Thứ Năm, 6 tháng 4, 2023

“Dân thụ hưởng” không phải là khẩu hiệu suông

“Dân thụ hưởng” không dừng lại trên lý thuyết, trong nghị quyết, giấy tờ hay khẩu hiệu suông để hô hào mà được thể hiện sinh động, thuyết phục trong hiện thực đời sống mỗi người dân Việt Nam. Dù những phần tử cơ hội chính trị, thế lực thù địch có cố tình bóp méo, xuyên tạc thế nào thì cũng không thể phủ nhận được sự thật rằng đời sống của người dân Việt Nam đang ngày càng đi lên. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng bổ sung thêm chủ trương “dân thụ hưởng” vào nội dung dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN) “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đây là sự khẳng định nhất quán tư tưởng lấy dân làm gốc, người dân là chủ thể, là mục đích, là trung tâm của mọi quá trình phát triển. Thế nhưng trên một số trang mạng, thế lực thù địch và những kẻ phản động cố tình xuyên tạc rằng, phương châm “dân thụ hưởng”, hay “lấy dân làm gốc” mà Đảng, Nhà nước ta đặt ra là không thực chất, chỉ là mị dân. Nhưng cho dù kẻ xấu có xuyên tạc thế nào thì cũng không thể phủ nhận thực tế rằng, người dân Việt Nam đã và đang thực sự thụ hưởng thành quả cách mạng... CỐ TÌNH XUYÊN TẠC VỚI MƯU ĐỒ XẤU Có thể nói phương châm “dân thụ hưởng” đã được thể hiện rõ trong mục tiêu, đồng thời cũng đã được triển khai thực hiện trong suốt quá trình cách mạng XHCN tại Việt Nam. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục thể hiện rõ quyết tâm chính trị của Đảng trong mục tiêu vì hạnh phúc của nhân dân, vì chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rất rõ: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”; “nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Rõ ràng hưởng thụ đầy đủ lợi ích cả về vật chất, tinh thần là khát vọng của người dân, là mục tiêu, lý tưởng cao đẹp của cách mạng XHCN và đang được hiện thực hóa trên đất nước ta. Từ sự cùng khổ của người dân một nước thuộc địa, bị đặt dưới ách thống trị của thực dân, đế quốc, trải qua chiến tranh đau thương, mất mát, đến nay người dân Việt Nam đã thực sự sống trong tự do, hòa bình, độc lập, thống nhất, đời sống ngày càng đi lên. Thế nhưng trong suốt những năm qua, các thế lực thù địch, phản động luôn cố tình phủ nhận những thành quả ấy. Lợi dụng tình hình công cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực khiến một số cán bộ cấp cao vướng vào tham nhũng, tiêu cực nên bị kỷ luật, buộc phải từ chức hoặc phải chịu trách nhiệm hình sự, lực lượng thù địch đã rêu rao rằng chỉ có “quan cộng sản” mới có nhà lầu, xe hơi, cuộc sống sung sướng, được hưởng thụ và cho rằng “dân thụ hưởng chỉ là ru ngủ dân...". Ở đây, chúng ta phải khẳng định rằng những kẻ cơ hội chính trị và lực lượng thù địch không phải là không biết, không nhìn thấy những thành tựu to lớn về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội mà người dân Việt Nam ngày ngày được thụ hưởng. Tuy nhiên, chúng cố tình xuyên tạc sự thật; thấy cây mục cho rằng cả cánh rừng phải chặt bỏ; lấy hiện tượng quy chụp bản chất; lấy sự thoái hóa, biến chất của một số cán bộ, đảng viên để suy diễn về phẩm chất đạo đức của toàn bộ đội ngũ cán bộ, đảng viên... SỰ THẬT KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN Có thể nói, việc “dân thụ hưởng” thành quả cách mạng tại Việt Nam là sự thật không thể phủ nhận. Sự hưởng thụ của người dân Việt Nam toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Đảng, Nhà nước luôn thực hiện nhất quán chủ trương gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; gắn kết giữa chính sách phát triển kinh tế với chính sách phát triển xã hội; dân chủ ngày càng được mở rộng, mỗi người dân luôn được tạo điều kiện thuận lợi nhất để thực hiện quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của mình. Người dân thực sự là người chủ đất nước, bao nhiêu lợi ích, bao nhiêu quyền hành đều ở nhân dân. Chính người dân là người làm chủ quá trình xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng XHCN, đồng thời người dân cũng trực tiếp thụ hưởng giá trị to lớn của quá trình đó. Chúng ta thực hiện ngày càng tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề hệ trọng của đất nước. Đảng, Nhà nước luôn tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của công dân. Đảng ta luôn đặt quyền lợi của nhân dân vào trung tâm các quyết sách, đường lối, với mục đích tối thượng là người dân được thụ hưởng mọi thành quả của sự phát triển đất nước. Điều đó được thể hiện qua hàng loạt con số biết nói: Năm 2021, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,703, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước có cùng trình độ phát triển. Báo cáo hạnh phúc thế giới (World Happiness Report-WHR) năm 2023 công bố ngày 20/3/2023 cho thấy chỉ số hạnh phúc của Việt Nam đã tăng 12 bậc, từ vị trí 77 vào năm 2022 lên vị trí 65 trong năm 2023. Hạnh phúc là mục tiêu cơ bản của con người. Đại hội đồng Liên hợp quốc đã công nhận mục tiêu này và kêu gọi cách tiếp cận toàn diện, công bằng và cân bằng hơn đối với tăng trưởng kinh tế nhằm thúc đẩy hạnh phúc và phúc lợi của tất cả mọi người. Các tiêu chí được đánh giá gồm: GDP bình quân đầu người, hỗ trợ xã hội, tuổi thọ trung bình, quyền tự do lựa chọn cuộc sống, sự rộng lượng và nhận thức về tham nhũng. Cùng với đó, Liên hợp quốc đánh giá Việt Nam đã hoàn thành mục tiêu phát triển thiên niên kỷ. Chỉ số bất bình đẳng giới (GII) của Việt Nam tiếp tục được cải thiện vào năm 2021, đạt 0,296, xếp hạng 71 trong số 170 quốc gia. Việt Nam là một trong 30 quốc gia đầu tiên áp dụng chuẩn nghèo đa chiều và hoàn thành trước 10 năm mục tiêu thiên niên kỷ về giảm nghèo. Mức sống tăng lên, sức khỏe của người dân được cải thiện nên tuổi thọ tăng qua các năm, chỉ số sức khỏe cả nước tăng từ 0,822 (năm 2016) lên 0,826 (năm 2020). Chỉ số giáo dục của Việt Nam là 0,618 vào năm 2016 và 0,640 vào năm 2020. Chỉ số thu nhập là 0,624 vào năm 2016 và 0,664 vào năm 2020. Như vậy có thể thấy, mặc dù là nước đang phát triển có xuất phát điểm rất thấp, nhưng các chỉ số cơ bản cho quyền lợi và sự thụ hưởng của người dân tại Việt Nam đều tăng dần qua từng năm, cho thấy đời sống của người dân Việt Nam đang đi lên một cách bền vững. Theo tạp chí thương mại hàng đầu thế giới CEOWORLD (Mỹ), chất lượng sống của Việt Nam được cải thiện đáng kể. CEOWORLD đánh giá, Việt Nam có tổng số điểm là 78,49 và xếp hạng 62/165 quốc gia vào năm 2021. Thứ hạng chỉ số chất lượng sống được CEOWORLD dựa trên nhiều tiêu chí như: Chi phí sống; sự ổn định kinh tế-chính trị; môi trường làm việc; bình đẳng thu nhập; hệ thống giáo dục; hệ thống y tế... ĐỘNG LỰC ĐỂ DÂN TIN ĐẢNG Có thể thấy, Đảng và Nhà nước luôn chú trọng phát triển kinh tế vì mục tiêu con người, thực hiện nhất quán quan điểm gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; phát triển văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế vì con người, xây dựng thiết chế chính trị, hệ thống pháp luật của nhà nước pháp quyền XHCN, quản lý đất nước, xã hội, mang lại những điều tốt đẹp cho con người. Vì vậy, đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện. Mỗi một người dân Việt Nam đang hằng ngày, hằng giờ được thụ hưởng môi trường hòa bình, ổn định, yên tâm lao động sản xuất và thừa hưởng chính thành quả đó. Trong xu thế đi lên của đất nước, ai cũng được tạo cơ hội phát triển, không ai bị bỏ lại phía sau. Người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng bị ảnh hưởng của bão lũ, thiên tai khiến đời sống còn khó khăn thì Đảng, Nhà nước có chính sách an sinh xã hội, toàn xã hội đều chung tay giúp đỡ. Mục đích cuối cùng là để mỗi người dân Việt Nam đều được bình đẳng tận hưởng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” đúng như tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Như thế, “dân thụ hưởng” không dừng lại trên lý thuyết, trong nghị quyết, giấy tờ hay khẩu hiệu suông để hô hào mà được thể hiện sinh động, thuyết phục trong hiện thực đời sống mỗi người dân Việt Nam. Dù những phần tử cơ hội chính trị, thế lực thù địch có cố tình bóp méo, xuyên tạc thế nào thì cũng không thể phủ nhận được sự thật rằng đời sống của người dân Việt Nam đang ngày càng đi lên. Đó chính là động lực để người dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; nỗ lực lao động, cống hiến để đất nước ngày càng phát triển thì những giá trị mà mỗi người được thụ hưởng sẽ ngày càng lớn hơn.

ĐẤU TRANH THÌ PHẢI HỢP LÝ, HỢP TÌNH!

     Đang chuẩn bị đi ngủ thì Hùng thấy anh họ của mình là Hải gọi điện. Vừa bật máy nghe, anh Hải đã nghiêm giọng:
- Em xóa ngay mấy câu bình luận trên diễn đàn X đi. Anh thấy ngôn ngữ ấy không phù hợp với vị trí, công việc của em đâu!
- À, tại em bực quá anh ạ! Anh biết không, cái tay đăng bài đó em theo dõi đã lâu. Hắn chuyên soi mói, lắp ghép, nhào nặn thông tin để xuyên tạc, làm xấu hình ảnh cán bộ, công chức, nhất là hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ. 

Trước phân trần của Hùng, anh Hải nhẹ nhàng: 
- Cái đó anh cũng biết mà. Nhưng có cần thiết để em phải nổi nóng và tung lên mạng xã hội như vậy không?
- Anh biết đấy, trước thực trạng thiếu hụt trầm trọng cán bộ, nhân viên đăng kiểm, Cục Đăng kiểm mới đề nghị Bộ Quốc phòng, Bộ Công an hỗ trợ lực lượng, tăng cường cán bộ, nhân viên đăng kiểm hỗ trợ các trung tâm đăng kiểm, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân. Vậy mà một số người cố tình xuyên tạc, cho rằng Quân đội, Công an làm sai chức năng, “lấn sân” sang ngành dân sự. Cái tay viết bài đăng trên trang X mà em phản biện còn quy chụp các đăng kiểm viên của Quân đội bỏ cả việc chuyên môn để tranh thủ “kiếm thêm”. Như vậy anh bảo em không bực làm sao được?
Thấy Hùng vẫn đang “sung”, anh Hải ôn tồn phân tích:
- Có những người luôn nhìn cuộc đời bằng ánh mắt tiêu cực. Có những kẻ còn nhận tiền để viết bài nói xấu chế độ. Với họ, ta mà nổi nóng, chửi tục, văng bậy là mắc mưu kẻ xấu. Nhiều người nhìn vào sẽ thấy hóa ra ta cũng chỉ... ngang họ. Nếu em hiểu sự việc, phân tích cho mọi người hiểu sẽ ý nghĩa hơn nhiều. Đấu tranh với cái sai nhưng bằng phương pháp khoa học mới đạt được hiệu quả. 
     Nghe anh Hải phân tích có tình, có lý, Hùng dịu giọng: “Em hiểu rồi! Đúng là em nóng tính, chưa nghĩ được sâu! Em sẽ xóa các lời bình luận khiếm nhã và học cách đấu tranh hợp lý, hợp tình ạ”!./.
Yêu nước ST.

