văn
hóa Việt Nam, của tinh thần yêu nước, thương dân, yêu Tổ quốc và đồng bào, yêu
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, yêu Đảng Cộng sản, ngọn cờ chiến đấu và
chiến thắng của cách mạng Việt Nam.
Thông thường, một học thuyết (dù là triết học, kinh tế - chính
trị học hay xã hội học) được xếp theo hai cấp độ: cấp độ 1 được gọi là chủ
nghĩa (chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn).
Cấp độ 2 được gọi là tư tưởng (tư tưởng Mao Trạch Đông; tư
tưởng chủ thể Kim Nhật Thành...).
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, chủ nghĩa (triết)
là học thuyết hay hệ thống lý luận về chính trị, triết học, kinh tế, văn hóa...
do một người hay một tập thể đề xuất. Ví dụ: Chủ nghĩa Mác - Lênin là học
thuyết cách mạng của C.Mác, Ph.Ăng-ghen và V.I.Lênin, là một hệ thống hoàn
chỉnh, hữu cơ những quan điểm triết học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã
hội khoa học... Tư tưởng, tuy nói ở cấp độ 2 những vẫn là học
thuyết có chiều sâu và tầm nhìn xa rộng, có hàm lượng chất xám cao, có giá trị
lý luận và thực tế không khác gì chủ nghĩa.
Con người Hồ Chí Minh và tư tưởng Hồ Chí Minh đã đến với cách
mạng Việt Nam, với Đảng và dân tộc ta từ rất sớm, nhất là từ sau khi nước nhà
giành được độc lập (năm 1945). Vị trí và vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh cũng
đã được xác định từ lâu. Từ khi đổi mới đến nay, rõ nhất là trong hai bản Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh
năm 1991 và Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011). Với Đảng ta, Cương lĩnh
là Tuyên ngôn chính trị của Đảng; là ngọn cờ chiếu đấu của
Đảng và dân tộc ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, là nền
tảng lý luận, nền tảng tư tưởng và chính trị, định hướng cho hoạt động
của chúng ta hiện tại và tương lai.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội (năm 1991) của Đảng ghi rõ: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Lấy tư tưởng Hồ
Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng của Đảng đã hàm ý
rằng tư tưởng Hồ Chí Minh là một học thuyết cách mạng, chứ không đơn thuần là
tập hợp những ý tưởng, những suy nghĩ cụ thể, riêng lẻ.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) đã đưa ra một định nghĩa rất chính xác, ở
tầm cao: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc
về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát
triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa
và phát triển của các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh
hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng
và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành
thắng lợi”.
Lời khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, qua Báo cáo
Chính trị đọc tại Đại hội XIII của Đảng là phải: “Kiên định và vận dụng, phát
triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên
định các nguyên tắc xây dựng Đảng; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc
trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác,
cùng có lợi để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ
ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả
nghiêng, dao động”.
Vậy là, trong bốn sự kiên định đã nêu, chỉ có kiên định thứ nhất
là duy nhất được đi kèm với “vận dụng và phát triển sáng tạo”. Vì sao? Vì một
lẽ rất giản đơn: Tư tưởng Hồ Chí Minh là một học thuyết cách mạng.
Lời huấn thị trên được trích trong thông báo của Chủ tịch Hồ Chí
Minh về nội dung đợt chỉnh huấn cho toàn Đảng, toàn dân, do Trung ương phát
động, khi Người về thăm và nói chuyện với đồng bào, cán bộ tỉnh Bắc Giang tháng
4-1961.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn yêu cầu đội ngũ cán bộ phải
đề cao và thực hành đoàn kết, nhất trí, giữ gìn sự đoàn kết, nhất trí như giữ
gìn con ngươi của mắt mình, phải rèn luyện phong cách lãnh đạo sâu sát, tỉ mỉ,
gắn bó với cơ sở, gần dân, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, phải
thiết thực và toàn diện, tránh phô trương, hình thức. Theo Bác, sau khi nghị
quyết được ban hành, phải tổ chức tốt việc thực hiện nghị quyết, để nghị quyết
đi vào cuộc sống. Muốn vậy, đòi hỏi người cán bộ phải sâu sát, tỉ mỉ, phải “đi
tận nơi, xem tận chỗ”.
