Thứ Năm, 6 tháng 4, 2023

Bác bỏ luận điệu vu cáo Việt Nam vi phạm quyền tự do tôn giáo.

  Vấn đề tự do tôn giáo ở Việt Nam luôn bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng nhằm mục đích chống phá thành tựu của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Bài viết nhận diện những luận điệu vu cáo Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo qua Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế năm 2021 của Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ. Bằng những chứng cứ thực tiễn về đời sống tôn giáo ở Việt Nam, bài viết phản bác, phê phán đối với những luận điệu vu cáo Việt Nam trong việc bảo đảm quyền tự do tôn giáo của mọi người.

Bác bỏ luận điệu vu cáo Việt Nam vi phạm quyền tự do tôn giáo

Một buổi thánh lễ tại Nhà thờ Chợ Quán - Ảnh: vnexpress.net

Trong Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế năm 2021 của Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ, mặc dù đã đề cập đến nỗ lực và tiến triển của Việt Nam trong việc thúc đẩy quyền tự do tôn giáo và bảo đảm đời sống tôn giáo, nhưng vẫn tiếp tục đưa ra những luận điệu cáo buộc Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo, vi phạm nhân quyền, bóp méo sự thật, đánh giá sai lệch về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam. Báo cáo đã bỏ qua những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được trong việc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tôn giáo cho mọi người.

Ngay trong phần tóm tắt của báo cáo đưa ra một số luận điệu: pháp luật Việt Nam quy định sự kiểm soát của chính quyền đối với các hoạt động tôn giáo và có những quy định “mập mờ” cho phép hạn chế tự do tôn giáo, pháp luật Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo không tương đồng với công ước quốc tế về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền con người, trái với các tiêu chuẩn về nhân quyền quốc tế; trong năm qua, chính quyền không công nhận tổ chức tôn giáo mới nào, có nhiều hình thức sách nhiễu, theo dõi, từ chối, hoặc không trả lời yêu cầu đăng ký và các yêu cầu xin phép khác, như chính quyền cấp tỉnh và cấp cơ sở sách nhiễu đối với các nhóm Công giáo, Tin lành, trong đó có nhóm Ngũ Tuần độc lập, Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, các nhóm Hòa Hảo độc lập, Cao đài độc lập, Dương Văn Mình; chính quyền địa phương ở Tây Nguyên hăm dọa với thành viên một số nhóm Tin lành chưa đăng ký, bắt giữ tín đồ của Hội thánh Truyền giảng Phúc Âm ở tỉnh Đắk Lắk; các nhà chức trách đã giam giữ một số tín đồ của đạo Dương Văn Mình, bắt giữ 03 chức sắc của Cao đài độc lập; v.v..

Những nội dung và dẫn chứng được nêu trong báo cáo hoàn toàn không mang tính đại diện và phổ quát cho đời sống tôn giáo ở Việt Nam. Một số nhóm tôn giáo mà báo cáo cho rằng chính quyền sách nhiễu, gây khó khăn, như: Hội thánh truyền giảng Phúc Âm, Dương Văn Mình, Hội thánh Tin lành Đấng Christ, Cao đài Độc lập, Hội thánh Tin lành Đề Ga quốc tế... là thông tin sai sự thật, đây đều là các nhóm, tổ chức lợi dụng hoạt động tôn giáo để thực hiện âm mưu chia rẽ dân tộc, chia rẽ tôn giáo, chống phá Nhà nước Việt Nam. Mặt khác, báo cáo đưa ra số liệu chức sắc, tín đồ tôn giáo bị bắt, giam giữ, chất vấn về hoạt động tôn giáo của họ cũng là thông tin bịa đặt, bởi pháp luật Việt Nam quy định chỉ những người vi phạm các tội danh được quy định trong Bộ luật hình sự thì cơ quan chức năng mới tiến hành các thủ tục tố tụng điều tra, truy tố, xét xử.

Ở Việt Nam không có khái niệm “tù nhân lương tâm”, “tù nhân tôn giáo”. Cần tường minh vấn đề này, không thể mập mờ, “đánh lận con đen” để vu cáo Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo, vi phạm nhân quyền.

Dễ dàng nhận thấy, ẩn chứa trong báo cáo này là việc lợi dụng vấn đề tôn giáo, biến tôn giáo trở thành một thứ vũ khí lợi hại để xuyên tạc, bóp méo sự thật về tự do tôn giáo ở Việt Nam nhằm đưa Việt Nam vào cái gọi là “danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt”, gây ảnh hưởng đến hoạt động đối nội, đối ngoại của Việt Nam, làm giảm uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, tạo sức ép từ bên ngoài và tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, nhằm thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, từ đó thay đổi chế độ chính trị của Việt Nam.

Chiêu bài vu cáo Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo, vi phạm nhân quyền của Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ đã có từ lâu. Những đánh giá, kết luận hằng năm của tổ chức này chỉ dựa trên những báo cáo của một số tổ chức phi chính phủ thông qua việc thị sát vài vùng dân tộc thiểu số ở Tây Bắc, Tây Nguyên và một số nhóm, tổ chức mang danh nghĩa tôn giáo, nhưng thực chất hoạt động lợi dụng tôn giáo để trục lợi là thiếu tính khách quan, tính chính xác, tính toàn diện, thể hiện sự tùy tiện trong nhận định và đánh giá.

1. Việc Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ cho rằng, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam là bước “thụt lùi” về tự do tôn giáo, trái với tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế là hoàn toàn không đúng sự thật

Quản lý nhà nước trong lĩnh vực tôn giáo là một cách thức bảo đảm quyền tự do tôn giáo, tự do tôn giáo không phải là quyền tuyệt đối, mà có giới hạn. Khoản 2 điều 29 Tuyên ngôn Nhân quyền năm 1948 quy định: “Trong khi hành xử những quyền tự do của mình, ai cũng phải chịu những giới hạn do luật pháp đặt ra ngõ hầu những quyền tự do của người khác cũng được thừa nhận và tôn trọng, những đòi hỏi chính đáng về đạo lý, trật tự công cộng và an lạc chung trong một xã hội dân chủ cũng được thỏa mãn”.

Khoản 3 điều 18 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị cũng quy định: “Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể giới hạn bởi pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác”.

Do đó, theo các quy định này, quyền tự do tôn giáo là quyền giới hạn, quyền này phải bảo đảm sự tôn trọng quyền tự do của những người khác và thỏa mãn những đòi hỏi chính đáng về đạo lý, trật tự công cộng và phúc lợi chung cho xã hội.

Pháp luật của các quốc gia đều phân định rõ ràng giữa tự do tôn giáo và luật pháp, giữa tự do tôn giáo và lợi dụng tự do tôn giáo, nên có những quy định cụ thể về quyền tự do tôn giáo, nhân quyền, đồng thời ngăn chặn những hành vi lợi dụng quyền tự do tôn giáo, nhân quyền để cản trở quyền của người khác, xâm phạm an ninh quốc gia; đều có hành lang pháp lý để xử lý các trường hợp vi phạm nhằm bảo đảm quyền tự do tôn giáo được diễn ra trong khuôn khổ pháp luật, phù hợp với điều kiện thực tiễn, truyền thống lịch sử và văn hóa của từng quốc gia, dân tộc.

Việc Nhà nước Việt Nam đưa ra các quy định pháp luật để quản lý hoạt động tôn giáo là phù hợp và tương đồng với luật pháp quốc tế. Các công ước, điều ước quốc tế về quyền con người liên quan đến quyền tự tôn giáo mà Việt Nam là thành viên hoặc tham gia ký kết đều đưa ra các nguyên tắc: nguyên tắc về những quyền con người cơ bản; nguyên tắc không phân biệt đối xử; nguyên tắc về sự bảo vệ pháp lý; nguyên tắc tăng cường đối thoại; nguyên tắc tôn trọng chủ quyền của các quốc gia khác(1).

Theo các nguyên tắc trên, pháp luật Việt Nam có những quy định cụ thể để bảo hộ và thúc đẩy các quyền con người, tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người, đồng thời tránh việc lợi dụng quyền tự do tôn giáo.

Điều 24 Hiến pháp năm 2013 quy định: “1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. 2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. 3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”.

Khoản 1 điều 6 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”; khoản 1 điều 3 quy định: “Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật”.

Hiến pháp năm 2013 và Luật Tín ngưỡng, tôn giáo có thay đổi quan trọng về chủ thể hưởng quyền tự do tôn giáo từ “công dân” mở rộng sang “mọi người” cho thấy, chính sách nhất quán của Chính phủ Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, nhưng đồng thời các hành vi lợi dụng quyền tự do tôn giáo vi phạm pháp luật cũng bị xử lý theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Các văn bản pháp luật của Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo là một thành tựu trong hoàn thiện chính sách, pháp luật, tiến tới xây dựng nhà nước pháp quyền và nhằm bảo đảm quyền tự do tôn giáo được thực thi, đồng thời bảo vệ, thúc đẩy tự do tôn giáo, thúc đẩy quyền con người, hoàn toàn tương đồng với luật pháp quốc tế và phù hợp thực tiễn đời sống tôn giáo, lịch sử, văn hóa truyền thống của Việt Nam.

Mặt khác, việc hoàn thiện luật pháp, trong đó có luật pháp về tín ngưỡng, tôn giáo, để bảo đảm và thúc đẩy quyền tự do tôn giáo, quyền con người đã góp phần đưa Việt Nam trở thành một quốc gia nhận được sự tín nhiệm của cộng đồng thế giới và trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014 - 2016 với số phiếu tín nhiệm cao (184/193 phiếu). Ngày 11-10-2022, Việt Nam lại tiếp tục trúng cử là một trong 14 thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025. Việt Nam là ứng cử viên duy nhất của ASEAN cho vị trí này. Kết quả trên cho thấy, pháp luật, chính sách tôn giáo của Việt Nam; những nỗ lực của Việt Nam về thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, trong đó có quyền tự do tôn giáo, được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.

2. Thực tiễn đời sống tôn giáo Việt Nam là minh chứng bác bỏ luận điệu vu cáo Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo

Một là, về công nhận tổ chức tôn giáo

Trước năm 1990, Nhà nước Việt Nam công nhận 03 tổ chức tôn giáo, gồm: Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hội đồng Giám mục Việt Nam, Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc). Từ năm 1990 đến nay, Nhà nước Việt Nam đã công nhận 33 tổ chức tôn giáo, 04 tổ chức và 01 pháp môn được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động(2). Bên cạnh đó, có trên 3.800 điểm nhóm đã được cấp giấy đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung(3).

Trong quá trình công nhận, cấp đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, chính quyền Trung ương và địa phương hướng dẫn, giúp đỡ các tổ chức tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, bảo đảm tuân thủ đúng trình tự pháp luật, tạo nên sự tin tưởng, phấn khởi của chức sắc, tín đồ tôn giáo.