THƯỢNG TƯỚNG HOÀNG XUÂN CHIẾN TIẾP ĐOÀN CỤC HÓA HỌC BỘ TỔNG THAM MƯU LÀO!

     Chiều 6-4 tại trụ sở Bộ Quốc phòng, Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đã tiếp đoàn Cục Hóa học, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Lào do Đại tá Thiem Homsana, Cục trưởng làm trưởng đoàn nhân dịp thăm, làm việc tại Việt Nam!
     Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến nhấn mạnh mối quan hệ đoàn kết đặc biệt Việt Nam-Lào luôn được lãnh đạo cấp cao hai nước, hai Bộ Quốc phòng coi trọng gìn giữ, củng cố và mong muốn vun đắp ngày càng trở nên tốt đẹp hơn. Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến khẳng định hợp tác quốc phòng Việt Nam-Lào thời gian qua không ngừng phát triển toàn diện, hiệu quả, là một trong những trụ cột quan trọng trong quan hệ hai nước. Đặc biệt, trong “Năm Đoàn kết hữu nghị Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam 2022”, Bộ Quốc phòng hai nước đã phối hợp tổ chức nhiều hoạt động có ý nghĩa thiết thực, góp phần lan tỏa về mối quan hệ đoàn kết đặc biệt, thủy chung, trong sáng Việt Nam-Lào. 
     Đại tá Thiem Homsana thông báo với Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến kết quả cuộc làm việc trước đó với Binh chủng Hóa học Việt Nam; khẳng định sẽ nỗ lực thúc đẩy thực hiện kế hoạch hợp tác trong năm giữa hai bên. Đại tá Thiem Homsana bày tỏ mong muốn Bộ Quốc phòng Việt Nam quan tâm, tạo điều kiện hơn nữa cho hợp tác giữa lực lượng Hóa học hai nước.
     Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến bày tỏ ghi nhận và đánh giá cao kết quả hợp tác giữa lực lượng Hóa học hai nước trong thời gian qua; đề nghị lực lượng Hóa học hai nước tập trung tăng cường hợp tác trao đổi kinh nghiệm, chuyên môn, chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có kiến thức phòng hóa hiện đại, có trình độ, năng lực làm chủ trang thiết bị tiên tiến. Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến khẳng định Bộ Quốc phòng Việt Nam luôn ủng hộ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để lực lượng Hóa học hai bên tăng cường hợp tác, góp phần làm sâu sắc hơn nữa quan hệ hợp tác quốc phòng song phương./.


Yêu nước ST.

 

Bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận giá trị 

tư tưởng Hồ Chí Minh

Cùng với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng của Đảng. Tuy nhiên, thời gian qua, vẫn còn một số người có nhận thức chưa đúng, thậm chí những kẻ cơ hội, bất mãn chính trị đã phê phán, phủ nhận giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay. Vì vậy, chúng ta cần nhận diện, bác bỏ những luận điệu sai trái này.

Thứ nhất, cho rằng Hồ Chí Minh không phải là nhà tư tưởng.

Một số người bị dao động về lập trường tư tưởng, hùa theo luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động khi cho rằng “không có tư tưởng Hồ Chí Minh”. 

Sinh thời, tuy Chủ tịch Hồ Chí Minh khiêm tốn tự nhận mình không phải là nhà tư tưởng, nhưng trên thực tế, trong quá trình hoạt động cách mạng, tư tưởng của Người đã dần được hình thành và được bạn bè thế giới công nhận. Đảng ta khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam”(1). Trong đó tiêu biểu là tư tưởng về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội với nội dung cốt lõi là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Trước khi khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh xuất hiện thì thế giới đã thừa nhận có tư tưởng Hồ Chí Minh.

 

Tỉnh táo, nhận diện đúng các luận điệu xuyên tạc về đổi mới chính trị - xã hội ở Việt Nam

Hơn 36 năm qua, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước phát triển mạnh mẽ, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật, đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt.

Thế nhưng, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, bất mãn vẫn cố tình phủ nhận những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước, nhất là đổi mới trên lĩnh vực chính trị, xã hội. Họ ra sức xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước ta trên tất cả lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại...

Thủ đoạn tinh vi, khó lường  

Về chính trị: Trước hết, họ tập trung phê phán, xuyên tạc, chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam nắm quyền lãnh đạo đất nước, họ cho rằng, đó là “chế độ đảng trị”, độc tài, mất dân chủ. Họ còn lợi dụng cụm từ “dưới sự lãnh đạo của Đảng” để xuyên tạc rằng, đó là bằng chứng của vấn đề “Đảng đứng trên luật pháp”, “quyền lực xã hội tập trung vào một số ít cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản”, “Đảng bao biện làm thay Nhà nước”... Vấn đề Nhà nước, họ xuyên tạc rằng: “Nói là Nhà nước pháp quyền, nhưng trên thực tế, luật pháp không được tôn trọng...”; “hệ thống tổ chức, bộ máy cồng kềnh, hoạt động kém hiệu quả”... Đối với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội, họ cho rằng: “Hoạt động chỉ là hình thức, kém hiệu quả”... Vấn đề xã hội, họ cho rằng: "Mất dân chủ, vi phạm nhân quyền...". 

“Dân thụ hưởng” không phải là khẩu hiệu suông

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng bổ sung thêm chủ trương “dân thụ hưởng” vào nội dung dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN) “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đây là sự khẳng định nhất quán tư tưởng lấy dân làm gốc, người dân là chủ thể, là mục đích, là trung tâm của mọi quá trình phát triển. Thế nhưng trên một số trang mạng, thế lực thù địch và những kẻ phản động cố tình xuyên tạc rằng, phương châm “dân thụ hưởng”, hay “lấy dân làm gốc” mà Đảng, Nhà nước ta đặt ra là không thực chất, chỉ là mị dân. Nhưng cho dù kẻ xấu có xuyên tạc thế nào thì cũng không thể phủ nhận thực tế rằng, người dân Việt Nam đã và đang thực sự thụ hưởng thành quả cách mạng... Có thể nói phương châm “dân thụ hưởng” đã được thể hiện rõ trong mục tiêu, đồng thời cũng đã được triển khai thực hiện trong suốt quá trình cách mạng XHCN tại Việt Nam. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục thể hiện rõ quyết tâm chính trị của Đảng trong mục tiêu vì hạnh phúc của nhân dân, vì chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rất rõ: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”; “nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Rõ ràng hưởng thụ đầy đủ lợi ích cả về vật chất, tinh thần là khát vọng của người dân, là mục tiêu, lý tưởng cao đẹp của cách mạng XHCN và đang được hiện thực hóa trên đất nước ta. Từ sự cùng khổ của người dân một nước thuộc địa, bị đặt dưới ách thống trị của thực dân, đế quốc, trải qua chiến tranh đau thương, mất mát, đến nay người dân Việt Nam đã thực sự sống trong tự do, hòa bình, độc lập, thống nhất, đời sống ngày càng đi lên. Thế nhưng trong suốt những năm qua, các thế lực thù địch, phản động luôn cố tình phủ nhận những thành quả ấy. Lợi dụng tình hình công cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực khiến một số cán bộ cấp cao vướng vào tham nhũng, tiêu cực nên bị kỷ luật, buộc phải từ chức hoặc phải chịu trách nhiệm hình sự, lực lượng thù địch đã rêu rao rằng chỉ có “quan cộng sản” mới có nhà lầu, xe hơi, cuộc sống sung sướng, được hưởng thụ và cho rằng “dân thụ hưởng chỉ là ru ngủ dân...". Ở đây, chúng ta phải khẳng định rằng những kẻ cơ hội chính trị và lực lượng thù địch không phải là không biết, không nhìn thấy những thành tựu to lớn về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội mà người dân Việt Nam ngày ngày được thụ hưởng. Tuy nhiên, chúng cố tình xuyên tạc sự thật; thấy cây mục cho rằng cả cánh rừng phải chặt bỏ; lấy hiện tượng quy chụp bản chất; lấy sự thoái hóa, biến chất của một số cán bộ, đảng viên để suy diễn về phẩm chất đạo đức của toàn bộ đội ngũ cán bộ, đảng viên... Có thể nói, việc “dân thụ hưởng” thành quả cách mạng tại Việt Nam là sự thật không thể phủ nhận. Sự hưởng thụ của người dân Việt Nam toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Đảng, Nhà nước luôn thực hiện nhất quán chủ trương gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; gắn kết giữa chính sách phát triển kinh tế với chính sách phát triển xã hội; dân chủ ngày càng được mở rộng, mỗi người dân luôn được tạo điều kiện thuận lợi nhất để thực hiện quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của mình. Người dân thực sự là người chủ đất nước, bao nhiêu lợi ích, bao nhiêu quyền hành đều ở nhân dân. Chính người dân là người làm chủ quá trình xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng XHCN, đồng thời người dân cũng trực tiếp thụ hưởng giá trị to lớn của quá trình đó. Chúng ta thực hiện ngày càng tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề hệ trọng của đất nước. Đảng, Nhà nước luôn tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của công dân. Đảng ta luôn đặt quyền lợi của nhân dân vào trung tâm các quyết sách, đường lối, với mục đích tối thượng là người dân được thụ hưởng mọi thành quả của sự phát triển đất nước. Điều đó được thể hiện qua hàng loạt con số biết nói: Năm 2021, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,703, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước có cùng trình độ phát triển. Báo cáo hạnh phúc thế giới (World Happiness Report-WHR) năm 2023 công bố ngày 20-3-2023 cho thấy chỉ số hạnh phúc của Việt Nam đã tăng 12 bậc, từ vị trí 77 vào năm 2022 lên vị trí 65 trong năm 2023. Hạnh phúc là mục tiêu cơ bản của con người. Đại hội đồng Liên hợp quốc đã công nhận mục tiêu này và kêu gọi cách tiếp cận toàn diện, công bằng và cân bằng hơn đối với tăng trưởng kinh tế nhằm thúc đẩy hạnh phúc và phúc lợi của tất cả mọi người. Các tiêu chí được đánh giá gồm: GDP bình quân đầu người, hỗ trợ xã hội, tuổi thọ trung bình, quyền tự do lựa chọn cuộc sống, sự rộng lượng và nhận thức về tham nhũng. Cùng với đó, Liên hợp quốc đánh giá Việt Nam đã hoàn thành mục tiêu phát triển thiên niên kỷ. Chỉ số bất bình đẳng giới (GII) của Việt Nam tiếp tục được cải thiện vào năm 2021, đạt 0,296, xếp hạng 71 trong số 170 quốc gia. Việt Nam là một trong 30 quốc gia đầu tiên áp dụng chuẩn nghèo đa chiều và hoàn thành trước 10 năm mục tiêu thiên niên kỷ về giảm nghèo. Mức sống tăng lên, sức khỏe của người dân được cải thiện nên tuổi thọ tăng qua các năm, chỉ số sức khỏe cả nước tăng từ 0,822 (năm 2016) lên 0,826 (năm 2020). Chỉ số giáo dục của Việt Nam là 0,618 vào năm 2016 và 0,640 vào năm 2020. Chỉ số thu nhập là 0,624 vào năm 2016 và 0,664 vào năm 2020. Như vậy có thể thấy, mặc dù là nước đang phát triển có xuất phát điểm rất thấp, nhưng các chỉ số cơ bản cho quyền lợi và sự thụ hưởng của người dân tại Việt Nam đều tăng dần qua từng năm, cho thấy đời sống của người dân Việt Nam đang đi lên một cách bền vững. Theo tạp chí thương mại hàng đầu thế giới CEOWORLD (Mỹ), chất lượng sống của Việt Nam được cải thiện đáng kể. CEOWORLD đánh giá, Việt Nam có tổng số điểm là 78,49 và xếp hạng 62/165 quốc gia vào năm 2021. Thứ hạng chỉ số chất lượng sống được CEOWORLD dựa trên nhiều tiêu chí như: Chi phí sống; sự ổn định kinh tế-chính trị; môi trường làm việc; bình đẳng thu nhập; hệ thống giáo dục; hệ thống y tế... Có thể thấy, Đảng và Nhà nước luôn chú trọng phát triển kinh tế vì mục tiêu con người, thực hiện nhất quán quan điểm gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; phát triển văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế vì con người, xây dựng thiết chế chính trị, hệ thống pháp luật của nhà nước pháp quyền XHCN, quản lý đất nước, xã hội, mang lại những điều tốt đẹp cho con người. Vì vậy, đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện. Mỗi một người dân Việt Nam đang hằng ngày, hằng giờ được thụ hưởng môi trường hòa bình, ổn định, yên tâm lao động sản xuất và thừa hưởng chính thành quả đó. Trong xu thế đi lên của đất nước, ai cũng được tạo cơ hội phát triển, không ai bị bỏ lại phía sau. Người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng bị ảnh hưởng của bão lũ, thiên tai khiến đời sống còn khó khăn thì Đảng, Nhà nước có chính sách an sinh xã hội, toàn xã hội đều chung tay giúp đỡ. Mục đích cuối cùng là để mỗi người dân Việt Nam đều được bình đẳng tận hưởng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” đúng như tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Như thế, “dân thụ hưởng” không dừng lại trên lý thuyết, trong nghị quyết, giấy tờ hay khẩu hiệu suông để hô hào mà được thể hiện sinh động, thuyết phục trong hiện thực đời sống mỗi người dân Việt Nam. Dù những phần tử cơ hội chính trị, thế lực thù địch có cố tình bóp méo, xuyên tạc thế nào thì cũng không thể phủ nhận được sự thật rằng đời sống của người dân Việt Nam đang ngày càng đi lên. Đó chính là động lực để người dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; nỗ lực lao động, cống hiến để đất nước ngày càng phát triển thì những giá trị mà mỗi người được thụ hưởng sẽ ngày càng lớn hơn.

