Thứ Năm, 6 tháng 4, 2023

 

Chuyên gia bảo mật chỉ cách tránh bẫy lừa đảo bằng Deepfake

Theo các chuyên gia bảo mật, lừa đảo sử dụng công nghệ Deepfake rất nguy hiểm, tuy nhiên có những cách để người dùng nhận biết video sử dụng công nghệ ứng dụng trí tuệ nhân tạo này, từ đó tránh bị các đối tượng xấu lừa.

Nguy cơ xuất hiện làn sóng lừa đảo dùng công nghệ Deepfake

Trong cảnh báo phát ra ngày 24/3 vừa qua, Công an tỉnh Tuyên Quang cho hay, gần đây, trên không gian mạng đã xuất hiện phương thức lừa đảo chiếm đoạt tài sản rất tinh vi. Đó là các đối tượng lừa đảo sử dụng công nghệ Deepfake (công nghệ ứng dụng trí tuệ nhân tạo - AI tạo ra các sản phẩm công nghệ âm thanh, hình ảnh và video làm giả đối tượng ngoài đời thực với độ chính xác rất cao) để thực hiện cuộc gọi video giả mạo người thân vay tiền, giả làm con cái đang du học nước ngoài gọi điện cho bố mẹ nhờ chuyển tiền đóng học phí hay có thể giả tạo ra những tình huống khẩn cấp như người thân bị tai nạn cần tiền gấp để cấp cứu…

 

Phát hiện hơn 3.200 trang lừa đảo người dùng Việt trong gần 3 tháng đầu năm

Trong các tháng đầu năm nay, tấn công lừa đảo có xu hướng gia tăng. Theo ghi nhận của dự án Chống lừa đảo, trong gần 3 tháng qua, đã phát hiện tới 3.271 trang web lừa đảo người dùng Việt Nam.

Thông tin với VietNamNet, chuyên gia Ngô Minh Hiếu, điều hành dự án Chống lừa đảo cho biết, trong 3.271 trang lừa đảo người dùng Việt Nam được dự án này ghi nhận từ đầu năm đến nay, chiếm phần lớn là các website lừa đảo tài chính, với 3.076 trang từ giả mạo những thương hiệu, nhãn hãng lớn như Tiki, Shopee, Lazada đến các trang dụ đầu tư tài chính Forex, nhị phân Binary Option… để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người dân.

Gần 200 trang web lừa đảo còn lại là các trang lừa đánh cắp tài khoản trực tuyến của người dùng, với các hình thức giả mạo các trang ngân hàng, tổ chức tín dụng, Facebook, Zalo, Garena...

“sửa đổi lối làm việc” theo tư tưởng Hồ Chí Minh phải là thường xuyên

    Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định muốn sửa đổi lối làm việc thì phải thực hiện tốt nhất việc “phê bình và sửa chữa”. “Mục đích của phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đứng hơn. Cốt để đoàn kết và thống nhất nội bộ”; “Phải sửa đổi lối làm việc của Đảng” để mỗi cán bộ, mỗi đảng viên làm “đúng”, làm “khéo”, có như vậy “thành tích của Đảng còn to tát hơn nữa”. Người lưu ý: “Đảng viên và cán bộ cũng là người. Ai cũng có tính tốt và tính xấu. Song đã hiểu biết, đã tình nguyện vào một Đảng vì dân, vì nước, đã là một người cách mạng thì phải cố gắng phát triển những tính tốt và sửa bỏ những tính xấu. Vì tính xấu của một người thường chỉ có hại cho người đó; còn tính xấu của một đảng viên, một cán bộ, sẽ có hại đến Đảng, có hại đến nhân dân”; “…các cơ quan, các cán bộ, các đảng viên, mỗi người mỗi ngày phải thiết thực tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình. Hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa chữa, và giúp đồng chí mình sửa chữa. Phải như thế, Đảng mới chóng phát triển, công việc mới chóng thành công. Nếu không sửa chữa khuyết điểm của ta, thì cũng như giấu giếm tật bệnh trong mình, không dám uống thuốc, để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy đến tính mệnh”.

Phát hiện 8 vụ sử dụng trạm phát sóng BTS giả để phát tán tin nhắn lừa đảo

Theo Bộ TT&TT, trong tháng 3/2023, đã phát hiện và chuyển cơ quan chức năng điều tra, xử lý 8 vụ việc sử dụng trạm phát sóng BTS giả để phát tán tin nhắn rác, quảng cáo hay giả mạo nhằm lừa đảo người dân.

Thông tin nêu trên vừa được bà Hoàng Thị Phương Lựu, Phó Chánh văn phòng phụ trách Văn phòng Bộ TT&TT chia sẻ tại buổi họp báo cung cấp thông tin về hoạt động của Bộ, ngành trong 3 tháng đầu năm nay, do Thứ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Thanh Lâm chủ trì.

Thứ trưởng Nguyễn Thanh Lâm chủ trì cuộc họp báo cung cấp thông tin về hoạt động của Bộ, ngành TT&TT vào ngày 6/4.

Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài trong công cuộc đổi mới

     Trong thời gian qua, đội ngũ cán bộ, đảng viên đã không quản ngại khó khăn, tận tâm, tận lực cống hiến, góp phần thắng lợi vào công cuộc đổi mới của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn “Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức chưa đầy đủ tính chất, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫuphai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, nói chưa đi đôi với làm, vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật”Đứng trước vấn đề này, Đảng ta khẳng định: “Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”; kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa “xây” và “chống”, xây là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài, chống là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, thường xuyên…”.

Nguồn lực con người là quan trọng nhất

 Đại hội XIII của Đảng xác định: “Động lực và nguồn lực phát triển quan trọng của đất nước là khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và nền văn hoá, con người Việt Nam; thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất

NHẬN DIỆN ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN PHÁ HOẠI NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG THỜI ĐẠI SỐ

 


