Thứ Tư, 5 tháng 4, 2023

Đấu tranh phải hợp lý, hợp tình

     Đang chuẩn bị đi ngủ thì Hùng thấy anh họ của mình là Hải gọi điện. Vừa bật máy nghe, anh Hải đã nghiêm giọng:

- Em xóa ngay mấy câu bình luận trên diễn đàn X đi. Anh thấy ngôn ngữ ấy không phù hợp với vị trí, công việc của em đâu!

- À, tại em bực quá anh ạ! Anh biết không, cái tay đăng bài đó em theo dõi đã lâu. Hắn chuyên soi mói, lắp ghép, nhào nặn thông tin để xuyên tạc, làm xấu hình ảnh cán bộ, công chức, nhất là hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ

Trước phân trần của Hùng, anh Hải nhẹ nhàng: 

- Cái đó anh cũng biết mà. Nhưng có cần thiết để em phải nổi nóng và tung lên mạng xã hội như vậy không?

- Anh biết đấy, trước thực trạng thiếu hụt trầm trọng cán bộ, nhân viên đăng kiểm, Cục Đăng kiểm mới đề nghị Bộ Quốc phòng, Bộ Công an hỗ trợ lực lượng, tăng cường cán bộ, nhân viên đăng kiểm hỗ trợ các trung tâm đăng kiểm, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân. Vậy mà một số người cố tình xuyên tạc, cho rằng Quân đội, Công an làm sai chức năng, “lấn sân” sang ngành dân sự. Cái tay viết bài đăng trên trang X mà em phản biện còn quy chụp các đăng kiểm viên của Quân đội bỏ cả việc chuyên môn để tranh thủ “kiếm thêm”. Như vậy anh bảo em không bực làm sao được?

Thấy Hùng vẫn đang “sung”, anh Hải ôn tồn phân tích:

- Có những người luôn nhìn cuộc đời bằng ánh mắt tiêu cực. Có những kẻ còn nhận tiền để viết bài nói xấu chế độ. Với họ, ta mà nổi nóng, chửi tục, văng bậy là mắc mưu kẻ xấu. Nhiều người nhìn vào sẽ thấy hóa ra ta cũng chỉ... ngang họ. Nếu em hiểu sự việc, phân tích cho mọi người hiểu sẽ ý nghĩa hơn nhiều. Đấu tranh với cái sai nhưng bằng phương pháp khoa học mới đạt được hiệu quả. 

Nghe anh Hải phân tích có tình, có lý, Hùng dịu giọng: “Em hiểu rồi! Đúng là em nóng tính, chưa nghĩ được sâu! Em sẽ xóa các lời bình luận khiếm nhã và học cách đấu tranh hợp lý, hợp tình ạ”. st

NHỚ VỀ TÁC GIẢ CÂU NÓI NỔI TIẾNG: "CÒN CÁI LAI QUẦN CŨNG ĐÁNH"

 Út Tịch (1931-1968) là một nữ Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân của Việt Nam. Bà tên thật là Nguyễn Thị Út, sinh ngày 19 tháng 4 năm 1931, nguyên quán tại làng Tích Thiện, tổng Thạnh Trị, quận Cầu Kè, tỉnh Cần Thơ (nay thuộc xã Tam ngãi, huyện Cầu kè, tỉnh Trà Vinh).

Tham gia cách mạng năm 1945. Chị Út đến với cách mạng, với kháng chiến thật đơn giản, như câu nói của chị “nó đánh mình, mình đánh nó…” (theo tác phẩm”Người Mẹ cầm súng” của Nguyễn Thi). Khi cuộc chiến đến thời kỳ ác liệt, thế ta và địch không cân bằng, chị đã nói :”Còn cái lai quần cũng đánh!”.
Từ năm 1945 đến năm 1965, Nguyễn Thị Út là du kích xã Tam Ngãi, cùng Đội du kích của xã Tam Ngãi kiên cường, mưu trí, sáng tạo, đánh 23 trận (có 8 trận trong kháng chiến chống Pháp), diệt và làm bị thương 200 tên địch, thu 70 súng, làm thất bại nhiều cuộc càn quét của địch, tuyên truyền vận động nhiều binh lính địch bỏ ngũ, nhiều lần dẫn đầu bộ đội diệt đồn bốt địch, thu vũ khí không phải nổ súng.
Chị Út Tịch đã cùng đồng đội đánh đồn bót trong lúc đang có thai. Đồng đội và bà con rất ái ngại, khuyên chị nghỉ dưỡng thai đợi ngày sinh nở. Chị trả lời thản nhiên: “Có ai đánh giặc mà chờ sinh xong mới đánh, còn gà mái là con gà giò. Cứ đánh!”. Gương đánh giặc của chị khiến cho đồng đội hết sức thương yêu và kính phục.
Tính đến năm 1965, chị đã tham gia 23 trận lớn nhỏ (có 8 trận thời kháng chiến chống Pháp) góp phần quan trọng cùng đơn vị diệt và làm tan rã trên 200 giặc, thu 70 súng. Chị là một chiến sĩ trinh sát dũng cảm và mưu trí, một chiến đấu viên ngoan cường, một chiến sĩ binh vận tài tình đã vận động phá vỡ nhiều binh sĩ địch, nhiều lần đưa bộ đội vào diệt bót lấy súng không tốn một viên đạn…Chị chính là nguyên mẫu nhân vật chính trong tác phẩm “Người mẹ cầm súng” của nhà văn Nguyễn Thi.
Nguyễn Thị Út được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba, ngày 5/5/1965, được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Nhớ về câu nói nổi tiếng "Còn cái lai quần cũng đánh" của chị Út là nhớ về tấm gương người liệt nữ anh hùng đã sống, chiến đấu góp phần giải phóng quê hương, làm rạng danh khí phách anh hùng của người phụ nữ Việt Nam: Anh hùng – Bất khuất – Trung hậu – Đảm đang./.
ST

BẢN ÁN NÀO CHO NGUYỄN LÂN THẮNG?

 Ngày 12/4/2023 tới đây, Nguyễn Lân Thắng sẽ được Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đưa ra xét xử với tội danh “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống nhà nước” được quy định tại điều 117 Bộ Luật hình sự năm 2015.

Qua diễn biến sự việc, có lẽ Thắng sẽ khó mà có được một bản án được cho là nhẹ nhàng nếu như vẫn giữ thái độ như hiện nay (Không thành khẩn khai báo và liên tục đưa ra những tuyên bố có tính thách thức chế độ và cơ quan thực thi pháp luật nhà nước). Thông qua gia đình, người thân Thắng cũng khẳng định sẽ không “khuất phục” gì đó trước những bằng chứng, cáo buộc của cơ quan thực thi pháp luật.
Với một quá khứ chống đối lâu dài, sự chuyển đổi thái độ theo chiều hướng tích cực, để Thắng nhận được sự khoan hồng của cơ quan thực thi pháp luật tại Việt Nam là rất ít. Nhưng rồi, những mong Nguyễn Lân Thắng sớm nhận ra được cái khuyết tật của bản thân vẫn mong rằng, Thắng có sự quay đầu, kể cả khi đó là những thời khắc cuối cùng trước khi được đưa ra xét xử chính thức, thậm chí trước khi phiên tòa sơ thẩm sắp tới kết thúc! Truyền thống đánh kẻ chạy đi, không ai đánh người quay lại của người Việt, của nền pháp luật dân chủ xã hội chủ nghĩa sẽ chừa cho Thắng một lối đi mà tin tưởng nếu biết lựa chọn và chớp lấy cơ hội, quãng thời gian sắp tới với Thắng sẽ nhẹ nhàng hơn rất nhiều!
ST

Đọc đi đọc lại đúng thật là

     Không phải ngẫu nhiên mà trong một số hội nghị gần đây, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ví von rằng: “Nghị quyết thì thật rằng hay/ Xem ra thực hiện còn gay trăm bề”! “Nghị quyết hay” thường được hiểu là nghị quyết đúng về mặt văn phong, nội dung chỉn chu. Ở khía cạnh khác, “nghị quyết hay” còn bao hàm cả ý nghĩa chưa hẳn tích cực vì chứa đựng những từ ngữ “kêu như chuông”, mà khi đọc xong ai cũng cảm thấy nhiều câu từ “hay như chim hót”, “ngọt như mía lùi”,  nghe rất “bùi tai” nhưng mục tiêu lại xa rời thực tiễn cuộc sống.