Đấu tranh phải hợp lý, hợp tình

Đang chuẩn bị đi ngủ thì Hùng thấy anh họ của mình là Hải gọi điện. Vừa bật máy nghe, anh Hải đã nghiêm giọng: - Em xóa ngay mấy câu bình luận trên diễn đàn X đi. Anh thấy ngôn ngữ ấy không phù hợp với vị trí, công việc của em đâu! - À, tại em bực quá anh ạ! Anh biết không, cái tay đăng bài đó em theo dõi đã lâu. Hắn chuyên soi mói, lắp ghép, nhào nặn thông tin để xuyên tạc, làm xấu hình ảnh cán bộ, công chức, nhất là hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ. Trước phân trần của Hùng, anh Hải nhẹ nhàng: - Cái đó anh cũng biết mà. Nhưng có cần thiết để em phải nổi nóng và tung lên mạng xã hội như vậy không? - Anh biết đấy, trước thực trạng thiếu hụt trầm trọng cán bộ, nhân viên đăng kiểm, Cục Đăng kiểm mới đề nghị Bộ Quốc phòng, Bộ Công an hỗ trợ lực lượng, tăng cường cán bộ, nhân viên đăng kiểm hỗ trợ các trung tâm đăng kiểm, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân. Vậy mà một số người cố tình xuyên tạc, cho rằng Quân đội, Công an làm sai chức năng, “lấn sân” sang ngành dân sự. Cái tay viết bài đăng trên trang X mà em phản biện còn quy chụp các đăng kiểm viên của Quân đội bỏ cả việc chuyên môn để tranh thủ “kiếm thêm”. Như vậy anh bảo em không bực làm sao được? Thấy Hùng vẫn đang “sung”, anh Hải ôn tồn phân tích: - Có những người luôn nhìn cuộc đời bằng ánh mắt tiêu cực. Có những kẻ còn nhận tiền để viết bài nói xấu chế độ. Với họ, ta mà nổi nóng, chửi tục, văng bậy là mắc mưu kẻ xấu. Nhiều người nhìn vào sẽ thấy hóa ra ta cũng chỉ... ngang họ. Nếu em hiểu sự việc, phân tích cho mọi người hiểu sẽ ý nghĩa hơn nhiều. Đấu tranh với cái sai nhưng bằng phương pháp khoa học mới đạt được hiệu quả. Nghe anh Hải phân tích có tình, có lý, Hùng dịu giọng: “Em hiểu rồi! Đúng là em nóng tính, chưa nghĩ được sâu! Em sẽ xóa các lời bình luận khiếm nhã và học cách đấu tranh hợp lý, hợp tình ạ”.

Chống tung hô, sáo ngữ

Công bằng mà nói, thời gian qua, việc thực hành nêu gương được Trung ương quyết liệt tập trung lãnh đạo, được các cấp tổ chức thực hiện, khơi dậy thành phong trào rộng khắp, nhưng xem ra vẫn còn đó không ít yếu kém trong khâu vận hành, nhất là các biểu hiện tung hô sáo ngữ, kêu gọi chung chung và nặng hành chính, giấy tờ. “Quy định của Trung ương đã rõ, các đồng chí phải thực hành nêu gương tốt!”, “Nêu gương là bổn phận của mỗi cán bộ, đảng viên (CBĐV)”, “trách nhiệm của chúng ta là phải làm gương mẫu mực”... Những lời kêu gọi ấy hiện hữu không ít tại nhiều cuộc họp, hội nghị, diễn đàn, các bài nói, bài viết của những người đứng đầu, chủ trì, chủ chốt. Thế nhưng, sau đó không lâu, ở ngành đó, cơ quan, địa phương đó lại xuất hiện những cá nhân chưa nêu gương; thậm chí, người đứng đầu vốn rất nhiệt huyết kêu gọi, hô hào, nhưng lại thiếu kiểm tra, đôn đốc và chưa dám chịu trách nhiệm về kết quả thực hành nêu gương ở tập thể mình quản lý. Quả đúng rằng, nêu gương là một phương pháp giáo dục đạo đức, là phần việc tự giác của tổ chức, cá nhân. Đó là việc giáo dục, cổ vũ, động viên, hình thành nhu cầu tự thân để mỗi người thực hành theo những chuẩn mực đạo đức cách mạng và đạo đức xã hội. Thế nhưng, dưới góc độ quản lý, nêu gương là phương thức lãnh đạo nên đòi hỏi rất cao về tính hiệu lực, hiệu quả của công tác lãnh đạo. Hơn thế, trong đời sống xã hội hiện tại, khi các chuẩn mực đạo đức vốn đã trừu tượng, không chỉ cũng biến đổi theo mà nhiều lúc còn trở nên lẫn lộn, rối rắm. Chính vì vậy, nếu thực hành nêu gương mà không có tổ chức lãnh đạo, không tuân theo các quy định, chế tài giám sát thì rất dễ bị trá hình, bị giảm thiểu hiệu lực, hiệu quả, hoặc bị chuyển sang bêu gương. Thực tiễn cho thấy, nếu chỉ kêu gọi theo kiểu đức trị, giáo dục, thuyết phục, nêu gương mà thiếu pháp trị, thì chuyện “phát” mà không “động”, “đầu voi, đuôi chuột” tất yếu sẽ diễn ra. Nói cách khác, việc nêu gương không thể hô hào suông, mà phải gắn với luật pháp, chế tài đi kèm để xử lý những sai phạm. Điều đó lý giải tại sao, Trung ương ban hành hàng loạt quy định, quy chế về nêu gương, cụ thể hóa nội dung nêu gương và công khai rộng rãi trong toàn Đảng, hệ thống chính trị và xã hội; đồng thời đặt ra yêu cầu rất cao trong việc thể chế hóa, cụ thể hóa, hiện thực hóa. Thực tế cho thấy, việc xử lý cán bộ chưa thực hành nêu gương đang là một khoảng trống mà các cấp chưa thật sự quan tâm ráo riết. Những CBĐV chỉ bị xử lý kỷ luật khi họ đã rơi vào vòng lao lý và bêu gương xấu; những người đứng đầu ở nơi ấy cũng chưa được xem xét liên đới trách nhiệm một cách nghiêm minh, đầy đủ. Thực trạng này cần sớm nhận diện để có giải pháp khắc phục. 99,7% trong tổng số cán bộ cấp huyện, xã được Báo Quân đội nhân dân khảo sát ở 11 huyện thuộc 3 tỉnh (Hà Tĩnh, Quảng Ngãi, Yên Bái) thống nhất cho rằng: Hiện nay, hệ thống các chủ trương, giải pháp lãnh đạo thực hành nêu gương dù đã khá hoàn thiện, đồng bộ, nhưng công tác lãnh đạo tổ chức nêu gương trên thực tế là vấn đề đáng lo ngại. Do đó, việc duy trì nghiêm túc, lập lại nền nếp, chế độ, quy chế, quy định nêu gương trong Đảng là công việc hết sức cần kíp. Trước hết, cần đẩy mạnh nâng cao nhận thức, trách nhiệm của tổ chức đảng, CBĐV về mục đích, nội dung, bản chất, yêu cầu, phương thức, hình thức nêu gương để vận dụng hiệu quả, không bị chệch hướng, mang tính hình thức. Cùng với đó, cơ quan chức năng cần sớm coi trọng công tác hướng dẫn và kiểm tra, giám sát việc thể chế hóa, cụ thể hóa, hiện thực hóa các quy định về nêu gương. Các cấp cần rà soát lại những điểm bất hợp lý, lạc hậu trong các quy chế, quy định đã ban hành để bổ sung, hoàn thiện, giúp cho việc nêu gương được thống nhất, gắn với cơ chế thưởng-phạt công khai, minh bạch. Nên chăng, mỗi loại quy chế, quy định, luật pháp cần lượng hóa trách nhiệm, quyền hạn của người đứng đầu, CBĐV dưới quyền trong thực hành nêu gương; làm rõ quyền hạn gắn với trách nhiệm, giáo dục đi đôi với kiểm tra, giám sát, tự giác gắn liền với bắt buộc CBĐV thực hiện. Hiện nay, quy định nêu gương trở thành Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương là bước tiến quan trọng, dấu ấn đột phá về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, đáp ứng yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới. Để vai trò nêu gương của CBĐV ngày càng được lan tỏa, cần phải tiến dần tới luật hóa, có chế tài đầy đủ bảo đảm tính thực thi hiệu quả của phương thức nêu gương. Theo kết quả khảo sát ở 34 huyện của 7 tỉnh thuộc khu vực miền Trung, Tây Nguyên, Tây Bắc và một số đầu mối trực thuộc cơ quan Trung ương cho thấy: Các cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là các đảng bộ trực thuộc Trung ương lãnh đạo duy trì khá chặt chẽ việc đăng ký nêu gương của CBĐV, nhất là người đứng đầu và đội ngũ chủ chốt. Theo đó, căn cứ quy định của Trung ương, của tỉnh, thành phố và định hướng nêu gương của từng cơ quan, địa phương, việc tổ chức cho CBĐV làm bản đăng ký nêu gương và cam kết nêu gương (CKNG) khá bài bản, chặt chẽ theo phân cấp. Bản đăng ký nêu gương là sự cụ thể hóa quy định nêu gương sát với cương vị, chức trách được giao của từng CBĐV. Thời gian hoàn thành bản đăng ký và CKNG thường diễn ra vào đầu năm; được trình bày đầy đủ tại chi bộ. Vào dịp kiểm điểm cuối năm, mỗi CBĐV rà soát, bổ sung nội dung đăng ký nêu gương cho phù hợp với đặc điểm, tình hình nhiệm vụ mới và yêu cầu khắc phục các hạn chế, yếu kém của năm trước (nếu có). Thế nhưng, đi sâu đánh giá chất lượng và nội hàm của việc CKNG thì vẫn còn đó nhiều điều băn khoăn, trăn trở. Gần như phần lớn CBĐV có nội dung đăng ký nêu gương khá toàn diện, bám vào 4 mặt công tác lớn, nội hàm rộng và rất khó hoàn thành trong một khoảng thời gian ngắn. Nhiều ý kiến cho rằng, nội dung đăng ký, CKNG chỉ nên xác định một đến hai việc cần kíp đối với mình và đối với tổ chức. Ví như điểm yếu cần khắc phục, nêu gương là việc gì đó mà tổ chức cần để phát huy vai trò đầu tàu gương mẫu và dẫn dắt cơ quan, tập thể. Ở nhiều nơi lại sinh ra câu chuyện, CKNG viết xong thì để đó, người CKNG còn không nhớ rõ nội dung mình đã xác định từ đầu năm. Nhiều CBĐV thể hiện nội dung cam kết kiểu na ná giống nhau; năm sau chẳng khác gì năm trước. Dù theo phân cấp, nhưng cấp dưới lại lựa chọn nội dung nêu gương không khác gì CKNG của cấp trên, như kiểu sao chép máy móc; nhiều CKNG được hoàn thành sơ sài, có biểu hiện đối phó, phục vụ công tác kiểm tra... Thực trạng trên phản ánh phần nào căn bệnh hình thức trong triển khai CKNG, gây khó cho công tác triển khai, thực hiện, quản lý, giám sát, tổng kết, báo cáo kết quả nêu gương... Thế mới có chuyện, không ít nơi duy trì việc thực hành nêu gương một cách cứng nhắc, nặng giấy tờ, hình thức. Thậm chí ngay trong phần việc những tưởng là “nhu cầu tự thân” của CBĐV thì chính sự gò ép về mặt văn bản, giấy tờ, thủ tục hành chính gây tốn kém vật chất và khiến công tác tổ chức, vận hành trở nên rườm rà mà hiệu quả thu về chỉ khiến cho căn bệnh hình thức càng trở nên trầm kha. Có nơi nhầm tưởng việc tổ chức viết CKNG là kết quả đạt được của cơ quan, địa phương mình, rồi tự hào thể hiện trong báo cáo, ví như: 100% CBĐV đăng ký nội dung “tự soi, tự sửa”; 100% cán bộ CKNG; 100% CBĐV chịu sự giám sát của chi bộ và các tổ chức quần chúng; 100% đối tượng có kế hoạch tu dưỡng, rèn luyện... Nhiều cán bộ phụ trách lĩnh vực này kêu than: Thủ tục hành chính trong duy trì việc nêu gương chưa hợp lý, vừa tốn giấy mực, vừa tốn công sức của một bộ phận cán bộ, công chức. Chính vì vậy, để nêu gương thiết thực, việc đăng ký, CKNG cần phải có trọng tâm, trọng điểm, thực sự là những điều cần kíp, gắn với lòng nhiệt huyết, tinh thần, trách nhiệm của từng CBĐV. Các cấp bắt buộc phải gắn chặt giữa CKNG với xây dựng kế hoạch hiện thực với quy trình, bước đi cụ thể, bảo đảm tiến độ hoàn thành; chứ không cầu toàn, đăng ký chiếu lệ. Cũng bởi thế mà đối với các đồng chí cán bộ Trung ương, cán bộ cấp cao của Đảng, cán bộ chủ trì, chủ chốt rất cần hai chiều giám sát hiệu quả việc thực hành nêu gương. Một mặt, tổ chức đảng cùng cấp theo dõi, góp ý, giúp đỡ và giám sát thực hiện; mặc khác phải có sự đồng hành, giám sát của Trung ương, cơ quan chức năng Trung ương. Với những điển hình thực chất, cần có những đánh giá đúng về hiệu quả thực hành nêu gương, gắn với việc quy hoạch, sử dụng, bổ nhiệm cán bộ. Cán bộ không thực hành nêu gương, nhất quyết không đưa vào quy hoạch; cán bộ nêu gương kém, cần đưa ra khỏi quy hoạch, thậm chí phải được thanh lọc, thải loại kịp thời. Việc thực hành nêu gương nhất thiết phải thực hiện tròn khâu: CKNG, giám sát nêu gương, đánh giá chất lượng nêu gương và kiểm tra, tổng kết hiệu quả nêu gương, gắn với thi đua, khen thưởng và kỷ luật cán bộ. Định kỳ hằng năm (vào dịp cuối năm), cùng với việc kiểm điểm đảng viên và kiểm điểm công tác cuối năm, các cấp ủy, chi bộ tiến hành đánh giá kết quả việc thực hành nêu gương của CBĐV; mỗi CBĐV cũng tự đánh giá việc thực hành nêu gương là một nội dung trong bản tự kiểm điểm hằng năm. Kết quả thực hành nêu gương là một trong các căn cứ để đánh giá, xếp loại CBĐV hằng năm. Định kỳ hoặc đột xuất, cấp ủy cấp trên phải tổ chức kiểm tra đối tượng trực thuộc trong việc đăng ký và thực hiện CKNG của cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp dưới; cấp ủy cùng cấp kiểm tra việc thực hiện quy định nêu gương của CBĐV thuộc quyền; có hình thức biểu dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân, đơn vị làm tốt và nhắc nhở, kiểm điểm những tập thể, cá nhân làm chưa tốt. Cũng rất cần nghiên cứu, điều chỉnh lại một số tiêu chí trong đánh giá thi đua; không nên áp đặt những tiêu chí sơ cứng, nặng cơ cấu, gây khó cho việc xem xét, bình bầu khen thưởng đối với cán bộ chủ trì, chủ chốt, hoặc nảy sinh tâm lý nhường các hình thức khen thưởng cho cấp dưới và quần chúng. Cần thiết nên định khung việc thi đua khen thưởng theo đối tượng, ví như việc thi đua giữa đội ngũ cán bộ cấp cao, cán bộ chủ chốt các cấp với nhau... Có như vậy thì mới thuận cho việc phát hiện, xây dựng, nhân rộng điển hình cán bộ chủ chốt, cán bộ là người đứng đầu, cán bộ cấp cao của Đảng.