Thời đại công nghệ số 4.0 làm thay đổi tư duy, nhận thức, tư tưởng, tình cảm của con người với thế giới chung quanh. Con người tiếp cận với tri thức nhanh chóng hơn, mở ra khả năng tương tác; phương thức tác động của chính quyền với người dân đa dạng hơn, nhất là thông qua mạng xã hội. Từ những tiến bộ về khoa học và công nghệ sẽ xuất hiện nhiều hơn một số xu thế mang tính phổ quát bên cạnh những giá trị chung, truyền thống trong quan hệ xã hội ở các quốc gia nói chung với nhiều mức độ, đặc điểm khác nhau. Đó là xu thế dân chủ hóa đi đôi với cá thể hóa; xu thế đổi mới quản lý, quản trị quốc gia và trách nhiệm giải trình (chuyển đổi hệ thống hành chính mạnh mẽ sang chính phủ điện tử; phân cấp, phân quyền, minh bạch hóa thông tin; tăng cường nguồn lực cho bộ máy nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả); xu thế tăng cường vai trò giám sát của người dân đối với hoạt động của bộ máy công quyền. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, các hoạt động phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn công nghệ số được các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị triệt để lợi dụng, thực hiện tinh vi và xảo quyệt, nguy hiểm hơn.
Trong thời đại công nghệ số đang phát triển như vũ bão, các thế lực thù địch, phản động tìm cách chống phá Đảng, Nhà nước ta hòng làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước, gây hoang mang trong dư luận xã hội. Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng sự phát triển của khoa học công nghệ nhằm tận dụng đa dạng các phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là các mạng xã hội, xuất bản báo chí điện tử ở nước ngoài. Tài trợ cho một số cơ quan báo chí nước ngoài chống phá Việt Nam (như VOA tiếng Việt, RFA, RFI, BBC Việt ngữ, HRW...) để tuyên truyền quan điểm đa nguyên, đa đảng, hạ bệ uy tín lãnh tụ, gây nghi kỵ, chia rẽ nội bộ; triệt để khai thác các sự kiện chính trị, ngoại giao, những vấn đề nhân sự, nội bộ với các thông tin chưa được kiểm chứng để mở các chiến dịch tuyên truyền chống Đảng, Nhà nước ta.
Thời gian qua, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, hình thức thể hiện của tự do ngôn luận có sự biến đổi lớn. Internet, mạng xã hội trở thành công cụ phổ biến để mọi cá nhân, tổ chức bày tỏ quan điểm, tư tưởng, truyền bá thông tin, thể hiện quyền tự do ngôn luận. Sức lan tỏa và ảnh hưởng của nó rất mạnh mẽ và nhanh chóng, tạo được sự chú ý, quan tâm theo dõi của số đông người dân, nhất là những người có ảnh hưởng trong xã hội. Chỉ cần sở hữu phương tiện điện tử (điện thoại thông minh, laptop) có kết nối Internet, cá nhân có quyền tự do truyền đạt thông tin, ý kiến của mình đến người khác mọi nơi, mọi lúc. Tình trạng các hội, nhóm chia sẻ những thông tin tiêu cực, thông tin sai trái, tin không rõ nguồn, chưa được kiểm chứng… xuất hiện trên không gian mạng có xu hướng ngày càng gia tăng gây tác động xấu đối với người sử dụng mạng nói riêng và việc giữ gìn an ninh, trật tự xã hội nói chung.
Thực tế này đang đòi hỏi các cơ quan chức năng cần sớm có các biện pháp ngăn chặn hiệu quả cũng như đặt ra yêu cầu mỗi người dân khi tham gia mạng xã hội phải hết sức tỉnh táo để không trở thành nạn nhân của "thế giới ảo". Thông qua các hội, nhóm, người dùng có thể tự do bày tỏ ý kiến, quan điểm, đăng tải hay lan truyền thông tin, hình ảnh thông qua tài khoản cá nhân của mình. Điều này mang đến những nguy cơ khi quyền này bị lạm dụng, nhất là khi những người đăng tải thông tin trên không gian mạng có quan điểm sai trái, thái độ cực đoan, có tư tưởng kỳ thị, nhận thức pháp luật chưa đầy đủ dẫn đến bị các thế lực thù địch lợi dụng, lôi kéo, kích động. Hoặc vì động cơ cá nhân, một số trường hợp đã đăng tải thông tin sai sự thật, xâm phạm đến lợi ích quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân.
Việc lợi dụng các quyền tự do ngôn luận trên không gian mạng đã và đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an toàn cho cộng đồng. Theo dữ liệu thống kê từ We are Social, tính đến tháng 1/2022, Việt Nam có 76,95 triệu người dùng mạng xã hội, tương đương 78,1% tổng dân số. Chỉ tính trong hai năm 2021, 2022, số người dùng mạng xã hội ở Việt Nam đã tăng 5 triệu người (6,9%). Với độ phủ sóng rộng cùng một lượng lớn thời gian hoạt động và tương tác trên không gian mạng, những gì người sử dụng thu nhận được sẽ tác động không nhỏ đến việc hình thành tư tưởng và phát triển nhân cách, đạo đức, lối sống, nhất là ở nhóm đối tượng vị thành niên - lứa tuổi dễ đi theo những luồng tư tưởng mới, dễ bị tổn thương và kích động tâm lý.
Thông qua các nền tảng không gian mạng trong thời đại số, các thế lực thù địch sử dụng những tin, bài, hình ảnh của báo chí chính thống trong nước, sau đó tô vẽ thêm bớt, đưa ra những nội dung thật giả lẫn lộn, sai lệch để đưa lên mạng xã hội. Chúng lập ra những trang/tài khoản núp dưới danh xưng của các cơ quan của Đảng, Chính phủ, lãnh đạo cấp cao nhằm lôi kéo tâm lý hiếu kỳ của công chúng, đánh vào khoảng trống thông tin mà báo chí chính thống trong nước chưa đăng tải hoặc cần thời gian kiểm duyệt thông tin; ngụy tạo các bài viết dưới những tiêu đề giật gân liên quan đến những vấn đề đang được dư luận quan tâm… Những thủ đoạn lợi dụng nền tảng số nêu trên của các thế lực thù địch, phản động, phần tử bất mãn đã dẫn dụ và lừa dối được một bộ phận người dân, nhất là những người có tâm lý hiếu kỳ, tò mò muốn dò tìm các thông tin không chính thống. Những cái “bẫy thông tin” mà các đối tượng thù địch, phản động, tổ chức thiếu thiện chí với Việt Nam tung ra cũng đã khiến cho nhiều người nước ngoài không phân biệt được thật giả và bị những dòng thông tin sai lệch này dẫn dắt.
Tình hình trên cho thấy, cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái thù địch trong thời đại công nghệ số hiện nay là rất khó khăn, phức tạp. Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” được hình thành trên cơ sở tổng kết thực tiễn gần 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Nghị quyết số 35-NQ/TW nêu rõ, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là bảo vệ Ðảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Ðảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân, trong đó lực lượng tuyên giáo các cấp là nòng cốt; là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị - xã hội các cấp, của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, của cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu.
Đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị là một trong những nội dung trong 12 định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030 được Đảng ta xác định trong Văn kiện Đại hội XIII. Việc tăng cường, đẩy mạnh các biện pháp đấu tranh chống các luận điệu sai trái, xuyên tạc không chỉ nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ và sự ổn định của đất nước mà còn nhằm bảo vệ uy tín, hình ảnh Việt Nam trong bối cảnh hội nhập.
Thực tế, những quan điểm thù địch, xuyên tạc bản chất của Nhà nước Việt Nam XHCN hướng tới mục tiêu làm thay đổi bản chất dân chủ của Nhà nước, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước nhằm làm chệch hướng. Bên cạnh các quy định của pháp luật, các biện pháp quản lý không gian mạng từ cơ quan có thẩm quyền thì vai trò của dư luận xã hội trong việc định hướng và điều chỉnh hành vi đạo đức của con người thông qua cơ chế giám sát cũng hết sức cần thiết. Cần nâng cao bản lĩnh, năng lực dự báo, định hướng, đảm bảo sự lãnh đạo tập trung, thống nhất để phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, nhất là sức mạnh tổng hợp của các “binh chủng” công tác tư tưởng để thực hiện thắng lợi đồng thời cả hai mục tiêu: Bảo vệ, phát triển, vận dụng sáng tạo nền tảng tư tưởng và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đẩy mạnh giáo dục, tuyên truyền nhằm nâng cao trách nhiệm của người sử dụng mạng internet, nâng cao khả năng nhận thức và năng lực tự sàng lọc thông tin của người dân và cộng đồng, hình thành thói quen hành xử tích cực trên môi trường mạng. Đây là giải pháp có ý nghĩa then chốt và lâu dài để mỗi người dân trở thành bộ lọc thông tin hiệu quả cho chính mình và cộng đồng. Mỗi người khi sử dụng mạng internet cần đề cao cảnh giác, tỉnh táo nhận diện rõ âm mưu, bản chất của các thế lực thù địch để không tin, không bị lôi kéo, dẫn dắt trước các thông tin xấu, độc./.

NHÀ GIÀN DK1: 34 NĂM -CỘT MỐC CHỦ QUYỀN GIỮA BIỂN KHƠI!

     Giữa mênh mông trùng khơi, quanh năm phải đối mặt với thiên nhiên hung dữ, khắc nghiệt, 34 năm qua, các nhà giàn DK1 vẫn vững vàng, hiên ngang, khẳng định chủ quyền thiêng liêng trên thềm lục địa phía Nam của Tổ quốc.

Những con người đang ngày đêm bám trụ trên những pháo đài thép sừng sững giữa sóng nước trùng khơi ấy, đã và đang từng ngày viết lên những trang sử hào hùng, làm nên trang sử ngập tràn cảm xúc và niềm tự hào mỗi khi nhắc đến: Lính nhà giàn.