PHÒNG CHỐNG PHAI NHẠT LÝ TƯỞNG CÁCH MẠNG TRONG MỘT BỘ PHẬN CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

 Trong giờ phút thiêng liêng được kết nạp vào Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên đều thề trước cờ Đảng và hình ảnh lãnh tụ, suốt đời đấu tranh phấn đấu theo lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, tuyệt đối trung thành và nghiêm chỉnh thực hiện Cương lĩnh, đường lối của Đảng, giữ gìn kỷ luật Đảng và phẩm chất, đạo đức của người cách mạng. Đó là lời thề danh dự định hướng rèn luyện, hành động của mỗi đảng viên, cán bộ.

Suốt các thời kỳ đấu tranh cách mạng, tuyệt đại đa số đảng viên, cán bộ đã thực hiện trọn vẹn lời thề đó, điều này có ý nghĩa quyết định sức chiến đấu, danh dự và uy tín của Đảng và niềm tin của nhân dân đối với Đảng.
Sự phấn đấu, hy sinh của các đồng chí lãnh đạo Đảng, của hàng nghìn, hàng vạn cán bộ, đảng viên đã cổ vũ, đoàn kết toàn dân tộc: giành thắng lợi trong cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của lịch sử dân tộc; đi tới toàn thắng trong các cuộc kháng chiến oanh liệt chống thực dân, đế quốc vì hòa bình, độc lập hoàn toàn và thống nhất Tổ quốc; thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới theo con đường xã hội chủ nghĩa với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đại hội XIII khẳng định: "Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay".
"Đó là kết quả sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó có sự hy sinh quên mình và đóng góp quan trọng của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Chúng ta có quyền tự hào về bản chất tốt đẹp, truyền thống anh hùng và lịch sử vẻ vang của Đảng ta - Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, đại biểu của dân tộc Việt Nam anh hùng".
Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng có những thành công căn bản và quan trọng, bảo đảm không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Song công tác xây dựng Đảng còn không ít hạn chế, khuyết điểm cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, nhất là một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.
"Trong khi đó, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc".
Đảng đã thẳng thắn chỉ rõ 27 biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" tại Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII (10/2016). Biểu hiện hàng đầu của sự suy thoái đó là: "Phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh".
Không chỉ phai nhạt lý tưởng cách mạng, giảm sút niềm tin, mà một bộ phận cán bộ, đảng viên còn có biểu hiện "Xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng; không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái" và những biểu hiện sai trái khác. Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: "Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh, cuộc đấu tranh chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị là căn bản và có ý nghĩa quyết định bảo đảm bản chất cách mạng, sức chiến đấu và vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Suy thoái về tư tưởng chính trị, phai nhạt lý tưởng, xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng là điều nguy hiểm nhất với sự tồn vong của Đảng và chế độ.
Vì vậy, phải đấu tranh chống các thế lực thù địch, phản động, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Cuộc đấu tranh đó càng đòi hỏi sự trong sạch trong nội bộ Đảng, phải ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, xa rời con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn.
Cách mạng và dân tộc Việt Nam từ năm 1930 đến nay do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đã và đang phát triển trên con đường đúng đắn với những thắng lợi và thành tựu to lớn. Vì sao với hiện thực rõ ràng như vậy vẫn có một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng cách mạng, dao động, giảm sút niềm tin vào lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội? Cần thiết phải làm rõ nguyên nhân.
Có những người bị chi phối bởi quan điểm sai trái của các thế lực thù địch cho rằng sự lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa là sai lầm dẫn tới sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Sự thật là, đó là sự tan vỡ của một mô hình với những hạn chế và khuyết điểm hoàn toàn có thể điều chỉnh, sửa chữa được.
Chính sự phản bội và nhân danh tư duy chính trị mới đã phủ nhận thành quả vĩ đại của chủ nghĩa xã hội, đưa các nước đó rời bỏ con đường xã hội chủ nghĩa. Việt Nam đã sửa chữa những khuyết điểm của mô hình cũ bằng đường lối đổi mới. Kiên định mục tiêu chủ nghĩa xã hội và đổi mới thành công đã làm cho nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng sáng tỏ hơn.
Các Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng đã tổng kết điều đó. Đặc biệt, tác phẩm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam công bố năm 2021 là sự phát triển quan trọng nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Cần phải quán triệt và nhận thức sâu sắc những tổng kết có giá trị khoa học và hiện thực của Đảng trong từng tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý. Đó là điều có vai trò quan trọng để ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị và phai nhạt lý tưởng cách mạng.
Nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Lý luận, tư tưởng đó quyết định bản chất cách mạng, khoa học, bản lĩnh chính trị, sức chiến đấu của Đảng và cũng quyết định ý chí, lý tưởng cách mạng và phẩm chất chính trị của mỗi cán bộ, đảng viên. Đảng nhiều lần nhấn mạnh, học tập, nghiên cứu nền tảng tư tưởng của Đảng không phải là thuộc lòng câu chữ mà phải nắm vững giá trị mang tính quy luật, phương pháp luận khoa học để vận dụng sáng tạo và không ngừng phát triển.
Bộ Chính trị khóa XII chủ trương tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phê phán, bác bỏ những luận điệu sai trái, phản động của các thế lực thù địch. Qua cuộc đấu tranh đó để toàn Đảng và nhân dân cảnh giác và góp phần nâng cao nhận thức về tư tưởng, lý luận, tăng sức đề kháng trong Đảng và toàn xã hội. Những người phai nhạt lý tưởng, dao động, giảm sút niềm tin, hoặc bị ảnh hưởng từ những luận điệu sai trái, thù địch, cố tình phụ họa, tiếp tay cho kẻ địch, hoặc do trình độ nhận thức hạn chế, bản lĩnh chính trị không vững vàng, ít chịu học tập, rèn luyện, tu dưỡng và cả sự chủ quan, kiêu ngạo, cố tình quay lưng lại với sự thật.
Vì vậy phải chú trọng công tác giáo dục, học tập, nghiên cứu lý luận chính trị một cách căn bản, sâu sắc, có hệ thống. Giáo dục sâu sắc, thiết thực lý luận chính trị có ý nghĩa rất quan trọng củng cố sức mạnh của Đảng về tư tưởng, chính trị, ngăn chặn, đẩy lùi sự phai nhạt lý tưởng cách mạng.
Phòng ngừa sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, giảm sút niềm tin đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên dù ở cương vị nào cũng cần phải tu dưỡng, rèn luyện tính tiên phong, đức hy sinh và phẩm chất đạo đức cách mạng. Hiểu biết sâu sắc đất nước, dân tộc mình, tự hào, tự tôn dân tộc, tự hào về truyền thống vẻ vang của Đảng và dân tộc và không ngừng học tập. Học tập để nâng cao trình độ trí tuệ, hiểu biết lý luận, nhận thức đúng đắn quy luật khách quan và thực tiễn đất nước để hành động tự giác, có hiệu quả.
Lý tưởng, mục tiêu của Đảng rất rõ ràng là độc lập dân tộc và xây dựng Việt Nam trở thành nước xã hội chủ nghĩa hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc. Là cán bộ, đảng viên của Đảng phải tuyệt đối trung thành và phấn đấu vì lý tưởng cao cả đó. Làm sao để trong Đảng không có những đảng viên phai nhạt lý tưởng, càng không thể có đảng viên xa rời tôn chỉ mục đích của Đảng. Hãy luôn luôn ghi nhớ lời thề khi gia nhập Đảng./.
ST




GIÁ TRỊ "LỜI KÊU GỌI THI ĐUA ÁI QUỐC" CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH ĐẾN PHONG TRÀO THI ĐUA YÊU NƯỚC HIỆN NAY