Sau khi được công nhận, tổ chức tôn giáo được tổ chức các cuộc lễ tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo, giảng đạo, bồi dưỡng giáo lý; được bổ nhiệm, bầu cử, suy cử chức việc; được sửa chữa cải tạo trụ sở; tham gia hoạt động từ thiện nhân đạo; tổ chức đại hội thông qua hiến chương; được thành lập, chia tách, sát nhập tổ chức tôn giáo trực thuộc...

Hai là, về số lượng tín đồ

Từ năm 1990 đến nay, số lượng tín đồ của các tôn giáo đều gia tăng. Theo thống kê của Ban Tôn giáo Chính phủ, năm 1997, cả nước có trên 15 triệu tín đồ, chiếm hơn 20% dân số cả nước; năm 2003 cả nước có 17,4 triệu tín đồ, năm 2013 cả nước có 24 triệu tín đồ, chiếm 25% dân số và đến năm 2021, cả nước có 26,3 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số cả nước(4). Như vậy, số lượng tín đồ liên tục tăng thêm. Ngoài các tín đồ thuộc các tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận, ước tính gần 90% người Việt Nam có đời sống tâm linh sâu sắc, thực hành niềm tin mang tính đa thần, theo các tín ngưỡng truyền thống như tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ Thành Hoàng, tín ngưỡng thờ Mẫu...

Theo thống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Việt Nam có 7.966 lễ hội/năm, trong đó 7.039 lễ hội dân gian (chiếm 88,36%); 544 lễ hội tôn giáo (chiếm 6,82%); 332 lễ hội lịch sử cách mạng (chiếm 4,16%), 10 lễ hội du nhập từ nước ngoài (chiếm 0,12%), 40 lễ hội khác (chiếm 0,50%)(5). Sự gia tăng tín đồ gắn liền với sự gia tăng của tổ chức tôn giáo và số người xác định mình là tín đồ của một tôn giáo cụ thể và số người thực hành tín ngưỡng truyền thống ngày một tăng lên chính là minh chứng sống động cho tự do tôn giáo ở Việt Nam.

Ba là, về số lượng cơ sở thờ tự tín ngưỡng, tôn giáo

Số lượng cơ sở thờ tự của tín ngưỡng hiện là 50.703 cơ sở, trong đó có 15.205 cơ sở thuộc danh mục kiểm kê di tích; 31.903 cơ sở đăng ký hoạt động tín ngưỡng theo quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo(6).

Về cơ sở thờ tự tôn giáo, năm 2000 cả nước có 18.474 cơ sở thờ tự, đến năm 2021 cả nước có 30.047 cơ sở thờ tự, tăng 11.573 cơ sở. Thí dụ, ở tỉnh Hải Dương, năm 2003 có 899 cơ sở, năm 2007 đã tăng lên 995 cở sở; tỉnh Nghệ An năm 2003 có 01 cơ sở, năm 2017 tăng lên 50 cơ sở, tỉnh Lâm Đồng năm 2003 có 121 cơ sở, năm 2017 tăng lên 200 cơ sở(7).

Từ năm 2003 đến năm 2018 các địa phương đã xem xét, giao đất, công nhận quyền sử dụng đất, trong đó có việc giao đất với quy mô lớn cho các tổ chức tôn giáo như: chính quyền thành phố Đà Nẵng cấp hơn 10.000 m2 đất cho Công giáo để mở rộng Tòa Giám mục Đà Nẵng, giao 5.000 m2 đất xây dựng trụ sở Hội truyền giáo Cơ đốc Việt Nam; chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh giao 7.500m2 đất cho Tổng liên hội Thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) để xây dựng Viện Thánh kinh thần học; chính quyền Thành phố Hà Nội giao 10 ha cho Giáo hội Việt Nam xây dựng Học viện Phật giáo; chính quyền tỉnh Quảng Trị giao thêm 15 ha đất cho Giáo xứ La Vang; chính quyền tỉnh Thừa Thiên - Huế cấp 10 ha đất xây dựng Thiền viện Bạch Mã; chính quyền thành phố Hải Phòng cấp 10.000m2 đất xây dựng nhà dưỡng hưu cho các linh mục, tu sĩ thuộc Giáo phận Hải Phòng; chính quyền tỉnh Ninh Bình cấp 15.000 m2 đất xây dựng Trung tâm Mục vụ Giáo phận Phát Diệm(8)... Tính đến ngày 31-12-2015, cả nước có 18.017 ha đất tín ngưỡng, tôn giáo, trong đó đất tôn giáo là 11.720 ha (chiếm trên 65%), đã cấp 19.000 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất(9).

Bốn là, về sinh hoạt tôn giáo

Sinh hoạt tôn giáo của cá nhân và tổ chức tôn giáo được diễn ra bình thường tại gia đình, cơ sở thờ tự theo quy định của pháp luật. Nhiều hoạt động tôn giáo diễn ra với quy mô lớn như Hội Yến Diêu trì cung của đạo Cao đài; Đại lễ Vesak Liên hợp quốc được tổ chức 03 lần tại Việt Nam vào các năm 2008, 2014, 2019; lễ hội La Vang của Công giáo; lễ kỷ niệm 100 năm Tin lành truyền đến Việt Nam của đạo Tin lành. Các hoạt động tôn giáo nêu trên đều thu hút số lượng lớn tín đồ ở trong nước và ở nước ngoài. Chỉ tính riêng Đại lễ Vesak Liên hợp quốc năm 2019 tại Tam Chúc, tỉnh Hà Nam đã thu hút sự tham dự của hơn 3.000 đại biểu chính thức, trong đó có 570 đoàn quốc tế, với 1.650 đại biểu đến từ 112 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có 04 nguyên thủ quốc gia, Phó Tổng thư ký Liên hợp quốc, đại diện các tổ chức quốc tế, đại sứ quán các nước tại Việt Nam; đại diện các tổ chức, tông phái Phật giáo trên thế giới; chức sắc, tăng ni, phật tử tiêu biểu trong và ngoài nước thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam; đại diện lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các bộ, ngành Trung ương và địa phương(10). Trong 03 ngày diễn ra đại lễ, mỗi ngày có khoảng 50.000 lượt tăng ni, phật tử tham gia các hoạt động.

Năm là, về in ấn xuất bản kinh, sách

Năm 1998, Chính phủ đã chấp thuận việc thành lập Nhà xuất bản Tôn giáo thuộc Ban Tôn giáo Chính phủ, có trách nhiệm xuất bản các xuất bản phẩm phục vụ công tác tôn giáo và đồng bào có đạo. Cho đến năm 2014, Nhà xuất bản Tôn giáo đã cấp phép xuất bản cho 4.347 ấn phẩm tôn giáo, trong đó Phật giáo 2.869, Công giáo 1.828, Tin lành 680 ấn phẩm, ngoài ra 205 văn hóa phẩm liên quan đến tôn giáo như: lịch, băng đĩa(11).

Từ năm 2018 đến năm 2020, Nhà xuất bản Tôn giáo đã cấp quyết định xuất bản cho 1.457 xuất bản phẩm, với 5.47 triệu bản in, riêng Công giáo và Tin lành số lượng bản in của Kinh thánh là 1 triệu bản. Kinh thánh Cựu ước và Tân ước của đạo Tin lành không chỉ được dịch ra tiếng Việt, mà còn được dịch ra 15 ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số khác của Việt Nam như: Cơ ho, Bru - Vân kiều, Êđê, Gia-rai, Bana, Xtiêng, Mnông, Chăm, H’rê, Nùng, Hoa, Tày v.v.. nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của đồng bào.

Các tôn giáo lớn đều có báo, tạp chí, các trang wibsite... hoạt động liên tục để truyền tải các thông tin liên quan đến các hoạt động của tổ chức tôn giáo, riêng Phật giáo được cấp phép cho 08 đơn vị thuộc lĩnh vực thông tin truyền thông: Báo Giác ngộ, Tạp chí Nghiên cứu Phật học, Tạp chí Văn hóa Phật giáo, Tạp chí Khuông Việt, Tạp chí Phật giáo Nguyên thủy, các trang tin điện tử Phật sự online, Cổng thông tin Phật giáo, phatgiao.org.vn; Công giáo có tờ tập san Hiệp thông, báo Công giáo và Dân tộc, báo Người Công giáo Việt Nam; Tin lành có tờ Mục vụ, Thông công; Phật giáo Hòa Hảo có tạp chí Hương Sen...

Sáu là, về mở trường đạo chức sắc tôn giáo

Trước năm 1990 chỉ có một số cơ sở đào tạo chức sắc của Phật giáo, Công giáo hoạt động, từ năm 1990 đến nay, nhiều cơ sở đào tạo của tổ chức tôn giáo được thành lập, đáp ứng việc đào tạo chức sắc tôn giáo để hướng dẫn hoạt động tôn giáo của tín đồ. Theo thống kê của Ban Tôn giáo Chính phủ, tính đến tháng 12-2021, cả nước có 65 cơ sở đào tạo người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp, trong đó: Phật giáo 48 cơ sở, Công giáo 11 cơ sở; Tin lành 04 cơ sở; Cao đài 01 cơ sở và Phật giáo Hòa Hảo 01 cơ sở. Mỗi năm có hàng nghìn người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp tốt nghiệp các trường đào tạo của tôn giáo. Năm 2021, cả nước có 8.884 người tốt nghiệp ra trường, 13.350 người đang theo học. Không chỉ đào tạo chức sắc tôn giáo ở trong nước, các tổ chức tôn giáo còn cử chức sắc tham gia các khóa đào tạo ở nước ngoài ở các bậc thạc sĩ, tiến sĩ, nhằm nâng cao chất lượng chức sắc, đồng thời tạo ra sắc diện mới cho sự phát triển của các tôn giáo.

Nhờ đẩy mạnh hoạt động đào tạo, bồi dưỡng chức sắc, nhà tu hành, những người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp, số chức sắc, chức việc, nhà tu hành tôn giáo tăng nhanh. Chỉ tính riêng số lượng chức sắc tôn giáo, năm 1995 có 31.548 người, năm 2021 là 54.125 người, chỉ trong hơn 20 năm qua, số lượng chức sắc tôn giáo đã tăng lên trên 20 nghìn người.