Cuối tháng 8-1988, Thường vụ Đảng ủy Quân chủng Hải quân đã báo cáo, đề nghị Bộ Chính trị cho chủ trương tổ chức lực lượng ra đóng tại các khu vực bãi cạn trên thềm lục địa phía Nam, làm chỗ dựa cho các hoạt động thăm dò, khai thác và nghiên cứu của các ngành thủy sản, dầu khí, khí tượng thủy văn.

Trên cơ sở đề nghị của Quân chủng Hải quân, Đảng và Nhà nước đã tiến hành chủ trương xây dựng Cụm Kinh tế - Khoa học – Dịch vụ tại khu vực các bãi đá ngầm trên thềm lục địa phía Đông Nam - gọi tắt là DK1. 

Ngày 5-7-1989, Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã chính thức tuyên bố thành lập Cụm kinh tế - khoa học - dịch vụ thuộc sự quản lý hành chính của Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo (nay là tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu).

Việc thành lập Cụm kinh tế - khoa học - dịch vụ tại thềm lục địa phía Đông Nam thể hiện ý chí quyết tâm lớn của Đảng, Nhà nước ta trên con đường phát triển kinh tế biển, từng bước hình thành chiến lược phát triển kinh tế biển phục vụ các mục tiêu xây dựng, phát triển đất nước, khẳng định chủ quyền của Việt Nam ở khu vực này.

Nhiệm vụ của các nhà giàn là điểm tựa của ngư dân đánh bắt hải sản trên biển, thiết lập các đèn biển, tạo điều kiện thuận lợi cho tàu bè qua lại trên các vùng biển phía Nam Tổ quốc từ Trường Sa đến khu vực Côn Đảo.

Ngoài ra, các lực lượng đóng trên các nhà giàn còn có nhiệm vụ quan trọng khác là đảm bảo yêu cầu sẵn sàng chiến đấu bảo vệ các quyền của Việt Nam trên thềm lục địa phía Nam của Tổ quốc. Hải quân nhân dân Việt Nam chính là lực lượng được giao nhiệm vụ đảm nhận trọng trách đóng quân trên những khu nhà giàn nằm chênh vênh bên thềm lục địa này.

Trung tá Bùi Xuân Bổng, cán bộ gắn bó, làm việc tại nhà giàn từ ngày đầu thành lập chia sẻ, những ngày đầu ra công tác tại nhà giàn chỉ thấy trên là trời dưới là biển, xung quanh thì thiếu đủ thứ như nước ngọt, rau xanh, máy phát điện... và chỉ trông chờ vào tiếp tế. Ngay công tác tiếp tế cũng gặp khó khăn khi nhà giàn chưa có cầu thang, mỗi lần chuyển hàng lên giàn rất nguy hiểm.

Giữa biển trời lồng lộng, các cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ tại các nhà giàn luôn vững vàng như những cây phong ba, dù luôn sống trong những ngôi nhà mọc chông chênh giữa biển. Đã có biết bao thế hệ cán bộ, chiến sĩ dành trọn tuổi thanh xuân của mình để xây dựng, gìn giữ những ngôi nhà giàn trở thành những pháo đài thép hiên ngang giữa biển trời. Thậm chí, không ít máu xương của cán bộ, chiến sĩ nhà giàn đã phải đổ xuống để giữ cho lá cờ đỏ sao vàng tung bay hiên ngang giữa biển trời thăm thẳm, như sự khẳng định đanh thép về chủ quyền của Việt Nam trên thềm lục địa phía Nam.

Và trong tâm trí của những người còn sống, hình ảnh những người lính đã hi sinh trên thềm lục địa chắc chắn sẽ chẳng bao giờ có thể phai nhòa.
Đó là sự hy sinh của anh Nguyễn Hữu Quảng, chính trị viên nhà giàn DK1 – Phúc Tần, khi nhà giàn đổ và trôi dạt nhiều ngày trên biển, anh đã nhường chiếc áo phao và miếng lương khô cuối cùng cho đồng đội có sức khỏe yếu nhất, để rồi anh thanh thản ra đi.

Hay hình ảnh liệt sĩ Vũ Quang Chương, Chỉ huy trưởng nhà giàn DK1 – Phúc Nguyên, trước khi nhà giàn bị cơn bão năm 1998 đánh chìm, anh chỉ kịp mở tủ lấy lá cờ Tổ quốc quấn quanh mình, cuốn sổ vàng truyền thống bỏ vào bao bảo quản ôm theo khi cùng giàn chìm xuống biển.

Cũng trong cơn bão cuồng phong này, hai đồng đội của anh là chuẩn úy chuyên nghiệp, nhân viên ra đa Lê Đức Hồng và thiếu úy chuyên nghiệp, nhân viên cơ điện Nguyễn Văn An cũng đã anh dũng hy sinh.

Nhà giàn DK1/6 đổ hoàn toàn lúc 3h ngày 13-12-1998, 6 cán bộ, chiến sĩ còn lại trên nhà giàn này bị hất tung xuống biển, chống chọi với sóng gió trên chiếc phao bè cũ nát. Sau 14 giờ đồng hồ bơi dưới biển, chiều tối cùng ngày sáu chiến sĩ được tàu HQ-606 của Lữ đoàn 171 cứu vớt.

Trực tiếp chứng kiến sự hy sinh của đồng đội trên giàn DK1/3, Trung tá Bùi Xuân Bổng kể lại, ngày 4-12-1990 tôi đang trong đợt công tác tại nhà giàn DK1/3 thì bất ngờ giàn đổ. Anh em trên nhà giàn trôi dạt lênh đênh trên biển từ đêm mùng 4 đến chiều tối 5-12 thì được tàu HQ 711 cứu và vớt được 5 anh em. Ba anh em còn lại của DK1/3 đã vĩnh viễn nằm lại biển khơi.

Và còn rất nhiều, rất nhiều những tấm gương hy sinh thầm lặng giữa biển khơi, các anh đã kiên cường bám trụ nhà giàn đến hơi thở cuối cùng, chỉ với niềm tin “còn người, còn nhà giàn”. Sự hy sinh của các anh đã viết lên những bản anh hùng ca về chủ nghĩa anh hùng cách mạng thời kỳ mới, là những tượng đài thép khẳng định dấu mốc chủ quyền bất tử trên biển Đông, trên thềm lục địa của Tổ quốc.

Hồn các anh hòa cùng sóng biển, thân xác các anh neo đậu lại nơi thềm lục địa, trên những rặng san hô xanh biếc một tấc không rời; như tâm hồn người Việt luôn hướng về biển đảo, núm ruột thương yêu của Tổ quốc.

Không chỉ là mốc tiền tiêu khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên thềm lục địa, 34 năm qua, các nhà giàn DK1 còn là những ngọn hải đăng trên thềm lục địa; là chỗ dựa để bà con ngư dân làm ăn tại các vùng biển phía Nam.

Với ngư dân, sau những ngày dài lênh đênh rong ruổi theo những luồng cá trên biển, ánh sáng từ những ngọn đèn trên nhà giàn chính là nguồn động viên tinh thần to lớn với họ; để họ cảm nhận mình không lẻ loi, cô đơn giữa biển cả mênh mông. Nhất là vào những ngày trời mưa bão, khi đại dương nổi cơn phong ba thịnh nộ, giữa khoảng không mù mịt không phân biệt được đâu biển, đâu trời. Những ngôi nhà giàn nhỏ bé giữa trùng khơi ấy lại là điểm tựa vững chắc, là chiếc bè cứu sinh vững vàng cho ngư dân bám trụ.