 Cách đây 75 năm, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang ở giai đoạn gay go, quyết liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc nhằm kêu gọi toàn dân tích cực thi đua diệt giặc đói, giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm… Từ đó đến nay, Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng, động lực để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ra sức thi đua đóng góp sức người sức của vào sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc. Ngày nay, Lời kêu gọi của người vẫn còn nguyên giá trị trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thi đua là những cuộc vận động lớn, toàn diện trên các lĩnh vực, các ngành nghề và trong mọi thời điểm. Đó là một trong những biện pháp quan trọng của quá trình vận động cách mạng, nêu cao tinh thần yêu nước của Nhân dân hướng tới mục đích chung. Vì tầm quan trọng của phong trào thi đua ái quốc, nên Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn chăm sóc và định hướng cho phong trào tiến lên không ngừng.
Trong thời điểm đất nước vừa được giải phóng, Nhà nước non trẻ của ta gặp muôn vàn khó khăn, phải đương đầu với nạn đói, nạn dốt và giặc ngoại xâm, để huy động sức người, sức của trong dân, thực hiện nhiệm vụ cách mạng, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khởi xướng việc tổ chức các phong trào thi đua trên các lĩnh vực đời sống xã hội như phát động chiến dịch tăng gia sản xuất để diệt giặc đói; mở chiến dịch chống nạn mù chữ để diệt giặc dốt và các phong trào “Tuần lễ vàng”, “Nam tiến”; phong trào thực hiện “Đời sống mới”.
Ngày 27/3/1948, theo sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương ra Chỉ thị “Phát động phong trào thi đua ái quốc”. Ngày 1/6/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh số 195 thành lập Ban vận động thi đua cứu quốc Trung ương, do đồng chí Tôn Đức Thắng làm Trưởng ban. Ngày 11/6/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc nhân kỷ niệm 1.000 ngày kháng chiến toàn quốc và để kêu gọi Nhân dân hưởng ứng phong trào thi đua ái quốc của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương phát động ngày 27/3/1948 theo sáng kiến của Người.
Vẫn cách viết ngắn gọn, rành mạch, xúc tích, ngôn ngữ giản dị, mở đầu Lời kêu gọi, Hồ Chủ tịch viết: “Mục đích thi đua ái quốc là: Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm”1. Chỉ ngắn gọn trong 10 từ, nhưng Hồ Chủ tịch đã nêu lên nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân cũng như mục đích của phong trào, đồng thời chỉ rõ thứ tự ưu tiên, đó là diệt giặc đói trước (để cứu mạng sống của dân), diệt giặc dốt (để có tri thức chống được ngoại xâm, nhất là thực dân Pháp).
Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Người như một lời “hịch” để phát động một phong trào quần chúng rộng lớn, nhằm “kháng chiến và kiến quốc thành công”, đồng thời thể hiện quan điểm cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về tổ chức, lãnh đạo một phong trào cách mạng với ý nghĩa quan trọng. Đó là quan điểm về vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng, về đoàn kết toàn dân và việc thực hiện nhiệm vụ chiến lược lâu dài.
Chính Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Người đã cuốn hút, cổ vũ, động viên đồng bào và chiến sĩ cả nước thi đua hăng say lao động, sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống giặc đói; thi đua học tập, xóa nạn mù chữ, chống giặc dốt và dũng cảm ngoan cường trong chiến đấu diệt giặc ngoại xâm.
Theo Người, thi đua ái quốc phải tiến hành một cách toàn diện; bởi nhiệm vụ cách mạng ở bất cứ thời kỳ lịch sử nào cũng được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực để hoàn thành mục tiêu chung.
Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Người kêu gọi “Mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già, trẻ, trai, gái; bất kỳ giàu, nghèo, lớn, nhỏ, đều cần phải trở nên một chiến sĩ tranh đấu trên mặt trận: Quân sự, Kinh tế, Chính trị, Văn hóa”2. Điều này xuất phát từ tính chất toàn diện của cuộc kháng chiến. Đồng thời, Người cũng chỉ rõ, thi đua ái quốc là nhiệm vụ cách mạng của mỗi người dân nên phong trào thi đua phải mang tính chất toàn dân. Tính nhân dân của phong trào thi đua được thể hiện ở việc tổ chức cho các tầng lớp nhân dân được quyền và có nghĩa vụ đóng góp vào công việc chung của đất nước, tùy theo sức lực của mình.
Bằng phương pháp vận động quần chúng tham gia các phong trào thi đua ái quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khơi dậy sức mạnh tiềm tàng trong mỗi con người Việt Nam, từ trẻ đến già, từ miền xuôi đến miền ngược, ra sức đóng góp công sức của mình cho đất nước. Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng, động lực để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ra sức thi đua đóng góp sức người sức của vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc làm nên những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phong trào thi đua ái quốc đã đóng góp một phần không nhỏ vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Trong suốt chiều dài lịch sử của đất nước, các phong trào thi đua luôn có vai trò rất quan trọng. Sau năm 1954, các phong trào thi đua đã hướng vào thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa chống chiến tranh phá hoại nhiều mặt của đế quốc Mỹ, vừa xây dựng và tạo cơ sở vật chất chi viện sức người, sức của cho miền Nam. Tiêu biểu là các phong trào thi đua “Một tấc không đi, một ly không rời”, “Dũng sĩ diệt Mỹ” ở miền Nam; phong trào “Mỗi người làm việc bằng hai người vì miền Nam ruột thịt”, “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, phất cao ngọn cờ “Gió Đại Phong” trong nông dân, “Sóng Duyên Hải” trong công nhân, “Thanh niên ba sẵn sàng”, “Phụ nữ ba đảm đang”..., ở miền Bắc đã góp phần quan trọng vào thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược, xây dựng hậu phương miền Bắc làm chỗ dựa vững chắc cho miền Nam kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi, đã làm nên ngày 30/4/1975 lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước3.
Sau năm 1975, đất nước được hòa bình, độc lập, thống nhất, cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, các phong trào thi đua cũng không ngừng được phát động. Tiêu biểu là các phong trào “Tất cả vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân”, “Tất cả vì hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, đã góp phần nhanh chóng hàn gắn vết thương chiến tranh, vượt qua mọi thách thức, khó khăn của đất nước sau nhiều năm bị chiến tranh tàn phá, nhất là khó khăn về kinh tế, giữ vững ổn định chính trị, xã hội.
Hiện nay, các cấp, các ngành ở nước ta đang triển khai nhiều phong trào thi đua lớn như: “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”, “Đền ơn đáp nghĩa”, “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, phong trào “Cả nước chung tay vì người nghèo, không để ai bị bỏ lại phía sau” với sự tham gia, vào cuộc của cả hệ thống chính trị. Và còn rất nhiều phong trào thi đua khác đang được triển khai sâu rộng và từng bước ghi dấu ấn trong đời sống xã hội. Các phong trào, các cuộc vận động này rất đa dạng, phong phú, diễn ra ở tất cả các cấp, các ngành, tạo thành phong trào xã hội rộng lớn, khơi dậy lòng yêu nước, sức mạnh tiềm tàng trong mỗi người, mỗi tập thể, tạo nên động lực cho sự nghiệp cách mạng.