Bảy là, về hoạt động quốc tế của các tổ chức tôn giáo

Từ năm 1990 đến nay, hoạt động quốc tế của các tôn giáo đa dạng và phong phú trên nhiều phương diện: quan hệ đồng đạo thông qua việc giao lưu, hỗ trợ tín đồ, chức sắc, chia sẻ thông tin, thăm viếng, đào tạo chức sắc; quan hệ về tổ chức, như hướng dẫn sinh hoạt tôn giáo, phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm chức sắc; quan hệ giữa các tổ chức tôn giáo dựa trên tinh thần đối thoại, liên tôn trước những vấn đề như đói nghèo, chiến tranh, môi trường, công bằng xã hội. Nhà nước Việt Nam hỗ trợ, giúp đỡ các cá nhân, tổ chức tôn giáo tham gia các chương trình đối thoại, hội thảo về tôn giáo. Trong các năm 2011 - 2020 đã có hàng trăm đoàn khách nước ngoài vào Việt Nam và nhiều cá nhân, tổ chức tôn giáo Việt Nam tham gia hoạt động quốc tế ở nước ngoài. Việt Nam chấp thuận Vatican cử đại diện không thường trú tại Việt Nam.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 539 (tháng 01-2023)

Ngày nhận bài: 06-12-2022; Ngày bình duyệt: 07-01-2023; Ngày duyệt đăng: 27-01-2023.

 

(1) Xem Chu Văn Tuấn (Chủ biên): Đời sống tôn giáo ở Việt Nam từ năm 1990 đến nay, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2021, tr.123.

(2), (7), (8), (11) Nguyễn Thanh Xuân: Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2020, tr.428-433, 436-437, 437-438, 439.

(3) Ban Tôn giáo Chính phủ: Báo cáo 03 năm thực hiện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định số 162/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, Hà Nội, 2021, tr.10.

(4) Nguồn: Phòng Tổng hợp thống kê, Văn phòng Ban Tôn giáo Chính phủ.

(5) Cổng thông tin điện tử Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch: Thống kê lễ hội, truy cập ngày 10-01-2023.

(6) Ban Tôn giáo Chính phủ: Báo cáo 03 năm thực hiện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định số 162/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, Hà Nội, 2021, tr.2.

(9) Ban Chỉ đạo Tổng kết Nghị quyết số 25 về công tác tôn giáo: Báo cáo Tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12-3-2003 của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về công tác tôn giáo.

(10) Bộ Nội vụ: Báo cáo Kết quả công tác tổ chức Đại lễ Vesak Liên Hợp quốc 2019 tại chùa Tam Chúc, Kim Bảng, Hà Nam, Hà Nội, 2019.


Phê phán quan điểm về “dân tộc bản địa” ở Việt Nam.

  Những năm gần đây, các phần tử có tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tôn giáo cực đoan ở trong và ngoài nước đã lợi dụng bản Tuyên ngôn về quyền của các dân tộc bản địa của Liên hợp quốc để vận động các quốc gia phương Tây, các tổ chức quốc tế công nhận ở Việt Nam có “dân tộc bản địa”. Đồng thời, kích động các dân tộc thiểu số, đặc biệt là đồng bào Chăm, Khơme và các dân tộc thiểu số Tây Nguyên đòi quyền tự quyết. Bài viết phản bác quan điểm “ở Việt Nam có dân tộc bản địa”, đồng thời làm rõ về “quyền dân tộc tự quyết” và “quyền của các dân tộc thiểu số”, từ đó đề xuất giải pháp đấu tranh phòng, chống âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc của các thế lực thù địch nhằm chống phá cách mạng Việt Nam.

Phê phán quan điểm về “dân tộc bản địa” ở Việt Nam

Thiếu nữ đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc hòa mình trong không gian lễ hội Hoa Ban, tỉnh Điện Biên - Ảnh: chinhphu.vn

1. Ở Việt Nam không có “dân tộc bản địa”

Ngày 13-9-2007, Đại Hội đồng Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết 61/295: Tuyên ngôn về quyền của các dân tộc bản địa, với 46 điều.

Cụm từ “dân tộc bản địa” được dịch từ văn bản gốc của Liên hợp quốc là Indigenous peoples (dân tộc bản địa hay dân tộc bản xứ). Thuật ngữ “dân tộc bản địa” xuất hiện cùng với quá trình tìm kiếm thị trường, truyền bá tôn giáo và xâm lược thuộc địa từ khoảng thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX của các nước tư bản châu Âu đối với các quốc gia ở châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ Latinh.

Ví dụ, những người thổ dân ở châu Úc đã sinh sống lâu đời trước khi người Anh xâm lược; những người Mỹ gốc thổ dân thường được gọi là người da đỏ (hay Anh điêng) bởi đó là những người đã sinh sống lâu đời trên vùng đất Hoa Kỳ trước khi người châu Âu đến chiếm đóng. Khu vực Mỹ Latinh trước kia là lãnh thổ của các bộ lạc da đỏ. Nghị quyết 61/295 của Đại Hội đồng Liên hợp quốc chính là đề cập tới các nhóm thổ dân này.

Không phủ nhận rằng, trong lịch sử hình thành các quốc gia - dân tộc, đặc biệt là ở khu vực Mỹ Latinh, sau mỗi cuộc chiến tranh xâm lược, quá trình di dân từ “chính quốc” đến thuộc địa đã hình thành những quốc gia - dân tộc mới. Ngay từ khi mới hình thành, ở những quốc gia này vẫn luôn tồn tại hai nhóm xã hội: nhóm người di cư và nhóm người bản xứ. Những nhóm xã hội này thường vẫn muốn duy trì phong tục, tập quán, ngôn ngữ, lối sống riêng của mình. Có thể xem Hoa Kỳ, Canađa và Ôxtrâylia là những ví dụ. Trong những quốc gia này, khái niệm “người bản địa” vẫn tồn tại và còn có những ý nghĩa nhất định(1).

Sau khi Nghị quyết 61/295 của Liên hợp quốc ra đời, ngày 22-9-2012, tại North Carolina, Hoa Kỳ, ba tổ chức phản động lưu vong là: Hội đồng Dân tộc Thượng, Hội đồng tối cao Campuchia - Krom, Hội đồng phát triển văn hóa xã hội Chămpa đã thống nhất thành lập một liên minh đấu tranh của các dân tộc bản địa Việt Nam với tên gọi là “Hội đồng tối cao các dân tộc bản địa Việt Nam ngày nay” (tên tiếng Anh là The Supreme Council of Indigenous Peoples of Today’s Vietnam, hay SCIP-TVN). SCIP-TVN thể hiện rõ âm mưu qua việc xác định ba mục tiêu chính là: 1) “Kêu gọi Chính phủ Việt Nam phải công nhận dân tộc Thượng, Campuchia - Krom và Chăm là dân tộc bản địa”; 2) “Yêu cầu Chính phủ Việt Nam phải thực thi những điều khoản nêu trong Tuyên ngôn về Quyền của các dân tộc bản địa mà Chính phủ Việt Nam đã ký kết”; 3) “Kêu gọi các tổ chức của Liên hợp quốc đóng vai trò tích cực trong cuộc vận động đấu tranh của SCIP-TVN phù hợp với Tuyên ngôn về Quyền của các dân tộc bản địa của Liên hợp quốc”(2).

Như vậy, có thể thấy rõ, âm mưu của các tổ chức phản động lưu vong đòi chính phủ Việt Nam công nhận các dân tộc Chăm, Khơme và các dân tộc thiểu số tại chỗ Tây Nguyên là “dân tộc bản địa”, không xuất phát từ lợi ích của đồng bào các dân tộc thiểu số, mà xuất phát từ mưu đồ phá hoại khối đại đoàn kết của các dân tộc, chia cắt sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

Cũng như nhiều quốc gia trên thế giới và trong khu vực, Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc. Các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơme, Việt - Mường và một bộ phận của nhóm Tày - Thái được cho là phát triển từ các nhóm người cổ đại hình thành ở Việt Nam và các khu vực khác của Đông Nam Á. Các dân tộc thuộc các nhóm ngôn ngữ Hmông - Dao, Hán, Tạng - Miến, một bộ phận của nhóm ngôn ngữ Tày - Thái và Mã Lai - Đa Đảo được xác định là di cư từ phía Nam Trung Quốc hoặc từ vùng hải đảo tới từ hàng nghìn năm đến hàng trăm năm trước.

Mặc dù có nguồn gốc lịch sử, phong tục tập quán riêng, cư trú ở Việt Nam vào những thời gian khác nhau, nhưng các dân tộc đã chung sống hài hòa và phân bố rộng khắp từ miền Bắc đến miền Nam, từ đồng bằng đến miền núi, từ biên giới đến hải đảo, các dân tộc cư trú xen kẽ, không có dân tộc nào hoàn toàn tách riêng về mặt địa lý. Ðiều này đã làm cho sự hòa hợp trở thành đặc điểm lịch sử, văn hóa; tạo điều kiện thuận lợi để các dân tộc, dù đa số hay thiểu số, cùng phát triển trên cơ sở bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, tương trợ, giúp đỡ nhau.

Ở Việt Nam, thuật ngữ “dân tộc bản địa” gắn liền với các thời kỳ nước ta bị đô hộ, xâm lược. Thời kỳ Pháp thuộc, tên nước Việt Nam bị xóa trên bản đồ thế giới, bị chia cắt thành ba kỳ trong xứ Đông Dương thuộc Pháp; thuật ngữ “người bản xứ” (hoặc “người bản địa”) được dùng để chỉ tất cả các cộng đồng dân tộc Việt Nam (kể cả người Kinh và các dân tộc thiểu số). Khi ấy, người dân nước ta không phân biệt dân tộc, tôn giáo, giàu hay nghèo, trí thức hay lao động chân tay đều bị gọi chung bằng tên gọi miệt thị “Annammit”.

Như vậy là, khái niệm “người bản xứ” (hoặc “người bản địa”) chỉ mới xuất hiện ở Việt Nam từ khi Việt Nam trở thành thuộc địa của chủ nghĩa thực dân và nó chỉ tồn tại với chế độ đó.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, người dân Việt Nam làm chủ đất nước của mình, không còn là “dân bản địa” hay “bản xứ” nữa. Thay vào đó là khái niệm “quyền công dân” - là quyền của tất cả mọi người Việt Nam, không phân biệt dân tộc thiểu số hay đa số. Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946, Điều 6 quy định: “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa”.

2. Nhận diện các thủ đoạn lợi dụng, đánh tráo khái niệm “quyền dân tộc tự quyết” và “quyền của các dân tộc thiểu số”

Ở Việt Nam, vấn đề “quyền dân tộc tự quyết” và “quyền của các dân tộc thiểu số” thường bị các thế lực phản động, thù địch xuyên tạc, lôi kéo, kích động ở một số nội dung sau:

Thứ nhất, đánh tráo khái niệm “quyền dân tộc tự quyết của dân tộc - quốc gia” với quyền của “dân tộc - tộc người”.