Nghe bằng mắt và nhìn bằng con tim

Phải hỏi nhiều lần, chúng tôi mới biết người đàn ông trung niên mặc chiếc áo sờn vai, đầu đội mũ cứng đang vớt bèo bên hồ là đồng chí Dương Kim Huy, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Tượng Sơn (Thạch Hà, Hà Tĩnh). Biết có người cần gặp, đồng chí Huy cười hiền: "Các đồng chí cố gắng đợi mình một lúc. Mình đang nhỡ việc hướng dẫn cho bà con". Chiều hôm ấy, đưa chúng tôi đi trên con đường bê tông thẳng mịn, đồng chí Dương Kim Huy cho biết: “Tượng Sơn từng là xã nghèo, nhưng từ năm 2021 đã về đích nông thôn mới kiểu mẫu”. Năm 2015, khi bắt tay thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, Tượng Sơn là xã bãi ngang, xa trung tâm, hệ thống hạ tầng thiếu và yếu, tỷ lệ hộ nghèo 43,88%, mới chỉ có 3/19 tiêu chí đạt chuẩn. Đồng chí Huy cho biết: “Từ xuất phát điểm thấp nên chúng tôi xác định phương châm: 19 tiêu chí là định hướng, xây dựng hạ tầng là tiền đề, phát triển sản xuất là gốc, nâng cao thu nhập cho người dân là mục tiêu, lợi ích đem lại cho người dân là động lực và có sự đồng lòng góp sức của người dân là thành công”. Nhất quán phương châm ấy, đồng chí Huy cùng đội ngũ cán bộ thường xuyên tuyên truyền chủ trương, mục đích, ý nghĩa và nội dung xây dựng nông thôn mới cho nhân dân. Nhờ gần dân, lắng nghe dân nên đồng chí Huy mới biết chuyện, lâu nay có nhiều hộ dân trong xã gửi đơn, thư vượt cấp khiếu kiện về việc cán bộ xã giai đoạn trước giao đất không đúng quy trình, ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của dân. Bởi thế, anh cùng tập tập thể Đảng ủy xã thống nhất chủ trương hỗ trợ người dân một phần kinh phí và đất sản xuất ở khu vực mới, bàn giao mặt bằng khu tái định cư để các hộ dân xây dựng nhà ở. Để hiện thực chủ trương, anh trực tiếp đến từng hộ dân xin lỗi, đề xuất phương án và thuyết phục. Bằng cách làm đó, các hộ dân tin tưởng làm theo, chấm dứt khiếu kiện. Đồng chí Huy chia sẻ về kinh nghiệm công tác: "Đối với nhân dân, không phải việc gì bà con cũng chia sẻ, trải lòng khi vẫn còn những băn khoăn, bức xúc nên cán bộ phải biết khéo quan sát từng biểu hiện hành vi, cử chỉ để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng. Hơn thế, không phải cứ về với dân là có thể nhìn thấu mọi sự bằng ánh nhìn, mà có khi phải nhắm mắt lại, cảm nhận bằng chính con tim mình. Bởi thế, tôi tâm niệm là phải biết nghe bằng mắt và nhìn thấu mọi sự bằng con tim". Thời điểm đầu làm nông thôn mới, việc xây dựng đường giao thông trong xã gặp nhiều khó khăn. Để làm gương, đồng chí Huy tình nguyện hiến hơn 1.500m2 đất để làm đường và phục vụ công tác quy hoạch. Nhân dân thấy cán bộ gương mẫu nên đồng tình làm theo, từ đó phong trào hiến đất, hiến tài sản làm đường lan tỏa rộng khắp. Để tìm cách giảm tỷ lệ hộ nghèo, nâng cao đời sống người dân, đồng chí Huy cùng Đảng ủy xã tập trung chỉ đạo thực hiện đề án phát triển sản xuất nâng cao thu nhập cho người dân. Để làm gương, đồng chí Huy triển khai mô hình nuôi tôm kết hợp chăn nuôi gia súc, gia cầm tại vườn mẫu của gia đình mình rồi hướng dẫn nhân dân. Nhận thấy nguồn lợi, các hộ dân đến để học tập, làm theo. Đến nay, xã có hơn 250 vườn hộ có thu nhập 80-100 triệu đồng/năm; gần 300 vườn cho thu nhập 30-40 triệu đồng/năm; hàng chục mô hình nuôi tôm, cua, cá nước ngọt... góp phần đưa thu nhập đầu người bình quân toàn xã lên 53 triệu đồng/người/năm.