Qua các phong trào thi đua đã phát hiện, phổ biến và nhân rộng nhiều tập thể, cá nhân điển hình trong cả nước, tạo nên sức mạnh quần chúng rộng lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Các phong trào thi đua trong lĩnh vực kinh tế đạt được những thành quả quan trọng. Lạm phát được kiểm soát, kinh tế vĩ mô được ổn định. Tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức khá cao. Các đột phá chiến lược và cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng đạt được kết quả bước đầu. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được hoàn thiện. Chất lượng tăng trưởng nhiều mặt được cải thiện. Sức cạnh tranh, tiềm lực và quy mô của nền kinh tế được nâng lên. Phong trào thi đua tiêu biểu trong lĩnh vực văn hóa - xã hội, như: “Dạy tốt, học tốt”, “Thực hiện 12 điều y đức”... đã góp phần phát triển nguồn nhân lực, bảo đảm an sinh xã hội; đời sống Nhân dân tiếp tục được cải thiện.
Trong lĩnh vực quốc phòng - an ninh, phong trào “Thi đua quyết thắng”, thi đua “Vì an ninh Tổ quốc” gắn với phong trào “Học tập và thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy công an nhân dân”,… đã góp phần nâng cao trình độ và sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, giữ vững và ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Trong lĩnh vực xây dựng Đảng, ra sức thi đua xây dựng chính quyền các cấp và củng cố hệ thống chính trị. Đặc biệt, phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” đã tạo động lực mạnh mẽ, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân.
Những thành tựu to lớn của hơn 35 năm đổi mới đất nước có sự đóng góp tích cực, xứng đáng từ các phong trào thi đua yêu nước. Chính các phong trào này đã phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, tạo động lực góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và quốc phòng - an ninh của đất nước…
Bên cạnh những kết quả đạt được, phong trào thi đua yêu trong những năm qua vẫn còn một số hạn chế, nhiều mô hình, gương điển hình tiên tiến ở một số địa phương, cơ quan đơn vị chưa được phát hiện, bồi dưỡng kịp thời và nhân rộng có hiệu quả. Việc tuyên truyền, tổ chức, học tập và áp dụng mô hình mới còn ít được quan tâm. Ở nhiều cơ quan, địa phương phong trào thi đua mang tính hình thức, thiếu hiệu quả đích thực. Công tác khen thưởng chưa bám sát kết quả thi đua, vẫn còn tình trạng khen thưởng tràn lan, thiếu công bằng; có những tiêu chuẩn, hình thức, phương pháp khen thưởng duy trì quá lâu làm mất tính hấp dẫn, không động viên, khích lệ được đông đảo quần chúng tham gia.
Trong thời gian tới, để phong trào thi đua yêu nước thật sự hiệu quả, thiết thực, góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ sau:
Một là, tiếp tục quán triệt và vận dụng sáng tạo tư tưởng thi đua yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh; tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng. Mỗi cán bộ, đảng viên cần phát huy tốt vai trò tiên phong, gương mẫu và là hạt nhân nòng cốt trong các phong trào thi đua ở cơ sở, phải coi thi đua không chỉ là đòn bẩy, biện pháp quan trọng để hoàn thành nhiệm vụ mà còn là một tiêu chí đánh giá phẩm chất đạo đức, lòng yêu nước của mỗi con người Việt Nam.
Hai là, các phong trào thi đua cần được tổ chức có mục tiêu thiết thực, phù hợp, gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội của từng bộ, ban, ngành, từng địa phương, cơ quan, đơn vị và phải được tiến hành thường xuyên, liên tục. Phát động phong trào thi đua phải xuất phát từ nguyện vọng chính đáng của Nhân dân, giải quyết những vấn đề mà Nhân dân mong muốn, đem lại lợi ích cho Nhân dân, cho dân tộc. Các phong trào thi đua cần được tổ chức với những hình thức phong phú, hấp dẫn, có chủ đề, tên gọi dễ nhớ, có tiêu chí thi đua cụ thể. Cùng với phong trào thi đua thường xuyên, cần phát động những phong trào thi đua theo đợt, theo chuyên đề, tích cực đổi mới toàn diện, phát huy tinh thần sáng tạo trong tổ chức phong trào thi đua sao cho bổ ích, thiết thực, tránh hình thức.
Ba là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về thi đua, khen thưởng, tạo hành lang pháp lý đồng bộ, hiệu quả và đột phá để đổi mới công tác thi đua, khen thưởng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Bên cạnh đó, cần triển khai thực hiện nghiêm các quy định của Luật Thi đua, khen thưởng, trong đó chú trọng rà soát, sửa đổi và hoàn thiện các văn bản pháp luật hướng dẫn để đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn. Nâng cao chất lượng khen thưởng, bảo đảm chính xác, minh bạch và kịp thời, trong đó chú trọng khen thưởng đối với các tập thể, cá nhân có thành tích đột xuất, nhất là những người trực tiếp lao động, sản xuất.
Bốn là, mỗi đơn vị, địa phương cần bám sát nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách để tổ chức phát động các hình thức thi đua phong phú, hấp dẫn có chủ đề, tên gọi dễ nhớ, có tiêu chí cụ thể, nội dung thiết thực, triển khai có hiệu quả, chống hình thức. Đồng thời, thực hiện nghiêm túc việc đôn đốc, kiểm tra, sơ kết, tổng kết các phong trào thi đua, lựa chọn các tập thể, cá nhân có thành tích tiêu biểu để biểu dương, tôn vinh khen thưởng.
Việc phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân rộng điển hình tiên tiến phải được coi là nhiệm vụ trọng tâm trong đổi mới phương pháp tổ chức chỉ đạo các phong trào thi đua, đảm bảo thực hiện đồng bộ ở bốn khâu: phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiên tiến. Mặt khác, cần tăng cường bồi dưỡng kiến thức quản lý, chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ chuyên trách thi đua, nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Năm là, thực hiện nghiêm túc việc kiểm tra, giám sát, phân công nhiệm vụ, tiến độ triển khai, nhất là các phong trào lớn và mới; kịp thời tổng kết, rút kinh nghiệm, chọn điểm trước khi nhân rộng phong trào. Song song đó, cần gắn các phong trào thi đua với tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; chú trọng phát động các phong trào thi đua thực hiện nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ cấp bách.
Các cơ quan, đơn vị phụ trách thi đua, khen thưởng cần đổi mới tác phong làm việc, cải cách thủ tục theo hướng tinh gọn, áp dụng công nghệ thông tin để hiện đại hóa và tạo thuận lợi cho cơ sở trong công việc. Bên cạnh đó, cần đổi mới công tác khen thưởng, đảm bảo công tác này được thực hiện chính xác, kịp thời, công khai, minh bạch, qua đó tạo động lực tích cực tới công tác thi đua.
Những quan điểm về thi đua yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh có tác dụng như những lời hiệu triệu, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần dân tộc trong mỗi người dân Việt Nam, tạo thành sức mạnh to lớn để dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn, gian khổ chiến thắng các kẻ thù xâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Ngày nay, những quan điểm về thi đua của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã và đang là phương châm, định hướng tư tưởng, hành động, phát huy tinh thần dân tộc, sức mạnh nội tại trong mỗi người dân cũng như toàn xã hội cho mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cho nên, hơn lúc nào hết, chúng ta cần tiếp tục vận dụng sáng tạo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước, làm dấy lên những phong trào yêu nước sâu rộng, thường xuyên, coi đó là một phương thức cần thiết nhằm tạo ra một động lực phát triển, đưa Việt Nam sớm trở thành một nước phát triển, có thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa./.
ST