Các thế lực thù địch thường đánh tráo khái niệm “quyền dân tộc tự quyết” là quyền của các “quốc gia - dân tộc” (nation-state) với quyền của “dân tộc - tộc người” (ethnic groups) nhằm kích động, tuyên truyền tư tưởng ly khai tự trị trong vùng dân tộc thiểu số, như kích động thành lập “nhà nước Hmông tự trị” ở vùng Tây Bắc, “nhà nước Tin lành Đề ga” ở Tây Nguyên, “nhà nước Khơme - Krom” ở Tây Nam Bộ.

Trong Hiến chương Liên hợp quốc, dân tộc tự quyết được coi là nguyên tắc để duy trì hòa bình và hữu nghị giữa các quốc gia dân tộc. Khoản 2, Điều 1 Hiến chương Liên hợp quốc khẳng định: “Phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc trên cơ sở tôn trọng quyền bình đẳng và tự quyết của các dân tộc”(3).

Ngày 14-12-1960, Đại Hội đồng Liên hợp quốc ban hành Nghị quyết số 1514 (XV) thông qua Tuyên bố về “Trao trả độc lập cho các nước và các dân tộc thuộc địa”, trong đó, tại Điều 2, Nghị quyết khẳng định: “Tất cả các dân tộc có quyền tự quyết, xuất phát từ quyền này, các dân tộc tự do quyết định địa vị chính trị của mình và tự do theo đuổi sự phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa”(4).

Công ước quốc tế về “Các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa” (Nghị quyết số 2200A (XXI) ngày 16-12-1966 của Đại hội đồng Liên hợp quốc), Điều 2 quy định: “Mọi dân tộc đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá”(5).

Như vậy, trên bình diện quốc tế, quyền dân tộc tự quyết là việc một quốc gia - dân tộc có quyền tự chủ đối với vận mệnh của dân tộc mình, quyền quyết định về thể chế chính trị và con đường phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội... Dân tộc tự quyết còn thể hiện ở quyền tách ra thành một quốc gia độc lập, hay quyền liên hiệp với dân tộc khác trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của dân tộc ấy.

Khái niệm “quyền dân tộc thiểu số” được chính thức ghi nhận tại Điều 27 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR 1966): “Ở những quốc gia tồn tại các nhóm thiểu số về sắc tộc, tôn giáo hoặc ngôn ngữ, những người thuộc các nhóm thiểu số đó sẽ không bị từ chối quyền, trong cộng đồng với các thành viên khác trong nhóm của họ, được hưởng nền văn hóa của họ, tuyên xưng và thực hành tôn giáo của họ, hoặc sử dụng ngôn ngữ riêng của họ”(6).

Có thể thấy, chủ thể của quyền dân tộc tự quyết là quốc gia - dân tộc chứ không phải là một dân tộc thiểu số trong quốc gia - dân tộc đó. Pháp luật quốc tế không công nhận một dân tộc thiểu số ở một quốc gia được ly khai, được thành lập một quốc gia độc lập với quốc gia được quốc tế công nhận mà họ là công dân trong quốc gia đó(7).

Việt Nam là một quốc gia có 54 dân tộc, trong đó người Kinh chiếm đa số, với tỷ lệ 85,3% dân số; 53 dân tộc thiểu số chiếm 14,7% dân số(8). Điều 4, khoản 2 Nghị định về Công tác dân tộc, quy định: “Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”; khoản 3 quy định: “Dân tộc đa số” là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước, theo điều tra dân số quốc gia”; khoản 4 quy định: “Vùng dân tộc thiểu số” là địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”(9). Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề dân tộc là nhất quán: “Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển...”(10).

Hiến pháp năm 2013, Điều 5 quy định: “1) Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam; 2) Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc; 3) Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình; 4) Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước”(11).

Thứ hai, các thế lực thù địch thường lợi dụng sự khác biệt và phát triển không đồng đều giữa các dân tộc nhằm chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, vu cáo Đảng và Nhà nước Việt Nam không quan tâm tới đồng bào các dân tộc thiểu số, từ đó kích động tư tưởng ly khai, tự trị.

Ở Việt Nam, các dân tộc - tộc người, mặc dù có nguồn gốc lịch sử, phong tục tập quán khác nhau, cư trú ở Việt Nam vào những thời điểm khác nhau, nhưng các tộc người đều chịu chung sự tác động của hoàn cảnh lịch sử, nên đã sớm có ý thức tự giác chung sống đoàn kết trong một quốc gia, dân tộc. Truyền thống đoàn kết được hình thành dựa trên hai yếu tố cơ bản: chinh phục tự nhiên và đấu tranh chống ngoại xâm.

Một đặc điểm nổi bật về bức tranh phân bố dân cư của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam là hình thái cư trú phân tán, xen kẽ làm cho các dân tộc ở Việt Nam không có lãnh thổ tộc người riêng. Vì vậy, không có một dân tộc nào ở Việt Nam cư trú tập trung và duy nhất trên một địa bàn. Tình hình cư trú phân tán, xen kẽ của các tộc người gắn liền với quá trình phát triển lâu dài của đất nước.

Trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đều thể hiện giữa các vùng, và giữa các tộc người. Sự phát triển không đều này do những nguyên nhân của lịch sử, do điều kiện tự nhiên, không gian sinh tồn, đặc điểm văn hóa truyền thống... Do đó, khắc phục sự phát triển không đồng đều về kinh tế - xã hội giữa các tộc người là một nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước ta.

Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Huy động, phân bổ, sử dụng, quản lý hiệu quả các nguồn lực để đầu tư phát triển, tạo chuyển biến căn bản về kinh tế, văn hóa, xã hội ở vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số. Chú trọng tính đặc thù của từng vùng dân tộc thiểu số trong hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc. Có cơ chế thúc đẩy tính tích cực, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc thiểu số phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện giảm nghèo đa chiều, bền vững. Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, người có uy tín tiêu biểu trong vùng dân tộc thiểu số. Nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc”(12).

3. Tăng cường đấu tranh làm thất bại âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc của các thế lực thù địch

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng đối với công tác dân tộc, tôn giáo. Mỗi cấp ủy đảng, theo chức năng, nhiệm vụ của mình cần làm tốt công tác lãnh đạo, chỉ đạo chính quyền và cấp ủy cấp dưới thực hiện tốt công tác dân tộc, tôn giáo. Đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về dân tộc, tôn giáo. Đối với cấp xã, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, cần linh hoạt các phương thức tuyên truyền phù hợp với đặc điểm về ngôn ngữ, phong tục, tập quán và điều kiện tự nhiên của địa phương, của cộng đồng các dân tộc thiểu số(13).

Thứ hai, quan tâm đầu tư, hỗ trợ các dân tộc thiểu số, tổ chức thực hiện sáng tạo, hiệu quả chính sách dân tộc, phù hợp với thực tiễn của từng địa phương và từng dân tộc thiểu số. Kiện toàn, củng cố hệ thống chính trị, đặc biệt là ở cơ sở; làm tốt công tác quy hoạch, đào tạo, sử dụng, bố trí hợp lý cơ cấu cán bộ dân tộc thiểu số vào các chức danh chủ chốt ở cơ sở; phát huy vai trò của bí thư chi bộ, trưởng dòng họ, già làng, trưởng bản, người có uy tín; phân công cán bộ hiểu biết phong tục tập quán đồng bào về công tác ở vùng dân tộc thiểu số.

Thứ ba, tăng cường công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, cung cấp luận cứ khoa học phục vụ đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết tôn giáo. Công tác nghiên cứu lý luận về vấn đề tôn giáo; điều tra cơ bản, tổng kết thực tiễn thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo có vai trò hết sức quan trọng và cần được quan tâm, thực hiện thường xuyên. Qua tổng kết thực tiễn, phát hiện những bất cập trong quá trình thực hiện các chính sách địa phương, từ đó có những đề xuất với Trung ương và các cơ quan chuyên trách điều chỉnh, bổ sung chính sách. Để đấu tranh có hiệu quả với hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, các cơ quan quản lý nhà nước về dân tộc và tôn giáo nói riêng, toàn hệ thống chính trị nói chung cần tăng cường công tác nắm tình hình, từ đó đề ra các phương thức đấu tranh ngăn chặn hoạt động truyền đạo trái pháp luật, lợi dụng dân tộc, tôn giáo, kích động gây mất đoàn kết dân tộc và an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Thứ tư, chủ động, tích cực đấu tranh ngoại giao trong các vấn đề nhân quyền, dân tộc, tôn giáo. Chủ động lồng ghép các nội dung vận động, đấu tranh về dân tộc, tôn giáo trong công tác đối ngoại, đặc biệt là trong các hoạt động ngoại giao quy mô lớn và trong lộ trình thúc đẩy quan hệ ổn định, lâu dài với các nước, các tổ chức quốc tế.

Tăng cường thông tin, tuyên truyền đối ngoại về chính sách, pháp luật và thành tựu của Việt Nam trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo; vừa kiên quyết đấu tranh, vừa bày tỏ thiện chí đối thoại và hợp tác trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và không can thiệp công việc nội bộ của mỗi nước. Chủ động đưa nội dung dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo vào nội dung làm việc của lãnh đạo cấp cao của nước ta khi đi thăm các nước hoặc trong dịp đón lãnh đạo các nước thăm Việt Nam, qua đó giúp quốc tế hiểu rõ các thành tựu bảo đảm quyền con người và chủ động đấu tranh trên các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo(14).

Thứ năm, tiếp tục thể chế hóa các quy định trong các công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia. Cụ thể, trước hết cần tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, thúc đẩy cải cách tư pháp, củng cố thể chế, chính sách, pháp luật về quyền con người phù hợp với các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên; bảo đảm sự tham gia của người dân trong quá trình xây dựng văn bản pháp luật.

Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn xác định dân tộc và tôn giáo là vấn đề chiến lược, cơ bản và lâu dài. Việt Nam luôn tích cực tuân thủ đầy đủ các quy định quốc tế về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền con người thông qua việc cụ thể hóa các quyền này trong quy định của Hiến pháp và pháp luật của Việt Nam.

Thực tế lịch sử đã chứng minh, ở Việt Nam không có dân tộc bản địa. Sự hình thành, tồn tại, thống nhất và phát triển của quốc gia gắn liền với sự tồn tại và phát triển trong sự đa dạng và phong phú của các dân tộc. Trong suốt quá trình lịch sử, xu hướng chủ đạo, hợp quy luật là hòa hợp, thống nhất, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau giữa các dân tộc. Đoàn kết là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình dựng nước và giữ nước của Việt Nam.