Thực hiện lời Bác dạy, Đảng ta luôn nhận thức sâu sắc ý nghĩa to
lớn của việc xây dựng, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, xem đây là
vấn đề quan trọng hàng đầu, là nhiệm vụ sống còn của Đảng, của dân tộc. Đặc
biệt, trong thời kỳ mới, Đảng luôn quan tâm lãnh đạo công tác xây dựng và chỉnh
đốn Đảng, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, giữ
gìn sự đoàn kết, thống nhất; kiên quyết chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
trong nội bộ.
Sự nghiệp đổi mới đất nước đã thu được kết quả rất quan trọng,
tiếp tục nâng cao vị thế, khẳng định năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng.
Đại bộ phận cán bộ, đảng viên của Đảng đã luôn giữ gìn sự đoàn kết nhất trí,
phấn đấu hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Tuy nhiên, cũng còn một bộ
phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai
nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo
danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng…
Để tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp, không ngừng nâng cao
năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, giữ gìn sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng,
kiên quyết đấu tranh, khắc phục những hạn chế, yếu kém, mỗi cán bộ, đảng viên
trong Đảng nói chung, trong Đảng bộ Quân đội nói riêng, luôn gương mẫu đi đầu
thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, gắn với đẩy mạnh học tập
và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng những việc làm cụ
thể, thiết thực, hiệu quả, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của địa phương, đơn
vị, chức trách, nhiệm vụ được giao. Cán bộ, đảng viên phải có tác phong dân
chủ, quần chúng, sâu sát, gần gũi, chân thành lắng nghe tâm tư, nguyện vọng và
thành tâm tiếp thu sự phê bình của quần chúng, luôn đề cao tự phê bình và phê
bình.
TCCS - Mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân luôn là nguồn sức mạnh to lớn, làm nên những thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được đáng ghi nhận, thời gian qua việc tăng cường mối quan hệ này vẫn còn bộc lộ một số hạn chế nhất định. Chính vì vậy, Đại hội XIII của Đảng đã đề ra những nhiệm vụ, giải pháp củng cố và tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới.
Ý nghĩa và tầm quan trọng của mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân
Thứ nhất, là nhân tố quyết định sức mạnh của Đảng và thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được. Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên”(1); “có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy làm cũng được. Không có, thì việc gì làm cũng không xong. Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”(2).
Trong mọi giai đoạn lịch sử của cách mạng Việt Nam, Đảng ta đều gắn bó mật thiết với nhân dân, luôn lấy lợi ích của nhân dân làm nền tảng cho những quyết sách, đường lối của mình; đồng hành, chia sẻ cùng nhân dân và vận động, động viên nhân dân trong quá trình thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng. Hầu hết cán bộ, đảng viên luôn gương mẫu, gần dân, hiểu dân và sẵn sàng phấn đấu, hy sinh vì lợi ích của nhân dân; do vậy, nhân dân luôn tin vào Đảng, ủng hộ Đảng, hết lòng vì cách mạng, sẵn sàng đóng góp sức người, sức của, thậm chí cả xương máu, tính mạng của mình cho cách mạng. Đây chính là nguyên nhân tạo thành sức mạnh của Đảng ta, là yếu tố làm nên thắng lợi của cách mạng nước ta trong 93 năm qua. Chính thông qua mối quan hệ mật thiết với nhân dân mà Đảng phát huy được vai trò, trách nhiệm của nhân dân trong công tác xây dựng Đảng, chính quyền, đặc biệt là trong việc kiểm tra, giám sát đội ngũ cán bộ, đảng viên; đồng thời, tập hợp, phát huy được sức mạnh, trí tuệ và lực lượng to lớn của nhân dân, tiếp thu những đột phá, sáng tạo trong nhân dân để tiếp tục quá trình đổi mới có hiệu quả hơn.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với đồng bào dân tộc xã Toàn Sơn, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình_Ảnh: TTXVN
Thứ hai, là nhân tố bảo đảm cho các phong trào cách mạng của nhân dân phát triển mạnh mẽ, phát huy tốt nhất sức mạnh và quyền làm chủ của nhân dân.
Tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân là để Đảng lãnh đạo, định hướng các phong trào cách mạng của nhân dân một cách hiệu quả. Các phong trào cách mạng của nhân dân chỉ phát triển đúng hướng khi đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Với tầm nhìn sâu rộng, lý luận sắc bén, kinh nghiệm thực tế dày dặn và đội ngũ cán bộ, đảng viên được tôi luyện qua nhiều thử thách, Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, định hướng và đưa ra những quyết sách quan trọng cho đất nước và dân tộc. Nhân dân ta có truyền thống yêu nước, kiên cường, bất khuất, cần cù, chịu khó, đoàn kết, đồng cam cộng khổ. Đây là những nhân tố quan trọng để cách mạng Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đi đến thắng lợi trong các cuộc chiến tranh đầy hy sinh, gian khổ. Thông qua mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, nhân dân được tập hợp, được tổ chức trong những tổ chức cách mạng, nhờ đó mà sức mạnh của nhân dân lại được phát huy, nhân lên gấp bội.
Thứ ba, góp phần quyết định tính đúng đắn của chủ trương, đường lối của Đảng trong phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế sâu rộng.
Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội trước hết bằng cương lĩnh, đường lối, chủ trương, chính sách và lãnh đạo, tổ chức thực hiện thông qua các tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Một mặt, chủ trương, đường lối của Đảng muốn “đi vào” cuộc sống một cách thuận lợi thì phải lấy lợi ích của nhân dân làm cơ sở và phải bám sát với thực tế cuộc sống; quá trình thực hiện phải vận động được sự tham gia tích cực và ủng hộ nhiệt tình của nhân dân; mặt khác, thông qua cương lĩnh, đường lối của Đảng để thu hút, tập hợp lực lượng nhân dân đi theo Đảng. Một trong những nguyên nhân sâu xa và trực tiếp dẫn tới nguy cơ chệch hướng là bệnh quan liêu, xa dân của đảng cộng sản cầm quyền và một khi mắc phải căn bệnh quan liêu, xa dân thì cương lĩnh, đường lối của Đảng sẽ không phản ánh được nguyện vọng và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân.
Thông qua mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân mà nhân dân phản ánh, góp ý, phản biện đường lối, chủ trương, chính sách cho Đảng, Nhà nước; thông qua ý kiến của nhân dân mà Đảng chắt lọc, chọn lọc thông tin để đề ra, hoàn thiện, điều chỉnh chủ trương, đường lối cho phù hợp. Đó là con đường và quá trình hoàn thiện cương lĩnh, đường lối, chủ trương, chính sách của một đảng cộng sản cầm quyền chân chính.
Thứ tư, là điều kiện bảo đảm cho công tác tuyên truyền, thuyết phục của Đảng đạt hiệu quả cao nhất.
Hiệu quả công tác tuyên truyền phụ thuộc rất lớn vào mối quan hệ gắn bó, sự hiểu biết, tin tưởng giữa chủ thể tuyên truyền và đối tượng tuyên truyền. Đối tượng tuyên truyền là nhân dân khi đã tin vào Đảng, gắn bó mật thiết với Đảng, thì mọi thông tin tuyên truyền sẽ đến với nhân dân một cách nhanh chóng, đầy đủ hơn. Ngược lại, nếu mối quan hệ giữa chủ thể tuyên truyền và đối tượng tuyên truyền không gắn bó chặt chẽ, thiếu sự tin cậy, nếu cán bộ, đảng viên chỉ tuyên truyền lý thuyết suông, giáo điều, tuyên truyền một chiều, nói không đi đôi với làm, không tiên phong, gương mẫu... thì dù có cố gắng bao nhiêu, nhân dân cũng không tin theo.
Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế sâu rộng và bùng nổ thông tin, công nghệ hiện nay, xuất hiện nhiều luồng thông tin rất nhanh và phức tạp, thì lòng tin của nhân dân là một “bộ lọc” tốt nhất để họ chắt lọc, chọn lọc thông tin; qua đó, sẽ làm gia tăng hiệu quả của công tác tuyên truyền trong cuộc đấu tranh với các luận điệu sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Thứ năm, góp phần nâng cao vai trò, uy tín và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Thông qua mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, đội ngũ cán bộ, đảng viên thể hiện vị trí, vai trò, trách nhiệm trước nhân dân, sẵn sàng để nhân dân đánh giá, kiểm tra, giám sát, góp ý; từ đó, tiến hành sàng lọc đảng viên, để nhân dân giới thiệu cho Đảng những nhân tố mới, tiêu biểu. Bên cạnh đó, thông qua mối quan hệ mật thiết với nhân dân để Đảng phát huy vai trò, trách nhiệm của nhân dân trong công tác xây dựng Đảng, chính quyền, góp phần làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
Thứ sáu, tăng cường hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng.
Thông qua mối quan hệ mật thiết với nhân dân để Đảng nắm thông tin về đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tổ chức đảng trong việc chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nắm rõ phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, để có thể phát hiện những tiêu cực, tham nhũng trong bộ máy công quyền. Trong thực tế hiện nay, hơn 70% các vụ việc tiêu cực, tham nhũng được phát hiện là do báo chí và người dân cung cấp thông tin. Điều đó cho thấy, nếu Đảng, chính quyền thực sự dựa vào nhân dân, tin nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân thì cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực sẽ đạt được kết quả cao. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Với Đảng, “Nếu không có nhân dân giúp sức, thì Đảng không làm được việc gì hết”(3). Bởi vậy, “một giây, một phút cũng không thể giảm bớt mối liên hệ giữa ta và dân chúng”(4).
Thứ bảy, là cơ sở để phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.
Thông qua mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân để nâng cao hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, để các tổ chức này thể hiện được vai trò, trách nhiệm và sự tín nhiệm của mình trước nhân dân; đồng thời, để nhân dân thể hiện được ý chí, chính kiến của mình, thể hiện được quyền làm chủ và vai trò giám sát, phản biện chính sách của mình trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc.
Thực trạng mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân hiện nay
Đại hội XIII của Đảng đã đánh giá: “Công tác dân vận được chú trọng và tiếp tục đổi mới; quan điểm “dân là gốc”, là chủ thể của công cuộc đổi mới được nhận thức và thực hiện ngày càng sâu sắc, đầy đủ hơn; mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân được củng cố, tăng cường”(5). Đánh giá trên dựa trên những căn cứ cụ thể sau:
Một là, thời gian qua đã có sự chuyển biến tích cực trong nhận thức về trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng và hệ thống chính trị đối với công tác dân vận. Đảng lãnh đạo cả hệ thống chính trị “coi trọng việc lắng nghe, nắm tình hình và giải quyết những nguyện vọng, kiến nghị hợp pháp, chính đáng, những vấn đề bức xúc của nhân dân”(6); chăm lo thực sự đến mọi mặt đời sống của các tầng lớp nhân dân. Công tác an sinh xã hội ngày càng được chăm lo, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được nâng cao... Nước ta từ một nước nghèo đã trở thành một nước có thu nhập trung bình thấp và xác định khát vọng trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Quy mô và tiềm lực của nền kinh tế tiếp tục tăng lên. Trên cơ sở đó, Đảng, Nhà nước ta có điều kiện để thực hiện việc chăm lo, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người dân - yếu tố hết sức quan trọng góp phần củng cố và tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân.