Sâu sát, giải quyết tốt tư tưởng bộ đội

Với đặc thù đơn vị có quân số đông, thực hiện nhiều nhiệm vụ cường độ cao, để quản lý tốt tư tưởng bộ đội, thời gian qua, Đảng ủy, chỉ huy Sư đoàn 3 (Quân khu 1) triển khai thực hiện hiệu quả công tác nắm bắt, định hướng tư tưởng bộ đội, giải quyết kịp thời những vấn đề phát sinh, qua đó hạn chế và từng bước đẩy lùi vi phạm kỷ luật, góp phần xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Vào giờ nghỉ chiều cuối tuần, trong khuôn viên nhà tâm tình đồng đội, các chiến sĩ trẻ Đại đội 3, Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 12 ngồi quây quần bên Thượng úy Nguyễn Quang Hiếu, Chính trị viên Đại đội. Tiếng trò chuyện vui vẻ, cười nói râm ran đã xóa đi khoảng cách giữa cán bộ với chiến sĩ. Thế nhưng, ít ai biết trong số những chiến sĩ đó, có đồng chí từng có suy nghĩ tiêu cực, dao động tư tưởng bởi nhớ nhà và hoàn cảnh gia đình khó khăn. Điển hình như trường hợp chiến sĩ Nguyễn Bá Hội, Trung đội 8. Nguyễn Bá Hội quê ở xã An Bình (Thuận Thành, Bắc Ninh), có bố và mẹ đều tham gia kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc, bố mới mất cách đây không lâu do mắc bệnh hiểm nghèo, các anh chị đều đã xây dựng gia đình riêng. Do thương mẹ khuya sớm một mình, sức khỏe yếu, mấy tuần đầu trong môi trường quân ngũ, Hội có biểu hiện dao động tư tưởng, tâm trạng buồn chán. Nắm được hoàn cảnh của Hội, chỉ huy đơn vị đã trao đổi, phân công cán bộ thường xuyên gần gũi, quan tâm, động viên, giúp đỡ Hội vượt qua khó khăn, yên tâm phấn đấu học tập, công tác tốt. Nhờ sử dụng nhiều “kênh” thông tin, chỉ huy Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 12 kịp thời biết được trường hợp của chiến sĩ Nguyễn Văn Nam, Trung đội 12, Đại đội 4, khi về đơn vị công tác sống khép mình, ít chia sẻ với đồng đội, tâm trạng hay lo lắng, chưa tập trung trong học tập, rèn luyện vì xa gia đình, con còn nhỏ. Nhưng chính sự sâu sát, ân cần, sẻ chia của chỉ huy đơn vị đã giúp Nam thêm nghị lực, vượt lên chính mình. Nguyễn Văn Nam tâm sự: “Được cán bộ chỉ huy các cấp thường xuyên quan tâm, động viên, giúp đỡ hằng ngày, đến nay, tôi thấy yên tâm hơn về gia đình, an tâm tư tưởng học tập, công tác. Đặc biệt, đơn vị đã tạo điều kiện cho tôi được gặp vợ, con thông qua chương trình giao lưu giữa cán bộ, chiến sĩ cũ với chiến sĩ mới, đây là món quà ý nghĩa, tôi thấy bất ngờ và hạnh phúc lắm”. Năm 2023, Sư đoàn 3 tiếp nhận gần 1.000 chiến sĩ mới thuộc các tỉnh: Lạng Sơn, Bắc Ninh, Bắc Giang và Thái Nguyên. Để nắm và giải quyết tốt tình hình tư tưởng bộ đội, các đơn vị thuộc Sư đoàn đã thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp, sử dụng nhiều “kênh” thông tin, tăng cường dự báo. Đặc biệt, khi tiếp nhận chiến sĩ về đơn vị, cán bộ các cấp từ tiểu đội đến đại đội nắm được hoàn cảnh gia đình, năng khiếu, sở trường, tâm tư, nguyện vọng, nickname trên mạng xã hội Facebook, Zalo... đồng thời quan tâm, động viên, giúp đỡ kịp thời đối với các đồng chí có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Từ đó, cán bộ, tổ 3 người, tổ tư vấn pháp luật thường xuyên theo sát bộ đội, thực hiện "4 cùng" (cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng sinh hoạt) với chiến sĩ, kịp thời phát hiện những diễn biến tư tưởng của chiến sĩ để nắm, quản lý tư tưởng phù hợp. Theo Thượng tá Hoàng Quốc Tuấn, Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 3, xác định công tác nắm và quản lý tư tưởng bộ đội có vai trò quan trọng, tác động trực tiếp đến chất lượng huấn luyện và khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị, thời gian qua, Đảng ủy, chỉ huy Sư đoàn đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị làm tốt công tác tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ, nhất là chiến sĩ mới, trong đó tập trung quán triệt tốt các nghị quyết, chỉ thị, quy định, hướng dẫn của trên. Bên cạnh đó, Sư đoàn chỉ đạo các đơn vị tổ chức sắp xếp, kiện toàn đội ngũ cán bộ các cấp có đủ trình độ năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao. Tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác quản lý tư tưởng cho đội ngũ cán bộ các cấp. Chỉ đạo các đơn vị chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội, đẩy mạnh thực hiện các mô hình như: “Lá thư từ Sư đoàn 3 Sao Vàng”, “Tổ 3 người cùng tiến”, “Đồng hành cùng chiến sĩ”... Thông qua đó, đội ngũ cán bộ các cấp nắm chắc diễn biến tư tưởng của bộ đội, từ đó tham mưu, đề xuất với cấp ủy, chỉ huy các cấp có những biện pháp giải quyết tình huống tư tưởng phát sinh, giúp cán bộ, chiến sĩ yên tâm công tác, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Bồi đắp lịch sử truyền thống

Nét nổi bật trong thực hiện Chỉ thị số 20-CT/TW ngày 18-1-2018 của Ban Bí thư về tiếp tục tăng cường, nâng cao chất lượng nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền, giáo dục lịch sử Đảng trong Đảng bộ Bộ đội Biên phòng (BĐBP), đó là: Các đơn vị đã tích cực triển khai đưa nội dung tuyên truyền lịch sử Đảng vào sinh hoạt chi bộ; lồng ghép giáo dục lịch sử trong các kế hoạch, chương trình giáo dục chính trị tại đơn vị, bảo đảm chặt chẽ, hiệu quả. Minh chứng như Đồn Biên phòng Leng Su Sìn, BĐBP tỉnh Điện Biên đóng quân trên địa bàn xã Leng Su Sìn (Mường Nhé, Điện Biên), nơi có Khu tưởng niệm Anh hùng liệt sĩ Trần Văn Thọ, "địa chỉ đỏ" về giáo dục lịch sử truyền thống. Để tuyên truyền, giáo dục lịch sử truyền thống cho bộ đội, thời gian qua, đơn vị duy trì thường xuyên các buổi sinh hoạt chuyên đề về ý nghĩa lịch sử, tinh thần chiến đấu, cống hiến của Anh hùng liệt sĩ Trần Văn Thọ và cán bộ, chiến sĩ biên phòng đối với đồng bào Tây Bắc. Trung tá Đinh Công Điện, Chính trị viên Đồn Biên phòng Leng Su Sìn cho biết: “Đơn vị còn phối hợp với các tổ chức, đoàn thể tổ chức cho thanh niên gặp gỡ các nhân chứng, tìm hiểu các di tích lịch sử; tham gia chỉnh trang nghĩa trang liệt sĩ, thắp hương tri ân các anh hùng liệt sĩ. Đây là hình thức giáo dục lịch sử trực quan, sinh động, thiết thực, ý nghĩa đang được nhân rộng”. Cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Leng Su Sìn ôn lại lịch sử truyền thống tại Khu tưởng niệm Anh hùng liệt sĩ Trần Văn Thọ (tháng 8-2022). Để mềm hóa nội dung giáo dục lịch sử, bên cạnh việc tổ chức giáo dục trực tiếp trên giảng đường, thời gian qua, các đơn vị trong toàn lực lượng triển khai bằng nhiều hình thức trực quan, sinh động, như: Chiếu phim tài liệu lịch sử về đề tài người lính; tổ chức tọa đàm lồng ghép các câu hỏi về lịch sử; tổ chức tham quan tìm hiểu tại nhà bảo tàng, nhà truyền thống, Phòng Hồ Chí Minh của đơn vị; viết và đăng tin, bài trên trang mạng xã hội tuyên truyền cho cán bộ, chiến sĩ về lịch sử của dân tộc, của Đảng, Quân đội, BĐBP... Thông qua đó bồi đắp cho cán bộ, chiến sĩ niềm tự hào về truyền thống; bồi đắp động cơ, ý chí, quyết tâm thực hiện nhiệm vụ. Để nâng cao chất lượng giáo dục lịch sử cho bộ đội, thời gian qua, các đơn vị trong toàn lực lượng đã phát huy hiệu quả hoạt động của hệ thống thiết chế văn hóa trong BĐBP. Toàn lực lượng thành lập mới 45 nhà văn hóa; xây dựng và trưng bày mới Bảo tàng Biên phòng, phòng truyền thống ở Bộ chỉ huy BĐBP các tỉnh, thành phố, đơn vị trực thuộc; Phòng Hồ Chí Minh ở các đồn biên phòng; xây dựng Tượng đài “Bác Hồ với chiến sĩ biên phòng” ở các đơn vị; xuất bản bộ ảnh “Truyền thống Anh hùng LLVT nhân dân của BĐBP Việt Nam”... Phát biểu tại Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 20-CT/TW của Ban Bí thư mới đây, Thiếu tướng Nguyễn Anh Tuấn, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy BĐBP khẳng định: “5 năm qua, Đảng ủy BĐBP đã làm tốt công tác lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền, giáo dục lịch sử Đảng trong toàn lực lượng, góp phần xây dựng Đảng bộ BĐBP vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ; lãnh đạo lực lượng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền Tổ quốc”.

Không để bộ đội xuất ngũ thiệt thòi trong đào tạo nghề

 Chỉ vì một số quy định thiếu thực tế mà hiện nay, công tác đào tạo nghề cho bộ đội xuất ngũ (BĐXN) chưa đạt hiệu quả cao, làm ảnh hưởng đến chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước và Quân đội. Nguyên nhân này xuất phát từ đâu, hướng giải quyết thế nào để BĐXN không bị thiệt thòi?

Những vướng mắc liên quan đến đào tạo nghề cho BĐXN đã được Báo Quân đội nhân dân nhiều lần phản ánh, nhưng chưa được tháo gỡ. Quá trình tìm hiểu tại cơ sở, chúng tôi tiếp tục ghi nhận nhiều ý kiến của chỉ huy cơ quan quân sự các địa phương về vấn đề này. Thượng tá Trần Vương Long, Phó tham mưu trưởng Bộ CHQS tỉnh Ninh Bình cho biết: “Qua tiếp xúc và nắm bắt, một số cơ sở đào tạo nghề phản ánh với chúng tôi, do UBND tỉnh Ninh Bình chưa phê duyệt danh mục ngành nghề đào tạo nên sau khi được hỗ trợ đã không tiếp nhận, đào tạo BĐXN vì sẽ không được thanh toán kinh phí đào tạo. Sau đó, chúng tôi có kiến nghị, đề xuất với UBND tỉnh và đã được tháo gỡ. Một vấn đề khác là trường hợp thanh niên đã tốt nghiệp cao đẳng, đại học rồi mới nhập ngũ thì cấp thẻ học nghề khi xuất ngũ có cần thiết không?". Trong khi đó, Thượng tá Nguyễn Thế Dương, Chính trị viên Ban CHQS huyện Thạch Thành (Thanh Hóa) nêu ý kiến: “Giá trị thẻ học nghề nên được kéo dài thay vì 12 tháng như hiện nay, cùng với đó cần bảo đảm dễ thanh toán, quyết toán”.

 

Liên quan đến những vấn đề này, cử tri TP Hải Phòng và tỉnh Long An đã có kiến nghị gửi đến Bộ Quốc phòng thông qua Ban Dân nguyện của Quốc hội. Trả lời cử tri, Bộ Quốc phòng nêu rõ: Những năm qua, Bộ Quốc phòng thường xuyên phối hợp với Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội (LĐTBXH) chỉ đạo, hướng dẫn các cấp, ngành, địa phương, đơn vị, các cơ sở đào tạo nghề tăng cường tuyên truyền, thực hiện có hiệu quả chính sách hướng nghiệp dạy nghề, tạo việc làm cho BĐXN và công tác hậu phương Quân đội. BĐXN tham gia học nghề ở trình độ sơ cấp được miễn học phí, hỗ trợ một phần chi phí về chỗ ở, tiền ăn, sinh hoạt phí. Vì vậy, số lượng BĐXN đăng ký, tham gia học nghề tại các cơ sở dạy nghề trên toàn quốc từng năm đều tăng, đa số sau khi học nghề được hỗ trợ giới thiệu việc làm tại những cơ quan, doanh nghiệp trên địa bàn hoặc tham gia thị trường lao động ngoài nước, có thu nhập ổn định. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện còn một số vướng mắc như cử tri kiến nghị; nhiều trường hợp trước khi nhập ngũ đã tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng, đại học, vì vậy, khi xuất ngũ không có nhu cầu học nghề; thời gian sử dụng thẻ và thủ tục thanh toán, quyết toán còn bất cập... dẫn đến chưa phát huy tốt chính sách của Đảng, Nhà nước đối với BĐXN. Về giải pháp, Bộ Quốc phòng tiếp thu, nghiên cứu và phối hợp chặt chẽ với Bộ LĐTBXH kiến nghị Chính phủ sửa đổi Nghị định số 61/2015/NĐ-CP cho phù hợp, sát với thực tiễn và bảo đảm tốt hơn quyền lợi đối với BĐXN.