Đại tá Nguyễn Quốc Văn, Phó Chính ủy Bộ Tư lệnh Vùng 2 Hải quân cho biết, có thể khẳng định sự ra đời, xây dựng và phát triển của các “Trạm dịch vụ kinh tế – khoa học – kỹ thuật” trên vùng biển và thềm lục địa phía Nam gắn liền với quá trình ra đời, xây dựng và trưởng thành của Tiểu đoàn DK1 thuộc Bộ Tư lệnh Vùng 2 Hải quân.
Đây là chủ trương đúng đắn, sáng suốt, đồng thời cũng thể hiện quyết tâm cao của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương – Bộ Quốc phòng trong nhiệm vụ phát triển kinh tế gắn với bảo vệ chủ quyền vùng biển, thềm lục địa phía Nam của Tổ quốc, làm điểm tựa niềm tin cho ngư dân vươn khơi bám biển.

Ba mươi tư năm qua, liên tục bám biển, gắn bó với vùng biển, thềm lục địa phía Nam Tổ quốc, các thế hệ cán bộ, chiến sỹ Nhà giàn DK1 qua các thời kỳ đã xây đắp nên truyền thống vẻ vang: “Kiên cường, dũng cảm, vượt mọi khó khăn, đoàn kết, kỷ luật, giữ vững chủ quyền”. Đó vừa là niềm vinh dự, vừa là niềm tự hào và trọng trách to lớn mà thế hệ cán bộ, chiến sỹ Tiểu đoàn DK1 hôm nay đang gìn giữ, phát huy trong thực hiện nhiệm vụ và xây dựng đơn vị.

Qua 34 năm xây dựng và phát triển, nhiều tấm gương cán bộ, chiến sỹ đã mãi mãi nằm lại với biển khơi, hóa thân cùng sóng nước, trở thành tượng đài tinh thần quý giá thôi thúc động viên, nâng bước các thế hệ hôm nay và mai sau. Với lính nhà giàn, một điều đáng quý nữa đó là tinh thần đoàn kết, lạc quan, yêu thương, đùm bọc, động viên lẫn nhau để thực hiện nhiệm vụ, đồng thời các cán bộ, chiến sỹ nhà giàn luôn là điểm tựa hỗ trợ, giúp đỡ ngư dân vươn khơi bám biển, phát triển kinh tế trên vùng biển, thềm lục địa phía Nam của Tổ quốc.
Theo QDND./.
Yêu nước ST.

ĐIỀU PHI THƯỜNG CHỈ CÓ Ở VIỆT NAM

 Người làm nên điều phi thường đó là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Ngô Thị Tuyển sinh năm 1946 tại làng Nam Ngạn (nay là phường Nam Ngạn), thành phố Thanh Hóa người đã đi vào lịch sử như một huyền thoại, với kỳ tích vác 2 hòm đạn nặng hơn gấp đôi trọng lượng cơ thể mình.

Sáng ngày 04/4/1965, Mỹ huy động hàng chục chiếc máy bay, điên cuồng trút bom đạn xuống Hàm Rồng lần nữa. Không ngại nguy hiểm, bà tiếp tục cùng đồng đội gánh cơm cho bộ đội trên tàu và những trận địa trên bờ gần đó. Cả đêm mùng 3 thức trắng khiến bà thấm mệt, mặc dù được khu đội cho nghỉ nhưng vừa lúc đó, lại có xe ô tô tiếp đạn tới, bà cùng mọi người hối hả vác đạn. Bất ngờ gặp hai hòm đạn dính vào nhau, mọi người dùng thuổng bật ra nhưng chưa được. Khi đó, đạn pháo 37ly trên tàu gần cạn kiệt, chỉ cần bộ đội ngừng bắn trả một phút là cầu Hàm Rồng có thể bị phá huỷ. Tình thế thật cấp bách, cô gái trẻ Ngô Thị Tuyển quả quyết, nhờ đồng đội nâng hai hòm đạn lên vai, rồi vác luôn chúng chạy băng qua hào sâu, dưới mưa bom để tiếp đạn. Hồi ấy, bà mới 19 tuổi, cân nặng chỉ có 42 kg. Chính bà cũng không ngờ lúc đó lại vác được hai hòm đạn nặng 98kg, mãi sau này được các anh bộ đội nói lại, bà mới rõ.
Hình ảnh người con gái 19 tuổi, vượt qua mưa bom bão đạn, để mang trên mình hòm đạn nặng hơn gấp đôi trọng lượng cơ thể mình, đã đi vào lòng hàng triệu triệu trái tim người dân Việt Nam. Bà đã trở thành biểu tượng cho ý chí chiến đấu quật cường của quân và dân Hàm Rồng.
Sau đó có đoàn nhà báo Liên Xô đề nghị bà “diễn” lại cảnh này. Khi được tận mắt chứng kiến hình ảnh diệu kỳ đó, họ đã thốt lên: “Giờ thì chúng tôi và cả thế giới đã tin. Thật tuyệt vời! Nhân dân Việt Nam thật tuyệt vời!”.
Với những thành tích xuất sắc trong chiến đấu, bà vinh dự được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công hạng ba, được gặp Bác Hồ 3 lần và được chính Bác tặng huy hiệu của Người, 6 lần được tặng bằng khen, giấy khen. Ngày 01-01-1967, Ngô Thị Tuyển được Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân./.
ST


THƯỢNG TƯỚNG NGUYỄN TÂN CƯƠNG: PHÒNG THỦ DÂN SỰ PHẢI TỪ SỚM, TỪ XA, TỪ KHI SỰ CỐ, THẢM HOẠ CHƯA XẢY RA

 ại Hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách xem xét, cho ý kiến về một số vấn đề lớn còn ý kiến khác nhau đối với dự án Luật Phòng thủ dân sự chiều 6-4, Thượng tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đã giải trình, làm rõ thêm một số vấn đề mà đại biểu Quốc hội quan tâm.