Hai là, Đảng đã ban hành nhiều chủ trương, nghị quyết, văn bản để phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Trên cơ sở chủ trương của Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã thể chế hóa thành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để phát huy quyền làm chủ của nhân dân; đã xây dựng, ban hành nhiều chủ trương, chính sách phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Hệ thống tổ chức Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội được kiện toàn, củng cố, đổi mới phương thức hoạt động; giữ vai trò nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở; đã có nhiều hình thức vận động nhân dân tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, thúc đẩy các hoạt động đối ngoại nhân dân và công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài.
Ba là, Đảng đã lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực rất quyết liệt, với quyết tâm chính trị rất cao; đồng thời, tập trung chỉ đạo tổ chức tốt việc tiếp công dân, đối thoại với công dân và giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân, nhất là tại những địa bàn, lĩnh vực phức tạp, nhạy cảm, những nơi xảy ra điểm nóng, khiếu kiện kéo dài; giải quyết kịp thời những bức xúc, nguyện vọng chính đáng, hợp pháp của nhân dân, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.
Nhận thức sâu sắc tính chất phức tạp và sự nguy hiểm của vấn nạn tham nhũng, lãng phí, thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm, kiên quyết chỉ đạo đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng, chống tham nhũng và suy thoái tư tưởng chính trị. Trung ương đã kiện toàn, tăng cường các cơ quan chức năng đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, nhất là công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án... Việc lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết nhiều vụ án tham nhũng đã có kết quả tích cực, đáng ghi nhận, góp phần răn đe, ngăn chặn tình trạng tham nhũng, lãng phí trong thời gian vừa qua. Các cơ quan hành chính, chính quyền các cấp đã tập trung giải quyết kịp thời, đúng pháp luật nhiều đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân. Người đứng đầu các ngành, địa phương, đơn vị đã tổ chức tiếp công dân, đối thoại với công dân theo định kỳ có kết quả.
Tổ chức đảng, cấp ủy các cấp quan tâm lãnh đạo đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp, phát huy vai trò của các cơ quan dân cử. Các phương tiện truyền thông đại chúng đã dựa vào nhân dân, đồng hành với nhân dân trong công cuộc đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, góp phần tích cực củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng.
Bốn là, phương thức tiến hành công tác dân vận của Đảng, việc thực hiện của các cấp ủy đã có nhiều đổi mới, bám sát nhu cầu, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân. Nội dung công tác dân vận đã tập trung giải quyết những vấn đề cụ thể, như xóa đói, giảm nghèo, thực hiện an sinh xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhất là tập trung đầu tư, ưu tiên cho đồng bào các dân tộc ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn...; gắn tuyên truyền, vận động nhân dân với giải quyết quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; gắn việc tập hợp, thu hút các tầng lớp nhân dân với thực hiện các dự án kinh tế - xã hội, củng cố các tổ chức và hoạt động của các đoàn thể nhân dân. Hình thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân khá đa dạng, phong phú, gắn với đặc điểm đối tượng và hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương, cơ quan, đơn vị.
Những kết quả của công tác dân vận thời gian qua đã góp phần quyết định vào việc tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, tạo sự đồng thuận trong xã hội, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới.
Bên cạnh những kết quả nêu trên, mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân có nơi, có lúc còn bộc lộ những hạn chế, thiếu sót; cụ thể là:
Thứ nhất, việc theo dõi, đánh giá, dự báo tình hình, nhất là ở những địa bàn phức tạp còn chưa kịp thời, sâu sát; việc nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, nhu cầu thiết thân của nhân dân vẫn chưa thực sự chắc chắn, chưa sâu sát; từ đó, dẫn đến việc đề ra một số chủ trương, chính sách đối với các tầng lớp nhân dân chưa kịp thời, chưa bám sát những biến đổi trong thực tiễn và điều kiện, hoàn cảnh của đất nước. Bên cạnh đó, việc quán triệt, nâng cao nhận thức, tổ chức thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác dân vận chưa sâu sắc; chưa dự báo, nắm bắt đầy đủ những diễn biến, tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân để có biện pháp xử lý phù hợp, vẫn còn có lúc việc xử lý tình huống bức xúc, “điểm nóng” chưa kịp thời.