Trong giai đoạn hiện nay, việc làm có ý nghĩa quyết định là tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy truyền thống đoàn kết, tập trung xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh và xây dựng và phát huy vai trò đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; sớm thu hẹp khoảng cách chênh lệch về các mặt giữa các dân tộc, các tầng lớp nhân dân, giữ vững an ninh, quốc phòng ở vùng dân tộc thiểu số, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần phát triển đất nước bền vững theo định hướng XHCN.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 540 (tháng 02-2023)

Ngày nhận: 30-01-2023; Ngày bình duyệt: 15-02-2023; Ngày duyệt đăng: 21-02-2023.

 

(1) Bắc Hà: “Ở nước cộng hòa xã hội nghĩa Việt Nam không tồn tại “Quyền của người bản địa”, https://tuyengiao.vn/tuyen-truyen/o-nuoc-chxhcn-viet-nam-khong-ton-tai-quyen-cua-nguoi-ban-dia-1993, ngày 21-9-2008.

(2) Xem: Phan Văn Hùng: Luận cứ phê phán quan điểm: vấn đề quyền của dân tộc bản địa, https://khanhhoa.gov.vn/Resources/Docs/file/2014/Thang5/10Luan%20cu%20phe%20phan%20quan%20diem%20%20Van%20de%20Quyen%20vau%20dan%20toc%20ban%20dia.pdf.

(3) Hiến chương Liên hợp quốc, ngày 26-6-1945.

(4) Đại Hội đồng Liên hợp quốc: Tuyên bố về trao trả độc lập cho các nước và các dân tộc thuộc địa (Được thông qua theo Nghị quyết số 1514 (XV) của Đại Hội đồng Liên hợp quốc), ngày 1-4-1960.

(5) Đại Hội đồng Liên hợp quốc: Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa theo Nghị quyết số 2200 A (XXI) ngày 16-12-1966.

(6) Bản gốc: “In those States in which ethnic, religious or linguistic minorities exist, persons belonging to such minorities shall not be denied the right, in community with the other members of their group, to enjoy their own culture, to profess and practise their own religion, or to use their own language”.

(7) Quốc An: Không thể đánh đồng quyền dân tộc tự quyết và quyền của dân tộc thiểu số, https://www.qdnd.vn/phong-chong-dien-bien-hoa-binh/khong-the-danh-dong-quyen-dan-toc-tu-quyet-va-quyen-cua-dan-toc-thieu-so-535752, ngày 09-04-2018.

(8) Ban Chỉ đạo tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương: Kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở thời điểm 0 giờ ngày 01 tháng 4 năm 2019, Nxb Thống kê, Hà Nội, 2019.

(9) Chính phủ: Nghị định về Công tác dân tộc, số 05/2011/NĐ-CP, Hà Nội, ngày 14-01-2011.

(10), (12) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự Thật, Hà Nội, 2021, tr.170, 170-171.

(11) Quốc hội: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2013.

(13) Vũ Trường Giang: Nhận diện và đấu tranh với âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc của các thế lực thù địch nhằm chống phá cách mạng Việt Nam, Tạp chí Dân tộc, số 249, tháng 12-2021, tr.13.

(14) Hoàng Nam: Tăng cường công tác đối ngoại, đấu tranh chống lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, nhân quyền, góp phần bảo đảm ổn định và phát triển bền vững chế độ chính trị ở nước ta, https://www.tapchicongsan.org.vn, ngày 10-11-2020.

Đấu tranh phản bác sự xuyên tạc những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

  - Bài viết góp phần nhận diện những quan điểm sai trái, xuyên tạc, của các thế lực thù địch, nhằm phủ nhận những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó, đưa ra những luận cứ khoa học để vạch trần và bác bỏ những luận điệu giả danh “khoa học”, giả danh “cách mạng” của các phần tử cơ hội, phản động.

Đấu tranh phản bác sự xuyên tạc những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

Nhiệm vụ của những người mácxít chân chính là phải làm rõ những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng - Ảnh minh họa: dangcongsan.vn

Trong tình hình hiện nay, khi chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đang bị các thế lực thù địch xuyên tạc, bôi nhọ, công kích từ nhiều phía, nhiệm vụ của những người mácxít chân chính là phải làm rõ những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thứ nhất, có ý kiến cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ phù hợp với bối cảnh lịch sử - xã hội của châu Âu ở thế kỷ XIX; bởi theo họ, trong một chừng mực nhất định, “chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ phù hợp với trình độ, lực lượng sản xuất và văn hóa Nga, không phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh lịch sử của thế kỷ XXI”. Từ đó họ cho rằng “chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời”.

Thừa nhận là, thực tiễn hiện nay đã có nhiều đổi thay so với thời đại của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin; bên cạnh đó, có một số luận điểm cụ thể của chủ nghĩa Mác - Lênin đã bị thực tiễn lịch sử vượt qua. Song, cho dù với sự phát triển của khoa học - công nghệ và trình độ nhận thức của con người, một số quan điểm lý luận cần phải nhận thức lại, thì linh hồn sống của chủ nghĩa Mác - Lênin với phương pháp biện chứng duy vật và duy vật lịch sử vẫn giữ nguyên bản chất cách mạng, khoa học.

Chủ nghĩa duy vật lịch sử là thành quả vĩ đại bậc nhất trong lịch sử tư tưởng nhân loại, được xem là một trong những phát minh vượt thời đại. V.I.Lênin đã chỉ rõ, triết học Mác ra đời đã khắc phục được “hai cái quên” lớn nhất của lịch sử tư tưởng nhân loại: quên điểm xuất phát là hiện thực khách quan của chủ nghĩa duy tâm đủ mọi loại và quên vai trò tích cực của chủ thể là con người của chủ nghĩa duy vật siêu hình.

Ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác - Lênin tương ứng với ba bộ phận, ba nguồn gốc hình thành: Triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị tư sản Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp. Ngoài ra, chủ nghĩa Mác - Lênin còn chứa đựng nhiều tri thức khoa học thuộc nhiều ngành khác nhau: Chính trị học, xã hội học, đạo đức học, lịch sử, văn hóa và khoa học dự báo... về quy luật vận động, phát triển của con người và xã hội loài người.

Chủ nghĩa Mác - Lênin giúp nhân loại lựa chọn điều cần và phải đi con đường dẫn tới xã hội không có người bóc lột người, một xã hội tự do, bình đẳng, bác ái. Trong cuốn sách Tại sao Mác đúng(1), Giáo sư Terry Eagleton (Trường Đại học Tổng hợp Lancaste Vương quốc Anh) đã khẳng định cách tiếp cận của C.Mác là cách xem xét tốt nhất đối với chủ nghĩa tư bản. Terry Eagleton cho rằng, những phê phán chủ nghĩa Mác - Lênin là “lạc hậu”, “không còn phù hợp” đó là những phê phán bộc lộ sự thiếu hiểu biết, non kém về lý luận, cách nhìn phiến diện, chụp mũ. Terry Eagleton khẳng định, từ khi ra đời và trong quá trình phát triển, chủ nghĩa Mác - Lênin luôn là sự phê phán quyết liệt nhất về mặt lý luận, phong phú nhất về mặt thực tiễn, không khoan nhượng nhất về mặt chính trị đối với hệ thống tư bản chủ nghĩa. Cho đến nay về cơ bản: chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn đúng.

Thứ hai, về một số quan điểm cho rằng “Học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác đã lỗi thời”, vì theo họ “chủ nghĩa tư bản hiện đại đã thay đổi bản chất, không còn là chế độ bóc lột nữa”. Tất nhiên, những người chống đối chủ nghĩa Mác không đưa ra được cơ sở lý luận thật sự khoa học và thuyết phục. Bởi việc phát hiện ra Học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác là dựa trên cơ sở Học thuyết giá trị lao động, mà trực tiếp là việc phát hiện ra “tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa”, “lao động cụ thể và lao động trừu tượng”. Lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa, là điều kiện không thể thiếu trong bất kỳ hình thái kinh tế - xã hội nào. Lao động trừu tượng là lao động của người sản xuất hàng hóa sẽ tạo ra giá trị của hàng hóa. Chỉ có lao động sống mới tạo ra giá trị của hàng hóa, tạo ra giá trị thặng dư.

Giá trị thặng dư là phần giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do người lao động làm ra bị nhà tư bản chiếm không. Giá trị thặng dư là quy luật kinh tế tuyệt đối của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Không có giá trị thặng dư thì không có chủ nghĩa tư bản.

C.Mác đã vạch rõ mục đích của nền sản xuất tư bản, vạch trần bản chất bóc lột của chế độ tư bản - thủ phạm cầm tù nhân dân lao động của giai cấp tư sản, kẻ chà đạp lên tự do, độc lập của các quốc gia, dân tộc trên thế giới. Đây là nguồn gốc của mâu thuẫn cơ bản trong xã hội tư bản.

Chừng nào còn chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, còn hàng hóa sức lao động, thì chừng đó Học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác vẫn còn nguyên giá trị. Bởi vì, nhìn về mặt bản chất, chủ nghĩa tư bản hiện đại tuy có những điều chỉnh nhất định về hình thức sở hữu, về quản lý và phân phối... để thích nghi với điều kiện mới, nhưng sự thống trị của chủ nghĩa tư bản tư nhân vẫn tồn tại, thì bản chất bóc lột vẫn không thay đổi. Nhà nước tư bản - về cơ bản vẫn là bộ máy thống trị của giai cấp tư sản. Cho dù có một bộ phận công nhân có mức sống khá sung túc, song họ vẫn phải bán sức lao động và vẫn bị nhà tư bản bóc lột giá trị thặng dư, chỉ có điều: hình thức bóc lột tinh vi hơn.

Phải nhìn nhận rõ, trong điều kiện hiện nay sản xuất giá trị thặng dư có những điểm mới, do áp dụng rộng rãi khoa học - công nghệ hiện đại, nên khối lượng giá trị thặng dư tạo ra chủ yếu nhờ tăng năng suất lao động, chi phí lao động sống cho một đơn vị sản phẩm giảm nhanh; cơ cấu lao động xã hội có sự biến đổi lớn, hàm lượng chất xám chiếm khá cao trong giá trị sản phẩm; lao động trí tuệ tăng, ngày càng có vai trò quyết định trong việc sản xuất ra giá trị thặng dư. Chính vì vậy, tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư tăng lên rất nhiều.

Sự bóc lột của các nước tư bản phát triển trên phạm vi quốc tế ngày càng mở rộng dưới nhiều hình thức, như xuất khẩu tư bản và hàng hóa, trao đổi không ngang giá... nhằm bóc lột, bòn rút từ các nước kém phát triển, mang lại lợi nhuận siêu ngạch cho các nước tư bản. Sự cách biệt giàu và nghèo ngày càng tăng.