Theo tìm hiểu của chúng tôi, để thanh toán kinh phí đào tạo, các cơ sở đào tạo nghề thực hiện theo hướng dẫn tại Mục 1, Điểm c, Khoản 5, Điều 3 Thông tư số 43/2016/TT-BLĐTBXH của Bộ LĐTBXH. Theo đó, hằng năm lập kế hoạch, dự toán kinh phí thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho thanh niên gửi bộ, ngành, cơ quan Trung ương, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thẩm định phê duyệt, trình cấp có thẩm quyền bố trí kinh phí. Cụ thể: Cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập thuộc bộ, ngành, cơ quan Trung ương trực tiếp quản lý gửi về bộ, ngành, cơ quan Trung ương; cơ sở giáo dục nghề nghiệp thuộc địa phương quản lý, cơ sở giáo dục nghề nghiệp tư thục, cơ sở giáo dục nghề nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gửi sở LĐTBXH. Từ thực tế thực hiện quy định này, nhiều cơ sở đào tạo nghề cho biết, do BĐXN không đăng ký học tập trung mà mỗi khóa học chỉ có vài người là BĐXN nên không biết phải dự toán kinh phí thế nào.

Trả lời câu hỏi của phóng viên Báo Quân đội nhân dân, đại diện Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp (Bộ LĐTBXH) cho biết, theo báo cáo của các địa phương, từ năm 2016 đến nay, đã có hơn 200.000 thanh niên hoàn thành nghĩa vụ quân sự được hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 3 tháng trước khi tham gia thị trường lao động. Đồng thời cho thấy một số khó khăn, vướng mắc trong đào tạo nghề đối với BĐXN như: Một số địa phương chưa lập kế hoạch, dự toán kinh phí hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp cho thanh niên để tổng hợp chung trong kế hoạch, dự toán chi ngân sách nhà nước của đơn vị gửi cơ quan tài chính hoặc có lập kế hoạch, dự toán nhưng xác định chỉ tiêu, bố trí ngân sách thiếu so với nhu cầu thực tế, nhất là những tỉnh, thành phố trung tâm của vùng, có nhiều trường dạy nghề uy tín nên người học nghề ở những địa phương khác tìm đến đăng ký học, trong khi các trường dạy nghề không thể nhận đào tạo vượt chỉ tiêu được giao. Thời hạn sử dụng thẻ học nghề chỉ 12 tháng nên những người được cấp thẻ chưa thể tham gia học nghề do nguyên nhân khách quan, không thể đi học kịp thời, ảnh hưởng đến quyền lợi của người học. Một số địa phương chưa tự cân đối được ngân sách nên chưa bố trí được kinh phí để quyết toán chi hỗ trợ đào tạo nghề trình độ sơ cấp cho thanh niên. Ngoài ra, việc quyết toán kinh phí tại nhiều địa phương còn vướng mắc về bố trí nguồn kinh phí, đối tượng thụ hưởng (BĐXN trong và ngoài địa phương) nên có tình trạng nhiều đơn vị chưa được thanh toán chi phí đào tạo, hoặc thanh toán chậm dẫn đến tâm lý e ngại khi tiếp nhận thẻ học nghề và tổ chức đào tạo nghề cho đối tượng trên.

Theo đại diện Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp: Đơn vị đã tham mưu với Bộ LĐTBXH chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương, cơ sở xây dựng kế hoạch và dự toán ngân sách nhà nước cho công tác đào tạo nghề đối với BĐXN. Bố trí kinh phí và thực hiện thanh toán, quyết toán kinh phí đào tạo nghề cho BĐXN trong và ngoài địa phương theo hướng dẫn của Bộ Tài chính đã trả lời UBND tỉnh Bình Thuận, UBND TP Cần Thơ và một số địa phương để thống nhất thực hiện; đồng thời, phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Công an, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đánh giá kết quả triển khai Nghị định số 61/2015/NĐ-CP và trao đổi về phương án giải quyết các tồn đọng trong thanh toán, quyết toán kinh phí hỗ trợ đào tạo nghề cho thanh niên.

Đào tạo nghề cho BĐXN là chủ trương lớn, đúng đắn của Đảng, Nhà nước và Quân đội nhằm quan tâm, động viên thanh niên thực hiện nghĩa vụ quân sự, bảo vệ Tổ quốc. Chính vì vậy, những vướng mắc, bất cập nêu trên cần phải được giải quyết một cách thấu đáo để chủ trương, chính sách này phát huy hiệu quả như mong đợi.

 

Câu chuyện kỷ luật: Mối nguy từ việc in hộ bạn gái!

Đầu giờ sáng, Thượng úy Phan Hải đang tập trung làm việc thì Trưởng ban Hùng gọi: “Hải ơi, in cái báo cáo hôm qua tôi giao cậu soạn rồi mang vào đây ngay nhé”! Thấy giọng Trưởng ban đầy vẻ gấp gáp, Thượng úy Phan Hải chạy vào: - Báo cáo Trưởng ban, sáng nay tôi vào đơn vị sớm, bật máy tính dùng chung của ban lên định in văn bản thì thấy báo lỗi. Tôi gọi cho cậu nhân viên công nghệ thông tin thì cậu ấy đang đi công tác. Nghe tôi tả lại tình trạng, cậu ấy phán đoán khả năng máy tính bị nhiễm virus độc hại. - Sao lại nhiễm virus được nhỉ? Máy tính đó không kết nối mạng, trong đơn vị, mọi người đều sử dụng USB an toàn do cơ quan công nghệ thông tin cấp cơ mà? Đúng lúc Trưởng ban Hùng đang sốt sắng hỏi Thượng úy Phan Hải thì Trung úy Văn Thành, nhân viên trẻ của phòng bước vào. Nghe thấy Trưởng ban Hùng đang hỏi Thượng úy Phan Hải, Trung úy Văn Thành tỏ vẻ lúng túng. Thấy vậy, Trưởng ban Hùng quay sang hỏi Văn Thành: - Hôm qua cậu có sử dụng máy tính dùng chung không? - Dạ có... Tôi mở máy để in tài liệu nghiệp vụ giúp bạn gái đang là giáo viên trường tiểu học thị trấn ạ! - Thế cậu dùng USB của cô ấy luôn à? - Báo cáo... Trước khi in, tôi đã gọi điện hỏi thì cô ấy nói đây là USB mới, bảo đảm tuyệt đối an toàn. Vậy nên tôi mới... Dù rất nóng giận nhưng trông vẻ mặt hối lỗi của Văn Thành, Trưởng ban Hùng cố kiềm chế, hạ giọng: - Cậu đã được quán triệt kỹ về nguyên tắc sử dụng máy tính, kết nối internet và các quy tắc bảo mật, an toàn, vậy mà vẫn vi phạm quy định. Bây giờ máy tính bị hỏng, ảnh hưởng đến công việc chung. Ngoài ra, các tài liệu quan trọng trong máy tính rất dễ bị virus phá hủy, thậm chí lấy cắp nữa. Cậu có biết việc làm sai và rất chủ quan của cậu có thể gây nguy hiểm thế nào không? Trung úy Văn Thành ấp úng nhận lỗi, rồi theo lệnh của Trưởng ban Hùng liên hệ ngay với đồng chí phụ trách công nghệ thông tin của đơn vị để xử lý, khắc phục sự cố. Rất may, chiếc USB của bạn gái Trung úy Văn Thành không chứa loại virus phá hủy tài liệu và ăn cắp thông tin. Ngay sáng hôm ấy, Trưởng ban Hùng triệu tập cuộc họp để phê bình, kiểm điểm Trung úy Văn Thành và rút kinh nghiệm sâu sắc trong toàn ban về việc phải chấp hành nghiêm các quy định sử dụng máy tính nội bộ, giữ bảo mật, an toàn thông tin... Qua các ý kiến phát biểu, Trung úy Văn Thành nhận rõ khuyết điểm của mình: Lơ là, chủ quan, đơn giản trong việc sử dụng máy tính cần bảo mật của đơn vị có thể gây ra mối nguy hiểm lớn.

Nam Định nỗ lực xây dựng nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu

Xác định xây dựng nông thôn mới (NTM) là nhiệm vụ chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân, vì vậy, tỉnh Nam Định đã ban hành nhiều chính sách, văn bản chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện chương trình xây dựng NTM nâng cao, NTM kiểu mới giai đoạn 2021-2025. Qua đó cải thiện diện mạo nông thôn, thực hiện thắng lợi Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM.

Năm 2016, sau khi được UBND tỉnh Nam Định công nhận đạt chuẩn NTM, xã Yên Đồng, huyện Ý Yên tiếp tục vận động nhân dân phát triển kinh tế, huy động mọi nguồn lực để củng cố và tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả các tiêu chí với đích đến là NTM nâng cao, NTM kiểu mẫu. Trong đó, xã xác định tập trung vào các tiêu chí về giao thông, phát triển sản xuất, xây dựng đời sống văn hóa và bảo đảm vệ sinh môi trường nông thôn.

Với phương châm “dễ làm trước, khó làm sau”, “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, xã Yên Đồng đã huy động tối đa các nguồn lực trong dân để cùng góp công, góp sức hoàn thành từng mục tiêu đặt ra. Cùng với việc tập trung huy động các nguồn lực xây dựng cơ sở môi trường, xã Yên Đồng còn quan tâm phát triển sản xuất, tạo thu nhập ổn định, bền vững, nâng cao đời sống nhân dân.

Từ sự phát triển kinh tế, tỷ lệ hộ nghèo ở xã Yên Đồng giảm xuống chỉ còn hơn 2%; tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt hơn 93%... Đến tháng 9-2022, xã Yên Đồng được Chủ tịch UBND tỉnh Nam Định ký quyết định công nhận xã đạt chuẩn NTM nâng cao.

Còn như xã Giao Phong, huyện Giao Thủy được công nhận xã đạt chuẩn NTM nâng cao từ năm 2020, nhưng với mục tiêu cuối cùng là nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân, xã Giao Phong xác định tiếp tục tập trung hoàn thiện các tiêu chí NTM kiểu mẫu, trong đó chú trọng đầu tư xây dựng, hoàn thiện cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống cộng đồng. Khi triển khai thực hiện, tất cả công việc chung đều được công khai, tham khảo ý kiến nhân dân trước khi thực hiện, từ đó tạo sự đoàn kết, thống nhất cao và lan tỏa niềm tin, tinh thần tự nguyện, tự giác trong nhân dân.

Do đó, đến nay, đời sống nhân dân ở Giao Phong đã được cải thiện, thu nhập bình quân đầu người của xã đạt hơn 73 triệu đồng/người/năm. Đặc biệt, Giao Phong còn là điểm sáng về giáo dục toàn diện ở cả 3 cấp học, các trường học đều đạt chuẩn quốc gia mức độ 2, chuẩn xanh-sạch-đẹp, an toàn... Với những nỗ lực của Đảng ủy, chính quyền và nhân dân, tháng 12-2022, xã Giao Phong là xã đầu tiên của tỉnh Nam Định được công nhận đạt chuẩn NTM kiểu mẫu. Ông Phạm Văn Sơn, Chủ tịch UBND xã Giao Phong cho biết: “Với tinh thần xây dựng NTM chỉ có điểm khởi đầu, không có điểm kết thúc, đến nay, địa phương đã đạt NTM kiểu mẫu. Để đạt được điều đó, cần lấy người dân làm trung tâm, phấn đấu tất cả vì sự hài lòng của nhân dân. Mọi đề án, kế hoạch khi triển khai xây dựng NTM phải phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, từ đó tạo sự đồng thuận trong nhân dân cùng chung sức hoàn thành các tiêu chí đề ra”.