Thứ hai, công tác tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là những vấn đề liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân còn một số bất cập. Việc triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác dân vận ở một số cấp ủy còn kém hiệu quả. Công tác tuyên truyền, vận động, thuyết phục nhân dân có lúc, có nơi còn giáo điều, xa rời thực tế, lý thuyết suông, chưa sát hợp với trình độ, phong tục, tập quán của người dân.
Thứ ba, việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; công tác tập hợp, phát triển đoàn viên, hội viên; việc xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc chưa đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Phương pháp vận động, tập hợp nhân dân có lúc, có nơi còn chưa phù hợp với từng đối tượng, nhất là đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, thanh niên, đồng bào theo tôn giáo.
Thứ tư, vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân ở một số nơi chưa thường xuyên, hiệu quả còn thấp, nhất là giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ, đảng viên chưa đạt hiệu quả như mong đợi.
Thứ năm, một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, chưa thúc đẩy công tác phối hợp của hệ thống chính trị trong thực hiện công tác dân vận; một số nơi còn chưa coi trọng việc lấy ý kiến nhân dân nên có chính sách chưa đáp ứng được nguyện vọng, lợi ích chính đáng của nhân dân... Thậm chí, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý, còn thiếu gương mẫu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, xa dân, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc của nhân dân. Một số cán bộ có chức, có quyền chẳng những không gương mẫu, mà còn nêu gương xấu trước quần chúng, nói không đi đôi với làm, bố trí thần tốc, đề bạt con cháu, người thân vào các chức vụ quan trọng, nhưng không tương xứng với năng lực, trình độ, uy tín, để xảy ra những vụ việc sai phạm, tham nhũng trong phạm vi lãnh đạo, quản lý... Những biểu hiện, tình trạng này làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, ảnh hưởng tiêu cực đến mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân.
Thứ sáu, công tác kiểm tra, sơ kết, tổng kết có lúc, có nơi còn chưa được quan tâm đúng mức. Một số chính sách chưa đáp ứng nguyện vọng, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, một số bức xúc kéo dài chưa được giải quyết kịp thời; quyền làm chủ của nhân dân ở nhiều nơi còn mang tính hình thức hoặc bị vi phạm,... gây tâm lý dồn nén, tích tụ bức xúc trong nhân dân; một bộ phận nhân dân bị các thế lực thù địch, đối tượng cực đoan lợi dụng kích động, gây ra nhiều vụ việc phức tạp, tạo “điểm nóng” về an ninh, trật tự.
Cán bộ, công nhân ngành điện hướng dẫn đồng bào sử dụng điện an toàn, tiết kiệm và hiệu quả_Nguồn: evn.com.vn
Giải pháp củng cố và tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân trong giai đoạn hiện nay
Để củng cố và tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, nhằm đáp ứng yêu cầu của tình hình, nhiệm vụ của công cuộc đổi mới trong giai đoạn hiện nay, Đại hội XIII của Đảng đã đề ra những giải pháp chủ yếu sau:
Một là, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, hành động của các cấp ủy, các tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác dân vận trong tình hình mới. Đại hội XIII của Đảng đề ra giải pháp trước tiên là: “Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, hành động của các cấp ủy đảng, hệ thống chính trị về công tác dân vận”(7). Trong điều kiện mới, trước yêu cầu ngày càng cao của thực tiễn đổi mới đất nước, đòi hỏi phải tiếp tục có sự chuyển biến mạnh mẽ, quyết liệt hơn nữa trong nhận thức, hành động của các cấp ủy và cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở; từ đó, đề cao hơn nữa vai trò, trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và từng người dân để công tác dân vận đạt được mục tiêu và hiệu quả đã đề ra. Trong thời gian qua, nhận thức về công tác dân vận của một số cấp ủy, tổ chức trong hệ thống chính trị chưa đầy đủ; chưa nêu cao trách nhiệm, nâng cao hiệu quả công tác phối hợp của cả hệ thống chính trị trong việc thực hiện công tác dân vận; vẫn còn không ít cán bộ, công chức xem nhẹ vai trò, ý nghĩa của công tác dân vận, dẫn đến tình trạng chưa quan tâm, chú ý đúng mức tới việc vận động, tuyên truyền, thuyết phục, tạo sự đồng tình, ủng hộ của người dân trong quá trình thực hiện công tác quản lý nhà nước.