Dù có điều chỉnh đến đâu thì các mâu thuẫn cơ bản trong xã hội vẫn ngày càng trầm trọng, bởi nó thể hiện bản chất của chủ nghĩa tư bản, đó là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất và tính chất tư hữu ngày càng tăng của chiếm hữu tư liệu sản xuất; mâu thuẫn giữa tư bản và lao động làm thuê, mâu thuẫn giữa các nước đang phát triển, chậm phát triển và các nước tư bản phát triển, mâu thuẫn trong nội bộ các nước tư bản với nhau v.v..

Dù hình thức bóc lột có biến tướng, tinh vi đến mức nào chăng nữa thì bản chất bóc lột của tư bản đối với lao động vẫn là bóc lột giá trị thặng dư - tức là bóc lột lao động sống. Do vậy, Học thuyết giá trị thặng dư vẫn còn nguyên giá trị, chủ nghĩa tư bản vẫn giữ nguyên bản chất bóc lột của nó.

Thứ ba, về sự xuyên tạc, phủ nhận lý luận về “hình thái kinh tế - xã hội” của C.Mác.

Những người chống chủ nghĩa Mác cho rằng, lý luận về hình thái kinh tế - xã hội chỉ là một lý thuyết về “chủ nghĩa xã hội không tưởng”, không bao giờ thực hiện được; rằng học thuyết hình thái kinh tế - xã hội là “sai lầm”, đã “lỗi thời” vì thực tiễn đã thay đổi; là một hình thức của thuyết “quyết định luận” lịch sử.

Tuy nhiên, như chúng ta đã biết, học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác dựa trên cơ sở các quan hệ kinh tế hiện thực; các mâu thuẫn hiện thực giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng; mâu thuẫn giữa các giai cấp đối kháng nhau trong xã hội, trên cơ sở đó đã tìm ra quy luật vận động khách quan của lịch sử xã hội. Sự phát triển của lịch sử xã hội loài người đã minh chứng, sản xuất vật chất là phương thức tồn tại của xã hội loài người, không có sản xuất vật chất thì xã hội loài người không thể tồn tại, vận động và phát triển.

Hơn nữa, lý luận hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác có phương pháp tiếp cận toàn diện về xã hội, từ quan hệ của con người đối với tự nhiên, quan hệ của con người đối với con người trong sản xuất vật chất đến các quan hệ xã hội, các quan điểm chính trị, triết học, pháp luật, đạo đức... Sự ra đời của xã hội mới từ trong lòng xã hội cũ là do sự vận động của sản xuất vật chất, của mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, trên cơ sở đó kéo theo sự thay đổi các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội, đặc biệt là do sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất.

Rõ ràng, cách tiếp cận của C.Mác là biện chứng, khoa học, không thể phủ nhận một cách vô căn cứ.

Thứ tư, về những ý kiến phê phán luận điểm của C.Mác về đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội, thực chất là những quan điểm chống đối chủ nghĩa Mác - Lênin núp dưới danh nghĩa “khoa học, cách mạng”.

Cùng với việc cố tình xuyên tạc và phủ nhận về lịch sử phát triển của xã hội loài người, các thế lực phản động đã xuyên tạc những luận điểm của C.Mác về đấu tranh giai cấp, về cách mạng xã hội.

Họ cho rằng, C.Mác đã “làm nghèo đi những hình thức tiến hóa của xã hội, khuyến khích thù hận, mâu thuẫn, đấu tranh giai cấp liên miên”. Dựa vào một số cải cách ở các nước tư bản, nhất là dựa vào các mô hình xã hội dân chủ ở Bắc Âu, họ cho rằng từ chủ nghĩa tư bản tiến sang chủ nghĩa xã hội không nhất thiết phải thông qua cách mạng xã hội mà cứ để cho nó phát triển tự nhiên, thông qua việc mở rộng dân chủ, đấu tranh nghị trường để nhân dân tự lựa chọn chế độ chính trị.

Bám vào quan điểm về đấu tranh giai cấp, chúng bôi nhọ chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề con người, các thế lực thù địch lớn tiếng rêu rao: “chủ nghĩa Mác - Lênin đã bỏ rơi con người”; “chủ nghĩa cộng sản là chủ nghĩa tam vô”(2)...

Họ đã cố tính lờ đi hoặc cố tình bỏ qua, khi vấn đề con người là một trong những phạm trù trung tâm của chủ nghĩa Mác - Lênin. Chủ nghĩa Mác luôn khẳng định “con người vừa là xuất phát điểm, vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển”. Một trong những điểm khác nhau căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin với các trào lưu tư tưởng khác, đó là chủ nghĩa Mác - Lênin không có mục đích nào khác ngoài mục đích giải phóng triệt để con người khỏi mọi hình thức người nô dịch người, người áp bức người, người bóc lột người. Con người ở đây không phải là một thiểu số có địa vị đặc biệt trong xã hội, mà là quần chúng nhân dân, là cộng đồng xã hội, vừa là mỗi cá nhân trong cộng đồng ấy.

Mục tiêu của chủ nghĩa Mác - Lênin là giải phóng con người, tạo điều kiện để con người phát triển toàn diện, con người làm chủ đất nước, xã hội và bản thân. Với chủ nghĩa Mác - Lênin, phát triển kinh tế - xã hội cũng là vì con người, nhằm phục vụ con người.

Thứ năm, một số ý kiến phủ nhận mục tiêu, lý tưởng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; mượn danh nghĩa “phê phán”, nhằm xuyên tạc  chủ nghĩa xã hội hiện thực, bác bỏ con đường xã hội chủ nghĩa, công khai ca ngợi con đường tư bản chủ nghĩa.

Họ xuyên tạc rằng “chủ nghĩa xã hội chỉ là ảo tưởng không bao giờ thực hiện được, bởi nó được dựng lên từ một “hệ thống triết học tư biện” chứ không phải từ “hiện thực khách quan”; rằng sẽ “không có một xã hội hoàn hảo như chủ nghĩa Mác - Lênin đặt ra”; rằng “chủ nghĩa Mác là một giấc mơ về xã hội không tưởng”... Lợi dụng sự sụp đổ của mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và ở các nước Đông Âu, họ phủ nhận những thành quả cách mạng của nhân dân các nước đó, để rồi “phán quyết” sự tan rã của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu là một tất yếu. Từ đó vội vàng kết luận: “chủ nghĩa xã hội chỉ là một lý thuyết của một học thuyết chưa được chứng thực, nếu có chỉ là sự thất bại và đổ vỡ”.

Tuy nhiên, như chúng ta đã biết, chủ nghĩa xã hội dựa trên quan điểm của học thuyết Mác - Lênin không phải là “hệ thống lý luận tư biện” và càng không phải “phi hiện thực khách quan”, mà được hình thành từ cơ sở lý luận - thực tiễn trong tiến trình phát triển của lịch sử xã hội loài người. Bởi vậy, học thuyết Mác về chủ nghĩa xã hội đã chỉ ra cơ sở và bản chất, quy luật vận động của sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ của nó, từ đó tìm ra các thuộc tính chung của sự vật, hiện tượng.

Cụ thể, học thuyết Mác ra đời dựa trên những điều kiện kinh tế - xã hội của châu Âu, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, C.Mác, Ph.Ăngghen đã tìm ra được quy luật vận động của xã hội loài người.

Một trong những cống hiến to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin là đã phát hiện ra sự thật lịch sử: “Không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ; trái lại tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ”(3). Đây chính là điểm xuất phát có tính nguyên tắc để nhận thức và giải thích toàn bộ lịch sử nhân loại trên lập trường duy vật biện chứng.

Với điểm xuất phát đó, các nhà kinh điển đã từng bước tìm ra cấu trúc và quy luật vận động, phát triển của xã hội loài người, rút ra những kết luận có tính tất yếu về sự ra đời, diệt vong, thay thế của những hình thái kinh tế - xã hội nhất định.

Cho đến nay, mặc dù hệ thống xã hội chủ nghĩa mô hình Xô viết đã tan rã, nhưng không ai có thể phủ nhận sự tồn tại khách quan và tính ưu việt của nó. Những thành tựu bước đầu trong công cuộc cải cách ở Trung Quốc, đổi mới ở Việt Nam... đang chứng minh cho sức sống và giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Thứ sáu, cùng với việc xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, những người có thái độ thù địch với cách mạng Việt Nam còn đang cố tình bôi nhọ, xuyên tạc tiểu sử, thân thế sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, và “hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh”.

Họ cho rằng, “Hồ Chí Minh du nhập chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam là một sai lầm lịch sử, chỉ đưa đến tai họa”. Họ lý giải: “chủ nghĩa Mác - Lênin là tư tưởng ngoại lai, xa lạ với truyền thống dân tộc”; rằng lý luận Mác - Lênin chỉ giải quyết “vấn đề đấu tranh giai cấp”; “không thể áp đặt mẫu học thuyết Mác - Lênin vào Việt Nam”, nhất là trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam đang thực hiện “kinh tế thị trường”. Thâm độc hơn, một số người còn tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin. Đây là một thủ đoạn hết sức tinh vi, vừa phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, vừa xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng.

Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin trước hết từ học thuyết của V.I.Lênin “về cách mạng thuộc địa”. Người tiếp thu, bảo vệ, phát triển học thuyết Mác - Lênin bằng những luận điểm mới.

Sớm nhận thấy khát vọng giải phóng của cả dân tộc và sức mạnh vĩ đại của chủ nghĩa yêu nước trong tất cả các tầng lớp nhân dân, Người kêu gọi cả dân tộc đứng lên “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”(4). Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, cách mạng thuộc địa không những không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc, mà có thể và cần phải chủ động tiến hành trước cách mạng vô sản để giành thắng lợi. Đây là một luận điểm sáng tạo, có giá trị lý luận và thực tiễn rất to lớn của Hồ Chí Minh, đã được thực tế cách mạng Việt Nam và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới trong thế kỷ XX chứng minh là hoàn toàn đúng đắn.

Từ quan điểm giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã nhận thức và giải quyết thành công mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp ở Việt Nam. Người chỉ rõ, quyền lợi của bộ phận (giai cấp) phải phục tùng quyền lợi của tổng thể (dân tộc). Trong sự nghiệp giải phóng ở Việt Nam tr­ước hết phải tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc. Vấn đề dân tộc độc lập được giải quyết, thì vấn đề giải phóng giai cấp đồng thời cũng đ­ược giải quyết.

Đối với cách mạng Việt Nam, phải tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc theo con đ­ường cách mạng vô sản, do Đảng Cộng sản lãnh đạo mới thành công, tiến tới làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, nhằm triệt để giải phóng con ngư­ời. Đó là sự sáng tạo của Hồ Chí Minh trong tiếp thu, vận dụng và phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin vào một n­ước thuộc địa, kém phát triển. Không giáo điều, máy móc khi vận dụng lý luận cách mạng.