Theo đánh giá của Ban chỉ đạo các chương trình mục tiêu quốc gia tỉnh Nam Định, sau hơn một năm thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 18-6-2021 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về xây dựng NTM nâng cao, kiểu mẫu giai đoạn 2021-2025, tỉnh Nam Định đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Đến nay, toàn tỉnh có 182 xã, thị trấn trong tổng số 204 xã, thị trấn đạt chuẩn NTM nâng cao, có 7 xã đạt chuẩn NTM kiểu mẫu; đời sống vật chất, tinh thần, mức hưởng thụ văn hóa, sự hài lòng của người dân nông thôn được nâng lên. Kết quả của chương trình xây dựng NTM nâng cao, NTM kiểu mẫu mà tỉnh Nam Định đạt được đã cho thấy sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các cấp ủy Đảng, chính quyền từ tỉnh đến các thôn, xóm.

Theo ông Nguyễn Sinh Tiến, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chánh văn phòng Điều phối NTM tỉnh Nam Định, yếu tố then chốt tạo nên kết quả trên đó là có sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện quyết liệt, đồng bộ của chính quyền các cấp từ tỉnh đến cơ sở. Đồng thời, các địa phương cũng chủ động huy động nguồn lực để thực hiện các tiêu chí, trong đó trọng tâm tập trung vào các nội dung như hoàn thiện kết cấu hạ tầng, kinh tế-xã hội theo hướng hiện đại, bảo đảm kết nối đồng bộ giữa nông thôn với đô thị...

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, phong trào xây dựng NTM nâng cao, NTM kiểu mẫu ở Nam Định vẫn chưa đồng đều giữa các địa phương, tiến độ thực hiện ở một số địa phương còn chậm, kết quả thực hiện tiêu chí chưa bền vững, nhất là tiêu chí bảo vệ môi trường, tiêu chí sản xuất thu nhập, tiến độ thi công công trình cung cấp nước sạch tập trung tại một số địa phương còn chậm...

Vì vậy, để đạt mục tiêu đến năm 2025 toàn tỉnh có 50% số xã, thị trấn trở lên đạt chuẩn NTM nâng cao, 25% số xã, thị trấn trở lên đạt chuẩn NTM kiểu mới, 50% số huyện đạt chuẩn NTM nâng cao, UBND tỉnh Nam Định đã đề ra nhiều giải pháp, trong đó có phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, bảo đảm kết nối nông thôn-đô thị và liên vùng; huy động, quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn lực, nhất là nguồn lực xã hội hóa để xây dựng NTM nâng cao, NTM kiểu mẫu. Tỉnh cũng khuyến khích người dân tự chủ, tự làm, tự chịu trách nhiệm trong xây dựng, quản lý, khai thác các cơ sở hạ tầng, thiết chế văn hóa...

 

Huấn luyện giỏi, xây dựng công trình hiệu quả

Là đơn vị được thành lập sau so với đội hình chung của Binh chủng Công binh, tính chất nhiệm vụ nặng nề, phức tạp, trên địa bàn rộng, song vượt qua những khó khăn, trở ngại, Lữ đoàn 293 từng bước phát triển, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng công trình, lập nhiều thành tích xuất sắc, xây đắp nên truyền thống “Chủ động, sáng tạo, tự lực, tự cường, trưởng thành, vững mạnh”. Hầu hết thời gian từ ngày tốt nghiệp Trường Sĩ quan Công binh, gắn bó với đơn vị từ đó đến nay, Đại tá Nguyễn Thế Lương, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 293 nhớ tường tận quá trình hình thành và phát triển của Lữ đoàn. Trước yêu cầu nhiệm vụ xây dựng công trình phòng thủ trong giai đoạn mới, ngày 8-4-1993, Bộ Quốc phòng ban hành quyết định thành lập Trung đoàn Công trình 293 (Đoàn Công binh Thăng Long) với nhiệm vụ chính trị trọng tâm là huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và xây dựng công trình quốc phòng. Sau ngày thành lập, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn nhanh chóng củng cố, ổn định nơi ăn, ở và ra quân xây dựng những công trình đầu tiên, đạt nhiều kết quả đáng khích lệ. Do tính chất nhiệm vụ bảo đảm công binh, tháng 8-2011, Bộ Quốc phòng ra quyết định tổ chức Trung đoàn 293 thành Lữ đoàn Công binh công trình 293. Từ đây, đơn vị có bước phát triển mới, với nhiệm vụ bổ sung là phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn và thực hiện các nhiệm vụ đột xuất khác ở khu vực miền Trung-Tây Nguyên. Khó có thể kể hết những khó khăn mà đơn vị phải trải qua như làm nhiệm vụ trong điều kiện dã ngoại, tính chất nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, phân tán trên phạm vi rộng, hầu hết cán bộ, chiến sĩ xa gia đình. Thế nhưng, bộ đội luôn phát huy tinh thần đoàn kết, quyết tâm khắc phục khó khăn, chủ động, sáng tạo trong công tác, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Có được kết quả đó, theo Đại tá Nguyễn Viết Cảnh, Chính ủy Lữ đoàn 293, đơn vị đã làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục truyền thống kết hợp với đẩy mạnh Phong trào Thi đua Quyết thắng, nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ. Cấp ủy, chỉ huy các cấp thường xuyên quan tâm, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, các tổ chức vững mạnh. Đối với từng nhiệm vụ, Lữ đoàn chủ động xây dựng kế hoạch, làm tốt công tác quán triệt, giáo dục, phân công thực hiện chặt chẽ, sử dụng lực lượng, phương tiện hợp lý; động viên, khích lệ cán bộ, chiến sĩ nghiên cứu, có nhiều sáng kiến, cải tiến kỹ thuật đưa vào sử dụng như: Giá súc rửa bình điện trong điều kiện dã ngoại (giúp việc súc rửa bình điện trở nên an toàn, bảo đảm yếu tố kỹ thuật, nhất là tại các công trình xa, lẻ, hạn chế thay mới); Băng chuyền tải bê tông trong thi công công trình (giúp tiết kiệm nhân lực, thời gian đổ bê tông, đẩy nhanh tiến độ công trình); Máy cưa mini cải tiến (sử dụng trong lắp ghép khung chống tạm, lắp đặt cốp pha đổ bê tông)... Vì vậy, các công trình luôn đạt và vượt tiến độ so với kế hoạch, đáp ứng yêu cầu đề ra, công trình sau chất lượng tốt hơn công trình trước. Có dịp theo dõi các phân đội huấn luyện, chúng tôi nhận thấy cán bộ, chiến sĩ đều nắm vững nội dung, thực hành thuần thục các động tác; ngoài ra, hệ thống thao trường, bãi tập, vật chất, mô hình học cụ huấn luyện được bảo đảm đầy đủ, đồng bộ, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ huấn luyện. Đại úy Trần Văn Đường, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 4 cho biết: “Đơn vị luôn bám sát phương châm “Cơ bản, thiết thực, vững chắc”, công tác huấn luyện liên tục được đổi mới, từ tổ chức tập huấn, bồi dưỡng cán bộ đến phương pháp tổ chức hội thi, hội thao nhằm đánh giá, kiểm tra thực chất kết quả huấn luyện giữa các phân đội; đồng thời, kết hợp chặt chẽ giữa huấn luyện với rèn luyện thể lực, huấn luyện với thi công công trình... Do vậy, nhiều năm liền đơn vị luôn đạt kết quả cao trong công tác huấn luyện”. Cùng với nhiệm vụ chính trị trọng tâm, Lữ đoàn luôn chuẩn bị chu đáo về mọi mặt, sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn. Nhiều năm qua, cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn luôn có mặt kịp thời giúp đỡ nhân dân khắc phục hậu quả bão lụt, chữa cháy rừng, được cấp ủy, chính quyền và nhân dân các địa phương tin tưởng, ghi nhận, cảm phục, yêu mến. Còn nhớ, cuối năm 2014, cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn 293 đã lập được chiến công xuất sắc khi giải cứu thành công 12 công nhân bị mắc kẹt trong vụ sập hầm công trình thủy điện Đạ Dâng-Đạ Chomo (Lâm Đồng), đó là minh chứng sinh động khẳng định kết quả, chất lượng công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu của đơn vị, góp phần làm tỏa sáng hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, Bộ đội Công binh trong lòng nhân dân. Trải qua 30 năm xây dựng và phát triển, Lữ đoàn 293 và Tiểu đoàn 27 thuộc Lữ đoàn được phong tặng danh hiệu Đơn vị Anh hùng LLVT nhân dân. Lữ đoàn được tặng thưởng 3 Huân chương Chiến công hạng Nhất, Nhì; 2 Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba; 3 Cờ thi đua của Chính phủ, cùng hàng trăm lượt tập thể, cá nhân được các cấp khen thưởng. Năm 2022, Lữ đoàn được Bộ Quốc phòng tặng cờ “Đơn vị huấn luyện giỏi”. Nhân dịp kỷ niệm 30 năm Ngày truyền thống (8-4-1993 / 8-4-2023), Lữ đoàn được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhì

Hà Nội quyết tâm trả lại vỉa hè sạch đẹp cho người đi bộ

Thời gian qua, chính quyền thành phố Hà Nội đã nhiều lần ra quân giành lại vỉa hè cho người đi bộ. Tuy nhiên, tình trạng lấn chiếm vỉa hè, lòng đường làm nơi kinh doanh, trông giữ phương tiện vẫn diễn ra ngang nhiên ở nhiều con đường, tuyến phố. Người đi bộ buộc phải xuống lòng đường tham gia giao thông cùng với ô tô, xe máy.

“Chúng tôi mong muốn chính quyền trả lại vỉa hè về đúng chức năng của nó - dành cho người đi bộ. Tôi không hiểu vì sao chính quyền thành phố loay hoay mãi vẫn chưa giải quyết được vấn đề lấn chiếm vỉa hè”, ông Nguyễn Văn Nọi ở phố Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà Nội bức xúc cho biết.

Ông Nguyễn Văn Nọi cho biết thêm, dù không ít lần chứng kiến cảnh giằng co, van nài, ngăn cản, xử phạt tại chỗ của lực lượng chức năng với người vi phạm; xe tải chở đồ bày bán trên vỉa hè bị tịch thu, xe ô tô bị cẩu đi vì đậu không đúng nơi quy định; xe gầu múc phá dỡ mái che, bậc thềm xây lấn vỉa hè...; tuy nhiên, nhiều đoạn vỉa hè vừa giải tỏa xong chỉ sau một thời gian ngắn lại bị "tái chiếm".

Tại hầu hết các tuyến phố ở quận Hoàn Kiếm, hàng hóa, xe cộ không chỉ chiếm trọn vỉa hè mà còn tràn xuống lòng đường, vừa gây mất mỹ quan đô thị, vừa gây mất an toàn giao thông. Bà Nancy - một Việt kiều Mỹ đến phố cổ Hà Nội tham quan, cho biết đã có người bạn đi cùng đoàn gặp nạn khi phải đi bộ chung đường với ô tô và xe máy.

“Phải đi dưới lòng đường, chúng tôi cảm thấy không an toàn, vì xe ô tô và xe máy chạy rất ẩu. Nhiều khi tôi bị giật mình vì tiếng còi xe, thậm chí té ngã. Đi xuống lòng đường, nhiều chỗ mấp mô, có người bạn của tôi đã bị vấp ngã”, bà Nancy chia sẻ.

Kiến trúc sư Trần Huy Ánh, Ủy viên Thường vụ Hội Kiến trúc sư Hà Nội thừa nhận rất khó để có giải pháp cho vấn nạn lấn chiếm vỉa hè, lòng đường. Tuy nhiên, đây là việc phải làm để bảo đảm an toàn cho người đi bộ và mỹ quan đô thị. “Việc giành lại vỉa hè cho người đi bộ nói rằng khó thì muôn vàn sự khó. Nhưng nếu quyết tâm thì chúng ta sẽ làm được”, Kiến trúc sư Trần Huy Ánh quả quyết.