Trước hết, Thượng tướng Nguyễn Tân Cương cảm ơn các đại biểu Quốc hội đã góp nhiều ý kiến tâm huyết vào dự thảo luật; khẳng định cơ quan soạn thảo sẽ tiếp thu tối đa các ý kiến của các đại biểu, chỉnh lý dự thảo luật, bảo đảm khi luật được ban hành sẽ đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra.
🇻🇳 Hoạt động phòng thủ dân sự được thực hiện từ sớm, từ xa, phòng là chính
Về phạm vi điều chỉnh, Thượng tướng Nguyễn Tân Cương nêu rõ, dự thảo Luật Phòng thủ dân sự đã phân định rõ về phạm vi điều chỉnh, bảo đảm không chồng chéo với phạm vi điều chỉnh của các luật hiện hành.
Theo đó, dự thảo Luật Phòng thủ dân sự chỉ quy định về nguyên tắc, hoạt động phòng ngừa, ứng phó, khắc phục đối với các sự cố thảm họa khi việc ứng phó, khắc phục vượt quá khả năng của lực lượng chuyên trách thuộc các bộ, ngành của địa phương.
Đồng thời, dự thảo luật chỉ quy định những nội dung chung liên quan đến hoạt động phòng thủ dân sự và một số vấn đề mới mà các luật khác chưa quy định, như: Đánh giá nguy cơ xảy ra sự cố, thảm họa để xây dựng các chiến lược, kế hoạch phòng thủ dân sự; căn cứ để xác định cấp độ phòng thủ dân sự; các biện pháp phòng thủ dân sự tương ứng với mỗi cấp độ phòng thủ dân sự mà chính quyền địa phương được phép áp dụng; hoạt động phòng thủ dân sự trên các vùng biển Việt Nam mà không thuộc phạm vi quản lý của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; biện pháp phòng thủ dân sự trong tình trạng khẩn cấp, biện pháp phòng thủ dân sự được áp dụng trong tình trạng chiến tranh...
Thượng tướng Nguyễn Tân Cương cũng khẳng định, dự thảo luật đã thể chế hóa Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về phòng thủ dân sự đến năm 2030 và những năm tiếp theo; quy định hoạt động phòng thủ dân sự được thực hiện từ sớm, từ xa, phòng là chính và từ khi chưa xảy ra sự cố, thảm họa.
Thượng tướng Nguyễn Tân Cương cũng nhấn mạnh một điều rất quan trọng là dự thảo luật đã quy định áp dụng Luật Phòng thủ dân sự để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, không chồng chéo. Tuy nhiên, qua ý kiến của các đại biểu, Thượng tướng Nguyễn Tân Cương cho biết Ban soạn thảo sẽ tiếp tục nghiên cứu bổ sung một số từ ngữ vào dự luật để bảo đảm chặt chẽ hơn.
🇻🇳 Thành lập Quỹ phòng thủ dân sự là cần thiết
Đáng chú ý, việc thành lập Quỹ phòng thủ dân sự là nội dung các đại biểu quan tâm, cho ý kiến sôi nổi. Theo đó, có ý kiến đề nghị thành lập Quỹ phòng thủ dân sự ngay từ đầu song cũng có ý kiến đề nghị khi xảy ra sự cố, thảm họa mới thành lập quỹ này.
Thượng tướng Nguyễn Tân Cương nhấn mạnh, hoạt động phòng thủ dân sự có phạm vi rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực đời sống xã hội và xử lý các vấn đề quan trọng tầm quốc gia để bảo vệ nhân dân, cơ quan, tổ chức và nền kinh tế, như: Phòng, chống khắc phục hậu quả chiến tranh; phòng, chống khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa, thiên tai, dịch bệnh, môi trường...
"Như vậy Quỹ này được sử dụng trong điều kiện nguồn ngân sách nhà nước không đáp ứng kịp thời, bảo đảm cho trường hợp cần thiết và khẩn trương thì có nguồn lực để thực hiện được ngay", Thượng tướng Nguyễn Tân Cương nói.
Thượng tướng Nguyễn Tân Cương cho rằng, có thể thảm họa, sự cố chưa xảy ra thì khó hình dung nhưng như trong thảm họa động đất của Thổ Nhĩ Kỳ như vừa qua thì chắc chắn rằng, rất khó có thể huy động được một nguồn lực lớn để phục vụ ngay để giải quyết vấn đề. Khi đó, nếu có quỹ ngay từ đầu sẽ giải quyết được những vấn đề cấp bách, cấp thiết. Sau đó, khi nguồn lực nhà nước không đủ thì cần phải huy động tiếp.
"Việc này cũng nhằm thể chế hóa Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị, phải tổ chức tốt phòng thủ dân sự từ sớm, từ xa, phòng là chính và từ khi sự cố, thảm họa chưa xảy ra", Thượng tướng Nguyễn Tân Cương nhấn mạnh.
Mặt khác, theo Thượng tướng Nguyễn Tân Cương, việc quy định Quỹ phòng thủ dân sự cũng không trái với các quy định về ngân sách nhà nước.
"Quỹ phòng thủ dân sự do Chính phủ thành lập, có nguồn thu từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tự nguyện đóng góp. Trong trường hợp cấp bách thì Thủ tướng Chính phủ mới điều tiết từ các quỹ khác có liên quan đến phòng thủ dân sự. Quỹ phòng thủ dân sự độc lập với ngân sách nhà nước nhằm hỗ trợ cho các đối tượng dễ bị tổn thương và nhân dân bị thiệt hại. Quỹ này sẽ giao cho Bộ Tài chính quản lý, hướng dẫn sử dụng quỹ này để bảo đảm chặt chẽ", Thượng tướng Nguyễn Tân Cương nói rõ.
"Việc thành lập quỹ là cần thiết nhằm giải quyết các vấn đề cấp bách ngay từ đầu", Thượng tướng Nguyễn Tân Cương một lần nữa nhấn mạnh.
Về phía cơ quan thẩm tra dự án luật, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội Lê Tấn Tới cũng cho biết, hiện có 2 loại ý kiến về vấn đề này.
Cơ quan thẩm tra nghiêng về phương án thành lập Quỹ phòng thủ dân sự. Bởi lẽ, hoạt động phòng thủ dân sự có phạm vi rất rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực đời sống xã hội, xử lý những vấn đề quan trọng tầm quốc gia liên quan đến phòng, chống, khắc phục hậu quả chiến tranh; phòng, chống, khắc phục hậu quả thảm họa, sự cố, thiên tai, dịch bệnh; bảo vệ nhân dân, cơ quan, tổ chức và nền kinh tế quốc dân.
Cùng với đó, quỹ thực hiện trên nguyên tắc tự nguyện, không bắt buộc; được sử dụng trong điều kiện nguồn ngân sách nhà nước không đáp ứng kịp thời, trong khi yêu cầu tài lực khi có thảm họa, sự cố xảy ra là rất lớn, cấp thiết và rất khẩn trương để góp phần hạn chế ảnh hưởng của thảm họa, sự cố.
Trong khi đó, hiện nay có nhiều dạng sự cố, thảm họa hiện không có nguồn quỹ để sử dụng khi xảy ra. Thực tiễn cũng cho thấy nếu có Quỹ phòng thủ dân sự sẽ có ngay nguồn lực để chủ động thực hiện các hoạt động cứu trợ khẩn cấp, làm giảm thiểu thiệt hại do thảm họa, sự cố gây ra như trong phòng, chống dịch Covid-19 tại Việt Nam cho thấy rất cần có ngay nguồn lực để mua vắc-xin, kịp thời chống dịch nhưng không có quỹ nên Chính phủ lập ra quỹ vắc-xin...
ST

KỶ NIỆM 74 NĂM BÁC HỒ KÝ SẮC LỆNH THÀNH LẬP BỘ ĐỘI ĐỊA PHƯƠNG (07/4/1949 - 07/4/2023).

 Ngày 07/4/1949, Hồ Chủ tịch ký sắc kệnh thành lập bộ đội địa phương. Với Sắc lệnh này, các đội du kích tập trung được phát triển thành các trung đội, đại đội bộ đội địa phương huyện và các tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh. Bộ đội địa phương là những đơn vị Vệ quốc đoàn do Đảng bộ địa phương lãnh đạo, có nhiệm vụ bảo vệ nhân dân và chính quyền địa phương, phát triển chiến tranh du kích, chống địch càn quét, dìu dắt dân quân du kích xã, chuẩn bị chiến trường cho bộ đội chủ lực và phối hợp tác chiến với bộ đội chủ lực, bổ xung cho bộ đội chủ lực.

Nhằm đẩy mạnh việc xây dựng và phát triển lực lượng ba thứ quân, đến ngày 04/11/1949, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra Sắc lệnh số 126-SL quy định nghĩa vụ quân sự cho nam công dân từ 18 đến 45 tuổi.
Sắc lệnh quy định: "Tất cả công dân Việt Nam từ 18 đến 45 tuổi phải có hai năm tại ngũ; khi có chiến tranh, thời hạn này có thể kéo dài đến hết chiến tranh".
Bản Sắc lệnh còn nêu rõ những trường hợp được hoãn nhập ngũ và quy định các thủ tục gọi tòng quân, phục vụ trong quân đội.
Thi hành Sắc lệnh của Chính phủ và hưởng ứng lời kêu gọi của Đoàn Thanh niên Cứu quốc, chỉ trong một thời gian ngắn, hàng chục vạn thanh niên trong cả nước đã hăng hái gia nhập quân đội. Phong trào tòng quân trong thanh niên phát triển khá rầm rộ, chỉ tính từ Liên khu IV trở ra đã có 50 vạn thanh niên ghi tên tòng quân./.
ST


NƠI LUYỆN RÈN SỨC TRẺ

 Tôi nhập ngũ giữa những ngày xuân rạo rực sức sống. Tuổi trẻ phơi phới bước lên đường tràn đầy hy vọng. Sau khi ổn định biên chế, đơn vị bước vào huấn luyện.