Để thực hiện mục tiêu “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”, phải “phát huy sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại”, tạo nên sức mạnh chiến thắng kẻ thù. Theo Hồ Chí Minh, mục tiêu, con đường của cách mạng Việt Nam là “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”, bởi vì chỉ có chủ nghĩa xã hội mới bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc và giải phóng triệt để con người. Độc lập dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh là đất nước hòa bình, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, không phụ thuộc vào n­ước nào, cả về chính trị và về kinh tế, dân tộc tự quyết định con đường phát triển.

Đặc biệt, khi vận dụng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng Đảng Cộng sản, trên những nguyên lý cơ bản, Hồ Chí Minh đã đưa ra hệ thống quan điểm chỉ đạo về xây dựng một chính đảng mácxít ở một nước thuộc địa, giai cấp công nhân có số lượng ít, chủ yếu là công nhân khai thác mỏ, đồn điền mà chưa phải công nhân từ nền sản xuất công nghiệp hiện đại như ở phương Tây. Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin; phong trào công nhân và phong trào yêu nước - đó là một sáng tạo của Hồ Chí Minh.

Để hoàn thành sứ mệnh lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh quán triệt, Đảng phải tự nâng mình lên hơn nữa sao cho ngang tầm với trí tuệ của thời đại; “Đảng là đạo đức, là văn minh”; mỗi đảng viên phải ra sức trau dồi đạo đức cách mạng, không ngừng tăng cường mối liên hệ với nhân dân, để xứng đáng “vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Từ quan điểm “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”, Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng lực lượng cách mạng bao gồm tất cả các tầng lớp nhân dân, xây dựng lực lượng toàn dân, nhằm phát huy vai trò và sức mạnh của toàn dân tộc. Dưới sự lãnh đạo của Người, Đảng ta thực hiện chiến lược xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nòng cốt là liên minh công, nông, trí.

Hồ Chí Minh đã tiếp thu, vận dụng, bổ sung và phát triển sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, đã được kiểm chứng trong thực tiễn, tuyệt nhiên không phải là “sự vay mượn, chắp vá”, hay “nhập khẩu cách mạng” như ý kiến của các thế lực thù địch đã xuyên tạc.

Hiện nay, cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng lý luận diễn ra hết sức phức tạp.  Để làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình”, các âm mưu và thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của kẻ thù, tăng cường bảo vệ giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao trình độ lý luận chính trị, để trên cơ sở lý luận và thực tiễn, đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, xuyên tạc của kẻ địch. Đồng thời phải thường xuyên tổng kết thực tiễn, tìm tòi nghiên cứu, phát hiện những vấn đề mới, góp phần bổ sung, phát triển lý luận, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng hiện nay.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 540 (tháng 02-2023)

Ngày nhận bài: 12-12-2022; Ngày bình duyệt: 08-02-2023; Ngày duyệt đăng: 21-02-2023.

 

(1) Terry Eagleton: Tại sao Mác đúng, Nxb Chính trị Hành chính, Hà Nội, 2012.

(2) Chủ nghĩa tam vô: Vô gia đình, Vô tổ quốc, Vô thần.

(3) C.Mác - Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.13, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.15.

(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.596.

XIN ĐỪNG ĐÁNH MẤT DÒNG LỊCH SỬ

 Nếu một mai không còn lịch sử

Bốn ngàn năm văn hiến chôn vùi
Máu cha ông dựng xây đất nước
Nhạt nhòa theo quá khứ buông xuôi.
Nếu một mai không còn lịch sử
Giống Tiên Rồng ai biết từ đâu
Từ cái thủa "mang gươm mở cõi"
Hóa mịt mờ cửa sổ bóng câu.
Nếu một mai quên rồi lịch sử
Ánh huy hoàng sấm động trời Nam
Có còn ai thấu hoài tường tỏ
Của một thời Âu Lạc Văn Lang.
Nếu một mai quên rồi lịch sử
Đinh - Lý - Trần - Lê đến từ đâu
Niềm tự hào kiên cường bất khuất
Và chiến công buồn bã gục đầu.
Nếu một mai xa rời lịch sử
Ai dạy con truyền thống hào hùng
Lòng yêu nước đánh lùi xâm lược
Giữ vẹn toàn mảnh đất quê hương.
Nếu một mai xa rời lịch sử
Qua mấy đời ai nhớ ai quên
Những Bạch Đằng - Đống Đa.. Biên Giới
Có hóa thành trận đánh "vô danh"…
Nếu một mai xa rời lịch sử
Khoảng trống không im lặng nhói lòng
Đâu bóng Người tìm đường cứu nước
Đâu xuân về nối lại non sông.
...
Dòng lịch sử xin đừng đánh mất
Vì đó là xương máu cha ông
Là văn hóa cội nguồn dân tộc
Xin đừng làm một kẻ "quay lưng"./.
ST


VIỆT NAM YÊU CẦU BỎ THÔNG TIN SAI SỰ THẬT TRONG PHIM TÀI LIỆU VỀ MÁY BAY MH370

 Chiều 6/4, tại họp báo thường kỳ Bộ Ngoại giao, Phó Phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng đã trả lời câu hỏi liên quan đến thông tin bộ phim tài liệu “MH370: Chiếc máy bay biến mất” được chiếu trên Netflix có nội dung không chính xác, cho rằng Việt Nam không hợp tác trong việc hỗ trợ tìm kiếm MH370.

Theo đó, Phó Phát ngôn Phạm Thu Hằng nêu rõ: Ngay sau khi xảy ra vụ việc máy bay MH370 của Hãng Hàng không Malaysia Airlines bị mất tích, các cơ quan chức năng của Việt Nam đã khẩn trương, chủ động lên các phương án ứng phó, tích cực chia sẻ thông tin và phối hợp với phía Malaysia cũng như các quốc gia mong muốn triển khai tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn trên quy mô lớn, đồng thời hỗ trợ phóng viên nước ngoài tham gia đưa tin.
Những nỗ lực của Việt Nam vào thời điểm đó đã được cộng đồng quốc tế và dư luận báo chí trong và ngoài nước ghi nhận. Cho tới nay, các cơ quan chức năng chưa hề đưa ra bất cứ một kết luận nào về vụ việc mất tích của máy bay MH370.
Do đó, bộ phim tài liệu “MH370, chiếc máy bay biến mất” đưa ra những nhận định khi chưa có kết luận chính thức của các cơ quan chức năng là sai sự thật, không có cơ sở, không phản ánh đúng nỗ lực của các cơ quan chức năng của Việt Nam và khiến dư luận Việt Nam bất bình.
Phó Phát ngôn Phạm Thu Hằng nhấn mạnh yêu cầu công ty sản xuất và nhà làm phim phản ánh chính xác những đóng góp của Việt Nam trong công tác tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn máy bay MH370 của Malaysia và gỡ bỏ, sửa đổi những nội dung không phù hợp./.
ST


PHÁT HUY SỨC MẠNH CỦA NHÂN DÂN TRONG CUỘC CHIẾN “KHÔNG KHÓI SÚNG”

 Thời gian qua, hàng triệu người dân trong nước khi tiếp cận được các thông tin bẩn đã vô cùng phẫn nộ với các chiêu trò kích động, bịa đặt, bôi xấu, hạ bệ lãnh tụ, xuyên tạc lịch sử, chống phá Đảng và Nhà nước. Bức xúc trước thực trạng đó, nhiều người dân đã dùng ngay chính những phương tiện cá nhân tự có và sử dụng các mạng xã hội Facebook, YouTube, Twitter, Zalo của mình để đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc của những kênh “truyền thông bẩn” chủ yếu từ nước ngoài.

Ban đầu là hành động đơn lẻ của những cá nhân riêng lẻ. Sau một thời gian ngắn, vì cùng tư tưởng “chống giặc trên không gian mạng” nên những người dân dần liên kết với nhau một cách tự nguyện, từ tự phát trở thành tự giác, để phối hợp cùng đấu tranh, phản bác các kênh “truyền thông bẩn” và thông tin xấu độc. Họ thuộc nhiều thành phần, giai cấp, tầng lớp, lứa tuổi, trong đó có cán bộ, công chức, giáo viên, nhà văn, nhà báo, nhà khoa học, bộ đội nghỉ hưu, sinh viên trên khắp mọi miền đất nước và cả một bộ phận người Việt Nam yêu nước đang sinh sống ở nước ngoài.
Nếu trước đây, Đảng ta lãnh đạo toàn dân tiến hành chiến tranh nhân dân giành độc lập cho dân tộc và thắng lợi vẻ vang trong cuộc kháng chiến chống Pháp và đế quốc Mỹ; thì ngày nay, trong cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, chúng ta tiếp tục thực hiện chiến tranh nhân dân trên mặt trận tư tưởng.
Không ít luận điệu xuyên tạc bịa đặt, bóp méo, xét lại lịch sử của các nhóm phản động ở trong và ngoài nước vừa tung ra online ngay lập tức bị nhiều người dân phản bác bằng lý lẽ thông minh, lập luận sắc bén. Thật khâm phục thái độ làm việc nghiêm túc, khoa học của một cán bộ cao tuổi nghỉ hưu có thể trích dẫn ngay những câu nói của Bác Hồ về một vấn đề nào đó, Bác nói mấy lần, trong những hoàn cảnh nào, trích dẫn cụ thể, tên sách, tập, trang, dòng, cơ quan và năm xuất bản để phản bác thông tin xuyên tạc lãnh tụ.
Một thanh niên, một cô giáo dạy trung học cơ sở, một thương binh-cựu chiến binh, một cán bộ nghỉ hưu... đều đồng lòng góp sức, góp công, góp phần tham gia “bẻ gãy” các luận điệu xuyên tạc về Đảng, về lãnh tụ và bôi đen, bóp méo thành tựu công cuộc đổi mới ở Việt Nam...
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định: “Tin ở dân, chăm lo cho dân, lấy dân làm gốc là một bài học lớn được rút ra từ chiều sâu lịch sử đất nước ta. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Bác Hồ và Đảng ta luôn nhận thức sâu sắc vai trò to lớn của nhân dân, ý nghĩa cực kỳ quan trọng của công tác dân vận, thường xuyên chăm lo xây dựng và củng cố mối liên hệ chặt chẽ với nhân dân. Chính nhờ thế mà mặc dù với số lượng không đông, Đảng ta vẫn có đủ sức mạnh lãnh đạo cách mạng vượt qua mọi khó khăn, chiến thắng mọi kẻ thù, dù đó là kẻ thù nguy hiểm và hung bạo nhất”.
Đảng ta dựa vào nhân dân, tin tưởng vào lực lượng, trí tuệ của nhân dân, chăm lo cho cuộc sống vật chất, tinh thần của nhân dân là điều căn bản, cốt yếu tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc mà Đảng là hạt nhân. Từ đó khẳng định chúng ta chỉ có thể bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trước các thế lực thù địch, phản động khi chúng ta biết dựa vào và phát huy sức mạnh vô địch của quần chúng nhân dân./.
ST