PHÒNG CHỐNG PHAI NHẠT LÝ TƯỞNG CÁCH MẠNG TRONG MỘT BỘ PHẬN CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

 Trong giờ phút thiêng liêng được kết nạp vào Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên đều thề trước cờ Đảng và hình ảnh lãnh tụ, suốt đời đấu tranh phấn đấu theo lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, tuyệt đối trung thành và nghiêm chỉnh thực hiện Cương lĩnh, đường lối của Đảng, giữ gìn kỷ luật Đảng và phẩm chất, đạo đức của người cách mạng. Đó là lời thề danh dự định hướng rèn luyện, hành động của mỗi đảng viên, cán bộ.

Suốt các thời kỳ đấu tranh cách mạng, tuyệt đại đa số đảng viên, cán bộ đã thực hiện trọn vẹn lời thề đó, điều này có ý nghĩa quyết định sức chiến đấu, danh dự và uy tín của Đảng và niềm tin của nhân dân đối với Đảng.
Sự phấn đấu, hy sinh của các đồng chí lãnh đạo Đảng, của hàng nghìn, hàng vạn cán bộ, đảng viên đã cổ vũ, đoàn kết toàn dân tộc: giành thắng lợi trong cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của lịch sử dân tộc; đi tới toàn thắng trong các cuộc kháng chiến oanh liệt chống thực dân, đế quốc vì hòa bình, độc lập hoàn toàn và thống nhất Tổ quốc; thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới theo con đường xã hội chủ nghĩa với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đại hội XIII khẳng định: "Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay".
"Đó là kết quả sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó có sự hy sinh quên mình và đóng góp quan trọng của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Chúng ta có quyền tự hào về bản chất tốt đẹp, truyền thống anh hùng và lịch sử vẻ vang của Đảng ta - Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, đại biểu của dân tộc Việt Nam anh hùng".
Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng có những thành công căn bản và quan trọng, bảo đảm không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Song công tác xây dựng Đảng còn không ít hạn chế, khuyết điểm cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, nhất là một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.
"Trong khi đó, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc".
Đảng đã thẳng thắn chỉ rõ 27 biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" tại Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII (10/2016). Biểu hiện hàng đầu của sự suy thoái đó là: "Phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh".
Không chỉ phai nhạt lý tưởng cách mạng, giảm sút niềm tin, mà một bộ phận cán bộ, đảng viên còn có biểu hiện "Xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng; không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái" và những biểu hiện sai trái khác. Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: "Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh, cuộc đấu tranh chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị là căn bản và có ý nghĩa quyết định bảo đảm bản chất cách mạng, sức chiến đấu và vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Suy thoái về tư tưởng chính trị, phai nhạt lý tưởng, xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng là điều nguy hiểm nhất với sự tồn vong của Đảng và chế độ.
Vì vậy, phải đấu tranh chống các thế lực thù địch, phản động, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Cuộc đấu tranh đó càng đòi hỏi sự trong sạch trong nội bộ Đảng, phải ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, xa rời con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn.
Cách mạng và dân tộc Việt Nam từ năm 1930 đến nay do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đã và đang phát triển trên con đường đúng đắn với những thắng lợi và thành tựu to lớn. Vì sao với hiện thực rõ ràng như vậy vẫn có một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng cách mạng, dao động, giảm sút niềm tin vào lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội? Cần thiết phải làm rõ nguyên nhân.
Có những người bị chi phối bởi quan điểm sai trái của các thế lực thù địch cho rằng sự lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa là sai lầm dẫn tới sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Sự thật là, đó là sự tan vỡ của một mô hình với những hạn chế và khuyết điểm hoàn toàn có thể điều chỉnh, sửa chữa được.
Chính sự phản bội và nhân danh tư duy chính trị mới đã phủ nhận thành quả vĩ đại của chủ nghĩa xã hội, đưa các nước đó rời bỏ con đường xã hội chủ nghĩa. Việt Nam đã sửa chữa những khuyết điểm của mô hình cũ bằng đường lối đổi mới. Kiên định mục tiêu chủ nghĩa xã hội và đổi mới thành công đã làm cho nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng sáng tỏ hơn.
Các Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng đã tổng kết điều đó. Đặc biệt, tác phẩm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam công bố năm 2021 là sự phát triển quan trọng nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Cần phải quán triệt và nhận thức sâu sắc những tổng kết có giá trị khoa học và hiện thực của Đảng trong từng tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý. Đó là điều có vai trò quan trọng để ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị và phai nhạt lý tưởng cách mạng.
Nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Lý luận, tư tưởng đó quyết định bản chất cách mạng, khoa học, bản lĩnh chính trị, sức chiến đấu của Đảng và cũng quyết định ý chí, lý tưởng cách mạng và phẩm chất chính trị của mỗi cán bộ, đảng viên. Đảng nhiều lần nhấn mạnh, học tập, nghiên cứu nền tảng tư tưởng của Đảng không phải là thuộc lòng câu chữ mà phải nắm vững giá trị mang tính quy luật, phương pháp luận khoa học để vận dụng sáng tạo và không ngừng phát triển.
Bộ Chính trị khóa XII chủ trương tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phê phán, bác bỏ những luận điệu sai trái, phản động của các thế lực thù địch. Qua cuộc đấu tranh đó để toàn Đảng và nhân dân cảnh giác và góp phần nâng cao nhận thức về tư tưởng, lý luận, tăng sức đề kháng trong Đảng và toàn xã hội. Những người phai nhạt lý tưởng, dao động, giảm sút niềm tin, hoặc bị ảnh hưởng từ những luận điệu sai trái, thù địch, cố tình phụ họa, tiếp tay cho kẻ địch, hoặc do trình độ nhận thức hạn chế, bản lĩnh chính trị không vững vàng, ít chịu học tập, rèn luyện, tu dưỡng và cả sự chủ quan, kiêu ngạo, cố tình quay lưng lại với sự thật.
Vì vậy phải chú trọng công tác giáo dục, học tập, nghiên cứu lý luận chính trị một cách căn bản, sâu sắc, có hệ thống. Giáo dục sâu sắc, thiết thực lý luận chính trị có ý nghĩa rất quan trọng củng cố sức mạnh của Đảng về tư tưởng, chính trị, ngăn chặn, đẩy lùi sự phai nhạt lý tưởng cách mạng.
Phòng ngừa sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, giảm sút niềm tin đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên dù ở cương vị nào cũng cần phải tu dưỡng, rèn luyện tính tiên phong, đức hy sinh và phẩm chất đạo đức cách mạng. Hiểu biết sâu sắc đất nước, dân tộc mình, tự hào, tự tôn dân tộc, tự hào về truyền thống vẻ vang của Đảng và dân tộc và không ngừng học tập. Học tập để nâng cao trình độ trí tuệ, hiểu biết lý luận, nhận thức đúng đắn quy luật khách quan và thực tiễn đất nước để hành động tự giác, có hiệu quả.
Lý tưởng, mục tiêu của Đảng rất rõ ràng là độc lập dân tộc và xây dựng Việt Nam trở thành nước xã hội chủ nghĩa hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc. Là cán bộ, đảng viên của Đảng phải tuyệt đối trung thành và phấn đấu vì lý tưởng cao cả đó. Làm sao để trong Đảng không có những đảng viên phai nhạt lý tưởng, càng không thể có đảng viên xa rời tôn chỉ mục đích của Đảng. Hãy luôn luôn ghi nhớ lời thề khi gia nhập Đảng./.
ST