Để nâng cao nhận thức, trách nhiệm lãnh đạo công tác dân vận của cấp ủy, sự vào cuộc của hệ thống chính trị trong thực hiện công tác dân vận, các cấp ủy cần tập trung thực hiện tổ chức quán triệt đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân vận một cách hiệu quả. Trung ương cần có những quy định cụ thể đối với các cấp ủy, tổ chức đảng, đưa nội dung công tác dân vận vào trong sinh hoạt đảng hằng tháng.
Hai là, tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự “trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân”; chăm lo, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác dân vận. Đại hội XIII của Đảng đề ra giải pháp: “Tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự “trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân”(8); “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”; đồng thời, “Chăm lo, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác dân vận”(9).
Để tăng cường chất lượng, hiệu quả công tác dân vận, nhất thiết phải chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận của Đảng, đặc biệt là đội ngũ cán bộ tham mưu chiến lược. Muốn vậy, cần có cơ chế, chính sách đãi ngộ xứng đáng nhằm thu hút người có năng lực, có uy tín, kỹ năng, phương pháp và kinh nghiệm làm công tác dân vận; chú trọng luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng hiệu quả đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận, nhất là cán bộ trẻ, có năng lực và được đào tạo bài bản; khắc phục tình trạng đưa cán bộ sắp đến tuổi nghỉ hưu hay phẩm chất, năng lực yếu kém và không có uy tín về làm công tác dân vận. Kiện toàn tổ chức, bộ máy và cán bộ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, đáp ứng yêu cầu về trình độ lý luận, năng lực hoạt động thực tiễn và kỹ năng công tác vận động nhân dân. Các cơ quan tham mưu của Đảng phải nâng cao nhận thức và trách nhiệm trong công tác tham mưu, tư vấn cho Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các cấp ủy, tổ chức đảng về công tác dân vận; duy trì chế độ thường xuyên báo cáo, thông tin kịp thời, đầy đủ về tình hình các tầng lớp nhân dân và những hạn chế, khuyết điểm trong công tác dân vận của cấp ủy các cấp.
Cùng với việc chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận, cũng phải chú trọng xây dựng lực lượng nòng cốt là người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo (già làng, trưởng bản, các chức sắc tôn giáo) làm công tác dân vận ở cơ sở. Họ chính là những “cánh tay nối dài” giữa Đảng, chính quyền với nhân dân.