Còn theo đại biểu Quốc hội Phạm Văn Hòa, Ủy viên Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, khi đã ban hành kế hoạch cụ thể, rõ ràng thì khâu tổ chức thực hiện không được "đầu voi, đuôi chuột"; không để lúc ra quân thì rầm rộ, mới thực hiện thì quyết liệt nhưng sau đó thì "chùn bước" để vỉa hè lại tiếp tục bị chiếm dụng. Điều này nếu lặp lại như chiến dịch năm 2017 sẽ làm thành phố mất uy tín với người dân.

Quyết liệt các biện pháp

Vỉa hè không chỉ là không gian dành cho người đi bộ mà còn là “bộ mặt” thể hiện trật tự đô thị và trình độ văn minh, phát triển của một thành phố. Giành lại vỉa hè là việc làm khó nhưng không phải là nhiệm vụ “bất khả thi”.

Trong kế hoạch tổng kiểm tra, xử lý, giải quyết vi phạm trật tự an toàn giao thông, trật tự đô thị, trật tự công cộng trên địa bàn, Ban chỉ đạo 197 thành phố Hà Nội giao Công an thành phố hàng tháng tập hợp những tồn tại, hạn chế của các sở, ngành, ban chỉ đạo 30 quận, huyện, thị xã. Trên cơ sở đó, Công an thành phố phối hợp với Sở Nội vụ Hà Nội đề xuất hình thức xử lý đối với tập thể, cá nhân vi phạm; đề xuất các hình thức xử lý theo quy định, báo cáo UBND thành phố.

Đồng thời, kiến nghị Ban Thi đua - Khen thưởng Thành phố không duyệt đề xuất các hình thức thi đua, khen thưởng đối với các cá nhân, đơn vị có tồn tại, hạn chế trong thực hiện kế hoạch này.

Ngoài ra, Công an thành phố Hà Nội có nhiệm vụ đề xuất khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc khi thực hiện kế hoạch tổng kiểm tra, xử lý vi phạm.

Cùng với đó, Ban chỉ đạo 197 thành phố Hà Nội cũng yêu cầu các cơ quan, đơn vị liên quan duy trì chế độ báo cáo kết quả thực hiện theo từng tuần, từng tháng ở mỗi giai đoạn. Trong đó, giai đoạn 1 (kể từ khi triển khai kế hoạch đến hết ngày 28-2), thành phố yêu cầu đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động người dân chấp hành các quy định; ký cam kết tự nguyện chấm dứt vi phạm, khắc phục hậu quả, trả lại nguyên trạng hè phố, lòng đường. Giai đoạn 2 (từ ngày 1 đến ngày 31-3), các thành viên Ban chỉ đạo đồng loạt ra quân tổng kiểm tra, xử lý vi phạm trên lĩnh vực phụ trách. Giai đoạn 3 (từ ngày 1-4 đến 1-11), các lực lượng, đơn vị tiếp tục thực hiện, duy trì các biện pháp tuyên truyền, kiểm tra, xử lý theo chức năng, nhiệm vụ được giao; kiên quyết không để vi phạm tái diễn.

UBND thành phố cũng chỉ đạo các cơ quan đơn vị cần tuyên truyền, phát động toàn dân tham gia phát hiện, phản ánh, cung cấp thông tin các hành vi vi phạm về trật tự an toàn giao thông, trật tự đô thị, trật tự công cộng, vệ sinh môi trường trên địa bàn nơi cư trú, học tập, làm việc; trong đó tập trung vào các vi phạm dễ nhận diện như: Ô tô đi vào đường cấm, đi ngược chiều, đi vào làn khẩn cấp trên đường cao tốc, vượt đèn đỏ, dừng, đỗ không đúng nơi quy định...

Ban chỉ đạo 197 quận, huyện, thị xã; Ban chỉ đạo 197 xã, phường, thị trấn cần xây dựng kênh thông tin tiếp nhận thông tin, phản ánh của người dân về các hành vi vi phạm (có thể sử dụng facebook hoặc zalo), mọi thông tin trên kênh tiếp nhận phải đảm bảo các yêu cầu về bảo vệ bí mật nhà nước để thông báo rộng rãi đến toàn bộ người dân trên địa bàn (hoàn thành trước ngày 20-02-2023). Cử cán bộ thường xuyên khai thác để đề xuất xác minh, xử lý, giải quyết các vi phạm; kết nối với cán bộ theo dõi địa bàn của Thường trực Ban chỉ đạo 197 Thành phố để theo dõi, tập hợp.

Theo đại biểu Quốc hội khóa XIII Bùi Thị An (Hà Nội), việc Ban chỉ đạo ban hành kế hoạch đã thể hiện quyết tâm giữ thẩm mỹ cho Hà Nội, trong đó có việc trả lại vỉa hè phong quang, sạch đẹp cho người đi bộ; để Hà Nội thực sự văn hiến, văn minh, hiện đại.

 

Những đăng kiểm viên là quân nhân tình nguyện

Xung phong vào TP Hồ Chí Minh tăng cường, hỗ trợ công tác kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, thời gian qua, cán bộ, nhân viên Trạm kiểm định số 12 (Cục Kỹ thuật Quân khu 5) luôn nêu cao tinh thần, trách nhiệm, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ. Tất cả vì những chuyến xe an toàn, vì sự hài lòng của người dân, là phương châm hành động của những người lính thợ. Trung tâm Đăng kiểm xe cơ giới 50-12D địa chỉ tại khu phố 4, thị trấn Tân Túc, huyện Bình Chánh có 3 dây chuyền kiểm định an toàn kỹ thuật phương tiện giao thông cơ giới đường bộ. Trước đây, trung bình mỗi ngày trung tâm kiểm định được 200-250 xe ô tô các loại. Tuy nhiên, từ cuối tháng 12-2022 đến nay, do thiếu hụt nhân lực nên 2 dây chuyền ở đây đã phải tạm dừng hoạt động, khiến các kiểm định viên phải làm việc vất vả. Có thời điểm, do lưu lượng xe đổ về quá lớn, các tuyến đường xung quanh trung tâm đều bị ùn tắc nghiêm trọng, gây ảnh hưởng đến cuộc sống, sinh hoạt của người dân. Hơn 3 tuần nay, với sự hỗ trợ tích cực của cán bộ, nhân viên, đăng kiểm viên Trạm kiểm định số 12 (Cục Kỹ thuật Quân khu 5), tình trạng quá tải của trung tâm giảm đi đáng kể.. Ngoài nhiệm vụ kiểm tra độ khói, khí thải, hệ thống đèn chiếu sáng của các phương tiện cơ giới đường bộ, hằng ngày, Thiếu tá QNCN Huỳnh Tấn Phú và Thiếu tá QNCN Ngô Văn Bỉn (Trạm kiểm định số 12) còn tích cực tham gia điều tiết giao thông, hướng dẫn các lái xe đăng ký, lấy số thứ tự qua mạng, tìm bãi đậu, đỗ xe, chờ đến lượt vào kiểm định. Công việc vất vả, điều kiện ăn ở, sinh hoạt còn nhiều khó khăn, song các anh luôn động viên nhau cùng cố gắng, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ. Bên chiếc xe khách 16 chỗ ngồi đang chờ đến lượt vào kiểm định, Thiếu tá QNCN Ngô Văn Bỉn cho biết: “Quy trình kiểm định xe ô tô gồm 5 công đoạn chính (kiểm tra tổng quát; phần trên; phần dưới; trượt ngang bánh xe dẫn hướng, phanh xe; tiêu chuẩn môi trường (khí thải) và nhiều hạng mục nhỏ. Với những chiếc xe đời mới, chất lượng tốt, việc kiểm tra chỉ mất khoảng 7-10 phút là xong; còn với những chiếc xe cũ, đã xuống cấp, số khung, số máy, biển kiểm soát bị mờ... thời gian kiểm định sẽ lâu hơn. Để đẩy nhanh tiến độ, trước khi nhận xe, các đăng kiểm viên sẽ quan sát, đánh giá sơ bộ, nếu thấy xe hư hỏng, cũ nát, bám bẩn quá nhiều, sẽ đề nghị chủ xe đưa phương tiện đi sửa chữa, vệ sinh bảo đảm sạch sẽ”. Trưa một ngày đầu tháng 4, trong dãy nhà xưởng oi bức, ngột ngạt, ám mùi khí thải, dầu mỡ, sau khi đưa cho anh Lê Văn Xuân (37 tuổi, trú tại quận 8, TP Hồ Chí Minh) tờ phiếu tiêu chuẩn loại xe khách 2 tầng giường nằm nhập khẩu không đủ điều kiện kiểm định vì không đáp ứng các điều kiện an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường, tuy đã thấm mệt, song Thiếu tá QNCN Huỳnh Tấn Phú vẫn vui vẻ, nhiệt tình giải thích, hướng dẫn, giúp anh Xuân có thể tự đối chiếu, tìm ra những lỗi sai của phương tiện, để có phương án khắc phục, sửa chữa trong thời gian sớm nhất. Công việc cả ngày bận rộn, song với phương châm phục vụ “vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi”, các kiểm định viên vẫn luôn ân cần, niềm nở, tận tình, chu đáo với khách hàng. Trò chuyện với chúng tôi, anh Lê Văn Xuân cho biết: “Cách đây 2 tháng, khi chở khách lên vùng cao, do chập điện, xe của tôi bị cháy toàn bộ hệ thống đèn chiếu sáng. Theo tư vấn của một ga ra sửa chữa ô tô, tôi đã đầu tư hàng chục triệu đồng để lắp mới bộ đèn led siêu sáng. Hôm nay đưa xe đi kiểm định, mới biết bộ đèn này không đáp ứng các tiêu chuẩn, quy định về công tác an toàn kỹ thuật. Sự hiện diện của những quân nhân tại các trung tâm đăng kiểm khiến chúng tôi rất yên tâm, tin tưởng. Chứng kiến tinh thần, thái độ làm việc, cách quan hệ, ứng xử của các anh, chúng tôi rất hài lòng”. Theo Trung tá Huỳnh Xuân Bình, Trạm trưởng Trạm kiểm định số 12, thực hiện quyết định của cấp trên, vừa qua, đơn vị đã cử 7 cán bộ, nhân viên, kiểm định viên tham gia khóa tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ đăng kiểm xe cơ giới dân sự do Phòng An toàn (Cục Xe-Máy, Tổng cục Kỹ thuật) tổ chức tại TP Hồ Chí Minh, sẵn sàng tăng cường, chi viện cho các trung tâm đăng kiểm trên cả nước. Là những đăng kiểm viên lành nghề, có nhiều năm kinh nghiệm, chỉ sau một thời gian ngắn làm quen với công việc, anh Bỉn, anh Phú và các đăng kiểm viên đã có thể thao tác, sử dụng thành thạo, phát huy tốt công năng, hiệu quả các thiết bị, máy móc ở các trung tâm đăng kiểm xe cơ giới. Thực hiện Thông tư số 02/2023/TT-BGTVT ngày 21-3-2023 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải, trong đó có quy định về việc miễn đăng kiểm lần đầu đối với các loại ô tô mới và kéo dài thời gian đăng kiểm đối với nhiều loại xe khác đã qua sử dụng, từ ngày 22-3 đến nay, số lượng xe đến đăng kiểm tại các trung tâm đăng kiểm xe cơ giới có xu hướng giảm nhẹ, song công việc của cán bộ, nhân viên, đăng kiểm viên vẫn rất bận rộn và áp lực. Đóng góp một phần, giúp người dân và các lái xe giảm bớt sự căng thẳng, mệt mỏi khi đi đăng kiểm phương tiện là động lực để cán bộ, chiến sĩ Trạm kiểm định số 12 nỗ lực, cố gắng nhiều hơn.