XÂY DỰNG NGƯỜI PHỤ NỮ QUÂN ĐỘI “TRÍ TUỆ, BẢN LĨNH, KỶ CƯƠNG, NHÂN ÁI”, XỨNG DANH “BỘ ĐỘI CỤ HỒ” THỜI KỲ MỚI

 Thấm nhuần lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Chị em phụ nữ ta phải nhận rõ địa vị làm người chủ và nhiệm vụ người làm chủ nước nhà; phải có quyết tâm mới, đạo đức mới, tác phong mới để làm trọn nghĩa vụ mới của mình là góp phần xứng đáng vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội”1 và trên cơ sở phát huy truyền thống “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” của Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Quân đội luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, ý chí tự lực, tự cường, cần cù, sáng tạo, hăng hái vươn lên hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Với lực lượng khá đông đảo, có mặt ở hầu hết các lĩnh vực công tác và ở các đơn vị trong toàn quân; dù ở cương vị, chức trách nào, các nữ quân nhân cũng không quản ngại khó khăn, gian khổ, nỗ lực phấn đấu để không ngừng tiến bộ, hoàn thành tốt, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, Quân đội giao phó. Cùng với việc nhận và hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chính trị, Phụ nữ Quân đội còn hoàn thành tốt thiên chức của người phụ nữ, thực sự là những người giữ lửa hạnh phúc gia đình, là hậu phương vững chắc; luôn xứng đáng “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” và phẩm chất tốt đẹp mà Quân ủy Trung ương khen tặng “Yêu nước, đoàn kết, sáng tạo, trung hậu, đảm đang”.
Trước yêu cầu xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, lấy vững mạnh về chính trị và tiêu chí, chuẩn mực “Bộ đội Cụ Hồ” làm cơ sở, Chương trình hành động của Phụ nữ Quân đội 05 năm (2021 - 2026) xác định tập trung xây dựng người Phụ nữ Quân đội: “Trí tuệ, bản lĩnh, kỷ cương, nhân ái”, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, người phụ nữ Việt Nam thời đại mới.
Người phụ nữ Quân đội “trí tuệ” cần có văn hóa, tri thức khoa học, trình độ quân sự, năng lực, phương pháp, tác phong công tác và sức khỏe đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ; xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh. Để đạt được mục tiêu đó, mỗi cán bộ, hội viên phụ nữ Quân đội cần tích cực học tập, huấn luyện, nghiên cứu nâng cao trình độ chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học và các kỹ năng cần thiết, nhất là về lĩnh vực quân sự, quốc phòng; có tư duy lý luận tốt, năng lực tổ chức thực tiễn phong phú; nhận thức đúng đối tượng, đối tác của cách mạng; đối tượng tác chiến của Quân đội ta. Tập trung rèn luyện, xây dựng tác phong, phương pháp làm việc chuyên nghiệp, nghiêm túc, trách nhiệm; phát huy tốt tiềm năng, sức sáng tạo và đạt hiệu quả công tác cao (tiết kiệm thời gian, công sức, chi phí nhưng đạt và vượt yêu cầu về năng suất, chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ), đóng góp xứng đáng vào phong trào thi đua của phụ nữ và việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của mỗi cơ quan, đơn vị. Tích cực nghiên cứu đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức Hội phụ nữ. Đồng thời, luôn gương mẫu chấp hành nghiêm các quy định về văn hóa công sở, không ngừng tu dưỡng, rèn luyện để hoàn thiện nhân cách người quân nhân cách mạng với các giá trị chân - thiện - mỹ. Thường xuyên, tích cực nâng cao kiến thức, kỹ năng tổ chức tốt cuộc sống gia đình, xây dựng gia đình đạt các tiêu chí “5 không, 3 sạch”2 và đạt danh hiệu “Gia đình văn hóa”.
Sự dũng cảm, kiên cường, bất khuất, dám nghĩ, dám làm, làm những gì mà bản thân đặt niềm tin, dám đối mặt với thực tế, không ngại thách thức và sẵn sàng chịu trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ là “bản lĩnh” Người nữ quân nhân - “Bộ đội Cụ Hồ”. Đây là tiêu chí quan trọng, là thước đo kết quả trong học tập và làm theo Bác. Bởi vậy, đòi hỏi mỗi cán bộ, hội viên phụ nữ Quân đội cần phải phấn đấu, rèn luyện bản lĩnh chính trị luôn vững vàng, động cơ phấn đấu trong sáng, tinh thần trách nhiệm cao. Tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân, sẵn sàng hy sinh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; chủ động phòng, chống “diễn biến hòa bình”, ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, tích cực đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Có ý chí quyết tâm chiến đấu cao, chấp nhận hy sinh, vượt qua khó khăn, gian khổ, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Trong sinh hoạt, công tác phải luôn mẫu mực về đạo đức, lối sống; thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; trung thực, khiêm tốn, giản dị, chân thành, lạc quan; nghiêm khắc với bản thân, sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích của đơn vị, của nhân dân và quốc gia, dân tộc. Thường xuyên nêu cao tinh thần đổi mới, sáng tạo; không vụ lợi dưới mọi hình thức, không thỏa mãn với thành tích, không chùn bước trước khó khăn, nguy hiểm. Giữ vững nguyên tắc lãnh đạo của Đảng, luôn tôn trọng và lắng nghe ý kiến góp ý với tinh thần cầu thị.
Để không ngừng nâng cao sức mạnh của Quân đội, việc thực hiện tốt hệ thống các quy định, tính kỷ luật chặt chẽ là một trong những yêu cầu tất yếu và ngày càng cao, bởi kỷ luật là sức mạnh của Quân đội. Đây là yêu cầu bắt buộc đối với mọi quân nhân nói chung và quân nhân nữ cũng không phải là ngoại lệ. Do vậy, bất luận trong điều kiện, hoàn cảnh nào, mỗi cán bộ, hội viên phụ nữ Quân đội đều phải tự giác rèn luyện và đặt tiêu chí “kỷ cương” lên hàng đầu. Tiêu chí này thể hiện rõ tính đặc thù trong phấn đấu rèn luyện của hội viên phụ nữ Quân đội so với phụ nữ các lực lượng khác trong hệ thống Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Để thực hiện được nội dung tiêu chí kỷ cương, đáp ứng yêu cầu về chấp hành pháp luật, kỷ luật tự giác nghiêm minh, mỗi hội viên phụ nữ Quân đội cần chủ động nghiên cứu, học tập nắm chắc những nội dung, kiến thức pháp luật, kỷ luật; tự giác chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, Điều lệnh, điều lệ, kỷ luật Quân đội, chỉ thị mệnh lệnh của cấp trên; nền nếp chế độ công tác, sinh hoạt, học tập, rèn luyện, lao động sản xuất của đơn vị; các quy định, nội quy nơi cư trú và những nơi sinh hoạt cộng đồng; không ngừng rèn luyện tính tổ chức, tính kỷ luật và tác phong chính quy của Quân đội. Đồng thời, thực hiện nghiêm Quy chế Dân chủ cơ sở; phát huy tốt dân chủ của các tổ chức quần chúng, Hội đồng quân nhân về quân sự - chuyên môn, chính trị, kinh tế - đời sống.
Quan điểm “vì con người” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành một triết lý nhân sinh cao cả, kết tinh từ những giá trị truyền thống của dân tộc, của nhân loại và thời đại, là một định nghĩa đầy đủ, sâu sắc nhất về khái niệm “nhân ái”. Học tập Bác, mỗi cán bộ, hội viên phụ nữ Quân đội cần nêu cao tinh thần tương thân, tương ái, phương châm “mình vì mọi người”, bằng những hành động, việc làm cụ thể. Thường xuyên giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất; thương yêu, giúp đỡ đồng chí, đồng đội; quan hệ bình đẳng, thân ái, đồng cam, cộng khổ, lúc thường cũng như lúc chiến đấu. Không thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn của đồng chí, đồng đội. Đặc biệt, phải thấm nhuần quan điểm gần dân, trọng dân, tin dân, sẵn sàng xả thân vì nhân dân. Phát huy tốt truyền thống “Trung hậu, đảm đang” của Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Quân đội, tích cực tổ chức, tham gia các hoạt động “đền ơn, đáp nghĩa”, “nhân đạo, từ thiện”, các hoạt động hỗ trợ phụ nữ và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn; các phong trào thi đua “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, “Quân đội chung tay vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau”; chương trình “Đồng hành cùng phụ nữ biên cương” giai đoạn 2021 - 2025, chương trình “Mẹ đỡ đầu” do Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phát động. Đồng thời, luôn nêu cao tinh thần quốc tế trong sáng, thủy chung, chí nghĩa, chí tình; tích cực quảng bá văn hóa và du lịch Việt Nam, tham gia vào hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, chia sẻ những kinh nghiệm, thành tựu của Việt Nam và sự đóng góp của phụ nữ Việt Nam trong các lĩnh vực an ninh truyền thống (hỗ trợ nạn nhân chiến tranh, tái thiết đất nước,…), cũng như an ninh phi truyền thống (ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống dịch bệnh, di cư an toàn,…); kiên quyết đấu tranh chống lại các hoạt động phá hoại khối đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế.
Cùng với sự tự giác, nỗ lực rèn luyện phấn đấu của cá nhân hội viên phụ nữ Quân đội theo các tiêu chí “Trí tuệ, bản lĩnh, kỷ cương, nhân ái”, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới và người phụ nữ Việt Nam thời đại mới, đòi hỏi cấp ủy, chỉ huy và tổ chức phụ nữ các cấp trong toàn quân cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, hội viên phụ nữ Quân đội về đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; truyền thống tốt đẹp của Quân đội, của phụ nữ Việt Nam và phụ nữ Quân đội; tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; các phẩm chất đạo đức “Tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đang” của phụ nữ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong quá trình thực hiện, cần đổi mới hình thức, phương pháp giáo dục, tuyên truyền, bảo đảm phong phú, đa dạng, hiệu quả. Thường xuyên làm tốt công tác xây dựng, nhân điển hình tiên tiến, gương người tốt việc tốt trong giữ gìn, phát huy và rèn luyện các phẩm chất đạo đức tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam, phụ nữ Quân đội trong học tập và làm theo Bác. Thực hiện tốt phong trào thi đua “Phụ nữ Quân đội trí tuệ - bản lĩnh, hoàn thành tốt nhiệm vụ, xây dựng gia đình hạnh phúc, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới” gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, phong trào Thi đua Quyết thắng tại cơ quan, đơn vị bằng các chỉ tiêu, biện pháp phù hợp, có tính khả thi cao; coi đây là một biện pháp tích cực để không ngừng trau dồi, rèn luyện bản lĩnh chính trị, ý thức trách nhiệm, phẩm chất đạo đức, lối sống cho mỗi cán bộ, hội viên, góp phần xây dựng Hội Phụ nữ vững mạnh. Hằng năm tổ chức cho hội viên phụ nữ đăng ký phấn đấu, đạt các tiêu chuẩn của phong trào thi đua; các tiêu chí của người phụ nữ Quân đội thời kỳ mới. Đồng thời, tích cực nghiên cứu, xây dựng và triển khai các mô hình mới phù hợp, chú trọng các mô hình cải tiến lề lối làm việc, mô hình tiết kiệm theo gương Bác, mô hình rèn luyện các phẩm chất đạo đức và xây dựng người phụ nữ Việt Nam thời đại mới. Lãnh đạo, chỉ huy và các tổ chức hội thường xuyên quan tâm coi trọng, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kịp thời rút kinh nghiệm, điều chỉnh hình thức, phương pháp, tạo sức mạnh tổng hợp, góp phần để cán bộ, hội viên phụ nữ Quân đội luôn tỏa sáng phẩm chất cao đẹp người phụ nữ Việt Nam nói chung, phụ nữ Quân đội nói riêng, xứng đáng là người “giữ ngọn lửa ấm” hạnh phúc trong mỗi gia đình; góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới./.
ST


Giữ gìn bản sắc văn hoá Việt trên không gian mạng là vấn đề cấp bách

     Ngày nay nhìn vào đời sống văn hóa ở tầm khái quát, chúng ta thấy văn hóa đang có xu hướng bị nghiêng nhiều hơn về mức độ giải trí. Chưa có nhiều các sản phẩm văn hóa có sức nặng chiều sâu học thuật, giàu tính tư tưởng và nghệ thuật với sứ mệnh bồi đắp, “nâng tầm” hiểu biết, trí tuệ, tâm hồn con người. Thậm chí có lúc, ở đâu đó, chúng ta dường như nhận thức chưa đúng về tính đại chúng trong văn hóa. “Đại chúng” không nên và không thể hiểu là làm cho số lượng sản phẩm văn hóa nhiều hơn, mà quan trọng là các sản phẩm đó đóng góp như thế nào vào việc nuôi dưỡng, làm giàu đời sống tinh thần của nhân dân.