Lợi dụng quyền tự do dân chủ để chống phá đất nước

Phản bác những luận điệu xuyên tạc hệ thống pháp luật Việt Nam là nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết, góp phần giữ nghiêm kỷ cương, phép nước, bảo vệ ổn định chính trị - xã hội, xây dựng một xã hội công bằng, bình đẳng, văn minh. Trong tiến trình xây dựng nền văn minh, tất cả các quốc gia trên thế giới đều quản lý xã hội bằng công cụ pháp luật. Tùy theo tình hình, điều kiện cụ thể mà mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật của mình để phù hợp với chuẩn mực chung của thế giới và thực tiễn đất nước. Tuy nhiên, thời gian qua nổi lên việc một số đối tượng cơ hội chính trị, phản động lưu vong, chống phá Nhà nước từ bên ngoài tìm cách cấu kết với các hội nhóm, cá nhân trong nước kêu gọi xóa bỏ một số điều luật vì mục đích chính trị, hòng gây bất ổn xã hội, chống phá chế độ. Trong bối cảnh bùng nổ thông tin, các đối tượng nêu trên thường xuyên dùng thủ đoạn lợi dụng quyền tự do ngôn luận trên không gian mạng để ra sức đả kích, xuyên tạc hoạt động của hệ thống chính trị mà trực tiếp nhất là nhắm vào các cơ quan tư pháp và hệ thống pháp luật của Việt Nam. Ðáng chú ý, Ðiều 331 Bộ luật Hình sự "Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân" hiện đang là mục tiêu hướng đến của các đối tượng chống phá. Lợi dụng những sự việc gây chú ý dư luận về phát ngôn, ứng xử, hoạt động xã hội của một số cá nhân, nghệ sĩ, người có tầm ảnh hưởng trên mạng xã hội, những sự việc liên quan đến một số cá nhân bị khởi tố và xử lý theo Ðiều 331 Bộ luật Hình sự Việt Nam như trường hợp Trương Châu Hữu Danh và các thành viên nhóm "Báo Sạch"; Nguyễn Phương Hằng, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Ðại Nam cùng một số cá nhân liên quan..., một số trang mạng phản động lập tức lớn tiếng rêu rao, xuyên tạc, đòi xóa bỏ Ðiều 331 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017). Cụ thể là sau khi phiên tòa xét xử bị cáo Trương Châu Hữu Danh và đồng phạm là thành viên nhóm "Báo Sạch" kết thúc, một tờ báo tiếng Việt ở hải ngoại lập tức đăng tải bài viết: "Vụ xử "Báo Sạch": Việt Nam đừng nên coi truyền thông là kẻ thù". Bài báo đã dẫn lời một cá nhân của Tổ chức Theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch) để quy kết Việt Nam ngăn cản "tự do ngôn luận", từ đó đòi có một sự cải cách trong thực thi quyền công dân. Hay liên quan đến vụ việc Nguyễn Phương Hằng cùng một số đối tượng tổ chức nhiều buổi livestream với nội dung thông tin không kiểm chứng, xâm phạm đời tư của người khác đã bị cơ quan chức năng tống đạt quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và thực hiện lệnh bắt bị can để tạm giam, một số tổ chức, hội nhóm phản động đã đưa ra nhiều bài viết, hình ảnh, video có nội dung xuyên tạc, kích động, vu khống các lực lượng chức năng. Ðiển hình như trên facebook của tổ chức khủng bố Việt Tân cho rằng: "Công an sử dụng Ðiều 331 để khởi tố bà Hằng là sai trái". Còn trang RFA đã phỏng vấn một số cá nhân tự phong là "nhà dân chủ", thiếu thiện chí với Việt Nam, đã chỉ trích Nhà nước, chính quyền, và cho rằng việc bắt Nguyễn Phương Hằng theo Ðiều 331 là "không hợp lý". Các đối tượng không ngừng rêu rao luận điệu nhằm xuyên tạc Ðiều 331 Bộ luật Hình sự là "phục vụ thủ đoạn của chính quyền cộng sản. Các cơ quan chức năng thực hiện theo Ðiều 331 Bộ luật Hình sự là vi phạm quyền tự do dân chủ, nhân quyền". Từ đó quy kết: "Ở Việt Nam, pháp luật không hề tồn tại, quyền dân chủ ở Việt Nam bị bóp nghẹt"; đồng thời kêu gọi đòi xóa bỏ điều luật này với lập luận rằng "Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ - một điều luật hoàn toàn thừa thãi", "đây là điều luật mơ hồ", "được tạo ra để chụp mũ lên bất kỳ đối tượng nào mà Việt Nam muốn trừng trị", "cần xóa bỏ điều luật này khỏi Bộ luật Hình sự",... Một thủ đoạn quen thuộc được các đối tượng chống phá tiếp tục sử dụng đó là "tôn vinh" những đối tượng vi phạm pháp luật bị cơ quan chức năng xử lý theo đúng quy định của pháp luật bằng những cái tên mỹ miều như "nhà dân chủ", "nhà phản biện", "luật sư nhân quyền", để rồi lớn tiếng cho rằng việc bắt giam những người này là "vi phạm dân chủ, nhân quyền". Có thể nhận thấy mục đích mà các đối tượng kêu gọi xóa bỏ Ðiều 331 Bộ luật Hình sự là nhằm đưa các đối tượng chống phá ra ngoài vòng pháp luật; xuyên tạc hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng để hạ bệ, bôi nhọ hệ thống pháp luật Việt Nam, chính quyền các cấp, hòng làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với cơ quan công quyền, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Ðảng, vai trò quản lý của Nhà nước. Cần khẳng định rằng pháp luật Việt Nam được xây dựng phù hợp với các quy định của pháp luật quốc tế và yêu cầu thực tiễn nhằm bảo đảm cho sự phát triển tự do, toàn diện của nhân dân, góp phần xây dựng và duy trì xã hội trong vòng trật tự, ổn định, ngăn chặn các tổ chức và cá nhân lợi dụng quyền tự do, dân chủ để xâm phạm quyền con người. Liên quan đến quyền tự do dân chủ, một căn cứ quan trọng để soi chiếu đó là Khoản 2 Ðiều 29 Tuyên ngôn Nhân quyền quốc tế năm 1948: "Trong khi hành xử những quyền tự do của mình, ai cũng phải chịu những giới hạn do luật pháp đặt ra ngõ hầu những quyền tự do của người khác cũng được thừa nhận và tôn trọng, những đòi hỏi chính đáng về đạo lý, trật tự công cộng và an lạc chung trong một xã hội dân chủ cũng được thỏa mãn". Nhiều quốc gia trên thế giới cũng có những quy định rõ ràng về việc thực hành dân chủ cũng như bảo đảm quyền tự do ngôn luận. Cụ thể, Hiến pháp Ðức quy định "Ai lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, đặc biệt là tự do báo chí, tự do tuyên truyền… làm công cụ chống lại trật tự của xã hội tự do dân chủ sẽ bị tước bỏ quyền công dân"... Ở Việt Nam, Nhà nước luôn đặt quyền tự do dân chủ của công dân lên hàng đầu, sự tôn trọng và đảm bảo được quy định rõ trong Hiến pháp và các quy định của pháp luật. Ðiều 15, Hiến pháp năm 2013 quy định: "Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân; mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác; công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội. Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác". Trong Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Ðiều 331 quy định về "Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân" là sự cụ thể hóa Hiến pháp, tôn trọng và bảo vệ nguyện vọng, lợi ích chính đáng của nhân dân; giúp điều chỉnh, ngăn chặn, có chế tài đối với các hành vi vi phạm, lệch chuẩn trong các quan hệ xã hội, ngăn ngừa những hành vi lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Thực tế chứng minh, công dân Việt Nam có đầy đủ các quyền như tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do lập hội, quyền khiếu nại, tố cáo… và được Nhà nước tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm việc thực hiện các quyền đó. Việc mỗi tổ chức và cá nhân thông qua nhiều hình thức đa dạng để bày tỏ ý kiến cá nhân, nổi lên thời gian qua là việc thiết lập và sử dụng tài khoản mạng xã hội như là xu thế tất yếu trong bối cảnh của cuộc Cách mạng khoa học và công nghệ 4.0 hiện nay. Pháp luật luôn tôn trọng và bảo vệ những tư tưởng, ý chí, nguyện vọng của mỗi tổ chức và cá nhân khi đưa lên công khai trên phương tiện truyền thông, trên mạng xã hội nếu phù hợp với tinh thần xây dựng và thượng tôn pháp luật, phù hợp với chuẩn mực đạo đức và truyền thống văn hóa của dân tộc. Ðồng thời, nếu những tổ chức và cá nhân sử dụng mạng xã hội với mục đích xấu, động cơ không trong sáng, núp dưới danh nghĩa bảo vệ quyền tự do dân chủ mà thực chất là có những hành vi chà đạp lên quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân khác, xâm phạm đến Nhà nước thì đều phải chịu các chế tài xử phạt tương ứng. Ðiều này thể hiện rõ tính nghiêm minh của pháp luật, kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với các hành vi vi phạm pháp luật, răn đe, trừng phạt thích đáng đối với những đối tượng có hành vi vi phạm. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam vẫn mang tính nhân văn, nhân đạo tạo cơ hội cho người mắc sai lầm, vi phạm có cơ hội cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội. Trong bối cảnh hiện nay, một số người do thiếu thông tin, thiếu trách nhiệm với đất nước, với cộng đồng đã cố tình bất hợp tác, lợi dụng quyền tự do, dân chủ để làm tổn hại đến lợi ích của Nhà nước và các tổ chức, cá nhân khác. Nguy hiểm hơn, một số đối tượng, phần tử cơ hội, phản động thường xuyên sử dụng chiêu bài tự do, dân chủ, nhân quyền để chống phá Ðảng, Nhà nước và chế độ ta. Ðể đảm bảo một xã hội công bằng, bình đẳng, văn minh với những hành vi nêu trên nhất thiết phải chịu những chế tài xử lý nghiêm khắc. Bên cạnh đó, việc tuyên truyền kiến thức pháp luật và nâng cao ý thức trách nhiệm tuân thủ pháp luật trong cộng đồng cũng cần được quan tâm. Bởi đó là cách thức bền vững và hữu hiệu để bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội cho mỗi cá nhân cũng như cả cộng đồng, cũng như góp phần tăng cường ý thức, trách nhiệm của công dân đối với xã hội, đất nước