Thao trường là nơi luyện rèn sức trẻ. Ở đó có bao điều chúng tôi phải học. Tôi vẫn nhớ lời cán bộ đơn vị nhắn nhủ rằng: “Khi nào bước chân in dấu trên tất cả con đường, mỏm đồi xa xa thì khi đó mới kết thúc khóa huấn luyện chiến sĩ mới”. Nghe thì có vẻ lớn lao, xa vời, ấy thế nhưng tuổi trẻ thích khám phá và trải nghiệm những điều mới mẻ, tôi cùng đồng đội tự tin ra thao trường trong niềm vui háo hức.
Đường hành quân uốn lượn qua những sườn đồi. Rừng thông đứng lặng phả vào trong gió chút hương nhè nhẹ. Mùi nhựa thông làm tinh thần thêm hứng khởi. Chúng tôi đi dưới bóng cờ đỏ phấp phới. Ánh sao trên mũ lấp lánh theo nhịp bước quân hành. Qua chặng đường xa, thao trường dần hiện ra mênh mang hút tầm mắt. Những trảng cỏ non mới nhú còn ướt sương mai.
Đây là nơi chúng tôi tập nằm bắn súng. Thú thực rằng khi được giao khẩu AK, tôi vui lắm, cố nhẩm thuộc số súng. Mọi thao tác tôi gắng nhập tâm để thực hành cho thuần thục. Nằm trên cỏ xanh, tôi nheo nheo ngắm bắn. Không gian im ắng quá, hơi thở nén lại để nghe tiếng “tách” bóp cò vang lên. Ở bệ súng kế bên, những tiếng “tách” khô giòn cứ thế nối tiếp nhau. Đồng đội cùng thi đua giành hoa bắn giỏi.
Sau giờ luyện tập là những phút giải lao trên thao trường xanh mát bóng cây. Cốc nước chè xanh đồng đội mời nhau xua đi cơn khát trong nắng mới lên. Thế rồi chúng tôi kể chuyện vui và hát cho nhau nghe. Cứ thế, thao trường râm ran tiếng nói cười. Trên từng gương mặt ánh lên niềm vui.
Đâu chỉ có niềm vui, thao trường còn thấm giọt mồ hôi những buổi đi đào công sự, củng cố trận địa. Rồi cả những khi báo động, bộ đội phải vận động qua bãi vật cản. Đó là những lớp rào gai, hào sâu. Mỗi khẩu lệnh vang lên, chúng tôi khi thì lăn lê, lúc lại bò trườn trên gai cỏ sắc nhọn. Giữa thao trường gió lạnh mà mồ hôi cứ vã ra đầm đìa. Vất vả là vậy nhưng không ai nản lòng, đều gắng sức vượt qua.
Có những đêm thao trường bàng bạc ánh trăng. Tôi đứng gác trong hơi sương lành lạnh. Phía trước trận địa còn đang xây dựng dở dang. Sớm mai, bàn tay chiến sĩ sẽ tiếp tục hoàn thiện công sự. Và rồi thao trường lại vọng vang tiếng rèn quân, mồ hôi lại thấm đất. Trong miên man suy nghĩ, tôi tự nhủ rằng có hề chi khi sức trai trẻ căng tràn nhựa sống. Thao trường là nơi rèn luyện tuổi trẻ để bước chân chiến sĩ thêm mạnh, tinh thần thêm vững. Chúng tôi sẽ vượt qua tất cả và trưởng thành hơn trong mênh mang nắng gió thao trường./.
ST




PHỤ NỮ VỚI TUYẾN ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH - NHỮNG TUỔI XUÂN HUYỀN THOẠI

 Để làm nên con đường Trường Sơn huyền thoại mang tầm vóc lịch sử, cùng các chiến sĩ là nam giới, có hàng vạn nữ chiến sĩ từ khắp các địa phương trong cả nước đã tình nguyện trực tiếp góp công sức chiến đấu, lao động với bao nhiêu mồ hôi nước mắt, đánh đổi cả sự hy sinh xương máu của mình. Họ là những Thanh niên xung phong, giao liên, dân công hỏa tuyến, bộ đội thông tin, bộ đội đường ống-xăng dầu, quân y, nhà văn, nhà báo, văn công và cả lái xe, công binh... là nữ.

Trong số họ nhiều tập thể, cá nhân đã làm nên những chiến công như huyền thoại, lịch sử dân tộc mãi mãi khắc ghi những hình ảnh về: “Mười cô gái TNXP anh hùng ở Ngã ba Đồng Lộc”, các nữ Thanh niên xung phong ở Truông Bồn, Bến phà Long Đại và các tuyến đường: 10, 12A, 20, 15, 16 trên đất Quảng Bình. Đặc biệt là đường 12A với các trọng điểm Khe Ve, La Trọng, Bãi Dinh, Cổng trời; đường “20 quyết thắng” với cua chữ A, ngầm Ta - Lê, đèo Phu - La - Nhích; nữ bộ đội Thông tin liên lạc trạm cơ vụ A69 ở hang Lèn Hà; Trung đội nữ lái xe Trường Sơn,... Các nữ anh hùng liệt sĩ TNXP Nguyễn Thị Vân Liệu, Nguyễn Thị Nhạ...., các nữ TNXP anh hùng: Nguyễn Thị Kim Huế, Đinh Thị Thu Hiệp, Hồ Thị Thu Hiền, Nguyễn Thị Nậy, Phạm Thị Thao, Nguyễn Thị Huấn... đã trở thành biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng của phụ nữ Việt Nam. Còn biết bao chị em đã gửi lại tuổi thanh xuân đang tràn đầy sức sống trên tuyến đường Hồ Chí Minh lịch sử. Tên tuổi, chiến công của họ đi vào lịch sử, vào thi ca cách mạng và sống mãi trong lòng mỗi người dân Việt Nam./.
ST


EM LÀ CHIẾN SỸ SAO VUÔNG

 Giỏi việc Nước, đảm việc nhà

Xứng danh con cháu Bà Triệu - Bà Trưng!
Tự hào chiến sỹ sao vuông!
Lớn lên cùng với quê hương Lạc Hồng!
Khi mang súng, lúc xuống đồng
Diệt xong giặc, lại vun trồng lúa hoa!
Khi trong lửa đạn xông pha
Khi vui cày cấy đồng ta mùa vàng!
Sáng trong, giản dị, dịu dàng
Mà quân thù phải bàng hoàng thất kinh!
Trải qua mấy cuộc trường chinh
Nguyện vì Tổ quốc hy sinh chẳng sờn
Điện Biện - Hà Nội - Sài Gòn...
Chiến công hiển hách mãi còn vọng vang!
Trên vai cây súng em mang
Sao vuông đầu mũ chói chang tự hào!
Em ơi! Em ở quê nào???
Bừng lên hai tiếng tự hào Việt Nam./.
ST



QUÂN ĐỘI "HẠNG TƯ THẾ GIỚI" CỨ ĐẾN THÁNG TƯ LẠI "NÁT" THIÊN HẠ!

         Cứ mỗi độ tháng 4, quân đội "hạng tư thế giới" lại tổ chức các cuộc diễu bình, diễu hành khắp các con phố của xứ sở Cali để phô trương lực lượng. Mục đích là để anh em Việt Nam ta phải "ối giồi ôi".

Nhưng thật tiếc, quân đội ấy có vẻ hao hơn so với năm trước, dường như nhiều thành viên đã chán vì suốt ngày phải làm trò cười cho người khác nên chọn con đường nghỉ hưu để "thách ông nào dám cười".

"Quân đội hạng tư" ấy mỗi khi đến tháng 4 luôn hậm hực vì "người lãnh tụ" của họ đã lừa dối họ, thay vì được hưởng bổng lộc và tiếp tục ứ.c h.iếp dân lành thì họ phải trốn chạy. Đến nay, họ tập hợp được đội quân "hùng hậu", ngang ngửa hội phụ lão của một xã nào đó ở nước ta. Nói chung là cũng haizz./.

Yêu nước ST.

PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH VỀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG

Trong thời gian quan, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đang ra sức công kích, tuyên truyền và đưa ra các thông tin sai trái, bịa đặt về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng bịa đặt và đưa ra các kết luận hết sức vô căn cứ rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam đã quá khôn ngoan khi đưa vấn đề xây dựng Đảng thành vấn đề then chốt nhưng đó chỉ là kiểu “giật gấu vá vai”. Tình trạng này tất yếu sẽ khiến Đảng đổ vỡ và tan rã”. Những quan điểm, luận điệu này sẽ vô cùng nguy hại khi nó vừa nhằm xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam, vừa tác động không nhỏ đến nhận thức, tư tưởng của cán bộ, Đảng viên và quần chúng nhân dân, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ. Với tâm địa đen tối, cái nhìn hằn học, trọng tâm của sự chống phá mà các thế lực thù địch thường hướng đến là: Phủ nhận thành quả cách mạng của Đảng; xuyên tạc mục tiêu, lý tưởng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; bóp méo sự thật lịch sử; xuyên tạc, phủ nhận công lao, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm, các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước… Không dừng lại ở đó, các thế lực thù địch còn công kích, “bới lông tìm vết”, chúng cường điệu hóa tình trạng tham những của một bộ phận cán bộ, Đảng viên. Chúng lấy dẫn chứng từ một số vụ việc trong đấu tranh phòng chống tham nhũng tiêu cực của Đảng ta trong thời gian gần đây, nhất là liên quan đến số lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước. Hay trước những hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng, nhất là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận nhỏ cán bộ, Đảng viên; tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Chúng xem đây là cái cớ không gì có thể thuyết phục hơn để xuyên tạc công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng của Đảng ta. Chúng mặc nhiên khẳng định, quy chụp, lấy hiện tượng “con sâu làm rầu nồi canh”, hiện tượng thiểu số để đồng nhất vô căn cứ bản chất Đảng Cộng sản Việt Nam với một số cán bộ Đảng viên thoái hóa, biến chất. Từ đó, chúng rêu rao rằng: Đảng không còn là Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập; Đảng không còn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam… khi những thông tin sai trái, thù địch này được lan truyền, thổi phồng sẽ gieo rắc sự hoài nghi, làm suy giảm nghiêm trọng niềm tin của quần chúng nhân về lòng trung thành, tinh thần tận tụy hết mình phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, Đảng viên. Mục đích sâu xa của các chiêu bài này là bẻ lái dư luận, phủ nhận đường lối, chủ trương của Đảng, của chế độ ta, từ đó ca ngợi, cổ xúy, hướng lái theo cái gọi là giá trị xã hội phương Tây. Bên cạnh đó, thông qua việc bóp méo, bịa đặt các thông tin sai sự thật về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, các thế lực thù địch cố tình xuyên tạc bản chất ưu việt, nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang xây dựng. Thực chất, những luận luận điệu trên hết sức hồ đồ, phi lý vì công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là việc làm thường xuyên, liên tục để “cơ thể Đảng” thường xuyên khỏe mạnh, có khả năng “đề kháng”, “miễn dịch” trước âm mưu chống phá của các thế lực thù địch. Đồng thời, trước yêu cầu, nhiệm vụ của tình hình mới, quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh có ý nghĩa vô cùng cấp thiết. Bởi lẽ, đất nước chúng ta hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng nên càng đòi hỏi Đảng ta phải đổi mới, vươn tầm trí tuệ, Đảng phải được củng cố, xây dựng, chỉnh đốn về mọi mặt. Chính vì lẽ đó, ngay từ khi Đảng ta ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã chỉ rõ: Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là một tất yếu khách quan gắn chặt với quá trình phát triển, trưởng thành của sự nghiệp cách mạng. Thực tiễn đã chứng minh rằng: Suốt hơn 90 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam – nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng ta đã xác lập, cũng cố và ngày càng nâng cao vai trò lãnh đạo, sức mạnh và uy tín của Đảng bằng chính bản lĩnh, nghị lực, trí tuệ, lý luận tiên phong; bằng đường lối lãnh đạo đúng đắn, mang lại lợi ích cho nhân dân, cho đất nước bằng sự nêu gương, hi sinh quên mình, phấn đấu không biết mệt mỏi của đội ngũ cán bộ, Đảng viên… để “đất nước ta chưa bao giờ có được tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Trong lịch sử Đảng ta, hầu như không có Đại hội nào, không mấy nghị Trung ương không đề cập đến công tác xây dựng Đảng. Chỉ tính riêng 10 năm gần đây, ngay từ đầu mỗi nhiệm kỳ, các hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương đều bàn và ban hành những Nghị quyết, kết luận, quy định hết sức quan trọng về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, lần sau sâu sắc, toàn diện và cụ thể hơn so với lần trước. Đặc biệt, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã thống nhất các quan điểm chỉ đạo để tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, trong đó, quan điểm thứ năm là: “Tăng cường xây dựng chỉnh đốn Đảng, phát huy bản chất giai cấp công nhân của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng…” Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nói: “Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị được đặc biệt chú trọng, được tiến hành toàn diện, đồng bộ và có hiệu quả trên tất cả các mặt chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ…Công tác kiểm tra, giám sát và đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được triển khai quyết liệt, bài bản đi vào chiều sâu, có bước đột phá và đạt những kết quả cụ thể, rõ rệt. Nhiều vụ án kinh tế, tham nhũng được phát hiện, điều tra, khởi tố, xét xử nghiêm minh, tạo sức răn đe, cảnh tỉnh, được cán bộ, đảng viên và nhân dân hoan nghênh, đánh giá cao và đồng tình ủng hộ. Tình trạng tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, “tự diễn biến, “tự chuyển hóa” trong Đảng và hệ thống chính trị từng bước được kiềm chế, ngăn chặn”. Do đó, không có việc xây dựng và chỉnh đốn Đảng là“giật gấu vá vai” như lời tuyên truyền, bịa đặt của các thế lực thù địch. Những thành quả đã đạt được trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng thời gian qua là niềm tin để mỗi cán bộ, Đảng viên và nhân dân đề cao cảnh giác trước những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch; kiên quyết đấu tranh, phản bác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, vững tin xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh.

Thủ đoạn lợi dụng góp ý sửa đổi Luật Đất đai để chống phá Đảng, Nhà nước


          Trong khi việc lấy ý kiến nhân dân vào dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) được nhiều tổ chức, cá nhân tham gia tích cực thì những phần tử chống đối, số đối tượng cơ hội chính trị đã lợi dụng quyền tự do ngôn luận, quyền dân chủ để đăng tải các luận điệu xuyên tạc về nội dung, ý nghĩa của dự thảo luật cũng như chống phá hoạt động lấy ý kiến nhân dân.