    Những sản phẩm lai căng, nội dung xa lạ không phù hợp thuần phong mỹ tục, văn hóa Việt Nam, không tương đồng với hệ giá trị Việt Nam, mà thuần túy chạy theo nhu cầu giải trí, sự tò mò nhất thời của công chúng, nếu đưa vào ồ ạt trong đời sống thì sẽ lại là cái “đại chúng” nguy hại, là “phản đại chúng”. Bởi chúng sẽ gây ra những hệ lụy tiêu cực cho người thưởng thức, đặc biệt là giới trẻ, dễ dẫn đến các hành vi văn hóa ngộ nhận, sai lạc, bỏ quên giá trị cốt lõi, truyền thống của dân tộc mình. Trong thời đại internet phát triển như vũ bão đang xuất hiện khái niệm “văn hóa mạng”, dù là không gian ảo nhưng không kém đời sống thật bên ngoài. Do đó khi bàn đến tính đại chúng trong văn hóa không thể không nhắc đến môi trường văn hóa mạng.

    Với khoảng 70 triệu người sử dụng internet và có tài khoản cá nhân trên mạng xã hội, Việt Nam đang có một cơ hội rất lớn để đưa các giá trị văn hóa vào đời sống, làm cho ai cũng có thể sáng tạo, hưởng thụ văn hóa, làm cho văn hóa thật sự là của dân, “phục vụ nhân dân”.Tuy nhiên, thách thức từ môi trường mạng là không nhỏ. Một khi những giá trị lai căng, phản văn hóa, không phù hợp thuần phong mỹ tục, tâm lý tiếp nhận của người Việt xuất hiện tràn lan trên mạng xã hội, lấn át cả những giá trị tốt đẹp thì mất bản sắc văn hóa là nguy cơ lớn. chính vì thế cần nhận thức sâu sắc về tính “đại chúng” đó là làm cho những điều tốt đẹp lan rộng, thấm sâu vào nhân dân, phù hợp nguyện vọng của đa số tầng lớp nhân dân góp phần nâng cao dân trí, nghĩa là mang những giá trị tinh túy, cốt lõi phổ cập vào đời sống nhân dân, để ai cũng được tiếp nhận, hưởng thụ và sáng tạo trong ánh sáng nhân văn, tiến bộ, đậm đà bản sắc dân tộc.

NGHỊ QUYẾT DO VIỆT NAM ĐỀ XUẤT ĐƯỢC HỘI ĐỒNG NHÂN QUYỀN LIÊN HỢP QUỐC (LHQ) THÔNG QUA NGHỊ QUYẾT VỀ NHÂN QUYỀN

 


Việc Hội đồng Nhân quyền thông qua nghị quyết do Việt Nam soạn thảo cho thấy dấu ấn nổi bật của Việt Nam ngay trong khóa họp đầu tiên đảm nhận cương vị thành viên hội đồng này nhiệm kỳ 2023-2025.


Ngày 3/4 tại trụ sở Văn phòng Liên hợp quốc tại Geneva (Thụy Sĩ), Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc đã đồng thuận thông qua Nghị quyết kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (UDHR) và 30 năm Tuyên bố và Chương trình hành động Vienna (VDPA) do Việt Nam đề xuất và soạn thảo. Đây là dấu ấn nổi bật của Việt Nam ngay trong khóa họp đầu tiên đảm nhận cương vị thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023-2025.


Tại phiên họp cấp cao mở đầu Khóa họp 52 của Hội đồng Nhân quyền tại Geneva ngày 27/2 vừa qua, Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Lưu Quang đã đưa ra sáng kiến về việc kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn và 30 năm Tuyên bố nêu trên bằng một văn kiện của Hội đồng Nhân quyền nhằm khẳng định lại và tăng cường các nỗ lực cũng như hành động hướng tới đạt được những mục tiêu và giá trị lớn, bao trùm của hai văn kiện quan trọng nêu trên, cũng như các cam kết chung của cộng đồng quốc tế về quyền con người cho tất cả mọi người.


Nội dung Nghị quyết tập trung vào tầm quan trọng và nhiều nội dung tích cực của Tuyên ngôn và Tuyên bố nêu trên như nhắc lại các nguyên tắc chính về quyền con người của hai văn kiện; phản ánh quan tâm rộng rãi của các nước trong việc kỷ niệm hai văn kiện; nâng cao vị thế, vai trò, hiệu quả hoạt động của Hội đồng Nhân quyền và các cơ chế nhân quyền Liên hợp quốc; nhấn mạnh vai trò hàng đầu của các quốc gia trong bảo đảm quyền con người; ghi nhận sự tham gia của phụ nữ, vai trò của hợp tác và đoàn kết quốc tế, tôn trọng sự đa dạng, bao trùm... trong thúc đẩy và bảo vệ quyền con người nói chung và trong tham gia công việc của Hội đồng Nhân quyền nói riêng.


Nghị quyết cũng đề nghị Cao ủy Nhân quyền Liên hợp quốc triển khai chương trình hoạt động kỷ niệm Tuyên ngôn và Tuyên bố nêu trên, trong đó có sự kiện cấp cao của Liên hợp quốc về quyền con người vào tháng 12/2023 và có báo cáo về các hoạt động kỷ niệm lên Khóa họp 56 Hội đồng Nhân quyền vào đầu năm tới. Nghị quyết này là một dấu ấn nổi bật của Việt Nam tại Khóa họp đầu tiên trên cương vị thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023-2025, thể hiện đóng góp thực chất, trách nhiệm của Việt Nam vào công việc của Hội đồng Nhân quyền.


Phái đoàn đại diện thường trực Việt Nam tại Geneva đã trực tiếp triển khai soạn thảo, tham vấn, thương lượng dự thảo Nghị quyết, sau khi Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Lưu Quang nêu sáng kiến tại Khóa họp.


Ngày 3/4, Hội đồng Nhân quyền đã thông qua Nghị quyết bằng đồng thuận, với sự tham gia đồng bảo trợ Nghị quyết của 98 nước (tính đến cuối giờ chiều ngày 3/4 giờ Geneva), bao gồm 14 nước đồng tác giả (Việt Nam, Áo, Bangladesh, Bỉ, Bolivia, Brazil, Chile, Costa Rica, Fiji, Ấn Độ, Panama, Romania, Nam Phi và Tây Ban Nha), đồng thời có 34 nước thành viên Hội đồng Nhân quyền, cả các nước phương Tây và nhiều nước đang phát triển từ cả 5 nhóm khu vực, trong đó có hầu hết các nước ASEAN.


Với nội dung như nêu trên, việc Nghị quyết được thông qua bằng đồng thuận, có sự đồng bảo trợ của 98 nước cho thấy Nghị quyết thể hiện sự quan tâm và ưu tiên chung của các nước và cộng đồng quốc tế, thu hút được sự hưởng ứng, tham gia ủng hộ của đông đảo các nước, được sự đánh giá cao của các bên.


Việc Việt Nam đề xuất Nghị quyết này tại Hội đồng Nhân quyền rất kịp thời, đáp ứng sự quan tâm của cộng đồng quốc tế về kỷ niệm và đề cao UDHR và VDPA, hai văn kiện quan trọng về quyền con người là nền tảng của khung khổ các công ước quốc tế, các cơ chế, đối thoại và hợp tác ở các cấp độ quốc tế, khu vực và quốc gia về quyền con người. Nghị quyết này sẽ giúp tăng cường hơn nữa nỗ lực và hành động của các quốc gia và cộng đồng quốc tế trong hiện thực hóa các mục tiêu, tôn chỉ, cam kết hành động đề ra tại hai văn kiện trên, góp phần nâng cao vai trò của Hội đồng Nhân quyền, Cao ủy Nhân quyền Liên hợp quốc về thúc đẩy và bảo vệ quyền con người cho mọi người, thông qua đối thoại và hợp tác, tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau.


Đây cũng là kết quả của những nỗ lực chủ động, sáng tạo và triển khai bài bản của Bộ Ngoại giao, Phái đoàn Việt Nam tại Geneva trong việc đưa ra sáng kiến Nghị quyết, soạn thảo nội dung, cũng như nỗ lực của đoàn Việt Nam trực tiếp tham vấn, vận động, thương lượng với các đoàn của các nước tại Geneva để đi đến nhất trí về nội dung dự thảo Nghị quyết bao gồm những nội dung tích cực, cân bằng sự quan tâm của các nước, trong bối cảnh các nước và các nhóm nước còn có quan điểm khác nhau trên các vấn đề cụ thể về quyền con người.


Bên cạnh đó, sự phối hợp tích cực của các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài đã góp phần trong việc vận động các nước ủng hộ Nghị quyết.


Việc Việt Nam đề xuất, soạn thảo và thương lượng Nghị quyết này vừa là cụ thể hóa trách nhiệm, nỗ lực và ưu tiên của Việt Nam trên cương vị thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023-2025, đồng thời cũng là hiện thực hóa chính sách đối ngoại chủ động, tích cực, có trách nhiệm tham gia giải quyết các vấn đề quan tâm chung của cộng đồng quốc tế.


Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (UDHR) được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10/12/1948 với nội dung chính gồm: khẳng định mọi người sinh ra tự do, bình đẳng, không phân biệt, khẳng định các quyền của con người như quyền sống, quyền được xét xử công bằng, không bị tra tấn, không phải làm nô lệ và các quyền khác trong các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa. Tuy không phải là văn kiện pháp lý quốc tế nhưng UDHR là nền tảng để xây dựng luật quốc tế về nhân quyền, trong đó có Công ước về các quyền dân sự, chính trị và Công ước về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa; cũng như được đưa vào các văn kiện về quyền con người của các cơ chế khu vực và vào pháp luật của các quốc gia. Ngày 10/12 sau này trở thành Ngày Nhân quyền quốc tế. Đây là một trong những văn kiện quan trọng nhất của thế kỷ 20, được tất cả các nước thông qua và đã trở thành nền tảng để các quốc gia, trong đó có Việt Nam sử dụng trong quá trình xây dựng các văn kiện liên quan đến việc bảo vệ quyền con người.


Tuyên bố và Chương trình hành động Vienna (VDPA) được các nước thành viên Liên hợp quốc thông qua năm 1993, tại hội nghị quốc tế về Nhân quyền được tổ chức tại Vienna.


VDPA khẳng định lại các giá trị của UDHR, đồng thời làm rõ việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người phải là ưu tiên cao nhất của mỗi quốc gia và cộng đồng quốc tế; nhấn mạnh trong khi cần tính tới các đặc thù của mỗi quốc gia, xã hội, các quyền con người cần được nhìn nhận là giá trị phổ quát, cần được đánh giá trong mỗi quan hệ cân bằng, phụ thuộc lẫn nhau.


VDPA cũng khẳng định vai trò của Liên hợp quốc trong thúc đẩy quyền con người trên thế giới và khởi động cho việc thành lập Cao ủy Nhân quyền Liên hợp quốc.

Trung Thành 30A ST

THƯỢNG TƯỚNG NGUYỄN TÂN CƯƠNG CHỦ TRÌ HỘI NGHỊ CHUẨN BỊ SƠ KẾT THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC CỦA TRUNG ƯƠNG!

     Chiều 3-4, Hội nghị Ban chỉ đạo sơ kết 5 năm thực hiện các nghị quyết, kết luận của Trung ương về: Chiến lược quốc phòng; Chiến lược quân sự Việt Nam; Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng; Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia.

Thượng tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng ban chỉ đạo chủ trì hội nghị.

Cùng dự hội nghị có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Thượng tướng Huỳnh Chiến Thắng, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Phó trưởng ban Thường trực Ban chỉ đạo; Thượng tướng Trần Việt Khoa, Giám đốc Học viện Quốc phòng; lãnh đạo, chỉ huy một số cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng.

Tại hội nghị, các đại biểu cho ý kiến và thống nhất cấp tổ chức; hình thức, phương pháp, nội dung sơ kết của từng nghị quyết, kết luận. Nội dung sơ kết tập trung vào công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quán triệt và tổ chức triển khai thực hiện; đánh giá kết quả 5 năm thực hiện; hạn chế, nguyên nhân và phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp tiếp tục thực hiện các nghị quyết, kết luận thời gian tới; kiến nghị đề xuất.

Căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao, tại hội nghị, Ban chỉ đạo đã phân công nhiệm vụ cụ thể của các cơ quan, đơn vị trong xây dựng, soạn thảo báo cáo tổng kết thực hiện các nghị quyết, kết luận; hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra các cơ quan, đơn vị tổ chức sơ kết bảo đảm nghiêm túc, chặt chẽ, hiệu quả.

Phát biểu kết luận tại hội nghị, Thượng tướng Nguyễn Tân Cương nhấn mạnh: 

Tổ chức sơ kết 5 năm thực hiện các nghị quyết, kết luận của Trung ương về các chiến lược nhằm góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức Đảng, hệ thống chính trị, cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang và nhân dân đối với nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân; quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia; bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Đồng chí Tổng Tham mưu trưởng yêu cầu các thành viên trong Ban chỉ đạo, nhất là cơ quan Thường trực Ban chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra các cơ quan, đơn vị sơ kết cần bám sát các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của các nghị quyết, kết luận, gắn với các nghị quyết, kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư có liên quan. Tổ chức sơ kết bảo đảm nghiêm túc, thực chất, đúng đối tượng, sát chức năng, nhiệm vụ từng ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương, đơn vị.

Đối với Tổ biên soạn xây dựng các báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện các nghị quyết, kết luận, trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, cần phân công cụ thể cho từng đồng chí thu thập tài liệu, bám sát thực tiễn, cập nhật những thông tin mới để soạn thảo các báo cáo chặt chẽ; có đề cương chi tiết để ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương, đơn vị xây dựng báo cáo thống nhất và chất lượng.

Cấp tỉnh ủy, thành ủy, ban cán sự Đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Trung ương căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được giao tổ chức sơ kết và báo cáo kết quả sơ kết xong trước tháng 9-2023./.


Yêu nước ST.

THẾ GIỚI -VIỆT NAM: MUHAMMAD ALI NGƯỜI CHỐNG LỆNH QUÂN DỊCH CỦA MỸ ĐỂ PHẢN ĐỐI CUỘC CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC VIỆT NAM!

     Muhammad Ali là võ sĩ quyền anh "vĩ đại nhất mọi thời đại". Lần thượng đài hiển hách nhất của ông chính là trận đấu kéo dài gần 4 năm chống lại lệnh điều động nhập ngũ tham chiến xâm lược Việt Nam.

Ông là một cựu vận động viên quyền anh, nhà hoạt động xã hội người Mỹ. Có biệt danh là Người vĩ đại nhất, nổi tiếng là một trong những hình mẫu quan trọng trong thể thao của thế kỷ 20 và là một trong những tay đấm boxing vĩ đại nhất mọi thời đại.

Năm 1966, Ban Tuyển chọn Quân dịch số 47 của thành phố nơi ông cư trú ra quyết định gọi ông ra nhập quân đội, nhưng ông chống lại quyết định này của Ban Tuyển chọn Quân dịch với lý do anh là một người từ chối nhập ngũ vì lương tâm. 

Ngay sau đó, ông bị chính quyền Mỹ bắt giam vì không chịu nhập ngũ tham gia chiến tranh tại Việt Nam. Ông đã công khai phỉ báng và từ chối vào quân đội Mỹ, dựa trên niềm tin tôn giáo của mình và phản đối chiến tranh Việt Nam: "Tôi không có gì bất đồng với Việt Cộng... không Việt Cộng nào gọi tôi là "mọi đen" cả" hay "Tại sao tôi phải đi 10 ngàn dặm để thả bom lên đầu những người Việt Nam vô tội trong khi những người da đen ở Louisville (Mỹ) đang bị đối xử như những con ch.ó và không có được những quyền cơ bản nhất của một con người".

Thật ngưỡng mộ những con người như ông, không vì công danh sự nghiệp, không vì những ép buộc của chính quyền đế quốc mà đánh mất lương tâm./.

Yêu nước ST.

Đấu tranh phải hợp lý, hợp tình

 

Đang chuẩn bị đi ngủ thì Hùng thấy anh họ của mình là Hải gọi điện. Vừa bật máy nghe, anh Hải đã nghiêm giọng:

- Em xóa ngay mấy câu bình luận trên diễn đàn X đi. Anh thấy ngôn ngữ ấy không phù hợp với vị trí, công việc của em đâu!

Đảng lãnh đạo nhân dân giành tự do, dân chủ

 


Mới đây, Ngô Anh Tuấn đăng tải trên mạng xã hội bài viết: “Ai cho ta tự do, ai cho ta dân chủ?”, bài viết là giọng điệu của kẻ nhân danh luật sư để suy diễn và gieo rắc kích động, nhằm cổ xúy cho cái gọi là đấu tranh cho tự do, đấu tranh cho dân chủ. Trước hết, phải nói với Ngô Anh Tuấn rằng, bất cứ một người dân nào của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng đều hiểu được rằng tự do và dân chủ là quyền cơ bản của con người. Những quy định của Hiến pháp và pháp luật ngày càng đầy đủ, đảm bảo để nhân dân Việt Nam được thụ hưởng quyền con người và quyền công dân của mình, tự mình góp sức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, thành quả mà bao thế hệ cán bộ, đảng viên và người dân đã anh dũng, hy sinh để giành được. Thứ hai, Đảng và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang nỗ lực thực thi một đường lối chính trị và đường lối đối ngoại đúng đắn để mỗi người dân trên đất nước này đều được sống và làm chủ cuộc sống của mình.