Ba là, tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận của các cơ quan đảng, nhà nước và chính quyền các cấp. Thời gian qua,hiệu quả của một sốnghị quyết, chương trình lãnh đạo công tác dân vận còn chưa cao, không ít nội dung chưa đi vào thực tiễn cuộc sống, chưa đáp ứng được nguyện vọng, lợi ích hợp pháp, chính đáng của một bộ phận nhân dân nên đã gây ra những bức xúc, khiếu kiện phức tạp đông người. Bên cạnh đó, việc thể chế hóa, cụ thể hóa một số chủ trương, nghị quyết của Đảng liên quan đến công tác dân vận còn chưa phù hợp, kịp thời, chưa sát với tình hình thực tiễn và bức xúc, kiến nghị chính đáng của nhân dân. Do đó, đổi mới việc ra nghị quyết, chương trình lãnh đạo công tác dân vận, xây dựng quy chế làm việc, bảo đảm sự lãnh đạo chặt chẽ, toàn diện, thường xuyên của Đảng đối với công tác dân vận là một yêu cầu cần thiết; đồng thời, là một trong những giải pháp quan trọng, có ý nghĩa sâu sắc đối với việc đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác dân vận trong tình hình mới.
Chính vì vậy, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh:“Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận của các cơ quan đảng, nhà nước và chính quyền các cấp”(10). Cụ thể là, đổi mới việc ban hành nghị quyết, chương trình lãnh đạo công tác dân vận của Đảng, xây dựng quy chế làm việc, bảo đảm sự lãnh đạo chặt chẽ, toàn diện, thường xuyên của Đảng đối với công tác dân vận; đồng thời, tăng cường và đổi mới công tác dân vận của cơ quan nhà nước và chính quyền các cấp; tập trung giải quyết kịp thời, có hiệu quả những kiến nghị, bức xúc và nguyện vọng chính đáng, hợp pháp của nhân dân.
Bốn là, nâng cao chất lượng công tác giám sát, phản biện xã hội, đóng góp ý kiến của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân; đa dạng hóa các hình thức tổ chức và phương thức tập hợp, vận động, nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp nhân dân.
Sở dĩ Đại hội XIII của Đảng đề ra giải pháp: “Nâng cao chất lượng công tác giám sát, phản biện xã hội, đóng góp ý kiến của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân”(11) là bởi vì, ở không ít địa phương, những năm qua chưa phát huy thật tốt vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong hoạt động giám sát, phản biện xã hội. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội ở một số cơ sở giảm sút vai trò, phối hợp thiếu chặt chẽ, không sát dân, không làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân.
Để nâng cao chất lượng công tác giám sát, phản biện xã hội, đóng góp ý kiến của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, các cấp ủy, tổ chức đảng, một mặt, phải tôn trọng tính độc lập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân; mặt khác, tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân phát huy tính chủ động hơn nữa trong hoạt động, để gần dân, sát dân hơn.
Năm là, tích cực đôn đốc, giám sát, kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết của Đảng về công tác dân vận. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng yêu cầu: “Tích cực đôn đốc, giám sát, kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết của Đảng về công tác dân vận”(12); bởi thời gian qua, không ít nơi chưa thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện các văn bản của Đảng về công tác dân vận. Một số nơi chưa coi trọng việc lấy ý kiến nhân dân khi ban hành chính sách, pháp luật; hiệu quả công tác tiếp dân, đối thoại, giải quyết đơn, thư khiếu nại còn hạn chế...
Do đó, các tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở phải đổi mới công tác lãnh đạo, chỉ đạo, đôn đốc, giám sát, kiểm tra việc tổ chức thực hiện để nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác dân vận sớm đi vào cuộc sống, có hiệu quả thiết thực. Xây dựng kế hoạch hằng quý, hằng năm về tìm hiểu, nắm bắt tình hình đời sống, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để có chủ trương, biện pháp xử lý đúng đắn, kịp thời. Các cấp ủy lãnh đạo chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội cần phối hợp chặt chẽ trong giải quyết các công việc liên quan đến nhân dân và vận động nhân dân thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của công dân. Các cơ quan đảng ở Trung ương thường xuyên phối hợp, kiểm tra, giám sát chặt chẽ quá trình triển khai thực hiện; đồng thời, theo dõi, kiểm tra việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về công tác dân vận. Đẩy mạnh nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, giải đáp kịp thời những vấn đề mới mà thực tiễn đang đặt ra đối với công tác dân vận của Đảng trong tình hình mới../.