HÀNH TRÌNH THEO CHÂN BÁC HỒ


Ngày 07 tháng 4
“Phải coi nhân tố con người là số một”.
Cách đây 103 năm, ngày 7-4-1920, trên tờ “La Revue Communiste” (Tạp chí Cộng sản), Nguyễn Ái Quốc đã thẳng thắn phê bình một số đảng cộng sản ở các “cường quốc thực dân” chưa quan tâm nghiên cứu đến vấn đề cách mạng ở các thuộc địa một cách nghiêm túc. Về Đông Dương, bài báo viết: “Nói rằng Đông Dương gồm 20 triệu người b.ị b.óc l.ột, hiện nay đã chín muồi cho một cuộc cách mạng là sai, nhưng nói rằng Đông Dương không muốn cách mạng và bằng lòng với chế độ bây giờ như các ông chủ của chúng ta thường vẫn nghĩ như thế, lại càng sai hơn nữa”.
Khẳng định rằng ý chí của người dân Đông Dương chưa hề bị khuất phục, Nguyễn Ái Quốc viết: “Không, người Đông Dương không c.hết, người Đông Dương vẫn sống, sống mãi mãi... Luồng gió từ nước Nga thợ thuyền, từ Trung Quốc cách mạng hoặc từ Ấn Độ chiến đấu đang thổi đến g.iải đ.ộc cho người Đông Dương... Đau khổ, nghèo đói và sự đ.àn á.p t.àn b.ạo là những người thầy duy nhất của họ... Sự t.àn b.ạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi. Chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi!”.
Ngày 7-4-1947, Bác Hồ viết thư gửi ông Hoàng Hữu Nam nhắc nhở phải thúc đẩy việc di chuyển các bộ rời khỏi các khu vực n.guy h.iểm. Bác căn dặn: “...Phải động viên các vị bộ trưởng hiểu, chịu khó mấy hôm mà an toàn hơn là cầu yên và nước đến chân mới nhảy; dặn họ giải thích với gia quyến họ... Phải cử người thạo việc đi theo để lúc gặp việc khó khăn biết cách giải quyết và biết nâng đỡ tinh thần của đàn bà, trẻ con”. Phải làm cho mọi người ý thức rằng cuộc kháng chiến là gian khổ và trường kỳ.
Ngày 7-4-1965, với bút danh Lê Nông, trên Báo Nhân Dân, Bác viết bài “Chúng ta có thể đạt hơn 5 tấn thóc cả năm/một hécta” để biểu dương một số hợp tác xã đã đạt chỉ tiêu này. Bác cũng khẳng định có thể đạt năng suất cao hơn nữa nếu quan tâm đến việc cải tiến khoa học kỹ thuật, thực hành cần kiệm trong xây dựng và tự lực cánh sinh, chi bộ lãnh đạo chặt chẽ, đảng viên gương mẫu xung phong, xã viên đoàn kết nhất trí. “Phải coi nhân tố con người là vấn đề số một”.
Ngày 7-4-1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh tham dự cuộc họp Bộ Chính trị để nghe báo cáo tình hình chiến sự trên cả nước và một số vấn đề về ngoại giao. Bác lưu ý việc tăng cường công tác vận động ngoại giao nhân dân, cần tuyên truyền về tòa án x.ét x.ử t.ội á.c c.hiến t.ranh của Mỹ ở Việt Nam do Huân tước và triết gia nổi tiếng người Anh Bertrand Roussell (năm đó đã 94 tuổi) - một người có cảm tình đặc biệt đối với nhân dân ta - đề xướng để tranh thủ dư luận quốc tế.
Ngày 7-4-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời các vị trong Bộ Chính trị đến họp tại nhà sàn trong Phủ Chủ tịch và ở lại dùng bữa với Bác. Đây là lần họp cuối cùng của Bộ Chính trị diễn ra tại địa điểm này vì sau đó một thời gian Bác lâm trọng bệnh.
Sách Hành Trình Theo Chân Bác- Nhà Xuất Bản Trẻ; Tháng 6 năm 2011.
Có thể là hình ảnh về 9 người, mọi người đang đứng và ngoài trời


QUÁN TRIỆT, TRIỂN KHAI QUY ĐỊNH CỦA BAN BÍ THƯ VỀ BÁO CHÍ, XUẤT BẢN!

     Ngày 6/4, tại thành phố Sầm Sơn (Thanh Hóa), Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông, Hội Nhà báo Việt Nam, Hội Xuất bản Việt Nam tổ chức Hội nghị quán triệt, triển khai các quy định 85-QĐ/TW, 99QĐ/TW, 100-QĐ/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng Khóa XIII; xây dựng kế hoạch kỷ niệm 100 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21/6/1925-21/6/2025).

Ông Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, dự và chỉ đạo hội nghị.

Theo Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương Lại Xuân Môn, các quy định mới được quán triệt tại hội nghị là những văn bản rất quan trọng, khẳng định sự quan tâm sâu sắc, vai trò trực tiếp, toàn diện của Đảng trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo; có tác động trực tiếp đến các cấp ủy, tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên trong cả nước.

Nội dung các quy định được chuẩn bị công phu, chu đáo, có nhiều đổi mới quan trọng về nội dung và phương pháp, kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn, giữa kế thừa và phát triển, cần được quán triệt, triển khai nghiêm túc, bài bản, thật sự đi vào cuộc sống.

Hội nghị góp phần giúp các đại biểu nắm sâu, đầy đủ về những nội dung của các quy định Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XIII đã ban hành, trên cơ sở đó, vận dụng vào tình hình thực tế và triển khai thực hiện đồng bộ, thống nhất trong các cấp uỷ, tổ chức Đảng và hệ thống chính trị.

Tại hội nghị, các đại biểu đã nghe lãnh đạo Ban Tuyên giáo Trung ương quán triệt các nội dung: Quy định 100-QĐ/TW và 101-QĐ/TW ngày 28/2/2023 của Ban Bí thư về trách nhiệm, quyền hạn và việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật lãnh đạo cơ quan báo chí, nhà xuất bản; Quy định số 85-QĐ/TW, ngày 7/10/2022 của Ban Bí thư về việc cán bộ, đảng viên thiết lập và sử dụng trang thông tin điện tử cá nhân trên Internet, mạng xã hội; Quy định số 99-QĐ/TW ngày 27/2/2023 của Ban Bí thư về cờ Đảng Cộng sản Việt Nam và việc sử dụng cờ Đảng; thông tin một số nội dung cơ bản trong dự thảo Đề án kỷ niệm 100 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21/6/1925-21/6/2025) - sự kiện chính trị nghề nghiệp có ý nghĩa quan trọng đối với báo giới cả nước.

Sau khi lắng nghe các báo cáo viên truyền đạt, các đại biểu đã cùng trao đổi, tìm giải pháp để triển khai thực hiện thật tốt các quy định và dự thảo Đề án nêu trên; tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động, đáp ứng thật tốt mục đích, yêu cầu đề ra.

Phát biểu chỉ đạo, kết luận hội nghị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa nhấn mạnh phải nhận thức thật đầy đủ và sâu sắc hơn nữa ý nghĩa, tầm quan trọng của việc tổ chức triển khai thực hiện các quy định này trong thực tế với tư cách là một bộ phận cấu thành quan trọng của công tác tuyên giáo.

Trên cơ sở hội nghị này, các đơn vị tiếp tục tổ chức học tập, quán triệt, tuyên truyền sâu rộng nội dung quy định với nhiều hình thức phù hợp, giúp các cấp ủy, tổ chức Đảng, cơ quan, đơn vị, cán bộ, đảng viên hiểu rõ, vận dụng đúng các quy định.

Đồng thời, cần xác định rõ đây không phải là nhiệm vụ riêng của ngành tuyên giáo, mà là trách nhiệm của toàn hệ thống chính trị, của mỗi cán bộ, đảng viên, của từng cơ quan báo chí, xuất bản.

Các đơn vị tăng cường công tác kiểm tra, theo dõi, hướng dẫn, đôn đốc việc triển khai thực hiện các quy định trên; kịp thời thông tin, báo cáo kết quả thực hiện ở các cấp theo từng quý, từng năm; kịp thời biểu dương, khen thưởng các cấp ủy, tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên thực hiện tốt. Qua đó, nhắc nhở, phê bình, xử lý nghiêm các tập thể, cá nhân thực hiện không nghiêm túc, không hiệu quả; kịp thời báo cáo, phản ánh những khó khăn, vướng mắc về Ban Tuyên giáo Trung ương để có chủ trương chỉ đạo kịp thời, sát hợp tình hình thực tế.

Về kỷ niệm 100 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21/6/1925-21/6/2025), ông Nguyễn Trọng Nghĩa cho rằng đây là sự kiện chính trị nghề nghiệp có ý nghĩa quan trọng của báo chí cách mạng nước ta, các đơn vị cần xây dựng Đề án tổ chức các hoạt động kỷ niệm một cách bài bản, trang trọng và giầu ý nghĩa. Thực hiện thật tốt lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Báo chí cách mạng Việt Nam phải thực sự là “lực lượng xung kích trên mặt trận tư tưởng văn hóa,” “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”./.
Yêu nước ST.